0
phiếu
0đáp án
821 lượt xem

BÀI LÀM 

Độ lên năm, sáu, tôi vẫn thường ru em bằng bài ca dao “Tát nứơc đầu đình”. Có thể vì tâm lý tuổi thơ của tôi thích kể về “những món” kiểu : một thúng xôi vò, một con lợn béo, một vò rượu tăm…Và tôi cứ tự hỏi sao ai đó lại hào phóng đến thế chỉ để trả công cho ngừơi khâu giùm một đừơng tà sứt chỉ? Đôi khi tôi lại cao hứng đọc to “ bài ca xin áo” để rồi suy ngẫm về điều này…

Hôm qua tát nứơc đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen…

Cách nói của chàng trai – nhân vật trữ tình – khiến ta tin tưởng và chắc cô gái “mới nghe’ cũng tin là thật. Này nhé không gian xác định (đầu đình), thời gian xác định (hôm qua), đến vị trí cái áo bỏ quên cũng xác định (trên cành hoa sen). Và tất cả đều gắn với công việc “tát nứơc” của chàng trai một cách tự nhiên. Không tin sao được? Nhưng, trong toàn bộ cái bối cảnh mà ta những tưởng là không thể ngụy tạo kia, bỗng thấy đong đưa một “cành hoa sen” khiến ta phải nghi ngờ (ở câu “đưa đẩy bắt vần” cảu bài dân ca Thanh Hoá nổi tiếng cũng có “lên chùa bẻ một cành sen”… như cách nói ở đây). Phải rồi, hoa sen làm gì có cành? Mà hoa sen mảnh dẻ, mềm yếu ai lại nghĩ đến chuyện vắt áo lên nó bao giờ? Thì ra, cái áo bỏ quên chẳng qua chỉ là cái cớ để chàng trai “vào đề” với cô gái là “tín hiệu giao duyên” được phát ra một cách tình tứ. Cái áo, ấy là một cái cớ hay, tiềm tàng nhiều khả năng làm rung động người con gái, để bày tỏ hoàn cảnh, ước muốn… Hẳn vì thế mà trong ca dao, cái áo mới trở thành mô típ quen thuộc:

Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay

Hay

Chồng em áo rách em thương
Chồng ngừơi áo gấm xông hương mặc ngừơi.

Vâng, quả không hề có chuyện bỏ quên áo để đến xin cũng như sẽ không có chuyện “cởi áo cho nhau” … Trong tình yêu, thường có những cách nói vòng, đi vòng đáng yêu như vậy (“cái ngày em chưa lấy chồng, đường gần anh cứ đi vòng cho xa…” Nguyễn Bính). Phải có một cái cớ nào đấy để bày tỏ lòng yêu, để thốt ra được điều khó nói ấy… cái cớ của Kim Trọng là thuê nhà trọ học, là trả lại kim thoa bắt đựơc… (truyên kiều). Cớ thì là giả nhưng tình lại rất chân thành. Vì thế, ngừơi đọc không mấy ai đi căn vặn “hoa sen làm gì có cành?”, mà lại tiếp nhận một cách thích thú trứơc cách nói hoa mỹ, làm đẹp lòng người nghe. Van sự khởi đầu nan, lời mở đầu lấp lửng và vì thế mà đã trót lọt. Chàng trai vẫn tỉnh khô, tiếp tục thăm dò ứơm thử:

Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà?

Câu trên ý tứ, nhã nhặn bao nhiêu thì câu dưới thắt buộc bất ngờ, táo bạo bấy nhiêu. Táo bạo quá đi còn gì! Đã không có chuyện quên áo thì làm gì có chuyện “đựơc”, “xin”, “để làm tin trong nhà”? Hơn nữa, mấy ai “dại dột” “để làm tin” một chiếc áo “sứt chỉ đừơng tà” “đã lâu”? Thế mà chànng trai vẫn cứ tảng lờ như không, quyết lôi cô gái vào cuộc, tạo nên một sự ràng buộc thật khó chối từ. Cái nam tính, cái thông minh là ở chỗ này, cái duyên, cái tế nhị cũng chính chỗ này. Bằng “giác quan thứ sáu” của tuổi yêu đương, ngừơi con gái nào mà chả nhận thầy sự thay đổi “thời tiết” trong không khí buổi “trò chuyện chỉ hai ngừơi”, và chớm hiểu… Còn đang bị chấn động trong cái không khí nửa vời, ngừơi con gái chột nghe đụng vào trái tim mình:

Áo anh sứt chỉ đừơng tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đã lâu
Mai mượn cô gái về khâu cho cùng

Đành rằng xin áo thì phải mô tả đặc điểm cái áo để xin, nhưng sao lại kể mẹ già vợ con làm gì? Lại nữa, cái áo sứt chỉ hay “sứt chỉ đã lâu” thì cũng thế thôi, có liên quan gì đến việc xin áo đâu? Đúng là thừa, song chỉ thừa trong việc xin áo, còn vô cùng cần thiết trong việc gợi tình thương (“áo anh sứt chỉ”) và mở lối cho tình thương đến tình yêu trong lòng cô gái (“vợ thì chưa có…”). Áo anh sứt chỉ thôi chứ đâu có rách, nghĩa là chỉ đủ gợi tình thương chứ không gợi lòng thương hại (vì lòng thương hại thì làm sao dẫn đến tình yêu đích thực đựơc?). Đã “sứt chỉ đường tà” lại còn “đã lâu” nên rất cần một bàn tay đảm đang giúp đỡ, một tấm lòng ấm áp bù đắp. Câu thơ đã làm rung động trái tim người con gái, đánh thức dậy trong cô thiên chức phụ nữ với đường kim, mũi chỉ. Và chỉ khi tạo ra cái phút rung động ấy, anh con trai mới nói trôi được cái lời khó nói nhất trong buổi mới lạ lung này “vợ anh chưa có…”. Thế là cái áo do anh “sáng tạo” ra, đã giúp anh làm rung lên những sợi dây tình cảm torng tim cô gái, anh còn biết nhấn them cho nó ngân nga…Anh cũng biết dừng lại đúng mực để chuyển cách “xưng hô”:
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng

Còn cô nào nữa ngoài người đang đối diện với anh? Nhưng nói “cô ấy” thì vẫn cho phép thoáng mơ màng nghĩ đến một cô Mơ, cô Mận, cô Đào nào đó… Cái cách xưng hô vừa xác định, vừa phiếm chỉ đã làm cho cô gái dù có cả thẹn đến đâu cũng vẫn có thể nán lại nghe tiếp. Giá thử thay từ “cô ấy” bằng từ “em”, hẳn cô gái sẽ phải “đỏ mặt lên” ngúng nguẩy bỏ đi và coi như việc tỏ tình đứt gánh giữa đừơng. Con đừơng dẫn đến tình yêu, đâu phải bao giờ cũng thẳng băng, đôi khi vẫn có thể lắt léo một chút, ngoằn ngoèo một chút, miễn tả cái tình phải chân thật, cái lòng phải sang trọng.

Khúc nhạc tình ca chuyển giai điệu: cô gái được xin áo đã trở thành cô gái khâu giúp áo. Trả lại áo chỉ là ơn thôi, khâu áo mới là tình. Dòng chảy đựơc khai thông thì cứ thế tuôn ào ạt:
Khâu rồi anh sẽ trả công

Quan năm tiền cứơi lại đeo buồng cau

Những lời thật hào phóng, đẹp đẽ, câu thơ liền mạch, nhạc điệu nhanh, mạnh tạo ấn tượng về một sự viên mãn hân hoan… Một, một, một rồi đôi, đôi, đôi, một thì một thúng, một con, một vò, đôi thì đôi chăn, đôi chiếu… gợi đến sự nồng nàn của men say tình yêu đôi lứa. Rồi nhảy vọt lên “quan tám tiền cheo, quan năm tiền cứơi”, “lại đèo buồng cau” thu tất, hậu hĩnh quá chừng! Xuân Diệu thì nói: “lòng anh thôi đã cứơi lòng em”, còn anh con trai nôgn dân thì thay lời đó bằng món đồ sính lễ tưởng tượng. Tuy nhiên, cho đến tận “phút chót”, chàng trai vẫn dùng lời nói lấp lửng mà có duyên. Cái nút đã đựơc mở rồi, không còn là chuyện xin áo nữa, mà là chuyện trả công… cả một lễ cưới cho ngừơi khậu giúp áo. Chỉ phải khâu một đường tà sứt chỉ mà “giúp cho” nhiều thế? Sao lại tốt bụng và chu đáo nhường ấy? Bằng linh cảm nhạy bén của ngừơi con gái, cô đã thực sự nhận ra một điều kỳ diệu, chàng trai muốn cùng cô kết duyên, kết ngãi… Nếu tưởng tượng trong khung cảnh giao duyên, hẳn lúc này ta sẽ thấy hiện lên cái long lanh tình tứ của con mắt liếc đong đưa và nụ cười đầy ngụ ý của cô gái: biết cả rồi, ai mà chả biết cái kiểu “muốn ăn gắp bỏ tay ngừơi” của anh, nhưng em sẽ không … phản đối đâu!

Sính lễ thật hoàn hảo, song bạn chớ nên nghĩ rằng chàng trai giàu có. Có thể, đó chỉ là sức mạnh của tình yêu, là ứơc mơ táo bạo của tuổi trẻ về một đám cưới tương lai với đầy đủ lễ vật cổ truyền và là tấm lòng yêu chân thành của chàng trai đối với cô gái, nó cũng giống như ứơc mơ “xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân”. Tình yêu thừơng làm cho ngừơi ta đẹp thêm lên, biết hướng về phía trứơc, cách nhìn, cách nghĩ của họ đựơc viền màu sắc lãng mạn…

Bài ca dao mở đầu bằng một tín hiệu giao duyên (cái áo) và kết thúc bằng một tín hiệu hôn nhân (buồng cau). Có thể ví bài ca dao như một cánh diều no gió, bay cao quá đỗi tận mây xanh, song vẫn có một sợi dây cột chặt với mặt đất – thực tế. Ở khía cạnh này, bài ca dao đã thể hiện trọn vẹn quan niệm tiến bộ trong tình yêu của ngừơi nông dân Việt Nam. Với họ, tình yêu là thứ tình cảm trong sáng, chân thành, lành mạnh, là nền tảng trong hôn nhân và hạnh phúc gia đình.
Tát nứơc đầu đình là một trong những bài ca dao hay nhất, tình tứ nhất thể hiện nét đẹp văn minh, văn hoá trong tình yêu của người VN.
0
phiếu
0đáp án
554 lượt xem

BÀI LÀM

Nói lên tâm trạng đáng thương của ngừơi phụ nữ thời xưa, ca dao có câu:

Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người

Quả thực đó là một lời khẳng định chắc chắn về một tấm lòng thuỷe chung son sắt, một tình cảm thương yêu mà người phụ nữ đã dành cho chồng mình, trải qua nhiều năm, chúng ta lại bắt gặp những tình cảm đó ở bà Tú trong bài thơ Thương ơ5 của nhà thơ Trần Tế Xương – một bài thơ trữ tình đặc sằc. Nét đặc biệt của bài thơ là tác giả đã khai thác một khía cạnh thật tế nhị khác với phong cách thơ trào phúng, châm biếm.

Có thể nói bài thơ Thương vợ là một bài thơ thế sự và cũng là bài thơ tâm sự, thắm đượm nghĩa tình yêu thương. Mở đầu bài thơ, Tú Xương đã khắc họa hình ảnh vợ mình với bao vất vả lo toan của công việc bộn bề:

Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng.

Nếu như ngừơi vợ của Nguyễn Khuyến là một phụ nữ “hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, tất cả chân nam đá chân chiêu vì tớ mà đỡ đần mọi việc” thì bà Tú lại là một người vợ hiền thục, đảm đang, chịu thương, chịu khó. Được mang danh là bà Tú nhưng bà lại phải “quanh năm buôn bán ở mom sông”. Từ “quanh năm” như khẳng định them cái vòng xoay của thời gian cũng là vòng quay trong công việc của bà. Công việc của bà cứ ngày theo ngày, tháng theo tháng, liên tiếp và liên tiếp. Cứ thế, bà vẫn tất bật với công việc và phải đối chọi với bao khó khăn. Nó không phải là cái cơ cực, vất vả, giãi nắng dầm mưa đơn thuần mà đôi vai bé nhỏ của bà phải gánh chịu bao mánh khoé của cuộc đời đen bạc. Rồi những khi trời mưa, gió bão thì công việc của bà trở nên nặng nhọc hơn bởi bà buôn bán ở mom sông – nơi mỏm đất nhô ra, ba bề bao bọc bởi sông nứơc, nơi làm ăn trên thế đất chênh vênh. Nhưng có lẽ thời tiết càng khắc nghiệt, địa thế càng khó khăn thì bà lại càng phải cố gắng nhiều hơn để “nuôi đủ năm con với một chồng”. Từ “nuôi đủ” là một khái niệm thật là trừu tượng: biết thế nào là cho đủ khi nhu cầu và ham muốn của con người là vô tận? Ở đây chúng ta không nói rằng ông Tú có nhiều ham muốn song đã là nhà nho đương thời thì cũng phải có những nhu cầu về cuộc sống nhất định. Không chỉ “nuôi đủ” cho ông Tú mà bà còn phải “nuôi đủ năm con”. Tác giả không nói vợ mình nuôi đủ sáu người mà lại nói “nuôi đủ năm con với một chồng”. Ở đây từ “với” đã làm tăng them sự đông đúc trong gia đình. Sự vất vả của bà, do vậy, càng tăng thêm:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Đến lúc này ngôn ngữ thơ đã đựơc tăng cấp, nhiều gam màu nối tiếp nhau đã tô đậm them bức chân dung khó nhọc của bà Tú. Hình ảnh “thân cò khi quãng vắng” đã đem đến cho độc giả nhiều liên tưởng xúc động qua ca dao cổ:

Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.

Hoặc:

Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Khi màn đêm buông xuống, tất cả đã vào thế tĩnh, vào giấc ngủ say nồng sau một ngày lao động mệt mỏi thì cò ta vẫn phải mò mẫm đi trong đêm tối để kiếm ăn. Phải chăng đây cũng là hình ảnh của bà Tú? Bằng cách sử dụng các từ láy “eo sèo”, “lặn lội” và phép đối đặc sắc, Trần Tế Xương đã làm tăng them tính cam go, căng thẳng, dai dẳng trong công việc của vợ mình. Trong hoàn cảnh ấy, con người ta thường có ý nghĩ tiêu cực nhưng đối với bà Tú thì bà không than thân, trách phận mà tự an ủi mình:

Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công

Duyên là duyên phận, tình duyên, nợ là tơ vương. Bà Tú lấy ông Tú là xuất phát từ cái duyên, cái số, từ dây tơ hồng của ông tơ, bà nguyệt. Chính vì lẽ đó, dù “năm nắng mười mưa” để lo cho gia đình thì bà cũng “âu đành phận” và “chẳng dám quản công”. Hơn nữa bà Tú đã sống với ông Tú, có tới năm mặt con, cùng nhau chia sẻ ngọt bùi, vượt qua bao song gió đời người nên bà rất hiểu ông, do đó bà không hề than vãn. Phải chăng hiểu được vợ mà ông Tú đã “thương” vợ hơn, muốn cùng vợ gánh vác lo toan, nhưng:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không

Tác giả đã viết vậy! Cũng có thể hiểu đây là lời chửi của bà Tú nhưng nếu bà Tú đã “một duyên hai nợ âu đành phận” thì chẳng có gì để mà chửi cả. Có lẽ đây là câu hỏi của chính tác giả Trần Tế Xương. Thương vợ, thương cho mình, Tú Xương đã mượn lời vợ mình để chửi cả một xã hội với bao thói đời đen bạc.

Câu thơ chứa đựng một nỗi chua chát, xót xa thế sự cho vợ mình của một thi sĩ có tài nhưng hàng ngày vẫn ăn lương vợ.

Bài thơ Thương vợ là một bài thơ hay của tác giả với phong cách trữ tình. Bài thơ miêu tả một bà Tú nhưng thấp thoáng đâu đây là hình ảnh người bà, ngừơi mẹ, người chị, ngừơi phụ nữ Việt Nam xưa và nay. Đó là những con người dịu dàng, đảm đang, tháo vát. Họ chỉ biết có làm việc và lo toan cho chồng, cho con rồi nhận chữ “không” về mình. Đối với họ, chồng con là trên hết, trên cả bản thân mình. Bài thơ ấy hay còn ở cách thể hiện của tác giả: mượn lời vợ rất hợp lý để chửi đời, chửi cái xã hội thời đó.


0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

a. Giới thiệu sơ lược về đề tài viết về những con người sống, cống hiến cho đất nước trong văn học. Nêu tên 2 tác giả và 2 tác phẩm cùng những vẻ đẹp của anh thanh niên và Phương Định.

b. Vẻ đẹp của 2 nhân vật trong hai tác phẩm :

* Vẻ đẹp trong cách sống :

+ Nhân vật anh thanh niên : trong Lặng lẽ Sa Pa

- Hoàn cảnh sống và làm việc : một mình trên núi cao, quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. Công việc là đo gió, đo mưa đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất…

- Anh đã làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, cụ thể, tỉ mỉ, chính xác, đúng giờ ốp thì dù cho mưa tuyết, giá lạnh thế nào anh cũng trở dậy ra ngoài trời làm việc đúng giờ quy định.

- Anh đã vượt qua sự cô đơn vắng vẻ quanh năm suốt tháng trên đỉnh núi cao không một bóng người.

- Sự cởi mở chân thành, quý trọng mọi người, khao khát được gặp gỡ, trò chuyện với mọi người.

- Tổ chức sắp xếp cuộc sống của mình một cách ngăn nắp, chủ động : trồng hoa, nuôi gà, tự học...

+ Cô thanh niên xung phong Phương Định :

- Hoàn cảnh sống và chiến đấu : ở trên cao điểm giữa một vùng trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn, nơi tập trung nhất bom đạn và sự nguy hiểm, ác liệt. Công việc đặc biệt nguy hiểm : Chạy trên cao điểm giữa ban ngày, phơi mình trong vùng máy bay địch bị bắn phá, ước lượng khối lượng đất đá, đếm bom, phá bom.

- Yêu mến đồng đội, yêu mến và cảm phục tất cả những chiến sĩ mà cô gặp trên tuyến đường Trường Sơn.

- Có những đức tính đáng quý, có tinh thần trách nhiệm với công việc, bình tĩnh, tự tin, dũng cảm...

* Vẻ đẹp tâm hồn :

+ Anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa :

- Anh ý thức về công việc của mình và lòng yêu nghề khiến anh thấy được công việc thầm lặng ấy có ích cho cuộc sống, cho mọi người.

- Anh đã có suy nghĩ thật đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống con người.

- Khiêm tốn thành thực cảm thấy công việc và những đóng góp của mình rất nhỏ bé.

- Cảm thấy cuộc sống không cô đơn buồn tẻ vì có một nguồn vui, đó là niềm vui đọc sách mà lúc nào anh cũng thấy như có bạn để trò chuyện.

- Là người nhân hậu, chân thành, giản dị.

+ Cô thanh niên Phương Định :

- Có thời học sinh hồn nhiên vô tư, vào chiến trường vẫn giữ được sự hồn nhiên.

- Là cô gái nhạy cảm, mơ mộng, thích hát, tinh tế, quan tâm và tự hào về vẻ đẹp của mình.

- Kín đáo trong tình cảm và tự trọng về bản thân mình.

Các tác giả miêu tả sinh động, chân thực tâm lí nhân vật làm hiện lên một thế giới tâm hồn phong phú, trong sáng và đẹp đẽ cao thượng của nhân vật ngay trong hoàn cảnh chiến đấu đầy hi sinh gian khổ.

c. Đánh giá, liên hệ :

- Hai tác phẩm đều khám phá, phát hiện ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam trong lao động và trong chiến đấu.

- Vẻ đẹp của các nhân vật đều mang màu sắc lí tưởng, họ là hình ảnh của con người Việt Nam mang vẻ đẹp của thời kì lịch sử gian khổ hào hùng và lãng mạn của dân tộc. Liên hệ với lối sống, tâm hồn của thanh niên trong giai đoạn hiện nay.
0
phiếu
0đáp án
933 lượt xem

Trong truyện Lặng lẽ Sa Pa của nhà văn Nguyễn Thành Long, ngoài nhân vật chính - anh thanh niên, các nhân vật khác như ông già họa sĩ, cô kĩ sư, bác lái xe, không chỉ tham gia vào câu chuyện, làm rõ nét hơn cho nhân vật chính mà còn làm phong phú, sâu sắc hơn chủ đề của truyện. Trong số nhân vật phụ đó, đáng chú ý nhất là nhân vật ông họa sĩ già. Người kể chuyện trong tác phẩm hầu như nhập vai vào cái nhìn, suy nghĩ của ông họa sĩ để quan sát, miêu tả từ cảnh thiên nhiên đến nhân vật chính trong truyện.

Ngay từ phút giây đầu gặp anh thanh niên, cùng trước đó với những lời giới thiệu của bác lái xe làm nhà họa sĩ già xúc động mạnh về hình dáng một người con trai có tầm vóc nhỏ bé, nhưng nét mặt rạng rỡ. Những phút đầu gặp gỡ, bằng sự từng trải nghề nghiệp, niềm khao khát của người nghệ sĩ đi tìm đối tượng của nghệ thuật, khiến họa sĩ già xúc động và bối rối "bắt gặp một điều thực ra ông vẫn ao ước được biết. Một nét thôi đủ khẳng định một tâm hồn, khơi gợi một ý sáng tác, một nét mới đủ là giá trị của một chuyến đi dài". 

Ở tuổi già, tuổi của những nghỉ ngơi, trái tim người nghệ sĩ này bỗng như trẻ lại, thấy cuộc sống còn bao ý nghĩa, khát khao sống, khát khao sáng tạo. Ông họa sĩ muốn ghi lại hình ảnh anh thanh niên bằng nét bút ký họa : 

"Người con trai ấy đáng yêu thật nhưng làm cho ông nhọc quá. Với những điều làm người ta suy nghĩ về anh, và về những điều anh suy nghĩ... cuồn cuộn hiện ra khi gặp người". 

Với nhà họa sĩ, vẽ bao giờ cũng là một việc khó nhọc, gian nan. Cảm giác "nhọc mệt" mà người thanh niên cho ông chính là niềm vui, hạnh phúc, sung sướng được gặp con người ngoài đời, chân dung nghệ thuật mà ông khát khao đi tìm. Một trái tim nghệ thuật, một khát khao tiếp tục được sáng tạo, được cống hiến sống dậy, thúc dục ông phải vẽ. Giây phút xúc động ấy, ông nhận ra được những âm vang đẹp đẽ, ngọt ngào của cuộc đời, để rồi vang vọng mãi trong tâm hồn ông, biến thành tac phẩm nghệ thuật.

Những lời nói, suy nghĩ, ứng xử, thái độ chân thành của anh thanh niên đã bắt ông suy nghĩ về những cái đã làm và chưa làm được, cái ông dám nghĩ mà không dám làm. Những nghĩ suy về nghệ thuật với sức mạnh và sự bất lực "có sẵn mà chưa rõ hay chưa đúng" về mảnh đất Sa Pa mà ông nghĩ đến "nghỉ ngơi trong giai đoạn cuối đời". Cho nên nhân vật hoạ sĩ già còn là hoá thân bằng xương thực của một tuyên ngôn nghệ thuật. 

Nhân vật ông họa sĩ già là nét đẹp trong cuộc sống, một con người ý thức được vị trí, trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng đất nước, là người nhạy cảm trước cái đúng, cái sai, ái đẹp luôn hướng thiện, mong muốn làm điều tốt đẹp cho cuộc sống. Hình ảnh ông cùng các nhân vật khác để lại cho Lặng lẽ Sa Pa những vang vọng, tác động mạnh đến tư tưởng, tình cảm của mỗi người.

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
740 lượt xem

Bài làm

Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân
Bâng khuâng nhớ cụ thương thân nàng Kiều
( Tố Hữu )

Hai câu thơ giúp ta hiểu được nghĩa tình đậm đà của nhà thơ Tố Hữu đối với thi hào Nguyễn Du và nỗi xót thương của ông đối với một nàng Kiều – hiện thân của một số phận bị đọa đày dưới thời phong kiến.

Ta có thể hiểu được phần nào nỗi đau đó, tâm trạng của Kiều qua tám câu thơ tuyệt vời sau:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dầu dầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi…

Có thể nói đoạn thơ là một bức tranh tâm tình đầy xúc động và là sự thể hiện bút pháp tài hoa của Nguyễn Du trong miêu tả nội tâm nhân vật. Những dòng thơ lục bát tinh tế, sắc sảo đã bao năm tháng đi qua vẫn làm say đắm lòng người. Một mình giữa không gian mênh mông, Kiều thấy bơ vơ quá. Một nỗi nhớ quê hương bỗng trào lên da diết :

Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Câu thơ tả cảnh biển khơi mênh mang, trong ánh nắng đang dần lịm tắt. Cảnh biển bao la một cánh buồm chấp chới gợi nỗi buồn day dứt quá. Cánh buồm lẻ loi, nhỏ nhoi trong bao la như có như không : “thấp thoáng”, “xa xa”, những từ ấy không chỉ gợi hình mà còn gợi tình, gợi cảm. Sự lẻ loi đơn chiếc, lênh đênh của cánh buồm hay là thân phận bơ vơ của Kiều nơi ‘góc bể chân trời’?.
Trời nước bao la, còn Kiều ở trong lầu Ngưng Bích – một cánh chim nhỏ nhoi trong lồng. Câu thơ của ông phảng phất một chút phong cách diễn đạt của ca dao:

Chiều chiều ra đứng bờ sông,
Muốn về quê mẹ mà không có đò.

Kiều đang đứng trước biển nhìn về phương trời xa đăm đắm khát khao nhưng vô cùng mệt mỏi : “buồn trông…”. Âm điệu lời thơ buồn và có gì rã rời quá! Nỗi buồn ấy như nhân lên khi Kiều nhìn đóa hoa nổi trôi, bập bềnh vô định:

Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Thuyền cũng trôi trong vô định, hoa cũng trôi trong vô định, “Biết là về đâu”. Có gì như thân Kiều một mình lạc lõng trong mờ mịt chân mây. Đâu là quê nhà? Chẳng ai là thân nhân. Hình ảnh “hoa trôi man mác” gợi nỗi buồn xót xa. Đau xót cho một đóa hoa lìa cội, lìa cành nổi trôi trên sóng nước dập vùi. Nhìn hoa trôi Kiều liên tưởng đến thân mình. Kiều cũng đang nhắm mắt để mặc dòng đời xô đẩy. Hoa lìa cành, hoa héo hoa tàn. Kiều lìa cửa, lìa nhà, đời Kiều như cánh chim lạc bầy bay trong giông tố. Một ngày kia con chim không tổ ấy có chết rũ bên đường?. Hình ảnh “hoa trôi” gợi cảm và dễ làm rung động lòng người, bởi lẽ dân gian thường dùng hình ảnh “bèo dạt mây trôi” để nói về kiếp người trôi nổi, bập bềnh. Những câu ca dao ấy đã “ phổ vào” hồn thơ của Nguyễn Du từ khi ông còn trong vòng tay của mẹ.

Đọc những câu thơ tiếp, ta càng thấy tâm trạng của Thúy Kiều. Xung quanh nàng, thiên nhiên cũng nhuốm một màu sắc buồn tẻ, héo tàn:

Buồn trông nội cỏ dầu dầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Vẫn âm điệu thơ buồn bởi vần bằng dàn trải, tạo cho ta cảm giác được cái nhìn mệt mỏi, chán chường của nhân vật trước cảnh vật mênh mông một màu buồn. Hình ảnh “nội cỏ dầu dầu” gợi cảm ở mộ Đạm Tiên. Có khác chăng chỉ là nơi đây không phải là một ngôi mộ cụ thể mà thôi. Màu “xanh xanh” làm cho cỏ cây không còn nét tươi sáng lại thêm vẻ ‘dầu dầu’, làm cho sự sống càng thêm cạn kiệt, làm cho bức tranh phong cảnh héo tàn thêm.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi…

Âm điệu lời thơ trở nên dữ dội với những từ gợi thanh : “ầm ầm”, “kêu”. Hình ảnh những đợt sóng cuộn lên, trào tới, xô đẩy, cùng với tiếng rít gào của gió vang lên đe dọa đến hãi hùng. Kiều thấy ‘gió cuốn’, nghe ‘ sóng kêu’ bỗng thấy kinh hoàng, hốt hoảng. Nỗi buồn, sự sợ hãi đã đưa Kiều vào tâm trạng não nề, hoảng hốt như kẻ bị bao vây, bị nhấn chìm, hoàn toàn bất lực. Kiều chới với như rơi vào vực thẳm. Những âm thanh đầy dự báo đã mách bảo với ta chặng đường đầy chông gai của Kiều ở phía trước.

Cả tám câu thơ đều “xoay tròn” trong nỗi buồn sợ của Kiều . Với phép điệp ngữ liên hoàn ‘buồn trông’, “buồn trông…” các câu thơ không chỉ có âm điệu buồn, mà còn làm ta “chóng mặt” trước diễn biến tâm trạng của một con người bất hạnh – Kiều . Chòn được âm điệu thơ, lựa được từ ngữ và hình ảnh phù hợp với tâm trạng nhân vật, nhà thơ đã chứng tỏ sự thông cảm sâu sắc yêu thương Thúy Kiều biết bao!

Đoạn thơ với bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế và hài hòa, thi sĩ Nguyễn Du đã để lại cho người đời một bức tranh tâm lí tình cảm đầy xúc động , mãi mãi làm “say lòng người”.


0
phiếu
0đáp án
530 lượt xem
0
phiếu
0đáp án
372 lượt xem

BÀI LÀM

Mùa xuân đã trở thành đề tài phổ biến trong thơ ca Việt Nam từ bao đời nay. Mùa xuân không chỉ hội tụ vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước mà còn hội tụ những tâm tình của con người. Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải là một trong những bài thơ như vậy. Thanh Hải viết bài thơ này không bao lâu trước khi qua đời. Đó là niềm yêu mến quê hương, đất nước thiết tha và nguyện ước làm một “mùa xuân nho nhỏ” dâng cho đời của tác giả.
Đứng trước mùa xuân.

“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến”.

Ước nguyện thật tha thiết nhưng cũng thật khiêm tốn. Một cá thể nhỏ bé mong muốn được góp sức mình dệt nên tương lai của đất nước. Nhà thơ muốn hoá thân thành con chim hót, một cành hoa, một nốt trầm mang lại niềm vui cho cuộc đời. Tất cả những hình ảnh ấy thật đáng yêu và đáng trân trọng. Bởi chất chứa vẻ đẹp cương quyết nhưng dịu dàng. 

Với Thanh Hải, hoá thân là để hiến dâng, để phục vụ cho mục đích cao cả :

“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”.

Đến đây mùa xuân được đẩy lên thành đỉnh cao, thành mùa xuân của lí tưởng, của tiếng lòng cao cả. Lời thơ tâm tình, tha thiết biểu hiện lẽ sống cao đẹp. Mỗi con người hãy làm “một mùa xuân nho nhỏ” để làm nên mùa xuân bất diệt của đất nước. “Mùa xuân nho nhỏ” là một ẩn dụ đầy sáng tạo khắc sâu ý tưởng “mỗi cuộc đời đã hoá núi sông ta” (Nguyễn Khoa Điềm). Sống trong hoàn cảnh đất nước có xâm lăng, mỗi người đều có khát vọng được cống hiến, được làm một người có ích. Bởi lẽ “sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình” (Tố Hữu). Nhà thơ đã nói hộ những tâm tình của bao người trong thời đại muốn sống hết mình thuỷ chung cùng đất nước, đem cả cuộc đời phục vụ đất nước “dù là tuổi hai mươi, dù là khi tóc bạc”. Hình ảnh “mùa xuân nho nhỏ” ở cuối bài thơ như ánh lên, toả sức xuân tâm hồn trong toàn bài thơ. Đó là tâm hồn của một con người muốn sống một cuộc đời đẹp như mùa xuân, muốn giữ tâm hồn căng tràn nhựa sống như mùa xuân nhưng nhà thơ cũng luôn tự ý thức mình chỉ là “mùa xuân nho nhỏ”, “lặng lẽ dâng cho đời”, chỉ là một “nốt trầm” góp vào bản hoà ca chung. Có thể xem khổ thơ này là lời trăng trối của nhà thơ trước khi về bên kia thế giới. Người đọc ngậm ngùi, xúc động trước một tâm hồn đẹp mãi toả dạng ước mơ và tình yêu cuộc sống.
Khổ thơ cuối cùng là tiếng hát yêu thương :

Mùa xuân - ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.

“Nam ai” và “Nam bình” là hai điệu dân ca nổi tiếng của xứ Huế, phách tiền là nhạc cụ dân tộc để điểm nhịp cho lời ca, tiếng đàn. Câu thơ “Mùa xuân ta xin hát” diễn tả niềm khao khát bồi hồi của nhà thơ đối với quê hương yêu dấu buổi xuân về. Quê hương đất nước trải dài ngàn dặm, chứa chan tình yêu thương. Mỗi cung đàn như đang réo rắt hồn quê hương, đất nước, trong đó có cả tiếng lòng của chính nhà thơ - người con xứ Huế. Thanh Hải đã cất lên những câu hát tâm tình, tự hào, yêu thương dâng tặng cuộc đời, dâng tặng đất nước. Đất nước đã trải qua bốn nghìn năm “vất vả và gian lao”, đất nước như một vì sao chỉ biết hướng về phía trước. Khi mùa xuân đến giữa hương sắc và âm thanh đất trời, lòng người cũng “xôn xao”, cả dân tộc bừng bừng khí thế, một sức xuân dào dạt, hối hả. Mùa xuân mang đến cho con người một sức sống mới, một nhiệt tình cách mạng mới, hăng hái, khẩn trương. Những khát vọng của nhà thơ đã trỗi dậy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Cuộc đời vật chất ngắn ngủi của riêng ông không cho phép nhà thơ thực hiện ước mơ của mình nhưng cả khi không còn nữa thì ông đã là một “mùa xuân nho nhỏ” khiêm tốn và lặng lẽ dâng cho cuộc đời.

Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ khép lại và nhà thơ Thanh Hải cũng đã ra đi ở tuổi 50 nhưng âm vang tiếng thơ, tiếng lòng của người con xứ Huế vẫn ngân lên da diết trong chúng ta. Mỗi người hãy giống như Thanh Hải hoá thân thành một “mùa xuân nho nhỏ” để làm nên mùa xuân trường tồn của đất nước.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
455 lượt xem

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết :

Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Hãy bình luận ý kiến trên.

“Truyện Kiều” của thi hào dân tộc Nguyễn Du là kiệt tác của nền văn học cổ Việt Nam. “Truyện Kiều” là tình yêu thương, niềm say mê lớn trong hàng trăm năm của hàng triệu con người. Vút qua năm tháng ‘đêm trường dạ tối tăm mù mịt’, nhiều câu thơ Kiều đọng lại trong tâm hồn nhân gian ám ảnh:

Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

1. “Phận” là thân phận, số phận. Theo quan niệm cũ số phận của con người được sung sướng hay đau khổ là do một thế lực huyền bí, thiêng liêng định đoạt. Câu thứ nhất là lời cảm than cho số phận đàn bà đau khổ.

“Bạc mệnh” hay mệnh bạc là số phận, số mệnh tiền định mỏng manh, đen tối, trải qua nhiều đau thương, bất hạnh. “Bạc mệnh” không chỉ riêng ai mà là “lời chung”,là số phận đáng thương của hầu hết mọi người phụ nữ trong xã hội cũ.

Hai câu thơ trên là tiếng khóc của Thúy Kiều khi đứng trước nấm mồ Đạm Tiên trong một buổi chiều thanh minh. Đó là tiếng khóc của nàng cho mọi người phụ nữ tài hoa bạc mệnh ngày xưa và cũng tự khóc cho đời mình mai sau (dự cảm). ý thơ mang tính chất khái quát rất cao, biểu hiện sâu sắc cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du qua Truyuện Kiều.

2. Hai câu thơ trên đã nói lên bi kịch về thân phận của người phụ nữ ngày xưa: đau khổ, bạc mệnh. Nguyễn Du đã sống trong một thời đại đen tối là lúc chế độ phong kiến suy tàn, đầy rẫy thối nát, bất công và dã man. “Truyện Kiều” đã phản ánh một cách sống động và chân thực cái hiện thực đen tối áy của xã hội phong kiến:

Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

“Phận đàn bà” trong xã hội ấy là ‘đau đớn’ , là ‘bạc mệnh’ , tủi nhục không kể xiết. Lễ giáo phong kiến khe khắt, cổ hủ nặng nề, trọng nam khinh nữ (nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô), đạo “tam tòng” như sợi dây oan nghiệt thít chặt vào cổ người đàn bà ( tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu,phu tử tòng tử). thân phận bếp núc, không được học hành, không có chút quyền hành gì ngoài xã hội. Nam nữ ‘thụ thụ bất thân’. Người con gái và nhan sắc chỉ để “mua vui” cho bọn vua chúa, quan lại, kẻ quyền quý…Hai chữ ‘bạc mệnh’ trong lời thơ đã cực tả nỗi ‘đau đớn’, tủi nhục của ‘khách má hồng’.

Nguyễn Du đã phản ánh một sự thật đau lòng trong xã hội phong kiến suy tàn, thối nát. Nạn mất mùa, dịch bệnh, tệ áp bức bóc lột nặng nề của vua quan, chiến tranh, loạn lạc triền mien đã dìm người dân lành trong máu, nước mắt và đói rét. Phụ nữ và trẻ em là lớp người đau thương nhất : góa bụa, côi cút…Có người phải ăn xin “chết lăn rãnh đến nơi, thịt da béo cầy sói”. (Những điều trông thấy). Có giai nhân “ nổi danh tài sắc” nhưng bạc mệnh: “sống làm vợ khắp người ta, Hại thay thác xuống làm ma không chồng” (Đạm Tiên). Có thiếu nữ hiếu thảo, tài sắc vẹn toàn nhưng phải trải qua số kiếp “đoạn trường” nên phải nếm đủ mùi cay đắng nhục nhã “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần’ (Thúy Kiều)…

Nguyễn Du bầng sự trải nghiệm của đời mình đã từng mười năm trời lưu lạc, không thuốc men lúc ốm đau, vợ con chia lìa, anh em tan tác ( An hem tan tác nhà không có – Ngày tháng xoay vần tóc bạc rồi – Thơ chữ Hán), nên ông đã có sự đồng cảm sâu sắc, cảm thương vô hạn cho bao nỗi đau đớn của người phụ nữ bạc mệnh. Ông đã lên tiếng tố cáo những thế lực hắc ám, bạo tàn ( quan lại , bọn lưu manh,lúc buôn thịt bán người, đồng tiền hôi tanh và bạo lực..) đã chà đạp lên quyền sống và hạnh phúc của con người, của người phụ nữ. “Truyện Kiều” là tiếng kêu thương thống thiết ,ai oán, não nùng. Tiếng kêu thương ấy, nhà thơ đã gửi vào thân phận một người đàn bà “Những oan khổ lưu ly – chờ cho hết kiếp còn gì là thân!”.

Hai câu thơ :

Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Đúng như Tố Hữu đã nói “còn đọng nỗi đau nhân tình”, “Tố Như ơi lệ chảy quanh thân Kiều !...”. Nó chứa chan tinh thần nhân đạo cao đẹp.

3. Câu thơ của Nguyễn Du cho đến nay vẫn còn làm xúc động lòng người. Cách mạng đã xác nhận quyền nam nữ bình đẳng. người phụ nữ đã có vai trò rộng lớn trong xã hội. Đảm đang việc nước, đảm đang việc nhà, người phụ nữ đã và đang phát huy tài năng, đức hạnh trong sản xuất ,học tập và chiến đấu:

Chị em tôi tỏa nắng vàng lịch sử,
Nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ.
(Huy Cận)

Hai câu thơ của Nguyễn Du tuy không còn ý nghĩa phổ biến nữa, nhưng trong xã hội hiện nay vẫn còn không ít bất công, tàn dư của tư tưởng phong kiến, đã và đang làm cho người phụ nữ bị thiệt thòi, đau khổ. Vì thế cuộc đấu tranh để thực sự giải phóng phụ nữ phải được tiếp tục.

Qua hai câu thơ:

Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Ta thấy trái tim yêu thương mênh mông của thiên tài Nguyễn Du, ta cảm nhận sâu sắc giá trị nhân bản tuyệt vời của TRuyện Kiều. Một lần nữa trong ‘Văn Chiêu hồn”, Nguyễn Du lại thống thiết kêu lên:

Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu!

Hơn bất cứ nghệ sĩ nào, Nguyễn Du đã dành cho người phụ nữ những tình cảm thắm thiết, cảm động nhất. Nguyễn Du mãi mãi bất tử về tấm lòng nhân đạo mênh mông.

Theo 100 bài văn hay lớp 9*
0
phiếu
0đáp án
944 lượt xem

Đóng vai Thúy Kiều kể lại cho mọi người nghe việc báo ân báo oán. Trong lời kể giúp mọi người hình dung được cảnh vật và tâm trạng của Thúy Kiều khi gặp lại Hoạn Thư. 

"Lạ chi con tạo xoay vần
Đời người lắm nỗi gian truân khó lường"

Cha! Mẹ! Hai em! Chàng! Nếu mọi người muốn biết cuộc sống của con ra sao trong từng ấy năm phiêu bạt thì con chỉ xin kể quãng đời vẻ vang nhất của con. Liệu có ai ngờ rằng từ một tấm thân ô nhục, con bỗng chốc trở thành một phu nhân tướng quân nắm quyền sinh sát của nhiều kẻ gian ác bất lương. Nếu mọi người thấu hiểu lòng con thì hãy lắng nghe chuyện con kể : Báo ân, báo oán.

Nhờ chàng Từ Hải - một vị tướng đã rạch đôi sơn hà, chống lại triều đình, con trở thành một phu nhân tướng quân. Chàng hỏi con về những người đã từng có ơn với con, những kẻ đã hãm hại con, đẩy con vào bể khổ. Rồi chàng mời hết những người có ơn, bắt hết những kẻ gian ác ấy về cho con toàn quyền xử tội. Thế là hôm ấy, con và chàng ngồi trên điện xét xử - báo ân và báo oán. Đầu tiên là Thúc Sinh, người đã từng có ơn cứu con khỏi lầu xanh. Chàng Thúc bước vào, mặt đỏ như chàm, mình mẩy run run. Con nghĩ, chắc chàng quá sợ đây mà. Con biết chàng là người nhu nhược nhưng con không trách móc. Dù vợ cả chàng là Hoạn Thư luôn ghen tuông hành hạ con nhưng chuyện đó để khi khác! Giờ đây con phải đền ơn chàng. Con cất tiếng : "Chào chàng Thúc! Hôm nay mời chàng đến đây là để tôi bày tỏ chút lòng thành, xin được đền ơn cho chàng!".
Chàng chẳng dám nói gì nhưng nghe đến đây chàng đã đỡ sợ nên chàng lên tiếng : "Vâng..!". Con lại nói : "Nghĩa chàng dành cho tôi nặng đến nghìn non, trả làm sao hết. Đây có gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân để tạ lòng chàng gọi là có vậy. Mong chàng nhận cho". Người hầu bưng lễ ra, chàng lạy tạ nhận lễ. Nhưng con nghĩ : "Sao chàng phải lạy tạ, chàng còn sợ chăng". Thôi ta để chàng đi vì còn nhiều người phải báo ân nữa". Con chỉ nói thêm :"Vợ chàng quỷ quái tinh ma, phen này kẻ cắp bà già gặp nhau". Chàng đi ra và tiếp đó con báo ân cho nhiều người khác.

Sau đó là đến việc báo oán, người đầu tiên mà con phải trả thù, trả hết oán chính là Hoạn Thư, vợ cả của Thúc Sinh. Mụ vừa vào tới cửa con đã nói đón : "Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây ?". Rồi con lại dõng dạc hơn : "Đàn bà dễ có mấy tay. Từ xưa đến nay được mấy người nhiều mưu mô, tinh quái như bà". Mụ vội vàng quỳ xuống, phần vì nhận ra con đang ngồi trên, phần vì thấy hàng hàng tướng lính áo giáp, gươm đao đầy mình. Con nghĩ : "Chắc phen này mụ sẽ phát hoảng lên, sẽ lạy lọc van xin. Vì biết mình có tội, mụ sẽ biết thế nào là "gieo nhân nào được quả nấy". Con lại dõng dạc hơn : "Dễ dàng là kiếp hồng nhan, ăn ở mà càng cay nghiệt thì sẽ càng chịu nhiều oan trái". Đến đây Hoạn Thư đã hiểu ra. Nhưng mụ tinh ranh quá, mụ còn bình tĩnh khấu đầu rồi xin thưa. Con biết mụ sẽ kêu ca, sẽ chữa tội cho mình, lúc này con có thể cho mụ từ giã cõi đời nhưng con vẫn muốn xem mụ sẽ nói gì, và cũng một phần vì con muốn xem mụ có hối cải không. Nếu có, con có thể mở lượng khoan hồng tha không giết mụ. Mụ bắt đầu thưa : "Thưa phu nhân, tôi đây là phận đàn bà hèn kém nên cũng như ai. Tôi ghen tuông thì cũng là chuyện thường tình, nghĩ lại ngày ấy kẻ hèn mọn này đã để phu nhân ra gác viết kinh ở, với lại khi phu nhân bỏ đi, tôi đâu dám chửi, cũng chẳng đuổi theo bắt về mặc dù biết gác viện đã mất vài thứ đáng giá. Với lại cũng tại chế độ đa thê, một chồng mà nhiều vợ, chồng chung thì ai dễ chiều cho ai. Nhưng cũng tại kẻ hèn mọn này gây ra việc chông gai, giờ thì chỉ còn biết trông chờ vào tấm lòng bao dung rộng lớn như biển cả của phu nhân mà thôi. Xin phu nhân nghĩ cho mà thương cho kẻ hèn kém này".
Con bàng hoàng vô cùng, khen cho mụ khôn ngoan đến mực mà nói năng phải lời. Mụ thật giảo hoạt, khôn ngoan, tinh quái, ranh mãnh. Nhưng lời nói của mụ có lí quá, con cũng là đàn bà thì cần hiểu được suy nghĩ chung của đàn bà là : hay ghen tuông. Tha cho mụ thì may đời cho mụ còn làm ra thì lại là người nhỏ nhen, với lại con đã có ý khoan hồng nếu mụ biết hối cải. Dù chưa thấy hành động nhưng lời nói của mụ thì cũng có tình, có lí. Mụ đã nhận hết lỗi vào mình thì cũng khoan dung cho mụ và chỉ nói thêm : "Hãy biết hối cải vì sống mà tạo nhiều ơn nghĩa thì sẽ gặp nhiều điều tốt đẹp. Nên nhớ câu ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ". Sau đó con còn xử tội nhiều tên khác. Tất cả chúng đều là lũ gian ác, độc địa, bất nhân. Con chỉ kể có vậy thôi.

Đã trải qua biết bao đắng cay, khổ nhục, con càng thấm thía cái lẽ đời : "Hồng nhan bạc mệnh". Nhưng thôi, giờ đây con đã đoàn tụ với cả nhà, có cha, có mẹ, có anh em, có người yêu chung thuỷ thì cuộc sống còn gì không hạnh phúc. Cuộc sống luôn theo nghĩa của nó là : "Gặp nhiều tai ương rồi sẽ có được niềm hạnh phúc". Con thấy thật đúng!
0
phiếu
0đáp án
348 lượt xem

Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là bài ca tuyệt đẹp của con người lao động mới hăng say, khỏe khoắn giữa thiên nhiên kì ảo. Gam màu chủ yếu của bức tranh thơ này là màu sáng lóng lánh. Để rồi, khi đọc thi phẩm ta cảm tưởng lạc vào đêm hoa đăng chiến thắng trên biển - Hào hùng, tráng lệ và lãng mạn.

Như bao bài thơ khác, thiên nhiên xuất hiện trong Đoàn thuyền đánh cá thật quen thuộc : mặt trời, trăng, sao, gió, mây... Tuy nhiên, bằng cái nhìn của một con người mới XHCN, đi giữa miền Bắc hòa bình với ngòi bút miêu tả theo phong cách ấn tượng đầy tài năng của Huy Cận, thiên nhiên đã trở nên chân thực, sống động mà tráng lệ, rực rỡ kì vĩ, lớn lao mà tinh tế. Bên cạnh hình ảnh thiên nhiên ấy, con người hiện lên khoáng đạt, lãng mạn, tin yêu cuộc sống và tinh thần hăng hái lao động. Đặt mình vào tư cách con người lao động trên biển khơi mênh mông, Huy Cận đã lắng nghe được sự hòa hợp tuyệt diệu giữa thiên nhiên và con người.

Bài thơ miêu tả hành trình ra khơi và trở về trong thắng lợi của đoàn thuyền đánh cá gắn với hình ảnh mặt trời tráng lệ : "Mặt trời xuống biển như hòn lửa" - "Mặt trời đội biển nhô màu mới". Trong câu thơ đầu tác giả sử dụng hình ảnh ví von vô cùng biểu cảm, giàu sức gợi và chuẩn xác. Khi mặt trời xuống biển là lúc có hình dáng quả cầu đỏ sẫm. Những tia sáng phản chiếu dưới mặt nước, lung linh như hoa lửa. Vẫn mang nét tráng lệ, nhưng khác với hình ảnh mặt trời hoàng hôn ở phần đầu bài thơ, hình ảnh mặt trời ở cuối bài thơ lại là linh hồn của bình minh và đồng hiện cùng với sự cập bến đầy tốt lành của đoàn thuyền đánh cá. 

Hình ảnh bao quát bài thơ cho ta cảm giác về vũ trụ bao la thơ mộng. Đó là mối quan hệ tương hợp giữa con người với thiiên nhiên trong lao động, với mặt trời tráng lệ, với đêm trăng huyền ảo, với mây trời, sóng nước và với cá - sinh lực, tinh lực của biển.

Những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn trong bài chủ yếu là những hình ảnh miêu tả trực tiếp thiên nhiên nhưng đã gián tiếp làm rõ vẻ đẹp khỏe khoắn, khoáng đạt, tinh thần lao động hăng say, nhiệt tình của con người. Chúng ta hãy đọc những vần thơ : 

... Câu hát căng buồm cung gió khơi 
... Thuyền ta lái gió với buồm trăng 
... Ta hát bài ca gọi cá vào 
... Đêm thở : sao lùa nước Hạ Long

Hàng loạt các hình ảnh thiên nhiên hiện ra cùng với hoạt động và tiếng hát của con người cùng đưa con thuyền lao động tiến vào trùng dương. Trăng, sao, điểm tô cho bức vẽ con người xông pha vào đại dương bao la thêm phơi phới hơn. Nhịp điệu lao động của con người đã mang nhịp thiên nhiên, vũ trụ một cách nhịp nhàng, hài hòa. Trong bài thơ : trời, mây, biển cả được tráng lệ hóa để mang hồn lao động, con người lao động được cao cả hóa để mang tầm vũ trụ. 

Gấp trang thơ của Huy Cận lại, những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn vẫn còn mãi trong trí tưởng tượng của chúng ta. Với cách sử dụng màu sắc, với cách vận dụng các thủ pháp ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa và thậm xưng, Huy Cận đã sáng tạo nhiều hình ảnh đẹp, đầy ý nghĩa. Một không gian tráng lệ tràn ngập niềm vui và câu hát, một rạng đông trên biển và một rạng đông trong lòng người, vì đối với Huy Cận "Trời mỗi ngày lại sáng" và "biển đang hát" .

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
4K lượt xem

Nhà thơ Huy Cận từng viết : 

"Chị em tôi toả nắng vàng lịch sử 
Nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ".

Có thể nói, ngày nay, vị trí của người phụ nữ đã được đề cao, tôn vinh. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam hiện diện ở nhiều vị trí trong cuộc đời và đã để lại nhiều hình ảnh bóng sắc trong văn thơ hiện đại. Nhưng thật đáng tiếc thay, trong xã hội cũ người phụ nữ lại phải chịu một số phận đầy bị kịch và đáng thương: 

"Đau đớn thay thân phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung"

Câu thơ trên đã hơn một lần xuất hiện trong sáng tác của đại thi hào Nguyễn Du giống như một điệp khúc rùng rợn. Chả thế mà chị em miền núi lại than rằng "Thân em chỉ là thân con bọ ngựa, chao chược mà thôi!", còn chị em miền xuôi lại than mình như con ong cái kiến. Đây không phải là một lời nói quá mà điều này lại được thể hiện khá phổ biến trong văn học Việt Nam, trong "Bánh trôi nước" của Hồ Xuân Hương, trong Truyền Kì mạn lục, đặc biệt là trong Đọc Tiểu Thanh Kí (Nguyễn Du), các đoạn trích Chinh Phụ Ngâm (Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm) và Cung Oán Ngâm (Nguyễn Gia Thiều).

Thời đại phong kiến trọng nam khinh nữ, đầy rẫy những sự bất công oan trái. Bị ảnh hưởng và phải chịu đựng nhiều nhất chính là người phụ nữ. thế nhưng, những người phụ nữ ấy vẫn luôn xinh đẹp, nết na, giàu lòng thương yêu và hết mực quan tâm đnế mọi người xung quanh. Ta có thể bắt gặp lại hình ảnh của họ qua các tác phẩm văn học dân gian và văn học trung đại Việt Nam. 

Người phụ nữ ngày xưa xuất hiện trong văn học thường là những người phụ nữ đẹp. Từ vẻ đẹp ngoại hình cho đến tính cách. Đều là đẹp nhưng mỗi người lại mang một vẻ đẹp khác nhau, mỗi thân phận có một đặc điểm ngoại hình riêng biệt.Trong tác phẩm " Bánh trôi nước" của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, hiện lên hình ảnh người con gái "vừa trắng lại vừa tròn", một người mang vẻ bề ngoài đầy đặn, tròn trịa. Đó là vẻ đẹp tự nhiên, dân dã, không chăm chút mà mộc mạc, tự nhiên nhưng không kém phần duyên dáng với làn da trắng mịn màng. Đấy chính là vẻ đẹp của người con gái lao động hay lam hay làm, đầy mạnh mẽ chốn thôn quê. Ta cũng bắt gặp người phụ nữ như thế xuất hiện trong "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ. Vũ Thị Thiết cũng giống như cô gái trong "Bánh tôi nước", là một người phụ nữ tư dung tốt đẹp, chăm chỉ siêng năng,... khiến Trương Sinh phải đem lòng thương mến mà bỏ ra trăm lạng vàng rước nàng về làm dâu.

Từ những cô gái quê chân chất đến tiểu thư đài các con của viên ngoại "gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung" đều mang vẻ đẹp thật đáng yêu, đáng quý. Như Thúy Vân và Thúy Kiều trong tác phẩm lớn của đại thi hào Nguyễn Du "Truyện Kiều", là hai tiểu thư cành vàng lá ngọc, thông minh xinh đẹp "mai cốt cách, tuyết tinh thần'. Tuy mỗi người một vẻ nhưng ai cũng vô cùng xinh đẹp, dáng vẻ thanh thoát, yêu kiều như nhành mai, còn tâm hồn lại trắng trong như băng tuyết, thanh cao, kiều diễm và quý phái... 

Những người phụ nữ đẹp là thế, vậy mà đáng tiếc thay họ lại sống trong một xả hội phong kiến thối nát với bộ máy quan lại mục ruỗng, chế độ trọng nam khinh nữ vùi dập số phận họ. Càng xinh đẹp họ lại càng đau khổ, lại càng phải chịu nhiều sự chén ép, bất công. Như một quy luật khắc nghiệt của thời bấy giờ "hồng nhan bạc phận". Đớn đau thay số phận của nàng Vũ Nương! Chỉ vì muốn con vui, muốn bớt buồn,giải khuây khi sống cô đon vò võ nuôi con nên nàng đã lấy cái bóng, nói với con đó là cha. Nhưng nàng đâu thể ngờ, chính điều này đã gây ra cho nàng bao nỗi bất hạnh, tủi nhục, bị chồng nghi oan mà phải trầm mình xuống sông tự vẫn! với nàng, để minh oan, không còn cách nào khác nữa. Nàng đã cùng đường mất rồi! Giá như cái xã hội này có một chút công bằng, để cho lời nói của người phụ nữ có giá trị thì chắc chuyện đáng tiếc này đã không xảy ra. nàng không phải chịu uất ức, không phải lấy nước sông để rửa trôi nôõinhơ nhục mà chồng nàng áp đặt.

Vâng, số phận người phụ nữ thời xưa phải chịu bao nhiêu oan khuất, bất hạnh. Bị vu oan, bị nghi ngờ mà không thể giãi bày, không thể minh oan cho bản thân. Số phận của họ ở thế bị động, phải phụ thuộc vào người khác - những gã đàn ông chỉ lấy phụ nữ làm thứ mua vui, tiêu khiển. Họ không làm chủ đựoc số phận của chính họ:

"Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày"

"Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai"

Những câu ca dao than thân của người phụ nữ với cụm từ bắt đầu quen thuộc "Thân em...". Số phận người phụ nữ, lúc thì như "hạt mưa sa", lúc thi như "tấm lụa đào"...Dù được dân gian ví với điều gì, thì người phụ nữ cũng đều chung một số phận đau khổ gian nan. Họ không biết sẽ sống ra sao, sẽ bị dòng đời đưa đẩy trôi nổi đến phương trời nào? Sẽ sống sung sướng nơi "đài các" hay lại làm lụng vất vả nơi "ruộng cày"? Đối với họ, quãng đời phía trước vô cùng mịt mù, chẳng biết được điều gì sắp xảy đến, sẽ "vào tay ai"... Có khi lấy phải người chồng vô dụng, người phụ nữ yếu đuối sẽ phải chịu nhiều cực khổ

Trong văn học trung đại Việt Nam khi viết về người phụ nữ, một mặt vẫn có sự kế thừa tư tưởng của văn học dân gian, song mặt khác, “Hồng nhan bạc phận” cũng được xem là tư tưởng chủ đạo của các tác giả. Nàng Vũ Nương hiếu thảo, đảm đang, chung thuỷ thì bị ngờ oan là ngoại tình, đến nỗi phải lấy cái chết để minh oan - mà khi chết đi rồi trong lòng vẫn mang nặng nỗi oan uổng đó (Chuyện người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ). Người cung nữ xinh đẹp, tài hoa, khát khao hạnh phúc thì bị nhà vua bỏ rơi, sống cô đơn, mòn mỏi, lạnh lẽo nơi cung cấm, chôn vùi tuổi thanh xuân trong cung điện thâm u (Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều). Người phụ nữ chỉ có một khát vọng rất bình thường là được chung sống cùng với người chồng thân yêu, song lại rơi vào cảnh đau đớn “tử biệt sinh li”, đằng đẵng chờ đợi không biết có ngày gặp lại. (Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn). Nàng Kiều của Nguyễn Du xinh đẹp tài hoa là thế, nhưng lại bị dập vùi trong cảnh "Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần", liên tiếp bị đầy đọa cả về thể xác lẫn tinh thần để rồi phải thốt lên (thực tế là sự đầu hàng hoàn cảnh) rằng: "Thân lươn bao quản lấm đầu/ Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa!". Đây không chỉ là bi kịch của riêng nàng Kiều, mà còn là bi kịch chung của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Mặt khác văn học trung đại Việt Nam, bước đầu đã phản ánh được quan niệm về con người cá nhân trong xã hội. Nhiều nhân vật nữ trong giai đoạn này cũng thể hiện sự phản kháng, sự tố cáo xã hội cũ, nêu lên nhiều suy nghĩ, nhiều quan điểm chống đối lại quan điểm của xã hội phong kiến (tiêu biểu hơn cả là thơ Hồ Xuân Hương). Đặc biệt văn học đã chú ý khám phá nội tâm nhân vật. Các tác giả (Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương..) khi mô tả người phụ nữ, thường để cho nhân vật bộc bạch trực tiếp những nỗi đau khổ, những niềm riêng tư (sự tự ý thức về mình): "Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung" (Truyện Kiều - Nguyễn Du), hoặc bộc lộ những phản ứng: "Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng/ Chém cha cái kiếp lấy chồng chung"... (Hồ Xuân Hương). Có thể khẳng định rằng cảm giác mất mát hạnh phúc và nỗi khát khao hạnh phúc là hai tâm trạng, hai nỗi niềm thường gặp nhất ở các nhân vật nữ trong văn học trung đại Việt Nam.
(ST)
0
phiếu
0đáp án
798 lượt xem

“Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” được Nguyễn Khoa Điềm sáng tác vào ngày 25 tháng 3 năm 1971, là một trong số những bài thơ hay của ông. Nổi bật trong bài là hình ảnh người mẹ Tà Ôi như là biểu tượng về người mẹ Việt Nam anh hùng. Đó là một con người rất mực thương con nhưng cũng vô cùng yêu nước. Dường như đứa con yêu quí và đất nước thân thương nuôi con nên người và đánh giặc giải phóng quê hương là những gì trọng đại nhất cao quí nhất của người mẹ này trong những năm đất nước phải gồng mình chống đế quốc Mĩ xâm lược.

Bài thơ đồng thời là lời hát ru. Tác giả ru em Cu Tai ngủ ngoan (đồng thời miêu tả hình ảnh người mẹ). Người mẹ trong bài ru em ngủ ngoan nhưng đó là lời ru thầm, lời ru trong tim (Lưng đưa nôi và tim hát thành lời). Lời ru của tác giả và lời ru của người mẹ nối tiếp nhau, đan cài, hoà quyện vào nhau làm nên những khúc hát ru vừa đằm thắm, dịu dàng, vừa trầm tư, sâu lắng. Vì kết cấu bài thơ như những khúc hát ru nên bài thơ cứ trở đi trở lại một số khúc giống nhau như những nét nhạc chủ đạo trong một bài hát. Bài thơ có ba khúc ru. Mỗi khúc hát ru là một đoạn thơ. Ở đoạn thơ thứ nhất, người mẹ ru con khi địu con trên lưng và giã gạo nuôi bộ đội. Giấc ngủ của em nghiêng nghiêng theo nhịp chày, thấm mồ hôi lao động vất cả của mẹ. Người mẹ Tà Ôi thương con nhất mực không lúc nào chịu rời con đã lấy lưng làm nôi và đôi vai gầy làm gối cho con. Và lời ru con của mẹ cất lên bên cối gạo giữa sàn nhà cũng chính là lời tâm sự, lời tự nhủ, lời mẹ thầm nói với chính mình. Lòng yêu con của mẹ gắn liền với tình thương yêu bộ đội :

“Mẹ thương A Kay, mẹ thương bộ đội
Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần
Mai sau con lớn vung chày lún sân...”

Ước mơ của người mẹ nối liền với giấc mơ của con và cùng hội tụ lại trong tình thương yêu sâu sắc những anh bộ đội. Trong đoạn thơ thứ hai, bà mẹ Tà Ôi địu con đi tỉa bắp trên núi Ka Lưi. Tình thương yêu và niềm hi vọng vô bờ của người mẹ đối với đứa con được thể hiện bằng lời và những hình ảnh độc đáo :

“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ con nằm trên lưng.”

Trong câu thơ trên hình ảnh mặt trời là một hình ảnh thực. Mặt trời đem lại ánh sáng, sự sống cho cây cỏ, làm cho cây cỏ thêm tươi tốt, như cây ngô bắp to, hạt mẩy. Hình ảnh mặt trời ở câu thơ sau là ẩn dụ. Tác giả so sánh ngầm Cu Tai là mặt trời của mẹ. Coi con như mặt trời thì quả là lòng mẹ yêu quí con vô hạn, mong đợi ở con rất nhiều. Đó là ánh sáng, là nguồn sống, là niềm vui, là niềm hạnh phúc, là tất cả tương lai của mẹ. Hai câu thơ, hai hình ảnh tôn nhau lên, đối ý với nhau, đã làm nổi bật tình thương yêu sâu sắc và niềm hi vọng lớn lao của người mẹ đối với đứa con. Lời ru của người mẹ Tà Ôi ngân nga trong trái tim mẹ khi mẹ địu con đi tỉa bắp vẫn hướng về đứa con thơ yêu quí của mình. Lòng thương yêu con của mẹ trong hoàn cảnh này gắn liền với tình thương yêu dân làng - những người dân lao động nghèo đói :

“Mẹ thương A Kay, Mẹ thương làng đói
Con mơ cho mẹ hạy bắp lên đều
Mai sau con lớn phát mười Ka Lưi”.

Trong đoạn thơ thứ ba, người mẹ địu con trong tư thế đang “chuyển lán”, “đạp rừng”. Bà mẹ băng rừng, địu con trên lưng đưa con đi “để giành trận cuối”. Lòng yêu con của mẹ đến đây gắn liền với lòng yêu nước : “Mẹ thương A Kay mẹ thương đất nước”. Người mẹ gửi gắm vào giấc mơ của con niềm khao khát được gặp Bác Hồ và mong đất nước được độc lập tự do :

“Con mơ cho mẹ được gặp Bác Hồ
Mai sau con lớn thành người tự do”.

Tiếng hát ru con của người mẹ Tà Ôi không phải được cất lên bên cánh võng hay trên giường ấm nệm êm trong phòng ngủ. Tiếng hát ru ấy ngân lên trong trái tim của mẹ khi mẹ địu con giã gạo, tỉa bắp trên núi, khi mẹ “chuyển lán”, “đạp rừng” hoặc trên đường ra chiến trường để giành trận cuối. Như vậy, bà mẹ Tà Ôi là một người mẹ lao động, trực tiếp sản xuất, phục vụ cho chiến đấu của toàn dân tộc. Tình thương con, thương bộ đội, thương dân làng, thương đất nước hoà quyện vào nhau trong tấm lòng của một người mẹ miền núi yêu nước trong những năm tháng chống Mĩ khó khăn, gian khổ.

Theo lời ru (và cũng là tình yêu thương của mẹ), theo bước chân của người mẹ Tà Ôi, không gian cũng được mở rộng dần: từ sân (khi mẹ giã gạo) đến ngọn núi Ka Lưi (khi mẹ đi tỉa bắp) rồi đến những rừng những suối khi mẹ chuyển lán đạp rừng. Và ước mơ, khát vọng của người mẹ gửi gắm qua lời hát ru tha thiết, nặng tình nặng nghĩa ấy cũng mỗi lúc một lớn dần : “Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần” đến “Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều”... Từ mong muốn “Mai sau con lớn vung chày lún sân” đến “Mai sau con lớn phát mười Ka Lưi” cuối cùng cũng bùng lên thành một khát vọng cháy bỏng “Mai sau con lớn làm người tự do”. 

Tinh thần, không khí sục sôi của đất nước trong những năm tháng đánh Mĩ đã đi vào lời hát ru của những bà mẹ. Cuộc chiến tranh nhân dân khiến cả đến những bà mẹ miền núi có con nhỏ vào cuộc chiến đấu hi sinh, gian khổ. Biết bao em bé đã “lớn trên lưng mẹ” đi “đến chiến trường” và trong số họ không ít những người đã thành những anh hùng dũng sĩ. Qua những khúc hát ru với những điệp khúc đã trở đi trở lại nhưng vẫn có sự biến hoá phát triển, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện thật sinh động, ám ảnh đầy sức mạnh nghệ thuật khát vọng mãnh liệt độc lập tự do của toàn dân tộc.

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
854 lượt xem

Chiến tranh đã đi qua hơn ba mươi năm. Thế nhưng, những ký ức về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc, ký ức về những con người anh hùng trong một thời đại anh hùng thì vẫn tươi mới, nguyên vẹn mỗi khi ta đối diện từng trang sách trong những tác phẩm văn học của thời kỳ này. 

Bằng cảm hứng lãng mạn, kết hợp với khuynh hướng sử thi, văn học Việt Nam trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước đã xây dựng trong văn thơ tượng đài những chiến sĩ anh hùng. Họ là những “Thạch Sanh của thế kỷ XX”. Chiến công của họ đẹp và phi thường như huyền thoại. 

Có hai tác phẩm được coi là tiêu biểu cho cảm hứng ngợi ca người chiến sĩ anh hùng của văn học thời kỳ này, đó là “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật và “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê. Mỗi tác phẩm là một bức tranh đẹp về hình tượng người chiến sĩ điển hình cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh quang vinh. 

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được nhà thơ Phạm Tiến Duật sáng tác năm 1969, rút từ tập thơ “Vầng trăng, quầng lửa” là một bài thơ độc đáo trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1969-1970. Bài thơ khắc họa vẻ đẹp người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn ác liệt. Vẻ đẹp độc đáo được thể hiện ngay trong tên gọi của bài thơ. Đó là sự thống nhất giữa hai sự vật tưởng như tương phản gợi ấn tượng về chất thơ lãng mạn và sự trần trụi khốc liệt. 

Khai thác đề tài chiến tranh, tác giả không chỉ tô đậm tính chất ác liệt, tàn khốc nhằm làm nổi bật sự phi thường của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam mà Phạm Tiến Duật đã có cách nhìn, cách cảm khá mới lạ và thú vị. Từ trong sự tàn khốc ấy, chất thơ vẫn cứ tuôn trào ! 
Câu thơ mở đầu như một lời tự sự xen lẫn miêu tả: 

Không có kính không phải vì xe không có kính 
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

Nó có tác dụng vừa lý giải sự bất thường của hình ảnh chiếc xe độc đáo “không có kính” vừa tô đậm sự ác liệt của chiến trường “bom giật, bom rung...” Đây là hình ảnh vừa lạ vừa chân thực. Lạ là vì trong thơ, người ta thường chọn những sự vật hoàn thiện, hoàn mỹ để miêu tả nhằm tạo thiện cảm với người cảm nhận nó. Với những chiếc xe cũng vậy! Phải sang trọng, bóng loáng chứ sao lại trần trụi, méo mó, biến dạng thế này ! 

Không có kính rồi xe không có đèn, 
Không có mui xe, thùng xe có xước

Nhưng đấy là sự thật. Không phải một chiếc như thế mà tác giả nhìn thấy cả một tiểu đội xe như thế! Bởi vì thời điểm mà bài thơ ra đời có thể nói là ác liệt nhất trong thập niên 60 của thế kỷ XX. 

Đường Trường Sơn - nơi vận chuyển vũ khí lương thực vào chi viện Miền Nam - những năm tháng này là “túi bom, chảo lửa”. Và trên nền hiện thực tàn khốc ấy đã xuất hiện hình ảnh đẹp đẽ, phi thường của người chiến sĩ lái xe. Làm chủ những phương tiện ấy, người chiến sĩ không hề nản chí hay run sợ mà trái lại, lại bình tĩnh đến lạ thường: 

Ung dung buồng lái ta ngồi 
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Vẻ đẹp kiêu hùng được toát ra từ tư thế ngồi “ung dung” đến cái nhìn “nhìn thẳng”. Các từ láy “ung dung” cùng với nhịp thơ nhanh, đều, dứt khoát 2/2/2 diễn tả vẻ đẹp khoan thai, thản nhiên, tự tin của người chiến sĩ. Điệp từ “nhìn” gợi lên sự nối tiếp liên tục của những hình ảnh chiến trường như một đoạn phim đang quay chậm: 

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng 
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim 
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim 
Như sa như ùa vào buồng lái

Các thủ pháp nhân hóa, so sánh, ẩn dụ đã góp phần làm cho hình ảnh thơ thêm sinh động. Tưởng rằng làm chủ những chiếc xe không kính, người chiến sĩ chỉ thấy những khó khăn chồng chất khó khăn. Nhưng không! Nó đã làm tăng những cảm giác mới mẻ mà chỉ có người chiến sĩ khi ngồi trên những chiếc xe như thế mới cảm nhận được một cách rõ ràng, mãnh liệt... Hình ảnh “gió vào xoa mắt đắng”, “con đường chạy thẳng vào tim” tạo ấn tượng độc đáo. Chiếc xe như đang trôi bồng bềnh trong thiên nhiên hoang dã của núi rừng Trường Sơn hùng vĩ. Chất thơ cùng với vẻ đẹp lãng mạn toát lên từ đó. Nhưng có thể nói đẹp nhất là thái độ, tinh thần dũng cảm bất chấp gian khổ để chiến đấu và chiến thắng: 

Không có kính, ừ thì có bụi, 
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc 
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. 

Vẻ đẹp được toát lên từ lời thơ giản dị, giàu “chất lính”, hình ảnh thơ mộc mạc. Điệp ngữ “ừ thì”, “chưa cần” vang lên như một lời thách thức, chủ động chấp nhận gian khổ. Một giọng thơ tự tin, ngang tàng. Một tiếng cười “ha ha” hồn nhiên. Tất cả đã toát lên vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe. 

Đời sống chiến trường gian khổ là thế. Sự sống và cái chết ở đây chỉ là gang tấc. Thế nhưng tình yêu thương đồng chí, đồng đội vẫn tỏa sáng lạ thường. 

Những chiếc xe từ trong bom rơi 
Đã về đây họp thành tiểu đội 
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới 
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. 

Có thể nói rằng, khai thác chất liệu nghệ thuật của đời sống chiến tranh, Phạm Tiến Duật đã rất thành công trong việc khắc họa người chiến sĩ lái xe Trường Sơn bằng những hình ảnh, chi tiết vừa chân thực, gân guốc, mộc mạc vừa lãng mạn nên thơ. 

“Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước: 
Chỉ cần trong xe có một trái tim”.

“Trái tim” ở đây chính là trái tim chứa chan tình yêu Tổ quốc đã giúp người chiến sĩ lái xe làm nên những kỳ tích phi thường. Vẻ đẹp hào hùng của họ tỏa sáng cả bài thơ; đủ làm sống lại trong lòng chúng ta một thời oanh liệt của anh bộ đội cụ Hồ. Chất anh hùng ca dào dạt tạo nên vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. 

Cùng với chủ đề ngợi ca vẻ đẹp người chiến sĩ, nhưng khác với nhà thơ Phạm Tiến Duật trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, nhà văn Lê Minh Khuê trong “Những ngôi sao xa xôi” đã đi tìm và khai thác vẻ đẹp ấy qua hình ảnh của những cô gái thanh niên xung phong. 

Truyện viết về cuộc sống và chiến đấu vô cùng gian khổ của những nữ thanh niên xung phong - những cô gái “Ba sẵn sàng” trên tuyến đường Trường Sơn chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc. Mặc dù cốt truyện đơn giản, nhưng tác giả đã rất thành công trong việc khắc họa vẻ đẹp người nữ chiến sĩ qua miêu tả tâm lý nhân vật sắc sảo và tinh tế. 

Nổi bật trong truyện là ba gương mặt đẹp của tổ trinh sát mặt đường. Họ có những nét tính cách chung của người nữ thanh niên xung phong Trường Sơn thời chống Mỹ nhưng ở mỗi nhân vật lại lấp lánh vẻ đẹp riêng. Hoàn cảnh sống và chiến đấu nơi tuyến lửa đã gắn bó họ thành một khối đoàn kết, yêu thương, gan dạ và dũng cảm.

Họ đóng quân trong một cái hang giữa trọng điểm “túi bom, chảo lửa” trên tuyến đường Trường Sơn. Công việc hàng ngày của họ là đếm bom, rồi lao ra trọng điểm sau những trận bom để đo khối lượng đất đá cần phải san lấp, đánh dấu vị trí bom rơi và phá những quả bom chưa nổ. Một khối lượng công việc vừa đồ sộ vừa nguy hiểm. Cái chết rình rập họ từng phút, từng giờ. “Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang âm ỉ xa dần, thần kinh căng như chảo, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng chung quanh còn nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ...”. Họ làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, dù chỉ có ba người (lại là ba phụ nữ); họ phân công nhau phá bằng hết những quả bom chưa nổ mà không cần đến sự trợ giúp của đơn vị “như mọi lần chúng tôi sẽ giải quyết hết”. 

Trong chiến đấu họ gan dạ, dũng cảm, quyết đoán là thế, nhưng trong cuộc sống họ là những cô gái trẻ trung, yêu đời, dễ rung cảm, lắm ước mơ. Là phụ nữ, họ rất thích cái đẹp và thích làm đẹp cho cuộc sống. 

Nếu như nhân vật Nho “mát mẻ như một que kem trắng”, thích ăn kẹo như một đứa trẻ, giàu mơ ước (Nho ước mơ trở thành công nhân nhà máy điện và trở thành cầu thủ bóng chuyền của nhà máy) thì nhân vật chị Thao lại dạn dày, từng trải trong cuộc sống; thích thêu thùa; thích làm đẹp “tỉa đôi lông mày của mình, tỉa nhỏ như cái tăm” nhưng trong công việc thì “ai cũng gờm chị: cương quyết, táo bạo” (dũng cảm, táo bạo nhưng lại sợ nhìn thấy máu chảy). 

Còn Phương Định, nhân vật chính của truyện là con người hồn nhiên, nhạy cảm, lãng mạn và mơ mộng. Là con gái Thủ đô, cô thường sống với kỷ niệm quê hương. Nơi ấy có một thời học sinh trong trắng, hồn nhiên, vô tư. Nơi ấy có mẹ, có căn gác nhỏ của cô... Những kỷ niệm yêu dấu ấy là liều thuốc tinh thần quý giá động viên cô, tiếp thêm sức mạnh để cô sống đẹp và chiến đấu anh dũng nơi tuyến lửa. 

Ở chiến trường, Phương Định luôn dành cho đồng đội tình yêu thương thắm thiết. Cô yêu quý đồng đội trong “tổ trinh sát mặt đường” của cô và cảm phục các anh bộ đội “những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ”. Trong mắt cô, đó là những “người đẹp nhất, thông minh nhất”. Phương Định rất nhạy cảm. Cô biết mình có “cái nhìn sao mà xa xăm” như lời các anh lái xe nhận xét nhưng cô lại không biểu lộ tình cảm và thích kín đáo giữa đám đông. Cô thích nhạc và mê ca hát. Thậm chí tự đặt lời theo một điệu nhạc nào đó và hát để thấy mình rất buồn cười v.v... Thế nhưng với Phương Định, sự nhạy cảm về tâm hồn có lẽ được biểu hiện tinh tế nhất ở chỗ, chỉ một cơn mưa đá bất ngờ vụt qua trên cao điểm, cũng đủ đánh thức trong cô những ký ức về quê hương, gia đình, khơi dậy trong cô khát khao sum họp đến cháy bỏng. 

Một cô gái Hà Nội chính gốc, lãng mạn và mơ mộng như thế, nhưng trong chiến đấu lại dũng cảm, gan dạ đến tuyệt vời. Một mình phá bom trên đồi “quang cảnh vắng lặng đến dễ sợ” nhưng tinh thần cô không hề nao núng. Đáng lẽ cô phải “đi khom” nhưng sợ mấy anh chiến sĩ “có cái ống nhòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt” nhìn thấy, nên cô “cứ đàng hoàng mà bước tới”. 

Khi ở bên quả bom, tử thần có thể cướp đi mạng sống của cô bất cứ lúc nào, nhưng cô vẫn bình tĩnh thao tác một cách chính xác và chạy đua với thời gian để vượt qua cái chết. 

“Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”. Những cảm giác tinh tế ấy không chỉ là sự nhạy cảm mà còn là kinh nghiệm của sau bao nhiêu lần phá bom ở tuyến lửa và chỉ những người nữ thanh niên xung phong dạn dày như Phương Định, Nho, chị Thao mới có được ! 

Với tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi”, ngòi bút của Lê Minh Khuê đã miêu tả sinh động, chân thực tâm lý nhân vật; làm hiện lên một thế giới nội tâm rất phong phú nhưng không phức tạp, rất đời thường, giản dị nhưng vô cùng trong sáng và cao thượng của những nữ thanh niên xung phong. 

Vẻ đẹp của những “cô gái mở đường” Trường Sơn cùng với vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe trong các tác phẩm văn học chống Mỹ nói chung và trong các tác phẩm của Phạm Tiến Duật và Lê Minh Khuê nói riêng đã giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về ý chí, tâm hồn và nhân cách của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
865 lượt xem

BÀI LÀM 

Truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng đã làm rung động tâm hồn người đọc khi thể hiện tình cha con sâu nặng và đầy thương cảm trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.

Qua nhân vật ông Sáu, Nguyễn Quang Sáng đã khắc hoạ hình ảnh một người cha vì hoàn cảnh chiến tranh phải xa gia đình. Ông khát khao cháy bỏng một việc rất bình dị là luôn được ôm ấp, chăm bẳm, được sống bên đứa con gái bé bỏng của mình.

Cũng như biết bao người lính khác, có thể nói ông Sáu là một người cha chịu nhiều thiệt thòi. Vì cuộc chiến đấu chống xâm lăng để bảo vệ quê hương mà ông phải để lại người vợ và đứa con mới tròn một tuổi ở quê nhà. Tám năm trời nhớ thương và mong mỏi, mới được về thăm quê. "Cái tình người cha cứ nôn nao bên người", ông không thể đợi cho xuồng cập bến đã nhảy vội xuống, kêu tên con. Nhưng đôi cánh tay của ông đã giơ lên thật buồn tủi vì chỉ nhận được sự sợ hãi của đứa con. Chính cái vết thẹo đỏ ửng trên mặt mà kẻ thù đã gây cho ông, làm cho đứa con gái bé nhỏ, mặt tái đi, vụt chạy, và thét lên kêu mẹ. Và rồi ba ngày phép ngắn ngủi, người cha đã tìm mọi cách để đứa con nhận ra mình, nhưng đều vô hiệu. Cái hố sâu chiến tranh đã ngăn cách tình phụ tử. Trước mặt người cha đau khổ chỉ là một đứa bé ương ngạnh, cứng đầu cứng cổ, không một chút thân thiện. Tình cha con chỉ trào dâng mãnh liệt, khi bà ngoại giúp cho bé Thu hiểu được căn nguyên của vết thẹo trên mặt cha. Nhưng lúc ông Sáu được nghe tiếng đứa con kêu thét lên cái âm thanh mà ông bao nhiêu năm chờ đợi : "Ba...a...a...ba !", lúc ông được bế thốc đứa con lên và được tay nó ôm chặt lấy cổ, chân nó câu chặt người, được nó hôn khắp mặt mũi, thì cũng là lúc ông phải lên đường. Chỉ kịp hứa mua cho con cây lược.

Có lẽ sau đó, những tháng ngày ở căn cứ, đối với ông Sáu chỉ có hai việc : hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu và thực hiện lời hứa đối với con. Ông ân hận, khổ tâm vì lúc giận mình đã đánh con. Tìm được một khúc ngà ông "hớt hải chạy về...mặt hớn hở như một đứa trẻ được quà"; rồi ông hì hục bắt tay vào làm chiếc lược. Ông "cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như một người thợ bạc". Khi chiếc lược đã xong, ông "gò lưng, tỉ mỉ khắc từng nét : "Yêu nhớ tặng Thu con của ba "lên lưng chiếc lược. "Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con nhưng nó như gỡ rối dược phần nào tâm trạng" của ông. Như vậy, chiếc lược ngà đối với ông Sáu thật thân thiết gần gũi như chính đứa con gái bé bỏng. Đêm đêm "nhớ con" ông "lấy cây lược ra ngắm nghía và mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt". Cây lược thân thương của ông Sáu càng bóng, càng mượt, và cũng như lòng mong mỏi được gặp con trong ông càng thêm nôn nao, thêm trào dâng mãnh liệt. Nhưng việc binh đao đâu dễ cho ông cơ hội về quê.

Và ông Sáu không bao giờ có cơ hội ấy nữa. Trong một trận càn lớn của quân Mĩ-nguỵ, ông "bị viên đạn của máy bay Mĩ bắn vào ngực". Trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông dồn toàn bộ sức lực móc cây lược trong túi, đưa cho người đồng hương đồng đội. Nhìn bạn "một hồi lâu" và chỉ khi nghe được lời hứa : "Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu", ông "mới nhắm mắt đi xuôi". 

Người đọc không thể cầm được nước mắt khi nghe tiếng khóc thét của đứa con gọi cha buổi chia tay ngày ấy. Giờ đây cũng không thể cầm lòng khi chứng kiến cái cử chỉ cầm chiếc lược và ánh mắt cầu xin của người cha vào giây phút lâm chung. Từng có bao nhiêu áng văn nói về tình mẹ cực kỳ xúc động, nhưng đây có lẽ là một trong những trang văn rất hiếm hoi mô tả đến tận cùng sâu thẳm trái tim yêu thương của người cha với con.

Truyện Chiếc lược ngà được Nguyễn Quang Sáng viết 1966, tại chiến trường Nam bộ, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang đến hồi vô cùng khốc liệt. Câu chuyện cho ta thấy sự mất mát trong chiến tranh. Nhưng điều quan trọng là, qua nhân vật ông Sáu, nhà văn đã khắc họa được vẻ đẹp của tình cha con. Điều dộc đáo là, viết giữa chiến trường khói lửa, mà trào dâng trong câu chuyện là sự rung động mãnh liệt của tình người - tình đồng chí và nhất là tình cha con. Chất trữ tình đậm đà, sức hấp dẫn kỳ lạ của câu chuyện chính là ở đó.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
428 lượt xem

I- Tầm quan trọng của phương pháp thuyết minh

- Phải hiểu biết rõ ràng, chính xác, đầy đủ về sự vật, hiện tượng cần được thuyết minh.
- Phải thực lòng mong muốn truyền đạt những tri thức ấy cho người đọc (người nghe).
- Phương pháp truyền đạt cho người đọc người nghe cần dễ hiểu, rõ ràng, chính xác, khoa học và trong sáng.

II- Một số phương pháp thuyết minh 

1. Ôn tập các phương pháp thuyết minh đã học 

a. Những phương pháp thuyết minh đã học: nêu định nghĩa, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân loại, phân tích

* Tìm hiểu ví dụ: 

- Nêu nhận định về nhân vật lịch sử Trần Quốc Tuấn, rồi liệt kê bằng số liệu cụ thể để giải thích.
- Dùng bút pháp phân tích, giải thích.
- Dùng số liệu để so sánh rồi phân loại và nêu ví dụ phân tích đưa ra kết luận.
- Đưa ra nhận định về nhạc cụ của một điệu hát, phân loại rồi phân tích âm thanh các nhạc cụ.

b. Tác dụng: lời văn thêm truyền cảm, sinh động, hấp dẫn, chuẩn xác.

2.Tìm hiểu thêm một số phương pháp thuyết minh 

- Thuyết minh bằng cách chú thích.
- Thuyết minh bằng cách giảng giải nguyên
nhân- kết quả.

III.Yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp thuyết minh

1. Muốn làm bài văn thuyết minh có kết quả, người làm bài phải nắm được phương pháp thuyết minh.

2. Những phương pháp thuyết minh thường gặp: định nghĩa, chú thích, phân tích, phân loại, liệt kê, giảng giải nguyên nhân-kết quả, nêu ví dụ, so sánh, dùng số liệu,…

3. Việc lựa chọn, vận dụng và phối hợp các phương pháp thuyết minh cần tuân theo các nguyên tắc:
- Không xa rời mục đích thuyết minh;
- Làm nổi bật bản chất và đặc trưng của sự vật, hiện tượng;
- Làm cho người đọc (người nghe) tiếp nhận dễ dàng và hứng thú.

IV.Luyện tập 

1. Bài tập1 

- Phương pháp chú thích, phân loại, liệt kê, nêu ví dụ điển hình.
=> Tác giả cung cấp những tri thức về một loài hoa được cả phương Đông và phương Tây tôn quý.
+ Tác giả hiểu biết thật sự khoa học, chính xác, khách quan về loài hoa lan ở Việt Nam.

2. Bài tập 2 (Về nhà).

112

bài tập

Chat chit và chém gió
  • theoofman1093: q 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: u 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: v 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: ư 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: y 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: z 5/8/2020 9:25:29 PM
  • theoofman1093: tui bây ngu như pò 5/8/2020 9:25:38 PM
  • theoofman1093: è 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: sg 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: h 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: sdg 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: ggg 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:05 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:48:06 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:07 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:10 PM
  • theoofman1093: dfgfg 5/8/2020 9:48:11 PM
  • vingoc: hi mn 11/13/2020 9:28:11 PM
  • vingoc: em mới vào ạ 11/13/2020 9:28:24 PM
  • vingoc: ở đây có ai lớp 7 ko ạ? 11/13/2020 9:29:13 PM
  • duolingo: 9 3/28/2021 11:19:10 AM
  • huongmaixm01: văn lớp 9 7/2/2021 11:26:56 AM
  • minhmama357: hi 8/13/2021 4:22:39 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • vipof95962: me may beo vai 11/20/2022 11:53:17 AM
  • vipof95962: wanna watch hentai 11/20/2022 11:53:47 AM
  • vipof95962: laughing 11/20/2022 11:53:49 AM
  • vipof95962: sex is good for you 11/20/2022 11:53:56 AM
  • kkkkkkkk: free fire 11/27/2022 3:22:24 PM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely
  • nguyennhung9904
  • duolingo
  • duolingo