0
phiếu
0đáp án
603 lượt xem

Sinh thời, Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến miền Nam, ngày đêm thương nhớ miền Nam. Với Bác, miền Nam là niềm vui, là hạnh phúc, là nỗi đau không lúc nào nguôi: “Miền Nam trong trái tim tôi”. Niềm mong mỏi thiết tha của Bác là miền Nam mau được giải phóng. Miền Nam cũng ngày đêm thương nhớ Bác, mong ngày giải phóng để được gặp Bác kính yêu. Nhưng tiếc thay, khi Bắc Nam sum họp một nhà thì Bác không còn nữa. Lòng thương nhớ, nỗi niềm đau đớn của đồng bào và chiến sĩ miền Nam dồn nén bao nhiêu năm đã được nhà thơ Viễn Phương thể hiện trong bài Viếng lăng Bác. Bài thơ không những chỉ thể hiện dòng cảm xúc trào dâng của nhà thơ mà còn thể hiện hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng những hình ảnh vừa quen thuộc, vừa giàu sức khái quát, vừa lung linh gợi cảm. Bằng cảm xúc chân thực và ngôn ngữ thơ gợi cảm, Viễn Phương đã nói hộ chúng ta một chân lý: Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong lòng nhân dân ta.

Bài thơ ra đời năm 1976, khi lần đầu tiên sau giải phóng miền Nam, Viễn phương ra thăm Lăng Bác. Bài thơ rất ngắn gọn, súc tích nhưng có sức gợi tạo nên sự xúc động cho người đọc. Ngôn ngữ thơ tuôn trào theo theo dòng cảm xúc chân thành, tha thiết. 

Mở đầu bài thơ, Viễn Phương đã bày tỏ ngay tình cảm sâu nặng, ruột thịt của mình bằng câu thơ giản dị: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác.

Tình cảm giữa miền Nam và Bác Hồ luôn luôn là tình cảm ruột thịt “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà” (Tố Hữu) và tình cảm của miền Nam đối với Bác cũng là tình cảm nhớ mong da diết “Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” (Tố Hữu). Tự đáy lòng của người con đến thăm cha, Viễn Phương nói với Bác: Con ở miền Nam…. Câu thơ giản dị nhưng bao hàm một ý nghĩa lớn. Trong tim Bác và trong tim miền Bắc, Miền Nam luôn luôn là nỗi đau chia cắt, nỗi nhớ thương, là niềm tự hào, là biểu tượng anh hùng, bất khuất, dũng cảm, kiên cường, là thành đồng Tổ Quốc… Giờ đây, nhà thơ mang theo cả niềm tự hào đó của đồng bào miền Nam để đến với Bác. 

Hình ảnh đầu tiên trong lăng làm nhà thơ xúc động là hình ảnh hàng tre:

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng 

Hàng tre bát ngát cuốn hút cảm xúc của nhà thơ. Qua hình ảnh hàng tre quen thuộc tác giả gửi gắm một ý nghĩa tượng trưng nhằm ca ngợi Bác, ca ngợi dân tộc. Chắc rằng, cũng như mọi người Việt Nam, trong tâm khảm nhà thơ, cây tre là hình ảnh giản dị, thân thuộc, đời đời gắn bó với quê hương làng xóm. Hàng tre xanh xanh trong vườn Bác gợi cho người đọc nhiều liên tưởng. Hàng tre gợi hình ảnh mọi miền quê hương đất nước, nhất là hình ảnh miền Nam yêu thương. Tre kiên cường trong bão táp mưa sa như dân tộc ta vững vàng qua phong ba bão tố, như Bác Hồ suốt đời sống giản dị nhưng kiên cường tranh đấu vì độc lập tự do của dân tộc. 

Hoà vào dòng người thăm lăng, nhà thơ tiếp tục dòng suy tưởng. Lời thơ bỗng dạt dào một cảm xúc tự hào, thành kính, thương nhớ Bác:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng 
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân 

Ai đã từng một lần đi viếng lăng Bác mới hiểu hết hàm ý trong câu thơ của Viễn Phương. Ngày ngày, mặt trời - chúa tể của thiên nhiên - thán phục một mặt trời trong lăng rất đỏ. Mặt trời rất đỏ, hình ảnh tượng trưng cho Bác Hồ - là mặt trời cách mạng, là nguồn ánh sáng rực rỡ không bao giờ tắt, mãi mãi chiếu rọi con đường đi tới của dân tộc Việt Nam. Nhiều nhà thơ đã sử dụng hình ảnh mặt trời để thể hiện ánh sáng của lý tưởng cách mạng, nhưng đối sánh hai hình ảnh mặt trời của Viễn Phương quả là rất độc đáo. Đây là một sáng tạo nghệ thuật có tác dụng bộc lộ nội dung rất hiệu quả. Không nhiều lời, chỉ một hình ảnh mặt trời rất đỏ, nhà thơ đã khái quát được hình ảnh Bác Hồ vĩ đại. Nhà thơ đã nói hộ chúng rằng: Bác Hồ là mặt trời cách mạng đẹp nhất, rực rỡ nhất, chói lọi nhất luôn luôn toả sáng trong tâm hồn người Việt Nam. 

Cùng với mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là dòng người đi trong thương nhớ. Nhịp thơ chầm chậm như bước chân của dòng người lặng lẽ đi trong suy tưởng, bao trùm một một không khí thương nhớ Bác không nguôi, thành kính kết tràng hoa tình yêu dâng bảy mươi chín mùa xuân của Người. “Người ta là hoa của đất”, nhà thơ thật sâu sắc và tinh tế khi tôn quí nhân dân. Mỗi người dân là một bông hoa và dòng người đi trong thương nhớ chính là tràng hoa dâng lên Bác. 

Ngày ngày… ngày ngày …, thời gian không ngừng trôi và lòng người Việt Nam không bao giờ nguôi tình cảm nhớ thương, yêu quí, kính trọng đối với Bác.

Đặc biệt xúc động là khi vào trong lăng, thấy Bác nằm nghỉ, nhà thơ sững sờ, nghẹn ngào, đau đớn:

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền,
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi ,
Mà sao nghe nhói ở trong tim 

Bác nằm đó như đang trong giấc ngủ bình yên sau bảy mươi chín mùa xuân không hề nghỉ. Từ ánh điện mờ ở trong lăng, nhà thơ liên tưởng đến một hình ảnh rất đẹp: vầng trăng sáng dịu hiền. Hình ảnh đó đã đưa người đọc vào một thế giới huyền diệu, trong sáng và thanh khiết; càng gợi ta nghĩ đến tình yêu thiên nhiên, yêu trăng nồng nàn của Bác. Vầng trăng kia đã bao lần sáng lên trong thơ Người. Cả khi trong ngục: “Người ngắm trăng soi qua cửa sổ, trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. Cả những khi bận rộn việc nước việc quân, Bác vẫn thấy “trung thu trăng sáng như gương”, “rằm xuân lồng lộng trăng soi”, “trăng ngân đầy thuyền”, “trăng vào cửa sổ đòi thơ”, “trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa…” Giờ đây, Bác nằm đó, trong giấc ngủ bình yên, giữa vầng trăng sáng dịu hiền. Vẫn biết rằng Bác như trời xanh, mãi mãi sống trong sự nghiệp của chúng ta. Nhưng con tim nhà thơ đau đớn vô cùng khi đứng trước Người. Mà sao nghe nhói ở trong tim, chỉ một chữ nhói cũng đủ nói lên nỗi quặn đau, thương nhớ không gì bù đắp được vì mất Bác, vì nỗi thiếu vắng Bác. 

Và nỗi đau không còn kìm ném được nữa, nó trào lên dữ dội khi nhà thơ chia tay với Bác:

Mai về miền Nam, thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng
Muốn làm bông hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. 

Thương Bác, thương đến trào nước mắt, một tình cảm yêu quý mãnh liệt, trọn vẹn như tình cảm của người con đối với người cha ruột thịt. Nhà thơ chia tay Bác trong tiếng khóc nấc nở nghẹn ngào. Làm sao ngăn được dòng nước mắt thương nhớ Bác-một con người vừa vĩ đại, thanh cao, vừa gần gũi thân thiết với chúng ta, một con người suốt đời hy sinh, cống hiến cho dân tộc nay vĩnh viễn nằm lại trong lăng? Nhà thơ lưu luyến không muốn rời xa Bác, chỉ ước muốn biến thành con chim, bông hoa, cây tre, góp tiếng hót, làn hương quanh nơi Bác nghỉ cho trọn niềm trung hiếu với Người. Đoạn thơ dạt dào tình cảm, nhịp điệu thiết tha, cùng với hình ảnh cây tre trung hiếu một lần nữa truyền đến người đọc sự xúc động nghẹn ngào. 

Bài thơ ngắn, nhưng tác giả đã thành công khi sử dụng hàng loạt hình ảnh ẩn dụ mang tính tượng trưng sâu sắc. Các hình ảnh hàng tre xanh xanh, giữa bão táp mưa sa, đến các hình ảnh mặt trời rất đỏ, tràng hoa, bảy mươi chín mùa xuân, vầng trăng sáng dịu hiền, trời xanh là mãi mãi đã gợi cho người đọc thấy trọn vẹn hình tượng Bác Hồ gần gũi, cao quý, thanh khiết, vĩ đại biết bao. Ngoài ra, nó còn gợi đến hình ảnh quê hương, đất nước, nhân dân. Nhà thơ đã có nhiều dụng ý khi sử dụng các hình ảnh rất đẹp, rất lớn lao của vũ trụ: mặt trời, vầng trăng, trời xanh. Những hình ảnh đó tượng trưng cho cái vĩ đại, lớn lao của Bác Hồ. Bác như vầng mặt trời rực rỡ, như vầng trăng sáng dịu hiền, như bầu trời xanh. Ở Bác toả ra ánh sáng của trí tuệ thiên tài và lấp lánh ánh sáng của một tâm hồn cao đẹp. Còn hình ảnh hàng tre xanh xanh lại tượng trưng cho cái bình dị, gần gũi của Người. Và hơn thế nữa, tất cả các hình ảnh ấy đều gợi cho ta thấy sự bất tử của Bác Hồ. Người sống mãi trong lòng nhân dân ta, trong sự nghiệp của chúng ta. Mãi mãi là vị cha già thân thiết, yêu quý của chúng ta. 

Viếng lăng Bác không những là tiếng khóc đau đớn, nghẹn ngào trước sự ra đi của Bác, là lòng thương nhớ không nguôi, lòng kính phục vô hạn của nhà thơ Viễn Phương và của nhân dân ta đối với Bác Hồ mà bài thơ còn diễn tả thành công hình tượng Bác Hồ vĩ đại bằng những hình ảnh đẹp, nhịp điệu tha thiết, cảm xúc nồng nàn chân thực. Âm hưởng của bài thơ ngân vang mãi trong lòng người đọc. Bài thơ được phổ nhạc càng trở nên truyền cảm sâu xa, làm xúc động hàng triệu trái tim Việt Nam từ 1976 đến nay.

(sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
441 lượt xem

Quê hương - hai chữ thiêng liêng mà trong tim mỗi người ai cũng dành một tình cảm riêng. Những tình cảm ấy thật cao đẹp và đáng trân trọng. Ai đi xa nơi đất khách quê người vẫn luôn hướng về quê hương - nơi chôn rau cắt rốn. Trong tâm khảm mỗi người, ai cũng lưu giữ những âm thanh, cảnh sắc quê nhà, những kỉ niệm cảm động và nhất là tiếng ru ầu ơ, dịu ngọt của mẹ, mái tóc bạc phơ của bà - người đã tần tảo chăm chút, nuôi ta khôn lớn.

Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt đã thổi một nguồn sống mới thức tỉnh những năm tháng tuổi thơ vào lòng triệu con người. Những tình cảm đẹp ấy được diễn tả rất thơ...

Bếp lửa là tiếng thơ của một tấm lòng có cội nguồn của một tâm hồn nhạy cảm và tinh tế, phong phú và mới mẻ. Trong nỗi nhớ của nhà thơ, hình ảnh người bà bao giờ cũng hiện lên cùng bếp lửa. Vì hoàn cảnh gia đình, bố mẹ đi kháng chiến, tuổi thơ Bằng Việt sống cùng bà. Mỗi ngày của tuổi thơ lận đận đều bắt đầu từ ngọn lửa bà nhen. Sự sống của cháu đã được nhen lên và giữ gìn cùng ngọn lửa ấy. Ở đất nào, ngọn lửa cũng là cội nguồn của sự sống, bếp lửa nào cũng nhọc nhằn, tần tảo, bếp lửa nào cũng nồng đượm, ấp iu.

Trong tâm thức của tác giả, “một bếp lửa ấp iu nồng đượm” luôn túc trực, lắng đọng; hình ảnh bà sóng đôi với hình ảnh bếp lửa, gắn với sự chăm chút cho đứa cháu luôn xa cha mẹ.

“Một bếp lửa” là động đến cõi cao sâu trong kí ức của mỗi người về hơi ấm gia đình nhất là khi xa nhà sống ở nơi xa lạ và điệp ngữ ngày dùng để diễn tả cảm xúc đang dâng lên cùng với kí ức, hồi tưởng. Bếp lửa hiện lên nồng nàn trong tình cảm, dạt dào trong cảm xúc.

Toàn bài giọng cảm thương, nhớ nhung da diết như muốn trào dâng lấn át tất cả.

Mỗi kỉ niệm thức dậy là biết bao tâm tình sống dậy. Mỗi kỉ niệm được bao bọc trong nỗi nhớ thương vừa trào dâng vừa sâu lắng. Cả bài thơ là một dòng tâm trạng, một dòng hồi ức. Ngần ất sự việc suốt mấy chục năm trời chỉ xuay quanh hình ảnh bếp lửa của bà. Lửa là ánh sáng, lửa là hơi ấm. Bếp lửa lặng thâm nuôi dưỡng mọi gia đình, nuôi dưỡng cả sự sống này. Nép mình trong bếp có gì mộc mạc, khiêm nhường hơn bếp lửa? những cũng có gì cao quý thiêng liêng hơn? Cho nên nhớ về bếp lửa là nhớ về bà.

Bằng Việt đã thổi bừng lên hết thảy những bếp lửa “ấp iu nồng đượm” trong ký ức của mỗi chúng ta. Và cả mối tình bà cháu đẹp như trong truyện cổ tích của nhà thơ cũng như riêng của tuổi thơ chùng mình. Trong thơ ca còn có mối tình bà cháu nào cảm động hơn? Mối tình bà cháu đẹp như một dòng sông, dòng sông êm đềm và trong vắt, mặt dòng sông chở đầy kỉ niệm. Một bếp lửa và một làn sương sớm. Những kỉ niệm trôi qua theo một nhạc điệu tâm tình âm ĩ thầm thì triền miên như nỗi nhớ chất thơ lan toả trong từng con chữ có cả sắc màu, hương vị, ký ức và hồn người, tình người lan toả vào cảnh, ấp ủ thành tình yêu quê hương.

Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!

Đó là lời thốt lên từ niềm trân trọng, biết ơn cũng là lời thốt lên khi chợt nhận ra trong một vật đơn sơ, lại ẩn náu bao điều kì diệu. Hình ảnh bếp lửa cứ cháy, trong những kỉ niệm của tình bà cháu. Cháu bắt đầu biết đến mùi khói từ khi lên bốn, thì đó cũng là những năm đói khổ, chiến tranh ác liệt. Bởi thế mùi khói từ những năm đầu đời đến tận bây giờ vẫn cứ còn nguyên trong kí ức, chẳng thể tiêu tan. “Lên bốn tuổi cháu đã quen múi khói”… Đoạn thơ thật cảm động, dù cho ngọn lửa hung tàn của giặc đang thiêu huỷ làng xóm thì chính bếp lửa ấm cùng, ân cần của bà đang nhen lên sự sống. Bà đã chịu đựng tất cả vất vả, khó khăn, hy sinh, mất mát. Vì vậy những gì bị thiêu cháy trong ngọn lửa dã man, kỳ lạ thay đang hồi sinh trong ngọn lửa của lòng bà. Ngọn lửa ấy, bếp lửa ấy đã sưởi ấm tâm hồn đứa cháu ngây thơ từ những tháng năm lên bốn. Kì lạ và thiêng liêng nhất là tình yêu quê hương, xứ sở bắt đầu từ sự gắn bó với những gì đơn sơ, bình dị và gần gũi nhất. Tình bà cháu gắn bó với lòng yêu nước thật thiêng liêng, cao cả. Cháu lớn khôn trưởng thành trong đôi bàn tay nâng niu trong tấm lòng yêu thương vo hạn của bà. Ngọn lửa mà bà đã nhóm lên từ “bếp lửa” ấy đã sưởi ấm và soi sáng cuộc đời đi lên phía trước của cháu.

Và đứa cháu hiếu thảo ấy đã lớn, đã đi rất xa nơi bếp lửa của bà, đã biết đến ngọn khói trăm miền, đã vui với ngọn lửa trăm nhà. Nhưng trong lòng cháu chỉ nhớ về ngọn khói đã làm nhèm mắt cháu, chì nhớ về ngọn lửa tảo tần nắng mưa nơi góc bếp của bà. Cháu chẳng bao giờ quên “bếp lửa”, bởi đó là cội nguồn, bởi cuộc đời cháu đã được nhen lên từ ngọn lửa ấy. Ngọn lửa của bà đã cháy trong lòng cháu, một bếp lửa mới của cuộc đời đã nhen lên ngọn lửa của sự sống truyền đời, bất diệt!

“Bếp lửa” là bài thơ cảm động, tình cảm dạt dào trong lòng đã tìm đến một giọng điệu, một nhịp điệu thật phù hợp. Ấy là giọng nồng đượm của lửa, ấy là nhịp bập bồng của lửa, giọng kể lể cứ tràn ra, dâng lên một ngày một nồng nàn, ấm nóng…

Bằng Việt đã khéo lựa chọn và sắp xếp để hình ảnh người và bà bếp lửa luôn đi đôi với nhau. Đọc “Bếp lửa” chẳng những thấy được một dòng tâm sự sâu nặng, dạt dào mà nhà thơ còn muốn đề cao một điều rất đỗi giản dị: “Tình yêu quê hương đất nước bắt nguồn từ những cái cụ thể gần gũi, thân thương với mỗi con người”.
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

DÀN BÀI CHI TIẾT

A- Mở bài:

- Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Ông gắn bó với thôn quê, từ lâu đã am hiểu người nông dân. Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân.

- Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948, trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc, tình yêu nước, thông qua một con người cụ thể, người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

B- Thân bài

1. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc, tình cảm quê hương đất nước. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước, tinh thần kháng chiến. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới.

2. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm, tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người, nhân vật ông Hai. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng, in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có.

a. Tình yêu làng, một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai.

- Ông hay khoe làng, đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê.

- Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần.

b. Sau cách mạng, đi theo kháng chiến, ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm.

- Được cách mạng giải phóng, ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương, vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. Phải xa làng, ông nhớ quá cái khong khí “đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…”; rồi ông lo “cái chòi gác,… những đường hầm bí mật,…” đã xong chưa?

- Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến, thích bìh luận, náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế, chỗ này giết một tí, chỗ kia giết một tí, cả súng cũng vậy, hôm nay dăm khẩu, ngày mai dăm khẩu, tích tiểu thành đại, làm gì mà thằng Tây không bước sớm”.

c. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc.

- Khi mới nghe tin xấu đó, ông sững sờ, chưa tin. Nhưng khi người ta kể rành rọt, không tin không được, ông xấu hổ lảng ra về. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi.

- Về đến nhà, nhìn thấy các con, càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi”. Ông giận những người ở lại làng, nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”, lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân.

- Ba bốn ngày sau, ông không dám ra ngoài. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. Ông luôn hoảng hốt giật mình. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà.

- Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá, vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. Nhưng tình yêu nước, lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt.

- Tình cảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ, với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này:

+ Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông, bố của nó.

+ Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”.

+ Qua đó, ta thấy rõ:

• Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc).
• Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc, chân thành. Tình cảm đó sâu nặng, bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai.

d. Khi cái tin kia được cải chính, gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ, ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu.

- Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường.

- Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông.

3. Nhân vật ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân.

- Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng.

- Miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ đối thoại và độc thoại.

Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động.

C- Kết bài:

- Qua nhân vật ông Hai, người đọc thấm thía tình yêu làng, yêu nước rất mộc mạc, chân thành mà vô cùng sâu nặng, cao quý trong những người nông dân lao động bình thường.

- Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý.

0
phiếu
0đáp án
399 lượt xem

Có thể nói Nguyễn Duy và Nguyễn Minh Châu là hai cây bút tiêu biểu cho văn học Việt Nam từ năm 1954 đến nay. Mỗi tác phẩm của họ đều để lại những dấu ấn sâu sắc, những âm vang dậy lên trong ta sự xúc động chân thành.

Trong văn học thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Nguyễn Duy và Nguyễn Minh Châu đã rất thành công trong cảm hứng ngợi ca đất nước và nhân dân anh hùng. Từ sau năm 1975 đến nay, đất nước từng bước chuyển mình để đi đến sự đổi mới toàn diện.

Trên cái nền hiện thực ấy, Nguyễn Duy và Nguyễn Minh Châu đã hướng ngòi bút của mình vào các vấn đề có tính chân thực cao về đời sống xã hội. Một trong những đề tài được quan tâm là sự tự thức tỉnh, tự giáo dục để hoàn thiện vẻ đẹp nhân cách.

Đọc tác phẩm “Ánh Trăng” của Nguyễn Duy và “Bến Quê” của Nguyễn Minh Châu, ta cảm nhận sâu sắc bài học làm người mà mỗi tác giả đã gửi gắm trong hành trình tìm về nguồn cội và cuộc đấu tranh tự vấn lương tâm để thức tỉnh chính mình.

Đôi khi giữa cuộc sống phồn hoa đô hội, con người với đầy đủ những tiện nghi sinh hoạt hiện đại, sang trọng, bị cuốn hút bởi nhiều thú vui mới lạ, hấp dẫn dễ đánh mất đi những gì đẹp đẽ thân thương của quá khứ mà đáng lẽ phải trân trọng nâng niu, yêu quý. Ta đã bắt gặp điều ấy qua “Ánh Trăng”. Bài thơ đã đạt giải A trong cuộc thi thơ do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. “Ánh Trăng” là lời nhắc nhủ về những tháng năm gian lao mà anh dũng, nghèo khổ mà nồng ấm tình thương cuả cuộc đời người chiến sĩ gắn bó với thiên nhiên, với con người bình dị, hiền hậu, Nguyễn Duy đã gợi nhớ một miền ký ức thẳm sâu:

  “Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”

Dù sống ở “đồng”, ở “sông” hay ở “bể” ở “rừng” thì đi đâu nhân vật trử tình “Ta” cũng có “Trăng” bầu bạn. Quan hệ giữa Vầng Trăng – Ta là quan hệ tri kỉ. Không gian “Đồng” “Sông” “Biển” “Rừng” gợi nhớ quá khứ gian khổ. Ở đó Vầng Trăng đã trở thành máu thịt của Ta:

“Ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”

Từ Vầng Trăng Tri kỉ đến Vầng Trăng Tình nghĩa là quá trình gắn bó sâu nặng khẳng định một tình cảm vững bền tưởng như không bao giờ thay đổi. Thế nhưng, “người ta định rồi chẳng bao giờ người ta làm được” (lão Hạc – Nam Cao).

Nhân vật trữ tình trong Ánh Trăng đã như thế!

“Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
Vầng Trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường”

Từ Vầng Trăng Tri kỉ, Vầng Trăng Tình nghĩa nay đã biến thành Vầng Trăng người dưng! Qủa là một sự thay đổi không thể lường trước. Một sự phản bội?

Điều gì đã làm nên sự phản bội đáng xấu hổ ấy? Phải chăng là sự đổi thay về môi trường sống: Từ miền gian khổ thiếu thốn, khó khăn về nơi đầy đủ, sung sướng? từ giữa thiên nhiên mộc mạc chân chất.

“Trần trụi với thiên nhiên 
hồn nhiên như cây ảo”

Về với “Ánh điện cửa gương:…? phải chăng “có mới, nới cũ”? Lối sống mới, cuộc sống mới với bao nhiêu cái mới đã làm cho Ta quên đi Ánh Trăng quá khứ, đúng là sự tự cắt bỏ đi một phần máu thịt của chính mình! Thế nhưng, “cuộc đời vốn đa sự, con người vốn đa đoan” chỉ đến khi trong cuộc sống gặp trắc trở khó khăn thì Ta mới có dịp để nhìn lại chính mình:

“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn – đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”

Chính trong lúc khó khăn ấy của cuộc sống, Vầng Trăng, lại đột ngột xuất hiện trọn vẹn, thủy chung. Đối diện với “trăng tròn vành vạnh” là sự đối diện với sự vẹn tròn chân thật, yêu thương và ấm áp. Đối diện với lòng độ lượng, khoan dung của quá khứ ân tình, ân nghĩa Ta chợt thấy giật mình:

“Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”

Nhân vât trữ tình trong bài thơ “giật mình” hay chính Ta cũng phải giật mình. Hãy cảnh tỉnh mình khi chưa quá muộn!

Bài thơ như một lời tự sự của chính tác giả, như một lời tự sự của chính mỗi chúng ta, nhắc nhở ta về thái độ sống “uống nước, nhớ nguồn”, thủy chung cùng quá khứ.

Cũng là một bài học làm người, Nguyễn Minh Châu qua tác phẩm “Bến Quê” để lại trong ta những trăn trở, những suy ngẫm sâu xa mang tính triết lý.

“Bến Quê” được đánh giá là một trong những tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn đổi mới nền văn học. Có nhà văn cho rằng, ông là người mở đường tinh anh và tài năng đã đi được xa nhất.
Bài học làm người ta bắt gặp trong “Bến Quê” được gởi gắm qua nhân vật trữ tình – tư tưởng: nhân vật Nhĩ với nhiều nghịch lí trong cuộc đời.
Nhĩ là con người từng trải, có địa vị, đi rộng, biết nhiều. Bao cảnh đẹp chốn gần xa, của ngon vật lạ trên thế giới anh đều được thưởng thức: “Suốt cả đời Nhĩ đã từng đi không sót một xó xỉnh nào trên trái đất”. Thế mà những cảnh vật gần gũi nơi bến quê: “Cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông Hồng đang phô ra trước khuôn cửa sổ gian gác nhà Nhĩ như một thứ vàng thau xen lẫn màu xanh non. Những màu sắc thân thuộc quá như da thịt như hơi thở của đất mỡ màu” thì mãi cuối cuộc đời khi bị cột chặt trên giường bệnh Nhĩ mới nhận ra! Cũng như lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên – vợ anh mặc tấm áo vá! Hình ảnh người vợ tảo tần giàu đức hy sinh làm Nhĩ thật sự cảm động. Đó là tiếng lòng, tiếng đau thương mà không phải lúc nào anh cũng nghe cũng cảm được. Đến bây giờ Nhĩ mới khám phá ra vẻ đẹp của bến quê ư! Đến bây giờ Nhĩ mới thấy Liên mặt áo vá ư! Tại sao vậy? Phải chăng vì quá mãi mê khám phá những gì xa xôi mới mẻ mà anh đã bỏ quên đi điều gần gũi thân thương và rất đỗi thiêng liêng!

Khát vọng cuối cùng của Nhĩ lúc biết mình sắp từ giả cõi đời là muốn đặt chân lên mảnh đất ở bãi bồi bên kia sông, nơi ấy có bến quê của anh Nhĩ… Anh không thể tự mình làm được điều đó. Bởi vì “nhấc mình ra được bên ngoài phiến nệm nằm, anh tưởng mình như vừa bay được nửa vòng trái đất”. Anh đã phải cậy nhờ Tuấn – con trai anh làm điều ấy. Tuấn là sinh viên học tại một trường đại học ở tận một thành phố phía Nam đã miễn cưỡng nhận lời cha. Thế nhưng, lời cầu xin tha thiết và thái độ khẩn khoản của người cha ốm đau tội nghiệp đã bị anh bỏ quên ngay sau đó. Anh đã rơi vào trận chơi phá cờ thế trên vỉa hè và để lỡ mất chuyến đò duy nhất trong ngày về bãi bồi phía bên kia, để lỡ mất cơ hội duy nhất thực hiện ước nguyện của người cha đáng kính!

“Suốt đời Nhĩ cũng từng chơi phá cờ thế trên nhiều hè phố, thật không dứt ra được. Không khéo rồi thằng con trai anh lại trễ mất chuyến đò trong ngày. Nhĩ nghĩ một cách buồn bã, con người ta trên đường đời thật khó tránh khỏi được những cái điều vòng vèo hoặc chùng mình, vả lại, nó đã thấy có gì hấp dẫn ở bên kia sông đâu? Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều kiện riêng anh khám phá thấy như một niềm say mê pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích hết”. Những suy nghĩ mang tính trải nghiệm của Nhĩ làm cho ta cảm thấy day dứt trăn trở! Làm sao để thoát khỏi “cái điều vòng vèo chùng chình” trong cuộc sống? Trong cuộc đời? Bởi vì chính cái điều vòng vèo chùng chình ấy mà Nhĩ đã đau đớn ân hận vào giờ phút cuối cuộc đời! Và Tuấn – con trai anh rồi sẽ đau đớn ân hận bên linh cữu của cha! Và cả chúng ta nữa, chúng ta cũng có thể như thế!

Bài học làm người mà Nguyễn Minh Châu gửi gắm trong “Bến Quê” thật là sâu sắc!

“Ánh Trăng” và “Bến Quê” – hai tác phẩm với hai thể loại khác nhau nhưng cả hai là bài học quý giá cho mỗi chúng ta. Mắc-xim-gor-ki đã từng nói: “Văn học là nhân học”. Học văn là học về con người, học cách làm người!

Cám ơn Nguyễn Duy, cám ơn Nguyễn Minh Châu bằng văn học nghệ thuật đã cho ta bài học đạo lý làm người. Đó là hành trang sống của mỗi chúng ta để ta vững bước trên đường đời. Đúng là: “Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẻ cho ta đường đi mà nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng ta, khiến ta phải tự bước lên con đường ấy (Nguyễn Đình Thi, Tuyển tập, Tập II – Nhà Xuất bản Văn học)
Sưu tầm 
0
phiếu
0đáp án
457 lượt xem

Bài làm

Phạm Tiến Duật là một nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Nhà thơ đã từng cầm súng chiến đấu và công tác trong đội ngũ những chiến sĩ vận tải chở vũ khí ra tiền tuyến:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai.

Niềm vui hăm hở của tuổi trẻ như cuộc sống chói chang chiếu sáng tâm hồn của người chiến sĩ, thi sĩ khiến thơ ông có giọng điệu khỏe khoắn, tự nhiên, tràn trề sức sống, rất tinh nghịch vui tươi đầy chất lính. Điều này đã được Phạm Tiến Duật thể hiện và nâng cao hơn trong tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính . Bài thơ đã ca ngợi những người chiến sĩ lái xe có tư thế hiên ngang dũng cảm, bất chấp gian khổ, sống lạc quan yêu đời, quyết tâm chiến đấu vì miền Nam yêu thương.

Trước hết đọc tác phẩm điều mà mỗi chúng ta cảm thấy khâm phục, tự hào và cũng là nét bao trùm nổi bật của người chiến sĩ lái xe trong bài là sự ung dung, thanh thản tuyệt vời trong một tư thế hiên ngang, bất khuất, bất chấp mọi khó khăn, thử thách. Mặc dù:

Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi…
…Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe thùng xe có xước…

Những người lính lái xe phải lái những chiếc xe trần trụi, xấu xí là vì bom đạn của đế quốc Mĩ đã làm cho những chiếc xe biến dạng, làm cho đồng chí đồng đội của các anh ngã xuống. Chiến tranh quả là khốc liệt thế nhưng các anh vẫn lái những chiếc xe ấy băng ra ngoài mặt trận, chở vũ khí, lương thực từ hậu phương lớn ra tiền tuyến lớn bởi các anh có những trái tim yêu nước cháy bỏng. Đế quốc Mĩ đã gây bao tội ác cho đồng bào miền Nam, bắt đoàn xe phải ngừng hoạt động, gây biết bao khó khăn cho kháng chiến. Song những người lính vẫn vững vàng tay lái bất chấp bom đạn của kẻ thù với tâm hồn lạc quan như niềm tin chắc chắn vào chiến thắng:

Ung dung buồng lái ta ngồi…
Nhìn đất , nhìn trời, nhìn thẳng…

Đoạn thơ hay cả về âm điệu, hình ảnh, cách nói. Những câu thơ nhanh, gấp mà vẫn nhịp nhàng như bánh xe đang lăn đều đặn trên đường. Những câu thơ như bật ra từ trái tim người lái xe đang ngồi sau tay lái. Hiện thực đầy ắp chính xác đến từng chi tiết, nhưng đằng sau hiện thực ấy là một tâm trạng, một tư thế, một bản lĩnh chiến sĩ. Xe không có kính mà họ vẫn ung dung, thanh thản, vẫn tập trung cao độ, vẫn bình tĩnh tự tin để đưa hàng xe ra tiền tuyến với một cái nhìn đầy ngạo mạn của lòng dũng cảm. Có lẽ, tác giả phải là người trong cuộc mới sáng tác được những câu thơ hay và chính xác như thế. Tâm hồn các chiến sĩ lái xe thật lãng mạn, nhờ không có kính mà nhìn thấy sao trời, cánh chim sa, gió cứ ùa vào buồng lái và trở thành người bạn đường của họ. Thiên nhiên con người như hòa vào làm một câu thơ rất thực lại mang chút nghệ sĩ đáng yêu của người lính. Cả đoạn thơ như ào ra từ cuộc sống thực để nói lên tinh thần cao đẹp của người chiến sĩ đường ra trận mùa này đẹp lắm. Đây phải chăng là con đường cách mạng, con đường hàng vạn, hàng triệu con người Việt Nam đang xây đắp chờ ngày “khai trương”. Bằng lời thơ giản dị mà chân thành tác giả lại viết tiếp:

Không có kính ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Những câu thơ ngồn ngộn chất sống hiện thực ở chiến trường, tác giả như nhìn thấy bụi trắng, bộ mặt lấm lem của người lính và nghe rõ tiếng cười sảng khoái của người lính. Nhưng đằng sau những dòng buông đùa đáng yêu này cũng là một bản lĩnh chiến đấu rất vững vàng của họ, bởi không vững vàng thì không thể đùa vui như vậy. Điều đó càng làm cho chúng ta thấm thía hơn sự đối lập giữa người già ở câu trên với tiếng cười ha hả hồn nhiên, yêu đời và trẻ trung đến lạ lùng ở câu dưới. Điệp từ ừ thì như một sự chấp nhận những khó khăn đã được nhà thơ miêu tả khá rõ nét. Mặc dù bụi đường phun tóc trắng nhưng người lính vẫn không hề nao núng, vẫn bình tĩnh coi thường khó khăn, gian khổ. Mặc dù Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời song người lính vẫn chưa cần. Vậy đó,dù trong khó khăn các anh vẫn cười tươi để động viên nhau cố gắng.

Dường như khó khăn, thử thách không chỉ giúp con người ta tôi rèn ý chí mà còn giúp cho tình bạn thêm gắn bó keo sơn. Phạm Tiến Duật đã phát hiện và ghi lại điều đó về vẻ đẹp của những người lính lái xe và những hình ảnh thơ độc đáo:

Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Những cỗ xe đã chiến thắng với những vũ khí tối tân của Mĩ và hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, họ đã gặp nhau, động viên nhau bằng một cái bắt tay thân thiện, cái bắt tay ấy đâu chỉ là một cái bắt tay đơn thuần mà là cả một niềm tin vào chiến thắng. Nó giúp cho con người xích lại gần nhau, nó như một sợi dây nối liền tâm hồn tình cảm của những người lính. Phạm Tiến Duật đã dành cho tình đồng đội của người lính một khổ thơ chân thật và xúc động.

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi lại đi trời xanh thêm

Đời người lính là đi, nhất là người lính lái xe. Nhưng trong cái giây phút dừng chân ngắn ngủi ấy, ta càng cảm thấy rõ sự gắn bó tự nhiên mà cao đẹp của tình đồng đội. Chỉ là bếp Hoàng Cầm , là võng mắc chông chênh mà chung bát đũa nghĩa là gia đình ấy, câu thơ đẹp cả về tính cách, cách nhìn, cách nghĩ của người chiến sĩ. Có khác gì câu thơ nói về tình đồng chí của Chính Hữu hơn hai mươi năm trước đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ và có phải tình đồng đội đã ngân lên câu hát nâng bước chân người lính đi tiếp những chặng đường mới lại đi, lại đi trời xanh thêm.

Dường như chính vì tình yêu thương đùm bọc mà người lính đã quyết chiến đấu với giặc. Phạm Tiến Duật đã kết thúc bài thơ bằng một sự nhận thức sâu sắc của người lính lái xe cho dù các anh có phải đối mặt với bao khó khăn của cuộc chiến đấu nhưng các anh vẫn chạy vì miền Nam phía trước. Và đoàn xe của các anh đã chiến thắng, các anh đã ra tiền tuyến bằng một tình cảm thiêng liêng vì miền Nam thân yêu, vì chiến đấu giành lại độc lập tự do và thống nhất đất nước. Điều này đã được các anh thực hiện bằng trái tim của mình: chỉ cần trong xe có một trái tim. Đó là một hình ảnh tỏa sáng chói ngời đã đúc kết lại phong cách của người lính gan góc, kiên cường, giàu bản lĩnh chứa chan tình yêu thương với đồng đội, đất nước. Chính lí do này đã khích lệ người lính vượt qua mọi thử thách. Dường như quyết định chiến thắng không phải là vũ khí, công cụ mà là con người – con người mang trái tim, nồng nàn yêu thương, ý chí, lòng dũng cảm và có niềm tin vững chắc.

Bài thơ mang chất lính rất đượm, là tiếng nói hồn nhiên thường ngày của người lính đã đi vào trong thơ ca. Nhưng đấy là tính cách lính trẻ của thời kháng chiến chống Mĩ, họ có học thức, có bản lĩnh chiến đấu, có cuộc sống nội tâm hết sức phong phú. Qua bài thơ ta càng khâm phục và học tập ở các anh nét hồn nhiên và tình yêu đời, yêu đất nước tha thiết.

Theo 100 bài văn hay lớp 9*
0
phiếu
0đáp án
831 lượt xem

BÀI LÀM

Hoạt động cách mạng bị bắt giam, ngồi trong nhà lao,Tố Hữu, người chiến sĩ mười chín tuổi vừa giác ngộ lí tưởng cộng sản cao đẹp, ôm ấp bao dự định xông pha trong trường tranh đấu, xả thân vì nghĩa lớn, nghe tiếng chim tu hú báo hiệu mùa hè đến đã làm bài thơ này.

Mùa hè sống động, náo nức, đầy gợi mở, nhưng người trẻ tuổi say mê hoạt động như ông lại bị cầm tù giữa bốn bức tường kín mít, ngột ngạt, cách biệt với cuộc đời. Tiếng chim tu hú kia đã đánh thức nỗi niềm, bản tính sôi nổi ở người thanh niên cộng sản. Từ tiếng chim tu hú, Tố Hữu tưởng nghĩ đến cuộc sống phóng khoáng, nóng bỏng của mùa hè ở bên ngoài.

Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiêng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng dào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không.

Có người cho rằng khổ thơ dẫn trên là một bức tranh phong cảnh, với những câu tả cảnh vào loại đẹp và hay trong tập thơ Từ ấy, trong cả thơ Tố Hữu.

Quả thật ở đây cảnh mùa hè được tả có hồn, sống động. Tất cả dường như đang nảy nở, phát triển. Lúa chiêm “đương” chín, không phải “đã” chín ; trái cây “đang” ngọt dần, không phải “đã” ngọt. Và đều bộc lộ hết sức mình trong cái mùa hè rộn rã kia. Tiếng ve “dậy”, nắng vàng “đầy” sân. Chiều rộng, chiều cao của không gian, của sự vật thật phóng khoáng, tự do. Trời xanh cao rộng, diều sáo “lộn nhào tầng không”.

Tiếng chim tu hú như là khúc dạo đầu. Từ khúc mở màn này, cả mùa hè bừng lên, náo nức, say mê... Nhưng cho rằng đây là một bức tranh thì không đúng. Với con mắt hoạ sĩ, đây không phải là một bức tranh mùa hè với bấy nhiêu thứ dồn vào một cái khung như thế. Hình như hai câu đầu là một bức, câu thứ ba, thứ tư và hai câu năm, sáu đều là những bức tranh độc lập với nhau. Nếu gọi là tranh thì đây là tranh liên hoàn mới đúng. Tại sao lại như thế? Vì đây là “tranh” không được vẽ bằng mắt nhìn, mà vẽ bằng tưởng tượng, hình dung ra theo tâm trạng của con người. Nhân vật trữ tình trong bài thơ này, ở lúc này không định vẽ tranh mà cảnh trí náo nức, sinh động, sinh sôi của cảnh vật từ tiếng ve kêu đã hiện thành hình, đứt nối thành mùa hè trong con người. Cảnh rồi lại cảnh theo đó mà hiện ra, toàn những cảnh phóng khoáng tự do như mong tưởng.

Về mặt kết cấu doạn một, 6 câu thơ đầu và đoạn hai, 4 câu thơ cuối có thể xem là hai bài thơ riêng biệt. Bài trước được đặt tên là “mùa hè”, bài sau đặt tên là “tiếng chim tu hú”. Thì ra tuy ngay bài đầu câu đầu của bài đã là “Khi con tu hú gọi bầy” nhưng thực ra cái hồn của cả bài thơ này, bài Khi con tu hú lại nằm ở 4 câu sau, ở câu sau cùng :

Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu.

Thì ra tiếng chim tu hú ấy tạo “nghịch trạng” trong lòng người thanh niên này. Mùa hè sôi động, rực rỡ, khoáng đạt đã đến rồi mà mình lại bị giam hãm tù túng. Ngoại cảnh (do tưởng tượng vì đã dược nếm trải) tác động vào con người gây một xung động ở con người, khiến con người bức bối, ngột ngạt muốn vùng vẫy, tung phá.

Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi !

Nhưng thực tế không thể làm được, nên phải buột ra thành lời than. Ấy chính là biểu hiện của lòng khao khát tự do, khao khát hoạt động bị thôi thúc ngày càng mãnh liệt ở con người trẻ tuổi giàu tâm huyết chưa được thoả mãn, đáp ứng. Câu thơ cuối cùng : “Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu” như tiếng đời cứ lăn náo nức mà con người thì đang đành chịu tù túng. Tiếng chim tu hú ngoài trời kia lại như giục giã đốt nóng tâm can dữ dội.

Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu
Tiếng chim tu hú chính là tiếng đời, là cuộc sống hoạt động cách mạng. Và tâm trạng, tinh thần kia là tâm trạng, tinh thần của một người chiến sĩ trẻ tuổi “say mùi hương chân lí”.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là một "bài thơ cuộc đời". Bài thơ được sáng tác năm 1958 nhân một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả. Thông qua một đêm đánh cá của đoàn thuyền lớn trên biển, tác giả ca ngợi kiểu lao động mới mẻ của người lao động tràn đầy lạc quan tin tưởng, làm chủ thiên nhiên, biển cả bao la. Qua bài thơ ta cảm nhận được không khí lao động khẩn trương, hăng say, nhộn nhịp của miền Bắc thời kì xây dựng CNXH.

Bài thơ mở đầu bằng khung cảnh :

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Giới thiệu một ngày sắp kết thúc, sự vật bắt đầu nghỉ ngơi sau hành trình 12 giờ mệt mỏi. Thế nhưng với con người làm nghề đánh cá thì lại khác, dấu hiệu mặt trời xuống biển mở ra một sự bắt đầu với Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi. Đánh cá trên biển là công việc nặng nhọc, đầy nguy hiểm. Vậy mà những người đánh cá "lại" ra khơi với một tinh thần sảng khoái, tràn trề niềm vui, phấn chấn : 

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Tiếng hát được nhắc đi nhắc lại nhiều lần như một điệp khúc và nó trở thành âm thanh chủ đạo trong bài thơ :

- Hát rằng : cá bạc biển Đông lặng

- Ta hát bài ca gọi cá vào

Tác giả miêu tả những con cá, những đàn cá gợi nên bức tranh sinh động về biển cả. Hình ảnh đàn cá lóng lánh màu sắc như một bức tranh sơn mài.

Giữa khung cảnh mênh mông, rộng lớn, hình ảnh người lao động xuất hiện với tư thế làm chủ thiên nhiên, biển cả, làm chủ công việc của mình. Hình ảnh thật khỏe khoắn, rắn chắc :

Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng 
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

Bằng cảm hứng lãng mạn, Huy Cận đã tô đậm lên hình ảnh những người lao động mới với tầm vóc ngang tầm vũ trụ và hòa nhập với khung cảnh trời nước bao la :

Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng

Trên cái không gian bát ngát ấy của trăng, gió, trời, biển, hình ảnh con người mới hiện lên với chiều kích của không gian, đó chính là niềm vui hăng say lao động, làm giàu cho Tổ quốc bằng sức lực, trí tuệ của mình.

Công việc nặng nhọc của người lao động đánh cá đã trở thành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên : 

Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao

Tiếng hát làm cho họ đỡ mệt nhọc. Còn trăng làm công việc đỡ vất vả hơn, vì ánh trăng in mặt nước, sóng nhịp nhàng xô bóng trăng dưới nước như gõ vào mạn thuyền. Cái hiện thực đã được bút pháp lãng mạn chắp cánh làm đẹp thêm công việc đánh cá của người lao động. Như vậy con người lao động đã chinh phục được tự nhiên. Bài thơ kết thúc với cảnh rạng đông khi đoàn thuyền quay trở về : 

Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

Cuối câu thơ là một hình ảnh tô đậm bức tranh sống động, hấp dẫn về thành quả của người lao động. Sau một đêm làm việc vất vả, mệt nhọc, khẩn trương nay họ đã về bến với hình ảnh mắt cá huy hoàng cá phơi dài muôn dặm.

Đoàn thuyền đánh cá là khung cảnh lao động đầy khí thế của những con người mới, của cuộc sống mới những tháng ngày hăng say xây dựng CNXH. Bài thơ đã nói về lòng yêu nghề, yêu đời, yêu cuộc sống, yêu sự nghiệp xây dựng đất nước của những người lao động. Bút pháp lãng mạn, cảm hứng không gian bất tận, Đoàn thuyền đánh cá là một bài thơ hay của thơ ca hiện đại sau cách mạng Tháng Tám.

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
917 lượt xem

BÀI LÀM

I- Bố cục

Cố hương là một trong những truyện ngắn tiêu biểu nhất trong tập Gào thét của Lỗ Tấn. Truyện có bố cục theo trình tự thời gian. Có thể chia thành 3 đoạn và đặt tên như sau :

Đoạn 1 (từ "Tôi không quản..." đến"...đang làm ăn sinh sống" ) : Anh Tấn trên đường về quê.

Đoạn 2 (từ "Tinh mơ sáng hôm sau..." đến "... sạch trơn như quét" : Những ngày anh Tấn ở quê.

Đoạn 3 (từ "Thuyền chúng tôi thẳng tiến..." đến"...thành đường thôi") : Anh Tấn trên đường xa quê. 

Đoạn 2 có thể chia thành các đoạn nhỏ :
+ "Tinh mơ sáng hôm sau..." đến "....sắp đến thôi" : Tấn gặp mẹ và nghe nhắc đến Nhuận Thổ.
+ "Lúc bấy giờ..." đến "...ra xem xem sao" : Kí ức của Tấn về Nhuận Thổ.
+ "Mẹ tôi đứng dậy..." đến "...mất ba bốn ngày" : Tấn gặp lại thím Hai Dương - mụ "com-pa".
+ "Một hôm..." đến "...sạch trơn như quét" : Tấn gặp lại Nhuận Thổ. 

II- Nhân xét về bố cục 

Đây là kiểu bố cục "đầu cuối tương ứng". Đoạn đầu là những cảm giác buồn thương quê hương tàn tạ, buồn vì sắp phải vĩnh biệt quê hương.

Đoạn cuối, khi thực sự rời xa quê lại vẫn là cảm giác buồn thương nhưng bây giờ nặng nề hơn, "vô cùng lẻ loi, ngột ngạt, ảo não" và vẫn là một tâm trạng ưu tư suy nghĩ. Tuy nhiên, đây không phải là sự lặp lại như kiểu đèn cù. Mà là sự lặp lại phát triển . Nhân vật tôi mang theo nỗi buồn về sự điêu tàn của quê hương và sự tàn tạ, nghèo khổ, yếu hèn của những con người trên mảnh đất ấy. Nhưng đồng thời "tôi" lại mang trong mình một niềm hy vọng lớn lao. Hy vọng về một con đường sáng sủa cho con cháu mai sau. Nhân vật "tôi", trở về quê lúc trời đông u ám, tối tăm. Đoạn cuối ra đi trong hoàng hôn, trời đang tối dần. Sự tương ứng về thời gian đã phản ánh cái không khí ảm đạm ngột ngạt của xã hội lúc bấy giờ.
Tác giả sắp xếp cho quá khứ, hiện tại xen kẽ nhau. Nhân vật "tôi", xuất hiện như nhân vật trung tâm, được đan xen nhiều đoạn hồi ức, nhiều đoạn độc thoại nội tâm. "Tôi"có dáng dấp như một nhân vật trữ tình, khiến cho câu chuyện giàu chất biểu cảm. Tuy nhiên cốt truyện vẫn giữ theo trình tự thời gian.

Ở đoạn 2, tác giả sử dụng nghệ thuật hãm chậm. Mẹ nhắc đến Nhuận Thổ. Bao nhiêu ký ức đẹp đẽ về người bạn hiện ra, cho thấy "tôi" khao khát gặp bạn xiết bao. Ta tưởng sau đó là Nhuận Thổ. Nhưng tiếp theo, "tôi" lại gặp mụ com-pa. Và bốn ngày sau, Nhuận Thổ mới xuất hiện. Nhưng lại là một Nhuận Thổ hoàn toàn khác. Nhờ sắp xếp kiểu này mà nhân vật "tôi" cũng như người đọc càng sốt ruột chờ đợi. Để rồi khi gặp được Nhuận Thổ, nỗi xót xa bỗng trào dâng bóp nghẹt con tim. 

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
949 lượt xem

      Ý nghĩa nhan đề truyện ngắn "Bến quê"m sắc với những cánh hoa có màu tím sẫm, là cái bờ dốc đứng, có chuyến đò ngang chạy qua mỗi ngày, là bãi bồi bên kia sông Hồng có: "màu vàng thau xen lẫn màu xanh non như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ"...

       Không chỉ có thế, "bến quê" còn là người vợ tần tảo, chăm chút anh từng li từng tí khi anh đau ốm,là bầy trẻ với những:"bàn tay chua lòng mùi nước dưa"; là ông lão láng giềng sẵn sàng giúp đỡ, hỏi han, động viên anh mỗi ngày. Như vậy, Nguyễn Minh Châu không dựng lên một bến quê chung nào đó,đây là "Bến Quê" như đầu đề tác phẩm. Nó là sự phát hiện tình đời, tình người của nhân vật (cũng như của tác giả) trước những gì thân quen nhất: hoa bằng lăng, cái bờ dốc đứng,bãi bồi bên kia sông ; thứ thương yêu nhất:người vợ; những gì hồn nhiên, gần gũi nhất: bầy trẻ, ông lão láng giềng. Tất cả là những gì giàu có, đẹp đẽ, thuần phát, cổ sơ nhất của mảnh đất đã sinh thành ra anh và sẽ nhận anh về khi nhắm mắt xuôi tay. Nhưng thật đau đớn, khi anh nhận ra giá trị bình dị, bền vững của bến quê thì cũng là lúc anh sắp từ giã cõi đời.

        Những nhận thức đau đớn đó của Nhĩ có giá trị nhắc nhở chúng ta: hãy biết giữ gìn, trân trọng "bến quê" của mỗi người. Đó là ý nghĩa mà tác giả gửi gắm đến người đọc được cô đúc qua nhan đề truyện ngắn "Bến Quê".

ST

0
phiếu
0đáp án
4K lượt xem

BÀI LÀM 

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bên cạnh những chiến sĩ Trường Sơn cầm sung “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” còn có những cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ mở đường. Tuy âm thầm, lặng lẽ song họ cũng góp công lớn trong vinh quang nước nhà. Từ tấm long yêu thương, trân trọng tính cách của những cô gái kiên cường ấy, Lâm Thị Mỹ Dạ đã viết Khoảng trời – hố bom. Bài thơ là lời tưởng niệm đầy xúc động về sự hy sinh cao cả của các cô gái mở đừơng trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Thuở nhỏ, bà hay đưa tôi vào giấc ngủ bằng những câu truyện cổ tích: “ngày xửa ngày xưa …”. Những câu truyện cổ tích có lẽ chỉ là những câu chuyện tưởng tượng, không có thật. Thế nhưng ở đây, Lâm Thị Mỹ Dạ mở đầu bài thơ của mình với: “Chuyện kể rằng …”. Không xa xôi, ảo tưởng mà câu chuyện lại nằm giữa đường Trường Sơn huyền thoại. Đó là câu chuyện về “cô gái mở đường”. Bằng sự gan dạ, quên mình:

Em đã lấy tình yêu tổ quốc của mình thắm lên ngọn lửa
Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương
Cho đoàn xe kịp giờ ra trận

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Trừơng Sơn đã trờ thành con đừơng huyết mạch nối hai miền Nam-Bắc. Cô gái trong bài thơ đã “ đánh lạc hướng thù” để các chiến sĩ thẳng tiến hành quân, tải lương, chuyển đạn … an toàn. “Ngọn lửa” mà cô đã thắp lên lúc ấy tràn đầy sức sống và niềm tin mãnh liệt vào nền độc lập mai sau của nước nhà. Nhưng đối với kẻ thù, đó là ngọn lửa đốt cháy, thiêu rụi những tham vọng điên cuồng, tàn ác của chúng, những trận “mưa” bom xối xả rơi hòng dập tắt ngọn lửa nhỏ nhoi nhưng mạnh mẽ.

Khi bình yên quay về với Trường Sơn, cũng là lúc người con gái trung kiên đã ra đi vĩnh viễn:

Em nằm dưới đất sâu
Như khoảng trời đã nằm yên trong đất
Đêm đêm tâm hồn em toả sáng
Những vì sao ngời sáng lung linh

Dẫu biết rằng chết là hết, là chấm dứt cuộc sống vật chất trên đời, song với cô gái mở đường trong bài thơ này, cái chết chưa đặt dấu chấm hết cho cuộc đời cô. Cô vẫn sống, vẫn tồn tại trong từng “hố bom”, từng “khoảng trời”. Để rồi, những lúc ấy, tâm hồn cô rực sáng, lại cháy bỏng niềm hy vọng cho tương lai. Có lẽ ở đây, Lâm Thị Mỹ Dạ đã có một cảm nhận sâu sắc, tinh tế. Niềm tin ấy cũng góp phần mang lại vẻ sáng ngời lung linh, huyền diệư của những vì sao trên bầu trời xa xăm kia.

Phép so sánh được các nhà thơ Việt Nam sử dụng khá nhiều. Tuy nhiên, trong bài thơ này, tôi lại thấy Lâm Thị Mỹ Dạ sử dụng thật huyền diệu:

Có phải thịt da em mềm mại trắng trong
Đã hoá thành những vầng mây trắng

Âm thầm, lặng lẽ cống hiến cuộc sống của mình cho Tổ quốc, cho nên khi hy sinh ít người còn nhớ đến cô. Trong những lúc ấy, nhà thơ đã cảm nhận được sự hoá than của cô vào “mây trắng”, màu của hoà bình, của sự vĩnh hằng. “Vầng dương thao thức đi qua “khoảng trời” bé nhỏ torng tâm hồn cô. Nó thao thức điều gì? Có phải ánh sáng hằng ngày mà nó mang đếin cho con người vẫn không sáng bằng lòng yêu nước của cô gái? Hay nó than phục cái nét đẹp trong tâm hồn dũng mãnh của cô? Ngay đến cả nhà thơ cũng phải thốt lên thán phục:

Hỡi mặt trời hay chính trái tim em trong ngực
Soi cho tôi
Ngày hôm nay bước tiếp quãng đừơng đời

“Trái tim” nồng nàn lòng yêu nứơc, cộng với bầu khí huyết chảy cuồn cuộn trong tâm hồn cô giờ đang rực sáng, gọi mời sự dũng cảm, gan dạ của mỗi chúng ta. “Mặt trời” ấy đã “soi” cho tôi, nhà thơ và các bạn đi tiếp quãng đừơng dài trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. Lâm Thị Mỹ Dạ có lẽ đã cảm thấy tâm hồn mình quá bé nhỏ, phân vân trứơc lời mời gọi của nhịp đập đất nước. Bởi thế tâm hồn – trái tim của cô gái mở đừơng hôm nào nay lại dẫn dắt nhà thơ đi tiếp.

Đường Trường Sơn năm ấy mang tên vị lãnh tụ dân tộc vĩ đại: Hồ Chí Minh. Nhưng với tác giả: “tên con đường là tên em gởi lại”. Con đừơng ấy gắn với cuộc sống của cô gái. Nó với cô dường như hai sự vật được tạo hoá gắn chặt với nhau. “Con đừơng đêm ấy khỏi bị thương” là nhờ phần lớn công của cô – người con gái mở đừơng.

Có thể nhà thơ, tôi và các bạn sẽ chẳng bao giờ hình dung ra đựơc gương mặt của người con gái anh hùng ấy. Dẫu “mỗi ngừơi có khuôn mặt riêng”, nhưng chúng ta hãy thử nhắm mắt lại và nghĩ về cô … Tôi chắc rằng tất cả mọi người sẽ gặp nhau tại một điểm khi hình dung về cô: sự gan dạ, anh hùng, quên mình vì sự nghiệp lớn của đất nứơc.

Khoảng trời – hố bom như đúng với tên gọi của nó, là “khoảng trời” tự do mà ngày hôm nay chúng ta có được đã phải đánh đổi với những “hố bom” chôn vùi, chấm dứt cuộc sống của một con ngừơi. Hãy sống sao cho xứng đáng với giá trị của từng “khoảng trời” ấy, bạn nhé!

Toàn bài thơ nói lên sự hy sinh cao cả của cô gái mở đừơng trong kháng chiến chống Mỹ. Điều đó đã đựơc nhà thơ cảm nhận như là sự hoá thân vào quê hương, đất nước, trong sự vĩnh hằng của thiên nhiên và trong cuộc đời của những con người. Các hình ảnh của bài thơ đựơc xây dựng theo mối liên tưởng về sự chuyển hoá, hoá thân của sự sống con người vào trong thế giới thiên nhiên, gợi ra sự hài hoà và ý niệm về sự bất tử. Trong cái nhìn thấm đầy cảm xúc, mọi sự vật, hình ảnh của thiên nhiên đều chất chứa sự sống của con ngừơi, trở nên sâu thẳm thiêng liêng và sức ám ảnh. Đọc xong bài thơ, ta cảm thấy cô gái ấy dường như vẫn còn ở đâu đó quanh ta. Xin cảm ơn Lâm Thị Mỹ Dạ - 

người con của đất Quảng Bình anh hùng. Dẫu chỉ một lần đọc qua Khoảng trời – hố bom, song ta dễ nhận ra đựơc cô gái thanh niên xung phong ngày ấy là một tấm gương tiêu biểu cho câu tục ngữ “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh…”.

0
phiếu
0đáp án
418 lượt xem

A- Mở bài

- Giới thiệu về tác giả và hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

- Nêu nhận xét chung về bài thơ (như đề bài đã nêu)

B- Thân bài

* Cơ sở hình thành tình đồng chí:

- Xuất thân nghèo khổ: Nước mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá

- Chung lí tưởng chiến đấu: Súng bên súng, đầu sát bên đầu

- Chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, họ nhập lại trong một đội ngũ gắn bó keo sơn: nước mặn, đất sỏi đá (người vùng biển, kẻ vùng trung du), đôi người xa lạ, chẳng hẹn quen nhau, rồi đến đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

- Kết thúc đoạn là dòng thơ chỉ có một từ : Đồng chí!
(một nốt nhấn, một sự kết tinh cảm xúc).

* Biểu hiện của tình đồng chí:

- Họ cảm thông chia sẻ tâm tư, nỗi nhớ quê: nhớ ruộng nương, lo cảnh nhà gieo neo (ruộng nương… gửi bạn, gian nhà không … lung lay), từ “mặc kệ” chỉ là cách nói có vẻ phớt đời, về tình cảm phải hiểu ngược lại), giọng điệu, hình ảnh của ca dao (bến nước, gốc đa) làm cho lời thơ càng thêm thắm thiết.

- Cùng chia sẻ những gian lao thiếu thốn, những cơn sốt rét rừng nguy hiểm: những chi tiết đời thường trở thành thơ (tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh,…) ; từng cặp chi tiết thơ sóng đôi như hai đồng chí bên nhau : áo anh rách vai / quần tôi có vài mảnh vá ; miệng cười buốt giá / chân không giày ; tay nắm / bàn tay.

- Kết đoạn cũng quy tụ cảm xúc vào một câu : Thương nhau tay nắm lấy bàn tay (tình đồng chí truyền hơi ấm cho đồng đội, vượt qua bao gian lao)

* Biểu tượng của tình đồng chí:

- Cảnh chờ giặc căng thẳng, rét buốt : đêm, rừng hoang, sương muối.

- Họ càng sát bên nhau vì chung chiến hào, chung nhiệm vụ chiến đấu : chờ giặc.

- Cuối đoạn mà cũng là cuối bài cảm xúc lại được kết tinh trong câu thơ rất đẹp : Đầu súng trăng treo (như bức tượng đài người lính, hình ảnh đẹp nhất, cao quý nhất của tình đồng chí, cách biểu hiện thật độc đáo, vừa lãng mạn vừa hiện thực, vừa là tinh thần chiến sĩ vừa là tâm hồn thi sĩ).

C- Kết bài 

- Đề tài về người lính của Chính Hữu được biểu hiện một cách cảm động, sâu lắng nhờ sự khai thác chất thơ từ những cái bình dị của đời thường. Đây là một sự cách tân so với thơ thời đó viết về người lính.

- Viết về bộ đội mà không tiếng súng nhưng tình cảm của người lính, sự hi sinh của người lính vẫn cao cả, hào hùng.

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

      Burke từng nói: “Không bao giờ có thể hoạch định cho tương lai bằng quá khứ”; quả không sai. Người Việt Nam xưa vẫn có câu:
“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng”

Đó là truyền thống được nhắc đến trong các tác phẩm văn học từ bao đời nay và “Ánh trăng” cũng là tâm sự thầm kín của Nguyễn Duy nằm trong mạch cảm xúc ấy. Qua bài thơ, tác giả đã kín đáo bộc lộ những suy nghĩ, chime nghiệm về một lối sống ân nghĩa thủy chung cao quý trong cuộc đời mỗi con người.

Bài thơ “Ánh trăng” ra đời vào năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc được ba năm. Trong suốt ba năm ấy không phải ai cũng còn nhớ những nghĩa tình trong quá khứ. Tác giả Nguyễn Duy viết bài thơ này như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình với chính mình và với mọi người về lẽ sống nghĩa tình thủy chung:
Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ

Khổ thơ đầu mở ra như những lời tự sự ghi lại những dòng hồi ức của tác giả về quá khứ. Bằng sự vận động của thời gian gắn bó với sự trưởng thành của nhà thơ, người đọc như thấy thấp thoáng đâu đây bóng dáng một cậu bé hồn nhiên gắn liền với những người bạn khổng lồ: “đồng”; “bể”; “sông”; “rừng” trong quá khứ. Tuổi thơ chúng ta mấy ai có được những người bạn tri âm, những khoảnh khắc giao hòa diệu vợi với thiên nhiên thôn quê như thế? Thuở bé, nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng đã có lần được “chơi” với trăng, được tắm mình trong thế giới thiên nhiên bao la nơi chính sân nhà mình:
Ông trăng tròn sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em

Tuổi thơ tác giả được nô đùa với ánh trăng, với thiên nhiên, chan hòa đến mức “trần trụi” không còn khoảng cách:
Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ

Đó là tình cảm gắn chặt keo sơn, để rồi đến khi tham gia kháng chiến, vầng trăng trở thành tri kỉ của người lính:
Hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ

Ánh trăng từ giã “đồng”; “bể”; “sông”; “rừng” để cùng người lính vào chiến trường, làm một người bạn tinh thần trong kháng chiến. Trăng với người lính, với nhà thơ trong những năm ở rừng thời chiến tranh đã trở thành “đôi bạn tri kỉ”. Ta bắt gặp những giây phút ấm nồng của sự gắn chặt keo sơn ấy trong thơ người lính lái xe Phạm Tiến Duật:
Cái vết thương xoàng mà đưa viện
Hàng còn chờ đó tiếng xe reo
Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến
Nôn nao ngồi đợi nhớ lưng đèo

hay giữa rừng khuya sương muối, người chiến sĩ đứng chờ giặc tới với tư thế bồng súng:
đầu súng trăng treo
(Đồng chí_Chính Hữu)

và ngay cả trong thơ Hồ Chí Minh, vầng trăng đã trở nên quá đỗi quen thuộc với người lính:
“Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm”

Trăng đã chia ngọt sẻ bùi suốt chặng đường hành quân, suốt những thời khắc nhuốm màu rực lửa bom đạn, trăng cùng người lính đánh phá, chống trả mưa bom quân thù:
Và vầng trăng, vầng trăng đất nước
Vượt qua quầng lửa mọc lên cao
(Phạm Tiến Duật)

…Trong giây phút khăng khít ấy, người lính đã tự hứa với bản thân mình
Ngỡ không bao giờ quên
Cái vầng trăng tình nghĩa

Vậy mà cuối cùng, cái “lời hứa” ấy đành chôn vùi vào quên lãng với dòng chảy bộn bề của thời gian. Lời hứa năm xưa nay chỉ được nhớ lại bằng từng chữ “hồi” như một điệp khúc. “Hồi” – chỉ là “hồi ấy” thôi, còn bây giờ, nghĩa tình năm xưa bị vứt bỏ. Chữ “hồi” như một điểm dừng chân giữa ranh giới ngày ấy và hôm nay để bây giờ đưa người đọc lần về quá khứ. Lời thơ mỗi lúc một nhẹ nhàng, như lời thủ thỉ tâm tình kéo độc giả cuốn vào mẩu chuyện nhỏ. Điều “ngỡ không bao giờ quên ấy” nay đã không còn nữa
Từ hồi về thành phố
Quen ánh điện cửa gương
Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường

Vầng trăng là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung. Hình ảnh ánh trăng đang dần được nhân hóa lên: lặng lẽ “đi qua ngõ”… Ba năm sau kháng chiến, hòa bình được lập lại trên đất nước phồn hoa, trên thành phố hoa lệ. Cái thiên nhiên vĩ đại nguyên sơ ngày xưa: “đồng”; “bể”; “sông”; “rừng” biến mất, thay vào đó là một kích cỡ nhân tạo, cũng đồ sộ nhưng lộng lẫy hơn, uy nghi hơn, chói lòa hơn. Cuộc đời đổi thay, con người thay đổi, người ta bon chen hơn, ích kỉ hơn, vật chất hơn, gác lại cuộc sống tâm hồn vào góc quá khứ. Cũng như con đường lúc thẳng lúc vòng, lúc ngoặt, cuộc đời cũng có những lúc như thế! Trở lại cuộc sống thị thành của những con người vừa về thành phố, ta bắt gặp người lính năm xưa nay đang sống trong bủa vây tiện nghi sang trọng “ánh điện cửa gương” và những phòng “buyn-đinh” cao chót vót. Cuộc sống quá sung túc, đầy đủ đã khiến cho “cái vầng trăng tình nghĩa” ngày nào dẫn vùi vào quên lãng. Những no đủ của cuộc sống hấp dẫn hơn cái tình nghĩa năm xưa hay sao? Hấp dẫn hơn cả quá khứ gian lao nơi chiến trường thắm tình đồng chí, đồng đội. Trăng nay thành “người dưng”, người xa lạ không quen không biết, tác giả không còn nhận ra người bạn tri kỉ hôm nào. Với kết cấu đối lập, “ánh điện cửa gương” sáng lòa lộng lẫy và “ánh trăng” dịu nhẹ thanh cao, tác giả như đang muốn bộc lộ một lời tự thú chân thành từ tận đáy sâu tấm lòng tác giả:
Thình lình đèn điện tắt
Phòng buyn-đinh tối om
Vội bật tung cửa sổ
Đột ngột vầng trăng tròn

“Thình lình” và “đột ngột” không khỏi làm người đọc giật mình trước sự cố “mất điện” tại thành phố phồn hoa. Lúc ấy, mọi tầm cỡ tiện nghi bỗng trở về với nấc thanh số không tròn trĩnh. Cử chỉ “vội bật tung cửa sổ” như một phản xạ tự nhiên trong bóng tối con người hướng ra ánh sáng, chứ thực sự đó không phải là chủ ý đi tìm lại người bạn năm xưa của người lính. Và rồi không chỉ bạn đọc, mà ngay cả tác giả cũng phải giật mình khi “đột ngột vầng trăng tròn”. Ánh trăng năm xưa nay đang đứng im trước mặt người lính. Ánh trăng ấy vẫn đẹp, vẫn tròn, vẫn nồng diệu một thứ ánh sáng huyền ảo, lung linh. Nhưng vầng trăng kia xuất hiện đâu phải chỉ “cứu giúp” nguồn ánh sáng cho người lính mà nó còn mang lại sự xáo trộn trong tâm hồn người thi sĩ:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng

Hai khuôn mặt tri âm tri kỉ ngày nào giờ đang đối diện nhau. Nguyễn Duy gặp lại người bạn năm xưa, kéo theo cả một vùng trời thôn quê quá khứ. Hai bên chẳng nói chẳng rằng, vầng trăng chỉ đứng yên vậy mà người lính lại thấy “có cái gì rưng rưng”. Kỉ niệm tuổi thơ ngày nào giờ lại ùa về đánh thức tâm hồn người chung cuộc
như là đồng là bể
như là sông là rừng

Cảm xúc dâng trào mạnh mẽ với nhịp thơ gấp gáp dồn dập “như là”. Phải chăng đó chính là xúc cảm trong nỗi niềm xót xa ân hận vừa chợt nhớ lại quá khứ? Hóa ra kí ức chỉ tạm lắng xuống do con người quá mải mê tìm những thứ vật chất vô danh trước cuộc sống bộn bề bởi khi có tác động, nó lại sống dậy mạnh mẽ như chưa từng quên đi.
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình

Hình ảnh ánh trăng “tròn vành vạnh” cho thấy quá khứ ngày đó nay vẫn vẹn nguyên, vẫn đẹp viên mãn, vẫn đầy đủ không khiếm khuyết dù ai kia vô tình, đổi thay. Và để rồi bởi chính trăng vô ngôn, không một lời trách móc đã khiến cho “người vô tình” nay bỗng “giật mình” tỉnh ngộ. Cái “im phăng phắc” của trăng vừa biểu thị sự bao dung độ lượng, vừa gây nỗi ám ảnh, dằn vặt bởi im lặng chính là sự trừng phạt đích đáng nhất dành cho những người lãng quên quá khứ, lãng quên lời hứa năm xưa của mình. Chính cái im lặng của ánh trăng đã gây xáo trộn những mơ mộng “ánh điện cửa gương” của con người, khiến con người phải dày xé tâm can, phải dằn vặt đau đớn.

Ánh trăng cũng chính là một biểu tượng thức tỉnh con người trở về với lối sống ân nghĩa thủy chung, “uống nước nhớ nguồn”. “Tòa án lương tâm” của con người ngay lập tức mở ra khi đối diện với quá khứ nghĩa tình, để con người nhận ra mình đang đứng ở đâu khi đã quên đi quá khứ. Người lính “giật mình” để nhìn lại chính mình, “giật mình” để thức tỉnh lương tam, “giật mình” để trân trọng lại quá khứ và “giật mình” để trở về với những giá trị cao đẹp vĩnh gằng. Cũng giống như Lí Bạch khi xa quê:
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương
(ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương)

Giữa miền đất xa lạ, Lí Bạch nhìn vầng trăng để nhớ về quê hương mình, như níu lấy chút gì đó để sưởi ấm tam hồn người lữ khách. Còn với Nguyễn Duy, vầng trăng trên bầu trời kia còn gợi lại cả quá khứ đặc biệt làm cho tâm hồn thi sĩ và bạn đọc trở về với chính mình. 

Bằng hình tượng “ánh trăng” thấm đượm ý nghĩa nhân văn, Nguyễn Duy đã gửi tới bạn đọc một lời nhắn gửi, một bức thông điệp thiết tha: “Hãy lắng lại một chút cái bận bịu cuộc sống để nhìn lại bản thân mình”. Qua thể thơ ngũ ngôn với giọng thơ chân thành, nhỏ nhẹ mà thấm sâu, hình ảnh giàu biểu tượng với ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, tác giả đã bộc lộ những suy nghĩ về một lẽ sống ân nghĩa, thủy chung cao quý trong cuộc sống. Ngoài ra với chữ cái đầu câu thơ không viết hoa, tác giả đã thành công khi để cho mạch cảm xúc trôi theo dòng chảy thời gian, theo mạch tự sự để bạn đọc có thể giao cảm với một tâm hồn đang hướng tới cái đẹp đáng trân trọng. Như Anatole Francel đã nói: “Đừng đánh mất quá khứ vì với quá khứ, người ta xây dựng tương lai”.
ST 
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Tham khảo

I – MB

“Bến quê” là một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Minh Châu ( trong tập truyện “Bến quê”, xuất bản 1985) , chứa đựng nghững chiêm nghiệm, triết lí về đời người cùng những cảm xúc tinh nhạy, được thể hiện bằng một lời văn tinh tế, có nhiều hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng.

II – TB

*Trong truyện “Bến quê” hầu như mọi hình ảnh đều mang hai lớp nghĩa: nghĩa thực và nghĩa biểu tượng. Hai lớp nghĩa này gắn bó thống nhất .

1 - Hình ảnh bãi bồi bên kia sông trong truyện mật thiết với nhan đề tác phẩm “ Bến quê”. Cái “Bến quê” trong truyện được dùng một cách chung chung có vẻ mơ hồ bỡi tác giả không nhằm dẫn dắt người đọc đến một bến sông, một bến đò, ...cụ thể nào. Cái bến đò ngang nói trong truyện cũng là một sự tưởng tượng mà thôi. “Bến quê” chỉ là một sự ám chỉ... Bến quê chính là điểm xuất phát đồng thời cũng là chỗ neo đậu cuối cùng của cuộc đời mỗi con người. Cho nên bất cứ ai đang trên cuộc hành trình của đời mình, dẫu thuận buồm xuôi gió, hoặc bao táp phong ba, dẫu còn hưng hái xông pha hay đã sức tàn, lực kiệt cũng phải nhớ về nơi mình đã xuất phát. Bến quê là cái gì đó cụ thể thiêng liêng, thế nhưng không phải lúc nào ta cũng có ý thức được như vậy...Tất cả những cách hiểu, cách nghĩ ấy được gợi ra bởi tính ám chỉ của tên truyện này. Và quả chỉ một cái tên truyện đã cần có một con mắt tinh đời mới phát hiện được cái ẩn ý nói trên.

2 -Hình ảnh bãi bồi, bến sông và toàn bộ khung cảnh thiên nhiên được dựng lên trong truyện thực ra cũng mang ý nghĩa khái quát, biểu tượng. Đó là vẻ đẹp của đời sống trong những cái gần gũi, bình dị , thân thuộc, như một bến sông quê, một bãi bồi,...rộng ra là quê hương ,xứ sở.

3 -Cảnh vật thiên nhiên trong một buổi sáng đầu thu, qua cái nhìn của nhân vật Nhĩ hiện ra với vẻ đẹp riêng. Những chùm hoa bằng lăng cuối mùa thưa thớt nhưng lại đậm sắc hơn ; con sông Hồng màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra; vòm trời như cao hơn. Không gian và những cảnh sắc vốn quen thuộc, gần gũi, nhưng lại như rất mới với tất cả vẻ đẹp và sự giàu có của nó.

4 - Những chùm hoa bằng lăng cuối mùa thưa thớt nhưng lại đậm sắc hơn ;tiếng những tảng đất lở ở bờ sông bên này, khi cơn lũ đầu nguồn dồn về, đổ ụp vào trong giấc ngủ của Nhĩ lúc gần sáng . Hai chi tiết này gợi ra cho biết sự sống của nhân vật Nhĩ đã ở vào những ngày cuối cùng.

5 - Điều khát khao nhưng vô vọng của Nhĩ lúc này là được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Đây chính là những khát khao muốn tìm kiếm những giá trị gần gũi nhưng đích thực và sâu xa trong cuộc sống nơi quê hương mà con người vì những bồng bột và những ham muốn xa vời lúc còn trẻ đã bỏ qua nó.

6 -Giờ đây anh phải nhờ đứa con trai thay mình sang bờ bên kia sông đặt chân lên bãi phù sa màu mỡ ấy bỡi anh không thể nào thực hiện được niềm khao khát ấy. Người con trai không hiểu ý muốn của cha nên làm việc một cách miễn cưỡng bị hút vào trò chơi hấp dẫn bên đường và có thể lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày, giúp anh nhận ra một qui luật của cuộc đời: “ Khó tránh khỏi những điều vòng vèo, chùng chình trong cuộc sống” và những vẻ đẹp, những giá trị bền vững, giản dị, gần gũi của cuộc sống, của quê hương thì chỉ những người từng trải như anh mới hiểu được.

7 -Hành động cuối cùng của Nhĩ ở cuối truyện khi anh thu hết tàn lực “giơ một cánh tay gầy guộc ra ngoài cửa sổ khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó” vừa có ý nghĩa là anh đang thúc giục cậu con trai đừng để lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày vừa có ý nghĩa khái quát tượng trưng. Đó là muốn thức tỉnh mọi người hãy thoát ra khỏi cái vòng vèo , chùng chình trong cuộc sống mà chúng ta đang sa vào để hướng tới giá trị đích thực, bền vững mà gần gũi trong cuộc sống đời thường.

III-KL

“ Bến quê” quả thực là một tác phẩm đã sáng tạo được nhièu hình ảnh vừa có ý nghĩa thực vừa có ý nghĩa biểu tượng. “Mặt sông”, “vòm trời”, “bãi bồi” , là những hình ảnh cụ thể biểu tượng cho quê hương xứ sở. Những bông hoa bằng lăng cuối mùa, tiếng những tảng đất lở bên bờ sông...là biểu tượng cho sự sống của Nhĩ đang ở vào những ngày cuối cùng. Đứa con trai của Nhĩ với sự “chùng chình” của nó gợi cho ta hình ảnh của Nhĩ trước đây cũng luôn chùng chình và vòng vèo...Đặt nhân vật vào những tình huống nghịch lí để khám phá, phát hiện ra những điều có tính qui luật trong cuộc đời, Nguyễn Minh Châu đã thức tỉnh mọi người: những giá trị và vẻ đẹp đích thực của đời sống chính là những cái gần gũi, bình dị quanh ta.

0
phiếu
0đáp án
354 lượt xem

BÀI LÀM

Trong những tháng ngày kháng chiến trừơng kỳ chống ngoại xâm của dân tộc, biết bao người đã hăng hái lên đường. Chiến trừơng là nơi hội tụ của hàng triệu tấm lòng yêu nứơc. Họ ra đi bỏ lại sau lưng một vòm trời thân thuộc, một giếng nứơc, gốc đa, mái đình cổ kính… để dấn thân vào cuộc sống gian lao đầy thử thách. Dần dần tình cảm giữa người và người càng trở nên sâu sắc, nó đan kết thành mối tình đồng chí. Nửa thế kỷ đã chắp cánh bay đi nhưng bài thơ Đồng chí của Chính Hữu vẫn còn đó, đọng mãi trong tâm hồn mỗi người, giúp ta hiểu rõ hơn cuộc kháng chiến chống Pháp của ông cha mình. 

Quê hương anh nứơc mặn đồng chua

Đầu súng trăng treo.

Quê hương mỗi ngừơi mỗi khác, cũng như quê hương của những người trai hùng đều có nét đặc biệt riêng của nó.

Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Tôi với anh đôi ngừơi xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.

Họ là những người xuất thân từ nhân dân lao động, chỉ quen với việc cấy cày, xem con trâu là bạn. Họ đến từ nời “nước mặn đồng chua” hay “đất cày lên sỏi đá” và chẳng ai quen ai, họ chỉ là đôi ngừơi xa lạ ở hai phương trời. Câu thơ gợi lên sự cảm thông suy nghĩ đồng điệu của những con người cùng cảnh ngộ. Thành ngữ “nứơc mặn đồng chua” đi vào thơ thật tự nhiên, giản dị như cuộc sống lam lũ gian nan của họ và họ đã:

Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

“Súng bên súng” và “đầu bên đầu”, họ đã thật sự cùng chung hành động, chung chí hướng rồi đây! Trong đêm lạnh giá, gian khổ, họ chia sẻ cho nhau chiếc chăn đơn và suy nghĩ về những gì tươi sáng của cuộc đời. Đọc đến đây, ta không khỏi nhớ đến hai câu thơ của Tố Hữu:

Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng

Mong manh quá phải không? Chiếc chăn đơn làm sao sưởi ấm đêm trừơng! Thế nhưng nó đã ấp ủ tình đồng chí từ rất lâu.

Tiếng thơ da diết phút chốc bỗng ngắt riêng ra thành hai tiếng hay đúng hơn là một câu thơ: “Đồng chí”, buộc độc giả phải dừng lại ngẫm nghĩ điều mà hai tiếng ấy đã gợi lên. Phải chăng tình đồng đội của họ đầy ắp đến không còn gì để tả xiết hay nó quá thân thương? Họ cùng chung con đường, chung lý tưởng và tình bạn được nâng cao mãi thành mối tình “đồng chí”. Hai tiếng “đồng chí” nghe sao quen thuộc, giản dị được đúc nên do quá trình bồi đăp của tình cảm con ngừơi! Và dấu chấm than đi sau hai tiếng ấy bỗng chứa chất và ngân rung mãi sợi dây tình cảm. Hai tíêng, hai tiếng htôi mà nói được rất nhiều…

Đọc tiếp bài thơ, ta càng thấy tình đồng chí sâu sắc đến dường nào.

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nứơc gốc đa nhớ ngừơi ra lính

Quả thực, họ đã gác bỏ mọi thứ vốn đã ấp ủ và gắn chặt họ với xóm làng thân thuộc. Họ ra đi để tìm một lý tưởng cao hơn nữa, đó là tình yêu đất nứơc, yêu quê hương. Đến đây, ta liên tưởng đến hai câu thơ của Nguyễn Đình Thi:

Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

Người lính ra đi còn biết làm gì khác ngoài giải phóng cho chính quê hương mình. Đồng ruộng và gian nhà kia đang bị nỗi hoang vắng bao trùm. Ruộng thì gửi bạn thân cày, gian nhà thì “mặc kệ” gió lung lay. Dường như tất cả đều vô tư lự, cứ để cho nó tự nhiên đến. “Mặc kệ” hay “đầu không ngoảnh lại” buộc thốt lên chẳng qua để chế ngự những tình cảm bên trong vốn thắm thiết đang dằn vặt họ.

Nhưng không, hãy nhìn giếng nứơc và gốc đa kia đi! Chúng cũng có tâm hồn đấy chứ! Chúng cũng nhớ ngừơi trai ra đi vì nghĩa cả. Từ “nhớ” như xoáy vào lòng người ra đi bởi những cái tưởng như không là gì mà biết nhớ nhung, chời đợi. Đó là những lúc tựa gối bên nhau, họ lại kể cho nhau nghe chuyện quê nhà. Chỉ với ba câu thơ thôi mà đã diễn tả đựơc cái xác xơ, tiêu điều của quê hương anh thời lửa đạn. Họ phải ra đi, ra đi để giải phóng cho quê hương mình, có gì đâu để mà tiếc mà thương.

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ứơt mồ hôi

Những đêm trời trở rét, họ đã và phải hứng chịu tất cả. Còn gì đáng sợ bằng những cơn sốt rét hành hạ bản thân anh, chúng như con ma rừng ám ảnh chiến sĩ Trường Sơn heo hút. Dẫu cho vầng trán có đẫm mồ hôi vì cơn sốt rét, dẫu cho:

Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá.

Thì anh vẫn: 

Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau, tay nắm lấy bàn tay.

Đêm nay gió rét lại về và đêm nay các anh lại phải đứng chờ giặc. Cảm động làm sao khi giữa trời khuya lộng gió có những con người đứng gác trên núi đá cheo leo hay giữa đồng không mông quạnh. Sương muối rót vào lòng khác chi ướp một tảng băng vào người. Thế nhưng các anh vẫn đứng đó vàe các anh mãi đứng đó, đứng để chờ giặc hay đứng để chờ một ngày mai rực rỡ!
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo!

Từ “đứng” chung hành động và từ “chờ” cũng lại chung cùng một hành động. Ý thơ thật hiên nganhg mà cũng thật thầm kín.

Hình ảnh “đầu súng trăng treo” quả là sinh động. Hai hình ảnh súng và trăng sao gần gũi đến lạ. Chúng dường như đã sẵn là xa nhau đến vời vợi mà giờ đây lại kề cận bên nhau. Súng – hình ảnh chiến sĩ; trăng – hình ảnh thi sĩ. Súng – chiến trường ác liệt, trăng – hình ảnh thanh bình. Không phải ngẫu nhiên thơ Chính Hữu lại có hình ảnh súng và trăng lãng mạn. Dường như nó đã được đặt sẵn lúc nào không hay bởi người chiến sĩ đôi lúc cũng phải thả hồn mình để bay bổng lên cao, hay bị chị Hằng làm say bởi ánh sáng tựa như mơ hồ của trăng mây và gió. Thơ Chính Hữu trữ tình và lãng mạn, nó thấm đượm tinh thần đồng đội và cao hơn nữa là tình “đồng chí”. Hình ảnh trăng và súng là một bởi nó đã gắn bó với ông trong suốt trừơng kỳ cách mạng.

Đọc thơ Chính Hữu, chắc ai cũng ít nhiều hiểu được tâm tư tình cảm của người chiến sĩ. Những con người đã quên mình vì sự nghiệp giải phóng cho quê hương, đất nước.
ST 
112

bài tập

Chat chit và chém gió
  • theoofman1093: q 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: u 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: v 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: ư 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: y 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: z 5/8/2020 9:25:29 PM
  • theoofman1093: tui bây ngu như pò 5/8/2020 9:25:38 PM
  • theoofman1093: è 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: sg 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: h 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: sdg 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: ggg 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:05 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:48:06 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:07 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:10 PM
  • theoofman1093: dfgfg 5/8/2020 9:48:11 PM
  • vingoc: hi mn 11/13/2020 9:28:11 PM
  • vingoc: em mới vào ạ 11/13/2020 9:28:24 PM
  • vingoc: ở đây có ai lớp 7 ko ạ? 11/13/2020 9:29:13 PM
  • duolingo: 9 3/28/2021 11:19:10 AM
  • huongmaixm01: văn lớp 9 7/2/2021 11:26:56 AM
  • minhmama357: hi 8/13/2021 4:22:39 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • vipof95962: me may beo vai 11/20/2022 11:53:17 AM
  • vipof95962: wanna watch hentai 11/20/2022 11:53:47 AM
  • vipof95962: laughing 11/20/2022 11:53:49 AM
  • vipof95962: sex is good for you 11/20/2022 11:53:56 AM
  • kkkkkkkk: free fire 11/27/2022 3:22:24 PM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely
  • nguyennhung9904
  • duolingo
  • duolingo