Nội dung theo thẻ

0
phiếu
0đáp án
665 lượt xem

RỪNG XÀ NU

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

       Nguyễn Trung Thành tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ông có bút danh khác là Nguyên Ngọc. Nguyễn Trung Thành là bút danh được dùng trong những năm ông hoạt động ở chiến trường miền Nam thời kỳ chống Mĩ cứu nước.

       Truyện ngắn Rừng xà nu công bố lần đầu năm 1965. Khi đó, cách mạng miền Nam đã trải qua thời kỳ đen tối đến lúc Đồng khởi và đang tiếp tục cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai. Theo lời Nguyễn Trung Thành, ông nhớ rất rõ ngày 8-3-1965, mấy vạn lính thủy quân lục chiến Mĩ đổ bộ vào bãi biển Chu Lai. “Đó là những ngày sôi sục, nghiêm trang, nghiêm trọng, lo lắng, quyết liệt, hào hùng: dân tộc ta bước vào cuộc chạm trán một mất một còn trực tiếp với đế quốc Mĩ”.

          Vấn đề đặt ra trong truyện ngắn là vấn đề trung tâm của toàn dân tộc lúc đó: con đường duy nhất lúc đó cầm vũ khí đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong một thế tương quan lực lượng chênh lệch về vũ khí kỹ thuật, đâu là sức mạnh mang lại thắng lợi cho chúng ta? Truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành góp phần tìm ra câu trả lời: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Ý chí quyết đấu là nguồn gốc của sức mạnh. Tác phẩm cũng chỉ ra vẻ đẹp tinh thần của nhân dân Tây Nguyên bất khuất.

          Lúc nhà văn định viết một truyện ngắn về đồng bằng đánh Mĩ nhưng mấy đêm thức ròng ông không sao viết được. Ông chuyển qua viết về miền núi và trong một đêm giữa năm 1965, Rừng xà nu đột ngột đến với tác giả. Mặc dù câu chuyện hư cấu nhưng các nguyên mẫu đều là có thật, nhà văn đã gặp họ ở nơi này nơi khác, lúc này lúc khác. Nguyễn Trung Thành kể là ông đã quen biết ông Núp, ông Mết từ hồi đánh Pháp, khoảng năm 1963 đã gặp anh Đề người Xê-đăng và nghe anh kể, năm 1959 anh Đề đã cùng 10 trai làng dùng dao dựa, giáo, mác giết được một tiểu đội lính Diệm. Cuối năm 1963, trong một hội nghị ở huyện Đắc-lây, Nguyễn Trung Thành đã gặp một cô gái người Ê-đê xinh đẹp, vừa là cán bộ phụ nữ xã, vừa là du kích. Những con người ấy gặp nhau, âm thầm hình thành những nhân vật văn học trong tác giả để khi ông viết, chúng hội tụ về dưới trang văn. Quá trình viết câu chuyện trở nên dễ dàng: “Tất cả, tôi không phải “bịa” thêm gì cả, tôi thấy rõ hết. Mặc dầu tất cả đay hoàn toàn là một câu chuyện bịa mà như thật. Với tôi nó hoàn toàn có thật”.

2. Nguyễn Trung Thành nói về biểu tượng rừng xà nu

       Cây xà nu là cây thông. Văn học trung đại đã viết không ít về cây thông, nhưng đều tập trung khai thác ý nghĩa biểu trưng của cây thông cho phẩm chất của người quân tử. Bởi lẽ cây thông vẫn xanh tươi ngay cả giữa mùa đông lạnh giá trong khi tất cả các loài cây khác đều rụng lá. Đây là thứ cây tượng trưng cho sự kiên cường, bất khuất, không chịu đổi dời bản tính theo ngoại cảnh. Truyện ngắn Rừng xà nu cũng khai thác nghĩa biểu trưng của cây thông nhưng không phải là của một cây thông riêng rẽ mà là của một rừng thông, một “tập thể” thông. Tác phẩm cũng không nhằm vào biểu tượng quân tử ở cây thông mà hướng đến diễn tả sức sống mạnh mẽ, bất diệt của rừng thông như một biểu tượng về sức sống mạnh mẽ, bất diệt của những con người Tây Nguyên bình dị, không một bạo lực nào có thể tiêu diệt nổi. Đây là một nét mới của ý nghĩa biểu trưng của rừng thông mà văn học cách mạng có thể đưa vào kho tàng văn học.

          Nguyễn Trung Thành kể về hồi tháng 5 năm 1962 hành quân từ miền Bắc vào đến khu rừng bát ngát ở phía Tây Thừa Thiên thì gặp cây xà nu. “Tôi say mê cây xà nu từ ngày đó. Ấy là một thứ cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh nhã, vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô tận. Không khí ở đây thơm lừng. Nệm lá dưới mặt đất ngả lưng êm ru”. Vì thế, khi dự định viết về miền núi đánh giặc, Nguyễn Trung Thành đã gặp cây xà nu trong những dòng đầu tiên: “Bắt đầu đến dưới ngòi bút, gần như không hề tính trước, là một rừng xà nu, những cây xà nu… rừng xà nu chợt đến và lập tức tôi biết tôi đã tạo được không khí, đã có không gian ba chiều. Và cũng đã lập tức nhập được vào không khí và không gian ấy”.

          Biểu tượng xà nu đã hình thành từ thực tế quan sát, suy nghĩ nhiều năm của tác giả để trong giây lát có thể xuất hiện, dẫn dắt cho mạch truyện.

I-  PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Đặc điểm nội dung

a) Rừng xà nu, biểu tượng vế sức sống của người dân Tây Nguyên

       Ý nghĩa tượng trưng của rừng xà nu rất dễ quan sát thấy qua việc miêu tả rừng xà nu ở phần mở đầu và phần kết thúc câu chuyện.

       Mở đầu thiên truyện là cuộc chiến đấu thầm lặng mà quyết liệt giữa một bên là rừng xà nu và một bên là đạn pháo của giặc. Một chi tiết được miêu tả không hề ngẫu nhiên và trái lại, được tác giả có dụng ý nhấn mạnh: giặc bắn đại bác ngày hai lần, nhưng “hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn”. Những loạt đạn đại bác là sự thử thách nghiệt ngã đối với rừng xà nu. Hàng vạn cây xà nu bị thương, nhựa ứa ra, đau đớn uất hận như máu nhỏ. “Ở chỗ viết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh ngày hè nắng gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Nhưng nói tới sự tàn phá của đại bác giặc cũng là một cách giới thiệu sức sống bất diệt của cây xà nu.

Đối lập với sự tàn phá của đạn đại bác giặc là hình ảnh rừng xà nu kiên cường, bất khuất, hệt như con người, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác vươn lên trước những làn đạn: “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời như thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bui vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng […]. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã”.

       Kết thúc câu chuyện, nhà văn láy lại hai ý: một số cây xà nu to bị thương, nhựa ứa ra “lóng lánh nắng hè” và những cây nhỏ đang mọc lên như để thay thế những cây bị ngã: “Quanh đó vô số những cây con đang mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê”. Rừng xà nu có dáng dấp của một tác phẩm luận đề, cách mở đầu và kết thúc hé mở triết lý mà tác phẩm sẽ phân tích, chứng minh.

       Có thể nói hình tượng rừng xà nu là một biểu tượng đẹp về dân làng Xô Man. Trong làng này, những người dân tộc Strá cũng quật cường, bất khuất, các thế hệ nối tiếp nhau cùng chung một truyền thống đấu tranh cách mạng kiên trung, một truyền thống không khi nào bị gián đoạn, đứt quãng. Cây xà nu ở đay cũng giống như cây tre dưới xuôi, một biểu tượng đẹp về sức sống dẻo dai bền bỉ của con người.

b) Các thế hệ người Strá tham gia đấu tranh cách mạng

       Nhân vật trung tâm của tác phẩm- nếu như có yêu cầu phải xác định – có thể tìm thấy ở nhân vật Tnú. Tuy vậy không thể nói là các nhân vật khác được xây dựng mờ nhạt hay đơn giản. Tnú chỉ là đại biểu cho một trong các thế hệ nối tiếp đấu tranh cách mạng ở làng Xô Man.

-     Cụ Mết là đại diện của thế hệ người Strá đã từng tham gia đánh Pháp nay lại tiếp tục đánh Mĩ và bè lũ tay sai. Một con người vững chãi, từng trải, một lòng một dạ với Đảng, với cách mạng. Sức mạnh thể chất và tinh thần toát lên từ vẻ ngoài của cụ Mết. “Một bà tay nặng trịch nắm chặt lấy vai anh như một kìm sắt. Anh quay lại: cụ Mết! Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải láng bóng. Ông ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn”. Ở ông già sáu mươi tuổi này “tiếng nói vẫn ồ ồ, dội vang trong lồng ngực”. Mọi lời nói của cụ đều được dân làng lắng nghe, trân trọng: “Lúc ông cụ Mết nói, mọi người đều im bặt”. Lẽ đơn giản là cụ thường nói lên những tư tưởng lớn, có ý nghĩa chân lý; mà cũng không đơn giản là chỉ nói, cụ dẫn dắt cả làng đi theo con đường cách mạng. Cụ thường nhân dịp thích hợp để giáo dục, nhắc nhở dân làng về đấu tranh cách mạng. Ví dụ, cụ chỉ chia cho mỗi người mấy hạt muối quý giá và giải thích: “Năm nay làng không đói. Gạo đủ ăn tới mùa suốt. Nhưng phải để giành, dự trữ mỗi bếp cho được ba năm […] đánh thằng Mĩ phải đánh dài”. Cụ triết lí về sức mạnh quật khởi của các thế hệ qua biểu tượng cây xà nu “không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ  ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”. Lời của người từng trải, kinh lịch thật chắc gọn mà sâu sắc. Cụ Mết nói: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Cụ hiểu tình huống đầy kịch tính khi Tnú với hai bàn tay không nhảy ra cứu vợ con: “Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây thừng. Tau k nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cụ Mết không ngờ cụ đã nói lên một chân lý của thời đại ấy, cũng như ở dưới xuôi kia, trong thành phố, anh Trỗi nói “Còn thằng Mĩ thì không có ai hạnh phúc”, ở nông thôn, chị Út Tịch nói “Còn cái lai quần cũng đánh”.

-     Hai chị em Mai và Dít cũng là một biểu tượng thu nhỏ về sự tiếp nối truyền thống cách mạng ở Tây Nguyên. Mai cùng với Tnú đã thay các thế hệ trước nuôi cán bộ cách mạng. Người cán bộ cách mạng – anh Quyết – hỏi: “Các em không sợ giặc bắt à? Nó giết như anh Xút, như bà Nhan đó”. Để trả lời, Tnú dẫn câu nói như một chân lí đã được tổng kết từ cụ Mết: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Mối liên hệ gắn bó giữa Đảng và cách mạng, Đảng và dân và nước được họ nhận thức rất rõ ràng, giản dị. Cái chết đầy xúc động của hai mẹ con Mai do bàn tay độc ác của kẻ thù chỉ làm cho ý chí chiến đấu của Dít, em gái Mai thêm sắt đá, kiên cường. Ngày Mai mất, Dít còn nhỏ. “Tnú cầm mấy cây xà nu soi cho Dít gằn gạo. Nó gằn đủ ba mươi lon gạo trắng, đổ ruột ghét cho Tnú mang đi. Nó lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh trong khi mọi ngườ, cả cụ già Mết, đều khóc vì cái chết của Mai”.

          Dít có cách thể hiện tình cảm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ có thể hiểu được khi đặt vào bối cảnh của phong trào cách mạng miền Nam đầu những năm 60, khi gắn với truyền thống cách mạng của người dân Tây Nguyên từ hồi chống Pháp. Buổi hội ngộ đầu tiên của họ sau mấy năm Tnú đi vắng hơi bất ngờ với Tnú. Cặp mắt mở to, trong suốt, bình thản của Dít nhìn Tnú hồi lâu rồi Dít hỏi Tnú bằng cái giọng lạnh lùng: “Đồng chí về có giấy không?”. Trong sự lạnh lùng của nguyên tắc đó bao hàm một nguyên cớ thật đẹp: Dít muốn Tnú phải là một chiến sĩ giải phóng quân mẫu mực, về phép dù chỉ một đêm cũng phải có giấy phép của chỉ huy. Chỉ sau khi biết Tnú có giấy phép, Dít mới vồn vã: “Sao anh về có một đêm thôi […] Thôi cũng được. Về một đêm cho làng thấy mặt là được rồi. Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi”. Thể hiện tình cảm cá nhân gắn liền một cách hài hòa với sự nghiệp cách mạng là một đặc điểm phổ biến của văn học cách mạng, tạo nên chất sử thi cho tác phẩm.

-     Hình tượng Tnú: mặc dù một đặc điểm lớn của văn học cách mạng là diễn đạt hài hòa sự nghiệp anh hùng của các cá nhân và sự nghiệp cách mạng của quần chúng, chúng ta có vẫn có thể nói đến Tnú như một nhân vật chính, thể hiện cảm hứng của thiên truyện.

           là một chiến sĩ cách mạng với những nét đặc trưng của người dân Tây Nguyên. Cuộc đời anh li kỳ như một huyền thoại trong thiên sử thi anh hùng ca chói lọi của núi rừng Tây Nguyên. Cụ Mết muốn câu chuyện về Tnú sẽ được các thế hệ nối tiếp nhau kể cho nhau nghe.

          Học chữ hay quên, nhưng Tnú rất sáng dạ, thông minh khi làm liên lac cho anh Quyết từ huyện về xã. Tnú chấp nhận khó khăn: không đi đường mòn, cứ xé rừng mà đi; không vượt sống ở chỗ nước êm mà vượt thác. Đó là vì sự an toàn của những chuyến đi chuyển thư từ, công văn. Lần cuối cùng bị địch bắt, Tnú đã kịp nuốt cái thư của cán bộ để giữ bí mật. Rồi anh vượt ngục của kẻ thù trở về. Anh gan góc, dũng cảm, ít lời mà cương quyết. Khi bị bắt, kẻ thù bắt anh phải khai ai là cộng sản. Tnú đặt tay lên bụng nói: “Ở đây này!”. Lưng anh đã phải nhận bao nhát dao chém của bọn lính. Tnú đã lao vào giữa bọn lính để cứu mẹ con Mai nhưng đã không cứu được mà thân mình bị bắt. Sự việc đó có nhiều ý nghĩa nhưng cho thấy bản lĩnh của anh. Khi chúng đốt hai bàn tay anh cũng là lúc tất cả thanh niên trong làng đã đem những cây dựa mài bằng đá núi Ngọc Linh chém chết hết mười tên lính.

          Mô-típ bàn tay là một mô-típ có sức diễn đạt rất sâu sắc của thiên truyện. Bàn tay Tnú như một tấm gương phản ánh tư tưởng, tình cảm của anh. Bàn tay Tnú có lcus đặt trong lòng bàn tay Mai để rồi họ thành vợ thành chồng. Bàn tay ấy hãnh diện để lên bụng để trả lời quân thù: Cộng sản “ở đây này”. Khi đau đớn, uất hận, bàn tay ấy đã bứt hàng chục trái vả mà không biết. Để đe dọa những bàn tay cầm giáo mác, cầm súng, kẻ địch quấn giẻ tẩm dầu xà nu lên mười đầu ngón tay của Tnú và đốt. Nhưng chính lúc kẻ thù định hủy diệt bàn tay thiêng liêng của người dân Tây Nguyên thì chúng đã phải nhận lấy đòn trừng phạt thích đáng nhất. Các trai làng cầm giáo mác giết chết mười tên giặc. Đốt hai bàn tay của Tnú tức là tiêu diệt ý chí đấu tranh cách mạng, chỉ đứng lên giết chết kẻ thù, chặn đứng tội ác của chúng là con đường sống duy nhất. Tnú đã không dùng dao, dùng súng mà dùng mười đầu ngón tay cụt bóp cổ chết tên chỉ huy địch cũng là một cách trả lời cho kẻ thù biết sự khủng bố điên cuồng, độc ác của chúng là vô ích. Tnú kể lại sôi nổi: “Tôi tống đầu gối lên ngực nó, tôi bóp đèn pin lên mặt nó: Dục, mày có nhớ tau không? Nó lắc đầu. Được, đây này, hai bàn tay tau đây này, nhớ chứ? Tau vẫn cầm được súng? Mắt nó trắng dã. Tôi nói: Này, tau có súng đây, tau có cả dao găm đây. Nhưng tau không giết mày bằng súng, tau không đâm mày bằng dao nghe chưa! Dục! Tau giết mày bằng mười ngón tay cụt này thôi, tau bóp cổ mày thôi!”. Thằng Dục, đứa đã tẩm dầu đốt tayanh hiển hiện ở bất cứ một tên giặc nào. Trong sự hồn nhiên của Tnú có chân lý: “Chúng nó đứa nào cũng giống như thằng Dục”. Tính cách của Tnú là điển hình cho tính cách của người Tây Nguyên: ít lời, giản dị mà cương quyết, rắn chắc; cuộc đời và số phận của Tnú là điển hình cho số phận và cuộc đời của người Tây Nguyên: đầy đau thương mà quật cường , anh dũng, một lòng kiên trung với cách mạng.

2.         Đặc điểm về nghệ thuật

          Vốn là tác giả của Đất nước đứng lên, Nguyễn Trung Thành hiểu rõ và năm vững văn hóa, đất nước và con người Tây Nguyên. Ông có sở trường dựng nên không khí của núi rừng Tây Nguyên, văn hóa Tây Nguyên.

          Truyện ngắn này có sức hấp dẫn nhờ nghệ thuật khắc họa những nét tính cách đặc sắc của người Tây Nguyên qua ngôn ngữ, ngoại hình, hành động của họ. Người Tây Nguyên trầm lặng, ít nói nhưng có cách bày tỏ tình cảm, tư tưởng riêng qua hành động. Khi Tnú về thăm làng cũ, có người nhảy phóc từ trên sàn nhà xuống đất để đón anh. Cụ Mết có lối mắng yêu thật lạ: “Cha mẹ mày, đi lâu thế! Để cho lũ con gái chúng nó lớn lên chẳng còn thằng thanh niên nào cho nó bắt chồng!”. Rồi cô Dít ít lời mà cũng không kém phần ý tứ: “Dít ngồi sụp xuống trước mặt anh, hai chân xếp về một bên, đưa tay kéo tấm váy che kín cả gót chân”… Ngôn ngữ nhân vật có  bản sắc dân tộc, chắc gọn, đơn giản mà đầy triết lý. Những chi tiết nho nhỏ như vậy đã dệt thành một bức tranh chân dung về những người Tây Nguyên vừa lạ lùng, vừa gần gũi thân thương.

          Không gian núi rừng Tây Nguyên cổ sơ, trầm mặc cũng được dựng lại một cách sống động qua hình ảnh đậm chất Tây Nguyên. Đó là tiếng chày giã gạo như một nỗi nhớ da diết nhất cho những đứa con Tây Nguyên đi xa. Đó là hồi mõ dìa ba tiếng vang lên từ phía nhà ưng thôi thúc mọi người lại họp ở chỗ già làng. Đó là các cây đuốc sáng quanh nhà cụ Mết. Rồi không khí trang trọng, thành kính của dân làng vây quanh cụ Mết chờ cụ kể chuyện về cuộc đời Tnú như chờ nghe kể khan truyền thống. Rồi tiếng cồng chiêng, rồi mỏ đá mài trên núi Ngọc Linh đủ dùng cho cả trăm cuộc khởi nghĩa gươm giáo mác của Tây Nguyên. Có nhà nghiên cứu đưa ra nhận xét rằng, truyện Rừng xà nu mang đậm màu sắc sử thi. Chất sử thi toát lên từ tinh thần vì cộng đồng của con người, từ những vấn đề chung, liên quan đến số phận chung của cả cộng đồng.

          Nguyễn Trung Thành nói “Rừng xà nu” là truyện của một đời, và được kể trong một đêm. Đó là cái đêm dài như cả một đời. Nhưng nó cũng ngắn, cũng chỉ là một đêm trong sự sống vất vả, đau khổ và hạnh phúc”. Câu chuyện kể một đêm chính là nói câu chuyện cụ Mết kể cho dân làng nghe kể về cuộc đời Tnú nhân dịp anh được về nghỉ phép một đêm: “Đêm nay tau kể chuyện nó cho cả làng nghe, để mừng nó về thăm làng. Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tau chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe…”. Đó đúng là thể chức kể sử thi của người Tây Nguyên. Câu chuyện một đời của Tnú nhưng cũng là câu chuyện của cả buôn làng, không chỉ kể một đêm mà sẽ kể mãi, như những thiên sử thi đã từng được kể hàng trăm năm, ngàn năm nay. Thêm một ý nghĩa nữa của câu chuyện Tnú, một thiên sử thi của thời đại mới.

          Tuy vai người kể chuyện là cụ Mết nhưng thực ra, cách kể của Rừng xà nu khá linh hoạt. Điểm nhìn của người kể có thay đổi, khi là ngôn ngữ tác giả, khi là lời cụ Mết, khi là chính nhân vật Tnú hiện diện. Ví dụ, cả đoạn tả Tnú từ gốc cây xông ra đến khi anh bị bọn thằng Dục tẩm dầu vào giẻ đốt cả mười ngón tay là nhìn tâm trạng anh từ bên trong, người kể hóa thân vào nhân vật để quan sát, ứng xử và bộ lộ cảm xúc. “Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!”. Đây tất nhiên không phải là lời kể của người đứng nhìn từ bên ngoài mà là cảm nhận của người trong cuộc.

 

0
phiếu
0đáp án
661 lượt xem

RỪNG XÀ NU

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

       Nguyễn Trung Thành tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ông có bút danh khác là Nguyên Ngọc. Nguyễn Trung Thành là bút danh được dùng trong những năm ông hoạt động ở chiến trường miền Nam thời kỳ chống Mĩ cứu nước.

       Truyện ngắn Rừng xà nu công bố lần đầu năm 1965. Khi đó, cách mạng miền Nam đã trải qua thời kỳ đen tối đến lúc Đồng khởi và đang tiếp tục cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai. Theo lời Nguyễn Trung Thành, ông nhớ rất rõ ngày 8-3-1965, mấy vạn lính thủy quân lục chiến Mĩ đổ bộ vào bãi biển Chu Lai. “Đó là những ngày sôi sục, nghiêm trang, nghiêm trọng, lo lắng, quyết liệt, hào hùng: dân tộc ta bước vào cuộc chạm trán một mất một còn trực tiếp với đế quốc Mĩ”.

          Vấn đề đặt ra trong truyện ngắn là vấn đề trung tâm của toàn dân tộc lúc đó: con đường duy nhất lúc đó cầm vũ khí đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong một thế tương quan lực lượng chênh lệch về vũ khí kỹ thuật, đâu là sức mạnh mang lại thắng lợi cho chúng ta? Truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành góp phần tìm ra câu trả lời: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Ý chí quyết đấu là nguồn gốc của sức mạnh. Tác phẩm cũng chỉ ra vẻ đẹp tinh thần của nhân dân Tây Nguyên bất khuất.

          Lúc nhà văn định viết một truyện ngắn về đồng bằng đánh Mĩ nhưng mấy đêm thức ròng ông không sao viết được. Ông chuyển qua viết về miền núi và trong một đêm giữa năm 1965, Rừng xà nu đột ngột đến với tác giả. Mặc dù câu chuyện hư cấu nhưng các nguyên mẫu đều là có thật, nhà văn đã gặp họ ở nơi này nơi khác, lúc này lúc khác. Nguyễn Trung Thành kể là ông đã quen biết ông Núp, ông Mết từ hồi đánh Pháp, khoảng năm 1963 đã gặp anh Đề người Xê-đăng và nghe anh kể, năm 1959 anh Đề đã cùng 10 trai làng dùng dao dựa, giáo, mác giết được một tiểu đội lính Diệm. Cuối năm 1963, trong một hội nghị ở huyện Đắc-lây, Nguyễn Trung Thành đã gặp một cô gái người Ê-đê xinh đẹp, vừa là cán bộ phụ nữ xã, vừa là du kích. Những con người ấy gặp nhau, âm thầm hình thành những nhân vật văn học trong tác giả để khi ông viết, chúng hội tụ về dưới trang văn. Quá trình viết câu chuyện trở nên dễ dàng: “Tất cả, tôi không phải “bịa” thêm gì cả, tôi thấy rõ hết. Mặc dầu tất cả đay hoàn toàn là một câu chuyện bịa mà như thật. Với tôi nó hoàn toàn có thật”.

2. Nguyễn Trung Thành nói về biểu tượng rừng xà nu

       Cây xà nu là cây thông. Văn học trung đại đã viết không ít về cây thông, nhưng đều tập trung khai thác ý nghĩa biểu trưng của cây thông cho phẩm chất của người quân tử. Bởi lẽ cây thông vẫn xanh tươi ngay cả giữa mùa đông lạnh giá trong khi tất cả các loài cây khác đều rụng lá. Đây là thứ cây tượng trưng cho sự kiên cường, bất khuất, không chịu đổi dời bản tính theo ngoại cảnh. Truyện ngắn Rừng xà nu cũng khai thác nghĩa biểu trưng của cây thông nhưng không phải là của một cây thông riêng rẽ mà là của một rừng thông, một “tập thể” thông. Tác phẩm cũng không nhằm vào biểu tượng quân tử ở cây thông mà hướng đến diễn tả sức sống mạnh mẽ, bất diệt của rừng thông như một biểu tượng về sức sống mạnh mẽ, bất diệt của những con người Tây Nguyên bình dị, không một bạo lực nào có thể tiêu diệt nổi. Đây là một nét mới của ý nghĩa biểu trưng của rừng thông mà văn học cách mạng có thể đưa vào kho tàng văn học.

          Nguyễn Trung Thành kể về hồi tháng 5 năm 1962 hành quân từ miền Bắc vào đến khu rừng bát ngát ở phía Tây Thừa Thiên thì gặp cây xà nu. “Tôi say mê cây xà nu từ ngày đó. Ấy là một thứ cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh nhã, vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô tận. Không khí ở đây thơm lừng. Nệm lá dưới mặt đất ngả lưng êm ru”. Vì thế, khi dự định viết về miền núi đánh giặc, Nguyễn Trung Thành đã gặp cây xà nu trong những dòng đầu tiên: “Bắt đầu đến dưới ngòi bút, gần như không hề tính trước, là một rừng xà nu, những cây xà nu… rừng xà nu chợt đến và lập tức tôi biết tôi đã tạo được không khí, đã có không gian ba chiều. Và cũng đã lập tức nhập được vào không khí và không gian ấy”.

          Biểu tượng xà nu đã hình thành từ thực tế quan sát, suy nghĩ nhiều năm của tác giả để trong giây lát có thể xuất hiện, dẫn dắt cho mạch truyện.

I-  PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Đặc điểm nội dung

a) Rừng xà nu, biểu tượng vế sức sống của người dân Tây Nguyên

       Ý nghĩa tượng trưng của rừng xà nu rất dễ quan sát thấy qua việc miêu tả rừng xà nu ở phần mở đầu và phần kết thúc câu chuyện.

       Mở đầu thiên truyện là cuộc chiến đấu thầm lặng mà quyết liệt giữa một bên là rừng xà nu và một bên là đạn pháo của giặc. Một chi tiết được miêu tả không hề ngẫu nhiên và trái lại, được tác giả có dụng ý nhấn mạnh: giặc bắn đại bác ngày hai lần, nhưng “hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn”. Những loạt đạn đại bác là sự thử thách nghiệt ngã đối với rừng xà nu. Hàng vạn cây xà nu bị thương, nhựa ứa ra, đau đớn uất hận như máu nhỏ. “Ở chỗ viết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh ngày hè nắng gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Nhưng nói tới sự tàn phá của đại bác giặc cũng là một cách giới thiệu sức sống bất diệt của cây xà nu.

Đối lập với sự tàn phá của đạn đại bác giặc là hình ảnh rừng xà nu kiên cường, bất khuất, hệt như con người, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác vươn lên trước những làn đạn: “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời như thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bui vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng […]. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã”.

       Kết thúc câu chuyện, nhà văn láy lại hai ý: một số cây xà nu to bị thương, nhựa ứa ra “lóng lánh nắng hè” và những cây nhỏ đang mọc lên như để thay thế những cây bị ngã: “Quanh đó vô số những cây con đang mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê”. Rừng xà nu có dáng dấp của một tác phẩm luận đề, cách mở đầu và kết thúc hé mở triết lý mà tác phẩm sẽ phân tích, chứng minh.

       Có thể nói hình tượng rừng xà nu là một biểu tượng đẹp về dân làng Xô Man. Trong làng này, những người dân tộc Strá cũng quật cường, bất khuất, các thế hệ nối tiếp nhau cùng chung một truyền thống đấu tranh cách mạng kiên trung, một truyền thống không khi nào bị gián đoạn, đứt quãng. Cây xà nu ở đay cũng giống như cây tre dưới xuôi, một biểu tượng đẹp về sức sống dẻo dai bền bỉ của con người.

b) Các thế hệ người Strá tham gia đấu tranh cách mạng

       Nhân vật trung tâm của tác phẩm- nếu như có yêu cầu phải xác định – có thể tìm thấy ở nhân vật Tnú. Tuy vậy không thể nói là các nhân vật khác được xây dựng mờ nhạt hay đơn giản. Tnú chỉ là đại biểu cho một trong các thế hệ nối tiếp đấu tranh cách mạng ở làng Xô Man.

-     Cụ Mết là đại diện của thế hệ người Strá đã từng tham gia đánh Pháp nay lại tiếp tục đánh Mĩ và bè lũ tay sai. Một con người vững chãi, từng trải, một lòng một dạ với Đảng, với cách mạng. Sức mạnh thể chất và tinh thần toát lên từ vẻ ngoài của cụ Mết. “Một bà tay nặng trịch nắm chặt lấy vai anh như một kìm sắt. Anh quay lại: cụ Mết! Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải láng bóng. Ông ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn”. Ở ông già sáu mươi tuổi này “tiếng nói vẫn ồ ồ, dội vang trong lồng ngực”. Mọi lời nói của cụ đều được dân làng lắng nghe, trân trọng: “Lúc ông cụ Mết nói, mọi người đều im bặt”. Lẽ đơn giản là cụ thường nói lên những tư tưởng lớn, có ý nghĩa chân lý; mà cũng không đơn giản là chỉ nói, cụ dẫn dắt cả làng đi theo con đường cách mạng. Cụ thường nhân dịp thích hợp để giáo dục, nhắc nhở dân làng về đấu tranh cách mạng. Ví dụ, cụ chỉ chia cho mỗi người mấy hạt muối quý giá và giải thích: “Năm nay làng không đói. Gạo đủ ăn tới mùa suốt. Nhưng phải để giành, dự trữ mỗi bếp cho được ba năm […] đánh thằng Mĩ phải đánh dài”. Cụ triết lí về sức mạnh quật khởi của các thế hệ qua biểu tượng cây xà nu “không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ  ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”. Lời của người từng trải, kinh lịch thật chắc gọn mà sâu sắc. Cụ Mết nói: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Cụ hiểu tình huống đầy kịch tính khi Tnú với hai bàn tay không nhảy ra cứu vợ con: “Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây thừng. Tau k nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cụ Mết không ngờ cụ đã nói lên một chân lý của thời đại ấy, cũng như ở dưới xuôi kia, trong thành phố, anh Trỗi nói “Còn thằng Mĩ thì không có ai hạnh phúc”, ở nông thôn, chị Út Tịch nói “Còn cái lai quần cũng đánh”.

-     Hai chị em Mai và Dít cũng là một biểu tượng thu nhỏ về sự tiếp nối truyền thống cách mạng ở Tây Nguyên. Mai cùng với Tnú đã thay các thế hệ trước nuôi cán bộ cách mạng. Người cán bộ cách mạng – anh Quyết – hỏi: “Các em không sợ giặc bắt à? Nó giết như anh Xút, như bà Nhan đó”. Để trả lời, Tnú dẫn câu nói như một chân lí đã được tổng kết từ cụ Mết: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Mối liên hệ gắn bó giữa Đảng và cách mạng, Đảng và dân và nước được họ nhận thức rất rõ ràng, giản dị. Cái chết đầy xúc động của hai mẹ con Mai do bàn tay độc ác của kẻ thù chỉ làm cho ý chí chiến đấu của Dít, em gái Mai thêm sắt đá, kiên cường. Ngày Mai mất, Dít còn nhỏ. “Tnú cầm mấy cây xà nu soi cho Dít gằn gạo. Nó gằn đủ ba mươi lon gạo trắng, đổ ruột ghét cho Tnú mang đi. Nó lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh trong khi mọi ngườ, cả cụ già Mết, đều khóc vì cái chết của Mai”.

          Dít có cách thể hiện tình cảm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ có thể hiểu được khi đặt vào bối cảnh của phong trào cách mạng miền Nam đầu những năm 60, khi gắn với truyền thống cách mạng của người dân Tây Nguyên từ hồi chống Pháp. Buổi hội ngộ đầu tiên của họ sau mấy năm Tnú đi vắng hơi bất ngờ với Tnú. Cặp mắt mở to, trong suốt, bình thản của Dít nhìn Tnú hồi lâu rồi Dít hỏi Tnú bằng cái giọng lạnh lùng: “Đồng chí về có giấy không?”. Trong sự lạnh lùng của nguyên tắc đó bao hàm một nguyên cớ thật đẹp: Dít muốn Tnú phải là một chiến sĩ giải phóng quân mẫu mực, về phép dù chỉ một đêm cũng phải có giấy phép của chỉ huy. Chỉ sau khi biết Tnú có giấy phép, Dít mới vồn vã: “Sao anh về có một đêm thôi […] Thôi cũng được. Về một đêm cho làng thấy mặt là được rồi. Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi”. Thể hiện tình cảm cá nhân gắn liền một cách hài hòa với sự nghiệp cách mạng là một đặc điểm phổ biến của văn học cách mạng, tạo nên chất sử thi cho tác phẩm.

-     Hình tượng Tnú: mặc dù một đặc điểm lớn của văn học cách mạng là diễn đạt hài hòa sự nghiệp anh hùng của các cá nhân và sự nghiệp cách mạng của quần chúng, chúng ta có vẫn có thể nói đến Tnú như một nhân vật chính, thể hiện cảm hứng của thiên truyện.

           là một chiến sĩ cách mạng với những nét đặc trưng của người dân Tây Nguyên. Cuộc đời anh li kỳ như một huyền thoại trong thiên sử thi anh hùng ca chói lọi của núi rừng Tây Nguyên. Cụ Mết muốn câu chuyện về Tnú sẽ được các thế hệ nối tiếp nhau kể cho nhau nghe.

          Học chữ hay quên, nhưng Tnú rất sáng dạ, thông minh khi làm liên lac cho anh Quyết từ huyện về xã. Tnú chấp nhận khó khăn: không đi đường mòn, cứ xé rừng mà đi; không vượt sống ở chỗ nước êm mà vượt thác. Đó là vì sự an toàn của những chuyến đi chuyển thư từ, công văn. Lần cuối cùng bị địch bắt, Tnú đã kịp nuốt cái thư của cán bộ để giữ bí mật. Rồi anh vượt ngục của kẻ thù trở về. Anh gan góc, dũng cảm, ít lời mà cương quyết. Khi bị bắt, kẻ thù bắt anh phải khai ai là cộng sản. Tnú đặt tay lên bụng nói: “Ở đây này!”. Lưng anh đã phải nhận bao nhát dao chém của bọn lính. Tnú đã lao vào giữa bọn lính để cứu mẹ con Mai nhưng đã không cứu được mà thân mình bị bắt. Sự việc đó có nhiều ý nghĩa nhưng cho thấy bản lĩnh của anh. Khi chúng đốt hai bàn tay anh cũng là lúc tất cả thanh niên trong làng đã đem những cây dựa mài bằng đá núi Ngọc Linh chém chết hết mười tên lính.

          Mô-típ bàn tay là một mô-típ có sức diễn đạt rất sâu sắc của thiên truyện. Bàn tay Tnú như một tấm gương phản ánh tư tưởng, tình cảm của anh. Bàn tay Tnú có lcus đặt trong lòng bàn tay Mai để rồi họ thành vợ thành chồng. Bàn tay ấy hãnh diện để lên bụng để trả lời quân thù: Cộng sản “ở đây này”. Khi đau đớn, uất hận, bàn tay ấy đã bứt hàng chục trái vả mà không biết. Để đe dọa những bàn tay cầm giáo mác, cầm súng, kẻ địch quấn giẻ tẩm dầu xà nu lên mười đầu ngón tay của Tnú và đốt. Nhưng chính lúc kẻ thù định hủy diệt bàn tay thiêng liêng của người dân Tây Nguyên thì chúng đã phải nhận lấy đòn trừng phạt thích đáng nhất. Các trai làng cầm giáo mác giết chết mười tên giặc. Đốt hai bàn tay của Tnú tức là tiêu diệt ý chí đấu tranh cách mạng, chỉ đứng lên giết chết kẻ thù, chặn đứng tội ác của chúng là con đường sống duy nhất. Tnú đã không dùng dao, dùng súng mà dùng mười đầu ngón tay cụt bóp cổ chết tên chỉ huy địch cũng là một cách trả lời cho kẻ thù biết sự khủng bố điên cuồng, độc ác của chúng là vô ích. Tnú kể lại sôi nổi: “Tôi tống đầu gối lên ngực nó, tôi bóp đèn pin lên mặt nó: Dục, mày có nhớ tau không? Nó lắc đầu. Được, đây này, hai bàn tay tau đây này, nhớ chứ? Tau vẫn cầm được súng? Mắt nó trắng dã. Tôi nói: Này, tau có súng đây, tau có cả dao găm đây. Nhưng tau không giết mày bằng súng, tau không đâm mày bằng dao nghe chưa! Dục! Tau giết mày bằng mười ngón tay cụt này thôi, tau bóp cổ mày thôi!”. Thằng Dục, đứa đã tẩm dầu đốt tayanh hiển hiện ở bất cứ một tên giặc nào. Trong sự hồn nhiên của Tnú có chân lý: “Chúng nó đứa nào cũng giống như thằng Dục”. Tính cách của Tnú là điển hình cho tính cách của người Tây Nguyên: ít lời, giản dị mà cương quyết, rắn chắc; cuộc đời và số phận của Tnú là điển hình cho số phận và cuộc đời của người Tây Nguyên: đầy đau thương mà quật cường , anh dũng, một lòng kiên trung với cách mạng.

2.         Đặc điểm về nghệ thuật

          Vốn là tác giả của Đất nước đứng lên, Nguyễn Trung Thành hiểu rõ và năm vững văn hóa, đất nước và con người Tây Nguyên. Ông có sở trường dựng nên không khí của núi rừng Tây Nguyên, văn hóa Tây Nguyên.

          Truyện ngắn này có sức hấp dẫn nhờ nghệ thuật khắc họa những nét tính cách đặc sắc của người Tây Nguyên qua ngôn ngữ, ngoại hình, hành động của họ. Người Tây Nguyên trầm lặng, ít nói nhưng có cách bày tỏ tình cảm, tư tưởng riêng qua hành động. Khi Tnú về thăm làng cũ, có người nhảy phóc từ trên sàn nhà xuống đất để đón anh. Cụ Mết có lối mắng yêu thật lạ: “Cha mẹ mày, đi lâu thế! Để cho lũ con gái chúng nó lớn lên chẳng còn thằng thanh niên nào cho nó bắt chồng!”. Rồi cô Dít ít lời mà cũng không kém phần ý tứ: “Dít ngồi sụp xuống trước mặt anh, hai chân xếp về một bên, đưa tay kéo tấm váy che kín cả gót chân”… Ngôn ngữ nhân vật có  bản sắc dân tộc, chắc gọn, đơn giản mà đầy triết lý. Những chi tiết nho nhỏ như vậy đã dệt thành một bức tranh chân dung về những người Tây Nguyên vừa lạ lùng, vừa gần gũi thân thương.

          Không gian núi rừng Tây Nguyên cổ sơ, trầm mặc cũng được dựng lại một cách sống động qua hình ảnh đậm chất Tây Nguyên. Đó là tiếng chày giã gạo như một nỗi nhớ da diết nhất cho những đứa con Tây Nguyên đi xa. Đó là hồi mõ dìa ba tiếng vang lên từ phía nhà ưng thôi thúc mọi người lại họp ở chỗ già làng. Đó là các cây đuốc sáng quanh nhà cụ Mết. Rồi không khí trang trọng, thành kính của dân làng vây quanh cụ Mết chờ cụ kể chuyện về cuộc đời Tnú như chờ nghe kể khan truyền thống. Rồi tiếng cồng chiêng, rồi mỏ đá mài trên núi Ngọc Linh đủ dùng cho cả trăm cuộc khởi nghĩa gươm giáo mác của Tây Nguyên. Có nhà nghiên cứu đưa ra nhận xét rằng, truyện Rừng xà nu mang đậm màu sắc sử thi. Chất sử thi toát lên từ tinh thần vì cộng đồng của con người, từ những vấn đề chung, liên quan đến số phận chung của cả cộng đồng.

          Nguyễn Trung Thành nói “Rừng xà nu” là truyện của một đời, và được kể trong một đêm. Đó là cái đêm dài như cả một đời. Nhưng nó cũng ngắn, cũng chỉ là một đêm trong sự sống vất vả, đau khổ và hạnh phúc”. Câu chuyện kể một đêm chính là nói câu chuyện cụ Mết kể cho dân làng nghe kể về cuộc đời Tnú nhân dịp anh được về nghỉ phép một đêm: “Đêm nay tau kể chuyện nó cho cả làng nghe, để mừng nó về thăm làng. Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tau chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe…”. Đó đúng là thể chức kể sử thi của người Tây Nguyên. Câu chuyện một đời của Tnú nhưng cũng là câu chuyện của cả buôn làng, không chỉ kể một đêm mà sẽ kể mãi, như những thiên sử thi đã từng được kể hàng trăm năm, ngàn năm nay. Thêm một ý nghĩa nữa của câu chuyện Tnú, một thiên sử thi của thời đại mới.

          Tuy vai người kể chuyện là cụ Mết nhưng thực ra, cách kể của Rừng xà nu khá linh hoạt. Điểm nhìn của người kể có thay đổi, khi là ngôn ngữ tác giả, khi là lời cụ Mết, khi là chính nhân vật Tnú hiện diện. Ví dụ, cả đoạn tả Tnú từ gốc cây xông ra đến khi anh bị bọn thằng Dục tẩm dầu vào giẻ đốt cả mười ngón tay là nhìn tâm trạng anh từ bên trong, người kể hóa thân vào nhân vật để quan sát, ứng xử và bộ lộ cảm xúc. “Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!”. Đây tất nhiên không phải là lời kể của người đứng nhìn từ bên ngoài mà là cảm nhận của người trong cuộc.

0
phiếu
0đáp án
589 lượt xem

VỢ NHẶT

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Kim Lân (1920 – 2007) tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình nghèo khó, ông chỉ được học hết bậc Tiểu học rồi phỉa vừa đi làm thợ kiếm sống vừa viết văn.

Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc tỏ ra rất am hiểu về nông thôn và người nông dân.

Vợ nhặt được viết sau Cách mạng tháng Tám, là một chương viết lại của truyện Xóm ngụ cư. Nạn đói mà tác phẩm miêu tả là nạn đói lớn nhất của dân tộc ta trong thế kỷ XX xảy ra vào đầu năm 1945 do Nhật – Pháp gây ra. Đã có đến hơn 2 treeiuj người bị chết trong nạn đói này. Những nhân vật và chuyện đói đều được gợi ý từ thực tế mà nhà văn quan sát và có hư cấu thêm. Theo lời nhà văn Kim Lân, “khi viết về cái đói, thường mọi người có ý nghĩ là khi đói người ta cực khổ và chỉ muốn chết. Tôi định viết một số truyện ngắn nhưng ý khác là khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người. Lúc đói người ta phải kiếm sống, thậm chí nhặt rác rưởi, nhặt ốc, nhặt chuột, ăn uống một cách thê thảm nhưng đến tối họ vẫn có một gia đình, gia đình nào về gia đình ấy, vẫn hi vọng một điều gì. Họ vẫn trò chuyện về đồng áng, giỗ chạp, những chuyện hướng về một cái gì là sự sống, đói nhưng không làm cho người ta đen tối, mất hi vọng dù phải cướp cám mà ăn”.

2. Kim Lân nói về tác phẩm Vợ nhặt

Cũng thoe lời Kim Lân nói về Vợ nhặt, “nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cảnh chết. Bóng tối của nó phủ xuống mọi làng. Trong hoàn cảnh ấy giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo chỉ nhờ mấy bát bánh đúc ngoài chợ - đúng là nhặt được vợ như tôi nói trong truyện”.

Về mĩ học của truyện, cần chú ý đến sự kết hợp giữa cái bi và cái hài như là một nhân tố giúp cho câu chuyện về cái đói giảm bớt chất bi thảm, căng thẳng. Đúng như tác giả nói, dù sao con người vẫn có hy vọng vào tương lai.

Về kỹ thuật kể chuyện trong Vợ nhặt, Kim Lân đã từng nói: “Nhân vật do hoàn cảnh của câu chuyện mà nảy ra những tâm tư, hành động, cách xử sự mà tôi không thể định trước”. Đây là tác phẩm, gióng như nhiều tác phẩm văn xuôi hiện đại khác, sử dụng lối kể chuyện hiện đại theo đó, tác giả không định trước tính cách, tâm lý, hành động của nhân vật. Các phương diện của tính cách bộc lộ dần dần theo diễn biến truyện. Cần chú ý phân tích nghệ thuật kể chuyện này.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Phân tích theo nhân vật

          Đúng theo lời tác giả, qua thiên truyện này, một mặt nhà văn muốn ghi lại để tố cáo tội ác Nhật – Pháp gây ra cho đồng bào ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, mặt khác ông gửi gắm một chủ nghĩa nhân đạo lạc quan: giữa đói khổ, người nông dân vẫn khao khát cuộc sống hạnh phúc đời thường, vẫn hy vọng, tin tưởng vào ngày mai tươi sáng. Chủ đề này thể hiện qua ba nhân vật: Tràng, người “vợ nhặt” vô danh và bà cụ Tứ- mẹ Tràng.

          Khung cảnh nền của câu chuyện là nạn đói kinh hoàng bao phủ vùng quê, tập trung ở xóm ngụ cư. “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Các nhân vật sẽ được tác giả xem xét trong khung cảnh hiện thực, “Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy”.

a) Nhân vật Tràng

-     Tràng có địa vị thấp kém ngay cả ở một vùng quê nghèo vì anh là dân ngụ cư. Vì là dân ngụ cư nên gia đình anh không có ruộng đất, hàng ngày phải đi làm thuê.

-     Ngoại hình nhân vật Tràng xấu xí, thô kệch, có vẻ dữ tợn nhưng thực ra hiền lành. “Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ gì vừa lí thú vừa dữ tợn”. Song cách anh phản ứng lại chuyện bọn trẻ con trêu đùa, quấy quả anh lại cho thấy anh hiền lành, củ mỉ cù mì: “Trẻ con trong xóm, cứ thấy cái thân hình to lớn, vập vạp của hắn từ dốc chợ đi xuống là ùa cả ra vây lấy hắn, reo cười váng lên […]. Đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi. Trang chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch. Cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy cứ mỗi chiều lại xôn xao lên một lúc”. Nét tính cách này được nhấn mạnh rõ ràng có ý nghĩa chuẩn bị cho sự việc anh cưu mang người phụ nữ mà anh sẽ “nhặt” về làm vợ.

-     Tràng bị ế vì thân phận ngụ cư hèn kém, nghèo khổ (anh làm nghề kéo xe chở thóc thuê), vì thế, việc Tràng “nhặt” được vợ ngoài đường vẫn làm cho anh thấy bâng khuâng mãi. Tuy vậy, việc Tràng quyết định “nhặt” người phụ nữ làm vợ có hai nguyên do: (1) Tràng sống cô đơn, không hề biết đến tình cảm của người phụ nữ, anh sống như một thân cây khô héo, rất dễ xúc động trước tình cảm này; (2) Tràng có một tấm lòng nhân hậu, giàu lòng bao dung nên sẵn sàng cưu mang một người phụ nữ xa lạ khi người đó hầu như ở vào cảnh đói rét thê thảm. Hia lần quen nhau tưởng như tầm phào song đã lý giải cho hai nguyên nhân đó. Lần thứ nhất, Tràng đẩy xe bò và thị “lon ton chạy lại đẩy xe cho Tràng… Thị liếc mắt, cười tít. Tràng thích lắm. Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế”. Một nét nhân bản quan trọng của tác phẩm hé mở: ẩn bên trong mỗi con người, dù có nghèo khó, cơ cực đến mấy, vẫn là tình yêu, khát vọng sống có hạnh phúc lứa đôi. Đói nghèo không thể làm thui chột tình yêu của con người. Lần thứ hai gặp lại, Tràng không nhận ra thị vì không ngờ thị “xuống mã” nhanh đến thế: “Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Chắc hẳn Tràng động lòng thương nên anh đã “đãi” con ma đói khát đó một chầu bánh đúc, vì đối với thị lúc đó, ăn đang là tiếng thét mãnh liệt nhất của bản năng: “Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả: ăn thật nhá! ừ ăn thì ăn sợ gì! Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp ba bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Nhiều sáng tác trước Cách mạng tháng Tám của Nam Cao cũng thường xuyên đề cập đến cái đói quay quắt như một sức mạnh bản năng làm biến dạng nhân cách con người (Đòn chồng, Trẻ con không được ăn thịt chó,…). Giữa hai người không hề có tình yêu, sợi dây gắn bó họ với nhau là cái đói. Đó là tình cảnh trớ trêu của câu chuyện “nhặt vợ”.

-     Sự khao khát một tình yêu, tình vợ chồng cộng với lòng trắc ẩn thương người đã khiến Tràng quyết định trước khi có suy nghĩ kĩ: “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Nói thế Tràng cũng tưởng là nói đùa, ai ngờ thị về thật. Mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Sau không biết nghĩ thế nào hắn tặc lưỡi một cái: Chậc, kệ!”. Những người lao động ít nói như Tràng thường có quyết định nhanh chóng, ít phân vân, do dự.

-     Hai mảnh đời cư cực đến với nhau thật đơn giản, khiến những ai giàu lòng trắc ẩn cũng buồn đến nao lòng. Họ lấy nhau giữa lúc cảnh chết đói đang lởn vởn đe dọa không chừa một ai. Cảnh “rước dâu” thật bi thảm, giữa một không gian tăm tối, đầy tử khí: “Ngã tư xóm chợ về chiều càng xác xơ, heo hút. Từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp xúp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Tiếng quạ kêu như tiếng gọi của thần chết, như tiếng những oan hồn đói khát đang vẩn vơ đâu đây (có thể liên tưởng so sánh với tiếng quạ kêu kết thúc truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn). Lộ trình của cuộc rước dâu đi qua những cảnh ghê rợn như vậy đấy.

          Nhưng bất chấp hiện thực vô cùng nghiệt ngã, những cảm xúc mới lạ, lâng lâng vẫn xâm chiếm tâm hồn Tràng, không những làm cho anh đẹp hơn, tốt lên mà còn như tỏa chút ánh sáng ấm áp vào xóm ngụ cư tăm tối: “Giữa cảnh tối sầm vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Mặt hắn có vẻ gì đó phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Tràng thích ý khi hai người đi qua xóm ngụ cư dân chúng đứng trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. “Hình như họ cũng hiểu được đôi phần. Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ”. Đó là cái nhìn từ phía những người dân trong xóm ngụ cư. Còn Tràng? Hắn đắc ý khi thấy “thị” ngượng nghịu, lúng túng, “mặt hắn cứ vênh lên tự đắc với mình” (tự đắc vì nhặt được vợ? vì đã cưu mang một người khốn khổ? Tự đắc với chung quanh vì mình cũng có vợ như ai?)

(Tham khảo thêm đoạn văn bị lược đi trong đoạn trích Vợ nhặt của Ngữ văn lớp 12 để hiểu rõ hơn tâm trạng của Tràng mà tác giả dụng công miêu tả: Hành trình đón dâu của Tràng đã đến lối lẽ vào một con đường nhỏ, vắng vẻ, khi không còn nhiều con mắt dòm ngó, đã thoải mái, Tràng còn “định nói với thị một vài câu rõ tình tứ mà chẳng biết nói thế nào”. Tràng, một gã ngụ cư thất học thì làm sao nói nổi một lời văn hoa. Nhà văn Kim Lân tỏ ra có biệt tài về miêu tả tâm lý nhân vật. Ông nhìn thấy chính lúc Tràng muốn nói vài câu tình tứ ấy là lúc trong lòng y trào dâng một cảm xúc nhân bản sâu sắc: “Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng”. Với cảm xúc lâng lâng, lạ kỳ ấy, cuối cùng anh phu kéo xe chở thóc cục mịch cũng tìm được câu “tình tứ” nhất mà anh ta có thể nghĩ ra được nhân cớ mua hai hào dầu. Nhà văn trân trọng ghi lại những câu đối thoại quê mùa ấy vì đó là những giây phút thăng hoa của tình yêu giữa hai con người khốn khổ: “Câu chuyện xem chừng đã thân thân. Hắn đi sát bên thị hơn, ngẫm nghĩ một lúc, chợt hắn giơ cái chai con vẫn cầm lăm lăm một bên tay lên khoe: - Dầu tối nay thắp đây này. – Sang nhỉ. – Khá thôi. Hai hào đấy, đắt quá, cơ mà chả cần. – Hoang nó vừa vừa chứ. Hắn chặc lưỡi: - Vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chả nhẽ chưa tối đã rúc vào ngay, hì hì… - Khỉ gió. Thị phát đánh đét vào lưng hắn, khoặm mặt lại. Hắn thích chí ngửa cổ cười khanh khách”.

-     Sự việc cứ phát triển theo logic nội tại của nó: Mặc dù nạn đói và cái chết đang rình rập xung quanh, sự gắn bó giữa hai con người khốn khổ vẫn đem lịa cho Tràng một niềm lạc quan, yêu đời. Đêm tân hôn của họ diễn ra trong không gian đầy mùi tử khí “mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”. Toàn truyện luôn luôn có sự đối lập giữa cái đói, cái chết và tình yêu, khát vọng sống của con người để rồi ca ngợi chiến thắng của tình yêu và cuộc sống.

Nhưng sáng hôm sau, tỉnh dậy, Tràng thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Tình yêu vợ chồng đã thay đổi cái nhìn cuộc sống nhân vật, có chút gì gợi lại sự chuyển biến cảm xúc, tâm trọng của Chí Phéo sau khi yêu Thị Nở. Tình yêu nhân đạo hóa con người. Hắn thấy mẹ và vợ hắn đang dọn dẹp nhà cửa, cổng ngõ, một cảnh tượng bình dị mà đời hắn chưa được chứng kiến: “Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.

          Trong tâm hồn Tràng có bao nhiêu cảm xúc cao đẹp, đáng trân trọng. Nhưng nếu không có người vợ thì có lẽ chẳng bao giờ trong anh nảy nở những cảm xúc ấy. Và nếu không có nạn đói kém kinh hoàng thì chắc gì anh – một kẻ nghèo khó, xấu xí, thô kệch – lại “nhặt” không được một người vợ! Với Tràng, đúng là hạnh phúc chỉ đến trong đau khổ. Sự sống chẳng bao giờ chán nản.

b)   Nhân vật người “vợ nhặt”

          Nhân vật người Vợ nhặt có vai trò bổ sung cho hình tượng người chồng là Tràng dẫu cho “thị” luôn đóng vai trò thụ động (theo quan niệm trong xã hội có ảnh hưởng Nho giáo thời xưa, chuyện hôn nhân hay tình yêu thường do nam giới chủ động).

          Sở dĩ tác giả không đặt tên cho người phụ nữ này, có thể là vì chị ta lúc đó, ở vào hoàn cảnh đó đã hành động giống như hàng trăm ngàn người phụ nữ khác. Một người phụ nữ vô danh, không có gì nổi bật, đáng chú ý. Thoạt đầu chị ta đến với Tràng không vì tình yêu. Cái đói quay quắt thôi thúc chị ta phải bấu víu vào một ai đó, một người đàn ông nào đó khả dĩ cứu chị ta khỏi chết đói. Và cách tiếp cận, cách bấu víu chung nhất của chị ta là chỏng lỏn, cong cớn, sưng sỉa, liều lĩnh, mặt dày. Đây là nét tính cách đã hình thành trong môi trường bươn chải, kiếm sống gian nan của chị ta. Đó là một cuộc hôn nhân không định trước, nạn đói, chứ không phải tình yêu, đã mai mối cho hai con người khốn khổ đến với nhau, để nương tựa vào nhau, chống chọi lại cơn bão đói. Bà cụ Tứ, mẹ Tràng nghĩ rất đúng: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được”. Một phụ nữ không có gì hấp dẫn về thể hình cũng như tính nết, nhưng vẫn có thể thổi vào tâm hồn Tràng một ngọn gió yêu đời, lạc quan như vậy. Anh cu Tràng khốn khổ khao khát sống có tình yêu và hạnh phúc gia đình biết bao.

Tính cách người “vợ nhặt” cũng có thay đổi: Trước tấm lòng nhân hậu của Tràng và bà cụ Tứ, chị ta đã tìm lại được phẩm chất phụ nữ chưa bị dập tắt hẳn. Vẫn là quy luật tình yêu nhân đạo hóa con người. Sau khi tiếp xúc với mẹ chồng, sau những cử chỉ yêu thương của Tràng, qua đêm tân hôn hạnh phúc, chị ta đã có thay đổi: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh. Không biết có phải vì làm dâu mà thị tu chí làm ăn không?”. Nếu không phải đổi khác vì tình yêu thì chí ít là vì tình người. Những con người khốn khổ ấy cần cho nhau, có thể mang lại hạnh phúc cho nhau, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn thử thách.

c)     Nhân vật bà cụ Tứ

          Để hình tượng bà mẹ Tràng xuất hiện là cách tác giả đưa thêm một điểm nhìn mới đói với việc Tràng lấy vợ. Bà cụ mau chóng hiểu ra chuyện con mình nhặt được vợ thì nghẹn ngào thương hai con. Với sự từng trải, với sự hiểu biết và với lòng yêu thương con, cụ nhìn thấy trong việc con lấy vợ một cái gì đó thật đáng thương, thật ai oán. Đơn giản nhất là bà lo không biết chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không.

          Cụ thương con trai vì nhà nghèo hèn nên chỉ có thể lấy vợ trong lúc đói kém, khó khăn. Cụ lo cho chúng nó sẽ lặp lại cuộc đợi cực khổ dài dằng dặc của vợ chồng cụ trước đây. Và người mẹ không cầm được nước mắt vì nghĩ đến mâm cơm đạm bạc thê thảm của ngày đói sẽ là bữa tiệc cưới mừng hai đứa thành gia thất.

Nhưng vẫn với một tấm lòng trải đời, tấm lòng nhiều xót thương day dứt ấy bà cụ Tứ vẫn dành cho con một sự chăm sóc thật cảm động. Trong bữa cơm, cụ bàn chuyện tương lai: “Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này: - Tràng ạ, khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho xem”. Có lẽ đó là ước mơ thầm kí của cụ về việc sinh sôi nảy nở trong căn nhà của mình. Hình ảnh đàn gà đông đúc có thể gợi liên tưởng đến lũ cháu chắt đông vui của cụ trong tương lai. Và cũng không chỉ bàn hay suy nghĩ, bà cụ còn ‘xăm xăm thu dọn, quét tước nhà cửa. Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”.

          Nhờ có hình tượng bà cụ Tứ mà câu chuyện “nhặt vợ” của Tràng được soi chiếu từ một góc độ mới, làm bật lên các âm hưởng khác nhau: đau buồn và hứng khởi, bi quan và lạc quan, lãng mạn và đời thường. Những cung bậc cảm xúc đa dạng đan xen nhau, thay đổi nhanh chóng trong thời gian trước và sau đêm tân hôn.

          Chuyện anh cu Tràng nhặt vợ là chuyện buồn vui xen kẽ. Liệu cuộc đời vợ chồng Tràng có tái diễn lại cuộc đời của bố mẹ anh không? Câu trả lời dường như bỏ ngỏ, nhưng hình ảnh “những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp” và lá cờ đỏ bay phấp phới kết thúc câu chuyện lại dự báo một tương lai lạc quan hơn. Cách mạng về, cuộc sống mở ra thoe một chiều hướng mới. Những thân phận khốn khổ sẽ tìm thấy lối thoát cho cuộc đời mình ở cách mạng.

2.     Đặc điểm về nghệ thuật

          Như Kim Lân đã tâm sự, khi viết Vợ nhặt, ông không định trước tâm tư, hành động, cách ứng xử của nhân vật. Điều đó có nghĩa là tính cách nhân vật và diễn biến của câu chuyện dần dần bộc lộ trong tiến trình câu chuyện. Tác giả tôn trọng tính khách quan, tính hiện thực của nhân vật. Truyện được kể theo cách không báo trước mà người đọc cũng không thể dự đoán trước mọi diễn biến. Tình huống truyện dần dần hiện ra. Sự bất ngờ gây hứng thú cho người đọc. Một buổi chiều, giữa lúc nạn đói kinh hoàng như một cơn gió độc lan đến xóm ngụ cư, dân xóm bỗng thấy Tràng dẫn một người đàn bà lạ về nhà. Người đói là ai, có quan hệ gì với Tràng, quan hệ đó đi đến đâu, ứng xử của người trong xóm, người trong gia đình Tràng sẽ như thế nào? Những câu hỏi ấy lần lượt được đặt ra và tác giả để cho nhân vật tự dẫn dắt tiến  trình truyện. Đây là điều khác biệt về cách kể chuyện của văn xuôi thời trung đại. Trong văn xuôi thời trung đại, người kể chuyện tỏ ra biết hết, biết trước mọi chuyện và câu chuyện được kể ra như để minh họa cho điều đã biết trước đó. Mở đầu Chuyện người con gái Nam Xương (trích Truyền kỳ mạn lục), Nguyễn Dữ viết: “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thật hòa” (Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2007). Tác giả đã cho biết trước Vũ thị xinh đẹp, nết na, chàng Trương đem trăm lạng bạc cưới về” nhưng có tính hay ghen. Đặc điểm này báo trước bi kịch do lòng ghen thái quá của Trương sẽ gây ra cho Vũ thị.

          Sự kết hợp, đan xen chất bi và chất hài như hai pham trù mĩ học đối lập nhau cũng là một nét đáng chú ý của truyện. Phần đầu truyện, có những cảnh hàm chứa chất hài hước đối lập với sự xám xịt, tăm tối của cảnh chiều tàn trong xóm ngụ cư “tối sầm lại vì đói khát ấy”. Tràng về nhà với một người đàn bà, vừa đi vừa “tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Trẻ con trêu Tràng và người phụ nữa lạ kia với câu nói lái “chông vợ hài”. Tràng nhớ lại cảnh hai người quen nhau với những hoạt cảnh hài hước. Giữa cảnh đói khát đến cơm chẳng có mà ăn, Tràng hò “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này! – Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!”. Rồi thị “cong cớn” nói, chạy “lon ton” lại đẩy xe cho anh. Lần sau, Tràng vỗ túi đựng tiền nói “Rích bố cu” (“rất giàu” hay có thể hiểu nôm nay là “khối tiền đây”). Câu nói bằng tiếng Pháp “bồi”, tức tiếng Pháp nói không chuẩn của người không được học chính quy, bài bản trong tình huống ấy thật hài hước, làm duyên dáng thêm cho cuộc giao duyên vốn rất tầm thường chỉ dừng lại ở “chủ đề ăn uống”. Mấy gã đẩy xe bò mà cũng nói tiếng Pháp cơ đấy! Rồi liệu có được mấy hào trong túi tiền mà khoe khoang? Dẫu sao thì cử chỉ và câu nói đùa của Tràng đã mở đường tiến tới khá táo bạo cho người phụ nữ đói khát với hai con mắt trũng hoáy “sáng lên”… Chất hài giúp cho câu chuyện bớt căng thẳng nặng nề, niềm vui sống vẫn ẩn chứa đâu đây dẫu cho đói khát và cái chết đong lởn vởn quanh họ.

          Điểm nhìn trần thuật cũng là điều cần nhấn mạnh khi viết về nghệ thuật kể chuyện của tác giả. Sự đa dạng, nhiều chiều của điểm nhìn nghệ thuật đã được Kim Lân vận dụng để kể chuyện: khi kể bằng ngôn ngữ tác giả, khi kể bằng ngôn ngữ bình luận của dân xóm ngụ cư, kể cả của trẻ con “chông vợ hài”, khi từ điểm nhìn của Tràng, khi từ điểm nhìn của bà cụ Tứ với ngôn ngữ, tâm trạng riêng của người mẹ từng trải, rất thương con, vừa mừng vừa lo trước cảnh hai đứa con về ở với nhau. Chẳng hạn, những  c âu nói trao đổi qua lại của người dân xóm ngụ cư thắc mắc về người đàn bà lạ theo sau Tràng đã thay thế cho lời dẫn dắt của tác giả - nếu chỉ thuần ngôn ngữ kể của tác giả câu chuyện sẽ đơn điệu, đồng thời tạo ra không gian cho diễn biến câu chuyện. Xung quanh hai người có nhiều người chứng kiến câu chuyện của họ, bình luận về họ, với nỗi niềm vui buồn xen kẽ. Do đó câu chuyện khá phong phú sắc thái thẩm mĩ: trẻ con chỉ nhìn thấy sự hài hước, dân xóm ngụ cư có sự cảm thông, bà mẹ thấy bi thảm, thương xót, Tràng thấy hứng khởi, có thể đùa tếu. Câu chuyện có nhiều đoạn đối thoại giữa các nhân vật làm thay đổi mạch truyện kể.

0
phiếu
0đáp án
634 lượt xem

VỢ CHỒNG A PHỦ

(Trích)

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Tô Hoài sinh năm 1920, tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê nội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội); quê ngoại ở làng Nghĩa Đo, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình thợ thủ công, Tô Hoài chỉ được học hết bậc Tiểu học; trước khi đến với văn chương, ông phải làm nhiều nghề để kiếm sống (bán hàng, làm kế toán hiệu buôn...).

Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam, là nhà văn có biệt tài nắm bắt rất nahnh nhạy những nét riêng trong phong tục, tập quán của những miền đất mà ông đã đi qua.

Năm 1952, Tô Hoài đã cùng với bộ đội tiến quân vào giải phóng Tây Bắc. Đây là cơ hội để ông sống và tìm hiểu đất nước và con người vùng Tây Bắc. Vợ chồng A Phủ là một truyện ngắn trong tập Truyện Tây Bắc – kết quả của chuyến đi Tây Bắc này. Truyện Tây Bắc đã được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam công nhận của truyện ngắn này là ở việc diễn tả nỗi thống khổ của người dân miền núi, đặc biệt là người phụ nữ Mông dưới chế độ thống lí, phìa tạo.

2. Tô Hoài nói về việc sáng tác Vợ chồng A Phủ

Là một truyện ngắn, Vợ chồng A Phủ có những nét đặc sắc trong việc xây dựng nhân vật. Việc phân tích tác phẩm cần bám vào các nhân vật. Đây là câu chuyện xây dựng dựa vào nguyên mẫu có thực. Tô Hoài kể lại: “Truyện Vợ chồng A Phủ tôi viết vào quãng những năm 1952, 1953… thời kỳ ấy, tôi cùng bộ đội và nhân dân bước vào chiến dịch Tây Bắc, giải phóng ba tỉnh Sơn La, Lai Châu và Hoàng Liên Sơn. Bước đường hình thành câu chuyện cùng với nhân vật, tư tưởng nhân vật cứ hình thành dần, đến khi chiến dịch kết thúc thắng lợi thì tôi cũng đã nghĩ xong và viết luôn. Có nghĩa là câu chuyện Vợ chồng A Phủ tôi đã xây dựng bằng mắt thấy tai nghe và cảm nghĩ về những con người và sự việc ấy trong cuộc chiến đấu giải phóng quê hương của các dân tộc thiểu số anh em ở biên giớ Tây Bắc đất nước”.

II-   PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

-     Chủ đề của tác phẩm là số phận đau khổ của người dân dưới chế độ phong kiến ở miền núi và sức mạnh phản kháng tiềm tàng trong những con người – nạn nhân này. Tô Hoài nói về tác phẩm này: “Người dân tộc Mông ở trên núi cao, đã bao đời vất vả. Trong nỗi vất vả phải kể đến cái khổ cùng kiệt, là số phận người phụ nữ. Không chỉ là đói khát, là ngày đêm đi nương kiếm cái ăn và lúi húi trong bếp từ lúc trời chưa tan sương, mà đời một người con gái dân tộc Mông từ ngày bước chân đi lấy chồng là phải dấn mình vào địa ngục khủng khiếp không thể lời nào tả nổi được. Mê tín và thần quyền mà xã hội thời ấy coi là tuyệt đối thiêng liêng đã bắt người đàn bà ấy bán cho “cái ma” nhà ấy rồi và “cái ma” của nhà ấy không bao giờ cho người đàn bà này ra khỏi nhà nữa. Cả đến những trường hợp dã man đến độ dùng tiền bạc và thế lực, đã “cướp” người đàn bà đem về “trình ma”, thế là người đàn bà cũng bị “cái ma” vô hình trói cả đời trong nhà ấy… Những người đàn bà dân tộc Mông trong truyện Vợ chồng A Phủ cũng như Mị trong truyện ấy, tất cả đều đã trải qua những hãi hùng trên. Bao nhiêu khủng khiếp đã qua đi không bao giờ có thể trở lại nữa, nhưng câu chuyện thương tâm, cái đau đời người vẫn còn đọng lại mãi qua mọi thế hệ, như một nhắc nhở. Nhưng điều kì lạ là dẫu trong cùng cực đến thế mọi thế lực của tội ác cũng không giết được sức sống con người. Lay lắt đói khổ, nhục nhã, Mị vẫn sống, âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt… Mị và A Phủ gặp nhau trong một hoàn cảnh thật khốc liệt và éo le. Những số phận con người bên bờ cái chết. Trong nguy hiểm, nhưng khi có cơ hội và có quyết tâm của con người để chống lại cái số kiếp như trời định sẵn, họ đã vùng lên. Và sức mạnh vùng lên cứ phát triển mãi, khi cuộc đời riêng và cuộc sống xã hội mới gặp nhau đã nảy nở một cách tự nhiên” (theo Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Văn học, Hà Nội, 1998). Những ý kiến ấy rất cần thiết để chúng ta hiểu đúng dụng ý của tác giả.

-     Về bố cục, truyện Vợ chồng A Phủ gồm hai nửa như được “ghép lại” với nhau. Ở nửa đầu của truyện, không gian nghệ thuật là ở Hồng Ngài. Nơi ấy thế lực thống trị của bọn chúa đất nắm quyền sinh, quyền sát trong tay, đó là những thống lí, thống quản, xéo phải,… Nơi ấy những con người lao động lương thiện như Mị, A Phủ bị chúng cướp đoạt quyền sống, quyền làm người, phải sống kiếp con rùa, kiếp con trâu, con ngựa – kiếp nô lệ chung thân, truyền kiếp… Bị dồn vào chỗ chết, buộc Mị phải cắt dây cởi trói cứu A Phủ và cả hai bỏ trốn. Nửa thứ hai của truyện, không gian nghệ thuật chuyển sang Phiềng Sa. Ở đây, bọn thực dân Pháp đang thiết lập và củng cố thế lực thống trị mà hiện thân là cái đồn Bản Pe đùn lên đỏ như tổ mối. Nhưng Phiềng Sa cũng là khu du kích, ở nơi ấy Mị và A Phủ thành vợ chồng. Ai cũng gọi họ là “Vợ chồng A Phủ”, họ thành du kích và đấu tranh tự giác để tự giải phóng đời mình dưới sự giác ngộ và lãnh đạo của Đảng mà đại diện là cán bộ A Châu.

a) Thống lí Pá Tra và A Sử - những kẻ đại diện cho chế độ phong kiến ở miền núi Tây Bắc

-     Để hiểu thấu đáo số phận của hai nhân vật chính là Mị và A Phủ, không thể phân tích hia nhân vật Pá Tra và A Sử.

Thống lý Pá Tra là mẫu nhân vật điển hình cho bọn chúa đất ở vùng cao. Chúng có những nét đặc trưng riêng biệt thuộc về dân tộc tính (ngoại hình, lối sống…) nhưng về bản chất chúng không khác với bọn cường hào gian ác ở khắp nơi. Chúng giàu có nhưng keo kiệt, độc ác, trọng của khinh người, tàn bạo.

Pá Tra làm giàu bằng những cách phổ biến của bọn địa chủ, cường hào: cho vay nặng lãi và bóc lột sức lao động của dân nghèo. Cha mẹ Mị vay tiền của Pá Tra mỗi năm phải nộp lãi một nương ngô, lao động suốt đời không đủ trả nợ, đành chấp nhận gán con gái để trả nợ theo yêu cầu của Pá Tra. Vẫn cách thức ấy, Pá Tra biến A Phủ thành nô lệ cho hắn; cho A Phủ phải “vay tiền” của y để nộp vạ cho làng.

Những người vợ trong nhà Pá Tra thực chất là những nô lệ: “con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày”. Thân phận con người còn cơ cực hơn con vật. Đó là lời tố cáo đanh thép tội ác của bọn chúa đất phong kiến trên vùng cao Tây Bắc.

Tuy giàu có, ăn chơi hoang phí nhưng Pá Tra và con trai A Sử keo kiệt và khinh rẻ con người. Tính mạng và nhân phẩm con người bị chúng chà đạp dã mạn, không thương xót. Mị bị A Sử trói trong đêm mùa xuân. Trong nhà Pá Tra đã từng có người phụ nữ là vợ bị trói bỏ mặc ba ngày và chết. Mị cũng đã có thể bị mặc cho đến chết nếu như A Sử không bị đánh và cần có Mị đi hái thuốc. A Phủ bị chúng bắt về hành hạ, đánh đập và biến thành đứa ở, rồi cũng vì mất một con bò trong hàng trăm con bò mà A Phủ bị trói bỏ mặc và nếu không có Mị táo bạo cắt dây trói giải thoát thì đã chết.

-     Nghệ thuật miêu tả: Mặc dù đây không phải là những nhân vật chính, song với một số phác họa, Tô Hoài đã dựng chân dung chúng rất sống động, rất thật, khiến người đọc phẫn nộ, căm giận.

A Sử độc ác, không có tình người. Mị là vợ hắn nhưng “Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết”. Và Tết này, Mị muốn đi chơi thì y trói Mị vào cột: dùng dây lương trói hai tay, dùng cả một thúng sợi đay trói đứng Mị vào cột nhà, lại quấn cả tóc Mị lên cột. Mị không thể cúi hay nghiêng đầu được! Thật là sự cực tả cái lối trói người của A Sử, một kẻ lạnh lùng coi tính mạng và phẩm giá của con người như cỏ rác. “Đời trước, ở nhà thống lí Pá Tra có một người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi”.

Nhân vật Pá Tra có chân dung rõ hơn. Cái cách kết hợp hút thuốc phiện và đánh đòn thù A Phủ là một cách hành hạ con người thật độc đáo. Nếu coi tiệc hút thuốc phiện do Pá Tra tổ chức là một lối hưởng lạc phổ biến của bọn cường hào vùng núi thời ấy thì việc hắn cho người đánh A Phủ cũng là một kiểu “nhấm nháp” lạc thú. “Cứ mỗi đợt bọn chức việc hút thuốc phiện xong, A Phủ lại phải ra quỳ giữa nhà, lại bị người xô đến đánh”, “Khói thuốc phiện ngào ngạt tuôn qua các lỗ của sổ. Rồi Pá Tra lại ngóc cổ lên, vuốt tóc, gọi A Phủ,… Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút”. Với “khát vọng” trả thù những ai dám xúc phạm uy danh của chúng, những ai xâm phạm lợi ích, uy tín của chúng, bọn cường hào không mảy may động lòng trước nỗi đau khổ hay thậm chí là cái chết của người dân. Tô Hoài đã dụng công tả “phiên tòa” tên Pá Tra thiết lập để xử phạt A Phủ. Hắn tuyên bố: “A Phủ, mày đánh con quan làng, đáng nhẽ làng xử mày tội chết, nhưng làng tha cho mày được sống mà nộp vạ. Cả tiền phạt, tiền thuốc, tiền lợn, mày phải chịu một trăm bạc trắng. Mày không có trăm bạc thì tao cho mày vay để mày ở nợ. Bao giờ có tiền giả thì tao cho mày về, chưa có tiền giả thì tao bắt mày làm con trâu, con ngựa cho nhà tao. Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi”. A Phủ “sờ lên đồng bạc trên tráp”, nhặt đồng bạc lên rồi lại đặt ngay xuống tráp và Pá Tra trút cả bạc vào trong tráp! Các “quan làng” tiệc tùng trên đau khổ của A Phủ. Tập trung đặc tả cảnh quan làng bắt vạ A Phủ là cách tác giả dồn nén tình huống đến độ căng thẳng, chuẩn bị cho sự bứt phá bột phát của cả hai nhân vật – nạn nhân là Mị và A Phủ.

Cách Pá Tra trói A Phủ cũng là một đoạn phản ánh rõ nét tính cách tàn nhẫn và khinh bạc của hắn. Hắn buộc A Phủ phải tự đi tìm cọc, kiếm dây mây, tự tay A Phủ chôn cọc gỗ sẵn sàng để hắn trói. Cách trói của Pá Tra cũng là cách của A Sử, chỉ để lại cổ và đầu là hơi lúc lắc được. Khi phát hiện A Phủ có ý đồ tự cởi trói, hắn thêm một thòng lọng vào cổ, để A Phủ không cúi, không lắc được nữa. Trói người là một cách giam cầm, tù đày độc đáo của bọn cường hào miền núi.

Dưới ách thống trị của bọn cường hào như thống lí Pá Tra, số phận của người dân thật vô cùng đau khổ, nhưng cũng chính chúng đã đẩy người dân bị áp bức đến chỗ vùng đậy.

b) Mị - biểu tượng của nỗi đau khổ về thể chất và tinh thần

Xuất hiện lần đàu trước mắt bạn đọc là lúc Mị lấy A Sử làm chồng, mặc dù cô không hề yêu hắn và hắn cũng chẳng có tình yêu với cô: “Không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau”. Đó là nỗi khổ tâm lớn nhất của người con gái đang bước vào đời với bao mơ ước, hi vọng như Mị. Cô từng nói với bố đừng bán cô cho nhà giàu, rằng cô sẵn sàng làm nương ngô để trả nợ. Khi bị A Sử lừa bắt cóc đưa về, Mị có ý định tự tử bằng lá ngón rồi nghĩ đến món nợ truyền kiếp của gia đình mình, cô lại dằn lòng. Giữa Mị và A Sử không thấy nói đến tình cảm vợ chồng, với tình yêu hay tình nghĩa. Thực chất Mị chỉ là con ở, là tôi đòi.

Lao động nặng nhọc, liên miên trong nhà Pá Tra đã tạo nên tâm lý an phận, cam chịu thân phận nô lệ của Mị. “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phỉa đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi”. Tưởng chừng như mọi ý chí phản kháng đã tê liệt

Ở trong nhà Pá Tra, Mị chỉ là một thân phận nữ tù nhân. Cái buồn cô ở tăm tối là biểu trưng cho không gian tù hãm, bế tắc của một mảnh đời bị giam hãm trong tù ngục: “Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó của. Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông vằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi”. Một cái lỗ vuông nhỏ nhìn ra không gian núi rừng bao la nói lên thân phận tù hãm này. Thân phận Mị là thân phận của người bị kết án tù chung thân. Tâm trạng một cô gái quan lớn lên trong không gian bao la, tự do của núi rừng nay bị giam cầm trong căn buồn nhỏ hẹp như chiếc xà lim.

Nghệ thuật miêu tả nhân vật của Tô Hoài có nét đặc sắc riêng. Có hai phương thức mà ông sử dụng nhất quán trong toàn câu chuyện: (1) Nhìn nhân vật bằng cái nhìn của người bên ngoài để cho cái nhìn đó có tính khách quan; (2) Nhìn nhân vật từ bên trong nhân vật đó (tác giả hóa thân vào nhân vật). Ngay từ trong phần đầu truyện, ông đã cho thấy thế mạnh của lối miêu tả nhân vật này:

          + Câu chuyện về thân thế, cuộc đời Mị được dân làng kể lại: “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa cạnh tàu ngựa…”. Cách dẫn chuyện thông qua lời nét đặc biệt của phong tục tập quán, lối sống, lối cảm nghĩ, lối nói của người dân miền núi. “Cô Mị về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ ngày nào cô cũng không nhớ, cũng không ai nhớ. Nhưng người nghèo ở Hồng Ngài thì vẫn còn kể lại câu chuyện Mị về làm người nhà quan thống lí”. Thì ra câu chuyện về cuộc đời thống khổ của Mị là câu chuyện lan truyền rộng rãi cả vùng, là mối quan tâm của cả làng. Đây là lối dẫn chuyện mang dáng dấp của lối kể chuyện cổ tích, hứa hẹn một cốt truyện hấp dẫn.

          + Mị được miêu tả bằng cái nhìn của chính nhân vật từ bên trong nhìn ra. Tâm lý nhân vật được tác giả quan tâm nhiều hơn là hành động. Đây là cô gái dân tộc Mông cảm và nghĩ nhiều hơn là nói nên nhà văn hạn chế tả chân dung ngoại hình, hâu như không sử dụng phạm trù ngôn ngữ nhân vật mà để cho nhân vật tự thể hiện mình bằng các giác quan (cảm nhận) và tâm trạng. với cách này, Tô Hoài đã diễn tả được những nét tâm trạng, xúc ảm khó diễn tả, nhất là xúc cảm của cô gái đang yêu: “Đến tết năm ấy, Tết thì vui chơi, trai gái đánh pao, đánh quay rồi đêm đêm rủ nhau đi chơi. Những nhà có con gái thì bố mẹ không ngủ được vì tiếng chó sủa. Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách. Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị. Một đêm khuya, Mị nghe tiếng gõ vách. Tiếng gõ vách hò hẹn của người yêu. Mị hồi hộp lặng lẽ quơ tay lên thì gặp hai ngón tay lách qua khe gỗ, sờ một ngón thấy có đeo nhẫn. Người yêu của Mị thường đeo nhẫn ngón tay ấy. Mị bèn nhấc tấm vách gỗ. Một bàn tay dắt Mị bước ra”. Mị đã có người yêu song đã bị A Sử đánh lừa. Tình huống bắt cóc Mị liên quan đến phong tục cướp vợ của các dân tộc trên vùng cao tạo nên hứng thú cho người đọc.

Phần thứ hai của truyện dành để diễn tả sự trỗi dậy của khát vọng sống âm ỉ từ đáy sâu tiềm thức của Mị.

          Mặc dù thân phận nô lệ, tù đày, mặc dù nỗi buồn khổ, tủi nhục đã biến Mị thành một cái bóng lặng lẽ, âm thầm, trong con người Mị, vẫn âm ỉ một khát vọng sống, sống có tình yêu và hạnh phúc. Bao nhiêu năm tháng trôi qua, bỗng một ngày hội mùa xuân, khát vọng ấy bùng dậy. Diễn tả diễn biến tâm trạng của tác giả.

Bối cảnh nền cho tâm trạng mới của Mị là không khí náo nức của ngày hội mùa xuân. “Trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi tren mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ […]. Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi”. Màu sắc tươi sáng và âm thanh rộn rã tạo cho không gian núi rừng ngày Tết một sức cuốn hút náo nức. Mùa xuân ở bất cứ dân tộc nào cũng tượng trưng cho tình yêu, tuổi trẻ, sức sống mạnh mẽ.

          Không quan tâm nhiều đến việc miêu tả ngoại cảnh. Tô Hoài dành tâm huyết chăm sóc cho thế giới nội tâm nhân vật. Nhân vật được thể hiện từ bên trong chứ không qua lời người dẫn chuyện. người kể chuyện đã ẩn đi để nhân vật tự trình hiện: “Mị nghe tiếng sao vọng lại, thiết tha bổi hổi. Mị ngòi nhẩm thầm bài hát của người mình thổi:

Mày có con trai con gái rồi

Mày đi làm nương

Ta không có con trai con gái

Ta đi tìm người yêu

Tưởng như Mị đã khô héo từ lâu vì buồn khổ. Nhưng không, tiếng sao gọi người yêu đã đánh thức con tim của mọt thiếu phụ làm vợ mà không có tình yêu, đưa chị trở về với những ngày hội xuân, về tình yêu một thuở. Từ đây, mọi tâm trạng và hành động của Mị đều phục tùng logic của hồi tưởng. Cô như đắm mình trong miền hồi tưởng, hồi ức về ngày hội mùa xuân, về người yêu. Tiếng sao có vai trò lý giải các diễn biến tâm trạng của Mị. “Tai Mị văng vẳng tiếng sao gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”. Ngoài kia, sự sống chẳng bao giờ chán nản, cuộc sống vẫn diễn ra theo nhịp điệu của nó khiến Mị đã quên đi mình đang bị trói. Uống rươu không phải là điều xa lạ với Mị. Các cô gái Mông về mùa xuân vẫn uống rượu. Mị uống ừng ực từng bát và chất men say làm cho cô có tâm trạng lâng lâng hứng khởi. Nhưng quan trọng hơn là chất men say của kỉ niệm đẹp: “Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi […]. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lơ lửng bay ngoài đường”. Tiếng sao gọi người yêu ám ảnh, thôi thúc, dẫn đến hành động, ban đầu là một hành động nho nhỏ: “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Đây là chi tiết có ý nghĩa. Mị đã có ý định thay đổi một cái gì đó, dù là chỉ làm cho căn nhà sáng lên. Kỉ niệm cũ đã thổi hồng bếp than vùi dưới tro. Lúc này, Mị không có ý nghĩ nào khác là thoát ra với không gian hội hè tự do ngoài kia. Chỉ có tâm trạng và hành động: “Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi. Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách”. Câu văn ngắn, nhịp điệu gấp rút, khẩn trương, các ý nghĩ thoáng qua và hành động tiếp nối nhau nhanh gấp.

Niềm khao khát sống trong tình yêu hạnh phúc trỗi dậy cũng nồng nan men rượu. Nhưng giả thử không có men rượu thì tiếng sáo gọi bạn tình yêu ấy cũng đủ làm cô thổn thức. A Sử đã trói chặt cô lại nhưng cô đâu có để ý đến việc bị trói, cho dù là trói một cách độc ác. “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sao đưa Mị đi theo những cuộc chơi”. Cả một thời con gái sống dậy mạnh mẽ trong cô. Quên thực tại đang bị trói một cách ê chề, trong đầu Mị là những âm thanh, những hình ảnh, những cảm xúc năm nào : “Chó sủa xa xa. Chừng đã khuya. Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi. Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi.

Cả đêm ấy Mị phải trói đứng như thế. Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại đau nhức. Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ. Hơi rượu tỏa. Tiếng sao. Tiếng chó sủa xa xa. Mị lúc mê, lúc tỉnh”. Toàn bộ đoạn văn này miêu tả nhân vật từ điểm nhìn của chính nhân vật.

Tại sao bao năm trước đó, vẫn là cảnh mùa xuân như thế nhưng tâm hồn Mị vẫn nín lặng và chính là mùa xuân này Mị mới sống lại với khát vọng sống thật mạnh mẽ? Thật khó mà trả lời, song chỉ có một điều chắc chắn: sự dồn nén qua năm tháng đã đến độ bùng nổ, một khi khát vọng ấy trỗi dậy, nó sẽ không chết đi. Từ thời điểm này, Mị đã khác. Khi tỉnh dậy, Mị có cảm giác sợ - sợ cái chết. “Mị chợt nhớ lại câu chuyện người ta vẫn kể: đời trước, ở nhà thống lý Pá Tra có một người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi. Nhớ thế, Mị sợ quá, Mị cựa quậy, xem mình còn sống hay chết”. Sợ chết vì cô vẫn muốn sống, vẫn hy vọng mơ hồ về cuộc sống, về tình yêu, hạnh phúc. Cô khao khát sống.

Mặc dù bọn cường hào miền núi Pá Tra đã đàn áp ý chí tự do của con người, đã biến con người trong tay chúng thành nô lệ, thành tù nhân nhưng phần lương thiện tốt đẹp của con người vẫn sống. Số phận bi thảm của cô không làm lu mờ chủ nghĩa nhân đạo lạc quan của tác giả. Một mặt, nhà văn tố cáo chế độ phong kiến ở miền núi, mặt khác vẫn giữ niềm tin vào sức sống mãnh liệt của nạ nhân của chế độ này.

Mị cắt dây trói cho A Phủ rồi cùng A Phủ chạy trốn khoải nhà Pá Tra là sự phát triển logic của diễn biến tâm trạng trong Mị. Không phải ngẫu nhiên thân phận thống khổ của A Phủ được diễn tả từ điểm nhìn của Mị. Nếu như ý muốn đi chơi ngày xuâ của Mị là kết quả logic của diễn biến tâm trạng trong cô thì quyết định cắt dây trói cứu A Phủ là do sự động lòng trắc ẩn, sự cảm thông. Lòng thương dân và thương người, sự căm ghét bọn thống trị tàn ác đã giúp Mị vùng lên.

Lúc đàu, hành động của Mị khiến ta có cảm tưởng thân phận nô lệ, tù hãm đã làm cho Mị dửng dưng, lạnh nhạt với xung quanh. Đêm nào Mị cũng dậy thổi lửa hơ tay, hơ lưng vì trời rất lạnh. A Phủ vẫn bị trói, mở mắt trừng trừng “Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”. Nhưng lòng thương người của cô cũng giống ngọn lửa kia, đến một lúc rồi bùng cháy lên. Ấy là lúc “Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Cô liên tưởng đến thân phận mình đã có lúc suýt chết trói, đến thân phận của một người đàn bà đã từng bị chết trói như thế và lo cho A Phủ: “Cơ chừng này chỉ đem mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”. Mị cũng nghĩ đến lúc A Phủ trốn được, cô phải trói thay vào đấy, song “trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ”. Mị không sợ vì tình thương và sự căm phẫn đã át hết nỗi sợ chết. Cô đã cắt dây trói gỡ cho A Phủ. Hai tù nhân, nô lệ của nhà Pá Tra đã chạy trốn tìm tự do. Các sự việc diễn ra liên tiếp, ngoài dự kiến của Mị: từ ý nghĩ “phảng phất” về cái chết đang lơ lửng trên đầu “người kia” (A Phủ), ý nghĩ về việc mình sẽ bị trói thay vào cọc vì A Phủ trốn được đến chỗ cô rón rén tiến đến cắt dây trói, sua đó cùng A Phủ bỏ chạy. Nhưng đó cũng là phép biện chứng của tâm hồn: một hành động có tính chất bùng nổ, quyết liệt như thế, phải là kết quả của một quá trình phát triển tiệm tiến của tâm trạng, cảm xúc, tư tưởng. Tô Hoài nói: “Vẻ đẹp của một tâm hồn con người, bao giờ cũng vậy, một tấm lòng, một tinh thần vị tha, một hành động không phải chỉ vì mình, đấy mới trở thành những câu chuyện đời đời nhớ mãi”. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ có dáng dấp của một thiên phân tích tâm lý sắc sảo, tinh tế. Những dồn nén của thân phận bị chà đạp, đã đẩy đến những hành động quyết liệt trong giây lát, quyết định hướng đi của cuộc đời và chính nhân vật cũng không dự tính trước.

c) A Phủ - một phương diện khác về thân phận người dân dưới chế độ phong kiến ở miền núi

Tuy A Phủ không phải là nhân vật chính của câu chuyện nhưng hình tượng A Phủ cũng góp phần làm hoàn chỉnh hơn nhận thức về nỗi thống khổ của con người ở vùng núi Tây Bắc trước Cách mạng.

-     A Phủ có một thân phận nghèo hèn: mồ côi cha mẹ, một thân một mình, bị đem bán đổi thóc rồi trốn đi làm cho nhà người. Hình bóng quen thuộc của nhân vật đứa con mồ côi bất hạnh vốn rất quen thuộc trong truyện cổ tích

-     A Phủ lớn lên trở thành một thanh niên có sức khỏe, có nhiều khả năng lao động, là niềm mơ ước thầm kín của nhiều cô gái. Tuy nghèo hèn “không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc” nhưng A Phủ vẫn sống cuộc sống hồn nhiên của tuổi trẻ. “Tuy nhiên, đang tuổi chơi, trong ngày Tết đến, dù A Phủ chẳng có quần áo mới như nhiều trai khác, A Phủ chỉ có độc một chiếc vòng vía lằn trên cổ, A Phủ cũng cứ cùng trai làng đem sáo, khèn, đem con quay và quả pao, quả yến đi tìm người yêu ở các làng trong vùng”.

Điều đáng chú ý là A Phủ sớm có lòng quả cảm, anh biết căm ghét sự hống hách của bọn có quyền thế và dám táo bạo chống lại chúng. Cảnh A Sử bị A Phủ trừng trị thật sinh động: “Một người to lớn chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử. Con quay gỗ ngát lăng vào giữa mặt. Nó vừa kịp bưng tay lên, A Phủ đã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp”. Chi tiết nắm vòng cổ A Sử rất có ý nghĩa vì A Sử là con nhà quan – tầng lớp thống trị, có “nạm vòng bạc ở cổ rủ xuống những tua chỉ xanh đỏ mà chỉ riêng con quan trong làng mới được đeo”. A Phủ có những phẩm chất tốt đẹp của người lao động chân chính, có tiềm năng cách mạng. Thực ra, việc anh đánh A Sử chỉ là hành động bột phát trong giây phút, nếu phải cân nhắc kĩ thì chưa chắc A Phủ dám đánh con quan. Nhưng trong giây phút, lương tâm của chàng đã kêu gọi hành động vì chính nghĩa ấy.

Nhưng sự chống đối tự phát, đơn độc của pa chỉ là nguồn gốc của nỗi thống khổ và bất hạnh của anh. Không phải A Phủ cam chịu mà là có cả một bộ máy đàn áp, trả thù sự chống đối của anh. Việc Pá Tra điên cuồng trả thù A Phủ một mặt tố cáo sự độc ác, dã man của bọn cường hào vùng núi, tốt cáo thân phận thống khổ của con người lương thiện dưới chế độ thống lí, phìa tạo, mặt kahcs cho thấy một bài học: Nếu đấu tranh đơn đọc, không có tổ chức thì mọi sự chống đối đơn độc chỉ dẫn đến thất bại. Đó là bài học cách mạng vỡ lòng cho những ai muốn thủ tiêu chế độ phong kiến thực dân, giải phóng cho cuộc đời mình.

Vợ chồng A Phủ là một truyên ngắn thành công của Tô Hoài. Ý nghĩa nhân đạo và ý nghĩa cách mạng đã được nhà văn chuyển tải tới người đọc bằng một nghệ thuật xây dựng nhân vật tinh tế, đặc sắc. Chúng ta có dịp hiểu hiện thực đen tối của xã hội phong kiến miền núi và do đó hiểu được ý nghĩa vĩ đại mà cách mạng đã đem đến cho người dân vùng núi Tây Bắc này.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

-     Về không gian, tác giả đã khắc họa hai loại không gian: không gian tù túng bên trong căn nhà Pá Tra như là địa ngục, đối lập với không gian tự do, đày âm thanh, màu sắc của ngày xuân; không gian truyện (cảnh sắc Tây Bắc ngày hội xuân; con người với phong tục tập quán đặc sắc; hình ảnh những người Mông ít thuyết lí, thiên vè hành động,…) cũng ghi dấu ấn đặc trưng về văn hóa và con người Tây Bắc, tạo nên sự hấp dẫn cho độc giả miền xuôi.

-     Về thời gian, tác giả đã chọn được những điểm thắt nút căng thẳng nhất để dừng lại miêu tả: như khi Mị cầm nắm lá ngón định chết, khi A Sử trói Mị, khi bọn quan làng phạt vạ A Phủ, đặc biệt là thời điểm tình huống có tính bùn nổ để câu chuyện chuyển sang hướng khác – Mị cắt dây trói cho A Phủ rồi hai người cùng chạy trốn. Nhiều năm trôi qua nhưng không có sự kiện gì nổi bật thì bị tác giả lướt qua – nén lại. Đến đêm hội mùa xuân năm ấy, chỉ trong thời khắc một đêm, trong đêm, chỉ trong giây lát, mọi sự việc diễn ra rất nhanh. Mị cắt dây trói cho A Phủ, A Phủ khụy xuống, rồi vùng dậy, chạy, Mị cũng “vụt chạy ra”, hai người lao nhanh xuống dốc núi. Cách chọn không gian – thời gian như vậy rất tương đồng với nghệ thuật xử lý không gian – thời gian của điện ảnh.

0
phiếu
0đáp án
222 lượt xem

Có thể nói Nguyễn Duy và Nguyễn Minh Châu là hai cây bút tiêu biểu cho văn học Việt Nam từ năm 1954 đến nay. Mỗi tác phẩm của họ đều để lại những dấu ấn sâu sắc, những âm vang dậy lên trong ta sự xúc động chân thành.

Trong văn học thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Nguyễn Duy và Nguyễn Minh Châu đã rất thành công trong cảm hứng ngợi ca đất nước và nhân dân anh hùng. Từ sau năm 1975 đến nay, đất nước từng bước chuyển mình để đi đến sự đổi mới toàn diện.

Trên cái nền hiện thực ấy, Nguyễn Duy và Nguyễn Minh Châu đã hướng ngòi bút của mình vào các vấn đề có tính chân thực cao về đời sống xã hội. Một trong những đề tài được quan tâm là sự tự thức tỉnh, tự giáo dục để hoàn thiện vẻ đẹp nhân cách.

Đọc tác phẩm “Ánh Trăng” của Nguyễn Duy và “Bến Quê” của Nguyễn Minh Châu, ta cảm nhận sâu sắc bài học làm người mà mỗi tác giả đã gửi gắm trong hành trình tìm về nguồn cội và cuộc đấu tranh tự vấn lương tâm để thức tỉnh chính mình.

Đôi khi giữa cuộc sống phồn hoa đô hội, con người với đầy đủ những tiện nghi sinh hoạt hiện đại, sang trọng, bị cuốn hút bởi nhiều thú vui mới lạ, hấp dẫn dễ đánh mất đi những gì đẹp đẽ thân thương của quá khứ mà đáng lẽ phải trân trọng nâng niu, yêu quý. Ta đã bắt gặp điều ấy qua “Ánh Trăng”. Bài thơ đã đạt giải A trong cuộc thi thơ do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. “Ánh Trăng” là lời nhắc nhủ về những tháng năm gian lao mà anh dũng, nghèo khổ mà nồng ấm tình thương cuả cuộc đời người chiến sĩ gắn bó với thiên nhiên, với con người bình dị, hiền hậu, Nguyễn Duy đã gợi nhớ một miền ký ức thẳm sâu:

  “Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”

Dù sống ở “đồng”, ở “sông” hay ở “bể” ở “rừng” thì đi đâu nhân vật trử tình “Ta” cũng có “Trăng” bầu bạn. Quan hệ giữa Vầng Trăng – Ta là quan hệ tri kỉ. Không gian “Đồng” “Sông” “Biển” “Rừng” gợi nhớ quá khứ gian khổ. Ở đó Vầng Trăng đã trở thành máu thịt của Ta:

“Ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”

Từ Vầng Trăng Tri kỉ đến Vầng Trăng Tình nghĩa là quá trình gắn bó sâu nặng khẳng định một tình cảm vững bền tưởng như không bao giờ thay đổi. Thế nhưng, “người ta định rồi chẳng bao giờ người ta làm được” (lão Hạc – Nam Cao).

Nhân vật trữ tình trong Ánh Trăng đã như thế!

“Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
Vầng Trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường”

Từ Vầng Trăng Tri kỉ, Vầng Trăng Tình nghĩa nay đã biến thành Vầng Trăng người dưng! Qủa là một sự thay đổi không thể lường trước. Một sự phản bội?

Điều gì đã làm nên sự phản bội đáng xấu hổ ấy? Phải chăng là sự đổi thay về môi trường sống: Từ miền gian khổ thiếu thốn, khó khăn về nơi đầy đủ, sung sướng? từ giữa thiên nhiên mộc mạc chân chất.

“Trần trụi với thiên nhiên 
hồn nhiên như cây ảo”

Về với “Ánh điện cửa gương:…? phải chăng “có mới, nới cũ”? Lối sống mới, cuộc sống mới với bao nhiêu cái mới đã làm cho Ta quên đi Ánh Trăng quá khứ, đúng là sự tự cắt bỏ đi một phần máu thịt của chính mình! Thế nhưng, “cuộc đời vốn đa sự, con người vốn đa đoan” chỉ đến khi trong cuộc sống gặp trắc trở khó khăn thì Ta mới có dịp để nhìn lại chính mình:

“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn – đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”

Chính trong lúc khó khăn ấy của cuộc sống, Vầng Trăng, lại đột ngột xuất hiện trọn vẹn, thủy chung. Đối diện với “trăng tròn vành vạnh” là sự đối diện với sự vẹn tròn chân thật, yêu thương và ấm áp. Đối diện với lòng độ lượng, khoan dung của quá khứ ân tình, ân nghĩa Ta chợt thấy giật mình:

“Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”

Nhân vât trữ tình trong bài thơ “giật mình” hay chính Ta cũng phải giật mình. Hãy cảnh tỉnh mình khi chưa quá muộn!

Bài thơ như một lời tự sự của chính tác giả, như một lời tự sự của chính mỗi chúng ta, nhắc nhở ta về thái độ sống “uống nước, nhớ nguồn”, thủy chung cùng quá khứ.

Cũng là một bài học làm người, Nguyễn Minh Châu qua tác phẩm “Bến Quê” để lại trong ta những trăn trở, những suy ngẫm sâu xa mang tính triết lý.

“Bến Quê” được đánh giá là một trong những tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn đổi mới nền văn học. Có nhà văn cho rằng, ông là người mở đường tinh anh và tài năng đã đi được xa nhất.
Bài học làm người ta bắt gặp trong “Bến Quê” được gởi gắm qua nhân vật trữ tình – tư tưởng: nhân vật Nhĩ với nhiều nghịch lí trong cuộc đời.
Nhĩ là con người từng trải, có địa vị, đi rộng, biết nhiều. Bao cảnh đẹp chốn gần xa, của ngon vật lạ trên thế giới anh đều được thưởng thức: “Suốt cả đời Nhĩ đã từng đi không sót một xó xỉnh nào trên trái đất”. Thế mà những cảnh vật gần gũi nơi bến quê: “Cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông Hồng đang phô ra trước khuôn cửa sổ gian gác nhà Nhĩ như một thứ vàng thau xen lẫn màu xanh non. Những màu sắc thân thuộc quá như da thịt như hơi thở của đất mỡ màu” thì mãi cuối cuộc đời khi bị cột chặt trên giường bệnh Nhĩ mới nhận ra! Cũng như lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên – vợ anh mặc tấm áo vá! Hình ảnh người vợ tảo tần giàu đức hy sinh làm Nhĩ thật sự cảm động. Đó là tiếng lòng, tiếng đau thương mà không phải lúc nào anh cũng nghe cũng cảm được. Đến bây giờ Nhĩ mới khám phá ra vẻ đẹp của bến quê ư! Đến bây giờ Nhĩ mới thấy Liên mặt áo vá ư! Tại sao vậy? Phải chăng vì quá mãi mê khám phá những gì xa xôi mới mẻ mà anh đã bỏ quên đi điều gần gũi thân thương và rất đỗi thiêng liêng!

Khát vọng cuối cùng của Nhĩ lúc biết mình sắp từ giả cõi đời là muốn đặt chân lên mảnh đất ở bãi bồi bên kia sông, nơi ấy có bến quê của anh Nhĩ… Anh không thể tự mình làm được điều đó. Bởi vì “nhấc mình ra được bên ngoài phiến nệm nằm, anh tưởng mình như vừa bay được nửa vòng trái đất”. Anh đã phải cậy nhờ Tuấn – con trai anh làm điều ấy. Tuấn là sinh viên học tại một trường đại học ở tận một thành phố phía Nam đã miễn cưỡng nhận lời cha. Thế nhưng, lời cầu xin tha thiết và thái độ khẩn khoản của người cha ốm đau tội nghiệp đã bị anh bỏ quên ngay sau đó. Anh đã rơi vào trận chơi phá cờ thế trên vỉa hè và để lỡ mất chuyến đò duy nhất trong ngày về bãi bồi phía bên kia, để lỡ mất cơ hội duy nhất thực hiện ước nguyện của người cha đáng kính!

“Suốt đời Nhĩ cũng từng chơi phá cờ thế trên nhiều hè phố, thật không dứt ra được. Không khéo rồi thằng con trai anh lại trễ mất chuyến đò trong ngày. Nhĩ nghĩ một cách buồn bã, con người ta trên đường đời thật khó tránh khỏi được những cái điều vòng vèo hoặc chùng mình, vả lại, nó đã thấy có gì hấp dẫn ở bên kia sông đâu? Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều kiện riêng anh khám phá thấy như một niềm say mê pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích hết”. Những suy nghĩ mang tính trải nghiệm của Nhĩ làm cho ta cảm thấy day dứt trăn trở! Làm sao để thoát khỏi “cái điều vòng vèo chùng chình” trong cuộc sống? Trong cuộc đời? Bởi vì chính cái điều vòng vèo chùng chình ấy mà Nhĩ đã đau đớn ân hận vào giờ phút cuối cuộc đời! Và Tuấn – con trai anh rồi sẽ đau đớn ân hận bên linh cữu của cha! Và cả chúng ta nữa, chúng ta cũng có thể như thế!

Bài học làm người mà Nguyễn Minh Châu gửi gắm trong “Bến Quê” thật là sâu sắc!

“Ánh Trăng” và “Bến Quê” – hai tác phẩm với hai thể loại khác nhau nhưng cả hai là bài học quý giá cho mỗi chúng ta. Mắc-xim-gor-ki đã từng nói: “Văn học là nhân học”. Học văn là học về con người, học cách làm người!

Cám ơn Nguyễn Duy, cám ơn Nguyễn Minh Châu bằng văn học nghệ thuật đã cho ta bài học đạo lý làm người. Đó là hành trang sống của mỗi chúng ta để ta vững bước trên đường đời. Đúng là: “Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẻ cho ta đường đi mà nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng ta, khiến ta phải tự bước lên con đường ấy (Nguyễn Đình Thi, Tuyển tập, Tập II – Nhà Xuất bản Văn học)
Sưu tầm 
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

1. Yêu cầu về kĩ năng:

_ Biết cách làm một bài nghị luận văn học để cảm nhận tác phẩm về nội dung, nghệ thuật

_ Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp, dùng từ

2. Yêu cầu về kiến thức:

Trên cơ sở hiểu biết, thí sinh trình bày theo nhiều cách nhưng cần nêu được những ý chính sau:

1. Tác giả, tác phẩm:

- Tác giả: Nguyễn Tuân là nhà văn mang phong cách tài hoa, uyên bác

- Tác phẩm: “Chữ người tử tù” rút ra từ tập “Vang bóng một thời” (1940), không chỉ thành công về nội dung mà còn có những nghệ thuật đặc sắc, nhất là tạo tình huống truyện độc đáo.
2. Phân tích cụ thể:

- Tìm hiểu về tình huống truyện trong tác phẩm tự sự, trong “Chữ người tử tù”

+ Sự gặp gỡ giữa những tâm hồn yêu cái đẹp trong hoàn cảnh éo le, đầy kịch tính.

+ Quản ngục, thơ lại là người có quyền trong nhà tù – Huấn Cao, phạm nhân đều hướng về cái đẹp của nghệ thuật thư pháp

- Khai thác tình huống truyện xoay quanh hai tuyến nhân vật:

+ Huấn Cao:

· Tài viết chữ đẹp hấp dẫn quản ngục, ông xem việc có được chữ của ông Huấn là có báu vật trên đời

· Tâm: yêu nước, hiên ngang, bất khuất của người có tài, “biệt nhỡn liên tài” để tìm người giữ chữ cho đời (chọn dẫn chứng và phân tích để làm bật lên những ý trên)

+ Quản ngục, thơ lại:

· Hai nhân vật này hợp lại để xin và giữ chữ bằng cái tâm hướng về cái đẹp

· Yêu cái đẹp đến độ dám chơi chữ với tử tù (chọn dẫn chứng và phân tích)

+ Và kết thúc của tình huống truyện là “cảnh cho chữ lạ lùng chưa từng có”:

· Cho chữ ở nhà ngục tử tù bật lên sự tồn tại vĩnh hằng của thư pháp ngay chốn tử tù

· Sự thay bậc đổi ngôi: người tù thì đứng, dù cổ mang gông, chân vướng xiềng vẫn ung dung cho chữ, còn thơ lại, quản ngục run run, khúm núm.

· Nhà tù tối tăm, hôi hám, dơ bẩn nhưng sáng rực với bó đuốc soi rọi trên ba cái đầu chụm vào nhau cùng hướng về tấm lụa bạch và mùi thơm của thoi mực.

· Sức mạnh của thư pháp cảm hứng kẻ lầm đường lạc lối về với nẻo chính đường ngay (minh họa và phân tích)

- Cảm nhận chung: Nghệ thuật tạo tình huống truyện trong “Chữ người tử tù” làm bật lên tư tưởng, nội dung của tác phẩm “Chữ người tử tù”.

3. Đánh giá tác giả, nghệ thuật tạo tình huống truyện của tác phẩm.


0
phiếu
0đáp án
538 lượt xem

a. Trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai bản Tuyên ngôn :

- Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776.

- Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791.

b. Ý nghĩa của việc trích dẫn:

- Tác giả tạo một cơ sở pháp lý vững chắc cho bản tuyên ngôn để khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam là “một lẽ phải không ai chối cãi được”, đồng thời tạo tiền đề cho lập luận nêu ở phần sau.

- Tác giả thể hiện thái độ trân trọng tinh hoa văn hóa nhân loại, đề cao truyền thống bình đẳng, nhân đạo, tư tưởng dân chủ tiến bộ của hai nước Pháp và Mỹ để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới.

- Tác giả muốn từ vấn đề nhân quyền để “suy rộng ra” và phát triển thành quyền dân tộc. Đây là đóng góp lớn về tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

- Tác giả cũng chỉ ra cho thực dân Pháp thấy rõ: nếu chúng âm mưu tái chiếm nước ta là xúc phạm đến nguyên lý về quyền độc lập tự do mà chính tổ tiên của chúng đã nêu ra trước kia. Đây là lối tranh luận “lấy gậy ông đập lưng ông” thể hiện thái độ vừa kiên quyết vừa khôn khéo của tác giả. Mặt khác, khi đặt ba bản tuyên ngôn ngang nhau, tác giả còn bộc lộ sâu sắc niềm tự hào dân tộc.

1
phiếu
0đáp án
3K lượt xem

Cảm nhận về những âm thanh mà Chí Phèo nghe được trong buổi sáng hôm sau khi say rượu trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao

Chi tiết nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng quyết định mật thiết đến sự thành công của tác phẩm. Nếu không có chi tiết nghệ thuật thì tác phẩm văn học dù ở thể loại nào đi chăng nữa thì cũng chỉ như cái vỏ âm thanh vô hồn không sức sống. Cũng vậy, Nam Cao cũng cần lắm những chi tiết nghệ thuật để “Chí Phèo” trở nên một kiệt tác hoàn hảo đạt đến sự chuẩn mực của nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa. Cùng với hình tượng nhân vật Chí Phèo, rất nhiều những chi tiết nghệ thuật khác đã góp phần vào thành công của truyện, mà ta không thể không kể đến một chi tiết dù bé nhỏ nhưng vô cùng giàu ý nghĩa và quan trọng góp phần bộc lộ tư tưởng của tác giả: “ những âm thanh mà Chí Phèo nghe được trong buổi sáng tỉnh dậy sau cơn say”.

Chí Phèo là một đứa trẻ bị bỏ rơi, được một người đi thả ống lươn nhặt về. Từ bé đến năm hai mươi tuổi, Chí được nhân dân lao động cưu mang đùm bọc. Lớn lên trong sự lương thiện, đứa trẻ mồ côi Chí Phèo, dẫu cho phải làm thuê, cuốc mướn vẫn có một tấm lòng lương thiện và một cuộc sống tốt lành. Anh thanh niên hai mươi tuổi “hiền như đất” ấy còn có một ước mơ rất đỗi chính đáng: có một cuộc sống ổn định, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ ở nhà dệt vải, một ước mơ rất đỗi bình dị của người dân lao động. Thế nhưng phận đời đưa đẩy, Chí vào làm canh điền cho lí Kiến. Ở đây bánh xe cuộc đời Chí bắt đầu quay những vòng quay định mệnh, bắt đầu từ việc Chí mới hai mươi tuổi, phơi phới sức trai nên đã bị bà ba, một dạng phó đoan, bắt làm những việc bất chính. Bà ta cứ bắt Chí phải bóp chân, mà cứ bắt “bóp lên trên, lên trên nữa”. Chí thừa nhận, “hai mươi tuổi, người ta không là đá, nhưng cũng không toàn là xác thịt”, Chí ý thức được những việc mình đang làm, Chí không sa vào cám dỗ. Lòng tự trọng khiến Chí cảm thấy nhục nhã cho mình, nhưng lại sợ. Chính vì cơn ghen cuồng nộ của lí Kiến, Chí bị đẩy vào tù, cùng với một bài học cay đắng về cuộc sống: muốn tồn tại phải ác, phải mạnh.

Trở về sau bảy, tám năm, Chí trở nên một tên gớm ghiếc, cái đầu trọc lốc, cái răng trắng hớn, cái mặt cơng cơng, hai mắt gườm gườm, trông Chí như một tên du côn, chẳng còn chút gì là anh thanh niên Chí Phèo ngày xưa nữa. Không những thế, những cử chỉ của Chí cũng khiến mọi người dè chừng khiếp sợ: uống rượu, chửi bới, lúc nào cũng sẵn sàng rạch mặt ăn vạ. Nhưng Chí chỉ thực sự trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại khi bị lí Kiến, giờ là bá Kiến, lợi dụng trở thành tay sai cho lão. Chí ngày càng hung hãn, ngang ngược trong những cơn say triền miên. Hắn đã chà đạp biết bao gia đình, đã làm khổ biết bao nhiêu máu và nước mắt của những người dân hiền lành, lương thiện. Chí làm tất cả những việc đó trong cơn say, và rồi cũng chính trong cơn say ấy, theo một cách bản năng, Chí gặp thị Nở - một người đàn bà xấu xí, ngẩn ngơ, ế chồng...

Sáng hôm sau, Chí tỉnh dậy trong túp lều của mình. Lần đầu tiên sau mười mấy năm, Chí bắt đầu cảm nhận được thiên nhiên xung quanh mình. “Mặt trời chắc đã lên cao, và nắng bên ngoài bắt đầu rực rỡ”. Lần đầu tiên từ khi từ nhà tù trở về, Chí ý thức được cảnh vật đẹp đẽ đầy sức sống xung quanh mình. Tiếng chim hót ríu rít bên ngoài vọng vào tai Chí, âm thanh trong trẻo của tiếng chim khiến Chí chú ý đến những điều thường nhật vẫn diễn ra bên ngoài túp lều của mình. Những điều ấy thật đơn giản và ngày nào cũng có, thế nhưng tại sao maix cho đến tận giờ này Chí mới nhận ra sự có mặt của nó? Cũng như trong “Vợ chồng A Phủ”, khung cảnh thiên nhiên đầy sức sống vào độ xuân về Tết đến đã tác động vào tâm thức Mị giúp Mị bừng tỉnh trong cơn mê mất ý thức, thì trong “Chí phèo” Nam cao cũng sử dụng sức sống của thiên nhiên để đánh thức một kẻ đã bị cuốn vào dòng đời lầm lạc mà đánh mất bản thân mình. Từ khi trở về sau gần chục năm ở tù, lúc nào Chí cũng say, hắn tràn từ cơn say này đến cơn say khác, nhưng bây giờ hắn tỉnh. Hắn thực sự tỉnh táo để nhận ra được cuộc sống xung quanh mình, để cảm thấy bâng khuâng, thấy đắng miệng và đặc biệt là hắn thấy “lòng mơ hồ buồn”! Cuộc đời hắn có gì đáng buồn, nơi ở được bá Kiến chu cấp, không ai dám lên mặt với hắn, cái “nghề” của hắn cho hắn cái ăn mỗi ngày, vậy thì hắn có gì phải buồn? Nhưng cuộc đời đâu chỉ có thế, đâu chỉ quanh quẩn trong mỗi chuyện nơi ăn chốn ở, sự sống nó đòi hỏi nhiều thứ hơn, nhiều hơn những gì mà hắn đang có. Hắn nhận ra sự tương phản rõ ràng ngay trong chính căn lều của mình. Trong khi ngoài kia, chim chóc thi nhau hót ríu rít, ánh nắng rực rỡ tràn ngập mọi thứ thì trong cái lều ẩm thấp của hắn lại “mới chỉ hơi lờ mờ”. Trong cái lều chật hẹp ẩm thấp ấy, hắn đã quên hết mọi thứ xinh đẹp của cuộc sống, hắn lúc nào cũng chỉ thấy tù mù, như chính cuộc đời của hắn vậy, tối tăm đối lập với thế giới bên ngoài. “Ở đây, người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”. Điều đó khiến hắn “mơ hồ buồn”. Hắn buồn một nỗi buồn vô định, không rõ ràng, hắn lờ mờ nhận ra rằng cuộc đời mình thật đáng thương. Những cảm giác mơ hồ đến với hắn, thật nhẹ nhàng nhưng cũng đủ làm hắn phải suy nghĩ. Hắn đã tỉnh dậy sau một cơn say rượu, hay là một cơn say mất phương hướng.

Hắn “bủn rủn, tay chân không buồn nhấc”, hắn hơi rùng mình khi nghĩ đến rượu. Hắn sợ rượu. Trong suốt ngần ấy năm đắm mình trong những cơn say không có bắt đầu và kết thúc, hắn đã uống quá nhiều rượu rồi. Hắn tìm đến rượu như một sự chạy trốn, để hắn khỏi phải đói mặt với cái thực tại tàn nhẫn bất công. Tiếng chim hót ngoài kia vẫn vẳng bên tai hắn. Cuộc sống ngoài ấy sao mà vui vẻ quá! Có tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, có tiếng cười nói của tiếng người đi chợ. Những âm thanh của cuộc sống lao động bình dị ấy đã xuyên qua thính giác của Chí, va đập vào tâm hồn của hắn, để rồi hắn thở dài một tiếng than: “Chao ôi là buồn!”. Nam cao đã thật tinh tế để có thể nhận ra nỗi buồn mơ hồ của Chí, nhưng lại càng sâu sắc hơn khi thấu hiểu tiếng than của Chí Phèo. Nỗi buồn mông lung ấy giờ đây đã dâng lên thành lời than, sự đối lập mà Chí nhìn thấy lại càng rõ ràng. Trong gần hai mươi năm sống kiếp quỷ dữ, Chí chỉ nghe thấy tiếng chửi bới, tiếng đánh đâp, tiếng khóc than, những âm thanh đó khác hẳn hoàn toàn với những gì Chí đang nghe thấy: tiếng cười nói của cuộc sống trong lành. Bản tính cốt yếu của sự sống chính là cảm giác và tư tưởng, cuộc sống của những con người bên ngoài kia mặc dù có lam lũ vất vả, nhưng ắt hẳn nó vẫn luôn lạc quan và ám áp vui tươi. Còn Chí, cuộc đời Chí chỉ có doạ nạt, đâm chém... Đó đâu phải là sống, đó là tồn tại vất vưởng bằng những chuỗi ngày đen tối nhất trong cuộc đời Chí. Anh thanh niên hai mưoi tuổi ngày nào đâu rồi, sao giờ chỉ còn lại kẻ mà ai cũng gớm ghiếc, ai cũng xem là quỷ dữ?! Chí không chỉ nghe bằng đôi tai cha sinh mẹ đẻ, mà Chí con nghe bằng đôi tai của một tâm hồn đã thức tỉnh.

Nếu trong “Vợ chồng A Phủ”, tiếng sao đêm tình mùa xuân đưa Mị trở về với thời con gái hồn nhiên hạnh phúc, thì cũng với một tác động như vậy, Nam Cao đã để Chí Phèo nhớ về cái ước mơ một thời xa xăm của hắn qua tiếng những người đàn bà đi bán vải. Nam Cao đã đặc biệt chú ý miêu tả âm thanh này bằng một đoạn đối thoại, bởi điều này đặc biệt quan trọng đối với Chí Phèo. Hiện ra trong tâm trí hắn giờ đây là hình ảnh những người phụ nữ, tảo tần lam lũ vì gia đình, hết lòng lo cho chồng cho con. Cuộc sống của những người đàn bà ấy có thể vô cùng nhọc nhằn trong công việc mưu sinh, nhưng ấm áp vì hạnh phúc gia đình. Điều đó làm hắn cảm thấy “nao nao buồn”. Nỗi buồn không những dâng lên thành tiếng than mà giờ đây đã khiến hắn rưng rưng cảm động. Hắn tìm lại cái ước mơ hắn bỏ quên trong hai mươi năm qua: một gia đình nho nhỏ, đầm ấm. Hắn không cần những điều cao xa, hắn chỉ ao ước có một gia đình bình thường, “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”, nhưng cái ước mơ ấy dường như đã rất xa rồi. Cái ước mơ hạnh phúc ấy thật đơn xơ nhỏ bé đến tội nghiệp, nhưng Chí vẫn không thể với tới được nữa rồi. Hắn thấy mình thật cô độc. Hắn như cười buồn cho mình: “Buồn thay cho đời!”. Hắn thấy mình thật thảm hại, thấy mình “đã tới cái dốc bên kia của đời”. Nỗi buồn của hắn cũng vì thế mà mang tính triết lí của một người đã biết suy nghĩ. “Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Câu văn thật lạ, theo lẽ thường tình, chữ “và” không được phép xuất hiện sau dấu phẩy, nhưng ở đây Nam Cao lại để cả hai hiện diện cùng lúc nhằm mục đích nhấn mạnh sự đáng sợ của nỗi cô độc. Nam Cao luôn đề cao con người tư tưởng, ông đặc biệt chú ý đến những hoạt động bên trong con người và coi đó là nguyên nhân của những hành động bên ngoài, chính vì thế nỗi cô độc là một điều vô cùng đáng sợ, đáng sợ hơn tất thảy những thứ khác. Chí Phèo sợ điều ấy. Hắn khao khát muốn được giao tiếp với cuộc sống bằng phẳng lương thiện bên ngoài, và đúng lúc ấy thì chiếc cầu nối đưa hắn trở về với thế giới vốn dĩ của hắn – thị Nở bước vào. Thị, chính thị sẽ mở cánh cổng để hắn bước vào thế giới của thị, để hắn trở về với hình ảnh anh thanh niên hiền lành, chất phác ngày nào. Bằng sự thương cảm xót xa trước cảnh đời bất hạnh, nam Cao đã để thị Nở thay mặt mình giúp Chí Phèo nhận thức được cuộc sống, thay đổi quan niệm sống và thức tỉnh ý thức mình.
Nếu như thị Nở là con đường để Chí Phèo làm lại cuộc đời thì những âm thanh Chí nghe được trong buối sáng sau cơn say đã tác động vào tâm thức Chí, giúp Chí nhận ra hiện tại và nhớ về quá khứ, đồng thời khơi dậy nơi Chí một khao khát sống. Nam cao đã nhờ vào những âm thanh ấy mà miêu tả tâm lí Chí Phèo một cách chân thực, logic với nỗi buồn rất riêng. Nỗi buồn của Chí được miêu tả nhiều lần, mỗi lần lại là một cung bậc, một sắc thái khác nhau, gắn với một nguyên cớ khác nhau. Nỗi buồn ấy cho dù được miêu tả ở nhiều góc cạnh, song cuối cùng cũng đưa đến một mục đích: đánh dấu sự thức tỉnh của Chí Phèo. Chí giờ đây không còn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa mà đã trở thành một con người với những sắc thái cảm xú rất nhân bản, những chi tiết âm thanh ấy cũng vì thế mà trở nên rất quan trọng. Tếng chim hót rất đỗi bình dị, nhưng Nam Cao đã chọn nó để miêu tả sức sống của thiên nhiên; tiếng anh chèo gõ mái đuổi cá kia ngày nào cũng có, nhưng hôm nay Nam Cao đặc biệt nhắc đến để Chí Phèo nhận ra những âm thanh quen thuộc của đời sống lao động bình thường; và đặc biệt giữa muôn vàn những âm thanh, có thể lẫn lộn đâu đó tiếng chửi bới của một phiên chợ, nhưng Nam Cao đã phát hiện và ưu ái chọn lọc tiếng cười nói của những người đàn bà đi bán vải để gợi Chí Phèo nhớ đến cái mơ ước của một thời xa xôi. 

Cũng như trong “Vợ chồng A Phủ”, tiếng sáo đêm tình mùa xuân được Tô Hoài miêu tả một cách công phu thì những chi tiết âm thanh ấy cũng đã được Nam Cao chọn lọc và miêu tả một cách chi tiết để làm nổi bật lên chủ đề tư tưởng nhân đạo cao đẹp của tác phẩm. Nam Cao đã phát hiện ra phần tốt đẹp trong con người Chí Phèo, để rồi xót thương, cảm thông và tin tưởng vào niềm khao khát sống một cuộc sống lương thiện và khát vọng muốn hưởng hạnh phúc chính đáng của Chí. Chính điều đó đã tạo nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm, đưa tác phẩm tiến gần về đỉnh cao nghệ thuật của văn học Việt Nam.

Sưu tầm.

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Văn học như một dòng sông chảy mãi, chảy mãi theo thời gian. Trên dòng sông văn học ấm áp và xanh đó, biết đếm sao cho hết những dáng núi, hàng cây nghiêng mình bên dòng nước. Nó là biểu tượng cho mỗi dân tộc, mỗi vùng đất, cho niềm tự hào khôn nguôi... Có ai quên rừng bạch dương chạy dài tít tắp đậm đà trong nền văn học đồ sộ Nga, có ai quên những cây hoa anh đào thấp thoáng trong mỗi tâm hồn người Nhật, và Việt Nam chúng ta tự hào với cây tre hiên ngang, thẳng tắp, vững bền theo năm tháng. Nhưng đâu chỉ có cây tre, trên mỗi miền đất nước chúng ta, làm sao có thể quên những rặng dừa xanh, những trái măng cụt hay nhãn nồng Bắc và Tây Nguyên tự hào xiết bao với “Rừng xà nu” kiêu hãnh “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho dân làng” trong trang văn của Nguyễn Trung Thành. Có thể nói, viết về rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành đã trạm tới được một nét đẹp điển hình và đặc sắc của đất Tây Nguyên hoang dại đầy khí phách. Một trong những đoạn văn đặc sắc và có sức biểu cảm nhất của truyện chính là đoạn đầu tác phẩm: “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc... Đứng trên đồi xa nu trông ra xa đến hết tầm mắt cũng không thấy gì ngoài những đồi xa nu nối tiếp tới chân trời”.

Đặt doạn văn vào toàn tác phẩm, ta nhận thấy Rừng xa nu có một kết cấu hay nói đúng hơn là một lối vào đè rất mới lạ: “Làng ở tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy”. Nếu như giới thiệu theo lối cổ điển, Nguyễn Trung Thành sẽ giới thiệu tên làng, nguồn gốc, rồi mới nói đến vấn đề ông muốn nói. Nhưng không, vào đề ông nói ngay đến vị trí nguy hiểm “trong tầm đại bác của địch” của dân làng Xô Man mà không hề nhắc đến tên địa danh của làng. Trong cách kể của nhà văn, dường như chúng ta đều biết cái làng đó rồi, như người đi xa lâu ngày không gặp chỉ náo nức muốn biết tình trạng sức khỏe của người thân giờ này ra sao. Và làng xô man trong tiềm thức mỗi chúng ta, dù có thể chưa một lần đặt chân đến, vẫn sao thấy có chút gì thân quen, gần gũi. Trong chiến tranh đâu chỉ có làng Xô Man mới nằm trong tầm đại bác của đồn giặc? Tất cả làng, các xóm trên đất nước Việt Nam này đều chịu chung nỗi đau thương đó. Ta cũng thấy lòng có chút gì đồng điệu.

Nhưng đây không phải làng quê của ta! Nếu như Hoàng Cầm nhớ thiết tha đất Kinh Bắc với “lúa nếp thơm nồng, tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, nếu như Nguyễn Đình Thi mơ màng về Hà Nội nhớ, Hà Nội thương với “gió thổi mùa thu hương cốm mới” thì làng Xô Man lại kiêu hãnh và gan góc với “ngọn đồi xa nu cạnh con nước lớn”. Ta nhận ra đây chính là làng Xô Man chứ không phải bất kì một làng nào trên mọi miền đất nước. Có lẽ chính vì tính chất rất “riêng”, “mới lạ” “đặc sắc”, có tính đại diện, phổ quát cao cho các dân tộc Tây Nguyên nên rừng xà nu được Nguyễn Trung Thành miêu tả thật là sinh động, gan góc như một sinh thể có hồn.

Tính chất tàn phá mạnh liệt của chiến tranh in đậm trên mỗi thân cây: “Cả rừng xu nu hàng vạn cây, không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão, ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngọt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn”. Chỉ cần ba câu văn thôi nhưng ta có thể thấy trước mắt mình cả một khu rừng xà nu sau mỗi lần “chúng nó bắn”. Nhưng nét đẹp và sự gợi cảm của mỗi câu văn không chỉ là nói lên một hiện tượng tàn khốc mang tính tàn phá huỷ diệt như thế. “Một tác phẩm sẽ chết nếu nó miêu tả chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là sự thôi thúc mạnh mẽ sẽ mang tính chủ quan của tinh thần thời đại” (M. Gorki), “của niềm vui và nỗi đau khổ, của nụ cười trong sáng hay giọt nước mắt cay dắng” (Rãun Gamzatop). Những vết thương của cây xà nu không chỉ là sự phản quang tội ác của giặc, không chỉ là sự mất mát hoàn toàn. Nguyễn Trung Thành đã miêu tả những cây xà nu không chỉ là laọi cây thông thường mà dưới góc độ khác, góc độ như một con người, con người Tây Nguyên gan góc, dũng mãnh, đầy quả cảm. Cây xà nu hiên ngang từ dáng đứng thẳng tắp dám hứng “hầu hết đạn đại bác”, đến phẩm chất “thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt”. Tác giả không miêu tả một cây, ông miêu tả cả một rừng cây. Phải chăng một chi tiết nhỏ đó thôi cũng bao hàm một sức chứa lớn. Đó là sự khái quát cao độ của hình tượng cây xà nu đông đảo, toàn diện và có phần chung chung nhưng lại không vô nghĩa, và đặc biệt không hề nhạt nhoà, bé nhỏ. Nó cũng như con người: bị thương và chết đi, nhựa của nó chảy ra “dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn”. Đây không phải là một phép so sánh giản đơn mà dường như trong tiềm thức của người nghệ sĩ, cây xa nu gần gũi thân yêu thực sự không phải là vật vô tri vô giác, ông tin đó là một sinh thể, là một con người. Lẽ dĩ nhiên trong văn chương có những điều “bất khả giải”, chỉ có thể cảm nhận bằng cảm giác, đôi khi rất khó tin, thậm chí không có sự “trùng khít giữa cái miêu tả và cái được miêu tả” nhưng cái tài của Nguyễn Trung Thành chính là ông đã tạo ra được “ảo tưởng giống như thiệt” (Fêdine) của sự vật được phản ánh. Ông đã truyền sự rung cảm từ con tim chủ quan người nghệ sĩ sang mỗi chúng ta là người tiếp nhận, khiến chúng ta không chỉ yêu mà còn tin vào sức sống cũng như vẻ đẹp rất “người” tiềm ẩn trong mỗi cây xà nu tưởng hết sức thông thuộc, bình dị. Sức sống mãnh liệt của cây xà nu chính nằm trong sự nối tiếp “cạnh một cây xà nu mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Đúng như Nguyễn Trung Thành nói “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy”, sức sống và sự kế tiếp của cây rừng xà nu không khỏi khiến ta cảm phục, dường như có chút gì rạo rực, bâng khuâng... Ta chợt nhớ đến một câu thơ của Tố Hữu:

Lớp cha trước lớp con sau,
Đã thành đồng chí chung câu quân hành

Có thể Nguyễn Trung Thành cũng đâu chỉ viết về sự tiếp nối mạnh mẽ của cây rừng xà nu? Phải chăng đằng sau sức sống và sự “sinh sôi nảy nở như vậy”, còn có một sức sống tiềm ẩn khác của con người Tây Nguyên, của dân làng Xô Man trong kháng chiến. Họ cũng dũng mãnh như cây xà nu với “hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Sức mạnh ngòi bút Nguyễn Trung Thành có lẽ chính là ở ông đã nắm bắt nhuần nhuyễn đặc biệt đó, miêu tả tài hoa và tinh tế sự hoà hợp giữa con người và thiên nhiên Tây Ngưyên, khiến ta thấy thấp thoáng ẩn hiện sau mỗi cây xà nu là sự gan góc, sức sống mạnh mẽ và nụ cuời cởi mở của dân làng Xô Man. Sự hoà nhập đó tạo nên sức gợi cũng như sức sống tiềm tàng của mỗi câu chữ mà Nguyễn Trung Thành sử dụng. Tuy nhiên, cái khéo chính là ông đã miêu tả cây xà nu tuy trong góc độ như một con người nhưng lại không phải là con người. Ông không biến một sinh vật thành một con người đơn giản để cuối cùng mất đi bản sắc của riêng nó. Xà nu là loại cây “ham ánh sáng mặt trời”. “Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh sáng, thứ ánh sáng trong rừng rọi từ cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lanh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng. Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mươi hôm thi cây chết. Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum suê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một cơ thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh thay thế những cây đã ngã”.

Thật là quật cường và cũng thật là diệu kì. Có lẽ bản thân những câu văn trên cũng nói lên sức sống cùng phẩm chất ham sống tuyệt vời của cây xà nu. Nhà văn không miêu tả phiến diện đến nỗi khó tin là tất cả các loạ cây dưới tầm đại bác đều còn sống và đều vươn lên với sức mạnh kì diệu. Cây xà nu là như vậy, đẹp đẽ và kiêu hành biết bao. “Tấm ngực lớn” của nó không chỉ thể hiện sức tráng kiện, dũng mãnh đến gai góc của một loại cây ở thời kì trưởng thành đang hoà nhập trong sức mạnh cồng đồng như cả dân làng Xô Man mà còn thể hiện chút chân thực đến say lòng người, cùng niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của chính mình.

Cái hay và đặc sắc của đoạn văn chính là ở chỗ nhà văn đã nhìn rừng xà nu như một sinh thể có hồn hoà nhập vào đời sống nhiệt tình của con người Tây Nguyên nói chung, của dân làng Xô Man nói riêng. Khép lại đoạn văn và cũng là toàn tác phẩm là một câu văn đầy sức gợi: “Đứng trên đồi xa nu trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời” không phải ngẫu nhiên mà nhà văn Nguyễn Trung Thành sử dụng câu văn này hai lần, ở đoạn này và đoạn cuối tác phẩm. Rừng xà nu dường như đã lớn lên đến sức sống căng tràn nhất, trải dài khắp nẻo đường. Ta như cảm giác cánh tay rừng xà nu đang vươn dài ôm lấy làng Xô Man vào lồng ngực lớn của mình, yêu thương, che chở và bảo vệ. Sức mạnh của khu rừng, của làng Xô Man và của cả một chút gì bí ẩn, hoang sơ gợi sự khát khao, kiếm tìm với người biết yêu thương và sự đe doạ dữ dội đối với kẻ thù xâm lược, kiếm tìm với người biết yêu thương và lời đe doạ dữ dội đối với kẻ thù xâm lược: “Chừng nào chúng ta còn tồn tại thì các người đừng hòng xâm nhập vào đây phá tan cuộc sống yên bình nơi đây”.

Thật là đẹp và cũng thật kì vĩ! Ta cảm giác như choáng ngợp, mỗi lời văn ngập tràn không khí sử thi hoang dã, dũng mãnh, gan góc và đầy bí mật như trong những lời kể về khu rừng già đại ngàn và đời sống của chàng Đam San thưở xưa rực rỡ. Chính sức sống hoang dã, mãnh liệt này là một nét đặc sắc và vô cùng độc đáo của vùng đất Tây Nguyên mà con người dù có viết nhiều về nó mãi mãi không thể nào khám phá hết chiều sâu tận cùng.

“Rừng xà nu” là câu chuyện của cả đời được kể trong một đêm do đó những cảm xúc về cây xà nu chính là những rung cảm mãnh liệt nhất của người nghệ sĩ “được viết ra khi cảm xúc tràn đầy” (Tố Hữu).

Theo lới tác giả kể, câu chuyện được viết ra chỉ trong vòng hai tiếng rưỡi nhưng lại được thai nghén hàng chục năm.Ta chợt hiểu sâu sắc đằng sau những dòng chữ kia là tấm lòng yêu thương chất chứa, dồn nén của người nghệ sĩ. Có lẽ ông đã dồn rất nhiều tâm huyết để dựng lên hình tượng cây xà nu đẹp, đầy gợi cảm và mang sức chứa, khái quát cao độ. Nó xứng đáng là kết tinh của thiên nhiên của con người Tây Nguyên dũng mãnh, gan góc và quật cường. Thành công lớn của đoạn văn chính là hình tượng cây xà nu đã diễn tả sâu sắc và tinh tế nội dung toàn tác phẩm cũng như điều mà nhà văn gửi gắm.

Sưu tầm.

0
phiếu
0đáp án
677 lượt xem

A. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu nhân vật.
B. Thân bài:
1. Là người say mê thú chơi chữ đến cực độ:
- Niềm say mê đã có từ thời còn trẻ. Là một nhà Nho từ lúc “biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền” suốt đời ông chỉ ao ước một điều là “một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết” vì “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm ... có được chữ ông Huấn Cao mà treo là có một vật báu trên đời”.
- Dám xin chữ kẻ đại nghịch tại nhà lao tử tù.
2. Thái độ biệt nhỡn liên tài:
Là một quản ngục, nhưng ông chỉ cho mình là kẻ “tiểu lại giữ tù”, ngược lại, đối với Huấn Cao ông luôn dành một sư kính trọng, lòng kiêng nể sự biệt đãi:
+ Biết trong số phạm nhân được giải đến có Huấn Cao, ông dặn thơ lại: “thầy bảo ngục tốt nó quét dọn buồng trong cùng, có việc dùng đến”. Đêm hôm ấy, Viên Quản Ngục thao thức nghĩ ngợi tìm cách để Huấn Cao đỡ cực trong những ngày cuối cùng còn lại” dù trong lòng vẫn lo viên thơ lại cáo giác quan trên.
+ Khi nhận phạm nhân: “trái với phong tục nhận tù mọi ngày, hôm nay viên coi ngục nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt hiền lành”.
+ Trong những ngày Huấn Cao ở đề lao chờ thụ án: quản ngục nhờ thơ lại “dâng rượu với đồ nhắm” “trước giờ ăn bữa cơm tù” bằng lời lẽ rất lễ phép: “Thầy quản chúng tôi có ít quà mọn này biếu ngài dùng cho ấm bụng. Trong buồng đây lạnh lắm”
+ Một lần, chính quản ngục mở khóa cửa buồng kín khép nép hỏi Huấn Cao: “Đối với những người như ngài phép nước ngặt lắm. Nhưng biết ngài là một người có nghĩa khí tôi muốn châm chước ít nhiều ... Vậy ngài có cần gì thêm nữa xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất”. Mặc dù bị Huấn Cao miệt thị nặng lời: “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”, ông vẫn ôn tồn, nhã nhặn “xin lĩnh ý” rồi lễ phép lui ra.
+ Nghe lời khuyên của Huấn Cao, ông xuc động nghẹn ngào “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”
C. Kết luận:
Như vậy, qua ngòi bút Nguyễn Tuân, ngục quan cỏ những phẩm chất khiến ông Huấn Cao cảm kích coi là “một tấm lòng trong thiên hạ”, và tác giả coi đó là “cái thuần khiết giữa một đống cặn bã”, “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”.

0
phiếu
0đáp án
714 lượt xem

Ý nghĩa hình ảnh đoàn tàu trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

Bài viết cần đảm bảo những ý cơ bản sau:

* Giới thiệu truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, giới thiệu hình ảnh đoàn tàu được khắc hoạ trong truyện là hình ảnh có ý nghĩa sâu sắc.

*  Hoàn cảnh đoàn tàu xuất hiện:

- Những kiếp người mòn mỏi nơi phố huyện đang chìm trong bóng tối, nhưng họ vẫn “mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ”.

- Chị em Liên chờ tàu từ chiều cho đến đêm khuya để được nhìn thấy đoàn tàu - hoạt động cuối cùng trong ngày- như thế chúng mới được sống trọn vẹn một ngày.

* Hình ảnh đoàn tàu xuất hiện:

- Từ xa: màu sắc “ngọn lửa xanh biếc”, âm thanh ( “tiếng còi vọng lại theo ngọn gió xa xôi”)

- Đến gần: âm thanh ( dồn dập, ồn ào, tiếng xe rít mạnh vào ghi, rầm rộ lao tới), màu sắc (khói bừng sang trắng lên đằng xa, các toa đèn sáng trưng chiếu ánh sáng xuống đường, các toa hạng trên lấp lánh cửa kính sáng). Đó là âm thanh vang động, mạnh mẽ, huyên náo; là ánh sáng rực rỡ ngập tràn.

- Khi xa: con tàu đi dần vào đêm tối, tiếng vang động của đoàn tàu nhỏ dần rồi khuất hẳn vào bóng tối.


* Ý nghĩa của hình ảnh đoàn tàu:

- Hình ảnh đoàn tàu soi rõ tâm trạng nhân vật:

+ Chị em Liên đã chờ tàu trong niềm thiết tha, khắc khoải rồi đón tàu trong háo hức say mê trong, hân hoan hạnh phúc và tiễn tàu trong tiếc nuối bâng khuâng.

+ chị em Liên chờ tàu không phải vì tò mò hay muốn bán hang mà để dược nghe âm thanh, được nhìn ánh sáng và sống với một thế giới khác.

-Đoàn tàu mang ý nghĩa biểu tượng, thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm:

+ Đoàn tàu mang đến một thế giới khác hẳn so với cuộc sống tối tăm, lặng lẽ,tẻ nhạt nơi phố huyện nghèo.Con tàu với âm thanh huyên náo và ánh sáng rực rớ ngập tràn là một thế giới mới mẻ, thế giới của ánh sáng của niềm vui, của sự giàu sang hạnh phúc, khiến cho những người dân phố huyện nhận ra còn có một cuộc sống ý nghĩa hơn ngoài cái phố huyện này.

+ Đoàn tàu còn là hình ảnh của quá khứ: nó đánh thức dậy trong chị em Liên những kỉ niệm tuổi thơ đầy hạnh phúc, khiến Liên mơ ước đựợc quay về quá khứ, sống một cuộc sống tươi đẹp như quá khứ đã qua.

+ Đoàn tàu còn là hình ảnh của mộ thế giới đẹp đẽ, là mơ ước hi vọng về một tương lai hạnh phúc và nhiều ánh sáng hơn. Khao khát chờ tàu cúng là khao khát được đổi đời, khát vọng tìm kiếm niềm vui, hạnh phúc, tươi sáng ở tương lai.

+ Mơ ước của người dân phố huyện nơi đây thật tội nghiệp, cũng thật mong manh, xa xôi. Cũng như đoàn tàu đến rồi đi, phố huyện lại chìm vào bóng tối – khát vọng lại trở thành ảo vọng.

* Hình ảnh đoàn tàu trở thành điểm sáng tư tưởng , thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Thạch lam:

+ Lòng xót thương vô hạn với những kiếp người ngỏ bé, tàn lụi, vô vọng, bế tắc.

+ Thể hiện được ý thức và khát vọng được thoát khỏi cuộc sống tối tăm, mòn mỏi; thức tỉnh những khao khát tinh thần cao đẹp của họ.

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Thạch Lam ( 1910-1942) ,là người đôn hậu, điềm đạm, rất đỗi tinh tế .Ông là một cây bút tài hoa, có biệt tài về truyện ngắn - truyện nhưng không có chuyện.Tác phẩm của ông chủ yếu khai thác thế giới nội tâm nhân vật với biết bao cảm tưởng, cảm giác mơ hồ, mong manh …làm đọng lại trong lòng người đọc nhiều dư vị.  Một trong những tác phẩm thể hiện sức hấp dẫn trong nghệ thuật viết văn ấy của Thạch Lam là truyện ngắn “Hai đứa trẻ” . Ở đây, nhà văn đã thật thành công trong việc ghi lại bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người với bao cảm xúc vui buồn của con người  vào lúc chiều tàn nơi phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.
Thân bài:
       1. Bức tranh thiên nhiên:
Trước hết là cảnh không gian, tạo vật khi chiều tàn hiện lên dưới ngòi bút : đẹp, nên thơ, bình dị, gần gũi, quen thuộc nhưng đượm buồn. được hiện lên  với nhiều âm thanh, màu sắc, hình ảnh và đường nét ( Tiếng trống thu không, tiếng ếch nhái kêu ran, tiếng muỗi vo ve; phương Tây đỏ rực, đám mây ánh hồng , dãy tre làng đen lại…) . Khung cảnh ấy được nhà văn thể hiện qua những câu văn êm dịu, uyển chuyển, tinh tế.Mỗi câu như một nét vẽ đơn sơ , không cầu kỳ kiểu cách nhưng lại gợi được cái hồn của cảnh vật , cái thần thái của thiên nhiên …Mỗi câu văn như mở ra một cảnh : cảnh trước gọi cảnh sau rất độc đáo và ấn tượng… Có thể nói, không gian phố huyện lúc chiều tàn hiện lên  Một bức “họa đồng quê” quen thuộc, gần gũi , bình dị và gợi cảm , không kém phần thơ mộng, mang cốt cách của hồn quê Việt Nam.Qua đó thể hiện được tình cảm và gắn bó của nhà văn với một vùng quê nghèo.
     2. Cảnh sống của người dân : tiêu điều, nghèo nàn, lam lũ, khổ cực,   
     - Cảnh chợ tàn : người về hết , tiếng ồn ào không còn, chỉ còn rác rưởi…
     - Hình ảnh người dân xuất hiện với : mấy đứa trẻ con nhà nghèo đang tìm tòi, nhặt nhạnh rác, mẹ con chị Tý nghèo khổ ngày mò cua bắt ốc, tối đến dọn hàng nước nhỏ trên cái chõng tre ; bà cụ Thi.., vợ chồng Bác Xẩm…
 Tất cả… đều thể hiện sự tàn lụi ( cảnh chợ tàn và những kiếp người tàn tạ); sự nghèo đói, khó khăn, tiêu điều đến thảm hại của người dân nơi phố huyện.  
    3 Tâm trạng của nhân vật liên : buồn, xúc động , cảm thương…
    + Liên thấy “lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”.
    + Liên còn cảm nhận được “mùi riêng của đất, của quê hương này”. 
    + Liên thấy “động lòng thương” bọn tẻ con nhà nghèo đi nhặt rác…và xót thương cho mẹ con chị Tí …
 Qua ngòi bút miêu tả của Thạch Lam, Liên là một cô bé có tâm hồn nhạy cảm , tinh tế, có lòng trắc ẩn, yêu thương con người.
=>Bằng sự quan sát ,miêu tả tỉ mỉ, tinh tế với nhiều biến đổi tinh vi, phong phú…nhà văn đã giúp người đọc cảm nhận sâu sắc về cảnh vật nơi phố huyện lúc chiều tàn như thấm vào lòng người hay nỗi buồn của tâm hồn Liên lan tỏa nhuốm vào cảnh vật. 
   Kết bài: 
    - Đây là một đọan văn hay , bởi lẽ, đọan văn đã thể hiện được : 
        + Tấm lòng của nhà văn  gắn bó, ân tình ; cảm thông ,thương xót. …
        + Phong cách viết văn đặc sắc của tác giả trong sự kết hợp giữa  bút pháp hiện thực- trữ tình; câu văn mềm mại, giàu chất thơ

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Đề : Cảm nhận của anh (chị) về bài thơ “Đàn ghi ta của Lor – ca” (Thanh Thảo)

 

DÀN BÀI

 I. Mở bài:

- Thanh Thảo là nhà thơ trẻ thời chống Mỹ. Ông được công chúng đặc biệt chú ý bởi những bài thơ và trường ca mang diện mạo độc đáo viết về chiến tranh thời hậu chiến.

- Thơ Thanh Thảo là sự lên tiếng của người trí thức nhiều suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại

-  Với niềm ngưỡng mộ và xót thương, Thanh Thảo đã khắc hoạ cuộc đời nghệ sĩ Lor-ca với lý tưởng cách tân nghệ thuật và cái chết oan khuất.

II. Thân bài:

1. Khái quát:

 - Lor-ca tên đầy đủ: Phê-đê-ri-cô Gar-xi-a-Lor-ca (1898-1936) là một trong những tài năng sáng chói của văn học hiện đại Tây Ban Nha. Được coi là thần đồng với năng khiếu thiên bẩm trên nhiều lĩnh vực của nghệ thuật: Thơ ca, hội hoạ, âm nhạc, sân khấu...

- Lor - ca cổ vũ nhân dân đấu tranh, đòi quyền sống và là người khởi xướng những cách tân nghệ thuật

- Hoảng sợ trước ảnh hưởng xã hội to lớn của Lor-ca, năm 1936 bọn phát xít đã bắt giam và bắn chết ông.

- Cái chết của Lor - ca đã làm dấy lên một làn sóng phẫn nộ trên thế giới. Tên tuổi Lor-ca từ đó trở thành một biểu tượng, là ngọn cờ tập hợp các nhà văn hóa Tây Ban Nha và thế giới chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít, bảo vệ văn hóa dân tộc và văn minh nhân loại.

- Nói đến đất nước TBN là nói đến cây đàn ghi ta, cây đàn trở thành biểu tượng âm nhạc và tinh thần của đất nước này. Cảm hứng từ cây đàn ghi ta đã tác động đến những câu thơ của Thanh Thảo. Những câu thơ tự do như những giai điệu ghi ta thánh thót trong những đêm thanh vắng. Câu thơ quen thuộc của Lor – ca  được Thanh Thảo lấy làm lời đề từ như chính ước vọng và tâm hồn Lor – ca: nếu có phải chết thì sẽ chết trong tiếng đàn dân tộc, trong nỗi niềm dân tộc và niềm vui được làm một người TBN

 

 

2. Phân tích:

a. Khổ 1 + 2 + 3: Hai bức trang tương phản của đất nước TBN:

- Bài thơ mở ra với những tiếng đàn ghi ta:

“Những tiếng đàn bọt nước

  Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt”

+ Một liên tưởng để so sánh lạ và rất gợi: tiếng ghi ta bồng bềnh như bọt nước, mong manh như bọt nước lan tỏa trong không gian.

+ Nói đến TBN thì ngoài hình ảnh cây đàn ghi ta, còn có hình ảnh của người dũng sĩ đấu bò tót với áo choàng màu đỏ gắt. Như vậy, chỉ cần có hai thứ: một cây đàn ghi ta với những giai điệu mênh mông, một chiếc áo choàng đỏ trên lưng ngựa, thế là thành một người TBN _ con người của một đất nước vừa rất nghệ sĩ, vừa rất quả cảm.

- Câu thơ không có từ ngữ mà chỉ có âm thanh:

“li – la – li – la – li – la”

+ Câu thơ như chỉ để ghi lại tiếng đàn.

+ Không cần từ ngữ bởi tự thân những tiếng ấy đã mô phỏng đúng một dáng điệu, một phong thái, một tâm hồn: li – la – li – la – li – la… -> vô tư, tự do, phóng khoáng…

- Hình ảnh Lor – ca:

“ đi lang thang về miền đơn độc

  với vầng trăng chuyếnh choáng

  trên yên ngựa mỏi mòn”

+ Buồn và cô đơn

+ Người và cảnh tương đồng: con người thì lang thang, không gian thì đơn độc, vầng trăng thì chuyếnh choáng, yên ngựa thì mỏi mòn.

- Những dòng thơ tiếp theo như vỡ òa:

“Tây Ban Nha

  hát nghêu ngao

  bỗng kinh hoàng

  áo choàng bê bết đỏ”

+ Từ TBN “hát nghêu ngao” đến TBN “bỗng kinh hoàng” là một sự đổ vỡ ghê gớm.

+ Từ hình ảnh áo choàng đỏ gắt của người đấu sĩ đến “áo choàng bê bết đỏ” là một đổi thay bàng hoàng. Đất nước TBN của nhân dân TBN, của những dũng sĩ và nghệ sĩ đã bị thay thế bởi đất nước TBN phát xít của tên độc tài Phrăng – cô.

- Đất nước chìm trong bi thảm:

“Lor – ca bị điệu về bãi bắn

  Chàng đi như người mộng du”

+ Chàng trai đơn độc đối mặt với cái chết.

+ “như người mộng du” -> Lor – ca không hiểu, không tin những gì đang diễn ra trên đất nước mình và cũng không quan tâm đến bãi bắn đang chờ chàng phía trước.

- Cùng với cái chết của Lor – ca, mọi thứ đẹp đẽ của TBN cũng sụp đổ:

“Tiếng ghi ta nâu

  bầu trời cô gái ấy

  tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

  tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan

  tiếng ghi ta ròng ròng

  máu chảy”

+ Từ tiếng đàn nâu của cô gái da nâu, tiếng đàn ghi ta lá xanh của cuộc sống TBN, đến tiếng ghi ta tròn bọt nước… tất cả nay chỉ còn một tiếng ghi ta duy nhất “tiếng ghi ta ròng ròng…máu chảy”, tiếng ghi ta từ cái chết của Lor – ca, tiếng ghi ta của TBN đau thương.

+ Câu thơ của Thanh Thảo gãy ra làm hai, tiếng đàn vỡ ra làm hai, cuộc sống cũng như bị chém đứt làm hai mảnh _ như tiếng ghi ta – ròng ròng – máu chảy…

b. Tiếng đàn bất diệt của Lor – ca:

- Khổ thơ thứ tư như một lời khẳng định dứt khoát một chân lí trường cửu:

“không ai chôn cất tiếng đàn

  tiếng đàn như cỏ mọc hoang

  giọt nước mắt vầng trăng

  long lanh trong đáy giếng”

+ Nhịp điệu chậm rãi, đều đặn, chắc chắn

+ Chân lí tự nhiên: người ta có thể chôn một con người, nhưng “không ai chôn cất tiếng đàn”, tiếng đàn và tâm hồn Lor – ca sống mãi.

+ Những điều so sánh với tiếng đàn cũng chính là chân lí tự nhiên của sự sống: cỏ hoang cứ mọc mãi, xanh mãi không ngừng, vầng trăng soi vào đáy giếng long lanh như giọt nước mắt…

- Khẳng định tiếng đàn Lor – ca bất diệt, Thanh Thảo như nhìn thấy Lor – ca:

“đường chỉ tay đã đứt

  dòng sông rộng vô cùng

  Lor – ca bơi sang ngang

  trên chiếc ghi ta màu bạc”

+ Hình ảnh tưởng tượng mới lạ.

+ Hình ảnh thể hiện niềm tin vào sự bất tử của Lor – ca. Lor – ca vẫn sống mãi trong tâm trí người đời, sống cho đến tận hôm nay, như một con người đã đi vào huyền thoại.

- Lor – ca đã vượt lên trên sức mạnh của cái chết để trường tồn:

“chàng ném lá bùa cô gái Di – gan

  vào xoáy nước

  chàng ném trái tim mình

  vào lặng yên bất chợt”

+ Lá bùa của cô gái Di – gan làm nghề bói toán tặng cho chàng để chàng tránh mọi hiểm nguy, thoát khỏi cái chết -> Ném lá bùa vào xoáy nước: Lor – ca đã vượt lên nỗi sợ hãi cái chết thường tình…

+ Ném trái tim mình vào lặng im -> Lor – ca đã đi vào cõi tình yêu vĩnh hằng.

+ Hình ảnh cuối cùng của Lor – ca vừa như một nghệ sĩ, vừa như một thánh nhân.

- Bài thơ kết thúc bằng âm điệu ghi ta: “li – la – li – la – li – la” -> Mãi mãi tiếng đàn ghi ta vẫn còn, cái tốt đẹp của cuộc đời có thể khuất lấp chứ không mất đi, Lor – ca bất tử.

III. Kết bài:

- Là một nhà thơ xuất thân là một người lính từng vào sinh ra tử trong cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước, Thanh Thảo đã yêu mến, kính phục Lor – ca trong cả hai tư cách: nhà thơ và người chiến sĩ.

- Âm điệu bài thơ như những tiếng đàn, vừa bay bổng vừa đau thương, chuyển tải được tiếng đồng vọng của những tâm hồn nghệ sĩ – chiến sĩ.

 

 

 

 

 

0
phiếu
0đáp án
779 lượt xem

Đề: “Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa lịch sử rất phong phú” (Ngữ văn 12 – Tập I).

Anh (chị) hãy phân tích bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của H.P.N.T để làm rõ nhận định trên.

DÀN BÀI

 

I. Mở bài:

- H.P.N.T là một trong những cây bút kí tiêu biểu của VHVN hiện đại. Với thể loại kí, H.P.N.T thể hiện trên từng trang văn vốn kiến thức uyên bác và cách viết tài hoa.

- “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách kí của H.P.N.T. Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương, thiên nhiên và con người xứ Huế với những trang văn “vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa lịch sử rất phong phú”

II. Thân bài:

1. Khái quát:

- “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” rút từ tập bút kí cùng tên, được xuất bản năm 1984. Tập bút kí gồm tám bài viết về nhiều đề tài. Có những bài đậm chất sử thi với cảm hứng anh hùng, ca ngợi đất nước, con người VN. Có những bài thiên về miêu tả thiên nhiên, qua đó nhà văn bộc lộ lòng gắn bó với quê hương đất nước và niềm tự hào về truyền thống, văn hóa, lịch sử của dân tộc. Đặc biệt là những bài viết về Huế.

- Trong số những bút kí đó, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài kí độc đáo về sông Hương. Dòng sông khơi gợi cảm hứng cho thơ ca, nhạc họa đã được H.P.N.T cảm nhận từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là góc nhìn tâm linh, mang những nét riêng của “văn hóa Phú Xuân”

2. Phân tích:

a. Chất trí tuệ của một cái tôi uyên bác: Viết về sông Hương, H.P.N.T thể hiện một sự hiểu biết sâu rộng về mọi mặt: văn hóa, lịch sử, địa lí, văn học nghệ thuật… Nhà văn đã cung cấp cho người đọc một lượng thông tin đa dạng để hiểu sâu hơn về dòng sông Hương và thiên nhiên, con người Huế.

* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn địa lí:

- Hành trình của dòng sông: với câu hỏi gợi tìm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, bằng những bước chân rong ruổi, H.P.N.T đã tìm về cội nguồn và dòng chảy của sông Hương:

+ Ở thượng nguồn sông Hương mang vẻ đẹp hùng vĩ: chảy “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, cuộn xoáy như con lốc vào những đáy vực bí ẩn…”; “phóng khoáng và man dại”

+ Ra khỏi đại ngàn, sông Hương chuyển dòng, giấu kín cuộc hành trình gian truân giữa lòng Trường Sơn, “ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng” -> Vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ của sông Hương giữa rừng già ít ai biết đến.

+ Chảy qua vùng rừng núi, sông Hương trở nên dịu dàng, “uốn mình theo những đường cong thật mềm”. “Dòng sông mềm như tấm lụa”, êm đềm trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, chảy qua những lăng tẩm đồ sộ, chảy qua chùa Thiên Mụ và “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà” -> Sông Hương trở thành “người mẹ phù sa” mang vẻ đẹp “dịu dàng và trí tuệ”

+ Giữa lòng thành phố Huế, dòng sông trở nên tĩnh lặng, trôi thật chậm, in bóng cầu Tràng Tiền xa trông nhỏ nhắn như “những vành trăng non”

+ Xuôi về Cồn Hến “quanh năm mơ màng trong sương khói”, hòa với màu xanh của thôn Vĩ Dạ, sông Hương mang vẻ đẹp huyền ảo, mơ màng. Và thật bất ngờ, trước khi rời khỏi kinh thành Huế, sông Hương “đột ngột rẽ dòng… để gặp lại thành phố lần cuối”. Nhà văn dùng biện pháp nhân hóa để nội tâm hóa hình dáng của dòng sông: “Đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu” -> Biện pháp nhân hóa đã giúp tác giả thổi hồn vào dòng sông và hơn thế nữa là một phương thức để nhà văn kết nối sông Hương với con người và văn hóa của mảnh đất Châu Hóa xưa và Huế ngày nay.

- Sông Hương và thiên nhiên Huế: Lần theo dòng chảy của sông Hương, ta bắt gặp những bức tranh thiên nhiên đẹp mượt mà:

+ Thiên nhiên Huế được nhà văn tái hiện với vẻ đẹp đa dạng trong thời gian và không gian. Sông Hương phản quang vẻ đẹp biến ảo của Huế “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Gắn liền với dòng sông, những địa danh quen thuộc: Hòn Chén, Nguyệt Biều, Vọng Cảnh, Thiên Thai dường như sống động hơn: “sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “sắc nước trở nên xanh thẳm”…-> Sông Hương tôn tạo vẻ đẹp cho cảnh sắc thiên nhiên Huế và ngược lại dòng sông cũng hun đúc mọi sắc trời, văn hóa của vùng đất cố đô.

- Sông Hương và con người Huế:

+ Thiên nhiên và dòng sông luôn gắn bó, gần gũi với con người. Qua điệu chảy của dòng sông nhà văn thấy được tính cách con người xứ Huế: mềm mại, chí tình, “mãi mãi chung tình với quê hương xứ xở”

+ Qua màu sắc của trời Huế, màu sương khói trên sông Hương nhà văn thấy cách trang phục trang nhã, dịu dàng của các cô gái Huế xưa “sắc áo cưới màu điều – lục các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng”

* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn lịch sử:

- Từ góc nhìn lịch sử, sông Hương không còn là cô gái “Di – gan man dại”, không còn là “người đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa” mà trở thành chứng nhân của những biến thiên lịch sử. Nhà văn ví sông Hương như “sử thi viết giữa màu xanh cỏ lá xanh biếc” -> Sự hòa quyện giữa chất hùng tráng và trữ tình. Sông Hương là một bản anh hùng ca, đồng thời giữa đời thường sông Hương là một bản tình ca “Còn non, còn nước, còn dài – Còn về, còn nhớ…”

- H.P.N.T đã nhìn thấy từ dòng sông những dấu tích lịch sử; từng nhánh rẽ của dòng sông, đến “những cây đa, cây cừa cổ thụ” cũng hàm ẩn một phần lịch sử:

+ Nhà văn đã ngược về quá khứ để khẳng định vai trò của dòng sông Hương trong lịch sử dân tộc. Từ thời đại các Vua Hùng, sông Hương là “dòng sông biên thùy xa xôi”. Trong những thế kỉ trung đại, với tên gọi Linh Giang, nó đã “oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt”. Sông Hương gắn liền với những chiến công Nguyễn Huệ. Sông Hương đẫm máu những cuộc khởi nghĩa TK XIX. Sông Hương gắn liền với cuộc CMT8 với những chiến công rung chuyển. Và sông Hương cùng những di sản văn hóa Huế oằn mình dưới sự tàn phá của bom Mỹ… -> Chất trữ tình của tùy bút giảm đi, nhường chỗ cho chất phóng sự với những sự kiện lịch sử cụ thể.

=> Quay về quá khứ xa xưa, ngòi bút nhà văn lấp lánh niềm tự hào về lịch sử một dòng sông có cái tên mềm mại, dịu dàng nhưng kiên cường, kiêu hãnh qua thăng trầm lịch sử.

* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn văn hóa:

Trong cảm nhận tinh tế của nhà văn, sông Hương còn hàm chứa trong bản thân nó nền văn hóa phi vật chất

- Sông Hương _ dòng sông âm nhạc:

+ Từ âm thanh của dòng sông (tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiếng mái chèo khua sóng đêm khuya, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền…) đã hình thành những làn điệu hò dân gian và nền âm nhạc cổ điển Huế. Và rồi cũng chính trên dòng sông ấy, những câu hò Huế vút lên, mênh mang, xao xuyến…

+ Viết về sông Hương, nhiều lần nhà văn đã liên tưởng đến “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Đại thi hào đã từng có thời gian sống ở Huế, những trang Kiều ra đời từ mảnh đất có truyền thống nhã nhạc cung đình. Đó là cơ sở để H.P.N.T hóa thân vào một nghệ nhân già, nghe những câu thơ tả tiếng đàn của nàng Kiều, chợt nhận ra âm hưởng của âm nhạc cung đình và bật thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh” -> Bóng dáng Nguyễn Du và những trang Kiều nhiều lần xuất hiện trong bài kí bộc lộ một khả năng liên tưởng phong phú, một vốn văn hóa sâu rộng và sự gắn kết với truyền thống, một sự đồng điệu tâm hồn nhà văn.

- Sông Hương _ dòng sông thi ca:

+ H.P.N.T đã làm sống dậy những vần thơ biếc xanh của Tản Đà về xứ Huế: “Dòng sông trắng – Lá cây xanh”. Hình ảnh thơ này cùng với câu chữ của tác giả “màu cỏ lá xanh biếc” là minh chứng cho sự tương giao của những tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm với sắc biếc của thiên nhiên Huế.

+ Nhà văn cũng làm sống dậy một sông Hương hùng tráng bất tử “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát, một sông Hương “nỗi quan hoài vạn cổ” trong thơ Bà Huyện Thanh Quan…

=> Bằng vốn kiến văn phong phú, H.P.N.T đã lay động linh hồn của con sông mà tên gọi của nó đã đi vào văn chương nghệ thuật mà theo tác giả “Dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”

b. Chất thơ của một ngòi bút tài hoa:

- Chất thơ toát ra từ những hình ảnh đẹp, từ độ nhòe mờ của hình tượng nghệ thuật: “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ…” ; qua cách so sánh liên tưởng gợi cảm: “Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vầng trăng non”

- Chất thơ còn lấp lánh ở cách H.P.N.T điểm xuyết ca dao, lời thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan.

- Chất thơ còn tỏa ra từ nhan đề bài kí gợi mãi những âm vang trầm lắng của dòng sông : “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

 

III. Kết bài:

- Chất trí tuệ và chất thơ kết hợp hài hòa trong tác phẩm của H.P.N.T tạo nên phong cách đặc sắc của nhà văn này.

- “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” không chỉ là một trong những tác phẩm hay nhất viết về sông Hương mà còn là bút kí đặc sắc vào bậc nhất của VHVN hiện đại.

 

 

12345Trang sau 153050mỗi trang
67

bài viết

Chat chit và chém gió
  • cos^2(T): tiếp , cj vt nốt cho 8/24/2017 7:35:38 PM
  • emily: ok 8/24/2017 7:35:49 PM
  • cos^2(T): xoh ! 8/24/2017 7:38:52 PM
  • emily: e ra r 8/24/2017 7:53:23 PM
  • nhih: hi mina 8/28/2017 4:10:52 AM
  • emily: . 8/28/2017 6:13:03 AM
  • Nắng: Hương 8/28/2017 6:20:26 AM
  • Nắng: e hok nhanh nhỉ 8/28/2017 6:20:29 AM
  • emily: sao e nhanh ạ? 8/28/2017 6:21:00 AM
  • emily: đây ms lớp 7 8/28/2017 6:21:08 AM
  • Nắng: ơ năm nay e lp 8 mà nhỉ 8/28/2017 6:21:21 AM
  • Nắng: s hok lp 7 ... ôn lại à 8/28/2017 6:21:28 AM
  • emily: vâng ạ 8/28/2017 6:22:14 AM
  • emily: e đg hk hè mà 8/28/2017 6:22:19 AM
  • Nắng: ừ , cj bt r 8/28/2017 6:22:30 AM
  • emily: cj xem đề chưa ạ? 8/28/2017 6:22:48 AM
  • Nắng: rồi 8/28/2017 6:23:01 AM
  • emily: cj có thể làm đc k ạ? 8/28/2017 6:23:34 AM
  • Nắng: được 8/28/2017 6:23:41 AM
  • Nắng: có lẽ thế ... 8/28/2017 6:23:44 AM
  • emily: cj hk giỏi nhỉ 8/28/2017 6:24:17 AM
  • Nắng: cj mà làm dài qá 8/28/2017 6:24:20 AM
  • Nắng: thì đừng trách cj nhé 8/28/2017 6:24:24 AM
  • emily: dài càng tôt mà 8/28/2017 6:24:34 AM
  • Nắng: ok 8/28/2017 6:24:37 AM
  • emily: happy 8/28/2017 6:24:41 AM
  • emily: cj đang làm hả? 8/28/2017 6:25:31 AM
  • Nắng:8/28/2017 6:26:05 AM
  • emily: wow 8/28/2017 6:26:25 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:29 AM
  • emily: not_worthy 8/28/2017 6:26:33 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:36 AM
  • Nắng: miễn lễ 8/28/2017 6:26:38 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:41 AM
  • emily: hihihi 8/28/2017 6:26:46 AM
  • emily: hee_hee 8/28/2017 6:26:50 AM
  • emily: đa tạ 8/28/2017 6:26:57 AM
  • emily: hee_hee 8/28/2017 6:27:03 AM
  • emily: cj xong chưa cj/ 8/28/2017 6:30:48 AM
  • Nắng: no_talking 8/28/2017 6:30:57 AM
  • emily: cj sao vậy ạ? 8/28/2017 6:31:51 AM
  • emily: sad 8/28/2017 6:32:03 AM
  • emily: cj ơi 8/28/2017 6:32:48 AM
  • Nắng: ơi 8/28/2017 6:33:02 AM
  • emily: cj ik đâu? 8/28/2017 6:34:03 AM
  • emily: hay cj nêu ý chính cg đc 8/28/2017 6:34:14 AM
  • Nắng: https://hoc24.vn/hoi-dap/question/120798.html 8/28/2017 6:47:38 AM
  • Nắng: vào đi , ko cần đăng kí cx đọc đk 8/28/2017 6:47:49 AM
  • emily: vâng 8/28/2017 6:48:21 AM
  • emily: thanks 8/28/2017 6:48:22 AM
  • Nắng: kcj 8/28/2017 6:48:29 AM
  • Phù thủy nhỏ: hi mn 9/16/2017 8:56:16 AM
  • Phương Thảo: vỏ sò khóa là gì? 9/25/2017 8:53:52 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:00:56 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:01:00 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:01:48 AM
  • carolina26072005: happy 11/28/2017 8:24:30 PM
  • carolina26072005: hello 11/28/2017 8:24:39 PM
  • kocotendst2k3: 2222 12/4/2017 9:14:23 PM
  • kocotendst2k3: Cho e hỏi chi tiết nào đã thể hiện sâu sắc, cảm động tình cha con của ông 6 vs bé thu ạ 12/4/2017 9:16:06 PM
  • hieuchutien: chich nhau ko 12/5/2017 5:48:55 AM
  • hieuchutien: cai dit nhau 12/5/2017 5:49:15 AM
  • hieuchutien: cut 12/5/2017 5:49:17 AM
  • hieuchutien: cc 12/5/2017 5:49:18 AM
  • ๖ۣۜGemღ: Mọi người có thắc mắc hay cần hỗ trợ gì thì gửi tại đây nhé https://goo.gl/dCdkAc 12/6/2017 8:53:59 PM
  • letu200122: @@ 12/12/2017 11:12:14 PM
  • letu200122: alo 12/12/2017 11:12:42 PM
  • свинья: rolling_on_the_floorrolling_on_the_floor 12/30/2017 8:58:02 PM
  • lanho: hi 1/10/2018 8:51:32 PM
  • dumamiconvan: sao A 2/26/2018 8:09:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:30 PM
  • Rushia : .. 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:34 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:34 PM
  • ๖ۣۜBossღ: x 3/2/2018 9:19:09 PM
  • ๖ۣۜBossღ: h 3/4/2018 7:11:57 PM
  • ngocanhwang: em chào mọi người ạ 3/18/2018 6:07:38 PM
  • caochanhkhai1111: hello 4/5/2018 10:21:43 PM
  • dungvong2006: helo 4/9/2018 9:04:06 PM
  • dungvong2006: em Ng Hồng Ngọc có đây k nhỉ 4/9/2018 9:05:38 PM
  • Nguyễn Nhung: angel 4/9/2018 9:09:49 PM
  • maizabuza: happy 9/26/2018 5:36:49 AM
  • nguyenlena123: big_grin 10/8/2018 10:10:20 PM
  • nguyenlena123: thương vợ của tú xương và chữ người tử tù của nguyễn tuân 10/8/2018 10:10:58 PM
  • nguyenlena123: Bác Dương thôi đã thôi rồi 10/8/2018 10:12:20 PM
  • nguyenlena123: Hãy có một lần nhìn lại bản thân và cách đối xử với nó với cha mẹ 10/8/2018 10:14:14 PM
  • shixamxi2005: r đâu 2/28/2019 1:26:03 PM
  • linhcute555666:9/2/2019 9:58:38 AM
  • linhcute555666: hú hú hú 9/2/2019 9:58:59 AM
  • linhcute555666: ư ư 9/2/2019 9:59:01 AM
  • linhcute555666: hú hú 9/2/2019 9:59:04 AM
  • linhcute555666: :vvv 9/2/2019 9:59:05 AM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely