Nội dung theo thẻ

0
phiếu
0đáp án
705 lượt xem

RỪNG XÀ NU

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

       Nguyễn Trung Thành tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ông có bút danh khác là Nguyên Ngọc. Nguyễn Trung Thành là bút danh được dùng trong những năm ông hoạt động ở chiến trường miền Nam thời kỳ chống Mĩ cứu nước.

       Truyện ngắn Rừng xà nu công bố lần đầu năm 1965. Khi đó, cách mạng miền Nam đã trải qua thời kỳ đen tối đến lúc Đồng khởi và đang tiếp tục cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai. Theo lời Nguyễn Trung Thành, ông nhớ rất rõ ngày 8-3-1965, mấy vạn lính thủy quân lục chiến Mĩ đổ bộ vào bãi biển Chu Lai. “Đó là những ngày sôi sục, nghiêm trang, nghiêm trọng, lo lắng, quyết liệt, hào hùng: dân tộc ta bước vào cuộc chạm trán một mất một còn trực tiếp với đế quốc Mĩ”.

          Vấn đề đặt ra trong truyện ngắn là vấn đề trung tâm của toàn dân tộc lúc đó: con đường duy nhất lúc đó cầm vũ khí đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong một thế tương quan lực lượng chênh lệch về vũ khí kỹ thuật, đâu là sức mạnh mang lại thắng lợi cho chúng ta? Truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành góp phần tìm ra câu trả lời: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Ý chí quyết đấu là nguồn gốc của sức mạnh. Tác phẩm cũng chỉ ra vẻ đẹp tinh thần của nhân dân Tây Nguyên bất khuất.

          Lúc nhà văn định viết một truyện ngắn về đồng bằng đánh Mĩ nhưng mấy đêm thức ròng ông không sao viết được. Ông chuyển qua viết về miền núi và trong một đêm giữa năm 1965, Rừng xà nu đột ngột đến với tác giả. Mặc dù câu chuyện hư cấu nhưng các nguyên mẫu đều là có thật, nhà văn đã gặp họ ở nơi này nơi khác, lúc này lúc khác. Nguyễn Trung Thành kể là ông đã quen biết ông Núp, ông Mết từ hồi đánh Pháp, khoảng năm 1963 đã gặp anh Đề người Xê-đăng và nghe anh kể, năm 1959 anh Đề đã cùng 10 trai làng dùng dao dựa, giáo, mác giết được một tiểu đội lính Diệm. Cuối năm 1963, trong một hội nghị ở huyện Đắc-lây, Nguyễn Trung Thành đã gặp một cô gái người Ê-đê xinh đẹp, vừa là cán bộ phụ nữ xã, vừa là du kích. Những con người ấy gặp nhau, âm thầm hình thành những nhân vật văn học trong tác giả để khi ông viết, chúng hội tụ về dưới trang văn. Quá trình viết câu chuyện trở nên dễ dàng: “Tất cả, tôi không phải “bịa” thêm gì cả, tôi thấy rõ hết. Mặc dầu tất cả đay hoàn toàn là một câu chuyện bịa mà như thật. Với tôi nó hoàn toàn có thật”.

2. Nguyễn Trung Thành nói về biểu tượng rừng xà nu

       Cây xà nu là cây thông. Văn học trung đại đã viết không ít về cây thông, nhưng đều tập trung khai thác ý nghĩa biểu trưng của cây thông cho phẩm chất của người quân tử. Bởi lẽ cây thông vẫn xanh tươi ngay cả giữa mùa đông lạnh giá trong khi tất cả các loài cây khác đều rụng lá. Đây là thứ cây tượng trưng cho sự kiên cường, bất khuất, không chịu đổi dời bản tính theo ngoại cảnh. Truyện ngắn Rừng xà nu cũng khai thác nghĩa biểu trưng của cây thông nhưng không phải là của một cây thông riêng rẽ mà là của một rừng thông, một “tập thể” thông. Tác phẩm cũng không nhằm vào biểu tượng quân tử ở cây thông mà hướng đến diễn tả sức sống mạnh mẽ, bất diệt của rừng thông như một biểu tượng về sức sống mạnh mẽ, bất diệt của những con người Tây Nguyên bình dị, không một bạo lực nào có thể tiêu diệt nổi. Đây là một nét mới của ý nghĩa biểu trưng của rừng thông mà văn học cách mạng có thể đưa vào kho tàng văn học.

          Nguyễn Trung Thành kể về hồi tháng 5 năm 1962 hành quân từ miền Bắc vào đến khu rừng bát ngát ở phía Tây Thừa Thiên thì gặp cây xà nu. “Tôi say mê cây xà nu từ ngày đó. Ấy là một thứ cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh nhã, vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô tận. Không khí ở đây thơm lừng. Nệm lá dưới mặt đất ngả lưng êm ru”. Vì thế, khi dự định viết về miền núi đánh giặc, Nguyễn Trung Thành đã gặp cây xà nu trong những dòng đầu tiên: “Bắt đầu đến dưới ngòi bút, gần như không hề tính trước, là một rừng xà nu, những cây xà nu… rừng xà nu chợt đến và lập tức tôi biết tôi đã tạo được không khí, đã có không gian ba chiều. Và cũng đã lập tức nhập được vào không khí và không gian ấy”.

          Biểu tượng xà nu đã hình thành từ thực tế quan sát, suy nghĩ nhiều năm của tác giả để trong giây lát có thể xuất hiện, dẫn dắt cho mạch truyện.

I-  PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Đặc điểm nội dung

a) Rừng xà nu, biểu tượng vế sức sống của người dân Tây Nguyên

       Ý nghĩa tượng trưng của rừng xà nu rất dễ quan sát thấy qua việc miêu tả rừng xà nu ở phần mở đầu và phần kết thúc câu chuyện.

       Mở đầu thiên truyện là cuộc chiến đấu thầm lặng mà quyết liệt giữa một bên là rừng xà nu và một bên là đạn pháo của giặc. Một chi tiết được miêu tả không hề ngẫu nhiên và trái lại, được tác giả có dụng ý nhấn mạnh: giặc bắn đại bác ngày hai lần, nhưng “hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn”. Những loạt đạn đại bác là sự thử thách nghiệt ngã đối với rừng xà nu. Hàng vạn cây xà nu bị thương, nhựa ứa ra, đau đớn uất hận như máu nhỏ. “Ở chỗ viết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh ngày hè nắng gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Nhưng nói tới sự tàn phá của đại bác giặc cũng là một cách giới thiệu sức sống bất diệt của cây xà nu.

Đối lập với sự tàn phá của đạn đại bác giặc là hình ảnh rừng xà nu kiên cường, bất khuất, hệt như con người, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác vươn lên trước những làn đạn: “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời như thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bui vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng […]. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã”.

       Kết thúc câu chuyện, nhà văn láy lại hai ý: một số cây xà nu to bị thương, nhựa ứa ra “lóng lánh nắng hè” và những cây nhỏ đang mọc lên như để thay thế những cây bị ngã: “Quanh đó vô số những cây con đang mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê”. Rừng xà nu có dáng dấp của một tác phẩm luận đề, cách mở đầu và kết thúc hé mở triết lý mà tác phẩm sẽ phân tích, chứng minh.

       Có thể nói hình tượng rừng xà nu là một biểu tượng đẹp về dân làng Xô Man. Trong làng này, những người dân tộc Strá cũng quật cường, bất khuất, các thế hệ nối tiếp nhau cùng chung một truyền thống đấu tranh cách mạng kiên trung, một truyền thống không khi nào bị gián đoạn, đứt quãng. Cây xà nu ở đay cũng giống như cây tre dưới xuôi, một biểu tượng đẹp về sức sống dẻo dai bền bỉ của con người.

b) Các thế hệ người Strá tham gia đấu tranh cách mạng

       Nhân vật trung tâm của tác phẩm- nếu như có yêu cầu phải xác định – có thể tìm thấy ở nhân vật Tnú. Tuy vậy không thể nói là các nhân vật khác được xây dựng mờ nhạt hay đơn giản. Tnú chỉ là đại biểu cho một trong các thế hệ nối tiếp đấu tranh cách mạng ở làng Xô Man.

-     Cụ Mết là đại diện của thế hệ người Strá đã từng tham gia đánh Pháp nay lại tiếp tục đánh Mĩ và bè lũ tay sai. Một con người vững chãi, từng trải, một lòng một dạ với Đảng, với cách mạng. Sức mạnh thể chất và tinh thần toát lên từ vẻ ngoài của cụ Mết. “Một bà tay nặng trịch nắm chặt lấy vai anh như một kìm sắt. Anh quay lại: cụ Mết! Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải láng bóng. Ông ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn”. Ở ông già sáu mươi tuổi này “tiếng nói vẫn ồ ồ, dội vang trong lồng ngực”. Mọi lời nói của cụ đều được dân làng lắng nghe, trân trọng: “Lúc ông cụ Mết nói, mọi người đều im bặt”. Lẽ đơn giản là cụ thường nói lên những tư tưởng lớn, có ý nghĩa chân lý; mà cũng không đơn giản là chỉ nói, cụ dẫn dắt cả làng đi theo con đường cách mạng. Cụ thường nhân dịp thích hợp để giáo dục, nhắc nhở dân làng về đấu tranh cách mạng. Ví dụ, cụ chỉ chia cho mỗi người mấy hạt muối quý giá và giải thích: “Năm nay làng không đói. Gạo đủ ăn tới mùa suốt. Nhưng phải để giành, dự trữ mỗi bếp cho được ba năm […] đánh thằng Mĩ phải đánh dài”. Cụ triết lí về sức mạnh quật khởi của các thế hệ qua biểu tượng cây xà nu “không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ  ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”. Lời của người từng trải, kinh lịch thật chắc gọn mà sâu sắc. Cụ Mết nói: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Cụ hiểu tình huống đầy kịch tính khi Tnú với hai bàn tay không nhảy ra cứu vợ con: “Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây thừng. Tau k nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cụ Mết không ngờ cụ đã nói lên một chân lý của thời đại ấy, cũng như ở dưới xuôi kia, trong thành phố, anh Trỗi nói “Còn thằng Mĩ thì không có ai hạnh phúc”, ở nông thôn, chị Út Tịch nói “Còn cái lai quần cũng đánh”.

-     Hai chị em Mai và Dít cũng là một biểu tượng thu nhỏ về sự tiếp nối truyền thống cách mạng ở Tây Nguyên. Mai cùng với Tnú đã thay các thế hệ trước nuôi cán bộ cách mạng. Người cán bộ cách mạng – anh Quyết – hỏi: “Các em không sợ giặc bắt à? Nó giết như anh Xút, như bà Nhan đó”. Để trả lời, Tnú dẫn câu nói như một chân lí đã được tổng kết từ cụ Mết: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Mối liên hệ gắn bó giữa Đảng và cách mạng, Đảng và dân và nước được họ nhận thức rất rõ ràng, giản dị. Cái chết đầy xúc động của hai mẹ con Mai do bàn tay độc ác của kẻ thù chỉ làm cho ý chí chiến đấu của Dít, em gái Mai thêm sắt đá, kiên cường. Ngày Mai mất, Dít còn nhỏ. “Tnú cầm mấy cây xà nu soi cho Dít gằn gạo. Nó gằn đủ ba mươi lon gạo trắng, đổ ruột ghét cho Tnú mang đi. Nó lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh trong khi mọi ngườ, cả cụ già Mết, đều khóc vì cái chết của Mai”.

          Dít có cách thể hiện tình cảm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ có thể hiểu được khi đặt vào bối cảnh của phong trào cách mạng miền Nam đầu những năm 60, khi gắn với truyền thống cách mạng của người dân Tây Nguyên từ hồi chống Pháp. Buổi hội ngộ đầu tiên của họ sau mấy năm Tnú đi vắng hơi bất ngờ với Tnú. Cặp mắt mở to, trong suốt, bình thản của Dít nhìn Tnú hồi lâu rồi Dít hỏi Tnú bằng cái giọng lạnh lùng: “Đồng chí về có giấy không?”. Trong sự lạnh lùng của nguyên tắc đó bao hàm một nguyên cớ thật đẹp: Dít muốn Tnú phải là một chiến sĩ giải phóng quân mẫu mực, về phép dù chỉ một đêm cũng phải có giấy phép của chỉ huy. Chỉ sau khi biết Tnú có giấy phép, Dít mới vồn vã: “Sao anh về có một đêm thôi […] Thôi cũng được. Về một đêm cho làng thấy mặt là được rồi. Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi”. Thể hiện tình cảm cá nhân gắn liền một cách hài hòa với sự nghiệp cách mạng là một đặc điểm phổ biến của văn học cách mạng, tạo nên chất sử thi cho tác phẩm.

-     Hình tượng Tnú: mặc dù một đặc điểm lớn của văn học cách mạng là diễn đạt hài hòa sự nghiệp anh hùng của các cá nhân và sự nghiệp cách mạng của quần chúng, chúng ta có vẫn có thể nói đến Tnú như một nhân vật chính, thể hiện cảm hứng của thiên truyện.

           là một chiến sĩ cách mạng với những nét đặc trưng của người dân Tây Nguyên. Cuộc đời anh li kỳ như một huyền thoại trong thiên sử thi anh hùng ca chói lọi của núi rừng Tây Nguyên. Cụ Mết muốn câu chuyện về Tnú sẽ được các thế hệ nối tiếp nhau kể cho nhau nghe.

          Học chữ hay quên, nhưng Tnú rất sáng dạ, thông minh khi làm liên lac cho anh Quyết từ huyện về xã. Tnú chấp nhận khó khăn: không đi đường mòn, cứ xé rừng mà đi; không vượt sống ở chỗ nước êm mà vượt thác. Đó là vì sự an toàn của những chuyến đi chuyển thư từ, công văn. Lần cuối cùng bị địch bắt, Tnú đã kịp nuốt cái thư của cán bộ để giữ bí mật. Rồi anh vượt ngục của kẻ thù trở về. Anh gan góc, dũng cảm, ít lời mà cương quyết. Khi bị bắt, kẻ thù bắt anh phải khai ai là cộng sản. Tnú đặt tay lên bụng nói: “Ở đây này!”. Lưng anh đã phải nhận bao nhát dao chém của bọn lính. Tnú đã lao vào giữa bọn lính để cứu mẹ con Mai nhưng đã không cứu được mà thân mình bị bắt. Sự việc đó có nhiều ý nghĩa nhưng cho thấy bản lĩnh của anh. Khi chúng đốt hai bàn tay anh cũng là lúc tất cả thanh niên trong làng đã đem những cây dựa mài bằng đá núi Ngọc Linh chém chết hết mười tên lính.

          Mô-típ bàn tay là một mô-típ có sức diễn đạt rất sâu sắc của thiên truyện. Bàn tay Tnú như một tấm gương phản ánh tư tưởng, tình cảm của anh. Bàn tay Tnú có lcus đặt trong lòng bàn tay Mai để rồi họ thành vợ thành chồng. Bàn tay ấy hãnh diện để lên bụng để trả lời quân thù: Cộng sản “ở đây này”. Khi đau đớn, uất hận, bàn tay ấy đã bứt hàng chục trái vả mà không biết. Để đe dọa những bàn tay cầm giáo mác, cầm súng, kẻ địch quấn giẻ tẩm dầu xà nu lên mười đầu ngón tay của Tnú và đốt. Nhưng chính lúc kẻ thù định hủy diệt bàn tay thiêng liêng của người dân Tây Nguyên thì chúng đã phải nhận lấy đòn trừng phạt thích đáng nhất. Các trai làng cầm giáo mác giết chết mười tên giặc. Đốt hai bàn tay của Tnú tức là tiêu diệt ý chí đấu tranh cách mạng, chỉ đứng lên giết chết kẻ thù, chặn đứng tội ác của chúng là con đường sống duy nhất. Tnú đã không dùng dao, dùng súng mà dùng mười đầu ngón tay cụt bóp cổ chết tên chỉ huy địch cũng là một cách trả lời cho kẻ thù biết sự khủng bố điên cuồng, độc ác của chúng là vô ích. Tnú kể lại sôi nổi: “Tôi tống đầu gối lên ngực nó, tôi bóp đèn pin lên mặt nó: Dục, mày có nhớ tau không? Nó lắc đầu. Được, đây này, hai bàn tay tau đây này, nhớ chứ? Tau vẫn cầm được súng? Mắt nó trắng dã. Tôi nói: Này, tau có súng đây, tau có cả dao găm đây. Nhưng tau không giết mày bằng súng, tau không đâm mày bằng dao nghe chưa! Dục! Tau giết mày bằng mười ngón tay cụt này thôi, tau bóp cổ mày thôi!”. Thằng Dục, đứa đã tẩm dầu đốt tayanh hiển hiện ở bất cứ một tên giặc nào. Trong sự hồn nhiên của Tnú có chân lý: “Chúng nó đứa nào cũng giống như thằng Dục”. Tính cách của Tnú là điển hình cho tính cách của người Tây Nguyên: ít lời, giản dị mà cương quyết, rắn chắc; cuộc đời và số phận của Tnú là điển hình cho số phận và cuộc đời của người Tây Nguyên: đầy đau thương mà quật cường , anh dũng, một lòng kiên trung với cách mạng.

2.         Đặc điểm về nghệ thuật

          Vốn là tác giả của Đất nước đứng lên, Nguyễn Trung Thành hiểu rõ và năm vững văn hóa, đất nước và con người Tây Nguyên. Ông có sở trường dựng nên không khí của núi rừng Tây Nguyên, văn hóa Tây Nguyên.

          Truyện ngắn này có sức hấp dẫn nhờ nghệ thuật khắc họa những nét tính cách đặc sắc của người Tây Nguyên qua ngôn ngữ, ngoại hình, hành động của họ. Người Tây Nguyên trầm lặng, ít nói nhưng có cách bày tỏ tình cảm, tư tưởng riêng qua hành động. Khi Tnú về thăm làng cũ, có người nhảy phóc từ trên sàn nhà xuống đất để đón anh. Cụ Mết có lối mắng yêu thật lạ: “Cha mẹ mày, đi lâu thế! Để cho lũ con gái chúng nó lớn lên chẳng còn thằng thanh niên nào cho nó bắt chồng!”. Rồi cô Dít ít lời mà cũng không kém phần ý tứ: “Dít ngồi sụp xuống trước mặt anh, hai chân xếp về một bên, đưa tay kéo tấm váy che kín cả gót chân”… Ngôn ngữ nhân vật có  bản sắc dân tộc, chắc gọn, đơn giản mà đầy triết lý. Những chi tiết nho nhỏ như vậy đã dệt thành một bức tranh chân dung về những người Tây Nguyên vừa lạ lùng, vừa gần gũi thân thương.

          Không gian núi rừng Tây Nguyên cổ sơ, trầm mặc cũng được dựng lại một cách sống động qua hình ảnh đậm chất Tây Nguyên. Đó là tiếng chày giã gạo như một nỗi nhớ da diết nhất cho những đứa con Tây Nguyên đi xa. Đó là hồi mõ dìa ba tiếng vang lên từ phía nhà ưng thôi thúc mọi người lại họp ở chỗ già làng. Đó là các cây đuốc sáng quanh nhà cụ Mết. Rồi không khí trang trọng, thành kính của dân làng vây quanh cụ Mết chờ cụ kể chuyện về cuộc đời Tnú như chờ nghe kể khan truyền thống. Rồi tiếng cồng chiêng, rồi mỏ đá mài trên núi Ngọc Linh đủ dùng cho cả trăm cuộc khởi nghĩa gươm giáo mác của Tây Nguyên. Có nhà nghiên cứu đưa ra nhận xét rằng, truyện Rừng xà nu mang đậm màu sắc sử thi. Chất sử thi toát lên từ tinh thần vì cộng đồng của con người, từ những vấn đề chung, liên quan đến số phận chung của cả cộng đồng.

          Nguyễn Trung Thành nói “Rừng xà nu” là truyện của một đời, và được kể trong một đêm. Đó là cái đêm dài như cả một đời. Nhưng nó cũng ngắn, cũng chỉ là một đêm trong sự sống vất vả, đau khổ và hạnh phúc”. Câu chuyện kể một đêm chính là nói câu chuyện cụ Mết kể cho dân làng nghe kể về cuộc đời Tnú nhân dịp anh được về nghỉ phép một đêm: “Đêm nay tau kể chuyện nó cho cả làng nghe, để mừng nó về thăm làng. Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tau chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe…”. Đó đúng là thể chức kể sử thi của người Tây Nguyên. Câu chuyện một đời của Tnú nhưng cũng là câu chuyện của cả buôn làng, không chỉ kể một đêm mà sẽ kể mãi, như những thiên sử thi đã từng được kể hàng trăm năm, ngàn năm nay. Thêm một ý nghĩa nữa của câu chuyện Tnú, một thiên sử thi của thời đại mới.

          Tuy vai người kể chuyện là cụ Mết nhưng thực ra, cách kể của Rừng xà nu khá linh hoạt. Điểm nhìn của người kể có thay đổi, khi là ngôn ngữ tác giả, khi là lời cụ Mết, khi là chính nhân vật Tnú hiện diện. Ví dụ, cả đoạn tả Tnú từ gốc cây xông ra đến khi anh bị bọn thằng Dục tẩm dầu vào giẻ đốt cả mười ngón tay là nhìn tâm trạng anh từ bên trong, người kể hóa thân vào nhân vật để quan sát, ứng xử và bộ lộ cảm xúc. “Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!”. Đây tất nhiên không phải là lời kể của người đứng nhìn từ bên ngoài mà là cảm nhận của người trong cuộc.

 

0
phiếu
0đáp án
226 lượt xem

NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.  Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

          Nguyễn Thi (1928 – 1968) tên khai sinh là Nguyễn Hoàng Ca, quê ở xã Quần Phương Thượng (nay là xã Hải Anh), huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng. Cha và mẹ Nguyễn Thi đã hoạt động cách mạng vào những năm 30 của thế kỷ XX và gia đình ông là cơ sở cách mạng. Mồ côi cha từ năm mười tuổi, mẹ đi bước nữa, Nguyễn Thi chịu nhiều vất vả, tủi nhục từ thuở ấu thơ.

          Tuy sinh ra ở đất Bắc, nhưng Nguyễn Thi đặc biệt gắn bó với nhân dân miền Nam bằng một tình cảm ân nghĩa thủy chung mà ông muốn gửi vào từng trang viết của mình. Ông được trân trọng coi là nhà văn của những người nông dân Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước ác liệt.

Nguyễn Thi là một nhà văn – chiến sĩ mà cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo văn chương là một tấm gương sáng cho thế hệ nhà văn từng trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Những đứa con trong gia đình được Nguyễn Thi viết ngay trong những ngày chiến đáu ác liệt khi ông công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.

2.  Hình tượng người mẹ trong truyện Những đứa con trong gia đình

          Các sáng tác văn học của Nguyễn Thi tập trung phản ánh hiện thực đấu tranh dữ dội, quyết liệt của người nông dân Nam Bộ chống đế quốc Mĩ xâm lược và tay sai, giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Nhà văn đã diễn tả thành công những vẻ đẹp của người nông dân Nam Bộ bộc lộ trong hiện thực đấu tranh cách mạng này, những vẻ đẹp mà trong đời thường ta có thể không chú ý: Tình yêu quê hương đất nước, sự căm thù giặc sâu sắc, tinh thần hi sinh, xả thân vì sự nghiệp chiến đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

          Người mẹ có một ảnh hưởng rất sâu đậm đến tư tưởng, tình cảm của chị em Chiến, Việt . “Cuốn sổ gia đình” mà chú Năm giữ có những nội dung không được trích nhưng nếu ta biết thì việc phân tích đoạn trích sẽ thuật lợi hơn. Đây là loại sử biên niên của gia đình, một nửa của cuốn sử biên niên đó ghi lại những đau thương, tổn thất do kẻ thù của đất nước gây ra cho gia đình này: “Thím Năm bơi xuồng đi rọc lá chuối bị càng –nông Mỏ Cày bắn bể xuồng, chết còn mặc cái quần mới, trong túi còn hia đồng bạc. Ông nội nghe súng nổ, sợ bò đứt dây ra nắm giàm bò, lính tổng Phòng vào nói: “Mày là du kích!” rồi bắn vào giữa bụng ông nội…”. Một lối chép sử biên niên gia đình thật nôm na, đơn giản mà sức tố cáo thật lớn lao. Tội ác của kẻ thù để lại dấu ấn sâu đậm trong trang sử của đại gia đình. Ông, bà, cô, bác, cha, mẹ của Việt và Chiến bị kẻ thù giết hại hoặc lăng nhục. Cha họ bị giặc Pháp chặt dầu. Má trúng đạn pháo giặc Mĩ khi bà đi đấu tranh ở Mỏ Cày về bị giặc bắn đuổi theo. Mối thù sâu nặng, chông chất cần được trả, đó là ý nghĩa đầu tiên mà “cuốn sổ gia đình” của chú Năm nhắn gửi cho những đứa con của gia đình. Phần khác của cuốn sổ đó ghi lại “một số công tác của gia đình”. Đây không phải một gia đình nạn nhân, đây là gia đình có truyền thống đấu tranh cách mạng. “Ông nội đi đóng đáy ở sông Bình Khánh có mò được hai cây mút mát dưới tàu chìm… Thằng Hai, con chú Năm, đi về phép, lúc gian lộ Giồng Trôm, thấy cốt Ngã Ba, liền bò vào đặt trái, lấy cốt xong, bó năm cây súng vác về xã nhà… Những bản lĩnh và phẩm chất của Việt và Chiến được gieo mầm trên một mảnh đất màu mỡ của một truyền thống gia đình giàu lòng yêu nước, căm thù giặc. Trong cuốn biên niên ấy của gia đình, hai chị em Chiến và Việt đã kịp ghi được một chiến công đầu.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.  Phân tích theo nhân vật

a) Nhân vật Chiến

          Chiến là cô gái có những nét ngoại hình và tính cách giống hệt mẹ. Cũng một vóc dáng chắc nịch đủ sức để vượt qua mọi gian khổ như má. Đây là cảnh hia chị em khiêng bàn thờ má sang gửi bên nhà chú Năm: “Chị Chiến ra đứng giữa sân, kéo cái khăn trên cổ xuống, cũng xắn tay áo để lộ hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng, rồi dang cả thân người to và chắc nịch của mình nhắc bổng một đầu bàn thờ má lên”. Mẹ mất, Chiến dù hơn em trai có một tuổi nhưng đã tỏ rõ sự già dặn, khôn ngoan, biết lo toan cho gia đình. Khi hai chị em chuẩn bị tòng quân, những xếp đặt của Chiến về nhà cửa cho thấy cô thực sự đã là một người lớn, chín chắn, biết suy nghĩ, chỉ có một điều nữa là giống hệt má “phải chị thở dài rồi kêu thằng út dậy đi đái nữa thì giống hệt như má vậy”. Chiến thao thức không ngủ được. Má dường như đêm nay cũng theo ánh đom đóm về nhà ngó coi hai chị em tính toán việc nhà ra sao trước giờ lên đường tòng quân. Suy nghĩ về hành động của Chiến bộc lộ nét đẹp của con người vì cộng đồng. Khi hai chị em chuẩn bị đi tòng quân, Chiến bàn với Việt để nhà cho “xã mượn mở trường học”, “giường ván cũng cho xã mượn làm ghế học”, ruộng đất do cách mạng cấp trao lại chi bộ để chia cho bà con cô bác khác làm. Chuyện công và chuyện tư đều được Chiến tính toán thấu đáo. Các dụng cụ gia đình như chén, cuốc, vá, đèn soi, nơm gửi chú Năm để chị Hai muốn lấy gì thì lấy, hai công mía do họ trồng nhờ chú Năm đốn để giành làm giỗ má. Hai chị em không muốn làm phiền chú Năm và chị Hai. Bàn thờ gửi chú Năm. Cuộc sống thiếu mẹ đã tôi luyện Chiến già dặn, chắc chắn. Nhưng Chiến không tỏ ra gia trưởn. Chiến bàn bạc với Việt tất cả những gì cần làm. Những cử chỉ, lời nó của Chiến khiến cho  “Việt thấy thương chị lạ”.

          Về chuyện hai chị em sắp vào bộ đội, có hai việc mà Chiến không nhường em. Thông thường ganh đua, không nhường nhịn là do ích kỷ, nhất là chị em ganh đua. Nhưng việc Chiến không nhường em lại hàm chứa một động cơ rất trong sáng, cao thượng. Một là hai chị em đều đấu tranh nhau đi bộ đội, trong lúc Năm quyết định thu xếp việc nhà cho cả hai chị em tòng quân. Hai là, chị không chịu thua em Việt về khí phách:

“ – chú Năm nói mầy với tao đi kì này là ra chân trời mặt biển, xa nhà thì ráng học chúng học bạn, thù cha mẹ chưa trả mà bỏ về là chú chặt đầu.

Việt lăn kềnh ra ván cười khì khì:

-     Chị có bị chặt đầu thì chặt chớ chùng nào tôi mới bị.

-     Tao thưa với chú Năm rồi, đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”.

          Cách nói khiến Việt phải chịu là chị nói “in như má”.

          Nhân vật Chiến là mẫu nhân vật tiêu biểu cho thời kỳ kháng chiến chống Mĩ. Lẽ ra, Chiến cũng như bao thiếu nữ khác được học hành, được sống trong tình thương yêu của gia đình, người thân. Như thế hệ Chiến mang nặng mối thù nhà, nợ nước, không thể không tòng quân giết giặc. Tình hình lịch sử của mẫu hình nhân vật cần được chú ý để thấy hết vẻ đẹp tinh thần cũng như những hi sinh cao cả của thế hệ ấy.

b)        Nhân vật Việt

          Việt là cậu con trai mới lớn, có những vẻ đẹp riêng của chàng trai Nam Bộ. Mang nặng mối thù nhà, Việt khao khát được tòng quân đánh Mĩ trả thù nhà. Chị Chiến muốn đi tòng quân, chư cho Việt đi đợt này mà qua năm sau hãy đi vì “mày còn nhỏ” thì Việt “đá trái dừa rụng dưới chân xuống mương cái đùng”, nói “bộ mình chị biết đi trả thù à?”. Chi tiết đá dừa nói nhiều về tính cách mạnh mẽ, cương quyết của Việt.

          Trong đêm mít tinh, thanh niên ghi tên tòng quân, hai chị em giành nhau chạy lên gặp anh cán bộ huyện đội. Việt tranh nói trước chị Chiến, xin đi bộ đội. Qua lời Chiến, ta hiểu giữa hia chị em đã có sự bàn bạc để chị đi trước mà Việt không chịu. Chỉ khi chú Năm xin cho cả hia chị em cùng đi thì anh cán bộ huyện đội mới ghi tên cả hai. Chú ý chi tiết: “Đêm ấy thanh niên ghi tên tòng quân đông lắm”. Có thể có một nghĩa tiềm ẩn: hai chị em đều giành nhau đi bộ đội đã cổ vũ nhiều thanh niên khác ghi tên.

Chi tiết Việt lăn kềnh ra ván, cười khì khì khi chị Chiến giao hẹn thù cha mẹ chưa trả mà bỏ về là chú Năm chặt đầu. Việt nói: “Chị có bị chặt đầu thì chặt chớ chừng nào tôi mới bị”. Cach nói có vẻ rờn rợn, nhưng thể hiện rất đúng khí phách, bản lĩnh của chàng trai, cô gái đi đánh Mĩ hồi đó.

          Việt vẫn có những nét của tuổi hồn nhiên nên cậu vô tư hơn, ít suy nghĩ hơn chị. Cậu nói “má dặn chị làm sao, giờ chị cứ làm như vậy”, nói vài câu rồi “ngủ quên lúc nào không biết”. Nhưng từ trong sâu thẳm tâm hồn mình, cậu con trai đó “thấy thương chị lạ”. Có điều, là con trai, sự thể hiện tính cách khác người chị. Chi tiết hai chị em Việt hứa khi đưa bàn thờ má qua nhà chú Năm trước buổi tòng quân nhập ngũ: “Đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa ba má về” có ý nghĩa tượng trưng. Đối với người Việt Nam, việc chuyển bàn thờ má thật thành kính và thiêng liêng. Ý nghĩa của việc hai đứa con sắp ra đi vô cùng trọng đại. Độc lập dân tộc và hạnh phúc của từng gia đình không tách rời. Hai chị em có những nét khác nhau nhưng mẫu số chung của họ là truyền thống gia đình, là lòng căm thù quân xâm lược.

c)         Nhân vật chú Năm

          Đây cũng là một hình tượng đẹp, có ý nghĩa tượng trưng về truyền thống gia đình. Đây là một người đàn ông Nam Bộ, tính cách mạnh mẽ, phóng khoáng, quyết đoán. Chú bước lên xin cho ghi tên cả hai chị em Chiến và Việt, nói “Việc lớn ta tính toán theo việc lớn, còn việc thỏn mỏn trong nhà tôi thu xếp khắc xong”.

          Tuy chú Năm đã già nhưng vẫn làm những việc có ý nghĩa nhắc nhở, khích lệ các cháu. Chú lập cuốn sổ gia đình, chơ cho hai cháu khôn lớn, trao cuốn sổ thiêng liêng này ở thời điểm hai cháu sắp lên đường tòng quân như là cử chỉ ghi nhận sự trưởng thành cảu hai  đứa cháu. Chú hứa “tao sẽ ghi cho hai đứa bây từng ngày” – ghi đây là ghi những thành tích, những chiến công. Chú bảo “con nít chúng bây kì đánh giặc này khôn hơn chú hồi trước”. Và chú hay cất giọng hò, không phải vì chú có giọng hò hay mà chú hò để gửi gắm tâm tình, ước mơ của chú, để nhắn nhủ các cháu. Chú Năm là biểu tượng cho truyền thống gia đình, là lời nhắn nhủ của cha chú cho các cháu về cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc và hạnh phúc gia đình.

          Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình đã góp phần lý giải sức mạnh chiến thắng của những người lính giải phóng từ góc độ truyền thống gia đình. Gia địnhlà một hình ảnh thu nhỏ của cả xã hội, đất nước. Sức sống bất diệt, sức mạnh chiến thắng bắt nguồn từ truyền thống yêu nước quật cường được cá thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau. Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn lại chọn lối viết giống như tiểu thuyết của dòng ý thức, để cho Việt, sau khi lập chiến công bị thương, trong lúc mê lúc tỉnh đã “nhìn” thấy những người thân trong gia đình. Những hình ảnh người thân ấy là nguồn năng lượng tiếp sức của Việt, mặc dù bị thương nặng anh đã trụ được suốt ba ngày cho tới lúc gặp lại được đồng đội, trong suốt ba ngày đó anh luôn luôn trong tư thế sẵn sàng bắn nếu gặp địch.

d)       Nhân vật người má của Việt

          Nhân vật người má của Việt hiện thân cho truyền thống gia đình. Trong các tác phẩm của Nguyễn Thi, hình tượng người má, người mẹ mang đậm chất Nam Bộ bao giờ cũng gợi cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ nhất cho ông. Họ là một nguồn sinh lực dồi dào, họ sinh ra những đứa con để nối tiếp truyền thống gia đình để các con noi theo. Họ cso thể ngã xuongs vì bom đạn kẻ tù, nhưng họ sẽ tái sinh trong máu thịt và sống lại trong cuộc đời của những đứa con. Họ bất tử. má của Việt và Chiến trong thiên truyện này là người như vậy. Trước khi nhập ngũ, Chiến và Việt ddeuf cảm thấy má trở về ngồi đó.

2.  Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Thi

a)  Dòng ý thức

          Câu chuyện được kể lại qua dòng ý thức của Việt, khi tỉnh khi mê man ở chiến trường, sua khi chiến đấu bị thương. Dòng liên tưởng của nhân vật cho phép câu chuyện được kể không phụ thuộc vào tiến trình thời gian sự kiện, không đòi hỏi kể theo trật tự trước sau của sự kiện mà có thể đạo lộn trật trự sự kiện theo đúng quy luật tâm lý. Thủ pháp “dòng ý thức”: Câu chuyền về gia đình, về những đứa con trong gia đình được nhà văn kể lại thông qua tia hồi quang ký ức vọng đến từ quá khứ trong tâm trí cảu Việt khi cậu bị thương nặng, mất máu, kiệt sức, lúc mê lúc tỉnh. Việt không hồi tưởng vì lúc này không còn sức mà động não, mà nhớ lại nữa, các ký ức tiềm ẩn tự chúng vọt sống dậy, trở về trong trí óc anh một cách vô thức. Lúc tỉnh, Việt nhớ đến thực tại chiến trường, cậu lo chuẩn bị đánh địch nếu bị phát hiện, rồi lại mê man, kí ức hiện về. “Việt tỉnh dậy lần thứ tư, trong đầu còn thoáng qua hình ảnh của người mẹ. Đêm nữa lại đến. Đêm sâu thăm thẳm, bắt đầu từ tiếng dế gáy u u cáo vút mãi lên. Người Việt như đang tan ra nhè nhẹ. Ước gì bây giờ lại được gặp má. Phải, ví như má đang bơi xuồng, má sẽ ghé lại, xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy […]. Nhưng mấy giọt mưa lất phất trên cổ làm Việt choàng tỉnh hẳn”.

          Thủ pháp dẫn chuyện này tạo cho nhà văn khả năng to lớn trong việc lựa chọn những sự việc, tình tiết, chi tiết cần thiết nhất mà không bị ràng buộc bởi trật tự thời gian, không gian. Mặt khác, những ký ức sống dậy trong các cơn mê (trạng thái vô thức) cho thây chiều sâu của tính cách nhân vật, cho thấy sự gắn bó sâu sắc của nhân vật với quê hương, với gia đình, do đó góp phần lý giải sức mạnh tinh thần to lớn giúp Việt vượt qua cái chết để tồn tại cho đến lúc gặp đồng đội, tức là lý giải nguồn gốc của sức mạnh đã đem lại chiến thắng của cuộc chiến đấu chống Mĩ. Hình ảnh má phảng phất hiện về trong trạng thái mê tỉnh chập chờn cho thấy má là người thân yêu nhất, là nỗi niềm thiêng liêng nhất của Việt. Hình ảnh chị Chiến hay chú Năm hiện ra gắn liền với cảnh hia chị em giành nhau đi bộ đội cho thấy đó là sự kiện quan trọng nhất, kỉ niệm sâu sắc nhất của Việt. Từ đó, những vấn đề lớn của thời đại được thể hiện.

b) Bút pháp hiện thực

          Nguyễn Thi miêu tả cuộc sống trong những hình thái của bản thân đời sống. Nhà văn không né tránh kể cả những mảng hiện thực dữ dội nhất. Cuộc sống, cuộc đấu tranh thật vô cùng quyết liệt, chi tiết ba của Việt bị Tây chặt đầu mà bà má tay bế con, tay cầm rổ chạy theo đòi giặc trả đầu ba cho kì được, về một mặt nào đó có phần rùng rợn nhưng là một chi tiết điển hình . Thực tế là như vậy và có ghi nhận thì mới hiểu được sức mạnh căm thù quân cướp nước ở người dân Nam Bộ.

Tuy vậy, nhà văn tôn trọng hiện thực mà không sao chép hiện thực. Ông biết chọn lọc những chi tiết có sức thể hiện mà lý luận văn học gọi là chi tiết điển hình. Cảnh hia chị em Chiến, Việt chuyển bàn thờ mẹ qua gửi chú Năm có giá trị biểu đạt cao. Người Việt Nam theo đạo thờ ông bà, cha mẹ và với họ bàn thờ cha mẹ, tổ tien là linh thiêng nhất. Quê hương, đất nước, Tổ quốc trước hết thể hiện nơi bàn thờ. Khi khiêng bàn thờ, Việt mới thấy rõ lòng mình và mối thù giặc Mĩ cậu cảm thấy có thể rờ thấy được.

          Những đứa con trong gia đình là một bức tranh hiện thực, sinh động về cuộc sống của con người Nam Bộ. Đặc biệt phải nói đến ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật giàu tính hiện thực, đậm màu sắc dân gian Nam Bộ đã góp phần xây dựng những chân dung thực về người dân Nam Bộ. Nhà văn dùng ngôn ngữ dân gian để thuật chuyện, gọn gàng, giản dị, chắc nịch, thiên về mô tả hành động. Ngôn ngữ nhân vật đậm màu sắc dân gian, thể hiện tính cách con người Nam Bộ. Lời lẽ của chú Năm bao giờ cũng thể hiện sự khoáng đạt, mạnh mẽ, dứt khoát của chú, một người đã trải nghề sông nước, tâm hồn mở rộng trong không gian bao la của Nam Bộ. Một khi chú đã nhận việc gì về phần mình, chú đều coi việc đó là “thỏn mỏn”, chú không nghĩ đó là việc lớn lao, trọng đại. Ngôn ngữ đối thoại của má Việt thường đanh gọn, dứt khoát. Ngôn ngữ của Chiến, Việt cũng giống như ngôn ngữ của mẹ, thường ngắn gọn, đi vào thực chất câu chuyện mà không vòng vo, không lý sự, ít triết lý. Bản ính của họ là nông dân nên ở họ hành động nhiều hơn là triết luận.

          Những đứa con trong gia đình là một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Thi. Bằng một phong cách nghệ thuật riêng, nhà văn đã góp phần khám phá vẻ đẹp của người nông dân Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, khám phá cội nguồn của sức mạnh chiến thắng của nhân dân ta. Qua một giọt nước, thấy được biển cả. Gia đình Việt, Chiến là hình ảnh thu nhỏ của miền Nam trong những năm tháng đánh Mĩ. Ở gia đình ấy, dấu ấn tội ác do giặc Pháp – Mĩ gây ra đã hằn sâu vào cuốn sổ gia đình. Những gia đình ấy, truyền thống đánh giặc cũng chói lọi, rực rỡ. Câu chuyện gia đình là câu chuyện của cả nước, cả toàn dân tộc.

 

0
phiếu
0đáp án
533 lượt xem

CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

I-   NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.  Về tác giả

Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) xuất thân từ một gia đình nông dân ở làng Thơi, xã Quỳnh Hải (nay là xã Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Năm 1944, Nguyễn Minh Châu học Trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến năm 1958, Nguyễn Minh Châu công tác và chiến đấu ở Sư đoàn 320, bắt đầu viết văn từ năm 1954. Ông rất am hiểu đời sống và tâm hồi người chiến sĩ, thực tế khắc nghiệt và hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mĩ. Từ năm 1980 trở đi, ông đi đầu trong khuynh hướng đổi mới văn học sau chiến tranh: nghĩ và viết nhiều về “đời thường”, về những vấn đề bức xúc đằng sau những chiến công, những vấn đề xã hội, về số phận và phẩm cách con người trong thực trạng phức tạp của đất nước.

2.  Sự đổi mới của cảm hứng nghệ thuật thời kỳ sau năm 1975

          Sau năm 1975, đặc biệt từ sau năm 1985, trong văn học Việt Nam hình thành khuynh hướng văn xuôi mới so với trước đây mà giới nghiên cứu gọi là “văn xuôi đời thường” để phân biệt với xu hướng “văn xuôi sử thi”. Gọi là “văn xuôi sử thi” vì, giống như các sử thi anh hùng ca, xu hướng này mô tả con người gắn liền với sự nghiệp toàn dân tộc, sự nghiệp chung của tập thể. Xu hướng văn xuôi đời thường lại chú trọng quan sát, mô tả, nhận diện con người trong cuộc sống riêng tư, những mảng tối, còn khuất lấp của thân phận, tính cách con người mà trước đây, văn học thời chiến chưa có nhiều điều kiện khám phá. Bản thân Nguyễn Minh Châu trong các sáng tác thời 1975 cũng có xu hướng đi tìm con người sử thi, con người cộng đồng (truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng là một ví dụ quen thuộc). Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa phản ánh sự thay đổi không những về đề tài mà còn về quan điểm thẩm mĩ của nhà văn. Nếu trước 1975, quan điểm thẩm mĩ của nhà văn có thể diễn đạt bằng công thức cái đẹp là cái cao cả, cái anh hùng thì sau năm 1975, cái đẹp là cái thường ngày, cái đẹp là chính cuộc sống.

3.  Khái niệm “tình huống truyện”

       Nghệ thuật truyện ngắn có liên hệ mật thiết với tình huống truyện. Theo Bùi Việt Thắng, trong Bình luận truyện ngắn (NXB Văn học, Hà Nội, 1999), có thể tóm tắt bản chất của tình huống như sau:

-     Tình huống là những thời khắc tiêu biểu (có người gọi là khoảnh khắc, chốc lát,…) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong cuộc sống con người.

-     Tại thời điểm đó, các nhân vật có cơ hội châu tuần lại, gắn kết với nhau (mà trước đó họ vốn xa lạ với nhau hoặc gần mà chưa có điều kiện hiểu biết lẫn nhau).

-     Tại thời khắc đó đã bộc lộ cái bản chất trong quan hệ giữa các tính cách nhân vật, giữa nhân vật với hoàn cảnh.

-     Tình huống là sự thể hiện sâu sắc chủ đề tác phẩm.

          Tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa là kiểu tình huống luận đề. Một nghệ sĩ nhiếp ảnh dự định đi chụp những cảnh biển thật đẹp để đưa vào tờ lịch nhưng đã gặp một cảnh không đẹp chút nào – một phụ nữ bị chồng thường xuyên hành hạ dã man của người chồng vũ phu đó. Luận đề của truyện là nhà văn không nên nhìn cuộc sống đơn giản, một chiều mà cần thâm nhập vào bản chất con người, thâm nhập vào số phận riêng tư của con người để thấy hết tính chất phức tạp của cuộc sống.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.  Phân tích theo kết cấu

     Có thể phân tích theo kết cấu truyện. Truyện có ba phần chính, được phân cách bởi các dấu sao.

-     Phần thứ nhất: Kể về nhiệm vụ mà nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng được giao là chụp một bức ảnh về cảnh biển buổi sáng có sương mù. Cả tuần chưa phục được cảnh nào yêu cầu, cuối cùng anh quyết định chụp cảnh một chiếc thuyền đánh cá thu lưới lúc bình minh.

-     Phần thứ hai: Một chiếc thuyền lao vào bờ và Phùng chứng kiến cảnh người đàn ông đánh đập người phụ nữ nhưng người phụ nữ không chạy trốn, không chống trả, không kêu la.

-         Phần thứ ba: Do Phùng chứng kiến lần thứ hai cảnh hành hạ đó nên anh xông vào bênh vực, bị lão đàn ông đánh bị thương. Tòa án gọi người đàn bà ra định giúp chị thoát khỏi sự hành hạ của lão chồng vũ phu, nhưng điều bất ngờ là người phụ nữ chấp nhận đánh đòn hàng ngày như vậy. Câu chuyện diễn ra bất ngờ khiến nghệ sĩ Phùng ám ảnh, suy nghĩ.

a)     Phần thứ nhất

          Sự đắc ý của Phùng khi chụp được cảnh mà anh coi là “trời cho”: “Trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ […] toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp chặt vào”. “Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Không cần lựa chọn xê dịch nữa, anh “bấm liên thanh một hồi hết một phần tư cuốn phim”, “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại” với cảm giác hạnh phúc tràn ngập tâm hồn. Anh yên tâm ngày mai có thể lên tàu trở về. Anh lại nhận thức lần nữa chân lý nghệ thuật: cái đẹp là cái đạo đức, mĩ và thiện thống nhất. Câu chuyện đến đây vẫn chưa có gì đặc biệt, chưa có đột biến.

b)   Phần thứ hai

          Tình huống truyện diễn biến rất nhanh dường như kịp thời cứu câu chuyện khỏi sự nhàm chán có khả năng xảy ra. “Ngay lúc ấy”, tức là ngay vào lúc Phùng thỏa mãn với hình ảnh anh coi là trời cho thì một biến cố đảo lộn tất cả. “Ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào trước chỗ chúng tôi đứng. Một người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền”. Hai vợ chồng thuyền chài lên bờ, người đàn ông và người đàn bà sửa soạn cho một sự việc rất ngạc nhiên. “Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhua họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn”. Phản ứng của Phùng trước sự việc quá bất ngờ đó là dễ hiểu: anh vốn là người lính đánh Mĩ. “Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất nhào tới”. Nhưng thằng Phác, cậu bé mà anh quen, đã kịp chạy đến can thiệp, giật chiếc dây lưng quật vào ngực lão già. Rồi, “Lão đàn ông định giằng lại chiếc thắt lưng nhưng chẳng được nữa, liền dang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền […]. Thế rồi bất ngờ người đàn bà buông đứa trẻ ra, đi thật nhanh ra khỏi bãi xe tăng hỏng, đuổi theo lão đàn ông. Cả hai người lại trở về chiếc thuyền”. Có cảm giác như gặp một truyện cổ quái đản. Tình huống đột ngột xuất hiện khiến đảo lộn mọi suy nghĩ và quan niệm thông thường. Cả người đánh lẫn người bị đánh đều trở lại thuyền thật bình thản khiến Phùng và cậu bé Phác – con của hai vợ chồng kia – ngơ ngác. Nếu nói bằng ngôn ngữ kịch thì chỗ này giống như thắt nút. Thắt nút trong tâm hồn của người kể chuyện, đẩy xung đột quan niệm trong chính người kể đến cao trào.

c)  Phần thứ ba – mở nút

     Lần thứ hai, Phùng – người kể chuyện – lại chứng kiến màn hành hạ vợ của lão chồng vũ phu và anh xông vào can thiệp, đã đánhlão chồng ra trò (đoạn này bị lược bỏ trong đoạn trích). Nhưng Phùng vẫn chưa hiểu bản chất câu chuyện là ở đâu. Anh ta vẫn nghĩ: “Tôi tin là nếu chiếc Pra-ti-ca trung thành với tôi thì phen này tôi có thể đánh ngã bất kì một bức ảnh mô tả phong cảnh biển nên thơ nào từ trước (câu này cũng bị lược trong đoạn trích). Chỉ đến khi ngồi ở tòa án nghe phụ nữ ấy nói, Phùng mới hiểu bản chất câu chuyện. Đại diện tòa án:

          “Ba ngày một trân nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả nước không cso một người chồng nào như hắn. Tôi chưa hỏi tội của hắn mà tôi chỉ muốn bảo ngay với chị: Chị không sống nổi với cái lão đàn ông vũ phu ấy đâu! Chị nghĩ thế nào?”. Nhưng chị ta trả lời: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”.

       Câu nói khiến Phùng tự nhiên cảm thấy không khí trở nên ngột ngạt khó thở. Như để giải thích, chị ta nói tiếp: “Chị cám ơn các chú! – Người đàn bà đột nhiên thốt lên bằng giọng khẩn thiết – Đây là chị nói thành thực, chị cám ơn các chú. Lòng các chú tốt quá, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc…”. Rồi câu chuyện về cuộc đời người đàn bà như những thước phim quay chậm dần dần hé mở thân phận của người phụ nữ xấu xí vùng biển lấy một gã trai cục tính nhưng khi ấy hắn không bao giờ đánh đập vợ. Thuyền chật, mà con cái nhiều, nỗi khổ đã khiến lão chồng vũ phu đánh vợ như là cách trút nỗi khổ lên đầu vợ. “Sau ngày con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…cho tôi lên bờ mà đánh”. Càng ngày càng thấy rõ nên không nhìn cuộc sống một cách đơn giản. Phùng nghĩ có thể lão chồng độc ác vì đã đi lính ngụy chăng. Nhưng không, lão chưa hề đi lính ngụy, thậm chí vì trốn lính nên nghèo túng. Vấn đề là một gia đình sống trên biển rất cần một người đàn ông. “Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó”. Nhưng cũng không nên nghĩ cuộc sống của người phụ nữ toàn một màu đen. Chị ta nói: “Ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”. Như không tin, Phùng hỏi: “Cả đời chị có một lúc nào thật vui không?”. Và câu trả lời có thể lại cũng khiến anh ngỡ ngàng: “Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Những người quen nghĩ về bình đẳng nam nữ có thể nghĩ đơn giản là giải quyết cho người phụ nữ bỏ gã chồng vũ phu là xong vấn đề. Nhưng nào ngờ được cuộc sống của họ có nhiều phương diện ẩn khuất mà cái nhìn hời hợt khó phát hiện. Chuyến đi săn tìm ảnh đẹp để in vào lịch của Phùng biến thành chuyến đi phát hiện những chân lý của “cuộc sống đời thường”. Không yên tâm với những hình ảnh đã chụp về hình tượng chiếc thuyền ngoài xa, anh khoác chiếc máy ảnh đi lang thang trong đêm. Sự phong phú, đa dạng của cuộc sống thường ngày với tất cả mọi sắc thái của nó là điều bất ngờ lớn nhất đối với người nghệ sĩ nhiếp ảnh. Anh đã chụp được tấm ảnh tuyệt đẹp của chiếc thuyền ngoài xa – khi ở khoảng cách xa – nhưng lại phát hiện ra bên trong chiếc thuyền những bi kịch của cuộc đời khi chiếc thuyền đến gần. Nhiều nhà phê bình đã cho rằng đây là hình ảnh tượng trưng, có ý nghĩa triết lý. Khi chiếc thuyền ở xa, chỉ thấy cái đẹp. Nhưng khi chiếc thuyền tiến lại gần, tức là ta có dịp nhìn sâu vào cuộc sống, những mặt khuất lấp, bi kịch của nó mới bộc lộ.

          Tình huống chứng kiến lão chồng vũ phu đánh vợ đã mở ra một triết lý về sứ mệnh quan trọng của nghệ thuật đi vào khám phá những đề tài, những vấn đề thân phận của con người vốn ẩn kín sau những vẻ ngoài hào nhoáng. Cuộc sống quanh ta đau phải đã hết những số phận đắng cay. Nói cách khác, xu hướng đời thường cần được tăng cường.

2.     Phân tích theo nhân vật.

a)    Nhân vật Phùng – người kể chuyện

          Phùng vốn là một chiến sĩ tham gia chiến trah chống Mĩ. Nhưng tại sao nhà văn lại muốn nhân vật phóng viên ảnh này vốn là bộ đội – một người đã chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước? Có thể nghĩ rằng, tình huống truyện chỉ gây ngỡ ngàng, bất ngờ nhất cho môt người xuất thân là lính? Một người lính có tinh thần chính nghĩa. Tính cách người lính bộc lộ rõ khi anh cả hai lần chứng kiến cảnh lão đàn ông vũ phu đánh vợ đều xông vào can thiệp, khiến cho từ đấy bản chất chuyện gã đàn ông đánh vợ bộc lộ. Nếu không có chuyện Phùng đánh lại lão đàn ông thì tòa án cũng không gọi người vợ thường chịu đòn đó ra để giúp đỡ. Nhưng cũng có thể có một lí do khác nữa: một người lính thì dễ khi anh chứng kiến những tấn bi kịch vẫn âm thầm ẩn náu bên trong những con thuyền nhìn từ xa vốn rất đẹp đẽ và thơ mộng kia. Nếu ta suy diễn như vậy là đúng thì vấn đề của truyện đặt ra là cách mạng phải tiếp tục làm nhiều hơn nữa để đem lại cuộc sống hạnh phúc cho con người.

b)        Nhân vật người đàn bà

          Nhân vật này không có tên, cũng như người chồng chỉ được gọi là “lão đàn ông”. Có thể dụng ý của tác giả là những số phận như thế có thể gặp dễ dàng khắp nơi. Trong cái nhìn của người kể chuyện: “Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Về ngoại hình, như chính người đàn bà tự kể về mình đã nói: “Từ nhỏ tôi đã là một đứa con gái xấu, lại rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa”. Một ngoại hình như thế khó hy vọng lấy được người chồng ưng ý. Bản thân việc lấy chồng của chị cũng không phải là việc bình thường ở cái thời xưa cũ ấy. Nhưng người chồng thời còn trẻ hiền lành: “Cũng vì xấu, trong phố không ai lấy, tôi có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới. Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giwof đánh đập tôi”. Vậy đã rõ là hoàn cảnh đã thay đổi tính cách. Vì nghèo khổ, vì đông con, vì không thể bỏ nghề đã quen bao đời nên họ bám thuyền. Và những trận đòn diễn ra vì một lý do không liên quan gì đến chị “bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu… Giá mà lão uống rượu…thì tôi còn đỡ khổ… Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh…”.

          Cách trả lời của người đàn bà trước những ngạc nhiên khó hiểu của Phùng là rất đơn giản: “Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…”. Trả lời câu hỏi của Đẩu – người cán bộ tòa án: “Trên chiếc thuyền phải có một người đàn ông…dù hắn man rợ, tàn bạo?” là một câu khẳng định: “Phải – người đàn bà đáp – cũng có khi biển động sóng gió chứ chú?”.

Những câu trả lời như những lời tâm sự của người đàn bà khiến cho Phùng đi hết từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. “Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có một người đàn ông để chèo chống mỗi khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! – lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên một nụ cười – vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận vui vẻ”. Người trong gia đình thương người đàn bà và muốn giải thoát cho mụ chính là đứa con trai tên Phác. Nhưng người mẹ sợ có chuyện không hay nên đã gửi cậu về cho ông ngoại nuôi. Chính bà cũng không muốn con can thiệp vào chuyện bố đánh mẹ.

          Đoạn văn trên đây đa nghĩa, có thể phân tích từ nhiều góc độ. Từ góc độ bình đẳng giới, ta thấy bản thân người phụ nữ, do nhận thức hạn chế, cũng tự chấp nhận sự thiệt thòi, gánh chịu nỗi khổ, không biết đến quyền sống cho riêng mình. Từ góc độ nghề nghiệp, lại thấy là những nghề nặng nhọc, nguy hiểm như hàng chài, rất cần có đàn ông với sức mạnh cơ bắp để chèo chống khi có phong ba, bão tố như là sự phân công lao động tự nhiên. Chừng nòa vẫn còn nghề nghiệp như thế thì chừng ấy, những gã đàn ông vẫn có quyền hành hạ phụ nữ mà người phụ nữ vẫn chấp sẵn sàng chấp nhận. Có thể đây là thực tế tồn tại đã bao đời trong xã hội ta, muốn giải phóng người phụ nữ, muốn đem lại bình đẳng nam nữ thì không chỉ có tuyên truyền mà cần có những biện pháp thực tế về kinh tế, luật pháp thì người phụ nữ mới thực sự được tôn trọng trong gia đình. Nếu không thì bản thân người phụ nữ cũng không muốn được “giải phóng”.

          Trong đầu của người chánh án huyện cso “một cái gì vừa mới vỡ ra”, một cách hiểu mới bất chợt hay một cách nghĩ cũ bị lung lay? Có lẽ là cả hai. Nhân vật người phụ nữ tự kể về mình nên có cái chân thực, tự nhiên, không thể tin được.

c)  Nhân vật người chồng

          Nhân vật gã đàn ông – người chồng – được người kể tả lại: “Tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ lúc nào cũng nhìn dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng của người đàn bà”. Người đàn ông lộ rõ một tính cách hoang dã, đầy bản năng, dữ dằn nhưng cũng từ hắn, toát ra sức mạnh vững chãi, một chỗ dựa tin cậy của người đàn ông (dân) làng chài. Những bước đi và tấm lưng của hắn đã nói lên điều đó.

          Cảnh lão hành hạ người vợ và vẻ nhẫn nại, cam chịu của người vợ gây ấn tượng sửng sốt cho Phùng. Thông thường, chuyện đánh đập như thế này là bột phát, thường diễn ra ngay tại chỗ; đằng này, lão lại dẫn vợ lên bờ, chọn chỗ kín đáo sau chiếc xe rà phá mìn bỏ lại để đánh vợ: “Họ đi đến bên chiếc xe rà phá mìn. Người đàn bà đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá nước chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng, rồi đưa một cánh tay lên có lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng ròi lại buông thõng xuống, đưa cặp mặt nhìn xuống chân. Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những diều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lủa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Người đàn bà với vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu môt tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn”. Đánh xong, lão thản nhiên trở về thuyền. “Lão đàn ông định giằng lại chiếc thắt lưng nhưng chẳng được nữa, liền dang thẳng cánh tay cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền. Không hề quay mặt nhìn lại, chỉ có tảng lưng khum khum và vạm vỡ càng có vẻ cúi thấp hơn, nom lão như một con gấu đang đi tìm nguồn nước uống, hai bàn chân chữ bát để lại những vết chân to và sâu trên bãi cát hoang vắng”.Tấm lưng vạm vỡ và bước chân đi vững chãi của hắn lại được người kể chuyện chú ý. Lần này, người kể chuyện so sánh hắn với con gấu. Trong con người này, có hai mặt trái ngược nhau cùng tồn tại. Cái bản năng hoang dã đem lại đau khổ cho người vợ, nhưng sức vóc vững chãi của hắn lai có thể chở che cho cả gia đình. Dáng vẻ người đàn bà chạy theo hắn lên thuyền thật đặc tả “bất ngờ người đàn bà buông đứa trẻ ra, đi thật nhanh ra khỏi bãi xe tăng hỏng, đuổi theo lão đàn ông. Cả hai người lại trở về chiếc thuyền”. Chuyện đánh đập vợ như cơm bữa ấy tạo nên tấn bi kịch căng thẳng trong gia đình. Đến nỗi thằng bé Phác (rất có thể tên nhân vật có nghĩa ẩn dụ: Phác ở đây là chất phác, phác thực cũng như Phùng có nghĩa là sẽ gặp) sẵn sàng đánh bố để cứu mẹ. Người mẹ cho biết “vì sợ thằng bé có thể làm điều gì dại dột đối với bố nó, mụ đã phải gửi nó lên rừng nhờ bố mình nuôi đã nửa năm nay. Ở với ông ngoại, thằng bé sướng hơn ở trên thuyền với bố mẹ. Nhưng hễ rời ra là nó trốn về. Thằng bé tuyên bố với các bác xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt ở dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh”. Cậu còn nhỏ, chưa hiểu hết cuộc sống phức tạp với những mạch ngầm nên phản ứng như thế không có gì khó hiểu. Đây cũng là một bi kịch nữa của cuộc sống. Đứa con trai căm thù bố vì bố đã hành hạ mẹ nhưng chính mẹ lại không muốn đứa con giải thoát cho mình.

          Nhìn chung, các nhân vật đều nói lên một nghịch lý trớ trêu trong cuộc sống. Gã chồng vũ phu vẫn đánh vợ khi thấy khổ nhưng rồi họ vẫn chung sống với nhau, vẫn sinh với nhau một lũ con; người vợ vẫn câm lặng hàng ngày, chấp nhận những trận đồn mà không kêu ca, không bỏ trốn. Nghịch lý như thế rất khó giải thích nếu ta có cái nhìn cuộc sống hời hợt.

          Câu chuyện được khám phá đã ám ảnh người kể chuyện – nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Kết luận là một thông điệp nghệ thuật rất sâu sắc, đầy tính triết lí. Mỗi lần ngắm bức ảnh về chiếc thuyền ngoài xa, anh lại như mường tượng thấy người đàn bà thân phận thật trớ trêu: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân giậm trên mặt đất chắc chắn hòa lẫn trong đám đông…”.

3.  Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Minh Châu

-     Tình huống của truyện như đã nói có khả năng bộ lộ tốt nhất tính cách các nhân vật.

-     Người kể chuyện trong Chiếc thuyền ngoài xa là nhân vật chính, Phùng, người nghệ sĩ nhiếp ảnh vốn xuất thân là lính. Nhưng có lúc người kể chuyện lại là người đàn bà. Cách kể như vậy đem lại sự chân thực, sinh động của lời kể. Cảnh người chồng đánh vợ tất nhiên sẽ chân thực hơn dưới góc độ của người chứng kiến, và từ góc nhìn đó, dễ hiểu phản ứng của người chứng kiến: “Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh chạy nhào tới”. Người kể chuyện vừa kể sự việc, vừa bình luận, vừa phân tích tâm lý chính mình, ví dụ “Chỉ mấy lời mào đầu ấy, người đàn bà cũng mất hết vẻ khúm núm, sợ sệt. Điệu bộ khác, ngôn ngữ khác. Cũng phải nói thật, những lời ấy, nhất là những lời của một người đàn bà khốn khổ, không phải dễ nghe đối với chúng tôi. Dầu mặt hãy còn trẻ, Đẩu cũng là một chánh án huyện . Còn tôi, một người đáng lẽ mụ phải biết ơn…”. Đây là nghệ thuật giúp cho câu chuyện được kể linh hoạt, sinh động, hấp dẫn. Khi người vợ trong vai người kể chuyện thì việc lý giải sự nhẫn nhịn của chị ta mới chân thực, gây được bất ngờ cho người nghe. Trong đoạn này, xen kẽ lời kể của “tôi”, tức nhân vật Phùng, với lời kể của người phụ nữ. Chị ta tự kể về mình, tự phân tích tâm lý mình, tự đánh giá cách hành xử của mình, cách nghĩ đó của người phụ nữ tỏ ra rất xưa cũ nên gây bất ngờ ngạc nhiên, làm sụp đổ những thành kiến cũ của Phùng.

-     Ngôn ngữ nhân vật được Nguyễn Minh Châu rất quan tâm. Nhân vật người chồng vũ phu có thứ ngôn ngữ rất tương hợp với cái vẻ ngoài bản năng, dữ dằn của y, góp phần tạo hình nhân vật. Trong truyện y chỉ nói có hai câu, trong đó đều có những chữ như giết, chết đi, mày, chúng mày: “Cứ ngồi nguyên đấy, Động đậy tao giết cả mày bây giờ”, “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”.

Ngôn ngữ của người vợ thể hiện sự nhẫn nại, cam chịu của ngươi phụ nữ đã bao năm quen với bạo lực gia đình. Đây là một người lao động, quen nói thật, nói thẳng ý nghĩ. Vì thế, không phải dễ nghe đối với Phùng và Đẩu, người chánh án.

 

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?

(Trích)

I-     NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại thành phố Huê, quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, tỉnh Quảng Trị. Ngay khi còn là sinh viên và đi dạy học, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tích cực tham gia các phong trò yêu nước chống Mĩ – ngụy ở nội thành thành phố Huế. Năm 1966, ông lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ bằng hoạt động văn nghệ. Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Trị Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt.

Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn vừa cầm bút vừa cầm súng, có phong cách độc đáo và đặc biệt sở trường về thể văn bút ký, tùy bút. Ký của ông có một diện mạo riêng – vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa, lịch sử rất phong phú – có những đóng góp mới cho văn xuôi Việt Nam hiện đại.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? được tác giả viết tại Huế, ngày 4-1-1981, in trong tập sách cùng tên. Bài bút ký có ba phần. Văn bản trong sách giáo khoa là phần thứ nhất.

2. Về dòng sông Hương

Sông Hương là một dòng sông nổi tiếng chảy giữa lòng thành phố Huế ( Huế đọc chệch đi là Hóa – xưa xứ Huế được gọi là Thuận Hóa). Khi gọi Châu Hóa như tác giả viết trong bài tùy bút thì hiệu quả là gợi ngay một ấn tượng về miền đất lịch sử.

Hai nguồn chính làm nên dòng sông này là dòng Tả Trạch và Hữu Trạch phát nguồn từ dãy Trường Sơn đổ về, hợp lưu lại ngã ba Bằng Lãng tạo thành sông Hương. Sông Hương chảy từ Bằng Lãng đến cửa Thuận An, vượt qua chừng 30km với tốc độ dòng chảy chậm, hiền hòa. Nguyên nhân là do độ chênh giữa mực nước sông và nước biển không lớn nên dòng chảy không mạnh. Cũng có một số nhân tố khác mà chính bài ký có nói: Những chi lưu là những nhánh sông đào hai bên sông và hai hòn đảo nhỏ trên sông cũng làm giảm lưu tốc của dòng chảy.

Huế là nơi thi hào Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều,từng sống. Do đó, mở đầu bài ký, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã liên tưởng dòng sông với tình yêu trong Truyện Kiều, một cách bắt đầu câu chuyện hấp dẫn vì đặt hình tượng dòng sông vào ngữ cảnh văn hóa toàn dân tộc. Ông viết: “Chính sông Hương và thành phố của nó vẫn gợi cho tôi, như một vang bóng trong thời gian, hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng của Truyện Kiều: tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và cả hai cùng gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở”.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? là nhan đề bài tùy bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thực ra, truy tìm nguồn gốc tên gọi sông Hương chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ tình yêu dòng sông, yêu quê hương xứ sở tươi đẹp, với bề dày truyền thống văn hóa và cách mạng. Đoạn trích đã lược bớt phần tác giả bà về cội nguồn tên gọi Hương Giang. Để hiểu đầy đủ về vấn đề này, chúng tôi xin cung cấp một cách ngắn gọn các cách cắt nghĩa tên gọi sông Hương đã được các nhà nghiên cứu tổng hợp.

Về cơ bản, đến nay có bốn cách giải thích khác nhau về cội nguồn tên gọi của sông Hương:

-     Theo truyền thuyết, khi xưa, chúa Nguyễn Hoàng trên đường từ Quảng Trị đi tuần du về phương Nam nghỉ ngơi bên bờ sông Hương, nằm mộng thấy một người phụ nữ nhà trời (thiên mụ) trao cho nén hương và dặn rằng, đi thuyền xuôi theo dòng sông, đến khi hương tàn thì dừng lại, đấy là nơ có thể định đô. Vì thế mà Nguyễn Hoàng đã chọn được nơi đóng thủ phủ Phú Xuân, sau này là kinh đô. Để ghi ơn “thiên mụ”, ngay trong năm 1601, chúa Nguyễn Hoàng đã xây dựng ngôi chùa Thiên Mụ nổi tiếng và đặt tên cho dòng sông là sông Hương.

-     Một dã sử lại kể rằng vua Quang Trung đã ra lệnh chính thức gọi Hương Giang cho toàn bộ dòng sông từ trên núi cao ra đến biển, chấm dứt tình trạng mỗi đoạn sông lại được gọi riêng theo tên địa phương như Đan Điền, Hương Trà.

-     Cắt nghĩa tên sông bằng các yếu tố tự nhiên có thuyết nói rằng vì cây thạch xuowng bồ mọc ở hai bên bờ dòng tả trạch và hữu trạch, một loại dược liệu quý, có mùi thơm, từ đó có tên là sông Hương.

-     Cách cắt nghĩa đầy nghệ thuật mà Hoàng Phủ Ngọc Tường tâm huyết. ở đoạn kết thiên bút ký mà chúng ta đang nói đến, ông viết: “Có nhiều cách trả lời cho câu hỏi ấy; trong đó, tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước trăm hoa đỏ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi. Tôi lĩnh hội ý nghĩa của truyền thuyết ấy như nhà thơ chọn bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hóa và lịch sử”.

Một cách lý tưởng, để hiểu được đầy đủ bài tùy bút đặc sắc này, người đọc cần cso một số hiểu biết nhất định về xứ Huế. Chẳng hạn nếu có cơ hội một lần đến thăm các lăng tẩm ở Huế thì sẽ cảm nhậ hết cái so sánh ví von dòng Hương Gian chạy qua khu vực này có vẻ đẹp trầm mặc nhất; hoặc nếu ta có một lần đến cầu Tràng Tiền vắt qua sông Hương, sẽ hiểu chính những nhịp cầu có dáng cong như cầu vồng trên cây cầu này gợi ý cho so sánh của tác giả “như những vành trăng non”. Tác giả dẫu là tài hư cấu, tưởng tượng đến mấy thì vẫn là dựa trên cơ sở những gợi ý từ hiện thực.

3. Về thể văn tùy bút

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán- Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi [đồng Chủ biên], NXB Giáo dục, 2004), bút ký là một thể ký có quy mô trương ứng với truyện ngắn nhưng khác truyện ngắn ở chỗ tác giả bút ký không sử dụng hư cấu vào việc phản ánh hiện thực. Bút ký ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tưởng tượng nào đó. Sức hấp dẫn và thuyết phụ của bút ký tùy thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu, khám phá, diễn đạt của tác giả đối với các sự kiện được dề cập đến nhằm khám phá ra các khía cạnh “có vấn đề”, những ý nghĩa mới mẻ, sâu sắc trong va chạm giữa tính cách và hoàn cảnh, cá nhân và môi trường. Bút ký có thể thiên về văn học, cũng có thể thuộc về báo chí tùy theo mức độ biểu hiện cái riêng của tác giả và mức độ sử dụng các biện pháp nghệ thuật cùng tính chất tác động của nó đối với công chúng.

Chúng ta vừa làm quen với thể tùy bút qua bút ký Sông Đà của Nguyễn Tuân. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là nhà văn viết tùy bút tài hoa nổi tiếng. Thể tùy bút cho phép tác giả kể, tả và phát biểu trực tiếp, không hạn chế các suy nghĩ, cảm xúc, bình luận thể hiện “cái tôi” của mình. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã biết khai thác tối đa đặc trưng của tùy bút khi viết sông Hương, một đối tượng chiếm lĩnh có những điểm khác nhau căn bản so với Sông Đà của Nguyễn Tuân.

II-    PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

Đoạn trích có hai phần với hai nội dung chính riêng, phân biệt bằng dấu sao. Phàn đầu dành cho những dòng bình luận, suy ngãm về cảnh quan tự nhiên của sông Hương và những cảnh quan nhân tạo hai bền bờ dòng sông; phần thứ hai viết về lịch sử và văn hóa đôi vờ sông Hương.

a) Cảnh quan tự nhiên của sông Hương và các không gian văn hóa đôi bờ dòng sông

Nhà văn sử dụng ngôn ngữ tự sự nhưng không phải là tự sự về một đối tượng của khoa Địa lý học mà như kể về một sinh thể, một cô gái. Và song song một dòng mạch trữ tình theo tuyến tự sự. Kể, tả và bình luận được kết hợp nhuần nhuyễn làm nên chất tùy bút đặc trưng của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Để viết thiên tùy bút, nhà văn phải là người rất am hiểu và có tình cảm gắn bó thân thiết với dòng sông. Nhưng để tác phẩm thành công, tác giả phải có tài năng văn chương thật sự.

Sông Hương từ dải Trường Sơn đổ ra biển Đông có hai chặng khác nhau. Chặng thư snhaats từ ngọn nguồn trên sườn Đông dải Trường Sơn quanh co qua các dải đồi núi; chặng thứ hai, khi mặt dòng nước dòng sông đã phẳng lặng dần đến khi gặp chùa Thiên Mụ là bắt đầu tìm đúng đường về thành phố. Nhà văn ngược lên tận ngọn nguồn con sông để nhận diện nó rồi xuôi theo dòng để quan sát nó lượn  quanh thành phố Huế. “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”. Và kết quả là một phát hiện “Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. “Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già […] và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Đây là những so sánh nhân cách hóa thật đặc sắc. Nhiều tên gọi các dòng sông gắn với hình ảnh người mẹ (sông Mê Kông và sông Hồng – còn gọi là sông Cái – đều là những sông Mẹ), nhưng tác giả đã thích so sánh sông Hương với người thiếu nữ.

Người viết lần theo dòng chảy con sông không phải với tư cách là nhà địa lý hay người đi vẽ bản đồ mà là như một chàng trai khám phá tính cách của cô gái. Từ góc nhìn đó, những tư tưởng và so sánh thú vị xuất hiện. Dòng sông như một cô gái đẹp đã nằm ngủ từ bao giờ giữa cánh đồng hoang dại của Châu Hóa, rồi đến khi có “người tình mong đợi” đã đến đánh thức người đẹp – người tình đây hẳn là thành phố Huế, song sự xuất hiện của Huế lại gắn liền với con người, lại không thể tách rời với tiến trình Nam tiến của dân tộc. Dòng sông tạo nền tảng để xuất hiện văn hóa, văn minh, song cũng đợi con người để hiện thực hóa tiềm năng đó. Những câu văn có sức gợi liêng tưởng vô cùng, tùy thuộc vào vốn sống, sự từng trải và quan tâm của người đọc.

Xuống đến đồng bằng, dòng sông uốn lượn qua nhiều khúc quanh để đến gặp thành phố. Từ chùa Thiên Mụ, dòng sông đã tìm đúng hướng về “Từ đây, như đã tìm đúng hướng về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuois cùng, nó đã tìm thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”. Tác giả hình dung đó là những chuyển động “uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó”. Không những đặc tả các đường uốn lượn, tác giả còn có quan sát và cách diễn đạt thú vị về màu sắc con sông. Sắc sông trở nên xanh thẳm khi đến chân núi Hòn Chén (tác giả dùng tên chữ là Ngọc Trản – nguyên nghĩa là Chén Ngọc), vùng đồi núi lô nhô và lăng tẩm tạo nên vẻ đẹp trầm mặc nhất cho con sông.

Dòng sông chảy qua Huế đi chậm “cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”. So sánh sự bình yên, “điệu nhảy lặng lờ” của nó khi ngang qua thành phố với dòng chảy gấp gáp của sông Nê- va khi đi qua Lê-nin-grat (nay là Xanh-pê-téc-bua) nước Nga, liên tưởng đế triết lý của Hê-ra-clit “không thể tắm hai lần trong một dòng sông” là đoạn văn tài hoa, trí tuệ mà cũng rất hấp dẫn.

Cảnh quan thiên nhiên góp phần tạo nên những nền văn hóa đặc sắc. Dù tả cảnh quan dòng sông, tác giả luôn liên tưởng, mở rộng suy ngẫm về đặc trưng riêng của dòng sông Hương, quan sát không gian văn hóa hình thành quanh đôi bờ và dọc theo dòng sông. “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya […] toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”. Khoang thuyền, mái chèo khuya đều là những hình ảnh liên hệ với dòng sông. Đến đây, nhà văn lại liên tưởng đến những bản đàn trong Truyện Kiều bất hủ như một minh chứng hùng hồn cho vai trò văn hóa của sông Hương.

Trước khi giã từ thành phố để về với biển cả, “nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao […] tôi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Rồi lại so sánh với nàng Kiều “Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả”.

Nhìn chung, cảnh quan sông Hương được nhìn ngắm từ góc nhìn văn hóa. Nhà văn suy ngẫm đầy chất trữ tình về không gian văn hóa trên hai bờ sông Hương. Uyên bác, lịch lãm, từng trải và tài hoa là những phẩm chất dễ thấy của tác giả trong phần này.

b) Sông Hương trong lịch sử và thi ca

Sông Hương – mà cũng là Huế - đã có lịch sử của nó trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Không thể tách rời sông Hương với lịch sử dân tộc, càng không thể tách rời nó với Huế. Cảm hứng ấy toát lên từ những câu văn tự sự tưởng như khô khan. “Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỷ vinh quang với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỷ trung đại”.

Càng về cuối thời trung đại, trong các thế kỷ XIVIII, XIX, Huế và sông Hương càng có mặt nhiều hơn trong các sự kiện lịch sử “long trời lở đất” và tiếp tục truyền thống ấy qua Cách mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. “Thế kỷ mười tám, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ mười chín với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển”.

Đến thời hiện đại, Huế và sông Hương đã có những hi sinh, mất mát đầy cống hiến cho lịch sử cách mạng dân tộc. Đến đay, dường như sông Hương tạm lùi vào hậu trường để Huế hiện ra trên tiền cảnh. Nhà văn trầm tư trên sự kiện lịch sử - cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1968, khi toàn miền Nam từ Quảng Trị đến Nam Bộ, trong đó có Huế, đồng loạt nổi dậy đánh Mĩ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đó cho thấy sức mạnh của cách mạng, làm suy yếu kẻ thù, buộc chúng phải điều chỉnh chiến lược cả trên chiến trường và trên bàn Hội nghị Pa-ri. Nhưng mặt khác, trong cuộc chiến đấu ấy, Huế cũng chịu nhiều tổn thất: “Cùng với niềm cổ vũ nồng nhiệt dành cho nó trong mùa xuân Mậu Thân, Huế đã nhận được những lời chia buồn sâu sắc nhất của thế giới về sự tàn phá mà đế quốc Mĩ đã chụp lên những di sản văn hóa của nó”. Sự đánh giá tổn thất, hi sinh mà Huế gánh chiu được nhìn từ cả hai phía. Chính người Mĩ đã lên án sức phá hoại tàn bạo đối với Huế do các trận bom của Mĩ. Nhưng thật xúc động là hình ảnh người Đại tướng “đầu cúi xuống ngực, hai bàn tay chắp lại trong cử chỉ kính cẩn của người già mắt ngấn lệ” khi nói đến “cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc” của thành phố Huế. Không có chữ nào nói về mất mát, hi sinh nhứng “ngấn lệ” trong mắt “người già” đã nói lên tất cả.

Sông Hương, dòng sông của những sự kiện lịch sử hào hùng và dòng sông của cuộc sống hàng ngày. “Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Tại sao đang suy ngẫm về lịch sử, tác giả lại chuyển đột ngột sang hình ảnh sắc áo cưới của Huế rất xưa mà các cô dâu vẫn mặc? Có thể đoán rằng, nhà văn muốn nói đến sự sống hiền hòa, dịu dàng vẫn là mạch sống chính của xứ Huế, của dòng sông Hương, khuôn mặt thực hiền hòa của dòng sông đôi khi ẩn giấu trong màn sương.

Sông Hương là suối nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca, nhạc họa. Mỗi nhà nghệ sĩ đều có khám phá riêng về dòng sông, hay như cách nói của tác giả muốn nhấn mạnh tính chủ động của con sông như một sinh thể “dòng sông ấy không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”. Từ Nguyễn Du với Truyện Kiều bất hủ, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, đến thi ca cách mạng. Thi ca cùng với kiến trúc, âm nhạc, hội họa góp phần làm cho không gian văn hóa sông Hương thêm phong phú, giàu bản sắc.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

Như đã nói, bài bút ký thuộc thể loại tùy bút. Nhà văn đã kết hợp phong cách khảo cứu với sự thể hiện kiến thức sách vở uyên bác; bộc lộ sự lịch lãm, từng trải với vốn sống phong phú, sâu sắc; khả năng phân tích, bình luận thực tế, sắc sảo và một trái tim giàu tình cảm, giàu tình yêu thương con người và quê hương đất nước. Thiên tùy bút như một tác phẩm mẫu mực viết về thắng cảnh quê hương đất nước. dòng sông như một sinh thể sống động. Dòng sông tạo nên cả một không gian văn hóa. Dòng sông qua lịch sử lâu đời, có những trang bi hùng song trong trường kỳ lịch sử, nó đẹp và thân thương như một người con gái. Những điểm nhìn đa chiều giúp người đọc yêu dòng sông hơn, tự hào về quê hương, đất nước hơn.

Trong thiên tùy bút, tác giả chuyển đổi giọng điệu khá linh hoạt. Khi là lối kể tự sự, khi lại là sự tưởng tượng bay bổng với những hình ảnh bất ngờ. Chẳng hạn, ngay trong một đoạn văn, ta cũng thấy sự thay đổi này: “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”.

Có khi là cả một đoạn văn chính luận khô khan sau đó là những cử chỉ im lặng đầy xúc động như đoạn văn viết về cuộc Tổng tiến công Mậu Thân.

Sự xen kẽ giữa tả, kể về sông Hương với sự vận dụng kiến thức sách vở và kiến thức cuộc sống cũng là một nhân tố tọa nên chất tùy bút đặc sắc. Tác giả đã có dịp đi qua nhiều dòng sông lớn trên thế giới như sông Xen, sông Đa-nuýp, sông Nê-va, đó là vốn sống; tác giả thuộc Truyện Kiều, thơ Cao Bá Quát, Tản Đà, dẫn cả tư tưởng biện chứng của Hê-ra-clit,… đó là học vấn. Tác giả có quan điểm riêng về nghệ thuật Huế: “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát. Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”, đó là sự lịch lãm, tinh tế trong trải nghiệm và quan sát. Nhìn chung, tùy bút cho phép tác giả bộ lộ toàn diện các phẩm chất trí tuệ và cảm xúc của mình.

 

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?

(Trích)

I-     NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại thành phố Huê, quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, tỉnh Quảng Trị. Ngay khi còn là sinh viên và đi dạy học, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tích cực tham gia các phong trò yêu nước chống Mĩ – ngụy ở nội thành thành phố Huế. Năm 1966, ông lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ bằng hoạt động văn nghệ. Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Trị Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt.

Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn vừa cầm bút vừa cầm súng, có phong cách độc đáo và đặc biệt sở trường về thể văn bút ký, tùy bút. Ký của ông có một diện mạo riêng – vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa, lịch sử rất phong phú – có những đóng góp mới cho văn xuôi Việt Nam hiện đại.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? được tác giả viết tại Huế, ngày 4-1-1981, in trong tập sách cùng tên. Bài bút ký có ba phần. Văn bản trong sách giáo khoa là phần thứ nhất.

2. Về dòng sông Hương

Sông Hương là một dòng sông nổi tiếng chảy giữa lòng thành phố Huế ( Huế đọc chệch đi là Hóa – xưa xứ Huế được gọi là Thuận Hóa). Khi gọi Châu Hóa như tác giả viết trong bài tùy bút thì hiệu quả là gợi ngay một ấn tượng về miền đất lịch sử.

Hai nguồn chính làm nên dòng sông này là dòng Tả Trạch và Hữu Trạch phát nguồn từ dãy Trường Sơn đổ về, hợp lưu lại ngã ba Bằng Lãng tạo thành sông Hương. Sông Hương chảy từ Bằng Lãng đến cửa Thuận An, vượt qua chừng 30km với tốc độ dòng chảy chậm, hiền hòa. Nguyên nhân là do độ chênh giữa mực nước sông và nước biển không lớn nên dòng chảy không mạnh. Cũng có một số nhân tố khác mà chính bài ký có nói: Những chi lưu là những nhánh sông đào hai bên sông và hai hòn đảo nhỏ trên sông cũng làm giảm lưu tốc của dòng chảy.

Huế là nơi thi hào Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều,từng sống. Do đó, mở đầu bài ký, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã liên tưởng dòng sông với tình yêu trong Truyện Kiều, một cách bắt đầu câu chuyện hấp dẫn vì đặt hình tượng dòng sông vào ngữ cảnh văn hóa toàn dân tộc. Ông viết: “Chính sông Hương và thành phố của nó vẫn gợi cho tôi, như một vang bóng trong thời gian, hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng của Truyện Kiều: tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và cả hai cùng gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở”.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? là nhan đề bài tùy bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thực ra, truy tìm nguồn gốc tên gọi sông Hương chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ tình yêu dòng sông, yêu quê hương xứ sở tươi đẹp, với bề dày truyền thống văn hóa và cách mạng. Đoạn trích đã lược bớt phần tác giả bà về cội nguồn tên gọi Hương Giang. Để hiểu đầy đủ về vấn đề này, chúng tôi xin cung cấp một cách ngắn gọn các cách cắt nghĩa tên gọi sông Hương đã được các nhà nghiên cứu tổng hợp.

Về cơ bản, đến nay có bốn cách giải thích khác nhau về cội nguồn tên gọi của sông Hương:

-     Theo truyền thuyết, khi xưa, chúa Nguyễn Hoàng trên đường từ Quảng Trị đi tuần du về phương Nam nghỉ ngơi bên bờ sông Hương, nằm mộng thấy một người phụ nữ nhà trời (thiên mụ) trao cho nén hương và dặn rằng, đi thuyền xuôi theo dòng sông, đến khi hương tàn thì dừng lại, đấy là nơ có thể định đô. Vì thế mà Nguyễn Hoàng đã chọn được nơi đóng thủ phủ Phú Xuân, sau này là kinh đô. Để ghi ơn “thiên mụ”, ngay trong năm 1601, chúa Nguyễn Hoàng đã xây dựng ngôi chùa Thiên Mụ nổi tiếng và đặt tên cho dòng sông là sông Hương.

-     Một dã sử lại kể rằng vua Quang Trung đã ra lệnh chính thức gọi Hương Giang cho toàn bộ dòng sông từ trên núi cao ra đến biển, chấm dứt tình trạng mỗi đoạn sông lại được gọi riêng theo tên địa phương như Đan Điền, Hương Trà.

-     Cắt nghĩa tên sông bằng các yếu tố tự nhiên có thuyết nói rằng vì cây thạch xuowng bồ mọc ở hai bên bờ dòng tả trạch và hữu trạch, một loại dược liệu quý, có mùi thơm, từ đó có tên là sông Hương.

-     Cách cắt nghĩa đầy nghệ thuật mà Hoàng Phủ Ngọc Tường tâm huyết. ở đoạn kết thiên bút ký mà chúng ta đang nói đến, ông viết: “Có nhiều cách trả lời cho câu hỏi ấy; trong đó, tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước trăm hoa đỏ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi. Tôi lĩnh hội ý nghĩa của truyền thuyết ấy như nhà thơ chọn bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hóa và lịch sử”.

Một cách lý tưởng, để hiểu được đầy đủ bài tùy bút đặc sắc này, người đọc cần cso một số hiểu biết nhất định về xứ Huế. Chẳng hạn nếu có cơ hội một lần đến thăm các lăng tẩm ở Huế thì sẽ cảm nhậ hết cái so sánh ví von dòng Hương Gian chạy qua khu vực này có vẻ đẹp trầm mặc nhất; hoặc nếu ta có một lần đến cầu Tràng Tiền vắt qua sông Hương, sẽ hiểu chính những nhịp cầu có dáng cong như cầu vồng trên cây cầu này gợi ý cho so sánh của tác giả “như những vành trăng non”. Tác giả dẫu là tài hư cấu, tưởng tượng đến mấy thì vẫn là dựa trên cơ sở những gợi ý từ hiện thực.

3. Về thể văn tùy bút

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán- Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi [đồng Chủ biên], NXB Giáo dục, 2004), bút ký là một thể ký có quy mô trương ứng với truyện ngắn nhưng khác truyện ngắn ở chỗ tác giả bút ký không sử dụng hư cấu vào việc phản ánh hiện thực. Bút ký ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tưởng tượng nào đó. Sức hấp dẫn và thuyết phụ của bút ký tùy thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu, khám phá, diễn đạt của tác giả đối với các sự kiện được dề cập đến nhằm khám phá ra các khía cạnh “có vấn đề”, những ý nghĩa mới mẻ, sâu sắc trong va chạm giữa tính cách và hoàn cảnh, cá nhân và môi trường. Bút ký có thể thiên về văn học, cũng có thể thuộc về báo chí tùy theo mức độ biểu hiện cái riêng của tác giả và mức độ sử dụng các biện pháp nghệ thuật cùng tính chất tác động của nó đối với công chúng.

Chúng ta vừa làm quen với thể tùy bút qua bút ký Sông Đà của Nguyễn Tuân. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là nhà văn viết tùy bút tài hoa nổi tiếng. Thể tùy bút cho phép tác giả kể, tả và phát biểu trực tiếp, không hạn chế các suy nghĩ, cảm xúc, bình luận thể hiện “cái tôi” của mình. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã biết khai thác tối đa đặc trưng của tùy bút khi viết sông Hương, một đối tượng chiếm lĩnh có những điểm khác nhau căn bản so với Sông Đà của Nguyễn Tuân.

II-    PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

Đoạn trích có hai phần với hai nội dung chính riêng, phân biệt bằng dấu sao. Phàn đầu dành cho những dòng bình luận, suy ngãm về cảnh quan tự nhiên của sông Hương và những cảnh quan nhân tạo hai bền bờ dòng sông; phần thứ hai viết về lịch sử và văn hóa đôi vờ sông Hương.

a) Cảnh quan tự nhiên của sông Hương và các không gian văn hóa đôi bờ dòng sông

Nhà văn sử dụng ngôn ngữ tự sự nhưng không phải là tự sự về một đối tượng của khoa Địa lý học mà như kể về một sinh thể, một cô gái. Và song song một dòng mạch trữ tình theo tuyến tự sự. Kể, tả và bình luận được kết hợp nhuần nhuyễn làm nên chất tùy bút đặc trưng của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Để viết thiên tùy bút, nhà văn phải là người rất am hiểu và có tình cảm gắn bó thân thiết với dòng sông. Nhưng để tác phẩm thành công, tác giả phải có tài năng văn chương thật sự.

Sông Hương từ dải Trường Sơn đổ ra biển Đông có hai chặng khác nhau. Chặng thư snhaats từ ngọn nguồn trên sườn Đông dải Trường Sơn quanh co qua các dải đồi núi; chặng thứ hai, khi mặt dòng nước dòng sông đã phẳng lặng dần đến khi gặp chùa Thiên Mụ là bắt đầu tìm đúng đường về thành phố. Nhà văn ngược lên tận ngọn nguồn con sông để nhận diện nó rồi xuôi theo dòng để quan sát nó lượn  quanh thành phố Huế. “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”. Và kết quả là một phát hiện “Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. “Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già […] và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Đây là những so sánh nhân cách hóa thật đặc sắc. Nhiều tên gọi các dòng sông gắn với hình ảnh người mẹ (sông Mê Kông và sông Hồng – còn gọi là sông Cái – đều là những sông Mẹ), nhưng tác giả đã thích so sánh sông Hương với người thiếu nữ.

Người viết lần theo dòng chảy con sông không phải với tư cách là nhà địa lý hay người đi vẽ bản đồ mà là như một chàng trai khám phá tính cách của cô gái. Từ góc nhìn đó, những tư tưởng và so sánh thú vị xuất hiện. Dòng sông như một cô gái đẹp đã nằm ngủ từ bao giờ giữa cánh đồng hoang dại của Châu Hóa, rồi đến khi có “người tình mong đợi” đã đến đánh thức người đẹp – người tình đây hẳn là thành phố Huế, song sự xuất hiện của Huế lại gắn liền với con người, lại không thể tách rời với tiến trình Nam tiến của dân tộc. Dòng sông tạo nền tảng để xuất hiện văn hóa, văn minh, song cũng đợi con người để hiện thực hóa tiềm năng đó. Những câu văn có sức gợi liêng tưởng vô cùng, tùy thuộc vào vốn sống, sự từng trải và quan tâm của người đọc.

Xuống đến đồng bằng, dòng sông uốn lượn qua nhiều khúc quanh để đến gặp thành phố. Từ chùa Thiên Mụ, dòng sông đã tìm đúng hướng về “Từ đây, như đã tìm đúng hướng về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuois cùng, nó đã tìm thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”. Tác giả hình dung đó là những chuyển động “uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó”. Không những đặc tả các đường uốn lượn, tác giả còn có quan sát và cách diễn đạt thú vị về màu sắc con sông. Sắc sông trở nên xanh thẳm khi đến chân núi Hòn Chén (tác giả dùng tên chữ là Ngọc Trản – nguyên nghĩa là Chén Ngọc), vùng đồi núi lô nhô và lăng tẩm tạo nên vẻ đẹp trầm mặc nhất cho con sông.

Dòng sông chảy qua Huế đi chậm “cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”. So sánh sự bình yên, “điệu nhảy lặng lờ” của nó khi ngang qua thành phố với dòng chảy gấp gáp của sông Nê- va khi đi qua Lê-nin-grat (nay là Xanh-pê-téc-bua) nước Nga, liên tưởng đế triết lý của Hê-ra-clit “không thể tắm hai lần trong một dòng sông” là đoạn văn tài hoa, trí tuệ mà cũng rất hấp dẫn.

Cảnh quan thiên nhiên góp phần tạo nên những nền văn hóa đặc sắc. Dù tả cảnh quan dòng sông, tác giả luôn liên tưởng, mở rộng suy ngẫm về đặc trưng riêng của dòng sông Hương, quan sát không gian văn hóa hình thành quanh đôi bờ và dọc theo dòng sông. “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya […] toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”. Khoang thuyền, mái chèo khuya đều là những hình ảnh liên hệ với dòng sông. Đến đây, nhà văn lại liên tưởng đến những bản đàn trong Truyện Kiều bất hủ như một minh chứng hùng hồn cho vai trò văn hóa của sông Hương.

Trước khi giã từ thành phố để về với biển cả, “nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao […] tôi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Rồi lại so sánh với nàng Kiều “Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả”.

Nhìn chung, cảnh quan sông Hương được nhìn ngắm từ góc nhìn văn hóa. Nhà văn suy ngẫm đầy chất trữ tình về không gian văn hóa trên hai bờ sông Hương. Uyên bác, lịch lãm, từng trải và tài hoa là những phẩm chất dễ thấy của tác giả trong phần này.

b) Sông Hương trong lịch sử và thi ca

Sông Hương – mà cũng là Huế - đã có lịch sử của nó trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Không thể tách rời sông Hương với lịch sử dân tộc, càng không thể tách rời nó với Huế. Cảm hứng ấy toát lên từ những câu văn tự sự tưởng như khô khan. “Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỷ vinh quang với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỷ trung đại”.

Càng về cuối thời trung đại, trong các thế kỷ XIVIII, XIX, Huế và sông Hương càng có mặt nhiều hơn trong các sự kiện lịch sử “long trời lở đất” và tiếp tục truyền thống ấy qua Cách mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. “Thế kỷ mười tám, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ mười chín với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển”.

Đến thời hiện đại, Huế và sông Hương đã có những hi sinh, mất mát đầy cống hiến cho lịch sử cách mạng dân tộc. Đến đay, dường như sông Hương tạm lùi vào hậu trường để Huế hiện ra trên tiền cảnh. Nhà văn trầm tư trên sự kiện lịch sử - cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1968, khi toàn miền Nam từ Quảng Trị đến Nam Bộ, trong đó có Huế, đồng loạt nổi dậy đánh Mĩ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đó cho thấy sức mạnh của cách mạng, làm suy yếu kẻ thù, buộc chúng phải điều chỉnh chiến lược cả trên chiến trường và trên bàn Hội nghị Pa-ri. Nhưng mặt khác, trong cuộc chiến đấu ấy, Huế cũng chịu nhiều tổn thất: “Cùng với niềm cổ vũ nồng nhiệt dành cho nó trong mùa xuân Mậu Thân, Huế đã nhận được những lời chia buồn sâu sắc nhất của thế giới về sự tàn phá mà đế quốc Mĩ đã chụp lên những di sản văn hóa của nó”. Sự đánh giá tổn thất, hi sinh mà Huế gánh chiu được nhìn từ cả hai phía. Chính người Mĩ đã lên án sức phá hoại tàn bạo đối với Huế do các trận bom của Mĩ. Nhưng thật xúc động là hình ảnh người Đại tướng “đầu cúi xuống ngực, hai bàn tay chắp lại trong cử chỉ kính cẩn của người già mắt ngấn lệ” khi nói đến “cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc” của thành phố Huế. Không có chữ nào nói về mất mát, hi sinh nhứng “ngấn lệ” trong mắt “người già” đã nói lên tất cả.

Sông Hương, dòng sông của những sự kiện lịch sử hào hùng và dòng sông của cuộc sống hàng ngày. “Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Tại sao đang suy ngẫm về lịch sử, tác giả lại chuyển đột ngột sang hình ảnh sắc áo cưới của Huế rất xưa mà các cô dâu vẫn mặc? Có thể đoán rằng, nhà văn muốn nói đến sự sống hiền hòa, dịu dàng vẫn là mạch sống chính của xứ Huế, của dòng sông Hương, khuôn mặt thực hiền hòa của dòng sông đôi khi ẩn giấu trong màn sương.

Sông Hương là suối nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca, nhạc họa. Mỗi nhà nghệ sĩ đều có khám phá riêng về dòng sông, hay như cách nói của tác giả muốn nhấn mạnh tính chủ động của con sông như một sinh thể “dòng sông ấy không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”. Từ Nguyễn Du với Truyện Kiều bất hủ, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, đến thi ca cách mạng. Thi ca cùng với kiến trúc, âm nhạc, hội họa góp phần làm cho không gian văn hóa sông Hương thêm phong phú, giàu bản sắc.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

Như đã nói, bài bút ký thuộc thể loại tùy bút. Nhà văn đã kết hợp phong cách khảo cứu với sự thể hiện kiến thức sách vở uyên bác; bộc lộ sự lịch lãm, từng trải với vốn sống phong phú, sâu sắc; khả năng phân tích, bình luận thực tế, sắc sảo và một trái tim giàu tình cảm, giàu tình yêu thương con người và quê hương đất nước. Thiên tùy bút như một tác phẩm mẫu mực viết về thắng cảnh quê hương đất nước. dòng sông như một sinh thể sống động. Dòng sông tạo nên cả một không gian văn hóa. Dòng sông qua lịch sử lâu đời, có những trang bi hùng song trong trường kỳ lịch sử, nó đẹp và thân thương như một người con gái. Những điểm nhìn đa chiều giúp người đọc yêu dòng sông hơn, tự hào về quê hương, đất nước hơn.

Trong thiên tùy bút, tác giả chuyển đổi giọng điệu khá linh hoạt. Khi là lối kể tự sự, khi lại là sự tưởng tượng bay bổng với những hình ảnh bất ngờ. Chẳng hạn, ngay trong một đoạn văn, ta cũng thấy sự thay đổi này: “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”.

Có khi là cả một đoạn văn chính luận khô khan sau đó là những cử chỉ im lặng đầy xúc động như đoạn văn viết về cuộc Tổng tiến công Mậu Thân.

Sự xen kẽ giữa tả, kể về sông Hương với sự vận dụng kiến thức sách vở và kiến thức cuộc sống cũng là một nhân tố tọa nên chất tùy bút đặc sắc. Tác giả đã có dịp đi qua nhiều dòng sông lớn trên thế giới như sông Xen, sông Đa-nuýp, sông Nê-va, đó là vốn sống; tác giả thuộc Truyện Kiều, thơ Cao Bá Quát, Tản Đà, dẫn cả tư tưởng biện chứng của Hê-ra-clit,… đó là học vấn. Tác giả có quan điểm riêng về nghệ thuật Huế: “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát. Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”, đó là sự lịch lãm, tinh tế trong trải nghiệm và quan sát. Nhìn chung, tùy bút cho phép tác giả bộ lộ toàn diện các phẩm chất trí tuệ và cảm xúc của mình.

0
phiếu
0đáp án
513 lượt xem

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

(Trích)

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Nguyễn Tuân (1919 –1987) sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn. Quê ông ở làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Ông có một vị trí quan trọng và đóng góp không nhỏ đổi với văn học Việt Nam hiện đại

Người lái đò Sông Đà là bài tùy bút được in trong tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân, xuất bản lần đầu năm 1960. Thiên tùy bút này thể hiện rõ nét đặc sắc của phong cách Nguyễn Tuân. Việc lựa chọn đề tài viết về Sông Đà thời điểm đó cũng là một bản lĩnh, vì hồi ấy từ Quynh Nhai sang Than Uyên chưa có đường sá thuận lợi. Nhà văn phải xin một con ngựa và một dân quân, đi theo đường mòn đến ba ngày không gặp người đi ngược.

2. Về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân

a) Đề tài

Nguyễn Tuân thường chọn những đề tài độc đáo, khác thường, ít được đề cập tới trong văn học sáng tác trước ông. Sông Đà cùng với vùng núi rừng hùng vĩ miền Tây Bắc nước ta và con người nơi đây đã gợi cảm hứng đặc biệt cho nhà văn trong những chuyến đi khoảng 1958-1960. Mở đầu thiên bút kí, nhà văn cho biết: “Tôi cũng tự nhận thấy mình là một người đang tìm vàng ở quanh Sông Đà, đi tìm cái thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc, và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa tươi vui và vững bền”.

b) Cảm hứng nghệ thuật

Nguyễn Tuân viết trong thiên bút ký: “Con Sông Đà thật dữ thật lớn và lớn hơn nữa là những người lao động chở đò kéo đò thắng cái thiên nhiên không bình thường của một con sông Tây Bắc hiểm trở”. Người lái đò là nhân vật trung tâm của bút ký. Về phong cách, Nguyễn Tuân có thiên hướng chọn những đối tượng phi thường, tìm cái đẹp trong cái phi thường, khác thường. Gợi cảm hứng đặc biệt cho Nguyễn Tuân ở các đối tượng miêu tả đặc biệt này là tính chất đỉnh cao của chúng. Những mẫu người được nhà văn ca ngợi thường là các nghệ sĩ bậc thầy, các quán quân kỷ lục đỉnh cao trong lĩnh vực sống và hoạt động riêng của họ. Ví dụ, trong chuyện lái thuyền vượt thác trên sông thì người lái đò sông Đà đạt được tài nghệ của bậc quán quân, các nghệ sĩ bậc thầy tưởng như không một ai cáo thể điêu luyện, tài ba hơn họ được.      Trong phần tùy bút trước đoạn trích, Nguyễn Tuân kể vè thân thế của người lái đò: “Trên dòng Sông Đà, ông xuôi ông ngược hơn một trăm lần, chính tay giữ lái độ sáu chục lần cho những chuyến thuyền then đuôi én sáu chèo… Sông Đà, đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những cái chấm than chấm câu và những đoạn xuống dòng”. Người lái đò này đã quen thuộc với hiểm nguy của ghềnh thác đến nỗi “cũng như người Mèo (người Mông) kêu mỏi chân khi giẫm lên đồng bằng thiếu dốc thiếu đèo, ông bảo rằng: “Chạy thuyền trên khúc sông không có thác, nó dễ dại tay dại chân và buồn ngủ”. Một sự giới thiệu rất hấp dẫn, rất gợi về chân dung người lái đò Sông Đà.

c) Nghệ thuật diễn tả

Nguyễn Tuân cũng là nghệ sĩ bậc thầy tỏng thể tùy bút, một thể loại văn học mà ông chọn lựa cho cả đời viết văn của mình. Nếu tùy bút là kí sự, là thể loại có tính chất ghi chép bao gồm cả tư liệu khảo sát, nghiên cứu về đối tượng thì các bút kí trong Sông Đà của ông là quán quân, đỉnh cao trong sự phong phú, bề bộn, ngổn ngang của tư liệu. Nếu tùy bút cho phép sự tự do trong các liên tưởng, so sánh, trong cái nhìn đa diện, nhiều chiều, cái nhìn có tính chất khảo cứu tỉ mỉ về đối tượng, cho phép những chân trời rộng mở nhất của sáng tạo từ ngữ mới, cách diedatj mới lạ, không lặp lại thì quả Nguyễn Tuân là bậc thầy có một không hai của lối văn tùy bút. Nguyễn Tuân đã dựng cho mình một lâu đài tùy bút đặc sắc và là chúa tể của tòa lâu đài đó.

II-    PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

Như tên gọi của thiên tùy bút đã ghi rõ, nhân vật chính của tác phẩm này là người lái đò Sông Đà. Nguyễn Tuân tận dụng thế mạnh của thể văn tùy bút mà ông tạo ra để giới thiệu người lái đò – nghệ sĩ bậc thầy, quán quân đỉnh cao trong nghề chèo lái, vượt thác ghềnh. Đồng thời, ông cũng chứng tỏ tài nghệ tùy bút bậc thầy của mình khi đặc tả tài nghệ của người lái đò. Nhưng để cảm nhận được tài nghệ tuyệt vời của Người lái đò Sông Đà thì phải đặt nghề chèo lái này vào một hiện thực Sông Đà dữ dội, nghiệt ngã tưởng như cũng độc nhất vô nhị trên đời.

a) Sông Đà, một thách đố cho các nghệ sĩ lái đò

Chở đò dọc trên Sông Đà là một nghề như dành riêng cho những ai có bản lĩnh, có ý chí, có tài năng. Đừng hy vọng tìm sự thanh thản, yên ổn trên dòng sông, nơi người lái đò hàng ngày phải đương đầu với những “cuộc thủy chiến”, tại “mặt trận Sông Đà”, nơi thác nước và đá luôn luôn phối hợp với nhau để tiêu diệt những con thuyền thiếu tay lái bản lĩnh, tài ba.

Nguyễn Tuân đặc tả, cực tả sự dữ dội, hiểm ác của Sông Đà bằng một tổng thể các thủ pháp nghệ thuật khác nhau. Nhà văn quan sát dòng sông từ nhiều góc độ khác nhau. Ông đi dọc Sông Đà, tận mắt quan sát những đoạn thác ghềnh nguy hiểm nhất, ông đã bay lên trên máy bay ngang quãng Sông Đà nhìn xuống và cũng muốn “đưa ống quay phim lên tàu bay “để” phản ánh lên cái dữ tợn và cái lớn của Sông, của thác Sông Đà”; có những cảnh ông dựng lại theo lời kể của người lái đò. Không phải nhà văn không nhìn thấy vẻ thơ mộng của con sông này, chính ông viết đây là con sông “hung bạo và trữ tình”, nhưng ông vẫn nhấn mạnhnhiều hơn đến khía cạnh “hung bạo” của nó. Đây là thủ pháp đối lập trong văn học. Để cảm nhận hết tầm vóc “nghệ sĩ” của người lái đò Sông Đà dũng cảm, cần thấy được sự dữ dội của dòng sông. Đối thủ càng cao cường thì chiến thắng càng vẻ vang.

Để tác động mạnh vào trí tưởng tượng của người đọc, Nguyễn Tuân vận dụng thủ pháp nghe và nhìn, đặc biệt là nhìn và quan sát. Tiếng gầm réo của thác nước Sông Đà rất đa dạng, tùy theo mỗi khúc sông. Nghe tiếng gầm réo này, ta có cảm tưởng như đây là một con người với đủ cung bậc sắc thái của tình cảm. “Tiếng nước thác nghe như oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”. Có lúc, con sông gầm thét, cuồng nộ “như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cũng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Một sự liên tưởng bất ngờ mà hợp lý: thử tưởng tượng khi có ngàn con trâu mộng đang bị bỏng giữa rừng tre nứa cháy nổ lốp đốp thì sức mạnh phá hoại, sự hung tợn của chúng đến mức đáng sợ như thế nào.

Quan sát Sông Đà từ nhiều góc độ khác nhau là một nét đặc biệt của bút pháp Nguyễn Tuân. Nhà văn công phu tìm được một điểm nhìn thật độc đáo và bất ngờ. Ví dụ: Ông tả “cái hút nước” ở quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La. Những cái hút nước “giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”. Thật đáng sợ vì cả những bè gỗ rừng cũng bị cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống, nói gì đến những con thuyền mong manh bé nhỏ sơ ý. Để truyền lại cảm giác lạ lùng sợ hãi cho bạn đọc, nhà văn tưởng tượng một nhà văn quay phim ngồi dưới đáy giếng hướng máy quay phim ngược lên miệng giếng – cái hút nước đó mà quay cảnh cả khối nước trong như pha lê đang ập xuống người quay phim.

Con Sông Đà về mùa xuân có những nét trữ tình, gợi cảm. “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Tuy vậy, đối với người lái đò, không thể nói nhiều đến sự mơ mộng, trữ tình. Sông Đà hung dữ, nguy hiểm hơn một chú ngựa bất kham nhiều lần. Người lái đò Sông Đà đã khuất phục được thác dữ bằng tài nghệ siêu việt của mình. Thác vách đá bày “thạch trận” trên sông. “Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyên đơn độc không còn biết lùi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn”. Nhà văn cũng cực tả cuộc chiến đấu giáp lá cà giữa con sông và người lái đò.

b) Cuộc chiến đấu hàng ngày của Người lái đò Sông Đà

Nguyễn Tuân viết: “Cuộc sống của Người lái đò Sông Đà quả là một cuộc chiến đấu hằng ngày với thiên nhiên, một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một”. Chính vì thế, ông viết Sông Đà.

Tính chất dữ dội, bạo liệt của Sông Đà là do sự phối hợp giữa những thác nước cheo leo hiểm trở và các tảng đá ngầm đá nổi tạo thành. Cuộc chiến đấu của người lái đò trước hết và chủ yếu là phá được “binh pháp của thần sông thần đá”, thực chất là nắm vững quy luật cấu tạo và vận hành của luồng thạch, thác đá.

Trận chiến đấu của thác nước và đá (mà tác giả gọi là thạch trận) được miêu tả trong thiên tùy bút này giống như một trận chiến được bài trí rất công phu, hiểm độc. “Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền”. Để vượt qua ba vòng vây này, đòi hỏi sự bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt và cả khả năng chịu trận. Có những lúc sóng tung cao, đánh mạnh vào hạ bộ người lái đò khiến ông nảy đom đóm mắt . (Tham khảo thêm để hiểu rõ phong cách tùy bút của Nguyễn Tuân: chi tiết Người lái đò Sông Đà phải để truồng khi lái đò cũng là một phát hiện kỳ thú của Nguyễn Tuân, nhưng không được đưa vào đoạn trích. Chi tiết có phần dung tục, đầy hài hước nhưng sự thật này có vai trò thay đổi không khí căng thẳng của câu chuyện kể về các thác nước: “Những chị Mường Phù Yên gần bờ Sông Đà thường phàn nàn về người lái đò Lai Châu hay cởi truồng. Người lái đò Sông Đà hay mặc áo mà không mặc quần. Có khi muốn đóng khố nhưng cũng không đóng được. Cát Sông Đà rất hay ăn da người chở đò. Hễ mặc quần hoặc đóng khố là cát chui ngay vào bẹn rồi loét da”). Nhưng sự bình tĩnh, tỉnh táo, phong độ của người lái đò đã giúp anh vượt qua bốn cửa tử để đến một cửa sinh của thạch trận ở vòng vây thứ nhất.

Ở các vòng vây thứ hai và thứ ba, thế trận của thác và đá ở mỗi vòng vây đều có nét riêng, không gặp lại. Ví dụ như cửa sinh ở vòng vây thứ nhất nằm lập lờ phái tả ngạn sông thì cửa sinh ở vòng vây thứ hai lại nằm ở phía hữu ngạn sông, đến chặng thứ ba, cả hai bên tả, hữu ngạn sông đều là cửa tử và cửa sinh lại nằm ở chính giữa sông. Tựa hồ như dòng sông cũng như một kẻ xảo quyệt, thâm hiểm, đặt bẫy tiêu diệt người lái đò, hay nói bằng ngôn ngữ của tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, bày thế trận nhử quân địch vào để tiêu diệt. Nếu thuyền lao đúng vào cửa sinh thì người lái đò chiến thắng và ngược lại thì sự thất bại đó có thể trả bằng sinh mạng. Người lái đò “có tự do, vì người lái đò ấy đã năm được cái quy luật tất yếu của dòng nước Sông Đà”, người lái đò luôn chiến thắng. Và cũng giống như các nghệ sĩ chân chính, các quán quân vô địch, các tài nghệ bậc thầy, người lái đò không xem nghề chở đò Sông Đà của mình là việc làm phi phàm. Với họ, đây là công việc hàng ngày. Sau chặng đường vượt thác ghềnh, đến quãng sông nước thanh bình, những nghệ sĩ lái đò ấy chỉ nói về những chuyện cuộc sống hàng ngày. “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang cá mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi cá túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi. Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với Sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái khác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp đáng nhớ”. Sự thanh thản sau những thử thách sống còn cũng là một khía cạnh nghệ sĩ, quán quân của người lái đò. Nếu ta liên tưởng đến bài thơ Tây Tiến, thấy ngay là thủ pháp tương phản cũng được tác giả bút ký sử dụng thành công. “Thế là hết thác. Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam, toàn bàn tán về cá anh vũ cá đầm xanh…”.

c) Sông Đà “trữ tình

Sông Đà cũng có lúc thơ mộng, êm đềm. Sau mùa nước lũ, cái mùa mà nước sông đục ngầu sẽ đến mùa xuân, dòng sông xanh màu ngọc bích quý phái chứ không xanh “màu xanh canh hến” của sông Gâm, sông Lô. Bằng thực tế quan sát, nhà văn cực lực bác bỏ tên gọi của người Pháp áp đặt cho Sông Đà là “dòng sông Đen”. Với nhà văn, dù thế nào đi nữa, dù sông Đà dễ thay đổi tính nết, dòng sông này vẫn luôn luôn “gợi cảm”, là cố nhân đối với ông.

Những trang viết về vẻ đẹp nguyên sơ, cổ kính của Sông Đà thuộc loại những trang viết tài hoa nhất, đậm chất thơ nhất trong bài tùy bút: “Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lý đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

Thể tùy bút cho phép một sự tự do rộng rãi nhất trong việc bao quát tư liệu và tự do độc thoại của tác giả. Trong phạm vi tư liệu, Nguyễn Tuân có lúc vì trung thành với nguyên tắc “đỉnh cao” của ông mà không ngần ngại đi tới cùng kiệt của lối văn tư liệu khảo cứu điều tra, đến nỗi có cảm tưởng là thiên tùy bút này, không có một nhà văn nào có thể tìm tòi được tư liệu nào hơn ông khi khảo về Sông Đà. Nhưng cũng chính vì vậy mà nhiều lúc đọc ông, người đọc có cảm tưởng “sốt ruột” vì tư liệu bề bộn.

Thể tùy bút cũng cho nhà văn một sự tự do vô bờ trong suy ngẫm, liên tưởng, so sánh. Nhà văn đã huy động một kho tri thức phong phú với vốn học vấn uyên bác, một vốn sống đa dạng, một khả năng quan sát tinh nhạy, một trí tưởng tượng phóng túng trong việc dựng nên một thế giới nghệ thuật về sông Đà kỳ vĩ, hoành tráng.

Đọc Người lái đò Sông Đà cũng như các thiên tùy bút khác của Nguyễn Tuân, dễ có cảm giác bất ngờ: bất ngờ trước một cách tả cảm giác rất độc đáo: tưởng tượng một người quay phim cầm máy quay bị hút xuống “cái nút” của Sông Đà, ngồi dưới đáy quay ngược lên như cảm giác người xem “lấy gân” ghì chặt lấy ghế; bất ngờ trước một sự so sánh (ví dụ về chuyện có quãng Sông Đà vách đá chẹt lòng sông như một cái yết hầu “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy minh như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”); bất ngờ trước sự liên tưởng (để nói về sự vắng lặng của những đoạn Sông Đà ban đêm, ông “thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp – lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái – Lai Châu”. Chú ý: đến nay vẫn chưa có tuyến đường sắt ấy); bất ngờ trước lối tạo từ mới đặc sắc và là sở trường của nhà văn (Ví dụ: Thạch trận, màu xanh canh hến, bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử, màu nắng tháng ba Đường thi,…).Đặc sắc của tùy bút Nguyễn Tuân còn tiếp tục được nghiên cứu, phân tích, nhưng có thể khẳng định rằng nhà văn đã tạo dựng được phong cách riêng đặc sắc, độc đáo của mình trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.

Ngôn ngữ tùy bút của Nguyễn Tuân đầy sáng tạo, một trong những nhân tố đem lại sự hấp dẫn cho người đọc.

Đọc Người lái đò Sông Đà, chúng ta thêm yêu đất nước tươi đẹp hùng vĩ ngàn đời của ta, chúng ta thêm hiểu những kỳ tích lao động sáng tạo của nhân dân ta. Ta không thể không nói lời biết ơn Nguyễn Tuân đã giúp ta nuôi dưỡng được tình cảm tốt đẹp đó.

0
phiếu
0đáp án
884 lượt xem

ĐÀN GHI TA CỦA LOR – CA

 

I-  NHỮNG TRI THỨC CẦN NHỚ

1. Về Thanh Thảo

Thanh Thảo tên khai sinh là Hồ Thành Công, sinh năm 1946, quê ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông tham gia kháng chiến chống Mĩ ở chiến trường miền Nam. Từ sau năm 1975, Thanh Thảo chuyên hoạt động văn nghệ. Những năm gần đây, ngoài sáng tác thơ, ông còn viết báo, tiểu luận, phê bình,…

Trưởng thành trong phong trào thơ trẻ những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, tiếng thơ Thanh Thảo đã nổi bật là tiếng nói riêng trung thực của một thế hệ cầm súng tự giác trước vận mệnh dân tộc và lịch sử. Thơ ông nghiêng về suy tư, triết luận.

2. Về Phê-đê-ri-cô Gar-xi-a Lor-ca

Phê-đê-ri-cô Gar-xi-a Lor-ca (1898 – 1936) là một trong những nhà thơ và soạn kịch nổi tiếng nhất Tây Ban Nha. Từ nhỏ, Lor-ca đã được coi là thần đồng với năng khiếu thiên bẩm trên nhiều lĩnh vực của nghệ thuật: thơ ca, hội họa, âm nhạc,…

 Năm 1936, ông bị thế lực dân tộc chủ nghĩa cực đoan bắt và giết hại trong tư cách một người cộng hòa và người cộng sản.

3. Về bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca

Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca (rút trong tập Khối vuông ru-bích) không dễ đọc. Cần có một số tri thức bổ trợ để tiếp cận văn bản tốt hơn.

Bài thơ của Thanh Thảo có tính chất của thơ siêu thực. Nhà thơ đã tâm sự như sau: “Khi viết một bài thơ cụ thể, như bài Đàn ghi ta của Lor-ca, mối quan tâm chính của tôi chỉ là một hình ảnh gợi mở, một tâm hưởng hay một nhịp điệu mơ hồ nào từ đâu đó, chứ tuyệt nhiên không có một “vấn đề” nào cả! Anh hỏi tôi có gửi lời tri âm hay kí thác nào vào bài thơ ấy không, tôi xin trả lời rất thật là tôi không biết. Khi làm thơ thì chỉ từ ngữ gọi là từ ngữ, nhiệp điệu đẩy đưa nhịp điệu”. Tất nhiên đây chỉ là cách nói nhấn mạnh đặc trưng của tư duy thơ siêu thực vốn đề cao yếu tố trực giác, cái vô thức trong quá trình sáng tác. Bản thân sự quan tâm và hứng thú của Thanh Thảo với nhà thơ nổi tiếng Lor-ca cũng đã là một cách gửi gắm, nêu vấn đề.

Điều Thanh Thảo nói như trên rất tương đồng với chủ trương của các nhà thơ siêu thực. Thơ siêu thực hướng đến “lối viết tự động”, nghĩa là viết theo dòng cảm xúc đến một cách ngẫu nhiên, bật lên từ tiềm thức, không hề sắp xếp theo lý trí. Do đó, có cảm giác thơ siêu thực mang màu sắc phi lí, các hình ảnh, các liên tưởng đặt cạnh nhau không theo một logic nào, một nguyên tắc nào theo cách quan niệm duy lý thông thường. Thanh Thảo còn nói: “Dĩ nhiên, Lor-car là một nhà thơ mà tôi hết sức ngưỡng mộ, cả về thi ca lẫn cuộc đời và cái chết của ông đều gây cho tôi nhiều xúc cảm và ấn tượng. Chính những hình ảnh và nhạc điệu trong nhiều bài thơ Lor-ca đã dẫn dắt tôi khi viết bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca mà tôi coi như một khúc tưởng niệm Ông”. Nghĩa là những gì nhà thơ Thanh Thảo tiếp nhận về Lor-ca đã tích tụ lại trong tiềm thức dưới dạng “cảm xúc” và “ấn tượng”, khi viết bài thơ, chúng tự bật ra theo quy luật “viết tự động”. Chẳng hạn, lời đề từ bài thơ “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” chính là bắt nguồn từ bài thơ Ghi nhớ của Lor-ca:

Khi nào tôi chết

hãy vùi thây tôi cùng với cây đàn

dưới lớp cát.

Khi nòa tôi chết

hãy vùi thây tôi giữa rặng cây cam

và đám bạc hà.

Khi nào tôi chết hãy vùi thây tôi, tôi xin các người đó,

nơi một chiếc chong chóng gió.

Khi nào tôi chết!

(Diễm Châu dịch)

Để hiểu được hình tượng cây đàn ghi ta, cũng nên biết bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca:

Ghi ta bần bật khóc

Buổi sáng vỡ bình yên

Ghi ta bần bật khóc

Không thể nào dập tắt

Không thể nào bắt im.

Ghi ta bần bật khóc

Như nước chảy theo mương

Như gió trường trên tuyết

Không thể nào dập tắt

Ghi ta khóc không ngừng

Những chuyện đời xa lắc.

Như mũi tên vô đích

Như hoàng hôn thiếu vắng ban mai

Như hạt cát miền Nam bỏng rát

Xót xa than lạnh giá sắc sơn trà

Những chú chim đầu tiên chết gục theo cành.

Ôi ghi ta nạn nhân khốn khổ đáng thương

Của bàn tay – bộ dao năm lưỡi!

(Chưa rõ người dịch)

Có người hỏi, những hình ảnh “áo choàng đỏ gắt”, “hát nghêu ngao”,… là những đặc trưng Tây Ban Nha, Thanh Thảo trả lời: “Đó là những hình ảnh về Tây Ban Nha đã lặn sâu vào tôi từ khi tôi đọc những tác phẩm của Hê-minh-uê – một nhà văn người Mĩ. Mãi cách đây mấy năm, tôi mới có dịp ghé qua Bác-xê-lô-na, trong khi bài thơ này đã viết cách đây ngót 30 năm, nên những hình ảnh Tây Ban Nha mà tôi có được đều qua sách vở. Cách biểu đạt này theo tôi cũng không mới mẻ gì, nhưng nó thích ứng trong bài thơ này, khi Lor-ca được coi là “con họa mi Tây Ban Nha”. Lor-ca có câu thơ tôi thuộc lòng từ 40 năm nay, qua bản dịch của Hoàng Hưng: “Con ngựa đen/vầng trăng đỏ”, còn hoa li-la (hoa ly- hoa huệ tây) thì không chỉ có ở Tây Ban Nha, nhưng dường như nó đã đi vào một tác phẩm nào đó viết về Tây Ban Nha mà tôi nhớ. Với lại, li-la còn gợi âm thanh như một cú “vê” ghi ta – cây đàn mà người Việt mình hay gọi là “Tây Ban cầm”. Một không khí hơi mờ ảo, những hình ảnh mơ hồ lãng đãng… là những gì tôi có được về xứ sở An-đa-lu-xia mà tôi cảm nhận qua thơ Lor-ca. Tôi đã cố gắng đưa vào bài thơ mình”. Như vậy, các hình ảnh đặc trưng về Tây Ban Nha đã được “nạp” vào tâm khảm nhà thơ bằng nhiều con đường, qua nhiều năm để khi viết về một nhà thơ lớn của Tây Ban Nha, chúng bật ra. Sôi nổi, bồng bột, ngẫu hứng, không xếp đặt, song vẫn quy tụ về con người Tây Ban Nha tài hoa, anh hùng. Bản thân các hình tượng trong bài thơ có thể được tiếp nhận khác nhau, đa nghĩa, tùy thuộc vào vốn sống, sự hiểu biết của từng người.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Ấn tượng về một không gian Tây Ban Nha

Những nét đặc thù đậm chất Tây Ban Nha được liên tưởng như tiếng đàn bọt nước, áo choàng đỏ gắt, miền đơn độc, trên yên ngựa mỏi mòn, hát nghêu ngao,… Đây là những ấn tượng đã được tích lũy qua văn thơ, âm nhạc, điện ảnh, qua thực tế tham quan… tập hợp lại đậm đặc tạo nên tình yêu với đất nước tươi đẹp, có nền văn hóa đầy bản sắc:

Những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

 li-la li-la li-la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chuếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn

Tây Ban Nha hát nghêu ngao

Trong thơ Lor-ca có những bài viết về cô gái Di-gan, cũng được liên tưởng đến trong mạch cảm nghĩ, trong ấn tượng về đất nước có bản sắc văn hóa độc đáo

Nhưng các hình ảnh trên cũng có thể đem lại một cảm nhận về người lữ hành cô độc Lor-ca. Người đi tìm kiếm những giá trị tinh thần, đấu tranh với các thế lực phản động. “Áo choàng đỏ gắt” chứ đựng sau nó hình ảnh những võ sĩ đấu bò tót rất quả cảm ở Tây Ban Nha. Không gian mênh mang, xa rộng, thời gian đêm với vầng trăng chuếnh choáng như trong cơn say nói một cái gì vĩ đại, phóng khoáng, tự do nhưng đầy cô đơn của người nghệ sĩ. Tiếng hát nghêu ngao gợi liên tưởng đến sự vô tư.

Chú ý sự kết hợp, liên kết, đặt cạnh nhau các hình ảnh thị giác (áo choàng đỏ gắt), hình ảnh cảm giác (vầng trăng chuếnh chóng, yên ngựa mỏi mòn), âm thanh (li-la li-la li-la, hát nghêu ngao) đem lại cảm giác khác lạ so với những hình tượng được liên kết theo logic lí trí thông thường.

2. Hình tượng tiếng đàn

“Áo choàng bê bết đỏ”. Có một sự song hành giữa hình tượng người võ sĩ đấu bò tót dũng cảm nhưng đã thành nạn nhân và Lor-ca bị đưa về bãi bắn. Vậy thì cuộc đấu tranh của Lor-car chống lại thế lực phản động cũng như trận đấu đầy quả cảm nhưng cũng rất nguy hiểm của người võ sĩ kia. Tiếng đàn được đặt trong những trường liên tưởng rất khác nhau, gợi nỗi đau đớn bất ngờ trước sự mất mát, trước cái chết của Lor-ca. Tiếng đàn là tiếng lòng, là tâm hồn của Lor-ca: “tiếng ghi ta nâu – bầu trời cô gái ấy”.

Có thể gợi liên tưởng tiếng đàn đến với nỗi đau đớn của cô gái có nước da nâu, người yêu của Lor-ca.

“Tiếng ghi ta lá xanh biết mấy” cũng có thể được hiểu như sự sống vĩnh cửu của tiếng đần.

“Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan” hay là sóng dậy từ tiếng đàn uất hận của người nghệ sĩ chiến đấu?

Trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca dùng hình tượng tiếng đàn chảy máu dưới năm ngón tay như bộ dao năm lưỡi. Lúc này đây, bộ dao năm lưỡi ấy uất ức lướt trên phím đàn khiến máu chảy ròng ròng. Tiếng đàn như tiếng lòng, tiếng thét phẫn nộ của Lor-ca.

Cái chết – sự ra đi của Lor-ca được liên tưởng với hình ảnh Lor-ca bơi sang ngang dòng sống trên chiếc đàn ghi ta màu bạc. Phải chăng tác giả liên tưởng đến hình ảnh vượt sang bến bờ bên kia, sang cõi Niết Bàn trong học thuyết giải thoát của Phật Giáo? Thật khó khẳng định, song song chuỗi những liên tưởng với các hình ảnh ném lá bùa cô gái Di-gan, vào xoáy nước, ném trái tim mình, vào lặng yên bất chợt cũng cho phép hiểu đây là sự ra đi vĩnh viễn.

Âm điệu tiếng đàn còn ngân nga mãi li-la li-la li-la như sự tiếc thương, như sự vĩnh biệt.

Có thể có những cách cảm nhận khác. Những hình tượng siêu thực cho phép mở rộng liên tưởng vô bờ mà các cách đọc như trên chỉ là một.

Người chiến sẽ đáu tranh cho tự do, cho cuộc sống tốt đẹp có thể bị giết nhưng tiếng đàn – tâm hồn của anh thì bất tử. Không thể chôn được tiếng đàn, tất nhiên, tiếng đàn bất diệt nhưu cỏ mọc hoang, có sức sống mãnh liệt. Tiếng đàn khóc như những giọt nước mắt long lanh, vầng trăng nước mắt rọi xuống đáy giếng trong suốt. Đó chỉ là một hướng trong trường liên tưởng đa chiều của  các hình tượng thơ. Dẫu cho các hình tượng rất khó đọc một cách xác quyết theo cách đọc duy lí thông thường nhưng nếu ta hiểu được tình cảm của người viết với Lor-ca thì ta cũng có thể giải thích các hình tượng ấy.

0
phiếu
0đáp án
621 lượt xem

VIỆT BẮC

(Trích)

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả

Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế (xem Vài nét về tiểu sử trong Ngữ văn 12, tập một).

Đường cách mạng, đường thơ của Tố Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam. Bảy tập thơ của Tố Hữu có thể coi là những cuốn biên niên sử bằng thơ ghi lại bảy chặng đường của cách mạng Việt Nam, của đời sống dân tộc, tâm hồn dân tộc trong sự vận động đi lên của tiến trình lịch sử.

2. Về tác phẩm

-     Việt Bắclà tên gọi khu căn cứ địa cách mạng ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta. Chiến khu Việt Bắc nay thuộc sáu tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang. Tính từ khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 cho tới chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Bắc là thủ đô của kháng chiến, của cách mạng được 15. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, miền Bắc được giải phóng, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ đã chuyển từ Việt Bắc về Hà Nội (10/1954).

-     Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác trong bối cảnh chia tay với Việt Bắc đầy lưu luyến như thế. Bài thơ dài 150 câu thơ lục bát. Những lời đối đáp mình – t, ta – mình, kẻ ở - người đi, người dân căn cứ địa cách mạng – người kháng chiến trở về Hà Nội. Tình cảm chia tay ấy được diễn tả dưới hình thức đối đáp của đôi lứa nam nữ trong ca dao dân ca tình yêu, tạo nên chất trữ tình đằm thắm. Câu từ của bài thơ dựa trên sự đối đáp này cho thấy rõ một đặc trưng của thơ Tố Hữu – thơ trữ tình chính trị. Nhà thơ viết về một đề tài cách mạng khô khan, rát khó cho thơ nhưng đã chọn cách chyển tải bằng hình thức đối lập nam nữ nên tác phẩm trở nên hấp dẫn. Hình thức đối lập qua thể thơ lục bát nhuần nhuyễn, những cách nói của văn học dân gian tạo ấn tượng tính dân tộc sâu đậm của bài thơ.

II-   PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Mạch cảm hứng thơ Việt Bắc

Đoạn trích của bài thơ dựa vào sách giáo khoa chủ yêu gợi lại những kỷ niệm, ân tình sâu nặng giữa người đi và kẻ ở. Việt Bắc 15 năm từng là thủ đô kháng chiến, là mảnh đất khai cơ lập nghiệp của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Những lời đưa tiễn cũng là những lời nhắc nhở về những kỉ niệm đẹp trong kháng chiến. Lời đáp lại là tiếng lòng cam kết son sắt thủy chung. Mở đầu bài thơ là hồi tưởng của người ở lại:

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sống nhớ nguồn?

Đừng quên tình cảm thiết tha mặn nồng của người Việt Bắc, cũng đừng quên đây là quê hương cách mạng, là cội nguồn của sự nghiệp lớn. Lời đáp diễn tả tình cảm tha thiết và lời hẹn ước của người về:

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Cũng nói đến sự trân trọng, uống nước nhớ nguồn của người về:

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…

          Hai câu đầu mang sắc thái quan hệ cá nhân, sắc thái tâm tình chia sẻ. Hai câu sau mang sắc thái cảm xúc của “cái ta” chung, là những tình cảm lớn. Chọn hình thức đối lập nam nữ truyền thống trong ca dao, dân ca, tác giả đã diễn tả khéo léo tâm trạng của người cách mạng với người dân Việt Bắc trong buổi chia tay. Câu chuyện của người cách mạng mang màu sắc tâm linh lãng mạn, hấp dẫn.

2. Nỗi nhớ về đất và người Việt Bắc

          Cảnh và người Việt Bắc đã để lại nỗi nhớ không thể quên trong tâm hồn người về. Không một nỗi nhớ nào về thiên nhiên Việt Bắc lại thiếu hình ảnh đẹp về người Việt Bắc và không một nỗi nhớ nào về con người Việt Bắc lại thiếu nỗi nhớ về vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc. Bởi lẽ đơn giản: con người Việt Bắc gắn bó với thiên nhiên, đến lượt mình, người chiến sĩ cách mạng, người kháng chiến sống chan hòa với người Việt Bắc, được che chở giữa đại ngàn rừng núi. Anh không đi ngoạn cảnh, đi du lịch mà đi kháng chiến, sống dựa vào dân, cùng chia sẻ với dân, đồng cam cộng khổ:

Ta đi ta nhớ những ngày

Minh đây ta đso, đắng cay ngọt bùi

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

          Cuộc sống gắn bó, cùng chia sẻ, hòa đồng là điểm tựa cho nỗi nhớ về đất và người Việt Bắc.

          Đáp lại, người Việt Bắc từ góc độ người dân đã từng giúp đỡ, chở che cho người cách mạng nhắc đến những kỷ niệm chia sẻ ân tình. Những món ăn quen thuộc của rừng núi được kể đến đã gợi nhắc những kỷ niêm không thể quên:

Mình về rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già.

Lời đáp lại của người cách mạng thật xốn xang xúc động: quên sao được bắp ngô chia sẻ mà bà mẹ lam lũ, vất vả “địu con lên rẫy” đem về, quên sao được những người lao động cần cù vì cách mạng. Hình ảnh người mẹ và em bé trên lưng mẹ cùng lên nương có sức gợi xúc cảm vô bờ:

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô.

Và nếu có nghĩ đến cảnh rừng tươi đẹp thì nhớ ngay đến những con người trong khung cảnh lao động vì kháng chiến:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Có thể đây là những câu thơ miêu tả thiên nhiên Việt Nam tuyệt đẹp: một bức tranh đủ màu sắc rực rỡ, có âm thanh của cả bốn mùa, cảnh và người giao hòa thân thiết. Mơ nở trắng, hoa chuối đỏ tươi, rừng phách vàng, tiếng ve kêu làm nền cho hình ảnh người em gái hái măng môt mình. Nhưng điều quan trọng là những hình ảnh này gợi nỗi nhớ về Việt Bắc, là để đáp lại lời dặn dò ân cần của người dân ở lại:

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng măng mai để già.

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Những con người Việt Bắc tuy nghèo khó nhưng tình nghĩa. Tấm lòng cao cả của con người Việt Bắc đẹp, trong sáng, lộng lẫy như cảnh Việt Bắc vậy. Người gài dao thắt lưng có thể là anh dân quân du kích mà cũng có thể là người lao động, cũng như cô gái hái măng hay người đan nón chuốt từng sợi giang. Họ đều đang làm những việc ân tình với kháng chiến hệt như bà mẹ địu con lên nương tần tảo kiếm từng bắp ngô để chia sẻ với người cách mạng. Có điều, lời thơ của tác giả thật kín đáo, gợi kỷ niệm riêng của hai người, phải dựa trên kết cấu đối đáp mới “giải mã” được. Sự gắn bó, chia sẻ, tình quân dân cá – nước là cảm hứng chủ đạo của cả đoạn thơ từ đầu cho tới câu “Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”. Không phải ngẫu nhiên mà mình, ta lại nhớ:

Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn va vang núi đèo

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nên cối đều đều suối xa…

Lớp học i tờ hay đêm liên hoan lửa trại ta nhớ về sinh hoạt gắn bó giữa cán bộ cách mạng với người dân trên núi rừng Việt Bắc. Tiếng mõ lốc cốc của đàn trâu trên đường về nhà khi chiều xuống hay tiếng chày giã gọi của cối gạo nương tả âm thanh, tả nhạc rừng (tiếng mõ trâu buổi chiều về nhà, tiếng chày giã gạo vọng từ phía suối xa) để hòa quyện vào nhạc của người “Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”. Không gian và con người được tả rất gợi, rất sinh động đầy xúc cảm.

3. Nỗi nhớ về căn cứ địa cách mạng

-     Việt Bắc là căn cứ địa cách mạng, là thủ đô kháng chiến. Ngày chia tay, người ở lại nhắc về những sự kiện nay đã thành kỷ niệm. Hồi tưởng là mạch cảm xúc chủ đạo, với những từ nhớ lặp đi lặp lại:

Mình về, có nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

-     Người về, như để cam đoan lòng mình sẽ chẳn bao giờ phia mờ những kỷ niệm, cũng nhớ, đắm mình vào mạch hồi tưởng về những tháng ngày chiến đấu gian khổ:

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.

Quên sao được những chiến công hiển hách của quan dân ta trên vùng rừng núi Việt Bắc: phủ Thông, đèo Giàng, phố Ràng… những địa danh biết nói. Việt Bắc che chở, Việt Bắc chứng kiến, Việt Bắc cùng ta đánh giặc:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nếu ở đoạn thơ nhớ về con người và cảnh vật Việt Bắc, âm điệu chủ đạo là trữ tình thì ở đoạn này, âm điệu sử thi anh hùng ca là chủ đạo. Hoạt động của con người được miêu tả có tầm kích vũ trụ: Bước chân làm rung chuyển đất, “Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”, bước chân làm nát đá, ánh đèn pha chọc thủng, rọi sáng “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày”.

-     Nói đến Việt Bắc, căn cứ địa kháng chiến, cũng là nói tới Đảng, Chính phủ và Bác Hồ. Từ Việt Bắc, như từ trái tim, đầu não, các chủ tưởng đường lối của trung ương Đảng và Chính phủ tỏa đi khắp nước, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng:

Điều quân chiến dịch Thu – Đông

Nông thôn phát động giao thông mở đường

Giữ đê, phòng hạn, thu lương

Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu…

Việc lãnh đạo đất nước ở buổi ban đầu lập nước đầy khó kahwn đã được bàn và quyết định ở Việt Bắc. Việt Bắc là niềm hy vọng, niềm mong đợi của cả dân tộc vì nơi đây Bác Hồ và Chính phủ cách mạng đã sống và làm việc:

Ở đâu u ám quân thù

Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đơn giống nòi

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

Nhờ có hình thức đối thoại mình- ta, ta –mình mà hàng loạt kỷ niệm đẹp về chiến khu Việt Bắc đã được tái hiện sinh động, đa dạng.

Những vấn đề chính trị, cách mạng tưởng khô khan đã được diễn đạt thật mềm mại, thiết tha, dễ thấm vào lòng người nhờ hình thước đối đáp của đôi nam nữ.

4. Thể thơ và ngôn ngữ

-     Về thể thơ: Bài thơ Việt Bắc  dài 150 dòng thơ lục bát. Giới nghiên cứu đều thừa nhận vẻ đẹp cổ điển của thơ lục bát ở bài thơ này. Tính chất cổ điển này trước hết thể hiện ở lối câu từ truyền thống của hát đối nam nữ trong ca dao dân ca. Mình – ta, ta – mình gắn bó quấn quýt gợi liên tưởng về những cuộc hát, đối đáp nam nữ truyền thống: Câu thơ lục bát thân thuộc, gần gũi với bất kỳ một người Việt Nam nào.

Hình thức thiểu đối trong câu thơ lục bát truyền thống được Tố Hữu vận dụng khá rộng rãi trong bài thơ Việt Bắc tạo nên cảm giác về sự cân đối, chặt chẽ: nhìn cây nhớ núi/ nhìn sông nhớ nguồn; Bâng khuâng trong dạ/ bồn chồn bước đi; Trám bùi để rụng / măng mai để già,… Nói như Xuân Diệu “khêu gợi nhiều hơn là diễn tả”, “chữ đúc lại với nhau”. Nhưng bản chất của đối xứng là tạo ra thế đối lập khiến cho hình tượng thơ phong phú, đa dang, câu thơ có vẻ cổ điển.

       + Đối lập không gian:

-   Nhìn cây nhớ núi / nhìn sông nhớ rừng

-   Trăng lên đầu núi / nắng chiều lưng nương

       + Đối lập thời gian:

Nhớ khi kháng Nhật / thuở còn Việt Minh

+ Đối lập nội tâm và hành động:

Bâng khuâng trong dạ / bồn chồn bước đi

+ Đối lập hai sự việc:

Địu con lên rẫy / bẻ từng bắp ngô.

+ Đối lập màu sắc:

Hắt hiu lau xám/ đậm đà lòng son

Có thể kể ra nhiều cặp đối lập tương tự.

Mặt khác, về mặt nhịp điêu câu thơ, hình thức tiểu đối đã góp phần thay đổi nhịp điệu của câu thơ lục bát. Trong số tác phẩm dài hơi (150 dòng thơ lục bát), điều này rất có ý nghĩa, làm cho bài thơ luôn luôn vận động, biến hóa, thay đổi từ ý, lợi, nhịp điệu, khiến cho toàn bài thơ hấp dẫn, tránh cảm giác đều đều, lặp đi lặp lại. Bài thơ Việt Bắc xứng đáng là một đỉnh cao của văn học cách mạng.

-   Về ngôn ngữ: Tác gải sử dụng từ ngữ hàng ngày, lời ăn tiếng nói dân gian, cách xưng hô mình – ta, ta – mình; sử dụng các dạng cấu trúc câu phổ biến của ca dao, dân ca trữ tình, hát đối đáp nam – nữ như bao nhiêu…bấy nhiêu (Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu; so sánh Qua đình ngả nón trông đình – đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu); sử dụng mô-típ về nỗi nhớ rất phổ biến trong ca dao, đặt câu hỏi có nhớ…, còn nhớ…; gọi tên các sự vật gợi liên tưởng không gian Việt Bắc: trám, măng mai, lau, hoa chuối, tiếng mõ, cối (cối gạo nương),… những hình ảnh đặc thù của con người Việt Bắc bản khói, áo chàm…

Trong thơ Tố Hữu, các địa danh thường xuyên xuất hiện, như là một biện pháp kỹ thuật khơi gợi tình yêu, niềm tự hào về đất nước. Trong bài viết Việt Bắc, ta gặp lại ngòi Thia, sông Đáy, phủ Thông, đèo Giàng, phố Ràng, đèo De, núi Hồng, mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào. Đó là chưa kể đến những địa danh với những đặc sản khác trong những đoạn thơ không được trích dẫn (như Vại Hương Canh, gạch Bát Tràng, chiếu Nga Sơn, lụa Hà Đông, vải Nam Định,…). Không có tình yêu đất nước chung chung, chỉ có đất nước qua những con người, những vùng đất, những sự vật cụ thể mà ta đang sống.

 

0
phiếu
0đáp án
668 lượt xem

TÂY TIẾN

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

-     Quang Dũng (1921 – 1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm. Quê ở làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) nhưng ông học trung học ở Hà Nội. Sau cách mạng tháng Tám, Quang Dũng tham gia quân đội. Từ sau năm 1954, ông là biên tập viên Nhà xuất bản Văn học.

Quang Dũng là người đa tài, giỏi “cầm, kỳ, thi, họa”. Ông sáng tác bài hát, vẽ tranh, làm thơ, viết văn và giỏi cả kiếm thuật. Bài thơ Tây Tiến thể hiện các tài năng này với chất nhac, chất thơ, chất tạo hình và chất tráng ca là điều tự nhiên.

-     Quang Dũng là người trực tiếp tham gia chiến đấu trong đoàn quân Tây Tiến từ năm 1947. Năm 1948, sau khi xa đơn vị một thời gian, nhà thơ đã sáng tác bài thơ này, lúc đầu cso tên là Nhớ Tây Tiến; năm 1957, khi in lại, ông đã bỏ chứ “nhớ”.

Tây Tiến đã từng có một số phận gian truân, có lúc người ta nghĩ nhà thờ vẫn còn tâm hồn tiểu tư sản, nhưng rồi bài thơ đã có được vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Bài thơ được khắc trên đài tưởng niệm các liệt sĩ Tây Tiến ở Hòa Bình.

2. Về đoàn quân Tây Tiến

          Trung đoàn Tây Tiến được thành lập đầu năm 1947, trong đó có sự tham gia của hai tiểu đoàn Hà Nội với khá nhiều học sinh, trí thức. Nhiệm vụ của trung đoàn Tây Tiến là phối hợp với lực lượng yêu nước Lào lập chính quyền cách mạng ở Sầm Nưa, đánh địch ở Tuần Giáo, Hòa Bình, Quỳnh Nhai, trên tuyến sông Đà, sông Mã, sang Sầm Nưa rồi trở về miền Tây Thanh Hóa… góp phần giữ vững địa bàn miền Tây. Những gian khổ, hi sinh được nhắc đến trong bài thơ là sự thật về cuộc chiến tranh ở rừng núi thời xưa được mệnh danh là “ma thiêng nước độc”. Bệnh sốt rét đã khiến cho nhiều chiến sĩ rụng tóc, hình ảnh “đoàn binh không mọc tóc” và “quân xanh màu lá” là tả thực những chiến sĩ thời gian khổ ấy.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.  Đặc điểm về nội dung

a) Bố cục của bài thơ

          Bài thơ viết theo thể hành, gồm 4 đoạn. Cảm xúc chủ đạo là nỗi nhớ thương da diết đồng đội trong đoàn quân Tây Tiến và núi rừng miền Tây, là niềm tự hào vô hạn về những đồng đội của nhà thơ. Nỗi niềm thương nhớ này trải rộng theo một không gian bao la với bao địa danh núi sông, làng bản miền Tây.

-     Đoạn 1 (từ đầu đến “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”): Một bức tranh toàn cảnh về núi rừng Tây Bắc.

-     Đoạn 2 (tiếp theo đến “Trôi dòng nước lũ hoa đung đưa”): Vẻ đẹp lãng mạn của miền Tây.

-     Đoạn 3 (tiếp theo đến “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”): Bức tượng đài tập thể về những người lính Tây Tiến.

-     Đoạn 4 (đoạn còn lại): Sự nghiệp của những người lính Tây Tiến vẫn được đồng đội tiếp tục.

b) Một bức tranh toàn cảnh về núi rừng Tây Bắc

-     Với một tâm hồn thơ tinh tế, một con mắt của nghệ sĩ tạo hình, nhà thơ khắc họa một bức tranh đặc sắc về hông gian hoạt động của những người lính Tây Tiến. Tuy vậy, phải chú ý rằng Quang Dũng không đơn thuần đứng ngắm nhìn từ xa hay tưởng tượng để tả mà tác giả chuyển tải cảm nhận từng trải về thế giới núi rừng đó, cảm giác của một người đã đắm mình trong không gian đó. Cái nhìn về Tây Bắc là cái nhìn của một người trong cuộc, đã từng tự mình thí nghiệm các cảm giác trèo đèo vượt suối:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

          Về cảnh trập trùng, khúc khuỷu của núi đồi xưa. Chinh phụ ngâm đã từng viết: “Hình khe thể núi gần xa – Đứt thôi lại nổi thấp đà lại cao”. Nhưng sự điệp trùng ấy có thể đứng từ xa nhìn cũng thấy. CÒn tả núi cao đến “heo hút”, “ngàn thước”, nơi súng có thể “ngửi trời” được thì đó là một lối tả đầy cảm giác. Hình ảnh “súng ngửi trời” chuyển tải một thông tin: tác giả là người chiến sĩ mang súng đã qua con dốc hiểm trở ấy. Muốn viết được như thế thì phải có con mắt vượt tầm đỉnh núi, đắm chìm vào trong mây mới cảm nhận được. Tả núi cao mà chủ yếu để nói về những cái vực sâu rợn người “dốc thăm thẳm”. Câu thơ như bị chặt đôi để diễn tả dáng núi cao vút và hạ thấp xuống rất đột ngột. Lên cao thì vất vả nhưng xuống núi thì nguy hiểm vô cùng.

-     Với thơ ca, rừng núi không phải là vô hồn, vô tri, vô giác. Dân gian có thành ngữ “ma thiêng nước độc”. Thế Lữ đã từng nói về “oai linh rừng thẳm” (Nhớ rừng). Nhưng cái mới của Quang Dũng là bằng cái tài thẩm âm tinh tế, và vẫn của người đã sống ở rừng, đã nghe và đã nhìn, ông ghi lại những lời chủ âm đặc thù của rừng già Tây Bắc là tiếng suối, tiếng hổ báo gầm gào, khiến người đọc cảm nhận được cái oai linh rờn rợn của núi rừng lúc chiều buông, đêm về:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đem Mương Hịch cọp trêu người

-     Bằng bút pháp lãng mạn, nhà thơ cực tả sự hiểm trở, dữ dội của thiên nhiên với dụng ý tạo sự đối lập rất rõ. Con người chỉ anh hùng khi vượt qua những thử thách khốc liệt. “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Trên cái nền thiên nhiên khốc liệt ấy, càng tháy rõ vẻ đẹp của sự hi sinh, vượt khó vượt khổ của đoàn quân Tây Tiến. Nhà thơ không mĩ lệ hóa rừng núi, tức không mĩ hóa cuộc chiến tranh; nhà thơ nhìn thẳng vào hiện thực của mất mát, hi sinh, điều mà có thể người này người khác né tránh khi viết về chiến tranh. Dẫu sao, chiến tranh không phải là cuộc dạo chơi. Đã có người đồng đội kiệt sức trên bước đường tiến quân:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

-     Nhưng Tây Bắc không chỉ có núi rừng oai linh, hiểm trở. Tây Bắc còn là con người. Trong bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng sử dụng thủ pháp đối lập tương phản rất thành công. Cứ cuối mỗi đoạn thơ tả cảnh núi rừng hiểm trở, Quang Dũng lại làm dịu cảm giác rùng rợn mỏi mệt bằng việc gợi nhớ đến lòng người Tây Bắc hồn hậu, chân tình. Cứ mỗi lần kiệt sức, mỏi mệt trên đường hành quân hiểm trở, tâm hồn người chiến binh lại được an ủi vỗ về bởi tình quân dân nơi bản Mương, bản Thái:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mương Lát hoa về trong đêm hơi

          “Hoa về trong đêm hơi” theo chúng tôi phải được hiểu là ánh đuốc (của dân bản hay các chiến sĩ ?) cháy sáng bập bùng trong đêm sương giá mịt mùng của rừng núi (đêm hơi)

          Đang rã rời thân thể khi vượt dốc cao ngàn thước và rợn người nhìn xuống vực sâu thầm thì lòng hân hoan, ấm lại vì đã thấy bản làng đang ẩn hiện phía trước:

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

          Câu thứ hai đều là thanh bằng như làm dịu nỗi niềm cơ cực của anh lính Tây Tiến, như một tiếng thở phào nhẹ nhõm vì sắp tới đích. Rừng núi hiểm trở nhưng có tấm lòng của người dân làm dịu đi tất cả những thử thách khốc liệt đó.

Một cặp đối lập nữa rất tiêu biểu cho thủ pháp đối lập trong tả tình, tả cảnh của Quang Dũng:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

          Giờ phút quây quần đầm ấm quanh nồi cơm nếp bốc khói thơm ngào ngạt đã làm ấm lòng người lính trải qua núi cao vực thẳm, những chiều tà thác đổ, những đêm sâu cọp gầm. Những cảnh tượng dữ dội đã ở sau lưng rồi. Hình ảnh cơm lên khói và mùi thơm của nếp xôi rất đặc biệt cũng ấn một thông báo về sự từng trải các cảnh huống khác nhau của “cái tôi” tác giả giữa núi rừng Tây Bắc. Không phải chỉ có những cuộc hành quân giữa núi rừng hiểm trở mà nơi đây còn đầm ấm tình quân dân: những người chiến sĩ cách mạng được nhân dân nồng hậu chào đón.

          Đoạn thơ đầu tuy khắc họa một bức tranh về miền Tây Bắc hùng vĩ nhưng nhà thơ không dừng lại ở cảnh. Tác giả muốn diễn đạt tâm hồn, cảm xúc của những người lính Tây Tiến trên chiến trường miền Tây Bắc, cũng nói đến cả tình quân dân ấm áp, mặn mà.

c) Vẻ đẹp lãng mạn của miền Tây Bắc

-     Đoạn thơ thứ hai với 8 câu thơ nối tiếp mạch cảm xúc của đoạn thơ đầu. Những gian truân, khốc liệt đối với tuổi trẻ hừng hực sức sống đã lùi xa. Giữa đại ngàn hoang vu, cổ sơ ấy bỗng xuất hiện một đêm liên hoan lửa trại. Những cô gái Thái, Lào duyên dáng, xinh đẹp, những tiếng khèn, điệu múa đọc đáo, mới lạ với những anh lính vùng xuôi (có thể là điệu Lăm vông, Lăm tơi mà khi ấy tác giả gọi là man điệu) làm nên màu sắc huyền ảo, lãng mạn. Tả vẻ đẹp lãng mạn của đêm lửa trại là để tả vẻ đẹp lãng mạn của tâm hồn chiến sĩ Tây Tiến. theo Vũ Quần Phương, câu thơ “Kìa em xiêm áo tự bao giờ” là kể chuyện nam bộ đội đóng vai nữ rất đẹp…gái. Nhưng ngữ cảnh toàn bài thơ tạo áp lực cho phép hiểu đay là các cô gái địa phương (Mai Châu mùa em thơn mếp xôi; Khèn lên man điệu nàng e ấp):

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

          Không phải là ánh lửa trại bình thường mà là hội đuốc hoa. Trong tâm thức người Việt, hội hè không thể thiếu trai gái thanh lịch. Khổ thơ mang theo cái rạo rực, bay bổng say người của hội hè. Các từ ngữ bùng lên, kìa em, e ấp diễn tả nỗi lòng, cảm hứng của lính Tây Tiến. Mọi gian khó với tâm hồn trai tráng của họ đã biến mất, còn lại sự yêu đời, lạc quan.

-     Nguyên tắc đối lập được tác giả vận dụng triệt để. Đường Tây Tiến không chỉ hùng vĩ, đầy thử thách bạo liệt mà còn có những cảnh núi sông thơ mộng, đẹp không ngờ:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bề

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

          Cây lau với dòng sông từ xưa đã là hai hình ảnh sóng đôi, gợi hứng cho thi ca, đó là “Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu” (Truyện Kiều) gợi nỗi niềm tương tư của Kim Trọng, đó là “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách – Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu” (Tì bà hành). HÌnh như thân lau nhẹ nhàng, bông hoa lau trắng xóa luôn phất phơ trong gió, sống động như có hồn, bên dòng nước chảy ở thời nào cũng gợi cảm cho nhà thơ. Câu thơ trên gợi vẻ trầm mặc, sương khói, huyền ảo của dòng sông khi chiều về sương xuống. Cảnh thiên nhiên gợi suy tư.

          Chiều sương hồn lau là những hình ảnh tĩnh. Những dáng người cầm lái con thuyền độc mộc lướt theo dòng nước chảy xiết làm những bông lau bên bờ đong đưa là những hình ảnh động. Hai hình ảnh tĩnh và động bổ sung cho nhau, tạo nên bức tranh hài hòa. Cách đặt câu hỏi có thấy… có nhớ… là lối đặt câu khẳng định “hẳn phải nhớ”. Không nhớ làm sao được vẻ đẹp ấy? Con mắt hội họa đã giúp nhà thơ tạo ra bức tranh đẹp như vậy. Có thể nói rừng núi hùng vĩ và con người miền Tây Bắc khỏe đẹp diễn tả tâm hồn đẹp, khỏe, lãng mạn của những người lính Tây Tiến trẻ trung, đầy sức sống.

d)Bức tượng đài tập thể về những người lính Tây Tiến

          Đoạn thơ thứ ba gồm 8 câu thơ tiếp theo. Nhà nghiên cứu văn học Phong Lan đã gọi bài thơ Tây Tiến  là “tượng đài bất tử về người lính vô danh”. Đây là một cách diễn đạt hình tượng rất thành công nội dung đoạn thứ ba.

-     Những gian khổ, hi sinh được nhắc đến trong đoạn thơ này là có thật. Sốt rét ác tính trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt kham khổ đãm là nguyên nhân tạo nên ngoại hình đặc biệt của anh lính Tây Tiến: “không mọc tóc”, “da xanh màu lá”. Nhiều nhà thơ kháng chiến có nói tới căn bệnh sốt rét ở người bộ đội vệ quốc như là một chứng tích của tinh thần hi sinh, vượt gian khổ. Còn Quang Dũng muốn nói đến thần thía của người lính Tây Tiến hơn là ngoại hình. Cái hùng toát lên từ hình tượng người chiến binh:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

          Tác giả không viết “rụng tóc” mà viết “không mọc tóc” vì viết như thế sẽ nói lên cái ý chí không bị động của người lính Tây Tiến, hình như anh chủ động để trọc đầu để dễ dánh giáp lá cà với địch. Từ màu da xanh xao như lá vẫn toát lên cái “oai hùm”. Kế thừ hình tượng truyền thống về những bậc trượng phu, tráng sĩ, những oai tướng hùm thiêng như Từ Hải, như “ông hùm Đề Thám”, câu thơ mang âm hưởng hào hùng, tráng ca.

          Khổ thơ tiếp theo tiếp tục được cấu trúc theo nguyên tắc đối lập. Từ ba câu thơ đầu toát lên khí phách, thần thái của chiến sĩ Tây Tiến. Vẻ oai phong lẫm liệt của chiến sĩ Tây Tiến được diễn tả chủ yếu qua đôi mắt: “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới”. Trong tâm thức người phương Đông, mắt là linh hồn của con người và sự vật. Ở Đông Nam Á, con thuyền khi hạ thủy được con người điểm nhãn để bắt đầu cho cuộc sống của nó. Người ta “khai quang, điểm nhân” cho môt bức tượng. Tả mắt là thủ pháp phổ biến trong văn học để truyền thần nhân vật. Ánh mắt giận dữ của chiến binh Tây Tiến đặc tả khí phách và ý chí chiến đấu của các anh.

          Tuy vậy, vẻ ngoài có vẻ dữ dằn không hề là bản chất của các anh. Họ là những thanh niên, học sinh của Hà Nội tạm “xếp bút nghiên thoe việc đao cung” lên đường kháng chiến. Họ có bao kỷ niệm và trong trái tim của họ vẫn dành trọn chỗ cho những cô gái đã quen và chưa quen của Hà Nội. Với bút pháp quen thuộc, nhà thơ đặt hai trạng thái như đối lập nhau để vẽ nên chân dung hoàn chỉnh của người lính Tây Tiến:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

          Chất men lãng mạn cũng là một động lực tinh thần quan trọng của người lính, giúp họ vượt lên mọi gian khổ, hi sinh. Có thể người nghiêm khắc cho đây là biểu hiện của tâm hồn lãng mạn, tiểu tư sản. Song chính hình ảnh “dáng kiều thơm” là nét vẽ cần thiết cuối cùng giúp cho hoàn chỉnh hình tượng chiến sĩ Tây Tiến.

Chính tinh thần lãng mạn đã là một điểm tựa giúp nhà thơ nói lên một vấn đề mà nhiều người lúc đó né tránh. Đã là chiến tranh thì phải có mất mát, hi sinh. Vấn đề là không rơi vào bi quan, là nhìn ra từ sự mất mát tầm vóc cao đẹp của sự hi sinh. Nhà thơ đã dùng những câu thơ sóng đôi, câu sau cắt nghĩa, lí giải cho câu trước:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

          Những nấm mồ là có thật, tinh thần tự nguyện xả thân cho Tổ quốc cũng là có thật. Đó là hào khí của một thời đại “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

          Cái chết nơi chiến trường thật đơn sơ, giản dị. Anh nằm xuống không có cả manh chiếu bọc thây. Anh về lại đất mẹ như cái chết của anh đã được dòng sông Mã oai hùng cúi chào vĩnh biệt bằng những tiếng gần đau đớn, uất hận. Tiếng gầm của dòng sông Mã ấy sẽ còn mãi mãi đến muôn đời.

Việc dùng các từ Hán Việt đã đem lại sắc thái trang trọng, tôn nghiêm, Biên cương mồ viễn xứ, áo bào, khúc độc hành tạo không khí cổ điển. Nhà thơ kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của những chiến sĩ Tây Tiến. Đoạn thơ mang âm hưởng bi tráng.

e) Sự nghiệp của những người lính Tây Tiến vẫn được đồng đội tiếp tục

Bốn câu thơ kết thúc bài Tây Tiến với nhịp thơ chậm, nhưng giọng thơ vẫn bi hùng. Vẻ đẹp của người lính chủ yếu là ở tinh thần chiến đấu, hi sinh vì Tổ quốc:

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồm về Sầm Nưa chẳng về về xuôi.

          Ra đi không hẹn ước ngày về. Chờ đợi họ ở phía trước vẫn là con đường thăm thẳm, gian nguy còn nhiều. Nhưng bất cứ ai lên với đoàn quân Tây Tiến, sống với hào khí oanh liệt, lãng mạn của những người lính Tây Tiến được thành lập và bắt đầu cuộc trường chinh gian khổ anh hùng – sẽ là cái mộc thời gian lịch sử của một thời không trở lại lần nữa, nhưng tinh thần Tây Tiến thì bất diệt.

2.  Đặc điểm về nghệ thuật

          Bài thơ sử dụng một số từ Hán Việt. Đây có thể là dấu vết của quan niệm truyền thống về người anh hùng, gắn liền với cái hùng, cái bi, cái cao cả, nhằm tạo nên ấn tượng con người vũ trụ.

Bài thơ khá đặc sắc về nhạc điệu do việc tác giả mo phỏng thể hành của thơ truyền thống. Sự thay đổi khá linh hoạt của vần, thanh điệu bằng trắc, nhịp câu thơ khiến cho bài thwo thoát khỏi sự gò bó có thể có của các khổ thơ có dáng vẻ thơ Đường luật.

0
phiếu
0đáp án
650 lượt xem

NGUYỄN ĐÌNH CHỂU, NGÔI SÁO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ CỦA DÂN TỘC

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả Phạm Văn Đồng

Phạm Văn Đồng (1906 – 2000) quê ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức tỉnh Quảng Ngãi. Ông tham gia cách mạng từ rất sớm (1925), từng dự lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu, Trung Quốc. Năm 1927, ông về nước hoạt động bị địch bắt, kết án tù và đày ra Côn Đảo (1929 – 1936). Ra tù, ông lại tiếp tục hoạt động cách mạng. Ông tham gia Ủy ban Dân tộc giải phóng, Chính phủ lâm thời tháng 8 năm 1945, và sau đó, liên tục giữ nhiều trọng trách trong bộ máy lãnh đạo Đảng và Nhà nước như Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (1951 – 1986), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1954), Thủ tướng Chính phủ (1955 – 1981), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1981 – 1987), đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII,…

Phạm Văn Đồng vừa là một nhà cách mạng lớn của nước ta trong thế kỷ XX, vừa là một nhà giáo dục tâm huyết và một nhà lý luận văn hóa, văn nghệ lớn. Ông đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực văn hóa, văn nghệ nước nhà, có nhiều ký kiến chỉ đạo đường lối phát triển của nền văn học nghệ thuật mới. Ống đã viết nhiều bài nghị luận độc đáo, đặc sắc về Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh,… và về tiếng Việt.

2. Về nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu

Đây là nhà thơ nổi tiếng đã được giới thiệu trong chương trình Ngữ văn lớp 11 (cần ôn lại) với các tác phẩm (đoạn trích) Lẽ ghét thương (trích Truyện Lục Vân Tiên) và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Truyện Lục Vân Tiên ra đời trước khi Pháp xâm lược, tức là trước Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nhưng có thể vì không trực tiếp phản ánh cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược nên dù là “một tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu”, nhưng trong bài viết này chỉ được nói đến sau bài văn tế và các áng văn thơ yêu nước chống Pháp. Trật tự ưu tiên trong bài viết cũng thể hiện hết sức rõ ràng quan niệm cách mạng về văn nghệ của Phạm Văn Đồng.


3. Quan điểm cách mạng về văn nghệ và thời điểm viết bài luận

Bài viết về Nguyễn Đình Chiểu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn thành năm 1963. Đây là giai đoạn nhân dân ta đang tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Là một nhà cách mạng, Phạm Văn Đồng đã đọc Nguyễn Đình Chiểu theo quan điểm cách mạng về văn học nghệ thuật. Một nhà văn quá khứ được đánh giá cao tất nhiên phải là một nhà văn yêu nước, thương dân, là một tấm gương sáng về sứ mệnh người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng; sáng tác của nhà văn đó phải có ý nghĩa khích lệ, cổ vũ nhân dân ta chiến đấu chống xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là lý do vì soa trong bài viết có những câu như: “Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ lớn của nước ta, đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ của dân tộc, nhất là trong lúc này” (chú ý: lúc này tức là thời điểm năm 1963); và “Nguyễn Đình Chiểu là một người chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta. Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng”. Tính thời điểm của bài viết và quan điểm cách mạng về chứng năng văn học là điều cần đặc biệt chú ý.


II. PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Bố cục của bài viết

Dễ dàng nhận thấy bài vết được chia làm ba phần, đánh dấu bằng dấu sao.

Phần thứ nhất khái quát về con người, cuộc đời và quan niệm thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu. Tác giả nhắc lại bối cảnh lịch sử khi đất nước bị lâm nguy, giữa lúc “vua nhà Nguyễn cam tâm bán nước để giữ ngai vàng” nhưng “nhân dân và sĩ phu anh dũng đứng lên đánh giặc cứu nước” để ghi nhận hoạt động văn nghệ của Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ yêu nước. “Vì mù cả hai mắt, hoạt động của người chiến sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu là thơ văn”, “Đời sống và hoạt động của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương anh dũng. Cảnh đất nước cũng như cảnh riêng càng long đong, đen tối, thì khí tiết của người chí sĩ yêu nước ngày càng cao cả, rạng rỡ”. Trong bối cảnh đó, “cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là một chiến sĩ hy sinh phấn đấu vì một nghĩa lớn. Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng. Từ đây tác giả khái quát quan điểm văn nghệ: “Đối với Nguyễn Đình Chiểu, cầm bút, viết văn là một thiên chức” (thiên chức – chức trách thiêng liêng).


Phần thứ hai: phần viết có dung lượng lớn nhất trong ba phần, dành cho các áng “thơ văn yêu nước” của Nguyễn Đình Chiểu. Giá trị của thơ văn yêu nước của ông trước hết là ở chỗ “làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trao kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ 1860 về sau, suốt hai mươi năm trời”. Tác giả dựng lại sống động không khí đánh Pháp xâm lược giữa lúc triều đình Tự Đức đầu hàng, một khí thế mà chính kẻ thù cũng phải khâm phục qua những áng văn thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu “không phải ngẫu nhiên mà thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, một phần lớn là những văn tế, ca ngợi những người anh hùng suốt đời tận trung với nước, và than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân”. Tác giả cũng đặt thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu trong truyền thống văn học yêu nước như một giá trị căn bản của truyền thống văn học Việt Nam, từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Đình Chiểu và các tác giả văn học yêu nước Nam Bộ cùng thời. Nguyễn Đình Chiểu kế thừa truyền thống văn học yêu nước của Nguyễn Trãi trong hoàn cảnh mới, ông cũng không đơn độc mà có nhiều nhà văn, nhà htow yêu nước xung quanh có điều ông là một tác giả yêu nước tiêu biểu, điển hình nhất lúc ấy.


Phần thứ ba nói về Truyện Lục Vân Tiên. Trước tiên tác giả viết về giá trị luân lý, đạo đức như một trong những giá trị hàng đầu của truyện thơ này; sau đó lý giải đặc trưng nghệ thuật  của tác phẩm. Để lý giải vì sao Truyện Lục Vân Tiên lại “rất phổ biến trong dân gian, nhất là ở miền Nam”, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Đây là một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa”, “các nhân vật của Lục Vân Tiên: Lục Vân Tiên, Nguyệt Nga, Tiểu đồng,… là những người đáng kính, đáng yêu, trọng nghĩa, khinh tài, trước sau một lòng, mặc dầu gian khổ cực, gian nguy, quyết phấn đấu vì nghĩa lớn […] Họ sống trong một xã hội cũng như biết bao xã hội từ xưa đến nay – có người tốt kẻ xấu, người ngay kẻ gian, có nhiều đau khổ, bất công – họ đã đấu tranh không khoan nhượng chống mọi gian dối, bất công và họ đã thắng. Họ là những tấm gương dũng cảm. Vì những lẽ đó họ gần gũi chúng ta và câu chuyện của họ làm chúng ta cảm xúc và thích thú”.


Về nghệ thuật, tác giả nhấn mạnh về nghệ thuật trình diễn tác phẩm, “đây là một chuyện “kể”, chuyện “nói”. Tác giả cố ý viết một lối văn “nôm na”, dễ hiểu, dễ nhớ, có thể truyền bá rộng rãi trong dân gian”. Đây là một nhấn mạnh rất cần thiết để hiểu đúng đặc điểm nghệ thuật của Truyện Lục Vân Tiên. Mặt khác, tác giả cũng ghi nhận tác phẩm này có nhiều câu thơ hay, dễ thuộc lòng chứ không phải là chỉ có sự nôm na, mộc mạc. Nhân dân say sưa nghe kể Truyện Lục Vân Tiên “không chỉ vì nội dung câu chuyện, còn vì văn hay”.


2. Tư tưởng văn nghệ cách mạng quy định cách đọc tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu

Qua kết cấu của bài viết, ta dễ dàng nhận thấy quan niệm văn nghệ cách mạng thấm sâu vào các luận điểm về Nguyễn Đình Chiểu. Tác giả có dụng ý dành phần đầu để nói về bối cảnh đấu tranh chống Pháp và những sáng tác Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi những nhân vật Nam Bộ yêu nước; trong phần thứ ba viết về Truyện Lục Vân Tiên, tác giả không chỉ nói về tấm gương đạo nghĩa của các nhân vật chính diện trong tác phẩm này mà còn lưu ý họ đã đấu tranh chống lại mọi giả dối, bất công và đã chiến thắng.

Toàn bộ các lập luận, phân tích nhằm đến kết luận

-     Nguyễn Đình Chiểu là nhà yêu nước, nhà thơ lớn của nước ta (nhà yêu nước đồng thời là nhà thơ lớn – nhấn mạnh nhân cách của nhà văn, nhà thơ).

-     Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, “nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng”. Nghĩa là qua trường hợp nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, ta học được tinh thần của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, tư tưởng. Tinh thần này phù hợp với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Văn học, nghệ thuật là một mặt trận mà văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy.


3. Hình tượng của tác giả qua bài viết

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng bộc lộ tình cảm yêu tuowng sâu sắc đối với những người dân yêu nước Nam Bộ. “Hồi tưởng cuộc chiến đấu anh dũng vô song của dân tộc Việt Nam ta ở Nam Bộ lúc bấy giờ, ruột gan chúng ta đau như cắt xé”. Tác giả như trầm ngâm suy nghĩ về nguyên nhân thất bại, về những bước đi của lịch sử dân tộc trong quá khứ và tỏ thái độ lên án gay gắt đối với vua chúa nhà Nguyễn bạc nhược cam tâm đầu hàng quân xâm lược. Giá như có những người lãnh đạo kế tục được khí phách, dũng khí của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, của người anh hùng Nguyễn Huệ thì chắc hẳn lịch sử chống ngoại xâm, bảo về độc lập của dân tộc ta đã có những bước đi khác.


Tác giả luôn có ý thức liên hệ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu với thời hiện đại (tức là với thời kỳ nhân dân ta đang chiến đáu chống Mĩ xâm lược và đang giành được nhiều thắng lợi to lớn): “Có lẽ dưới suối vàng, linh hồn của Nguyễn Đình Chiểu và những nghĩa quân lúc bấy giờ, ngày nay phần nào đã được hả dạ!”. Điều đó hàm nghĩa rằng chúng ta đang kế thừa sự nghiệp chính nghĩa của những người yêu nước chống Pháp xâm lược thời kỳ đó.

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đứng trên lập trường khách quan, khoa học khi đánh giá mọt tác giả, tác phẩm quá khứ. Chẳng hạn khi nói về quan niệm đạo đức của nhân vật chính diện trong Truyện Lục Vân Tiên, tác giả viết: “Những giá trị luân lý mà Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi, ở thời đại chúng ta, theo quan điểm của chúng ta thì có phần đã lỗi thời”. Phần lỗi thời nói đây chính là quan điểm “trung vua” hoặc quan niệm về “tiết hạnh” có phần khắt khe, nghiệt ngã của Nho giáo. Nhưng tác giả vẫn chú trọng khai thác giá trị tích cực của một tác giả quá khứ “Nguyễn Đình Chiểu cũng như nhiều bậc hiền triết ngày xưa ở phương Đông hoặc phương Tây, vẫn để lại cho đời sau những điều giáo huấn đáng quý trọng”. Chúng ta cần vận dụng chủ trương tiếp nhận di sản văn học quá khứ như vậy.


4. Đặc điểm về nghệ thuật

Đặc sắc nghệ thuật của bài văn nghị luận là sự kết hợp hài hòa giữa lý lẽ xác đáng và tình cảm nồng hậu của người viết đối với nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Trong khuôn khổ ngắn gọn, người viết đã vận dụng các thao tác phân tích sau:

-     Đặt sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu vào bối cảnh lịch sử - xã hội để thấy được những giá trị phản ánh hiện thực của sáng tác ấy. Đây là một bài học quan trọng trong phân tích tác phẩm văn học mà nếu thiếu nó, người phê bình hiện nay có thể sẽ không hiểu, không cảm nhận được giá trị của một tác giả quá khứ.

-     Gắn liện việc đánh giá tác phẩm với nhân cách của tác giả. Văn tức là người. Theo tác giả, một sự nghiệp sáng tác lớn phải gắn liền với nhân cách lớn của nhà văn.

-     Có lưu ý đến phần hạn chế của nhà văn nhưng trên hết là sự trân trọng những giá trị tích cực của nhà văn đó

-     Tác giả đã kết hợp nhuần nhuyễn tư duy phân tích sắc sảo với tình cảm nồng nhiệt.

0
phiếu
0đáp án
308 lượt xem

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ
1. Về bối cảnh lịch sử
Tuyên ngôn Độc lậpra đời trong một không khí cách mạng hết sức khẩn trương. Đây là thời thời điểm mà tình hình trong nước và quốc tế có rất nhiều thuận lợi cho nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Việt Minh giành chính quyền, giành lại nền độc lập dân tộc; đồng thời, nguy cơ thực dân Pháp trở lại đô hộ nước ta là một sự thật khi mà phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh. Bản Tuyên ngôn Độc lậptuyên bố trước nhân dân Việt Nam và toàn thể cộng đồng quốc tế về nền độc lập của nhân dân Việt Nam đã giành được từ tay phát xít Nhật để bác bỏ hoàn toàn âm mưu và tham vọng của thực dân Pháp đang lăm le quay lại đô hộ Việt Nam.
2. Về thể loại “tuyên ngôn”
Trong lịch sử văn học chính luận thế giới đã từng có bản Tuyên ngôn Độc lậpcủa nước Mĩ (Declaration of Independence) năm 1776. Đây là bản tuyên ngôn khẳng định nền độc lập của nước Mĩ đối với nền thống trị của nước Anh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc và tham khảo kinh nghiệm viếtTuyên ngôn Độc lập mà bằng chứng rõ rệt là việc Người dẫn lời Tuyên ngôn Độc lậpnày. Người đã dịch rất hay, rất thành công những câu quan trọng nhất trong lời mở đầu bằng bản Tuyên ngôn Độc lậpcủa Mĩ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã cho họ những quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (All men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness). Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (Declaration of Rights of Man and The Citizen) cũng được Người nghiên cứu và trích dẫn. NGười cũng đã dịch rất sáng tạo một tư tưởng quan trọng của bản Tuyên ngôn Độc lậpnày: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn tự do và bình đẳng về quyền lợi” (Men are born and remain free and equal in rights). Theo bình luận của một nhà nghiên cứu Mĩ, khái niệm all men trong bản Tuyên ngôn Độc lậpMĩ, vào thế kỷ XVIII, thời điểm viết bản tuyên ngôn đó, chỉ bao hàm những người đàn ông (người da trắng và có tài sản). Như thế thì all men trong bản dịch của Hồ Chí Minh là “Tất cả mọi người” là một sáng tạo và tiến bộ hơn. Nhưng tất nhiên, hoàn cảnh đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta có những điểm khác, nhân dân ta không chỉ đấu tranh chống chế độ quân chủ phong kiến mà còn lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân.
Đây là áng văn chính luận, cái đẹp của tác phẩm toát lên từ tính logic của lập luận, sự chính xác của tư liệu và sự kiện, cấu trúc chặt chẽ, câu văn ngắn gọn, sáng rõ và từ cảm xúc của tác giả - nghĩa là trên cơ sở kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm xúc và lý trí.
II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
1. Bố cục của bản Tuyên ngôn Độc lập
Bố cục của bản Tuyên ngôn Độc lậpphục vụ cho nhiệm vụ chung của toàn tác phẩm. Toàn văn bản có thể chia thành 3 đoạn:
- Đoạn 1 (từ đầu đến “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”): Trích dẫn hai bản tuyên ngôn nổi tiếng thế giới là Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776 và Tuyên ngônNhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 về quyền con người được hưởng tự do và độc lập để từ đó suy rộng ra quyền tự do, độc lập của các dân tộc. Đoạn này thể hiện nghệ thuật lập luận và sự uyên bác của tác giả. Để khẳng định tính chân lý của độc lập dân tộc, không gì tốt hơn là dựa vào những tuyên bố mang tính chân lý của các văn kiện nổi tiếng thế giới như hai bản tuyên ngôn đã được dẫn. Bởi lẽ chúng là tiếng nói chân lý khách quan, đã quen thuộc với nhiều người, nhất là đối với người phương Tây. Mặt khác, để có được nghệ thuật lập luận này, tác giả phải có học vấn uyên bác, đọc rộng, biết nhiều. Tác giả rõ ràng thể hiện không chỉ là một vị lãnh tụ có lòng yêu nước, thương dân mà còn có cả trí tuệ sắc sảo, học vấn uyên bác.
- Đoạn 2 (tiếp theo đến “lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”): Lên án tội ác nhiều mặt của thực dân Pháp xâm lược đã gây ra đối với nhân dân ta trong hơn 80 năm, tố cáo sự bất lực, vô trách nhiệm của Pháp trước đế quốc Nhật khi Nhật xâm chiếm Việt Nam năm 1940. Hai mạch lập luận này dẫn đến kết luận tất yếu là nhân dân ta đứng lên lấy lại đất nước từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp và tuyên bố “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”, nhân dân ta “đánh đỏ các xiềng xích thực dân gần 100 năm” (tức Pháp, Nhật) “đánh đổ chế độ quan chủ” nhiều thế kỷ. Bản Tuyên ngôn Độc lậpvừa khẳng định nền độc lập, tự do của dân tộc vừa nêu tính chất của cuộc cách mạng “Dân chủ Cộng hòa”.
- Đoạn 3 (phần còn lại): Tuyên bố độc lập hoàn toàn đối với thực dân Pháp và tinh thần quyết đấu tranh để chống lại mọi âm mưu của thực dân Pháp, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Tác giả đã khẳng định vấn đề độc lập của Việt Nam là phù hợp với nguyên tắc bình đẳng dân tộc mà cộng đồng thế giới đã khẳng định qua các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn – Xan Phran-xi-xcô
Nhìn chung, mỗi đoạn giải quyết một vấn đề riêng, nhưng đều khẳng định quyền tất yếu được hưởng tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và quyết tâm bảo vệ nền độc lập ấy của các dân tộc.
2. Nghệ thuật lập luận
Một văn kiện có ý nghĩa chính trị trọng đại được xây dựng trên cơ sở những lập luận vững chắc, đanh thép, có sức thuyết phục; thể hiện trí tuệ sâu sắc và tình cảm yêu nước nồng nàn của tác giả.
a) Kết tội thực dân Pháp
Chú ý sơ đồ hình cây của lập luận về tội ác của thực dân Pháp. Mô hình lập luận này nêu lên nhận định tổng quát sau đó phát triển những lý lẽ chứng minh. “Bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”. Nhận định buộc tội này được làm rõ ràng các phương diện chính trị, kinh tế. Trong các phương diện này, lại có những ý nhỏ, cụ thể hóa.
- Về chính trị: Tác giả vạch trần bản chất chính trị phản động của thực dân Pháp: “chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”, “luật pháp dã man”, “lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc” hòng ngăn cản việc thống nhất nước ta, “lập ra nhà tù nhiều hơn trường học”, “thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta”, “thi hành chính sách ngu dân”, “dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược”.
- Về kinh tế: “Chúng bóc lột dân ta đến xương tủy” khiến cho nước ta nghèo nàn, lạc hậu; “Chúng độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng”, “Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý” làm cho dân ta bần cùng; “Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên”.
Nhận xét: Điều đáng chú ý là người viết đã đề cập đến tội ác của thực dân Pháp đối với tất cả mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam: từ dân cày, dân buôn, các nhà tư sản, công nhân cho đến trí thức (khi viết “nhà tù nhiều hơn trường học”, “ràng buộc dư luận”, “chính sách ngu dân”).
Một tội ác khác của thực dân Pháp bị vạch trần: Chúng tuyên bố “bảo vệ nước ta nhưng đã đầu hàng phát xít Nhật, trong thời gian 5 năm, “chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”. Bản tuyên ngôn chỉ rõ, từ năm 1940, “nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa”.
Tóm lại, ba lý lẽ vạch tội chính: tội ác chính trị, kinh tế và tội bán nước cho Nhật đưa đến kết luận thuyết phục “dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Chúng ta có đầy đủ căn cứ “tuyên bố thoát hẳn quan hệ thực dân Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
b) Tuyên bố độc lập
Đoạn thứ ba khẳng định lại bản chất của cuộc đấu tranh giành độc lập này là giành độc lập từ thực dân Pháp. Lời tuyên bố độc lập được khẳng định từ nhiều chiều. Trước hết là từ ý chí của nhân dân Việt Nam: “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”. Rồi nhìn từ phía cộng đồng quốc tế: khẳng định sự công nhận tất yếu của cộng đồng quốc tế vì các tổ chức quốc tế đã công nhận các nguyên tắc bình đẳng dân tộc; tổng hợp lại, dân tộc Việt Nam đã đấu tranh suốt hơn 80 năm chống thực dân pháp (khẳng định lại quyết tâm giành độc lập của nhân dân Việt Nam, lại đã đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm (lấy lại ý Việt Nam đứng trong trào lưu tiến bộ của cộng đồng quốc tế), “dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”.
Câu kết của bản Tuyên ngôn Độc lậpcũng tổng hợp các lý lẽ khác nhau: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
3. Hình tượng tác giả
Chủ tịch Hồ Chí Minh bộ lộ tình yêu nước, thương dân nồng nàn trong những dòng văn kết tội thực dân Pháp, nhất quán với tinh thần Người đã viết trong Bản án chế độ thực dân Pháp. Các từ ngữ nhân dân ta, đồng bào ta, nước nhà của ta, những người yêu nước thương nòi của ta, nòi giống ta, đồng bào ta nói rõ tình yêu nhân dân, đất nước vô bờ của Người. Mặt khác, lòng căm thù thực dân Pháp xâm lược cũng là một tình cảm mạnh mẽ, dứt khoát của tác giả. Bản Tuyên ngôn Độc lậpđược viết không chỉ với trí tuệ sắc sảo mà còn với tình cảm mãnh liệt, chân thành.
4. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ
Phần lớn các câu văn trong bản Tuyên ngôn Độc lậpngắn gọn, chắc nịch, sáng thích hợp với tinh thần khẳng định. Có những câu văn tự sự ngắn mà gọi không khí lịch sử khẩn trương: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo đại thoái vị”. Những câu bình luận chọn lọc, gọn gàng mà đanh thép: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Bản Tuyên ngôn cũng sử dụng thủ pháp liệt kê tạo ra lời buộc tội đanh thép nhiều chiều, toàn diện: chúng không cho…, chúng lập ra…, chúng ràng buộc…, chúng dùng…, chúng giữ… Chủ tịch Hồ Chí Minh phần lớn dùng mẫu câu khẳng định trực tiếp như: “…dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Tuy nhiên, khi cần thay đổi để các mẫu câu đa dạng hóa, phù hợp với đối tượng như khi hướng tới các nước Đồng minh, tác giả có thể dùng cách khẳng định bằng hai lần phủ định: không thể không công nhận – một cách nói khá phổ biến của người phương Tây,… Từ ngữ được sử dụng cũng mang cảm hứng khẳng định kiên quyết như: lẽ phải, sự thật, tuyệt đối, thẳng tay, kiên quyết, quyết không thể không công nhận, phải,…
Bản Tuyên ngôn Độc lập là mẫu mực hoàn chỉnh của văn bản chính luận.

0
phiếu
0đáp án
401 lượt xem
0
phiếu
0đáp án
438 lượt xem

Bài làm
        Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình. Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu như “ Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến với bài thớ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.
       Những sáng tác thơ của Nguyễn Duy sâu lắng và thấn đẫm cái hồn của ca dao, dân ca Việt Nam . Thơ ông không cố tìm ra cái mới mà lại khai thác, đi sâu vào cái nghĩa tình muôn đời của người Việt. “Ánh trăng” là một bài thơ như vậy.Trăng đối với nhà thơ có ý nghĩa đặc biệt: đó là vầng trăng tri kỉ, vầng trăng tình nghĩa và vầng trăng thức tỉnh. Nó như một hồi chuông cảng tỉnh cho mỗi con người có lối sống quên đi quá khứ.
Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức thuổi thơ của nhà thơ và trong chiến tranh:
“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”
       Hình ảnh vầng trăng đang được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của thuổi thơ. Hai câu thơ với vỏn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả một cách khái quát về sự vận động cả cuộc sống con người. Mỗi con người sinh ra và lớn lên có nhiều thứ để gắn bó và liên kết. Cánh đồng, sông và bể là nhưng nơi chốn cất giữ bao kỉ niệm của một thời ấâu thơ mà khó có thể quên được. Cũng chính nới đó, ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng. Với cách gieo vần lưng “đồng”, “sông” và điệp từ “ với” đã diễn tả tuổi thơ được đi nhiều, tiếp xúc nhiều và được hưởng hạnh phúc ngắm những cảnh đẹp của bãi bồi thiên nhiên cũa tác giả.Tuổi thơ như thế không phải ai cũng có được ! Khi lớn lên, vầng trăng đã tho tác giả vào chiến trường để “chờ giặc tới’.Trăng luôn sát cách bên người lính, cùng họ trải nghiệm sương gió, vượt qua những đau thương và khốc liệt của bom đạn kẻ thù. Người lính hành quân dưới ánh trăng dát vàng con đường, ngủ dưới ánh trăng, và cũng dưới ánh trăng sáng đù, tâm sự của những người lính lại mở ra để vơi đi bớt nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà. Trăng đã thật sự trởø thành “tri kỉ” của người lính trong nhưng năm tháng máu lửa.
       Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở về những năm tháng đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước hiền hậu, bình dị. Vầng trăng đù, người bạn tri kỉ đó, ngỡ như sẽ không bao giờ quên được:
“Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”
Vần lưng một lần nữa lại xuất hiện: “trần trụi”, “hồn nhiên”, “thiên nhiên” làm cho âm điệu câu thơ thêm liền mạch, dường như nguồn cảm xúc cũa tác giả vẫng đang tràn đầy. Chính cái hình ảnh so sánh ẩn dụ đã tô đâm lên cái chất trần trụi, cái chất hồn nhiên của người lính trong nhữnh năm tháng ở rừng. Cái vầng trăng mộc mạc và giản dị đó là tâm hồn của những người nhà quê, của đồng, của sông. của bể và của những người lính hồn nhiên, chân chất ấy. Thế rồi cái tâm hồn - vầng trăng ấy sẽ phài làm quen với môt hoàn cảnh sống hoàn toàn mới mẻ:
“Từ hồi về thành phố
quen ánh điện, cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường”
       Thời gian trôi qua cuốn theo mọi thứ như một cơn lốc, chỉ có tình cảm là còn ở lại trong tâm hồn mỗi con người như một ánh dương chói loà. Thế nhưng con người không thể kháng cự lại sự thay đổi đó.Người lính năm xưa nay cũng làm quen dần với những thứ xa hoa nơi “ánh điện, cửa gương”. Và rồi trong chính sự xa hoa đó, người lính đã quên đi người bạn tri kỉ của mình, người bạn mà tưởng chừng chẳng thể quên được, “người tri kỉ ấy” đi qua ngõ nhà mình nhưng mình lại xem như không quen không biết. Phép nhân hoá vầng trăng trong câu thơ thật sự có cái gì đó làm rung động lòng người đoc bởi vì vầng trăng ấy chính là một con người. Cũng chính phép nhân hoá đó làm cho người đọc cảm thương cho một “người bạn” bị chính người bạn thân một thời của mình lãng quên. Sự ồn ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật chất thường nhật khác đã lôi kéo con gười ra khỏi những giá trị tinh thần ấy, một phần vô tâm của con người đã lấn át lí trí của người lính, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ. Con người khi được sống đầy đủ về mặt vật chất thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền tảng cơ bản củacuộc sống, đó chình là tình cảm con người. Nhưng rồi một tình huống bất ngờ xảy ra buộc người lính phải đối mặt:
“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn -đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”
       Khi đèn điện tắt, cũng là khi không còn được sống trong cái xa hoa, đầy đủ về vật chất, người lính bỗng phải đối diện với cái thực tại tối tăm. Trong cái “thình lình”, “đột ngột” ấy, người lính vôi bật tung cửa sổ và bất ngờ nhận ra một cái gì đó. Đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là người bạn tri kỉ năm xưa của mình đây hay sao? Con người ấy không hề biết được rằng cái người bạn tri kỉ, tình nghĩa, người bạn đã bị anh ta lãng quên luôn ở ngoài kia để chờ đợi anh ta. “Người bạn ấy” không bao giờ bỏ rơi con người, không bao giờ oán giận hay trách móc con người vì họ đã quên đi mình. Vầng trăng ấy vẫn rất vị tha và khoan dung, nó cũng sẵn sàng đón nhận tấm lòng của một con người biết sám hối, biết vươn lên hoàn thiện mình. Cuộc đời mỗi con người không ai có thể đóan biết trước được. Không ai mãi sống trong một cuộc sống yên bình mà không có khó khăn, thử thách. Cũng như một dòng sông, đời người là một chuỗi dài với những qunh co, uốn khúc . Và chính trong những khúc quanh ấy, những biến cố ấy, con người mới thật sự hiểu được cái gì là quan trọng, cái gì sẽ gắn bó với họ trong suốt hành trình dài và rộng của cuộc đới. Dường như người lính trong bài thơ đã hiểu được điều đó!
“Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng”
     Khi người đối mặt với trăng, có cái gì đókhiến cho người lính áy náydù cho không bị quở trách một lời nào. Hai từ “mặt” trong cùng một dòng thô: mặt trăng và mặt người đang cùng nhau trò chuyện . Người lính cảm thấy có cái gì “rưng rưng” tự trong tận đáy lòng và dường như nước mắt đang muốn trào ra vì xúc động trước lòng vị tha của người bạn “tri kỉ” của mình . Đối mặt với vầng trăng, bỗng người lính cảm thấy như đang xem một thước phim quay chậm về tuổi thơ của mình ngày nào, nới có “sông” và có “bể” .Chính những thước phim quay chậm ấy làm người lính trào dâng nhưng nỗi niềm và ngững giọt nước mắt tuôn ra tự nhiên, không chút gượng ép nào! Những giọt nước mắt ấy đã phần nào làm cho người lính trở nên thanh thản hơn, làm tâm hồn anh trong sáng lại. Một lần nữa những hình tượng trong tuổi thơ và chiến tranh được láy lại làm sáng tỏ những điều mà con người cảm nhận được. Cái tâm hồn ấy, cái vẻ đẹp mộc mạc ấy không bao giờ bị mất đi, nó luôn lặng lẽ sống trong tâm hồn mỗi con người và nó sẽ lên tiếng khi con người bị tổn thương. Đoạn thơ hay ở chất thơ mộc mạc, chân thành, ngôn ngữ bình dị mà thấm thía, những hình ảnh đi vào lòng người.
Vầng trăng trong khổ thớ thứ ba đã thực sự thức tỉnh con người:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kề chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”
       Khổ thơ cuối cùnh mang tính hàm súc độc đáo và đạt tới chiều sâu tư tưởng và triết lí. “Trăng tròn vành vạnh” là vẻ đẹp của trăng vẫn viên mãn, tròn đầy và không hề bị suy suyển dù cho trải qua biết bao thăng trầm. Trăng chỉ im lặng phăng phắc, trăng không nói gì cả, trăng chỉ nhìn, nhưng cái nhìn đó đủ khiến cho con người giật mình. Ánh trăng như một tấm gương để cho con người soi mình qua đó, để con người nhận ra mình để thức tỉnh lương tri. Con người có thể chối bỏ, có thể lãng quên bất cứ điều gì trong tâm hồn anh ta . Nhưng dù gì đi nũa thì những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc cũng luôn vậy bọc và che chởù cho con người.
        “Ánh trăng” đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ như một lời nhắc nhở đối với mỗi người: Nếu ai đã lỡ quên đi, đã lỡ đánh mất những giá trị tinh thần qúy giá thì hãy thức tỉnh và tìmlại những giá trị đó. còn ai chưa biết coi trọng những giá trị ấy thì hãy nâng niu những kí ức quý giá của mình ngay từ bây giờ, đừng để quá muộn. Bài thơ không chỉ hay về mắt nội dung mà cón có những nét đột phá trong nghệ thuật. Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, các chữ đầu dòng thơ không viết hoa thể hiện những cảm xúc liền mạch của nhà thơ. Nhịp thơ biến ảo rất nhanh, giọng điệu tâmtình đã gấy ấn tượng mạnh trong lòng người đọc.
Sưu tầm 

0
phiếu
0đáp án
773 lượt xem

       Trải qua bao năm tháng “Truyền Kiều” của Nguyễn Du vẫn l­u dấu trong tâm khảm bạn đọc không chỉ bởi ngôn ngữ trong sáng ,các biện pháp tu từ điêu luyện mà còn bởi tác phẩm có những câu thơ hay nhất,đẹp nhất,tiêu biểu cho bút pháp tả ng­ười của tác giả: 
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
                                                                     (Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”)
      Bốn câu thơ-28 chữ mà giống như 28 viên ngọc bằng ngôn ngữ toả sáng lấp lánh trong cả trang thơ.Vừa chiêm ngưỡng dáng hình mảnh dẻ thanh tao và tâm hồn trắng trong như tuyết của hai người con gái đầu lòng nhà ông bà Vương viên ngoại, người đọc chợt sững sờ tr­ước bức chân dung giai nhân được hé lộ bằng những đ­ường nét đầu tiên:
Vân xem trang trọng khác vời
       Dòng thơ giới thiệu khái quát đủ để người đọc cảm nhận vẻ đẹp cao sang, quí phái của Thuý Vân,để rồi liền sau đó,như một nhà nhiếp ảnh tài ba,Nguyễn Du hướng ống kính của mình vào từng đường nét cụ thể trên gương mặt của người con gái:
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

      Mỗi câu thơ là một nét vẽ tài hoa về bức chân dung giai nhân, từng đường nét dường như đều là một kì công của tạo hoá,gương mặt tròn đầy,tươi sáng dịu hiền như ánh trăng,đôi mày dài thanh thoát,miệng cười tươi thắm như hoa,tiếng nói trong như ngọc,mái tóc đen,mềm,óng ả hơn mây,làn da trắng mịn màng hơn tuyết…Tả về nàng, Nguyễn Du phải tìm đến hoa,lá,ngọc,vàng,mây,tuyết-những báu vật tinh khôi trong trẻo của đất trời mới lột tả hết vẻ yêu kiều của người con gái ấy.
Vẫn là bút pháp ước lệ với những hình t­ượng quen thuộc nhưng khi tả Vân ngòi bút Nguyễn Du lại có chiều hướng cụ thể hơn lúc tả Kiều.Cụ thể trong thủ pháp liệt kê:khuôn mặt,đôi mày,làn da,mái tóc…Cụ thể trong việc sử dụng từ ngữ để làm nổi bật vẻ đẹp riêng của đối t­ượng:“đoan trang”,“nở nang”,“đầy đặn”.Những biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ,nhân hoá đều nhằm thể hiện vẻ đẹp trung thực, phúc hậu mà quí phái của người thiếu nữ.Điều kì diệu ở đoạn thơ này là Nguyễn Du đã miêu tả chân dung Thuý Vân là chân dung mang tính cách,số phận.Vẻ đẹp của nàng hoà hợp,êm đềm với xung quanh,được thiên nhiên yêu thương,nhường nhịn:“mây thua”;“tuyết nh­ường”nên nàng sẽ có một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ, êm ấm và một tương lai tươi sáng đón chờ.
       Đoạn thơ khép lại sau khi đã hoàn thiện trong tâm khảm bạn đọc hình ảnh một nàng Thuý Vân sắc nước hương trời bằng ngôn ngữ thơ tinh luyện, những nét vẽ có thần,hàm xúc, gợi cảm,các biện pháp tu từ được vận dụng tài tình.Hàm ẩn đằng sau bức chân dung mĩ nhân là cả một tấm lòng quí mến trân trọng,ngợi ca con người mà đặc biệt là người phụ nữ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.
       Đọc đoạn thơ,tìm hiểu kĩ về đoạn thơ, càng kính phục Nguyễn Du em càng trân trọng sự tinh tế trong ngôn ngữ Tiếng Việt.Bất giác em mong muốn được thay vài chữ trong câu thơ lúc sinh thời của đại thi hào dân tộc để diễn tả những suy nghĩ của mình: 
“Nhiều trăm năm lẻ về sau nữa
Thiên hạ mãi còn nhớ Tố Như”
0
phiếu
0đáp án
801 lượt xem

     Nhà thơ Huy Cận đã từng gọi bài thơ Đoàn thuyền đánh cá (1958) của mình là "khúc tráng ca". Quả đúng như­ vậy, bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi vẻ đẹp khoẻ khoắn của con ngư­ời lao động trong sự hài hoà với vẻ đẹp tráng lệ của thiên nhiên kì vĩ. Không còn thấy dấu vết của một "nỗi buồn thế hệ" cô đơn, li tán đã từng dằng dặc, triền miên trong thơ ông hồi tr­ớc Cách mạng tháng Tám. Đây là cảnh sông nước trong Tràng giang - một trong những bài thơ tiêu biểu của Huy Cận giai đoạn ấy:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về n­ước lại, sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Còn đây:
Mặt trời xuống biển như­ hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng
Cá thu biển Đông nh­ư đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt l­ưới ta, đoàn cá ơi!

      Đó là sự khác nhau của hai nguồn sống, ở hai giai đoạn sống của một tâm hồn. Đoàn thuyền đánh cá là hình ảnh của cuộc sống mới, cuộc sống mà ngư­ời ta tìm thấy niềm tin vui bất diệt trong lao động.
      Bài thơ miêu tả trọn vẹn một đêm lao động trên biển của đoàn thuyền đánh cá. Hai khổ thơ đầu là cảnh ra khơi. Khung cảnh thiên nhiên được phác hoạ ít nét mà vẫn cho ta cảm nhận được vẻ chắc nịch, thấm đậm không khí khẩn trư­ơng của một buổi xuất bến ra khơi. Hai câu thơ đầu gợi tả sự vận động của thời gian, mặt trời xuống biển, những con sóng gợn những nét ngang luân chuyển qua lại như then cửa và mặt trời xuống đến đâu, cánh cửa đêm như đư­ợc kéo xuống đến đó. Khi những ánh sáng mặt trời tắt hẳn cũng là lúc "sóng đã cài then", "đêm sập cửa". Đúng thời điểm ấy, trong không gian của một đêm đã bắt đầu ấy, thênh thênh vút lên, bừng sáng tiếng hát của người­ dân. Không phải ánh sáng toát lên từ cánh buồm trắng trong một buổi mai nh­ ở Quê h­ương của Tế Hanh: 

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
(...)
Cánh buồm giương to nh­ư mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...

      Mà là ánh sáng của thanh âm, của khúc hát lãng mạn cất lên từ lòng tin, tình yêu lao động, của sắc cá bạc đan dệt thành. Những vần trắc trong khổ thơ đầu (lửa, cửa, khơi, khơi) hoà điệu cùng khúc hát, rất có giá trị trong việc gợi tả vẻ thoáng đạt, sáng láng ấy. Một cách tự nhiên, những vần thơ mở đầu hút ng­ười đọc vào không khí lao động của người­ dân lúc nào không hay.

      Bốn khổ thơ tiếp theo là cảnh lao động trên biển đêm. Những khổ thơ này tập trung nhiều hình ảnh tráng lệ, vẻ tráng lệ đã đ­ược gợi ra từ đầu bài thơ với hình ảnh "Mặt trời... như­ hòn lửa". Đến đây, cảnh đánh cá đêm trên biển đ­ợc miêu tả hết sức sinh động. Đó là những động từ mạnh mẽ (lái gió, lướt, dàn đan, quẫy, kéo xoăn tay,...), là những hình ảnh gợi tả cái kì vĩ, lớn lao (mây cao, biển bằng, dặm xa, bụng biển, thế trận, vây giăng, đêm thở), là những sắc màu lộng lẫy, rực rỡ như­ trẩy hội, và cả những nét thơ mộng, bay bổng (buồm trăng, lấp lánh đuốc đen hồng, trăng vàng choé, sao lùa, vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông, nắng hồng,...). Vẻ đẹp của biển trời hoà quyện với vẻ đẹp của con người lao động dệt lên bức tranh tráng lệ, rạo rực sức sống, rạng rỡ vẻ đẹp giàu say lòng ng­ời. Có lẽ không ở đâu lại có được cái nguồn sống bất tận diệu kì của biển Đông hơn ở những câu thơ này:

Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, 
Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé,
Đêm thở: sao lùa n­ớc Hạ Long.

Chỉ một hình ảnh "Đêm thở" mà ta như­ thấy cả màn đêm phập phồng, thấy cả gió, cả sóng nư­ớc. Theo nhịp thở của vũ trụ, ngàn con sóng dồn đuổi ánh lên những đợt vàng sáng lấp lánh của vẩy cá phản chiếu ánh trăng, của sao... Thật huyền diệu!
      Cá đã đầy khoang, lấp loá trong ánh rạng đông cũng là lúc đoàn thuyền kết thúc một đêm lao động. Buồm lại căng lên đón ánh nắng sớm. Khổ thơ cuối là cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá:

Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

     Lại một sự hoà quyện tuyệt vời giữa thiên nhiên và con ngư­ời. Vẻ đẹp của bài thơ bừng lên trong ánh sáng huy hoàng, ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của sức lao động đã thành thành quả, của niềm vui lao động chân chính.
      Nhìn lại toàn bộ bức tranh mà tác giả đã miêu tả trong bài thơ, ta càng thấy rõ hình ảnh con người vừa làm chủ tự nhiên (Ra đậu dặm xa dò bụng biển - Dàn đan thế trận l­ưới vây giăng), vừa phô vẻ đẹp hoà quyện cùng thiên nhiên (Thuyền ta lái gió với buồm trăng - L­ướt giữa mây cao với biển bằng; Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời). Trong sự hài hoà ấy, vũ trụ cũng đư­ợc cảm nhận với sự vận động theo nhịp sống của con ngư­ời: Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Đúng như­ nhà thơ Huy Cận đã bày tỏ:
      "Khung cảnh trên biển khi mặt trời tắt không nặng nề tăm tối mà mang vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật trong qui luật vận động tự nhiên của nó. ở đây, tôi đã miêu tả khung cảnh tạo vật với cảm hứng vũ trụ. Nếu trư­ớc cách mạng, Vũ trụ ca còn buồn thì bây giờ vui, trước là tách biệt, xa cách với cuộc đời thì hôm nay, lại gần gũi với con ngư­ời. Bài thơ của tôi là cuộc chạy đua giữa con người và thiên nhiên, và con ng­ười đã chiến thắng. Tôi coi đây là một khúc tráng ca, ca ngợi con người trong lao động với tinh thần làm chủ, với niềm vui".

Sưu tầm
12345...7Trang sau 153050mỗi trang
99

bài viết

Chat chit và chém gió
  • emily: đây ms lớp 7 8/28/2017 6:21:08 AM
  • Nắng: ơ năm nay e lp 8 mà nhỉ 8/28/2017 6:21:21 AM
  • Nắng: s hok lp 7 ... ôn lại à 8/28/2017 6:21:28 AM
  • emily: vâng ạ 8/28/2017 6:22:14 AM
  • emily: e đg hk hè mà 8/28/2017 6:22:19 AM
  • Nắng: ừ , cj bt r 8/28/2017 6:22:30 AM
  • emily: cj xem đề chưa ạ? 8/28/2017 6:22:48 AM
  • Nắng: rồi 8/28/2017 6:23:01 AM
  • emily: cj có thể làm đc k ạ? 8/28/2017 6:23:34 AM
  • Nắng: được 8/28/2017 6:23:41 AM
  • Nắng: có lẽ thế ... 8/28/2017 6:23:44 AM
  • emily: cj hk giỏi nhỉ 8/28/2017 6:24:17 AM
  • Nắng: cj mà làm dài qá 8/28/2017 6:24:20 AM
  • Nắng: thì đừng trách cj nhé 8/28/2017 6:24:24 AM
  • emily: dài càng tôt mà 8/28/2017 6:24:34 AM
  • Nắng: ok 8/28/2017 6:24:37 AM
  • emily: happy 8/28/2017 6:24:41 AM
  • emily: cj đang làm hả? 8/28/2017 6:25:31 AM
  • Nắng:8/28/2017 6:26:05 AM
  • emily: wow 8/28/2017 6:26:25 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:29 AM
  • emily: not_worthy 8/28/2017 6:26:33 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:36 AM
  • Nắng: miễn lễ 8/28/2017 6:26:38 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:41 AM
  • emily: hihihi 8/28/2017 6:26:46 AM
  • emily: hee_hee 8/28/2017 6:26:50 AM
  • emily: đa tạ 8/28/2017 6:26:57 AM
  • emily: hee_hee 8/28/2017 6:27:03 AM
  • emily: cj xong chưa cj/ 8/28/2017 6:30:48 AM
  • Nắng: no_talking 8/28/2017 6:30:57 AM
  • emily: cj sao vậy ạ? 8/28/2017 6:31:51 AM
  • emily: sad 8/28/2017 6:32:03 AM
  • emily: cj ơi 8/28/2017 6:32:48 AM
  • Nắng: ơi 8/28/2017 6:33:02 AM
  • emily: cj ik đâu? 8/28/2017 6:34:03 AM
  • emily: hay cj nêu ý chính cg đc 8/28/2017 6:34:14 AM
  • Nắng: https://hoc24.vn/hoi-dap/question/120798.html 8/28/2017 6:47:38 AM
  • Nắng: vào đi , ko cần đăng kí cx đọc đk 8/28/2017 6:47:49 AM
  • emily: vâng 8/28/2017 6:48:21 AM
  • emily: thanks 8/28/2017 6:48:22 AM
  • Nắng: kcj 8/28/2017 6:48:29 AM
  • Phù thủy nhỏ: hi mn 9/16/2017 8:56:16 AM
  • Phương Thảo: vỏ sò khóa là gì? 9/25/2017 8:53:52 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:00:56 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:01:00 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:01:48 AM
  • carolina26072005: happy 11/28/2017 8:24:30 PM
  • carolina26072005: hello 11/28/2017 8:24:39 PM
  • kocotendst2k3: 2222 12/4/2017 9:14:23 PM
  • kocotendst2k3: Cho e hỏi chi tiết nào đã thể hiện sâu sắc, cảm động tình cha con của ông 6 vs bé thu ạ 12/4/2017 9:16:06 PM
  • hieuchutien: chich nhau ko 12/5/2017 5:48:55 AM
  • hieuchutien: cai dit nhau 12/5/2017 5:49:15 AM
  • hieuchutien: cut 12/5/2017 5:49:17 AM
  • hieuchutien: cc 12/5/2017 5:49:18 AM
  • ๖ۣۜGemღ: Mọi người có thắc mắc hay cần hỗ trợ gì thì gửi tại đây nhé https://goo.gl/dCdkAc 12/6/2017 8:53:59 PM
  • letu200122: @@ 12/12/2017 11:12:14 PM
  • letu200122: alo 12/12/2017 11:12:42 PM
  • свинья: rolling_on_the_floorrolling_on_the_floor 12/30/2017 8:58:02 PM
  • lanho: hi 1/10/2018 8:51:32 PM
  • dumamiconvan: sao A 2/26/2018 8:09:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:30 PM
  • Rushia : .. 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:34 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:34 PM
  • ๖ۣۜBossღ: x 3/2/2018 9:19:09 PM
  • ๖ۣۜBossღ: h 3/4/2018 7:11:57 PM
  • ngocanhwang: em chào mọi người ạ 3/18/2018 6:07:38 PM
  • caochanhkhai1111: hello 4/5/2018 10:21:43 PM
  • dungvong2006: helo 4/9/2018 9:04:06 PM
  • dungvong2006: em Ng Hồng Ngọc có đây k nhỉ 4/9/2018 9:05:38 PM
  • Nguyễn Nhung: angel 4/9/2018 9:09:49 PM
  • maizabuza: happy 9/26/2018 5:36:49 AM
  • nguyenlena123: big_grin 10/8/2018 10:10:20 PM
  • nguyenlena123: thương vợ của tú xương và chữ người tử tù của nguyễn tuân 10/8/2018 10:10:58 PM
  • nguyenlena123: Bác Dương thôi đã thôi rồi 10/8/2018 10:12:20 PM
  • nguyenlena123: Hãy có một lần nhìn lại bản thân và cách đối xử với nó với cha mẹ 10/8/2018 10:14:14 PM
  • shixamxi2005: r đâu 2/28/2019 1:26:03 PM
  • linhcute555666:9/2/2019 9:58:38 AM
  • linhcute555666: hú hú hú 9/2/2019 9:58:59 AM
  • linhcute555666: ư ư 9/2/2019 9:59:01 AM
  • linhcute555666: hú hú 9/2/2019 9:59:04 AM
  • linhcute555666: :vvv 9/2/2019 9:59:05 AM
  • votamnhudiephoang: hi các bạnbig_hug 9/30/2019 7:37:09 PM
  • votamnhudiephoang: angelbig_hugparty 9/30/2019 7:37:53 PM
  • huyen2k8: ttt 12/22/2019 7:38:28 PM
  • thaole26121981: Halu.. 2/15/2020 4:39:20 PM
  • thaole26121981: wave 2/15/2020 5:19:55 PM
  • thaole26121981: Àm.. 2/15/2020 5:37:30 PM
  • tuoiteenquygia2k8: hi 2/16/2020 7:20:00 PM
  • haminhnhi: helloooooooooooooo 3/14/2020 4:03:11 PM
  • truong63: Helloo lôôôôôôôôôôô tôôôôôôôô 4/6/2020 9:15:04 AM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely