0
phiếu
0đáp án
794 lượt xem

NHÌN VỀ VỐN VĂN HÓA DÂN TỘC

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.    Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

          Trần Đình Hượu (1926 – 1995) quê ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ông là nhà nghiên cứu chuyên vè các vấn đề tư tưởng, văn hóa và văn học Việt Nam. Ông sở trường về nghiên cứu tư tưởng phương Đông, nhất là Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến tư tưởng, văn hóa, văn học Việt Nam. Định hướng nghiên cứu của ông khi đọc các hiện thượng văn hóa, văn học quá khứ là tìm mối liên hệ của quá khứ và hiện tại. Cuốn sách tập hợp các bài viết của ông có tên Đến hiện đại từ truyền thống đã nói lên định hướng nghiên cứu đó. Không thể hiểu đúng văn hóa và văn học Việt Nam hiện đại nếu như không hiểu biết quá khư. Một đặc điểm nữa trong các công trình nghiên cứu của ông là sự ngầm ẩn cảm hứng đối thoại, tranh luận. Không đơn giản, xuôi chiều, Trần Đình Hượu thường đặt lại vấn đề, xem xét vấn đề dưới góc độ khác, với chủ trương tôn trọng quá khứ, phân tích một cách khách quan các sự kiện lịch sử để tìm ra chân lý.

Bài viết được tác giả hoàn thành năm 1986, vào thời điểm Đảng ta phát động công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. văn hóa dân tộc sẽ ứng xử thế nào đây trong bước chuyển lớn này? Ông viết: “Nay chúng ta bước vào một khúc ngoặt vĩ đại của lịch sử, không thể không làm công việc tự ý thức, tự phê phán nghiêm túc văn hóa dân tộc như một yêu cầu như một yêu cầu của sự phát triển là một cảm hứng quan trọng trong nhiều công trình của Trần Đình Hượu.

2.    Về văn hóa Việt Nam

          Ở nước ta, nhất là thời điểm Trần Đình Hượu viết bài này, cách tiếp cận văn hóa dân tộc, đôi khi còn dựng lại ở mục đích tuyên truyền chứ chưa phải là khoa học. Trong phần mở đầu bài viết ( không được trích trong Ngữ văn 12), ông nhẹ nhàng chỉ ra hạn chế của cách tiếp cận đó như: “Khi kháng chiến thì nói đặc tính của dân tộc ta là yêu nước, bất khuất, khi xã hội xã hội chủ nghĩa thì là cần cù lao động, khi gặp khó khăn thì lại là lạc quan yêu đời”. Không nhằm thỏa mãn tinh thần dân tộc hay mục tiêu tuyên truyền, với tư cách là nhà khoa học, Trần Đình Hượu tìm bản sắc văn hóa dân tộc với cái nhìn khách quan, kh, đi tìm những yếu tố kế thừa và những yếu tố cần vượt qua của văn hóa truyền thống. Theo ông, “Tìm đặc sắc văn hóa dân tộc không phải chỉ để bồi dưỡng lòng tự hào, không phải chỉ để kế thừa theo lối lấy, bỏ, thêm, bớt mà còn để phát huy tiềm năng sáng tạo, giải phóng sức sáng tạo. Về mặt ấy thì thiên hướng, mục tiêu, cung cách sáng tạo đã bộc lộ trong quá khứ - có phần là mặt mạnh, có phần là mặt yếu – mới chỉ bảo được nhiều cho chúng ta trên bước đường hiện đại và tương lai” (Đoạn này cũng thuộc phần đầu bài viết không được trích trong sách giáo khoa). Cách đặt vấn đề của ông vì thế hấp dẫn, thuyết phục và có ý nghĩa.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.    Khái niệm “vốn văn hóa dân tộc”

          Khái niệm “văn hóa” được tác giả sử dụng để chỉ các lĩnh vực như là các thành tố cấu thành:  tôn giáo, triết học, khoa học, âm nhạc, kiến trúc, văn học,…

Khung thời gian của “vốn văn hóa dân tộc” được nói đến là trước thời kì cận – hiện đại, tức là khoảng từ đầu thế kỷ XX trở về trước, trước khi tiếp xúc văn hóa Đông – Tây thực sự diễn ra và có thể làm biến đổi văn hóa truyền thống.

Trong cụm từ “vốn văn hóa dân tộc” có khái niệm “dân tộc”. Tất nhiên đây cũng là một khái niêm khoa học khá phức tạp mà chương trình Ngữ văn lớp 12 chưa đề cập đến, song cần hiểu bản thân “dân tộc” đã chỉ khả năng giao lưu, tiếp nhận văn hóa và yêu cầu so sánh với văn hóa các dân tộc khác. Bàn về bản sắc hay đặc sắc của văn hóa dân tộc, theo Trần Đình Hượu, là đề cập toàn diện, cả sở trường và sở đoản, cả khuyết tật: “Trong sự sáng tạo văn hóa, mỗi dân tộc hình như từ lâu đã có những thói quen, những ưa thích, những sở trường, những khuyết tật làm nên đặc sắc của nó. Nắm vững những cái đó, bước đi ở hiện tại sẽ ít mù quáng hơn và cũng nhờ thế có thể phần nào dự đoán để định hướng cả bước đi trong tương lai”. Chủ trương tìm cả sở trường và khuyết tật này của văn hóa dân tộc sẽ được nhà nghiên cứu nhất quán trong phần viết được trích dẫn trong sách giáo khoa Ngữ văn 12.

          Tất cả những nhận xét của Trần Đình Hượu về vốn văn hóa Việt Nam đều xuất phát từ sự so sánh ngầm ẩn với văn hóa các dân tộc khác (ông viết: giữa các dân tộc) mà do lối viết uyên bác của mình, ông không đi sâu chứng minh cụ thể, song với vốn văn hóa phổ thông, chúng ta cũng có thể dễ dàng tìm thấy các dẫn chứng.

2.    Đánh giá khách quan, nghiêm túc về văn hóa Việt Nam

-     Nhận định tổng quát của ông mở đầu cho luận bàn trong đoạn trích này có thể khiến cho những người có đầu óc dân tộc chủ nghĩa, quen ca ngợi một chiều bản sắc dân tộc giật mình, thậm chí khó chịu:

          “ Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hóa của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật”.

          Chúng ta không có một nền văn hóa có tầm cỡ, có thể ảnh hưởng đến văn hóa thế giới, hay có đặc sắc nổi bật. Một nhận xét tổng quát có vẻ nhiêm khắc khi đặt văn hóa Việt Nam trên bình diện toàn nhân loại (giữa các dân tộc). Phương pháp được sử dụng ở đây là phương pháp so sánh, giúp người viết tránh được những nhận định tùy tiện về bản sắc văn hóa dân tộc.

Nhưng nhận định này cũng gợi hứng thú vì cách đặt vấn đề dũng cảm, mới mẻ, hứa hẹn cách triển khai phân tích hấp dẫn.

-     Lập luận: tác giả nêu đặc trưng văn hóa các dân tộc khác để so sánh. “Ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo, hoặc là một trường phái triết học, một ngành khoa học, một nền âm nhạc, hội họa,… phát triển rất cao, ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ văn hóa, thành đặc sắc văn hóa của dân tộc đó, thành thiên hướng văn hóa của dân tộc đó”. Ở đây nói đến sự phát triển cao của một số thành tựu văn hóa nhất định của một dân tộc nào đó có ảnh hưởng phổ biến, lâu dài đến văn hóa toàn nhân loại.

          Trong tương quan so sánh, ở văn hóa Việt Nam truyền thống, không có gì đạt đến đỉnh cao, cái gì cũng có song không đạt tầm cỡ kỷ lục. Thần thoại không phong phú, tôn giáo hay triết học đều không phát triển: “Người Việt Nam không có tâm lí kiền thành, cuồng tín tôn giáo, mà cũng không say mê tranh biện triết học. Các tôn giáo đều có mặt nhưng thường là biến thành một lối thờ cúng, ít ai quan tâm đến giáo lý. Không có một ngành khoa học, ky thuật, giả khoa học (khái niệm giả khoa học chỉ các môn phái khoa học thần bí thời xưa như luyện kim đan, làm thuốc trường sinh bất tử…) nào phát triển đến thành có truyền thống. Âm nhạc, hội họa, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kỹ”. Nhận xét về thơ, ông đưa ra một nghịch lý: “Hầu như người nào cũng có thể, cũng có dịp làm dăm ba câu thơ. Nhưng số nhà thơ để lại nhiều tác phẩm thì không có”.

-     Phác họa nguyên nhân: “Thực tế đó cho ta biết khuynh hướng, hứng thú, sự ưa thích, nhưng hơn thế, còn cho ta biết sự hạn chế của trình độ sản xuất, của đời sống xã hội. Đó là văn hóa của dân nông nghiệp định cư, không có nhu cầu lưu chuyển, trao đổi, không có sự kích thích của đô thị”. Nhận định về nguyên nhân ở đây thực ra là không mới, vì các yếu tố nêu lên đã được nhiều người nhận xét. Chẳng hạn như cội rễ văn hóa nông nghiệp, chủ trương bế quan tỏa cảng, đô thị kém phát triển, không coi trọng thương nghiệp,… Cái mới là sự liên hệ nhất quán của tác giả giữa cái nền tảng kinh tế, phương thức sản xuất với bản sắc văn hóa dân tộc để chỉ ra cội rễ của những hạn chế. Tất nhiên, một kết luận có thể rút ra được từ đây là để phát triển văn hóa cần công nghiệp hóa, đô thị hóa, cần mở rộng giao lưu quốc tế. Những phân tích có tính triết học về văn hóa dân tộc nhằm vào sự phát triển, đổi mới chứ không nhằm mục đích tuyên truyền.

3.    Phân tích tính chất trung dung của văn hóa Việt Nam.

          Sau nhận định tổng quát, Trần Đình Hượu phân tích chỉ ra tính chất trung dung văn hóa Việt Nam. Trung dung là chọn cái giữa, giữ thế trung bình, không thiên lệch về một phía nào, không thái quáện ở các mà cũng không bất cập:

-     Về tôn giáo: Người Việt Nam “ít tinh thần tôn giáo”, biểu hiện ở các quan niệm ứng xử sau: “Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, có ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về)”. Nếu so sánh với một số dân tộc có cuồng tín tôn giáo thì tinh thần hiện thực, không cuồng tín tôn giáo là mặt mạnh của tư duy cần ghi nhận của dân tộc ta. Nhưng điệu cần chú ý ở đây: Trần Đình Hượu nhắm vào cái tính chất nửa vời, nước đôi của niềm tin tôn giáo ở người Việt, vừa sống theo thế tục lại vừa có niềm tin vào linh hồn, ma quỷ. Vả lại cũng có những hạn chế tư duy thế tục, như chính Trần Đình Hượu đã viết ở một đoạn khác: “Thói quen gạt bỏ những cái xa vời, khó hiểu, xa lánh quỷ thần, không quan tâm đến thế giới linh thiêng làm cho con người không bỏ mê tín song cũng không hứng thú cái thần bí, không tò mò và ít hoài nghi, không say mê tìm hiểu những cái chưa biết, gạt bỏ những cái khác lạ”.

-     Về ý thức cá nhân và sở hữu: “Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham làm giành giật cho nhiều nhưng cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người”. Tinh thần cộng đồng, chủ trương sống an nhàn, không có khát vọng cao xa, hơn người vừa là mặt tích cực vừa là mặt hạn chế vì không kích thích con người cá nhân phát triển.

-     Một loạt những biểu hiện khác về phương diện tư duy: “Không chuộng trí mà cũng không chuộng dũng. Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thượng võ […]. Trong tâm trí nhân dân thường có Thần và Bụt mà không có Tiên. Thần uy linh bảo hộ dân và Bụt hay cứu giúp mọi người; còn Tiên nhiều phép lạ, ngao du ngaoif thế giới thì xa lạ. Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo. Khôn khéo là “ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau”, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn. Đối với cái dị kỷ, cái mới, không dễ hòa hợp những cũng không cự tuyệt đến cùng, chấp nhận cái gì vừa phải, hợp với mình nhưng cũng chần chừ, dè dặt, giữ mình.

          Không thể đánh giá một chiều hoặc tích cực hoặc tiêu cực đối với các biểu hiện tư duy nói trên, có cả tiêu cực, cả tích cực. Nhưng nếu nhìn theo quan điểm phát triển, dễ thấy có những cản trở nhất định. Chẳng hạn như, chỉ hướng đến Thần và Bụt vì mục đích thực dụng mà thấy xa lạ với Tiên thì trong tư duy rõ ràng không coi trọng sự phiêu diêu, bay bổng một cách lãng mạn; không coi trọng trí tuệ mà chỉ ca tụng sự khôn khéo thì dễ sa vào tiểu xảo, chỉ giỏi mô phỏng, bắt chước, “nhái lại” sản phẩm của người khác chứ khó mà sáng tạo mới, độc đáo. Nếu quá lo thủ thế giữ mình trong bốn lũy tre làng, khó hòa hợp với cái mới (trong cái mới có cái khác mình) thì khả năng phát triển tất nhiên sẽ bị hạn chế.

-     Về thẩm mỹ: Trần Đình Hượu phân tích các biểu hiện khác nhau của quan niệm thẩm mĩ có tính trung dung của người Việt. “Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình hợp lý, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kỳ. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải”.

          Một quan niệm thẩm mỹ như thế tạo ra cái đẹp độc đáo, đặc sắc riêng nhưng cũng khó có thể sản sinh ra những sáng tạo kỳ vĩ, huy hoàng, đạt tầm cỡ nhân loại. Một trong những ví dụ cho phép hình dung quan niệm thẩm mĩ có tính trung dung như thế là kiến trúc: “Không có công trình kiến trúc nào, kể cả của vua chúa, nhằm vào sự vĩnh viễn”. Ta hiểu đó là tác giả đang ngầm so sánh với những công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới như Kim Tự Tháp, Ăng Co, Vạn lí trường thành,…

          Lý giải bản chất và nguồn gốc tâm lý của văn hóa dân tộc, tác giả viết: “Hình như ta coi trọng Thế hơn Lực, quý sự kín đáo hơn sự phô trương, sự hòa đồng hơn rạch ròi trắng đen. Phải chăng đó là kết quả của ý thức lâu đời về sự nhỏ yếu, về thực tế nhiều khó khăn, nhiều bất trắc?

          Nhìn vào lối sống, quan niệm sống, ta có thể nói người Việt Nam sống có văn hóa, người Việt Nam có nền văn hóa của mình. Nhưng cái thô dã, những hung bạo đã bị xóa bỏ để có cái nền nhân bản. Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa. Không có khát vọng để hướng đến những sáng tạo lớn mà nhạy cảm, tinh nhanh, khôn khéo gỡ các khó khăn, tìm được sự bình ổn”.

Theo tác giả, có thể khẳng định rằng văn hóa Việt Nam đã hình thành trong quá trình lịch sử, đây là một thực tế hiển nhiên, “người Việt Nam có nền văn hóa cua mình”. Bản chất văn hóa là đối lập, khắc phục cái bản năng hoang dã, xây dựng những giá trị nhân bản. Các tính chất như tính thiết thực, linh hoạt, dung hòa là chỗ mạnh nhưng cũng bao hàm cả mặt hạn chế của truyền thống tư duy dân tộc. Thiết thực như chính ông nói (ở một đoạn khác), thì dễ nghiêng về duy vật, biện chứng tự phát, xa lạ với cái thần bí nhưng cũng xa lạ với cái duy lý; linh hoạt thì uyển chuyển, không cứng nhắc, song lại thiếu một phong cách riêng; dung hòa thì tránh được cực đoan, thái quá song lại không thúc đẩy sự phát triển đến tận cùng, đến cực độ. Trong triết học có quy luậtvề sự thay đổi của lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất. Chỉ đạt đến 0° C thì nước mới đóng băng, chỉ đạt đến 100° C thì nước mới bốc hơi. Các trạng thái nửa vời, trung dung không đẩy sự vật phát triển tới một trình độ mới.

4. Vấn đề giao lưu văn hóa

Tổng kết lại điều vừa trình bày, tác giả viết: “Những cái vừa nói là cái đã lắng đọng, đã ổn định, chắc chắn là kết quả của sự dung hợp của cái vốn có, của văn hóa Phật giáo, văn hóa Nho giáo, cái được dân tộc sàng lọc, tinh luyện để thành bản sắc của mình. Phật giáo, Nho giáo tuy từ ngoài du nhập vào nhưng đều để lại dấu ấn sâu sắc trong bản sắc dân tộc”.

          Không thể có một nền văn hóa dân tộc nào lại hình thành mà thiếu sự giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa khác. Do đó, bản sắc văn hóa dân tộc cũng cần được nhìn từ góc độ giao lưu văn hóa. Một nền văn hóa bất kỳ nào cũng bao gồm thành tố văn hóa bản địa (tác giả dùng “cái vốn có”) và văn hóa ngoại nhập. trong văn hóa Việt Nam, sự có mặt của các học thuyết Nho – Phật – Đạo đến từ văn hóa bên ngoài, làm phong phú thêm cho văn hóa Việt Nam truyền thống. Nho giáo và Đạo giáo của Trung Quốc, Phật giáo của Ấn Độ (Phật giáo Thiền tông lại là sản phẩm kếp hợp của Phật giáo Ấn Độ và Đạo giáo Trung Quốc). Giao lưu văn hóa là sự tiếp xúc văn hóa, là cho và nhận những giá trị văn hóa, dẫn đến sự tinh luyện các giá trị văn hóa truyền thống và văn hóa ngoại nhập, làm thành văn hóa đặc sắc của riêng mình. Tất nhiên, ở đây đang bàn về văn hóa truyền thống, tức văn hóa từ cuối thế kỷ XIX trở về trước nên tác giả mới đề cập đến Nho – Phật – Đạo mà chưa nói đến văn hóa phương Tây, chưa nói đến Thiên Chúa giáo.

          Nhà nghiên cứu lưu ý, các thành tố văn hóa ngoại sinh có ảnh hưởng ở Việt Nam với mức độ và tính chất khác nhau, phản ánh đặc điểm của chính văn hóa Việt Nam trong khi lựa chọn nguồn ảnh hưởng. Ông viết: “Phật giáo, Nho giáo tuy từ ngoài du nhập vào nhưng đều để lại dấu ấn sâu sắc trong bản sắc dân tộc. Có điều, để thích ứng với cái vốn có, Phật giáo không được tiếp nhận ở khái cạnh trí tuệ, cầu giải thoát, mà Nho giáo cũng không được tiếp nhận ở khía cạnh nghi lễ tủn mủn, giáo điều khắc nghiệt. Đạo giáo hình như không có nhiều ảnh hưởng trong văn hóa như tư tưởng Lão – Trang thì lại ảnh hưởng nhiều đến lớp trí thức cao cấp, để lại dấu vết khá rõ trong văn học”.

          Tuy chưa có dịp phân tích kĩ trong bài viết này, song Trần Đình Hượu đã lưu ý rằng các học thuyết Nho – Phật – Đạo có vai trò, vị trí khác nhau đối với văn hóa Việt Nam; bản thân các tầng lớp xã hội khác nhau cũng tiếp nhận những giá trị văn hóa này không giống nhau. Và văn hóa Việt Nam cũng có sự lựa chọn, thanh lọc để tìm lấy những yếu tố thích hợp cho mình chứ không bê nguyên xi tất cả các học thuyết đó.

          Bài học rút ra từ giao lưu văn hóa trong quá khứ là: “Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hóa không chỉ trông cậy vào sự tạo tác của mình dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hóa những giá trị văn hóa bên ngoài. Về mặt đó, lịch sử chứng minh là dân tộc Việt Nam có bản lĩnh”. Vấn đề giao lưu văn hóa được tác giả đề cao, nhưng giao lưu không thể là hành động sao chép, trở thành bản phô tô cóp pi của văn hóa bên ngoài mà là “khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hóa” văn hóa bên ngoài. Khả năng ấy được tác giả gọi bằng khái niệm “bản lĩnh”. Bản lĩnh là sự tự tin, không kiêu căng mà cũng không tự ti, không coi thường giá trị văn hóa nhân loại nhưng cũng không choáng ngợp trước văn hóa bên ngoài, biết thâu tóm cái tinh hoa cần cho văn hóa dân tộc mình.

          Nhìn chung, bằng lố trình bày điềm tĩnh, nhẹ nhàng mà sâu sắc, ẩn chứa kiến thức uyên bác và nỗi niềm trăn trở suy tư cho đường đi của văn hóa dân tộc vào thời điểm mở đầu công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, Trần Đình Hượu đã phát biểu tư tưởng mới, thẳng thắn, có ý nghĩa xây dựng để tất cả người Việt Nam cùng suy nghĩ về vấn đề trọng đại này. Để kết thúc, có thể dẫn lời của Trần Ngọc Vương, một học trò gần gũi của nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu: “Là nhà nghiên cứu triết học và lịch sử tư tưởng, tự đòi hỏi phải xác lập cho mình thói quen tư duy mang tính lý thuyết liên tục, nhưng những kết quả cụ thể thể hiện trong các công trình, các bài viết chủ yếu của ông cũng thấm đẫm tinh thần phục vụ thực tiễn. Tuy nhiên, tính thực tiễn đó không thể được hiểu là sự bình tán dễ dãi hay sự minh họa, phụ họa cho những kết luận nào đó có sẵn, mà là những nỗ lực liên tục của lao động trí tuệ đặng tìm tới những kiến giải vì thực tế, mở đường cho việc nhận thức và chỉ đạo thực tế có hiệu quả hơn” (Nhiều tác giả, Chân dung một thế kỉ Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006).

 

 

0
phiếu
0đáp án
451 lượt xem

HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT

(Trích)

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.    Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

          Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) quê gốc ở Đà Nẵng, sinh tại huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ. Thuở nhỏ, Lưu Quang Vũ sống với gia đình tại chiến khu Việt Bắc; từ năm 1954, về Hà Nội sống và học tập. Năm 1965, Lưu Quang Vũ gia nhập quân đội, phục vụ trong Quân chủng Phòng không – Không quân; năm 1970 ra quân, làm nhiều nghề để mưu sinh nhưng hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực văn nghệ. Từ năm 1978 đến khi mất, là biên tập viên tạp chí Sân khấu. Lưu Quang Vũ qua đời cùng vợ và con trai trong một tai nạn giao thông thảm khốc, giữa lúc tài năng đang chín rộ.

Lưu Quang Vũ được đánh giá là một trong những nhà viết kịch tài năng nhất của văn nghệ Việt Nam hiện đại. Ông có công lớn góp phần vực dậy cả một nền sân khấu lúc đó đang có nguy cơ tụt hậu. Kịch của Lưu Quang Vũ hấp dẫn chủ yếu bằng xung đột trong cách sống và quan niệm sống, qua đó, khẳng định khát vọng hoàn thiện nhân cách con người.

          Hồn Trương Ba, da hàng thịt (viết năm 1981 nhưng đến 1984 mới ra mắt công chúng) là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ, đã công diễn nhiều lần trên sân khấu trong và ngoài nước.

2.    Về tích truyện

          Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt được tác giả Lưu Quang Vũ hoàn thành năm 1984, công diễn lần đầu năm 1987. Đây là vở kịch rất thành công, đã được Nhà hát kịch Việt Nam diễn khoảng 500 buổi, chưa kể các đoàn chèo, cải lương đã dàn dựng và diễn theo (theo Hồ Anh Thái, trong Lưu Quang Vũ – về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, 2007).

          Về tích truyện, trong văn học Việt Nam, có hai tích truyện về bi kịch hồn người nọ xác người kia. Trước hết là truyện dân gian Hồn Trương Ba, da hàng thịt và vở tuồng hài dân gian Trương Đồ Nhục. Nhưng nếu so sánh thì dấu ấn của Hồn Trương Ba, da hàng thịt là rõ hơn Trương Đồ Nhục. Tuy nhiên, Lưu Quang Vũ đã từ câu chuyện cũ nâng lên thành những vấn đề đầy tính triết lí về cuộc sống và giá trị mà các tích cũ chưa có được.

3.    Về cách đọc và giải thích Hồn Trương Ba, da hàng thịt

Trước hết cần xác định nội dung khái niệm hồn trong vở kịch này. Hồn có nhiều hàm nghĩa:

-     Linh hồn: tức phần quan trong nhất của một sự vật, quyết định sự sống của sự vật (mất hồn, hết hồn, hồn lìa khỏi xác là cách nói ám chỉ sự khống không còn). Theo nghĩa này, hồn vía có phần giống nhau, thường được ghép chung trong từ hồn vía. Nhìn chung, cách hiểu khái niệm “linh hồn” như là cách hiểu dân gian, có sắc thái tâm linh. Người xưa tin rằng hồn xác tách rời nhau, thể xác có thể mất đi nhưng linh hồn thì bất diệt, có thể tái sinh hết kiếp này sang kiếp khác – linh hồn là bất tử, có thể chiêu hồn, gọi hồn. Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ đã khai tác quan niệm truyền thống về hồn xác (vì lí do hiệp vần nên gọi là da) lấy đó làm điểm tựa để triển khai các triết lí.

-     Nhưng hồn còn có nghĩa là tâm hồn, tư tưởng và tình cảm của con người, phân biệt với thân xác. Trong lời đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt, hoặc với Đế Thích, hồn hàm nghĩa là tâm hồn, tư tưởng, cảm xúc, có lúc cụ thể hóa bằng những từ ngữ như xao xuyến, lâng lâng cảm xúc.

-     Là một vở kịch đa nghĩa, có những cách giải thích khác nhau đố với chủ đề của tác phẩm này (Theo Lưu Quang Vũ – Về tác gia và tác phẩm, sđd), có thể dẫn ra để tham khảo:

          + Tác phẩm nói về tấn bi kịch toàn nhân loại: “Mọi người từ Ngọc Hoàng đến anh hàng thịt không ai có được cái hồn của mình trong cái xác của mình. Mà hạnh phúc của con người lại khác: mình phải là chính mình” (Phan Ngọc).

          + “Không thể sống với bất cứ giá nào. Có những giá đắt quá, không thể trả được” – với những kết luận đắng chát như thế, hồn Trương Ba tự nguyện rút vào cõi hư vô… Trên thế giới này, nơi những con người hướng thiện là đau khổ, cô độc và thất bại, họ chỉ có thể trở về nơi cõi hư vô tịch diệt. Cái duy nhất mà họ có thể làm được, như Trương Ba của Lưu Quang Vũ làm, là trung thành đến cùng với bản chất của mình, giữ gìn cho bằng được, bằng giá của ngay sự sống, cái phẩm giá con người của mình” (Phạm Vĩnh Cư).

          + “Vở kịch không chỉ dừng nói đến sự hòa hợp và ý thức đạo lý về phần hồn và phần xác của con người mà còn đề cao cuộc đấu tranh cho sự hoàn thiện nhân cách con người… Những rắc rối đổ vỡ bắt nguồn tự sự sống vay mượn của Trương Ba trong xác anh hàng thịt đã khiến cho chúng ta thấy: Cuộc sống thật là đáng quý nhưng không phải sống thế nào cũng được. Cuộc sống chỉ có giá trị khi con người được sống đúng là mình, được sống trong một thế giới thống nhất” (Lưu Khánh Thơ).

          + “Ý nghĩa câu chuyện không được trình bày thẳng băng, cụ thể mà thông qua cuộc đấu tranh hết sức khốc liệt, phức tạp giữa phần hồn với phần xác; tác giả muốn đề cập đến vấn đề mang tầm khái quát cao đó là: sự tha hóa của con người tốt trong môi trường xấu” (Cao Minh)

          + “Linh hồn và thể xác là một thể thống nhất trong đó linh hồn giữ vị trí chủ đạo nên linh hồn phải chịu trách nhiệm cuối cùng về hành động của thể xác, không thể thỏa mãn mọi nhu cầu ở mọi mức độ, mọi nơi, mọi lúc rồi đổ trách nhiệm cho thể xác. Cuộc đấu tranh trong bản thân con người để làm chủ những nhu cầu và ham muốn, nhất là khi bị hoàn cảnh tác động. Ở đây, cuộc đấu tranh này cũng cảnh báo khả năng lấn át của thể xác, của những nhu cầu tầm thường đối với linh hồn tức là đối với khát vọng sống cao khiết” (Đặng Hiển).

          + “Nghĩa tự nó của Hồn Trương Ba, da hàng thịt là nghĩa mà lâu nay các thế hệ lĩnh hội từ câu chuyện: sự hòa hợp và ý thức đạo lí về phần hồn và phần xác của con người. Còn nghĩa cho nó là cuộc đấu tranh cho sự hoàn thiện nhân cách con người mà chúng ta đang tiến hành hiện nay theo đòi hỏi không chỉ của ý thức đạo lý mà còn của chính nhu cầu tồn tại của con người, là quan niệm nhân sinh trong môi trường đạo đức xã hội mới” (Phan Trọng Thưởng).

II-   PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

          Đối với một văn bản tác phẩm kịch thì cách phân tích thuận tiện hơn cả là phân tích các đối thoại, xung đột giữa các nhân vật. Sự tồn tại của các nhân vật trong kịch là tồn tại thông qua các đoạn đối thoại. Giữa các màn đối thoại có sự gắn kết logic khá chặt chẽ. Màn đối thoại này bổ sung cho màn đối thoại kia, đem lại tầng triết lí khác nhau cho vở kịch.

a) Đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt

          Đây là đoạn có màu sắc kịch phi lí, vì thực tế không thể có cuộc trò chuyện giữa hồn và xác. Nhưng hình thức phi lí đã chuyển tải triết lí mà tác giả muốn gửi gắm.

          Một cuộc tranh luận giữa hồn và xác xem ai có vai trò lớn hơn, quan trọng hơn. Hồn có xuất phát điểm đầy tự tin về tầm quan trọng của mình

          Thân xác cho rằng mình cũng có tầm quan trọng, mặc dù thân xác rất khiêm tốn, luôn gọi hồn là ông trong khi hồn lại chỉ dùng từ mày đầy miệt thị. Một đặc điểm nữa của cuộc đối thoại là hồn luôn nêu vấn đề trước, gây hấn trước và xác chỉ trả lời hay phản biện lại luận điểm của hồn.

Hồn: “Cái thân thể kềnh càng thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc!”.

Xác: “Cái linh hồn mờ nhạt của ông Trương Ba khốn khổ kia ơi, ông không tách ra khỏi tôi được đâu, dù tôi chỉ là thân xác…”.

Hồn: “Mày không có tiếng nói, mày chỉ là xác thịt âm u đui mù…”.

Xác: “Xác thịt này có tiếng nói đấy! Ông đã biết tiếng nói của tôi rồi, dã luôn bị tiếng nói ấy sai khiến…”.

          Thực ra, qua cuộc đối thoại dài và rất căng thẳng ấy, ta thấy rõ cả hồn và xác chỉ là hai phương tiện của một con người, một nhân cách. Xác hàng thịt đã có lí lẽ của nó: “tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực” khi bên cạnh một người phụ nữ là cách xác diễn đạt sự xao xuyến của hồn hay khi hồn Trương Ba tát thằng con tóe máu mồm thì tức là cơn giận (một trạng thái cảm xúc) đã được xác hiện thực hóa. Nghĩa là những rung động của cảm xúc phải được thể hiện qua thân xác, còn thân xác có vai trò chuyển tải cảm xúc.

Hồn: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn…”.

Xác: “Nực cười thật! Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi, mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn!”.

Bất cứ hành động nào cũng xuất phát từ ý muốn, dục vọng từ hồn (ta gọi là động cơ) nhưng thân xác thực hiện ý muốn đó, dẫu chỉ từ một ánh mắt, một nụ cười. Cái cảm xúc được thể hiện thông qua các giác quan, tức thân thể. Xác nói: “Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi” và tuyên bố một chân lý: “chúng ta tuy hai mà một”.

          Xác cũng nêu những bằng chứng cho thấy sự gắn kết qua lại của thân xác và linh hồn (hay là thân xác và tâm lý): khi muốn hành hạ tâm hồn con người, người ta xúc phạm thể xác. Xác đã phê phán chủ trương của giới trí thức đề cao tâm hồn, coi thường sự tồn tại của thân xác mà bỏ bê thân xác họ khổ sở nhếch nhác. (Các tôn giáothường tuyên truyền lối sống khắc kỷ, coi thường nhu cầu vật chất, coi thường, khinh miệt bản năng tính dục… tức là coi thường thân xác). Không thể coi cái nào quan trọng hơn cái nào giữa phần hồn và thể xác. Đó là một quan niệm hiện đại, đúng đắn. Vấn đề không phải là tuyên truyền sự khắc kỉ mà là chú ý đến nhu cầu của thể xác. Nghe qua có cảm tưởng phàm tục song có lý: “Mỗi bữa tôi thèm ăn tam, chín bát cơm, tôi thèm ăn thịt, hỏi có gì là tội lỗi nào? Lỗi là ở chỗ không có đủ tám, chín bát cơm cho tôi ăn chứ!”.

          Trong cuộc tranh luận, dần dần hồn đuối lý, lý lẽ càng kém sắc sảo và trở nên ấp úng. Vì đuối lý nên các phản ứng của hồn ngày càng yếu ớt, thậm chí chỉ biết “nhưng…nhưng” và “lý lẽ của anh thật đê tiện” rồi kêu trời. Một tầng nghĩa của vở kịch đa nghĩa này là chúng ta cần tôn trọng cả thân xác. Thân xác là một phương diện không thể thiếu được của nhân cách con người. Điều này chính Đế Thích cũng sẽ nói “Ra khỏi thân xác, hồn chẳng còn cái gì nữa”.

          Nhưng màn đối thoại cũng cho thấy sự bế tắc của cuộc tranh luận. Sự gắn bó giữa hồn và xác là quan trọng nhưng không thể theo cách lấy xác của người này ghép vào hồn người khác. Mỗi con người là một thực thể riêng biệt, không lặp lại. Khi xác hàng thịt kêu gọi hồn Trương Ba “phải sống hòa thuận với nhau” tức là kêu gọi một sự gán ghép khiên cưỡng, bất hợp lý. Vở kịch có nhiều tầng nghĩa đan xen nhau.

b) Đối thoại giữa hồn Trương Ba với người thân

          Hồn Trương Ba đối thoại với vợ, con gái, con dâu. Các kiểu phản ứng khác nhau cảu người thân Trương Ba vì hồn và thân xác không phải là củ một người cho thấy ông gặp phiền toái và rắc rối như thế nào.

           hiểu nhầm chồng, người vợ nói muốn đi khỏi nhà “để ông được thảnh thơi với cô vợ người hàng thịt”.

          Đứa cháu tên Gái không công nhận ông vì ông đã trở thành một người vụng về, thô lỗ, phũ phàng. Bàn tay của người hàng thịt không thể khéo léo như của Trương Ba được nên hễ động vào cây cối trong vườn là làm gãy, nát; chữa diều cho cu Tị thì gãy nan, rách giấy. Cái Gái mắng ông là “đồ tể”.

Trong cuộc đối thoại, có lẽ người con dâu là nói những điều triết lý hơn cả. “Thầy bảo con: Cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nỗi có lúc chính con cũng không nhận ra…”. Vậy là không phải chỉ có cái bên trong mới là quan trọng duy nhất. Việc đề cao thiên lệch một trong hai yếu tố hồn hay xác đều bất ổn. Nhưng thân xác phải thống nhất, hài hòa với hồn. Trương Ba đã đau đớn nhận ra rằng ảo tưởng về sự không quan trọng của thân xác đã dẫn đến sai lầm, thân xác của người hàng thịt không hòa hợp với hồn của lão dẫn tới bao nhiêu phiền toái. Bắt đầu có ý nghĩa triết lý: hồn không cần cái đời sống do thân xác xa lạ mang lại. Chuyện chuyển sang cuộc đối thoại với Đế Thích.

c)    Đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích

          Sự xuất hiện của Đế Thích đúng lúc Trương Ba đã nhận thấy đã đến lúc không thể chấp nhận được sự sống do một thân xác xa lạ đem lại.

Hồn Trương Ba: “không thể bên trong một đằng, bên ngoài môt nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Khát vọng vủa Trương Ba lại đề cập đến một tầng sâu triết lý khác, phản đối sự phân vân, sự nước đôi, hay nói đúng ra là sự giả dối, bên trong thế này, bên ngoài thế khác.

Đế Thích: “Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay cả tôi đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sông theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên bầu trời đều như thế cả, nữa là ông?”. Đế Thích đã đề cập đến một bi kịch có tính phổ biến của nhân loại, ngay cả Ngọc Hoàng thượng đế là đấng tối cao cũng nhiều khi không thể là chính mình, cũng phải khuôn theo một danh vị nào đó chứ không phải là chính mình. Đó là bi kịch của sự phân thân, thực chất là giả dối. Tầng triết lý mới lại đã được mở ra.

          Cuộc đối thoại tiếp tục đào sâu vào triết lý. Hồn Trương Ba yêu cầu Đế Thích trả lại sự sống cho người hàng thịt. Bản thân hồn Trương Ba sẵn sàng trả lại thân thể cho anh hàng thịt: “Thân thể anh hàng thịt còn lành lặn nguyên xi đây, tôi trả lại cho anh ta. Ông hãy làm cho hồn anh ta được sống lại với thân xác này”. Bởi vì theo hồn Trương Ba, tâm hồn của anh hàng thịt tuy tầm thường nhưng “đúng là của anh ta, sẽ sống hòa thuận được với thân anh ta, chúng sinh ra để sống với nhau”. Hãy đẻ cho con người là chính mình.

          Với kinh nghiệm và nhận thức như thế, khi Đế Thích gợi ý để hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị, hồn Trương Ba đã cân nhắc, suy nghĩ kỹ, và đã từ chối. “Bao nhiêu sự rắc rối. Bà vợ tôi, các con tôi sẽ nghĩ ngợi, xử sự thế nào, khi chồng mình, bố mình mang thân một thằng bé lên 10? Làm trẻ con không phải dễ!”. Hồn Trương Ba lường trước nhiều sự cố bất tiện, nào là cu Tị bỗng thành ông nội, rồi ông sẽ sống dai hơn tất cả vợ, bạn bè cùng lứa, sẽ lạc vào đám hậu sinh bất đồng với thế hệ ông về sở thích… Hồn Trương Ba không muốn vì sự sống trái với quy luật sinh tử ở đời. Ông từ chối không nhập vào xác cu Tị vừa mới chết, ông xin Đế Thích giúp cho cu Tị sống lại. Đồng thời ông nói “Tôi không muốn nhập vào hình thù ai nữa! Tôi đã chết rồi, hãy để tôi chết hẳn”. Sống, chết theo quy luật của tự nhiên cuối cùng lại là một chân lý sau một hồi tranh luận. Sự sống bao giờ cũng là đáng quý, nhưng sống theo đúng quy luật, sống là chính mình, không phân tâm, giả dối mới đáng sống.

          Có thể nói đoạn đối thoại giữa hồn Trương Ba với Đế Thích hàm chứa nhiều triết lý quan trọng của vở kịch. Đế Thích nói việc Trương Ba chết là một nhầm lẫn của quan thiên đình. Cái sai ấy được sửa chữa bằng cách làm cho hồn Trương Ba được sống. Nhưng hồn Trương Ba nói: “Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù lại bằng một việc đúng khác”. Đây là một triết lý quan trọng, nhưng cũng là cách nhìn vấn đề thân xác – tâm hồn ở khía cạnh khác. Đó là giây phút xuất thần. Hồn Trương Ba đã thấy rõ việc sống lại bằng cách nhập vào thân xác hàng thịt là một sai lầm lớn của Đế Thích và cả của ông nữa. Để sửa chữa, một là hãy để cho cu Tị sống lại, hai là để cho ông chết hẳn. Hồn Trương Ba thấy mình thanh thản, nhẹ nhàng, thấy mình chính là mình: “Không thể sống với bất cứ giá nào… Có những cái giá quá đắt, không thể trả được… Lạ thật, từ lúc tôi có đủ can đảm đi đến quyết định này, tôi bỗng cảm thấy mình lại là Trương Ba thật, tâm hồn tôi lại trở lại thanh thản, trong sáng như xưa…”.

          Ai cũng muốn sống, nhưng sống giả tạo, phân vân, sống mà không là chính mình thì vô cùng đau khổ. Hồn Trương Ba: “Ông tưởng tôi không ham sống hay sao? Nhưng sống thế này, còn khổ hơn là cái chết”. Đế Thích viện dẫn tình cảm riêng tư (sống để chơi cờ) để thuyết phục hồn Trương Ba, nhưng nhận được câu trả lời: “Vì để chứng minh ông tồn tại mà tôi cứ phải tiếp tục cuộc sống không phải là tôi ư?”. Những câu đối thoại dần dần làm sáng tỏ tư tưởng quan trọng là cần sống với chính mình, không giả dối, phân thân; tâm hồn, tư tưởng, tình cảm phải thống nhất với thân xác. Trương Ba đã lìa đời để chấm dứt cuộc sống giả tạo, phân thân.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

          Nhìn chung, trong cảnh VII, chúng ta đã thấy được phong cách kịch của Lưu Quang Vũ. Từ một câu chuyện dân gian, nhà văn đã khai thác, phát triển để nêu nhiều vấn đề quan trọng của con người trong thời hiện đại. Có nhiều tầng triết lý khác nhau đan xen rất thú vị trong cảnh này, đến nỗi người xem có quyền tiếp nhận các triết lý ấy tùy theo góc độ quan tâm của bản thân. Quá tình tạo nghĩa cho văn bản vẫn tiếp tục sau khi nó được công bố.

          Tuy nhiên từ văn bản, các cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt, với người thân và với Đế Thích, dễ thấy có một triết lý quan trọng được quan tâm: hồn và xác là hai thực thể quan trọng làm nên nhân cách con người. Để là chính mình, để không giả dối và phân thân, cần có cuộc sống hài hòa cả thân xác lẫn tâm hồn. Vở kịch từ ý nghĩa đó, buộc chúng ta suy nghĩ, đấu tranh chống lại sự giả dối vẫn tồn tại, hoặc là làm ra vẻ khinh miệt thân xác, coi thường nhu cầu vật chất, coi thường đời sống bản năng nhưng thực chất che giấu bên trong những dục vọng tầm thường; hoặc là sống buông thả theo bản năng tham muốn vật chất, thiếu lí trí tỉnh táo. Tác phẩm buộc người đọc (người xem) phải suy nghĩ để sống tốt hơn. Đó là ý nghĩa nhân văn sâu sắc của vở kịch.

 

0
phiếu
0đáp án
537 lượt xem

NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.  Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

          Nguyễn Thi (1928 – 1968) tên khai sinh là Nguyễn Hoàng Ca, quê ở xã Quần Phương Thượng (nay là xã Hải Anh), huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng. Cha và mẹ Nguyễn Thi đã hoạt động cách mạng vào những năm 30 của thế kỷ XX và gia đình ông là cơ sở cách mạng. Mồ côi cha từ năm mười tuổi, mẹ đi bước nữa, Nguyễn Thi chịu nhiều vất vả, tủi nhục từ thuở ấu thơ.

          Tuy sinh ra ở đất Bắc, nhưng Nguyễn Thi đặc biệt gắn bó với nhân dân miền Nam bằng một tình cảm ân nghĩa thủy chung mà ông muốn gửi vào từng trang viết của mình. Ông được trân trọng coi là nhà văn của những người nông dân Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước ác liệt.

Nguyễn Thi là một nhà văn – chiến sĩ mà cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo văn chương là một tấm gương sáng cho thế hệ nhà văn từng trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Những đứa con trong gia đình được Nguyễn Thi viết ngay trong những ngày chiến đáu ác liệt khi ông công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.

2.  Hình tượng người mẹ trong truyện Những đứa con trong gia đình

          Các sáng tác văn học của Nguyễn Thi tập trung phản ánh hiện thực đấu tranh dữ dội, quyết liệt của người nông dân Nam Bộ chống đế quốc Mĩ xâm lược và tay sai, giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Nhà văn đã diễn tả thành công những vẻ đẹp của người nông dân Nam Bộ bộc lộ trong hiện thực đấu tranh cách mạng này, những vẻ đẹp mà trong đời thường ta có thể không chú ý: Tình yêu quê hương đất nước, sự căm thù giặc sâu sắc, tinh thần hi sinh, xả thân vì sự nghiệp chiến đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

          Người mẹ có một ảnh hưởng rất sâu đậm đến tư tưởng, tình cảm của chị em Chiến, Việt . “Cuốn sổ gia đình” mà chú Năm giữ có những nội dung không được trích nhưng nếu ta biết thì việc phân tích đoạn trích sẽ thuật lợi hơn. Đây là loại sử biên niên của gia đình, một nửa của cuốn sử biên niên đó ghi lại những đau thương, tổn thất do kẻ thù của đất nước gây ra cho gia đình này: “Thím Năm bơi xuồng đi rọc lá chuối bị càng –nông Mỏ Cày bắn bể xuồng, chết còn mặc cái quần mới, trong túi còn hia đồng bạc. Ông nội nghe súng nổ, sợ bò đứt dây ra nắm giàm bò, lính tổng Phòng vào nói: “Mày là du kích!” rồi bắn vào giữa bụng ông nội…”. Một lối chép sử biên niên gia đình thật nôm na, đơn giản mà sức tố cáo thật lớn lao. Tội ác của kẻ thù để lại dấu ấn sâu đậm trong trang sử của đại gia đình. Ông, bà, cô, bác, cha, mẹ của Việt và Chiến bị kẻ thù giết hại hoặc lăng nhục. Cha họ bị giặc Pháp chặt dầu. Má trúng đạn pháo giặc Mĩ khi bà đi đấu tranh ở Mỏ Cày về bị giặc bắn đuổi theo. Mối thù sâu nặng, chông chất cần được trả, đó là ý nghĩa đầu tiên mà “cuốn sổ gia đình” của chú Năm nhắn gửi cho những đứa con của gia đình. Phần khác của cuốn sổ đó ghi lại “một số công tác của gia đình”. Đây không phải một gia đình nạn nhân, đây là gia đình có truyền thống đấu tranh cách mạng. “Ông nội đi đóng đáy ở sông Bình Khánh có mò được hai cây mút mát dưới tàu chìm… Thằng Hai, con chú Năm, đi về phép, lúc gian lộ Giồng Trôm, thấy cốt Ngã Ba, liền bò vào đặt trái, lấy cốt xong, bó năm cây súng vác về xã nhà… Những bản lĩnh và phẩm chất của Việt và Chiến được gieo mầm trên một mảnh đất màu mỡ của một truyền thống gia đình giàu lòng yêu nước, căm thù giặc. Trong cuốn biên niên ấy của gia đình, hai chị em Chiến và Việt đã kịp ghi được một chiến công đầu.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.  Phân tích theo nhân vật

a) Nhân vật Chiến

          Chiến là cô gái có những nét ngoại hình và tính cách giống hệt mẹ. Cũng một vóc dáng chắc nịch đủ sức để vượt qua mọi gian khổ như má. Đây là cảnh hia chị em khiêng bàn thờ má sang gửi bên nhà chú Năm: “Chị Chiến ra đứng giữa sân, kéo cái khăn trên cổ xuống, cũng xắn tay áo để lộ hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng, rồi dang cả thân người to và chắc nịch của mình nhắc bổng một đầu bàn thờ má lên”. Mẹ mất, Chiến dù hơn em trai có một tuổi nhưng đã tỏ rõ sự già dặn, khôn ngoan, biết lo toan cho gia đình. Khi hai chị em chuẩn bị tòng quân, những xếp đặt của Chiến về nhà cửa cho thấy cô thực sự đã là một người lớn, chín chắn, biết suy nghĩ, chỉ có một điều nữa là giống hệt má “phải chị thở dài rồi kêu thằng út dậy đi đái nữa thì giống hệt như má vậy”. Chiến thao thức không ngủ được. Má dường như đêm nay cũng theo ánh đom đóm về nhà ngó coi hai chị em tính toán việc nhà ra sao trước giờ lên đường tòng quân. Suy nghĩ về hành động của Chiến bộc lộ nét đẹp của con người vì cộng đồng. Khi hai chị em chuẩn bị đi tòng quân, Chiến bàn với Việt để nhà cho “xã mượn mở trường học”, “giường ván cũng cho xã mượn làm ghế học”, ruộng đất do cách mạng cấp trao lại chi bộ để chia cho bà con cô bác khác làm. Chuyện công và chuyện tư đều được Chiến tính toán thấu đáo. Các dụng cụ gia đình như chén, cuốc, vá, đèn soi, nơm gửi chú Năm để chị Hai muốn lấy gì thì lấy, hai công mía do họ trồng nhờ chú Năm đốn để giành làm giỗ má. Hai chị em không muốn làm phiền chú Năm và chị Hai. Bàn thờ gửi chú Năm. Cuộc sống thiếu mẹ đã tôi luyện Chiến già dặn, chắc chắn. Nhưng Chiến không tỏ ra gia trưởn. Chiến bàn bạc với Việt tất cả những gì cần làm. Những cử chỉ, lời nó của Chiến khiến cho  “Việt thấy thương chị lạ”.

          Về chuyện hai chị em sắp vào bộ đội, có hai việc mà Chiến không nhường em. Thông thường ganh đua, không nhường nhịn là do ích kỷ, nhất là chị em ganh đua. Nhưng việc Chiến không nhường em lại hàm chứa một động cơ rất trong sáng, cao thượng. Một là hai chị em đều đấu tranh nhau đi bộ đội, trong lúc Năm quyết định thu xếp việc nhà cho cả hai chị em tòng quân. Hai là, chị không chịu thua em Việt về khí phách:

“ – chú Năm nói mầy với tao đi kì này là ra chân trời mặt biển, xa nhà thì ráng học chúng học bạn, thù cha mẹ chưa trả mà bỏ về là chú chặt đầu.

Việt lăn kềnh ra ván cười khì khì:

-     Chị có bị chặt đầu thì chặt chớ chùng nào tôi mới bị.

-     Tao thưa với chú Năm rồi, đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”.

          Cách nói khiến Việt phải chịu là chị nói “in như má”.

          Nhân vật Chiến là mẫu nhân vật tiêu biểu cho thời kỳ kháng chiến chống Mĩ. Lẽ ra, Chiến cũng như bao thiếu nữ khác được học hành, được sống trong tình thương yêu của gia đình, người thân. Như thế hệ Chiến mang nặng mối thù nhà, nợ nước, không thể không tòng quân giết giặc. Tình hình lịch sử của mẫu hình nhân vật cần được chú ý để thấy hết vẻ đẹp tinh thần cũng như những hi sinh cao cả của thế hệ ấy.

b)        Nhân vật Việt

          Việt là cậu con trai mới lớn, có những vẻ đẹp riêng của chàng trai Nam Bộ. Mang nặng mối thù nhà, Việt khao khát được tòng quân đánh Mĩ trả thù nhà. Chị Chiến muốn đi tòng quân, chư cho Việt đi đợt này mà qua năm sau hãy đi vì “mày còn nhỏ” thì Việt “đá trái dừa rụng dưới chân xuống mương cái đùng”, nói “bộ mình chị biết đi trả thù à?”. Chi tiết đá dừa nói nhiều về tính cách mạnh mẽ, cương quyết của Việt.

          Trong đêm mít tinh, thanh niên ghi tên tòng quân, hai chị em giành nhau chạy lên gặp anh cán bộ huyện đội. Việt tranh nói trước chị Chiến, xin đi bộ đội. Qua lời Chiến, ta hiểu giữa hia chị em đã có sự bàn bạc để chị đi trước mà Việt không chịu. Chỉ khi chú Năm xin cho cả hia chị em cùng đi thì anh cán bộ huyện đội mới ghi tên cả hai. Chú ý chi tiết: “Đêm ấy thanh niên ghi tên tòng quân đông lắm”. Có thể có một nghĩa tiềm ẩn: hai chị em đều giành nhau đi bộ đội đã cổ vũ nhiều thanh niên khác ghi tên.

Chi tiết Việt lăn kềnh ra ván, cười khì khì khi chị Chiến giao hẹn thù cha mẹ chưa trả mà bỏ về là chú Năm chặt đầu. Việt nói: “Chị có bị chặt đầu thì chặt chớ chừng nào tôi mới bị”. Cach nói có vẻ rờn rợn, nhưng thể hiện rất đúng khí phách, bản lĩnh của chàng trai, cô gái đi đánh Mĩ hồi đó.

          Việt vẫn có những nét của tuổi hồn nhiên nên cậu vô tư hơn, ít suy nghĩ hơn chị. Cậu nói “má dặn chị làm sao, giờ chị cứ làm như vậy”, nói vài câu rồi “ngủ quên lúc nào không biết”. Nhưng từ trong sâu thẳm tâm hồn mình, cậu con trai đó “thấy thương chị lạ”. Có điều, là con trai, sự thể hiện tính cách khác người chị. Chi tiết hai chị em Việt hứa khi đưa bàn thờ má qua nhà chú Năm trước buổi tòng quân nhập ngũ: “Đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa ba má về” có ý nghĩa tượng trưng. Đối với người Việt Nam, việc chuyển bàn thờ má thật thành kính và thiêng liêng. Ý nghĩa của việc hai đứa con sắp ra đi vô cùng trọng đại. Độc lập dân tộc và hạnh phúc của từng gia đình không tách rời. Hai chị em có những nét khác nhau nhưng mẫu số chung của họ là truyền thống gia đình, là lòng căm thù quân xâm lược.

c)         Nhân vật chú Năm

          Đây cũng là một hình tượng đẹp, có ý nghĩa tượng trưng về truyền thống gia đình. Đây là một người đàn ông Nam Bộ, tính cách mạnh mẽ, phóng khoáng, quyết đoán. Chú bước lên xin cho ghi tên cả hai chị em Chiến và Việt, nói “Việc lớn ta tính toán theo việc lớn, còn việc thỏn mỏn trong nhà tôi thu xếp khắc xong”.

          Tuy chú Năm đã già nhưng vẫn làm những việc có ý nghĩa nhắc nhở, khích lệ các cháu. Chú lập cuốn sổ gia đình, chơ cho hai cháu khôn lớn, trao cuốn sổ thiêng liêng này ở thời điểm hai cháu sắp lên đường tòng quân như là cử chỉ ghi nhận sự trưởng thành cảu hai  đứa cháu. Chú hứa “tao sẽ ghi cho hai đứa bây từng ngày” – ghi đây là ghi những thành tích, những chiến công. Chú bảo “con nít chúng bây kì đánh giặc này khôn hơn chú hồi trước”. Và chú hay cất giọng hò, không phải vì chú có giọng hò hay mà chú hò để gửi gắm tâm tình, ước mơ của chú, để nhắn nhủ các cháu. Chú Năm là biểu tượng cho truyền thống gia đình, là lời nhắn nhủ của cha chú cho các cháu về cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc và hạnh phúc gia đình.

          Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình đã góp phần lý giải sức mạnh chiến thắng của những người lính giải phóng từ góc độ truyền thống gia đình. Gia địnhlà một hình ảnh thu nhỏ của cả xã hội, đất nước. Sức sống bất diệt, sức mạnh chiến thắng bắt nguồn từ truyền thống yêu nước quật cường được cá thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau. Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn lại chọn lối viết giống như tiểu thuyết của dòng ý thức, để cho Việt, sau khi lập chiến công bị thương, trong lúc mê lúc tỉnh đã “nhìn” thấy những người thân trong gia đình. Những hình ảnh người thân ấy là nguồn năng lượng tiếp sức của Việt, mặc dù bị thương nặng anh đã trụ được suốt ba ngày cho tới lúc gặp lại được đồng đội, trong suốt ba ngày đó anh luôn luôn trong tư thế sẵn sàng bắn nếu gặp địch.

d)       Nhân vật người má của Việt

          Nhân vật người má của Việt hiện thân cho truyền thống gia đình. Trong các tác phẩm của Nguyễn Thi, hình tượng người má, người mẹ mang đậm chất Nam Bộ bao giờ cũng gợi cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ nhất cho ông. Họ là một nguồn sinh lực dồi dào, họ sinh ra những đứa con để nối tiếp truyền thống gia đình để các con noi theo. Họ cso thể ngã xuongs vì bom đạn kẻ tù, nhưng họ sẽ tái sinh trong máu thịt và sống lại trong cuộc đời của những đứa con. Họ bất tử. má của Việt và Chiến trong thiên truyện này là người như vậy. Trước khi nhập ngũ, Chiến và Việt ddeuf cảm thấy má trở về ngồi đó.

2.  Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Thi

a)  Dòng ý thức

          Câu chuyện được kể lại qua dòng ý thức của Việt, khi tỉnh khi mê man ở chiến trường, sua khi chiến đấu bị thương. Dòng liên tưởng của nhân vật cho phép câu chuyện được kể không phụ thuộc vào tiến trình thời gian sự kiện, không đòi hỏi kể theo trật tự trước sau của sự kiện mà có thể đạo lộn trật trự sự kiện theo đúng quy luật tâm lý. Thủ pháp “dòng ý thức”: Câu chuyền về gia đình, về những đứa con trong gia đình được nhà văn kể lại thông qua tia hồi quang ký ức vọng đến từ quá khứ trong tâm trí cảu Việt khi cậu bị thương nặng, mất máu, kiệt sức, lúc mê lúc tỉnh. Việt không hồi tưởng vì lúc này không còn sức mà động não, mà nhớ lại nữa, các ký ức tiềm ẩn tự chúng vọt sống dậy, trở về trong trí óc anh một cách vô thức. Lúc tỉnh, Việt nhớ đến thực tại chiến trường, cậu lo chuẩn bị đánh địch nếu bị phát hiện, rồi lại mê man, kí ức hiện về. “Việt tỉnh dậy lần thứ tư, trong đầu còn thoáng qua hình ảnh của người mẹ. Đêm nữa lại đến. Đêm sâu thăm thẳm, bắt đầu từ tiếng dế gáy u u cáo vút mãi lên. Người Việt như đang tan ra nhè nhẹ. Ước gì bây giờ lại được gặp má. Phải, ví như má đang bơi xuồng, má sẽ ghé lại, xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy […]. Nhưng mấy giọt mưa lất phất trên cổ làm Việt choàng tỉnh hẳn”.

          Thủ pháp dẫn chuyện này tạo cho nhà văn khả năng to lớn trong việc lựa chọn những sự việc, tình tiết, chi tiết cần thiết nhất mà không bị ràng buộc bởi trật tự thời gian, không gian. Mặt khác, những ký ức sống dậy trong các cơn mê (trạng thái vô thức) cho thây chiều sâu của tính cách nhân vật, cho thấy sự gắn bó sâu sắc của nhân vật với quê hương, với gia đình, do đó góp phần lý giải sức mạnh tinh thần to lớn giúp Việt vượt qua cái chết để tồn tại cho đến lúc gặp đồng đội, tức là lý giải nguồn gốc của sức mạnh đã đem lại chiến thắng của cuộc chiến đấu chống Mĩ. Hình ảnh má phảng phất hiện về trong trạng thái mê tỉnh chập chờn cho thấy má là người thân yêu nhất, là nỗi niềm thiêng liêng nhất của Việt. Hình ảnh chị Chiến hay chú Năm hiện ra gắn liền với cảnh hia chị em giành nhau đi bộ đội cho thấy đó là sự kiện quan trọng nhất, kỉ niệm sâu sắc nhất của Việt. Từ đó, những vấn đề lớn của thời đại được thể hiện.

b) Bút pháp hiện thực

          Nguyễn Thi miêu tả cuộc sống trong những hình thái của bản thân đời sống. Nhà văn không né tránh kể cả những mảng hiện thực dữ dội nhất. Cuộc sống, cuộc đấu tranh thật vô cùng quyết liệt, chi tiết ba của Việt bị Tây chặt đầu mà bà má tay bế con, tay cầm rổ chạy theo đòi giặc trả đầu ba cho kì được, về một mặt nào đó có phần rùng rợn nhưng là một chi tiết điển hình . Thực tế là như vậy và có ghi nhận thì mới hiểu được sức mạnh căm thù quân cướp nước ở người dân Nam Bộ.

Tuy vậy, nhà văn tôn trọng hiện thực mà không sao chép hiện thực. Ông biết chọn lọc những chi tiết có sức thể hiện mà lý luận văn học gọi là chi tiết điển hình. Cảnh hia chị em Chiến, Việt chuyển bàn thờ mẹ qua gửi chú Năm có giá trị biểu đạt cao. Người Việt Nam theo đạo thờ ông bà, cha mẹ và với họ bàn thờ cha mẹ, tổ tien là linh thiêng nhất. Quê hương, đất nước, Tổ quốc trước hết thể hiện nơi bàn thờ. Khi khiêng bàn thờ, Việt mới thấy rõ lòng mình và mối thù giặc Mĩ cậu cảm thấy có thể rờ thấy được.

          Những đứa con trong gia đình là một bức tranh hiện thực, sinh động về cuộc sống của con người Nam Bộ. Đặc biệt phải nói đến ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật giàu tính hiện thực, đậm màu sắc dân gian Nam Bộ đã góp phần xây dựng những chân dung thực về người dân Nam Bộ. Nhà văn dùng ngôn ngữ dân gian để thuật chuyện, gọn gàng, giản dị, chắc nịch, thiên về mô tả hành động. Ngôn ngữ nhân vật đậm màu sắc dân gian, thể hiện tính cách con người Nam Bộ. Lời lẽ của chú Năm bao giờ cũng thể hiện sự khoáng đạt, mạnh mẽ, dứt khoát của chú, một người đã trải nghề sông nước, tâm hồn mở rộng trong không gian bao la của Nam Bộ. Một khi chú đã nhận việc gì về phần mình, chú đều coi việc đó là “thỏn mỏn”, chú không nghĩ đó là việc lớn lao, trọng đại. Ngôn ngữ đối thoại của má Việt thường đanh gọn, dứt khoát. Ngôn ngữ của Chiến, Việt cũng giống như ngôn ngữ của mẹ, thường ngắn gọn, đi vào thực chất câu chuyện mà không vòng vo, không lý sự, ít triết lý. Bản ính của họ là nông dân nên ở họ hành động nhiều hơn là triết luận.

          Những đứa con trong gia đình là một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Thi. Bằng một phong cách nghệ thuật riêng, nhà văn đã góp phần khám phá vẻ đẹp của người nông dân Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, khám phá cội nguồn của sức mạnh chiến thắng của nhân dân ta. Qua một giọt nước, thấy được biển cả. Gia đình Việt, Chiến là hình ảnh thu nhỏ của miền Nam trong những năm tháng đánh Mĩ. Ở gia đình ấy, dấu ấn tội ác do giặc Pháp – Mĩ gây ra đã hằn sâu vào cuốn sổ gia đình. Những gia đình ấy, truyền thống đánh giặc cũng chói lọi, rực rỡ. Câu chuyện gia đình là câu chuyện của cả nước, cả toàn dân tộc.

 

0
phiếu
0đáp án
695 lượt xem

VỢ NHẶT

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Kim Lân (1920 – 2007) tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình nghèo khó, ông chỉ được học hết bậc Tiểu học rồi phỉa vừa đi làm thợ kiếm sống vừa viết văn.

Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc tỏ ra rất am hiểu về nông thôn và người nông dân.

Vợ nhặt được viết sau Cách mạng tháng Tám, là một chương viết lại của truyện Xóm ngụ cư. Nạn đói mà tác phẩm miêu tả là nạn đói lớn nhất của dân tộc ta trong thế kỷ XX xảy ra vào đầu năm 1945 do Nhật – Pháp gây ra. Đã có đến hơn 2 treeiuj người bị chết trong nạn đói này. Những nhân vật và chuyện đói đều được gợi ý từ thực tế mà nhà văn quan sát và có hư cấu thêm. Theo lời nhà văn Kim Lân, “khi viết về cái đói, thường mọi người có ý nghĩ là khi đói người ta cực khổ và chỉ muốn chết. Tôi định viết một số truyện ngắn nhưng ý khác là khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người. Lúc đói người ta phải kiếm sống, thậm chí nhặt rác rưởi, nhặt ốc, nhặt chuột, ăn uống một cách thê thảm nhưng đến tối họ vẫn có một gia đình, gia đình nào về gia đình ấy, vẫn hi vọng một điều gì. Họ vẫn trò chuyện về đồng áng, giỗ chạp, những chuyện hướng về một cái gì là sự sống, đói nhưng không làm cho người ta đen tối, mất hi vọng dù phải cướp cám mà ăn”.

2. Kim Lân nói về tác phẩm Vợ nhặt

Cũng thoe lời Kim Lân nói về Vợ nhặt, “nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cảnh chết. Bóng tối của nó phủ xuống mọi làng. Trong hoàn cảnh ấy giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo chỉ nhờ mấy bát bánh đúc ngoài chợ - đúng là nhặt được vợ như tôi nói trong truyện”.

Về mĩ học của truyện, cần chú ý đến sự kết hợp giữa cái bi và cái hài như là một nhân tố giúp cho câu chuyện về cái đói giảm bớt chất bi thảm, căng thẳng. Đúng như tác giả nói, dù sao con người vẫn có hy vọng vào tương lai.

Về kỹ thuật kể chuyện trong Vợ nhặt, Kim Lân đã từng nói: “Nhân vật do hoàn cảnh của câu chuyện mà nảy ra những tâm tư, hành động, cách xử sự mà tôi không thể định trước”. Đây là tác phẩm, gióng như nhiều tác phẩm văn xuôi hiện đại khác, sử dụng lối kể chuyện hiện đại theo đó, tác giả không định trước tính cách, tâm lý, hành động của nhân vật. Các phương diện của tính cách bộc lộ dần dần theo diễn biến truyện. Cần chú ý phân tích nghệ thuật kể chuyện này.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Phân tích theo nhân vật

          Đúng theo lời tác giả, qua thiên truyện này, một mặt nhà văn muốn ghi lại để tố cáo tội ác Nhật – Pháp gây ra cho đồng bào ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, mặt khác ông gửi gắm một chủ nghĩa nhân đạo lạc quan: giữa đói khổ, người nông dân vẫn khao khát cuộc sống hạnh phúc đời thường, vẫn hy vọng, tin tưởng vào ngày mai tươi sáng. Chủ đề này thể hiện qua ba nhân vật: Tràng, người “vợ nhặt” vô danh và bà cụ Tứ- mẹ Tràng.

          Khung cảnh nền của câu chuyện là nạn đói kinh hoàng bao phủ vùng quê, tập trung ở xóm ngụ cư. “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Các nhân vật sẽ được tác giả xem xét trong khung cảnh hiện thực, “Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy”.

a) Nhân vật Tràng

-     Tràng có địa vị thấp kém ngay cả ở một vùng quê nghèo vì anh là dân ngụ cư. Vì là dân ngụ cư nên gia đình anh không có ruộng đất, hàng ngày phải đi làm thuê.

-     Ngoại hình nhân vật Tràng xấu xí, thô kệch, có vẻ dữ tợn nhưng thực ra hiền lành. “Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ gì vừa lí thú vừa dữ tợn”. Song cách anh phản ứng lại chuyện bọn trẻ con trêu đùa, quấy quả anh lại cho thấy anh hiền lành, củ mỉ cù mì: “Trẻ con trong xóm, cứ thấy cái thân hình to lớn, vập vạp của hắn từ dốc chợ đi xuống là ùa cả ra vây lấy hắn, reo cười váng lên […]. Đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi. Trang chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch. Cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy cứ mỗi chiều lại xôn xao lên một lúc”. Nét tính cách này được nhấn mạnh rõ ràng có ý nghĩa chuẩn bị cho sự việc anh cưu mang người phụ nữ mà anh sẽ “nhặt” về làm vợ.

-     Tràng bị ế vì thân phận ngụ cư hèn kém, nghèo khổ (anh làm nghề kéo xe chở thóc thuê), vì thế, việc Tràng “nhặt” được vợ ngoài đường vẫn làm cho anh thấy bâng khuâng mãi. Tuy vậy, việc Tràng quyết định “nhặt” người phụ nữ làm vợ có hai nguyên do: (1) Tràng sống cô đơn, không hề biết đến tình cảm của người phụ nữ, anh sống như một thân cây khô héo, rất dễ xúc động trước tình cảm này; (2) Tràng có một tấm lòng nhân hậu, giàu lòng bao dung nên sẵn sàng cưu mang một người phụ nữ xa lạ khi người đó hầu như ở vào cảnh đói rét thê thảm. Hia lần quen nhau tưởng như tầm phào song đã lý giải cho hai nguyên nhân đó. Lần thứ nhất, Tràng đẩy xe bò và thị “lon ton chạy lại đẩy xe cho Tràng… Thị liếc mắt, cười tít. Tràng thích lắm. Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế”. Một nét nhân bản quan trọng của tác phẩm hé mở: ẩn bên trong mỗi con người, dù có nghèo khó, cơ cực đến mấy, vẫn là tình yêu, khát vọng sống có hạnh phúc lứa đôi. Đói nghèo không thể làm thui chột tình yêu của con người. Lần thứ hai gặp lại, Tràng không nhận ra thị vì không ngờ thị “xuống mã” nhanh đến thế: “Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Chắc hẳn Tràng động lòng thương nên anh đã “đãi” con ma đói khát đó một chầu bánh đúc, vì đối với thị lúc đó, ăn đang là tiếng thét mãnh liệt nhất của bản năng: “Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả: ăn thật nhá! ừ ăn thì ăn sợ gì! Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp ba bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Nhiều sáng tác trước Cách mạng tháng Tám của Nam Cao cũng thường xuyên đề cập đến cái đói quay quắt như một sức mạnh bản năng làm biến dạng nhân cách con người (Đòn chồng, Trẻ con không được ăn thịt chó,…). Giữa hai người không hề có tình yêu, sợi dây gắn bó họ với nhau là cái đói. Đó là tình cảnh trớ trêu của câu chuyện “nhặt vợ”.

-     Sự khao khát một tình yêu, tình vợ chồng cộng với lòng trắc ẩn thương người đã khiến Tràng quyết định trước khi có suy nghĩ kĩ: “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Nói thế Tràng cũng tưởng là nói đùa, ai ngờ thị về thật. Mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Sau không biết nghĩ thế nào hắn tặc lưỡi một cái: Chậc, kệ!”. Những người lao động ít nói như Tràng thường có quyết định nhanh chóng, ít phân vân, do dự.

-     Hai mảnh đời cư cực đến với nhau thật đơn giản, khiến những ai giàu lòng trắc ẩn cũng buồn đến nao lòng. Họ lấy nhau giữa lúc cảnh chết đói đang lởn vởn đe dọa không chừa một ai. Cảnh “rước dâu” thật bi thảm, giữa một không gian tăm tối, đầy tử khí: “Ngã tư xóm chợ về chiều càng xác xơ, heo hút. Từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp xúp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Tiếng quạ kêu như tiếng gọi của thần chết, như tiếng những oan hồn đói khát đang vẩn vơ đâu đây (có thể liên tưởng so sánh với tiếng quạ kêu kết thúc truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn). Lộ trình của cuộc rước dâu đi qua những cảnh ghê rợn như vậy đấy.

          Nhưng bất chấp hiện thực vô cùng nghiệt ngã, những cảm xúc mới lạ, lâng lâng vẫn xâm chiếm tâm hồn Tràng, không những làm cho anh đẹp hơn, tốt lên mà còn như tỏa chút ánh sáng ấm áp vào xóm ngụ cư tăm tối: “Giữa cảnh tối sầm vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Mặt hắn có vẻ gì đó phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Tràng thích ý khi hai người đi qua xóm ngụ cư dân chúng đứng trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. “Hình như họ cũng hiểu được đôi phần. Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ”. Đó là cái nhìn từ phía những người dân trong xóm ngụ cư. Còn Tràng? Hắn đắc ý khi thấy “thị” ngượng nghịu, lúng túng, “mặt hắn cứ vênh lên tự đắc với mình” (tự đắc vì nhặt được vợ? vì đã cưu mang một người khốn khổ? Tự đắc với chung quanh vì mình cũng có vợ như ai?)

(Tham khảo thêm đoạn văn bị lược đi trong đoạn trích Vợ nhặt của Ngữ văn lớp 12 để hiểu rõ hơn tâm trạng của Tràng mà tác giả dụng công miêu tả: Hành trình đón dâu của Tràng đã đến lối lẽ vào một con đường nhỏ, vắng vẻ, khi không còn nhiều con mắt dòm ngó, đã thoải mái, Tràng còn “định nói với thị một vài câu rõ tình tứ mà chẳng biết nói thế nào”. Tràng, một gã ngụ cư thất học thì làm sao nói nổi một lời văn hoa. Nhà văn Kim Lân tỏ ra có biệt tài về miêu tả tâm lý nhân vật. Ông nhìn thấy chính lúc Tràng muốn nói vài câu tình tứ ấy là lúc trong lòng y trào dâng một cảm xúc nhân bản sâu sắc: “Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng”. Với cảm xúc lâng lâng, lạ kỳ ấy, cuối cùng anh phu kéo xe chở thóc cục mịch cũng tìm được câu “tình tứ” nhất mà anh ta có thể nghĩ ra được nhân cớ mua hai hào dầu. Nhà văn trân trọng ghi lại những câu đối thoại quê mùa ấy vì đó là những giây phút thăng hoa của tình yêu giữa hai con người khốn khổ: “Câu chuyện xem chừng đã thân thân. Hắn đi sát bên thị hơn, ngẫm nghĩ một lúc, chợt hắn giơ cái chai con vẫn cầm lăm lăm một bên tay lên khoe: - Dầu tối nay thắp đây này. – Sang nhỉ. – Khá thôi. Hai hào đấy, đắt quá, cơ mà chả cần. – Hoang nó vừa vừa chứ. Hắn chặc lưỡi: - Vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chả nhẽ chưa tối đã rúc vào ngay, hì hì… - Khỉ gió. Thị phát đánh đét vào lưng hắn, khoặm mặt lại. Hắn thích chí ngửa cổ cười khanh khách”.

-     Sự việc cứ phát triển theo logic nội tại của nó: Mặc dù nạn đói và cái chết đang rình rập xung quanh, sự gắn bó giữa hai con người khốn khổ vẫn đem lịa cho Tràng một niềm lạc quan, yêu đời. Đêm tân hôn của họ diễn ra trong không gian đầy mùi tử khí “mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”. Toàn truyện luôn luôn có sự đối lập giữa cái đói, cái chết và tình yêu, khát vọng sống của con người để rồi ca ngợi chiến thắng của tình yêu và cuộc sống.

Nhưng sáng hôm sau, tỉnh dậy, Tràng thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Tình yêu vợ chồng đã thay đổi cái nhìn cuộc sống nhân vật, có chút gì gợi lại sự chuyển biến cảm xúc, tâm trọng của Chí Phéo sau khi yêu Thị Nở. Tình yêu nhân đạo hóa con người. Hắn thấy mẹ và vợ hắn đang dọn dẹp nhà cửa, cổng ngõ, một cảnh tượng bình dị mà đời hắn chưa được chứng kiến: “Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.

          Trong tâm hồn Tràng có bao nhiêu cảm xúc cao đẹp, đáng trân trọng. Nhưng nếu không có người vợ thì có lẽ chẳng bao giờ trong anh nảy nở những cảm xúc ấy. Và nếu không có nạn đói kém kinh hoàng thì chắc gì anh – một kẻ nghèo khó, xấu xí, thô kệch – lại “nhặt” không được một người vợ! Với Tràng, đúng là hạnh phúc chỉ đến trong đau khổ. Sự sống chẳng bao giờ chán nản.

b)   Nhân vật người “vợ nhặt”

          Nhân vật người Vợ nhặt có vai trò bổ sung cho hình tượng người chồng là Tràng dẫu cho “thị” luôn đóng vai trò thụ động (theo quan niệm trong xã hội có ảnh hưởng Nho giáo thời xưa, chuyện hôn nhân hay tình yêu thường do nam giới chủ động).

          Sở dĩ tác giả không đặt tên cho người phụ nữ này, có thể là vì chị ta lúc đó, ở vào hoàn cảnh đó đã hành động giống như hàng trăm ngàn người phụ nữ khác. Một người phụ nữ vô danh, không có gì nổi bật, đáng chú ý. Thoạt đầu chị ta đến với Tràng không vì tình yêu. Cái đói quay quắt thôi thúc chị ta phải bấu víu vào một ai đó, một người đàn ông nào đó khả dĩ cứu chị ta khỏi chết đói. Và cách tiếp cận, cách bấu víu chung nhất của chị ta là chỏng lỏn, cong cớn, sưng sỉa, liều lĩnh, mặt dày. Đây là nét tính cách đã hình thành trong môi trường bươn chải, kiếm sống gian nan của chị ta. Đó là một cuộc hôn nhân không định trước, nạn đói, chứ không phải tình yêu, đã mai mối cho hai con người khốn khổ đến với nhau, để nương tựa vào nhau, chống chọi lại cơn bão đói. Bà cụ Tứ, mẹ Tràng nghĩ rất đúng: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được”. Một phụ nữ không có gì hấp dẫn về thể hình cũng như tính nết, nhưng vẫn có thể thổi vào tâm hồn Tràng một ngọn gió yêu đời, lạc quan như vậy. Anh cu Tràng khốn khổ khao khát sống có tình yêu và hạnh phúc gia đình biết bao.

Tính cách người “vợ nhặt” cũng có thay đổi: Trước tấm lòng nhân hậu của Tràng và bà cụ Tứ, chị ta đã tìm lại được phẩm chất phụ nữ chưa bị dập tắt hẳn. Vẫn là quy luật tình yêu nhân đạo hóa con người. Sau khi tiếp xúc với mẹ chồng, sau những cử chỉ yêu thương của Tràng, qua đêm tân hôn hạnh phúc, chị ta đã có thay đổi: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh. Không biết có phải vì làm dâu mà thị tu chí làm ăn không?”. Nếu không phải đổi khác vì tình yêu thì chí ít là vì tình người. Những con người khốn khổ ấy cần cho nhau, có thể mang lại hạnh phúc cho nhau, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn thử thách.

c)     Nhân vật bà cụ Tứ

          Để hình tượng bà mẹ Tràng xuất hiện là cách tác giả đưa thêm một điểm nhìn mới đói với việc Tràng lấy vợ. Bà cụ mau chóng hiểu ra chuyện con mình nhặt được vợ thì nghẹn ngào thương hai con. Với sự từng trải, với sự hiểu biết và với lòng yêu thương con, cụ nhìn thấy trong việc con lấy vợ một cái gì đó thật đáng thương, thật ai oán. Đơn giản nhất là bà lo không biết chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không.

          Cụ thương con trai vì nhà nghèo hèn nên chỉ có thể lấy vợ trong lúc đói kém, khó khăn. Cụ lo cho chúng nó sẽ lặp lại cuộc đợi cực khổ dài dằng dặc của vợ chồng cụ trước đây. Và người mẹ không cầm được nước mắt vì nghĩ đến mâm cơm đạm bạc thê thảm của ngày đói sẽ là bữa tiệc cưới mừng hai đứa thành gia thất.

Nhưng vẫn với một tấm lòng trải đời, tấm lòng nhiều xót thương day dứt ấy bà cụ Tứ vẫn dành cho con một sự chăm sóc thật cảm động. Trong bữa cơm, cụ bàn chuyện tương lai: “Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này: - Tràng ạ, khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho xem”. Có lẽ đó là ước mơ thầm kí của cụ về việc sinh sôi nảy nở trong căn nhà của mình. Hình ảnh đàn gà đông đúc có thể gợi liên tưởng đến lũ cháu chắt đông vui của cụ trong tương lai. Và cũng không chỉ bàn hay suy nghĩ, bà cụ còn ‘xăm xăm thu dọn, quét tước nhà cửa. Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”.

          Nhờ có hình tượng bà cụ Tứ mà câu chuyện “nhặt vợ” của Tràng được soi chiếu từ một góc độ mới, làm bật lên các âm hưởng khác nhau: đau buồn và hứng khởi, bi quan và lạc quan, lãng mạn và đời thường. Những cung bậc cảm xúc đa dạng đan xen nhau, thay đổi nhanh chóng trong thời gian trước và sau đêm tân hôn.

          Chuyện anh cu Tràng nhặt vợ là chuyện buồn vui xen kẽ. Liệu cuộc đời vợ chồng Tràng có tái diễn lại cuộc đời của bố mẹ anh không? Câu trả lời dường như bỏ ngỏ, nhưng hình ảnh “những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp” và lá cờ đỏ bay phấp phới kết thúc câu chuyện lại dự báo một tương lai lạc quan hơn. Cách mạng về, cuộc sống mở ra thoe một chiều hướng mới. Những thân phận khốn khổ sẽ tìm thấy lối thoát cho cuộc đời mình ở cách mạng.

2.     Đặc điểm về nghệ thuật

          Như Kim Lân đã tâm sự, khi viết Vợ nhặt, ông không định trước tâm tư, hành động, cách ứng xử của nhân vật. Điều đó có nghĩa là tính cách nhân vật và diễn biến của câu chuyện dần dần bộc lộ trong tiến trình câu chuyện. Tác giả tôn trọng tính khách quan, tính hiện thực của nhân vật. Truyện được kể theo cách không báo trước mà người đọc cũng không thể dự đoán trước mọi diễn biến. Tình huống truyện dần dần hiện ra. Sự bất ngờ gây hứng thú cho người đọc. Một buổi chiều, giữa lúc nạn đói kinh hoàng như một cơn gió độc lan đến xóm ngụ cư, dân xóm bỗng thấy Tràng dẫn một người đàn bà lạ về nhà. Người đói là ai, có quan hệ gì với Tràng, quan hệ đó đi đến đâu, ứng xử của người trong xóm, người trong gia đình Tràng sẽ như thế nào? Những câu hỏi ấy lần lượt được đặt ra và tác giả để cho nhân vật tự dẫn dắt tiến  trình truyện. Đây là điều khác biệt về cách kể chuyện của văn xuôi thời trung đại. Trong văn xuôi thời trung đại, người kể chuyện tỏ ra biết hết, biết trước mọi chuyện và câu chuyện được kể ra như để minh họa cho điều đã biết trước đó. Mở đầu Chuyện người con gái Nam Xương (trích Truyền kỳ mạn lục), Nguyễn Dữ viết: “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thật hòa” (Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2007). Tác giả đã cho biết trước Vũ thị xinh đẹp, nết na, chàng Trương đem trăm lạng bạc cưới về” nhưng có tính hay ghen. Đặc điểm này báo trước bi kịch do lòng ghen thái quá của Trương sẽ gây ra cho Vũ thị.

          Sự kết hợp, đan xen chất bi và chất hài như hai pham trù mĩ học đối lập nhau cũng là một nét đáng chú ý của truyện. Phần đầu truyện, có những cảnh hàm chứa chất hài hước đối lập với sự xám xịt, tăm tối của cảnh chiều tàn trong xóm ngụ cư “tối sầm lại vì đói khát ấy”. Tràng về nhà với một người đàn bà, vừa đi vừa “tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Trẻ con trêu Tràng và người phụ nữa lạ kia với câu nói lái “chông vợ hài”. Tràng nhớ lại cảnh hai người quen nhau với những hoạt cảnh hài hước. Giữa cảnh đói khát đến cơm chẳng có mà ăn, Tràng hò “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này! – Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!”. Rồi thị “cong cớn” nói, chạy “lon ton” lại đẩy xe cho anh. Lần sau, Tràng vỗ túi đựng tiền nói “Rích bố cu” (“rất giàu” hay có thể hiểu nôm nay là “khối tiền đây”). Câu nói bằng tiếng Pháp “bồi”, tức tiếng Pháp nói không chuẩn của người không được học chính quy, bài bản trong tình huống ấy thật hài hước, làm duyên dáng thêm cho cuộc giao duyên vốn rất tầm thường chỉ dừng lại ở “chủ đề ăn uống”. Mấy gã đẩy xe bò mà cũng nói tiếng Pháp cơ đấy! Rồi liệu có được mấy hào trong túi tiền mà khoe khoang? Dẫu sao thì cử chỉ và câu nói đùa của Tràng đã mở đường tiến tới khá táo bạo cho người phụ nữ đói khát với hai con mắt trũng hoáy “sáng lên”… Chất hài giúp cho câu chuyện bớt căng thẳng nặng nề, niềm vui sống vẫn ẩn chứa đâu đây dẫu cho đói khát và cái chết đong lởn vởn quanh họ.

          Điểm nhìn trần thuật cũng là điều cần nhấn mạnh khi viết về nghệ thuật kể chuyện của tác giả. Sự đa dạng, nhiều chiều của điểm nhìn nghệ thuật đã được Kim Lân vận dụng để kể chuyện: khi kể bằng ngôn ngữ tác giả, khi kể bằng ngôn ngữ bình luận của dân xóm ngụ cư, kể cả của trẻ con “chông vợ hài”, khi từ điểm nhìn của Tràng, khi từ điểm nhìn của bà cụ Tứ với ngôn ngữ, tâm trạng riêng của người mẹ từng trải, rất thương con, vừa mừng vừa lo trước cảnh hai đứa con về ở với nhau. Chẳng hạn, những  c âu nói trao đổi qua lại của người dân xóm ngụ cư thắc mắc về người đàn bà lạ theo sau Tràng đã thay thế cho lời dẫn dắt của tác giả - nếu chỉ thuần ngôn ngữ kể của tác giả câu chuyện sẽ đơn điệu, đồng thời tạo ra không gian cho diễn biến câu chuyện. Xung quanh hai người có nhiều người chứng kiến câu chuyện của họ, bình luận về họ, với nỗi niềm vui buồn xen kẽ. Do đó câu chuyện khá phong phú sắc thái thẩm mĩ: trẻ con chỉ nhìn thấy sự hài hước, dân xóm ngụ cư có sự cảm thông, bà mẹ thấy bi thảm, thương xót, Tràng thấy hứng khởi, có thể đùa tếu. Câu chuyện có nhiều đoạn đối thoại giữa các nhân vật làm thay đổi mạch truyện kể.

 

0
phiếu
0đáp án
563 lượt xem

RỪNG XÀ NU

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

       Nguyễn Trung Thành tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ông có bút danh khác là Nguyên Ngọc. Nguyễn Trung Thành là bút danh được dùng trong những năm ông hoạt động ở chiến trường miền Nam thời kỳ chống Mĩ cứu nước.

       Truyện ngắn Rừng xà nu công bố lần đầu năm 1965. Khi đó, cách mạng miền Nam đã trải qua thời kỳ đen tối đến lúc Đồng khởi và đang tiếp tục cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai. Theo lời Nguyễn Trung Thành, ông nhớ rất rõ ngày 8-3-1965, mấy vạn lính thủy quân lục chiến Mĩ đổ bộ vào bãi biển Chu Lai. “Đó là những ngày sôi sục, nghiêm trang, nghiêm trọng, lo lắng, quyết liệt, hào hùng: dân tộc ta bước vào cuộc chạm trán một mất một còn trực tiếp với đế quốc Mĩ”.

          Vấn đề đặt ra trong truyện ngắn là vấn đề trung tâm của toàn dân tộc lúc đó: con đường duy nhất lúc đó cầm vũ khí đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong một thế tương quan lực lượng chênh lệch về vũ khí kỹ thuật, đâu là sức mạnh mang lại thắng lợi cho chúng ta? Truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành góp phần tìm ra câu trả lời: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Ý chí quyết đấu là nguồn gốc của sức mạnh. Tác phẩm cũng chỉ ra vẻ đẹp tinh thần của nhân dân Tây Nguyên bất khuất.

          Lúc nhà văn định viết một truyện ngắn về đồng bằng đánh Mĩ nhưng mấy đêm thức ròng ông không sao viết được. Ông chuyển qua viết về miền núi và trong một đêm giữa năm 1965, Rừng xà nu đột ngột đến với tác giả. Mặc dù câu chuyện hư cấu nhưng các nguyên mẫu đều là có thật, nhà văn đã gặp họ ở nơi này nơi khác, lúc này lúc khác. Nguyễn Trung Thành kể là ông đã quen biết ông Núp, ông Mết từ hồi đánh Pháp, khoảng năm 1963 đã gặp anh Đề người Xê-đăng và nghe anh kể, năm 1959 anh Đề đã cùng 10 trai làng dùng dao dựa, giáo, mác giết được một tiểu đội lính Diệm. Cuối năm 1963, trong một hội nghị ở huyện Đắc-lây, Nguyễn Trung Thành đã gặp một cô gái người Ê-đê xinh đẹp, vừa là cán bộ phụ nữ xã, vừa là du kích. Những con người ấy gặp nhau, âm thầm hình thành những nhân vật văn học trong tác giả để khi ông viết, chúng hội tụ về dưới trang văn. Quá trình viết câu chuyện trở nên dễ dàng: “Tất cả, tôi không phải “bịa” thêm gì cả, tôi thấy rõ hết. Mặc dầu tất cả đay hoàn toàn là một câu chuyện bịa mà như thật. Với tôi nó hoàn toàn có thật”.

2. Nguyễn Trung Thành nói về biểu tượng rừng xà nu

       Cây xà nu là cây thông. Văn học trung đại đã viết không ít về cây thông, nhưng đều tập trung khai thác ý nghĩa biểu trưng của cây thông cho phẩm chất của người quân tử. Bởi lẽ cây thông vẫn xanh tươi ngay cả giữa mùa đông lạnh giá trong khi tất cả các loài cây khác đều rụng lá. Đây là thứ cây tượng trưng cho sự kiên cường, bất khuất, không chịu đổi dời bản tính theo ngoại cảnh. Truyện ngắn Rừng xà nu cũng khai thác nghĩa biểu trưng của cây thông nhưng không phải là của một cây thông riêng rẽ mà là của một rừng thông, một “tập thể” thông. Tác phẩm cũng không nhằm vào biểu tượng quân tử ở cây thông mà hướng đến diễn tả sức sống mạnh mẽ, bất diệt của rừng thông như một biểu tượng về sức sống mạnh mẽ, bất diệt của những con người Tây Nguyên bình dị, không một bạo lực nào có thể tiêu diệt nổi. Đây là một nét mới của ý nghĩa biểu trưng của rừng thông mà văn học cách mạng có thể đưa vào kho tàng văn học.

          Nguyễn Trung Thành kể về hồi tháng 5 năm 1962 hành quân từ miền Bắc vào đến khu rừng bát ngát ở phía Tây Thừa Thiên thì gặp cây xà nu. “Tôi say mê cây xà nu từ ngày đó. Ấy là một thứ cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh nhã, vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô tận. Không khí ở đây thơm lừng. Nệm lá dưới mặt đất ngả lưng êm ru”. Vì thế, khi dự định viết về miền núi đánh giặc, Nguyễn Trung Thành đã gặp cây xà nu trong những dòng đầu tiên: “Bắt đầu đến dưới ngòi bút, gần như không hề tính trước, là một rừng xà nu, những cây xà nu… rừng xà nu chợt đến và lập tức tôi biết tôi đã tạo được không khí, đã có không gian ba chiều. Và cũng đã lập tức nhập được vào không khí và không gian ấy”.

          Biểu tượng xà nu đã hình thành từ thực tế quan sát, suy nghĩ nhiều năm của tác giả để trong giây lát có thể xuất hiện, dẫn dắt cho mạch truyện.

I-  PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Đặc điểm nội dung

a) Rừng xà nu, biểu tượng vế sức sống của người dân Tây Nguyên

       Ý nghĩa tượng trưng của rừng xà nu rất dễ quan sát thấy qua việc miêu tả rừng xà nu ở phần mở đầu và phần kết thúc câu chuyện.

       Mở đầu thiên truyện là cuộc chiến đấu thầm lặng mà quyết liệt giữa một bên là rừng xà nu và một bên là đạn pháo của giặc. Một chi tiết được miêu tả không hề ngẫu nhiên và trái lại, được tác giả có dụng ý nhấn mạnh: giặc bắn đại bác ngày hai lần, nhưng “hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn”. Những loạt đạn đại bác là sự thử thách nghiệt ngã đối với rừng xà nu. Hàng vạn cây xà nu bị thương, nhựa ứa ra, đau đớn uất hận như máu nhỏ. “Ở chỗ viết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh ngày hè nắng gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Nhưng nói tới sự tàn phá của đại bác giặc cũng là một cách giới thiệu sức sống bất diệt của cây xà nu.

Đối lập với sự tàn phá của đạn đại bác giặc là hình ảnh rừng xà nu kiên cường, bất khuất, hệt như con người, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác vươn lên trước những làn đạn: “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời như thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bui vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng […]. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã”.

       Kết thúc câu chuyện, nhà văn láy lại hai ý: một số cây xà nu to bị thương, nhựa ứa ra “lóng lánh nắng hè” và những cây nhỏ đang mọc lên như để thay thế những cây bị ngã: “Quanh đó vô số những cây con đang mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê”. Rừng xà nu có dáng dấp của một tác phẩm luận đề, cách mở đầu và kết thúc hé mở triết lý mà tác phẩm sẽ phân tích, chứng minh.

       Có thể nói hình tượng rừng xà nu là một biểu tượng đẹp về dân làng Xô Man. Trong làng này, những người dân tộc Strá cũng quật cường, bất khuất, các thế hệ nối tiếp nhau cùng chung một truyền thống đấu tranh cách mạng kiên trung, một truyền thống không khi nào bị gián đoạn, đứt quãng. Cây xà nu ở đay cũng giống như cây tre dưới xuôi, một biểu tượng đẹp về sức sống dẻo dai bền bỉ của con người.

b) Các thế hệ người Strá tham gia đấu tranh cách mạng

       Nhân vật trung tâm của tác phẩm- nếu như có yêu cầu phải xác định – có thể tìm thấy ở nhân vật Tnú. Tuy vậy không thể nói là các nhân vật khác được xây dựng mờ nhạt hay đơn giản. Tnú chỉ là đại biểu cho một trong các thế hệ nối tiếp đấu tranh cách mạng ở làng Xô Man.

-     Cụ Mết là đại diện của thế hệ người Strá đã từng tham gia đánh Pháp nay lại tiếp tục đánh Mĩ và bè lũ tay sai. Một con người vững chãi, từng trải, một lòng một dạ với Đảng, với cách mạng. Sức mạnh thể chất và tinh thần toát lên từ vẻ ngoài của cụ Mết. “Một bà tay nặng trịch nắm chặt lấy vai anh như một kìm sắt. Anh quay lại: cụ Mết! Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải láng bóng. Ông ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn”. Ở ông già sáu mươi tuổi này “tiếng nói vẫn ồ ồ, dội vang trong lồng ngực”. Mọi lời nói của cụ đều được dân làng lắng nghe, trân trọng: “Lúc ông cụ Mết nói, mọi người đều im bặt”. Lẽ đơn giản là cụ thường nói lên những tư tưởng lớn, có ý nghĩa chân lý; mà cũng không đơn giản là chỉ nói, cụ dẫn dắt cả làng đi theo con đường cách mạng. Cụ thường nhân dịp thích hợp để giáo dục, nhắc nhở dân làng về đấu tranh cách mạng. Ví dụ, cụ chỉ chia cho mỗi người mấy hạt muối quý giá và giải thích: “Năm nay làng không đói. Gạo đủ ăn tới mùa suốt. Nhưng phải để giành, dự trữ mỗi bếp cho được ba năm […] đánh thằng Mĩ phải đánh dài”. Cụ triết lí về sức mạnh quật khởi của các thế hệ qua biểu tượng cây xà nu “không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ  ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”. Lời của người từng trải, kinh lịch thật chắc gọn mà sâu sắc. Cụ Mết nói: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Cụ hiểu tình huống đầy kịch tính khi Tnú với hai bàn tay không nhảy ra cứu vợ con: “Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây thừng. Tau k nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cụ Mết không ngờ cụ đã nói lên một chân lý của thời đại ấy, cũng như ở dưới xuôi kia, trong thành phố, anh Trỗi nói “Còn thằng Mĩ thì không có ai hạnh phúc”, ở nông thôn, chị Út Tịch nói “Còn cái lai quần cũng đánh”.

-     Hai chị em Mai và Dít cũng là một biểu tượng thu nhỏ về sự tiếp nối truyền thống cách mạng ở Tây Nguyên. Mai cùng với Tnú đã thay các thế hệ trước nuôi cán bộ cách mạng. Người cán bộ cách mạng – anh Quyết – hỏi: “Các em không sợ giặc bắt à? Nó giết như anh Xút, như bà Nhan đó”. Để trả lời, Tnú dẫn câu nói như một chân lí đã được tổng kết từ cụ Mết: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Mối liên hệ gắn bó giữa Đảng và cách mạng, Đảng và dân và nước được họ nhận thức rất rõ ràng, giản dị. Cái chết đầy xúc động của hai mẹ con Mai do bàn tay độc ác của kẻ thù chỉ làm cho ý chí chiến đấu của Dít, em gái Mai thêm sắt đá, kiên cường. Ngày Mai mất, Dít còn nhỏ. “Tnú cầm mấy cây xà nu soi cho Dít gằn gạo. Nó gằn đủ ba mươi lon gạo trắng, đổ ruột ghét cho Tnú mang đi. Nó lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh trong khi mọi ngườ, cả cụ già Mết, đều khóc vì cái chết của Mai”.

          Dít có cách thể hiện tình cảm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ có thể hiểu được khi đặt vào bối cảnh của phong trào cách mạng miền Nam đầu những năm 60, khi gắn với truyền thống cách mạng của người dân Tây Nguyên từ hồi chống Pháp. Buổi hội ngộ đầu tiên của họ sau mấy năm Tnú đi vắng hơi bất ngờ với Tnú. Cặp mắt mở to, trong suốt, bình thản của Dít nhìn Tnú hồi lâu rồi Dít hỏi Tnú bằng cái giọng lạnh lùng: “Đồng chí về có giấy không?”. Trong sự lạnh lùng của nguyên tắc đó bao hàm một nguyên cớ thật đẹp: Dít muốn Tnú phải là một chiến sĩ giải phóng quân mẫu mực, về phép dù chỉ một đêm cũng phải có giấy phép của chỉ huy. Chỉ sau khi biết Tnú có giấy phép, Dít mới vồn vã: “Sao anh về có một đêm thôi […] Thôi cũng được. Về một đêm cho làng thấy mặt là được rồi. Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi”. Thể hiện tình cảm cá nhân gắn liền một cách hài hòa với sự nghiệp cách mạng là một đặc điểm phổ biến của văn học cách mạng, tạo nên chất sử thi cho tác phẩm.

-     Hình tượng Tnú: mặc dù một đặc điểm lớn của văn học cách mạng là diễn đạt hài hòa sự nghiệp anh hùng của các cá nhân và sự nghiệp cách mạng của quần chúng, chúng ta có vẫn có thể nói đến Tnú như một nhân vật chính, thể hiện cảm hứng của thiên truyện.

           là một chiến sĩ cách mạng với những nét đặc trưng của người dân Tây Nguyên. Cuộc đời anh li kỳ như một huyền thoại trong thiên sử thi anh hùng ca chói lọi của núi rừng Tây Nguyên. Cụ Mết muốn câu chuyện về Tnú sẽ được các thế hệ nối tiếp nhau kể cho nhau nghe.

          Học chữ hay quên, nhưng Tnú rất sáng dạ, thông minh khi làm liên lac cho anh Quyết từ huyện về xã. Tnú chấp nhận khó khăn: không đi đường mòn, cứ xé rừng mà đi; không vượt sống ở chỗ nước êm mà vượt thác. Đó là vì sự an toàn của những chuyến đi chuyển thư từ, công văn. Lần cuối cùng bị địch bắt, Tnú đã kịp nuốt cái thư của cán bộ để giữ bí mật. Rồi anh vượt ngục của kẻ thù trở về. Anh gan góc, dũng cảm, ít lời mà cương quyết. Khi bị bắt, kẻ thù bắt anh phải khai ai là cộng sản. Tnú đặt tay lên bụng nói: “Ở đây này!”. Lưng anh đã phải nhận bao nhát dao chém của bọn lính. Tnú đã lao vào giữa bọn lính để cứu mẹ con Mai nhưng đã không cứu được mà thân mình bị bắt. Sự việc đó có nhiều ý nghĩa nhưng cho thấy bản lĩnh của anh. Khi chúng đốt hai bàn tay anh cũng là lúc tất cả thanh niên trong làng đã đem những cây dựa mài bằng đá núi Ngọc Linh chém chết hết mười tên lính.

          Mô-típ bàn tay là một mô-típ có sức diễn đạt rất sâu sắc của thiên truyện. Bàn tay Tnú như một tấm gương phản ánh tư tưởng, tình cảm của anh. Bàn tay Tnú có lcus đặt trong lòng bàn tay Mai để rồi họ thành vợ thành chồng. Bàn tay ấy hãnh diện để lên bụng để trả lời quân thù: Cộng sản “ở đây này”. Khi đau đớn, uất hận, bàn tay ấy đã bứt hàng chục trái vả mà không biết. Để đe dọa những bàn tay cầm giáo mác, cầm súng, kẻ địch quấn giẻ tẩm dầu xà nu lên mười đầu ngón tay của Tnú và đốt. Nhưng chính lúc kẻ thù định hủy diệt bàn tay thiêng liêng của người dân Tây Nguyên thì chúng đã phải nhận lấy đòn trừng phạt thích đáng nhất. Các trai làng cầm giáo mác giết chết mười tên giặc. Đốt hai bàn tay của Tnú tức là tiêu diệt ý chí đấu tranh cách mạng, chỉ đứng lên giết chết kẻ thù, chặn đứng tội ác của chúng là con đường sống duy nhất. Tnú đã không dùng dao, dùng súng mà dùng mười đầu ngón tay cụt bóp cổ chết tên chỉ huy địch cũng là một cách trả lời cho kẻ thù biết sự khủng bố điên cuồng, độc ác của chúng là vô ích. Tnú kể lại sôi nổi: “Tôi tống đầu gối lên ngực nó, tôi bóp đèn pin lên mặt nó: Dục, mày có nhớ tau không? Nó lắc đầu. Được, đây này, hai bàn tay tau đây này, nhớ chứ? Tau vẫn cầm được súng? Mắt nó trắng dã. Tôi nói: Này, tau có súng đây, tau có cả dao găm đây. Nhưng tau không giết mày bằng súng, tau không đâm mày bằng dao nghe chưa! Dục! Tau giết mày bằng mười ngón tay cụt này thôi, tau bóp cổ mày thôi!”. Thằng Dục, đứa đã tẩm dầu đốt tayanh hiển hiện ở bất cứ một tên giặc nào. Trong sự hồn nhiên của Tnú có chân lý: “Chúng nó đứa nào cũng giống như thằng Dục”. Tính cách của Tnú là điển hình cho tính cách của người Tây Nguyên: ít lời, giản dị mà cương quyết, rắn chắc; cuộc đời và số phận của Tnú là điển hình cho số phận và cuộc đời của người Tây Nguyên: đầy đau thương mà quật cường , anh dũng, một lòng kiên trung với cách mạng.

2.         Đặc điểm về nghệ thuật

          Vốn là tác giả của Đất nước đứng lên, Nguyễn Trung Thành hiểu rõ và năm vững văn hóa, đất nước và con người Tây Nguyên. Ông có sở trường dựng nên không khí của núi rừng Tây Nguyên, văn hóa Tây Nguyên.

          Truyện ngắn này có sức hấp dẫn nhờ nghệ thuật khắc họa những nét tính cách đặc sắc của người Tây Nguyên qua ngôn ngữ, ngoại hình, hành động của họ. Người Tây Nguyên trầm lặng, ít nói nhưng có cách bày tỏ tình cảm, tư tưởng riêng qua hành động. Khi Tnú về thăm làng cũ, có người nhảy phóc từ trên sàn nhà xuống đất để đón anh. Cụ Mết có lối mắng yêu thật lạ: “Cha mẹ mày, đi lâu thế! Để cho lũ con gái chúng nó lớn lên chẳng còn thằng thanh niên nào cho nó bắt chồng!”. Rồi cô Dít ít lời mà cũng không kém phần ý tứ: “Dít ngồi sụp xuống trước mặt anh, hai chân xếp về một bên, đưa tay kéo tấm váy che kín cả gót chân”… Ngôn ngữ nhân vật có  bản sắc dân tộc, chắc gọn, đơn giản mà đầy triết lý. Những chi tiết nho nhỏ như vậy đã dệt thành một bức tranh chân dung về những người Tây Nguyên vừa lạ lùng, vừa gần gũi thân thương.

          Không gian núi rừng Tây Nguyên cổ sơ, trầm mặc cũng được dựng lại một cách sống động qua hình ảnh đậm chất Tây Nguyên. Đó là tiếng chày giã gạo như một nỗi nhớ da diết nhất cho những đứa con Tây Nguyên đi xa. Đó là hồi mõ dìa ba tiếng vang lên từ phía nhà ưng thôi thúc mọi người lại họp ở chỗ già làng. Đó là các cây đuốc sáng quanh nhà cụ Mết. Rồi không khí trang trọng, thành kính của dân làng vây quanh cụ Mết chờ cụ kể chuyện về cuộc đời Tnú như chờ nghe kể khan truyền thống. Rồi tiếng cồng chiêng, rồi mỏ đá mài trên núi Ngọc Linh đủ dùng cho cả trăm cuộc khởi nghĩa gươm giáo mác của Tây Nguyên. Có nhà nghiên cứu đưa ra nhận xét rằng, truyện Rừng xà nu mang đậm màu sắc sử thi. Chất sử thi toát lên từ tinh thần vì cộng đồng của con người, từ những vấn đề chung, liên quan đến số phận chung của cả cộng đồng.

          Nguyễn Trung Thành nói “Rừng xà nu” là truyện của một đời, và được kể trong một đêm. Đó là cái đêm dài như cả một đời. Nhưng nó cũng ngắn, cũng chỉ là một đêm trong sự sống vất vả, đau khổ và hạnh phúc”. Câu chuyện kể một đêm chính là nói câu chuyện cụ Mết kể cho dân làng nghe kể về cuộc đời Tnú nhân dịp anh được về nghỉ phép một đêm: “Đêm nay tau kể chuyện nó cho cả làng nghe, để mừng nó về thăm làng. Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tau chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe…”. Đó đúng là thể chức kể sử thi của người Tây Nguyên. Câu chuyện một đời của Tnú nhưng cũng là câu chuyện của cả buôn làng, không chỉ kể một đêm mà sẽ kể mãi, như những thiên sử thi đã từng được kể hàng trăm năm, ngàn năm nay. Thêm một ý nghĩa nữa của câu chuyện Tnú, một thiên sử thi của thời đại mới.

          Tuy vai người kể chuyện là cụ Mết nhưng thực ra, cách kể của Rừng xà nu khá linh hoạt. Điểm nhìn của người kể có thay đổi, khi là ngôn ngữ tác giả, khi là lời cụ Mết, khi là chính nhân vật Tnú hiện diện. Ví dụ, cả đoạn tả Tnú từ gốc cây xông ra đến khi anh bị bọn thằng Dục tẩm dầu vào giẻ đốt cả mười ngón tay là nhìn tâm trạng anh từ bên trong, người kể hóa thân vào nhân vật để quan sát, ứng xử và bộ lộ cảm xúc. “Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!”. Đây tất nhiên không phải là lời kể của người đứng nhìn từ bên ngoài mà là cảm nhận của người trong cuộc.

 

0
phiếu
0đáp án
389 lượt xem

CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

I-   NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.  Về tác giả

Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) xuất thân từ một gia đình nông dân ở làng Thơi, xã Quỳnh Hải (nay là xã Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Năm 1944, Nguyễn Minh Châu học Trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến năm 1958, Nguyễn Minh Châu công tác và chiến đấu ở Sư đoàn 320, bắt đầu viết văn từ năm 1954. Ông rất am hiểu đời sống và tâm hồi người chiến sĩ, thực tế khắc nghiệt và hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mĩ. Từ năm 1980 trở đi, ông đi đầu trong khuynh hướng đổi mới văn học sau chiến tranh: nghĩ và viết nhiều về “đời thường”, về những vấn đề bức xúc đằng sau những chiến công, những vấn đề xã hội, về số phận và phẩm cách con người trong thực trạng phức tạp của đất nước.

2.  Sự đổi mới của cảm hứng nghệ thuật thời kỳ sau năm 1975

          Sau năm 1975, đặc biệt từ sau năm 1985, trong văn học Việt Nam hình thành khuynh hướng văn xuôi mới so với trước đây mà giới nghiên cứu gọi là “văn xuôi đời thường” để phân biệt với xu hướng “văn xuôi sử thi”. Gọi là “văn xuôi sử thi” vì, giống như các sử thi anh hùng ca, xu hướng này mô tả con người gắn liền với sự nghiệp toàn dân tộc, sự nghiệp chung của tập thể. Xu hướng văn xuôi đời thường lại chú trọng quan sát, mô tả, nhận diện con người trong cuộc sống riêng tư, những mảng tối, còn khuất lấp của thân phận, tính cách con người mà trước đây, văn học thời chiến chưa có nhiều điều kiện khám phá. Bản thân Nguyễn Minh Châu trong các sáng tác thời 1975 cũng có xu hướng đi tìm con người sử thi, con người cộng đồng (truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng là một ví dụ quen thuộc). Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa phản ánh sự thay đổi không những về đề tài mà còn về quan điểm thẩm mĩ của nhà văn. Nếu trước 1975, quan điểm thẩm mĩ của nhà văn có thể diễn đạt bằng công thức cái đẹp là cái cao cả, cái anh hùng thì sau năm 1975, cái đẹp là cái thường ngày, cái đẹp là chính cuộc sống.

3.  Khái niệm “tình huống truyện”

       Nghệ thuật truyện ngắn có liên hệ mật thiết với tình huống truyện. Theo Bùi Việt Thắng, trong Bình luận truyện ngắn (NXB Văn học, Hà Nội, 1999), có thể tóm tắt bản chất của tình huống như sau:

-     Tình huống là những thời khắc tiêu biểu (có người gọi là khoảnh khắc, chốc lát,…) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong cuộc sống con người.

-     Tại thời điểm đó, các nhân vật có cơ hội châu tuần lại, gắn kết với nhau (mà trước đó họ vốn xa lạ với nhau hoặc gần mà chưa có điều kiện hiểu biết lẫn nhau).

-     Tại thời khắc đó đã bộc lộ cái bản chất trong quan hệ giữa các tính cách nhân vật, giữa nhân vật với hoàn cảnh.

-     Tình huống là sự thể hiện sâu sắc chủ đề tác phẩm.

          Tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa là kiểu tình huống luận đề. Một nghệ sĩ nhiếp ảnh dự định đi chụp những cảnh biển thật đẹp để đưa vào tờ lịch nhưng đã gặp một cảnh không đẹp chút nào – một phụ nữ bị chồng thường xuyên hành hạ dã man của người chồng vũ phu đó. Luận đề của truyện là nhà văn không nên nhìn cuộc sống đơn giản, một chiều mà cần thâm nhập vào bản chất con người, thâm nhập vào số phận riêng tư của con người để thấy hết tính chất phức tạp của cuộc sống.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.  Phân tích theo kết cấu

     Có thể phân tích theo kết cấu truyện. Truyện có ba phần chính, được phân cách bởi các dấu sao.

-     Phần thứ nhất: Kể về nhiệm vụ mà nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng được giao là chụp một bức ảnh về cảnh biển buổi sáng có sương mù. Cả tuần chưa phục được cảnh nào yêu cầu, cuối cùng anh quyết định chụp cảnh một chiếc thuyền đánh cá thu lưới lúc bình minh.

-     Phần thứ hai: Một chiếc thuyền lao vào bờ và Phùng chứng kiến cảnh người đàn ông đánh đập người phụ nữ nhưng người phụ nữ không chạy trốn, không chống trả, không kêu la.

-         Phần thứ ba: Do Phùng chứng kiến lần thứ hai cảnh hành hạ đó nên anh xông vào bênh vực, bị lão đàn ông đánh bị thương. Tòa án gọi người đàn bà ra định giúp chị thoát khỏi sự hành hạ của lão chồng vũ phu, nhưng điều bất ngờ là người phụ nữ chấp nhận đánh đòn hàng ngày như vậy. Câu chuyện diễn ra bất ngờ khiến nghệ sĩ Phùng ám ảnh, suy nghĩ.

a)     Phần thứ nhất

          Sự đắc ý của Phùng khi chụp được cảnh mà anh coi là “trời cho”: “Trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ […] toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp chặt vào”. “Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Không cần lựa chọn xê dịch nữa, anh “bấm liên thanh một hồi hết một phần tư cuốn phim”, “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại” với cảm giác hạnh phúc tràn ngập tâm hồn. Anh yên tâm ngày mai có thể lên tàu trở về. Anh lại nhận thức lần nữa chân lý nghệ thuật: cái đẹp là cái đạo đức, mĩ và thiện thống nhất. Câu chuyện đến đây vẫn chưa có gì đặc biệt, chưa có đột biến.

b)   Phần thứ hai

          Tình huống truyện diễn biến rất nhanh dường như kịp thời cứu câu chuyện khỏi sự nhàm chán có khả năng xảy ra. “Ngay lúc ấy”, tức là ngay vào lúc Phùng thỏa mãn với hình ảnh anh coi là trời cho thì một biến cố đảo lộn tất cả. “Ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào trước chỗ chúng tôi đứng. Một người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền”. Hai vợ chồng thuyền chài lên bờ, người đàn ông và người đàn bà sửa soạn cho một sự việc rất ngạc nhiên. “Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhua họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn”. Phản ứng của Phùng trước sự việc quá bất ngờ đó là dễ hiểu: anh vốn là người lính đánh Mĩ. “Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất nhào tới”. Nhưng thằng Phác, cậu bé mà anh quen, đã kịp chạy đến can thiệp, giật chiếc dây lưng quật vào ngực lão già. Rồi, “Lão đàn ông định giằng lại chiếc thắt lưng nhưng chẳng được nữa, liền dang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền […]. Thế rồi bất ngờ người đàn bà buông đứa trẻ ra, đi thật nhanh ra khỏi bãi xe tăng hỏng, đuổi theo lão đàn ông. Cả hai người lại trở về chiếc thuyền”. Có cảm giác như gặp một truyện cổ quái đản. Tình huống đột ngột xuất hiện khiến đảo lộn mọi suy nghĩ và quan niệm thông thường. Cả người đánh lẫn người bị đánh đều trở lại thuyền thật bình thản khiến Phùng và cậu bé Phác – con của hai vợ chồng kia – ngơ ngác. Nếu nói bằng ngôn ngữ kịch thì chỗ này giống như thắt nút. Thắt nút trong tâm hồn của người kể chuyện, đẩy xung đột quan niệm trong chính người kể đến cao trào.

c)  Phần thứ ba – mở nút

     Lần thứ hai, Phùng – người kể chuyện – lại chứng kiến màn hành hạ vợ của lão chồng vũ phu và anh xông vào can thiệp, đã đánhlão chồng ra trò (đoạn này bị lược bỏ trong đoạn trích). Nhưng Phùng vẫn chưa hiểu bản chất câu chuyện là ở đâu. Anh ta vẫn nghĩ: “Tôi tin là nếu chiếc Pra-ti-ca trung thành với tôi thì phen này tôi có thể đánh ngã bất kì một bức ảnh mô tả phong cảnh biển nên thơ nào từ trước (câu này cũng bị lược trong đoạn trích). Chỉ đến khi ngồi ở tòa án nghe phụ nữ ấy nói, Phùng mới hiểu bản chất câu chuyện. Đại diện tòa án:

          “Ba ngày một trân nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả nước không cso một người chồng nào như hắn. Tôi chưa hỏi tội của hắn mà tôi chỉ muốn bảo ngay với chị: Chị không sống nổi với cái lão đàn ông vũ phu ấy đâu! Chị nghĩ thế nào?”. Nhưng chị ta trả lời: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”.

       Câu nói khiến Phùng tự nhiên cảm thấy không khí trở nên ngột ngạt khó thở. Như để giải thích, chị ta nói tiếp: “Chị cám ơn các chú! – Người đàn bà đột nhiên thốt lên bằng giọng khẩn thiết – Đây là chị nói thành thực, chị cám ơn các chú. Lòng các chú tốt quá, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc…”. Rồi câu chuyện về cuộc đời người đàn bà như những thước phim quay chậm dần dần hé mở thân phận của người phụ nữ xấu xí vùng biển lấy một gã trai cục tính nhưng khi ấy hắn không bao giờ đánh đập vợ. Thuyền chật, mà con cái nhiều, nỗi khổ đã khiến lão chồng vũ phu đánh vợ như là cách trút nỗi khổ lên đầu vợ. “Sau ngày con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…cho tôi lên bờ mà đánh”. Càng ngày càng thấy rõ nên không nhìn cuộc sống một cách đơn giản. Phùng nghĩ có thể lão chồng độc ác vì đã đi lính ngụy chăng. Nhưng không, lão chưa hề đi lính ngụy, thậm chí vì trốn lính nên nghèo túng. Vấn đề là một gia đình sống trên biển rất cần một người đàn ông. “Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó”. Nhưng cũng không nên nghĩ cuộc sống của người phụ nữ toàn một màu đen. Chị ta nói: “Ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”. Như không tin, Phùng hỏi: “Cả đời chị có một lúc nào thật vui không?”. Và câu trả lời có thể lại cũng khiến anh ngỡ ngàng: “Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Những người quen nghĩ về bình đẳng nam nữ có thể nghĩ đơn giản là giải quyết cho người phụ nữ bỏ gã chồng vũ phu là xong vấn đề. Nhưng nào ngờ được cuộc sống của họ có nhiều phương diện ẩn khuất mà cái nhìn hời hợt khó phát hiện. Chuyến đi săn tìm ảnh đẹp để in vào lịch của Phùng biến thành chuyến đi phát hiện những chân lý của “cuộc sống đời thường”. Không yên tâm với những hình ảnh đã chụp về hình tượng chiếc thuyền ngoài xa, anh khoác chiếc máy ảnh đi lang thang trong đêm. Sự phong phú, đa dạng của cuộc sống thường ngày với tất cả mọi sắc thái của nó là điều bất ngờ lớn nhất đối với người nghệ sĩ nhiếp ảnh. Anh đã chụp được tấm ảnh tuyệt đẹp của chiếc thuyền ngoài xa – khi ở khoảng cách xa – nhưng lại phát hiện ra bên trong chiếc thuyền những bi kịch của cuộc đời khi chiếc thuyền đến gần. Nhiều nhà phê bình đã cho rằng đây là hình ảnh tượng trưng, có ý nghĩa triết lý. Khi chiếc thuyền ở xa, chỉ thấy cái đẹp. Nhưng khi chiếc thuyền tiến lại gần, tức là ta có dịp nhìn sâu vào cuộc sống, những mặt khuất lấp, bi kịch của nó mới bộc lộ.

          Tình huống chứng kiến lão chồng vũ phu đánh vợ đã mở ra một triết lý về sứ mệnh quan trọng của nghệ thuật đi vào khám phá những đề tài, những vấn đề thân phận của con người vốn ẩn kín sau những vẻ ngoài hào nhoáng. Cuộc sống quanh ta đau phải đã hết những số phận đắng cay. Nói cách khác, xu hướng đời thường cần được tăng cường.

2.     Phân tích theo nhân vật.

a)    Nhân vật Phùng – người kể chuyện

          Phùng vốn là một chiến sĩ tham gia chiến trah chống Mĩ. Nhưng tại sao nhà văn lại muốn nhân vật phóng viên ảnh này vốn là bộ đội – một người đã chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước? Có thể nghĩ rằng, tình huống truyện chỉ gây ngỡ ngàng, bất ngờ nhất cho môt người xuất thân là lính? Một người lính có tinh thần chính nghĩa. Tính cách người lính bộc lộ rõ khi anh cả hai lần chứng kiến cảnh lão đàn ông vũ phu đánh vợ đều xông vào can thiệp, khiến cho từ đấy bản chất chuyện gã đàn ông đánh vợ bộc lộ. Nếu không có chuyện Phùng đánh lại lão đàn ông thì tòa án cũng không gọi người vợ thường chịu đòn đó ra để giúp đỡ. Nhưng cũng có thể có một lí do khác nữa: một người lính thì dễ khi anh chứng kiến những tấn bi kịch vẫn âm thầm ẩn náu bên trong những con thuyền nhìn từ xa vốn rất đẹp đẽ và thơ mộng kia. Nếu ta suy diễn như vậy là đúng thì vấn đề của truyện đặt ra là cách mạng phải tiếp tục làm nhiều hơn nữa để đem lại cuộc sống hạnh phúc cho con người.

b)        Nhân vật người đàn bà

          Nhân vật này không có tên, cũng như người chồng chỉ được gọi là “lão đàn ông”. Có thể dụng ý của tác giả là những số phận như thế có thể gặp dễ dàng khắp nơi. Trong cái nhìn của người kể chuyện: “Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Về ngoại hình, như chính người đàn bà tự kể về mình đã nói: “Từ nhỏ tôi đã là một đứa con gái xấu, lại rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa”. Một ngoại hình như thế khó hy vọng lấy được người chồng ưng ý. Bản thân việc lấy chồng của chị cũng không phải là việc bình thường ở cái thời xưa cũ ấy. Nhưng người chồng thời còn trẻ hiền lành: “Cũng vì xấu, trong phố không ai lấy, tôi có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới. Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giwof đánh đập tôi”. Vậy đã rõ là hoàn cảnh đã thay đổi tính cách. Vì nghèo khổ, vì đông con, vì không thể bỏ nghề đã quen bao đời nên họ bám thuyền. Và những trận đòn diễn ra vì một lý do không liên quan gì đến chị “bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu… Giá mà lão uống rượu…thì tôi còn đỡ khổ… Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh…”.

          Cách trả lời của người đàn bà trước những ngạc nhiên khó hiểu của Phùng là rất đơn giản: “Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…”. Trả lời câu hỏi của Đẩu – người cán bộ tòa án: “Trên chiếc thuyền phải có một người đàn ông…dù hắn man rợ, tàn bạo?” là một câu khẳng định: “Phải – người đàn bà đáp – cũng có khi biển động sóng gió chứ chú?”.

Những câu trả lời như những lời tâm sự của người đàn bà khiến cho Phùng đi hết từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. “Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có một người đàn ông để chèo chống mỗi khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! – lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên một nụ cười – vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận vui vẻ”. Người trong gia đình thương người đàn bà và muốn giải thoát cho mụ chính là đứa con trai tên Phác. Nhưng người mẹ sợ có chuyện không hay nên đã gửi cậu về cho ông ngoại nuôi. Chính bà cũng không muốn con can thiệp vào chuyện bố đánh mẹ.

          Đoạn văn trên đây đa nghĩa, có thể phân tích từ nhiều góc độ. Từ góc độ bình đẳng giới, ta thấy bản thân người phụ nữ, do nhận thức hạn chế, cũng tự chấp nhận sự thiệt thòi, gánh chịu nỗi khổ, không biết đến quyền sống cho riêng mình. Từ góc độ nghề nghiệp, lại thấy là những nghề nặng nhọc, nguy hiểm như hàng chài, rất cần có đàn ông với sức mạnh cơ bắp để chèo chống khi có phong ba, bão tố như là sự phân công lao động tự nhiên. Chừng nòa vẫn còn nghề nghiệp như thế thì chừng ấy, những gã đàn ông vẫn có quyền hành hạ phụ nữ mà người phụ nữ vẫn chấp sẵn sàng chấp nhận. Có thể đây là thực tế tồn tại đã bao đời trong xã hội ta, muốn giải phóng người phụ nữ, muốn đem lại bình đẳng nam nữ thì không chỉ có tuyên truyền mà cần có những biện pháp thực tế về kinh tế, luật pháp thì người phụ nữ mới thực sự được tôn trọng trong gia đình. Nếu không thì bản thân người phụ nữ cũng không muốn được “giải phóng”.

          Trong đầu của người chánh án huyện cso “một cái gì vừa mới vỡ ra”, một cách hiểu mới bất chợt hay một cách nghĩ cũ bị lung lay? Có lẽ là cả hai. Nhân vật người phụ nữ tự kể về mình nên có cái chân thực, tự nhiên, không thể tin được.

c)  Nhân vật người chồng

          Nhân vật gã đàn ông – người chồng – được người kể tả lại: “Tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ lúc nào cũng nhìn dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng của người đàn bà”. Người đàn ông lộ rõ một tính cách hoang dã, đầy bản năng, dữ dằn nhưng cũng từ hắn, toát ra sức mạnh vững chãi, một chỗ dựa tin cậy của người đàn ông (dân) làng chài. Những bước đi và tấm lưng của hắn đã nói lên điều đó.

          Cảnh lão hành hạ người vợ và vẻ nhẫn nại, cam chịu của người vợ gây ấn tượng sửng sốt cho Phùng. Thông thường, chuyện đánh đập như thế này là bột phát, thường diễn ra ngay tại chỗ; đằng này, lão lại dẫn vợ lên bờ, chọn chỗ kín đáo sau chiếc xe rà phá mìn bỏ lại để đánh vợ: “Họ đi đến bên chiếc xe rà phá mìn. Người đàn bà đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá nước chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng, rồi đưa một cánh tay lên có lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng ròi lại buông thõng xuống, đưa cặp mặt nhìn xuống chân. Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những diều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lủa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Người đàn bà với vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu môt tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn”. Đánh xong, lão thản nhiên trở về thuyền. “Lão đàn ông định giằng lại chiếc thắt lưng nhưng chẳng được nữa, liền dang thẳng cánh tay cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền. Không hề quay mặt nhìn lại, chỉ có tảng lưng khum khum và vạm vỡ càng có vẻ cúi thấp hơn, nom lão như một con gấu đang đi tìm nguồn nước uống, hai bàn chân chữ bát để lại những vết chân to và sâu trên bãi cát hoang vắng”.Tấm lưng vạm vỡ và bước chân đi vững chãi của hắn lại được người kể chuyện chú ý. Lần này, người kể chuyện so sánh hắn với con gấu. Trong con người này, có hai mặt trái ngược nhau cùng tồn tại. Cái bản năng hoang dã đem lại đau khổ cho người vợ, nhưng sức vóc vững chãi của hắn lai có thể chở che cho cả gia đình. Dáng vẻ người đàn bà chạy theo hắn lên thuyền thật đặc tả “bất ngờ người đàn bà buông đứa trẻ ra, đi thật nhanh ra khỏi bãi xe tăng hỏng, đuổi theo lão đàn ông. Cả hai người lại trở về chiếc thuyền”. Chuyện đánh đập vợ như cơm bữa ấy tạo nên tấn bi kịch căng thẳng trong gia đình. Đến nỗi thằng bé Phác (rất có thể tên nhân vật có nghĩa ẩn dụ: Phác ở đây là chất phác, phác thực cũng như Phùng có nghĩa là sẽ gặp) sẵn sàng đánh bố để cứu mẹ. Người mẹ cho biết “vì sợ thằng bé có thể làm điều gì dại dột đối với bố nó, mụ đã phải gửi nó lên rừng nhờ bố mình nuôi đã nửa năm nay. Ở với ông ngoại, thằng bé sướng hơn ở trên thuyền với bố mẹ. Nhưng hễ rời ra là nó trốn về. Thằng bé tuyên bố với các bác xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt ở dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh”. Cậu còn nhỏ, chưa hiểu hết cuộc sống phức tạp với những mạch ngầm nên phản ứng như thế không có gì khó hiểu. Đây cũng là một bi kịch nữa của cuộc sống. Đứa con trai căm thù bố vì bố đã hành hạ mẹ nhưng chính mẹ lại không muốn đứa con giải thoát cho mình.

          Nhìn chung, các nhân vật đều nói lên một nghịch lý trớ trêu trong cuộc sống. Gã chồng vũ phu vẫn đánh vợ khi thấy khổ nhưng rồi họ vẫn chung sống với nhau, vẫn sinh với nhau một lũ con; người vợ vẫn câm lặng hàng ngày, chấp nhận những trận đồn mà không kêu ca, không bỏ trốn. Nghịch lý như thế rất khó giải thích nếu ta có cái nhìn cuộc sống hời hợt.

          Câu chuyện được khám phá đã ám ảnh người kể chuyện – nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Kết luận là một thông điệp nghệ thuật rất sâu sắc, đầy tính triết lí. Mỗi lần ngắm bức ảnh về chiếc thuyền ngoài xa, anh lại như mường tượng thấy người đàn bà thân phận thật trớ trêu: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân giậm trên mặt đất chắc chắn hòa lẫn trong đám đông…”.

3.  Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Minh Châu

-     Tình huống của truyện như đã nói có khả năng bộ lộ tốt nhất tính cách các nhân vật.

-     Người kể chuyện trong Chiếc thuyền ngoài xa là nhân vật chính, Phùng, người nghệ sĩ nhiếp ảnh vốn xuất thân là lính. Nhưng có lúc người kể chuyện lại là người đàn bà. Cách kể như vậy đem lại sự chân thực, sinh động của lời kể. Cảnh người chồng đánh vợ tất nhiên sẽ chân thực hơn dưới góc độ của người chứng kiến, và từ góc nhìn đó, dễ hiểu phản ứng của người chứng kiến: “Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh chạy nhào tới”. Người kể chuyện vừa kể sự việc, vừa bình luận, vừa phân tích tâm lý chính mình, ví dụ “Chỉ mấy lời mào đầu ấy, người đàn bà cũng mất hết vẻ khúm núm, sợ sệt. Điệu bộ khác, ngôn ngữ khác. Cũng phải nói thật, những lời ấy, nhất là những lời của một người đàn bà khốn khổ, không phải dễ nghe đối với chúng tôi. Dầu mặt hãy còn trẻ, Đẩu cũng là một chánh án huyện . Còn tôi, một người đáng lẽ mụ phải biết ơn…”. Đây là nghệ thuật giúp cho câu chuyện được kể linh hoạt, sinh động, hấp dẫn. Khi người vợ trong vai người kể chuyện thì việc lý giải sự nhẫn nhịn của chị ta mới chân thực, gây được bất ngờ cho người nghe. Trong đoạn này, xen kẽ lời kể của “tôi”, tức nhân vật Phùng, với lời kể của người phụ nữ. Chị ta tự kể về mình, tự phân tích tâm lý mình, tự đánh giá cách hành xử của mình, cách nghĩ đó của người phụ nữ tỏ ra rất xưa cũ nên gây bất ngờ ngạc nhiên, làm sụp đổ những thành kiến cũ của Phùng.

-     Ngôn ngữ nhân vật được Nguyễn Minh Châu rất quan tâm. Nhân vật người chồng vũ phu có thứ ngôn ngữ rất tương hợp với cái vẻ ngoài bản năng, dữ dằn của y, góp phần tạo hình nhân vật. Trong truyện y chỉ nói có hai câu, trong đó đều có những chữ như giết, chết đi, mày, chúng mày: “Cứ ngồi nguyên đấy, Động đậy tao giết cả mày bây giờ”, “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”.

Ngôn ngữ của người vợ thể hiện sự nhẫn nại, cam chịu của ngươi phụ nữ đã bao năm quen với bạo lực gia đình. Đây là một người lao động, quen nói thật, nói thẳng ý nghĩ. Vì thế, không phải dễ nghe đối với Phùng và Đẩu, người chánh án.

 

0
phiếu
0đáp án
987 lượt xem

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?

(Trích)

I-     NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại thành phố Huê, quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, tỉnh Quảng Trị. Ngay khi còn là sinh viên và đi dạy học, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tích cực tham gia các phong trò yêu nước chống Mĩ – ngụy ở nội thành thành phố Huế. Năm 1966, ông lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ bằng hoạt động văn nghệ. Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Trị Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt.

Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn vừa cầm bút vừa cầm súng, có phong cách độc đáo và đặc biệt sở trường về thể văn bút ký, tùy bút. Ký của ông có một diện mạo riêng – vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa, lịch sử rất phong phú – có những đóng góp mới cho văn xuôi Việt Nam hiện đại.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? được tác giả viết tại Huế, ngày 4-1-1981, in trong tập sách cùng tên. Bài bút ký có ba phần. Văn bản trong sách giáo khoa là phần thứ nhất.

2. Về dòng sông Hương

Sông Hương là một dòng sông nổi tiếng chảy giữa lòng thành phố Huế ( Huế đọc chệch đi là Hóa – xưa xứ Huế được gọi là Thuận Hóa). Khi gọi Châu Hóa như tác giả viết trong bài tùy bút thì hiệu quả là gợi ngay một ấn tượng về miền đất lịch sử.

Hai nguồn chính làm nên dòng sông này là dòng Tả Trạch và Hữu Trạch phát nguồn từ dãy Trường Sơn đổ về, hợp lưu lại ngã ba Bằng Lãng tạo thành sông Hương. Sông Hương chảy từ Bằng Lãng đến cửa Thuận An, vượt qua chừng 30km với tốc độ dòng chảy chậm, hiền hòa. Nguyên nhân là do độ chênh giữa mực nước sông và nước biển không lớn nên dòng chảy không mạnh. Cũng có một số nhân tố khác mà chính bài ký có nói: Những chi lưu là những nhánh sông đào hai bên sông và hai hòn đảo nhỏ trên sông cũng làm giảm lưu tốc của dòng chảy.

Huế là nơi thi hào Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều,từng sống. Do đó, mở đầu bài ký, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã liên tưởng dòng sông với tình yêu trong Truyện Kiều, một cách bắt đầu câu chuyện hấp dẫn vì đặt hình tượng dòng sông vào ngữ cảnh văn hóa toàn dân tộc. Ông viết: “Chính sông Hương và thành phố của nó vẫn gợi cho tôi, như một vang bóng trong thời gian, hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng của Truyện Kiều: tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và cả hai cùng gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở”.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? là nhan đề bài tùy bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thực ra, truy tìm nguồn gốc tên gọi sông Hương chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ tình yêu dòng sông, yêu quê hương xứ sở tươi đẹp, với bề dày truyền thống văn hóa và cách mạng. Đoạn trích đã lược bớt phần tác giả bà về cội nguồn tên gọi Hương Giang. Để hiểu đầy đủ về vấn đề này, chúng tôi xin cung cấp một cách ngắn gọn các cách cắt nghĩa tên gọi sông Hương đã được các nhà nghiên cứu tổng hợp.

Về cơ bản, đến nay có bốn cách giải thích khác nhau về cội nguồn tên gọi của sông Hương:

-     Theo truyền thuyết, khi xưa, chúa Nguyễn Hoàng trên đường từ Quảng Trị đi tuần du về phương Nam nghỉ ngơi bên bờ sông Hương, nằm mộng thấy một người phụ nữ nhà trời (thiên mụ) trao cho nén hương và dặn rằng, đi thuyền xuôi theo dòng sông, đến khi hương tàn thì dừng lại, đấy là nơ có thể định đô. Vì thế mà Nguyễn Hoàng đã chọn được nơi đóng thủ phủ Phú Xuân, sau này là kinh đô. Để ghi ơn “thiên mụ”, ngay trong năm 1601, chúa Nguyễn Hoàng đã xây dựng ngôi chùa Thiên Mụ nổi tiếng và đặt tên cho dòng sông là sông Hương.

-     Một dã sử lại kể rằng vua Quang Trung đã ra lệnh chính thức gọi Hương Giang cho toàn bộ dòng sông từ trên núi cao ra đến biển, chấm dứt tình trạng mỗi đoạn sông lại được gọi riêng theo tên địa phương như Đan Điền, Hương Trà.

-     Cắt nghĩa tên sông bằng các yếu tố tự nhiên có thuyết nói rằng vì cây thạch xuowng bồ mọc ở hai bên bờ dòng tả trạch và hữu trạch, một loại dược liệu quý, có mùi thơm, từ đó có tên là sông Hương.

-     Cách cắt nghĩa đầy nghệ thuật mà Hoàng Phủ Ngọc Tường tâm huyết. ở đoạn kết thiên bút ký mà chúng ta đang nói đến, ông viết: “Có nhiều cách trả lời cho câu hỏi ấy; trong đó, tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước trăm hoa đỏ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi. Tôi lĩnh hội ý nghĩa của truyền thuyết ấy như nhà thơ chọn bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hóa và lịch sử”.

Một cách lý tưởng, để hiểu được đầy đủ bài tùy bút đặc sắc này, người đọc cần cso một số hiểu biết nhất định về xứ Huế. Chẳng hạn nếu có cơ hội một lần đến thăm các lăng tẩm ở Huế thì sẽ cảm nhậ hết cái so sánh ví von dòng Hương Gian chạy qua khu vực này có vẻ đẹp trầm mặc nhất; hoặc nếu ta có một lần đến cầu Tràng Tiền vắt qua sông Hương, sẽ hiểu chính những nhịp cầu có dáng cong như cầu vồng trên cây cầu này gợi ý cho so sánh của tác giả “như những vành trăng non”. Tác giả dẫu là tài hư cấu, tưởng tượng đến mấy thì vẫn là dựa trên cơ sở những gợi ý từ hiện thực.

3. Về thể văn tùy bút

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán- Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi [đồng Chủ biên], NXB Giáo dục, 2004), bút ký là một thể ký có quy mô trương ứng với truyện ngắn nhưng khác truyện ngắn ở chỗ tác giả bút ký không sử dụng hư cấu vào việc phản ánh hiện thực. Bút ký ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tưởng tượng nào đó. Sức hấp dẫn và thuyết phụ của bút ký tùy thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu, khám phá, diễn đạt của tác giả đối với các sự kiện được dề cập đến nhằm khám phá ra các khía cạnh “có vấn đề”, những ý nghĩa mới mẻ, sâu sắc trong va chạm giữa tính cách và hoàn cảnh, cá nhân và môi trường. Bút ký có thể thiên về văn học, cũng có thể thuộc về báo chí tùy theo mức độ biểu hiện cái riêng của tác giả và mức độ sử dụng các biện pháp nghệ thuật cùng tính chất tác động của nó đối với công chúng.

Chúng ta vừa làm quen với thể tùy bút qua bút ký Sông Đà của Nguyễn Tuân. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là nhà văn viết tùy bút tài hoa nổi tiếng. Thể tùy bút cho phép tác giả kể, tả và phát biểu trực tiếp, không hạn chế các suy nghĩ, cảm xúc, bình luận thể hiện “cái tôi” của mình. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã biết khai thác tối đa đặc trưng của tùy bút khi viết sông Hương, một đối tượng chiếm lĩnh có những điểm khác nhau căn bản so với Sông Đà của Nguyễn Tuân.

II-    PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

Đoạn trích có hai phần với hai nội dung chính riêng, phân biệt bằng dấu sao. Phàn đầu dành cho những dòng bình luận, suy ngãm về cảnh quan tự nhiên của sông Hương và những cảnh quan nhân tạo hai bền bờ dòng sông; phần thứ hai viết về lịch sử và văn hóa đôi vờ sông Hương.

a) Cảnh quan tự nhiên của sông Hương và các không gian văn hóa đôi bờ dòng sông

Nhà văn sử dụng ngôn ngữ tự sự nhưng không phải là tự sự về một đối tượng của khoa Địa lý học mà như kể về một sinh thể, một cô gái. Và song song một dòng mạch trữ tình theo tuyến tự sự. Kể, tả và bình luận được kết hợp nhuần nhuyễn làm nên chất tùy bút đặc trưng của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Để viết thiên tùy bút, nhà văn phải là người rất am hiểu và có tình cảm gắn bó thân thiết với dòng sông. Nhưng để tác phẩm thành công, tác giả phải có tài năng văn chương thật sự.

Sông Hương từ dải Trường Sơn đổ ra biển Đông có hai chặng khác nhau. Chặng thư snhaats từ ngọn nguồn trên sườn Đông dải Trường Sơn quanh co qua các dải đồi núi; chặng thứ hai, khi mặt dòng nước dòng sông đã phẳng lặng dần đến khi gặp chùa Thiên Mụ là bắt đầu tìm đúng đường về thành phố. Nhà văn ngược lên tận ngọn nguồn con sông để nhận diện nó rồi xuôi theo dòng để quan sát nó lượn  quanh thành phố Huế. “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”. Và kết quả là một phát hiện “Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. “Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già […] và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Đây là những so sánh nhân cách hóa thật đặc sắc. Nhiều tên gọi các dòng sông gắn với hình ảnh người mẹ (sông Mê Kông và sông Hồng – còn gọi là sông Cái – đều là những sông Mẹ), nhưng tác giả đã thích so sánh sông Hương với người thiếu nữ.

Người viết lần theo dòng chảy con sông không phải với tư cách là nhà địa lý hay người đi vẽ bản đồ mà là như một chàng trai khám phá tính cách của cô gái. Từ góc nhìn đó, những tư tưởng và so sánh thú vị xuất hiện. Dòng sông như một cô gái đẹp đã nằm ngủ từ bao giờ giữa cánh đồng hoang dại của Châu Hóa, rồi đến khi có “người tình mong đợi” đã đến đánh thức người đẹp – người tình đây hẳn là thành phố Huế, song sự xuất hiện của Huế lại gắn liền với con người, lại không thể tách rời với tiến trình Nam tiến của dân tộc. Dòng sông tạo nền tảng để xuất hiện văn hóa, văn minh, song cũng đợi con người để hiện thực hóa tiềm năng đó. Những câu văn có sức gợi liêng tưởng vô cùng, tùy thuộc vào vốn sống, sự từng trải và quan tâm của người đọc.

Xuống đến đồng bằng, dòng sông uốn lượn qua nhiều khúc quanh để đến gặp thành phố. Từ chùa Thiên Mụ, dòng sông đã tìm đúng hướng về “Từ đây, như đã tìm đúng hướng về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuois cùng, nó đã tìm thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”. Tác giả hình dung đó là những chuyển động “uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó”. Không những đặc tả các đường uốn lượn, tác giả còn có quan sát và cách diễn đạt thú vị về màu sắc con sông. Sắc sông trở nên xanh thẳm khi đến chân núi Hòn Chén (tác giả dùng tên chữ là Ngọc Trản – nguyên nghĩa là Chén Ngọc), vùng đồi núi lô nhô và lăng tẩm tạo nên vẻ đẹp trầm mặc nhất cho con sông.

Dòng sông chảy qua Huế đi chậm “cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”. So sánh sự bình yên, “điệu nhảy lặng lờ” của nó khi ngang qua thành phố với dòng chảy gấp gáp của sông Nê- va khi đi qua Lê-nin-grat (nay là Xanh-pê-téc-bua) nước Nga, liên tưởng đế triết lý của Hê-ra-clit “không thể tắm hai lần trong một dòng sông” là đoạn văn tài hoa, trí tuệ mà cũng rất hấp dẫn.

Cảnh quan thiên nhiên góp phần tạo nên những nền văn hóa đặc sắc. Dù tả cảnh quan dòng sông, tác giả luôn liên tưởng, mở rộng suy ngẫm về đặc trưng riêng của dòng sông Hương, quan sát không gian văn hóa hình thành quanh đôi bờ và dọc theo dòng sông. “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya […] toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”. Khoang thuyền, mái chèo khuya đều là những hình ảnh liên hệ với dòng sông. Đến đây, nhà văn lại liên tưởng đến những bản đàn trong Truyện Kiều bất hủ như một minh chứng hùng hồn cho vai trò văn hóa của sông Hương.

Trước khi giã từ thành phố để về với biển cả, “nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao […] tôi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Rồi lại so sánh với nàng Kiều “Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả”.

Nhìn chung, cảnh quan sông Hương được nhìn ngắm từ góc nhìn văn hóa. Nhà văn suy ngẫm đầy chất trữ tình về không gian văn hóa trên hai bờ sông Hương. Uyên bác, lịch lãm, từng trải và tài hoa là những phẩm chất dễ thấy của tác giả trong phần này.

b) Sông Hương trong lịch sử và thi ca

Sông Hương – mà cũng là Huế - đã có lịch sử của nó trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Không thể tách rời sông Hương với lịch sử dân tộc, càng không thể tách rời nó với Huế. Cảm hứng ấy toát lên từ những câu văn tự sự tưởng như khô khan. “Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỷ vinh quang với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỷ trung đại”.

Càng về cuối thời trung đại, trong các thế kỷ XIVIII, XIX, Huế và sông Hương càng có mặt nhiều hơn trong các sự kiện lịch sử “long trời lở đất” và tiếp tục truyền thống ấy qua Cách mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. “Thế kỷ mười tám, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ mười chín với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển”.

Đến thời hiện đại, Huế và sông Hương đã có những hi sinh, mất mát đầy cống hiến cho lịch sử cách mạng dân tộc. Đến đay, dường như sông Hương tạm lùi vào hậu trường để Huế hiện ra trên tiền cảnh. Nhà văn trầm tư trên sự kiện lịch sử - cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1968, khi toàn miền Nam từ Quảng Trị đến Nam Bộ, trong đó có Huế, đồng loạt nổi dậy đánh Mĩ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đó cho thấy sức mạnh của cách mạng, làm suy yếu kẻ thù, buộc chúng phải điều chỉnh chiến lược cả trên chiến trường và trên bàn Hội nghị Pa-ri. Nhưng mặt khác, trong cuộc chiến đấu ấy, Huế cũng chịu nhiều tổn thất: “Cùng với niềm cổ vũ nồng nhiệt dành cho nó trong mùa xuân Mậu Thân, Huế đã nhận được những lời chia buồn sâu sắc nhất của thế giới về sự tàn phá mà đế quốc Mĩ đã chụp lên những di sản văn hóa của nó”. Sự đánh giá tổn thất, hi sinh mà Huế gánh chiu được nhìn từ cả hai phía. Chính người Mĩ đã lên án sức phá hoại tàn bạo đối với Huế do các trận bom của Mĩ. Nhưng thật xúc động là hình ảnh người Đại tướng “đầu cúi xuống ngực, hai bàn tay chắp lại trong cử chỉ kính cẩn của người già mắt ngấn lệ” khi nói đến “cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc” của thành phố Huế. Không có chữ nào nói về mất mát, hi sinh nhứng “ngấn lệ” trong mắt “người già” đã nói lên tất cả.

Sông Hương, dòng sông của những sự kiện lịch sử hào hùng và dòng sông của cuộc sống hàng ngày. “Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Tại sao đang suy ngẫm về lịch sử, tác giả lại chuyển đột ngột sang hình ảnh sắc áo cưới của Huế rất xưa mà các cô dâu vẫn mặc? Có thể đoán rằng, nhà văn muốn nói đến sự sống hiền hòa, dịu dàng vẫn là mạch sống chính của xứ Huế, của dòng sông Hương, khuôn mặt thực hiền hòa của dòng sông đôi khi ẩn giấu trong màn sương.

Sông Hương là suối nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca, nhạc họa. Mỗi nhà nghệ sĩ đều có khám phá riêng về dòng sông, hay như cách nói của tác giả muốn nhấn mạnh tính chủ động của con sông như một sinh thể “dòng sông ấy không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”. Từ Nguyễn Du với Truyện Kiều bất hủ, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, đến thi ca cách mạng. Thi ca cùng với kiến trúc, âm nhạc, hội họa góp phần làm cho không gian văn hóa sông Hương thêm phong phú, giàu bản sắc.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

Như đã nói, bài bút ký thuộc thể loại tùy bút. Nhà văn đã kết hợp phong cách khảo cứu với sự thể hiện kiến thức sách vở uyên bác; bộc lộ sự lịch lãm, từng trải với vốn sống phong phú, sâu sắc; khả năng phân tích, bình luận thực tế, sắc sảo và một trái tim giàu tình cảm, giàu tình yêu thương con người và quê hương đất nước. Thiên tùy bút như một tác phẩm mẫu mực viết về thắng cảnh quê hương đất nước. dòng sông như một sinh thể sống động. Dòng sông tạo nên cả một không gian văn hóa. Dòng sông qua lịch sử lâu đời, có những trang bi hùng song trong trường kỳ lịch sử, nó đẹp và thân thương như một người con gái. Những điểm nhìn đa chiều giúp người đọc yêu dòng sông hơn, tự hào về quê hương, đất nước hơn.

Trong thiên tùy bút, tác giả chuyển đổi giọng điệu khá linh hoạt. Khi là lối kể tự sự, khi lại là sự tưởng tượng bay bổng với những hình ảnh bất ngờ. Chẳng hạn, ngay trong một đoạn văn, ta cũng thấy sự thay đổi này: “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”.

Có khi là cả một đoạn văn chính luận khô khan sau đó là những cử chỉ im lặng đầy xúc động như đoạn văn viết về cuộc Tổng tiến công Mậu Thân.

Sự xen kẽ giữa tả, kể về sông Hương với sự vận dụng kiến thức sách vở và kiến thức cuộc sống cũng là một nhân tố tọa nên chất tùy bút đặc sắc. Tác giả đã có dịp đi qua nhiều dòng sông lớn trên thế giới như sông Xen, sông Đa-nuýp, sông Nê-va, đó là vốn sống; tác giả thuộc Truyện Kiều, thơ Cao Bá Quát, Tản Đà, dẫn cả tư tưởng biện chứng của Hê-ra-clit,… đó là học vấn. Tác giả có quan điểm riêng về nghệ thuật Huế: “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát. Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”, đó là sự lịch lãm, tinh tế trong trải nghiệm và quan sát. Nhìn chung, tùy bút cho phép tác giả bộ lộ toàn diện các phẩm chất trí tuệ và cảm xúc của mình.

 

0
phiếu
0đáp án
454 lượt xem

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?

(Trích)

I-     NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại thành phố Huê, quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, tỉnh Quảng Trị. Ngay khi còn là sinh viên và đi dạy học, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tích cực tham gia các phong trò yêu nước chống Mĩ – ngụy ở nội thành thành phố Huế. Năm 1966, ông lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ bằng hoạt động văn nghệ. Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Trị Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt.

Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn vừa cầm bút vừa cầm súng, có phong cách độc đáo và đặc biệt sở trường về thể văn bút ký, tùy bút. Ký của ông có một diện mạo riêng – vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa, lịch sử rất phong phú – có những đóng góp mới cho văn xuôi Việt Nam hiện đại.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? được tác giả viết tại Huế, ngày 4-1-1981, in trong tập sách cùng tên. Bài bút ký có ba phần. Văn bản trong sách giáo khoa là phần thứ nhất.

2. Về dòng sông Hương

Sông Hương là một dòng sông nổi tiếng chảy giữa lòng thành phố Huế ( Huế đọc chệch đi là Hóa – xưa xứ Huế được gọi là Thuận Hóa). Khi gọi Châu Hóa như tác giả viết trong bài tùy bút thì hiệu quả là gợi ngay một ấn tượng về miền đất lịch sử.

Hai nguồn chính làm nên dòng sông này là dòng Tả Trạch và Hữu Trạch phát nguồn từ dãy Trường Sơn đổ về, hợp lưu lại ngã ba Bằng Lãng tạo thành sông Hương. Sông Hương chảy từ Bằng Lãng đến cửa Thuận An, vượt qua chừng 30km với tốc độ dòng chảy chậm, hiền hòa. Nguyên nhân là do độ chênh giữa mực nước sông và nước biển không lớn nên dòng chảy không mạnh. Cũng có một số nhân tố khác mà chính bài ký có nói: Những chi lưu là những nhánh sông đào hai bên sông và hai hòn đảo nhỏ trên sông cũng làm giảm lưu tốc của dòng chảy.

Huế là nơi thi hào Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều,từng sống. Do đó, mở đầu bài ký, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã liên tưởng dòng sông với tình yêu trong Truyện Kiều, một cách bắt đầu câu chuyện hấp dẫn vì đặt hình tượng dòng sông vào ngữ cảnh văn hóa toàn dân tộc. Ông viết: “Chính sông Hương và thành phố của nó vẫn gợi cho tôi, như một vang bóng trong thời gian, hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng của Truyện Kiều: tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và cả hai cùng gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở”.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? là nhan đề bài tùy bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thực ra, truy tìm nguồn gốc tên gọi sông Hương chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ tình yêu dòng sông, yêu quê hương xứ sở tươi đẹp, với bề dày truyền thống văn hóa và cách mạng. Đoạn trích đã lược bớt phần tác giả bà về cội nguồn tên gọi Hương Giang. Để hiểu đầy đủ về vấn đề này, chúng tôi xin cung cấp một cách ngắn gọn các cách cắt nghĩa tên gọi sông Hương đã được các nhà nghiên cứu tổng hợp.

Về cơ bản, đến nay có bốn cách giải thích khác nhau về cội nguồn tên gọi của sông Hương:

-     Theo truyền thuyết, khi xưa, chúa Nguyễn Hoàng trên đường từ Quảng Trị đi tuần du về phương Nam nghỉ ngơi bên bờ sông Hương, nằm mộng thấy một người phụ nữ nhà trời (thiên mụ) trao cho nén hương và dặn rằng, đi thuyền xuôi theo dòng sông, đến khi hương tàn thì dừng lại, đấy là nơ có thể định đô. Vì thế mà Nguyễn Hoàng đã chọn được nơi đóng thủ phủ Phú Xuân, sau này là kinh đô. Để ghi ơn “thiên mụ”, ngay trong năm 1601, chúa Nguyễn Hoàng đã xây dựng ngôi chùa Thiên Mụ nổi tiếng và đặt tên cho dòng sông là sông Hương.

-     Một dã sử lại kể rằng vua Quang Trung đã ra lệnh chính thức gọi Hương Giang cho toàn bộ dòng sông từ trên núi cao ra đến biển, chấm dứt tình trạng mỗi đoạn sông lại được gọi riêng theo tên địa phương như Đan Điền, Hương Trà.

-     Cắt nghĩa tên sông bằng các yếu tố tự nhiên có thuyết nói rằng vì cây thạch xuowng bồ mọc ở hai bên bờ dòng tả trạch và hữu trạch, một loại dược liệu quý, có mùi thơm, từ đó có tên là sông Hương.

-     Cách cắt nghĩa đầy nghệ thuật mà Hoàng Phủ Ngọc Tường tâm huyết. ở đoạn kết thiên bút ký mà chúng ta đang nói đến, ông viết: “Có nhiều cách trả lời cho câu hỏi ấy; trong đó, tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước trăm hoa đỏ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi. Tôi lĩnh hội ý nghĩa của truyền thuyết ấy như nhà thơ chọn bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hóa và lịch sử”.

Một cách lý tưởng, để hiểu được đầy đủ bài tùy bút đặc sắc này, người đọc cần cso một số hiểu biết nhất định về xứ Huế. Chẳng hạn nếu có cơ hội một lần đến thăm các lăng tẩm ở Huế thì sẽ cảm nhậ hết cái so sánh ví von dòng Hương Gian chạy qua khu vực này có vẻ đẹp trầm mặc nhất; hoặc nếu ta có một lần đến cầu Tràng Tiền vắt qua sông Hương, sẽ hiểu chính những nhịp cầu có dáng cong như cầu vồng trên cây cầu này gợi ý cho so sánh của tác giả “như những vành trăng non”. Tác giả dẫu là tài hư cấu, tưởng tượng đến mấy thì vẫn là dựa trên cơ sở những gợi ý từ hiện thực.

3. Về thể văn tùy bút

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán- Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi [đồng Chủ biên], NXB Giáo dục, 2004), bút ký là một thể ký có quy mô trương ứng với truyện ngắn nhưng khác truyện ngắn ở chỗ tác giả bút ký không sử dụng hư cấu vào việc phản ánh hiện thực. Bút ký ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tưởng tượng nào đó. Sức hấp dẫn và thuyết phụ của bút ký tùy thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu, khám phá, diễn đạt của tác giả đối với các sự kiện được dề cập đến nhằm khám phá ra các khía cạnh “có vấn đề”, những ý nghĩa mới mẻ, sâu sắc trong va chạm giữa tính cách và hoàn cảnh, cá nhân và môi trường. Bút ký có thể thiên về văn học, cũng có thể thuộc về báo chí tùy theo mức độ biểu hiện cái riêng của tác giả và mức độ sử dụng các biện pháp nghệ thuật cùng tính chất tác động của nó đối với công chúng.

Chúng ta vừa làm quen với thể tùy bút qua bút ký Sông Đà của Nguyễn Tuân. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là nhà văn viết tùy bút tài hoa nổi tiếng. Thể tùy bút cho phép tác giả kể, tả và phát biểu trực tiếp, không hạn chế các suy nghĩ, cảm xúc, bình luận thể hiện “cái tôi” của mình. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã biết khai thác tối đa đặc trưng của tùy bút khi viết sông Hương, một đối tượng chiếm lĩnh có những điểm khác nhau căn bản so với Sông Đà của Nguyễn Tuân.

II-    PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

Đoạn trích có hai phần với hai nội dung chính riêng, phân biệt bằng dấu sao. Phàn đầu dành cho những dòng bình luận, suy ngãm về cảnh quan tự nhiên của sông Hương và những cảnh quan nhân tạo hai bền bờ dòng sông; phần thứ hai viết về lịch sử và văn hóa đôi vờ sông Hương.

a) Cảnh quan tự nhiên của sông Hương và các không gian văn hóa đôi bờ dòng sông

Nhà văn sử dụng ngôn ngữ tự sự nhưng không phải là tự sự về một đối tượng của khoa Địa lý học mà như kể về một sinh thể, một cô gái. Và song song một dòng mạch trữ tình theo tuyến tự sự. Kể, tả và bình luận được kết hợp nhuần nhuyễn làm nên chất tùy bút đặc trưng của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Để viết thiên tùy bút, nhà văn phải là người rất am hiểu và có tình cảm gắn bó thân thiết với dòng sông. Nhưng để tác phẩm thành công, tác giả phải có tài năng văn chương thật sự.

Sông Hương từ dải Trường Sơn đổ ra biển Đông có hai chặng khác nhau. Chặng thư snhaats từ ngọn nguồn trên sườn Đông dải Trường Sơn quanh co qua các dải đồi núi; chặng thứ hai, khi mặt dòng nước dòng sông đã phẳng lặng dần đến khi gặp chùa Thiên Mụ là bắt đầu tìm đúng đường về thành phố. Nhà văn ngược lên tận ngọn nguồn con sông để nhận diện nó rồi xuôi theo dòng để quan sát nó lượn  quanh thành phố Huế. “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”. Và kết quả là một phát hiện “Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. “Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già […] và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Đây là những so sánh nhân cách hóa thật đặc sắc. Nhiều tên gọi các dòng sông gắn với hình ảnh người mẹ (sông Mê Kông và sông Hồng – còn gọi là sông Cái – đều là những sông Mẹ), nhưng tác giả đã thích so sánh sông Hương với người thiếu nữ.

Người viết lần theo dòng chảy con sông không phải với tư cách là nhà địa lý hay người đi vẽ bản đồ mà là như một chàng trai khám phá tính cách của cô gái. Từ góc nhìn đó, những tư tưởng và so sánh thú vị xuất hiện. Dòng sông như một cô gái đẹp đã nằm ngủ từ bao giờ giữa cánh đồng hoang dại của Châu Hóa, rồi đến khi có “người tình mong đợi” đã đến đánh thức người đẹp – người tình đây hẳn là thành phố Huế, song sự xuất hiện của Huế lại gắn liền với con người, lại không thể tách rời với tiến trình Nam tiến của dân tộc. Dòng sông tạo nền tảng để xuất hiện văn hóa, văn minh, song cũng đợi con người để hiện thực hóa tiềm năng đó. Những câu văn có sức gợi liêng tưởng vô cùng, tùy thuộc vào vốn sống, sự từng trải và quan tâm của người đọc.

Xuống đến đồng bằng, dòng sông uốn lượn qua nhiều khúc quanh để đến gặp thành phố. Từ chùa Thiên Mụ, dòng sông đã tìm đúng hướng về “Từ đây, như đã tìm đúng hướng về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuois cùng, nó đã tìm thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”. Tác giả hình dung đó là những chuyển động “uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó”. Không những đặc tả các đường uốn lượn, tác giả còn có quan sát và cách diễn đạt thú vị về màu sắc con sông. Sắc sông trở nên xanh thẳm khi đến chân núi Hòn Chén (tác giả dùng tên chữ là Ngọc Trản – nguyên nghĩa là Chén Ngọc), vùng đồi núi lô nhô và lăng tẩm tạo nên vẻ đẹp trầm mặc nhất cho con sông.

Dòng sông chảy qua Huế đi chậm “cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”. So sánh sự bình yên, “điệu nhảy lặng lờ” của nó khi ngang qua thành phố với dòng chảy gấp gáp của sông Nê- va khi đi qua Lê-nin-grat (nay là Xanh-pê-téc-bua) nước Nga, liên tưởng đế triết lý của Hê-ra-clit “không thể tắm hai lần trong một dòng sông” là đoạn văn tài hoa, trí tuệ mà cũng rất hấp dẫn.

Cảnh quan thiên nhiên góp phần tạo nên những nền văn hóa đặc sắc. Dù tả cảnh quan dòng sông, tác giả luôn liên tưởng, mở rộng suy ngẫm về đặc trưng riêng của dòng sông Hương, quan sát không gian văn hóa hình thành quanh đôi bờ và dọc theo dòng sông. “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya […] toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”. Khoang thuyền, mái chèo khuya đều là những hình ảnh liên hệ với dòng sông. Đến đây, nhà văn lại liên tưởng đến những bản đàn trong Truyện Kiều bất hủ như một minh chứng hùng hồn cho vai trò văn hóa của sông Hương.

Trước khi giã từ thành phố để về với biển cả, “nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao […] tôi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Rồi lại so sánh với nàng Kiều “Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả”.

Nhìn chung, cảnh quan sông Hương được nhìn ngắm từ góc nhìn văn hóa. Nhà văn suy ngẫm đầy chất trữ tình về không gian văn hóa trên hai bờ sông Hương. Uyên bác, lịch lãm, từng trải và tài hoa là những phẩm chất dễ thấy của tác giả trong phần này.

b) Sông Hương trong lịch sử và thi ca

Sông Hương – mà cũng là Huế - đã có lịch sử của nó trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Không thể tách rời sông Hương với lịch sử dân tộc, càng không thể tách rời nó với Huế. Cảm hứng ấy toát lên từ những câu văn tự sự tưởng như khô khan. “Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỷ vinh quang với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỷ trung đại”.

Càng về cuối thời trung đại, trong các thế kỷ XIVIII, XIX, Huế và sông Hương càng có mặt nhiều hơn trong các sự kiện lịch sử “long trời lở đất” và tiếp tục truyền thống ấy qua Cách mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. “Thế kỷ mười tám, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ mười chín với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển”.

Đến thời hiện đại, Huế và sông Hương đã có những hi sinh, mất mát đầy cống hiến cho lịch sử cách mạng dân tộc. Đến đay, dường như sông Hương tạm lùi vào hậu trường để Huế hiện ra trên tiền cảnh. Nhà văn trầm tư trên sự kiện lịch sử - cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1968, khi toàn miền Nam từ Quảng Trị đến Nam Bộ, trong đó có Huế, đồng loạt nổi dậy đánh Mĩ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đó cho thấy sức mạnh của cách mạng, làm suy yếu kẻ thù, buộc chúng phải điều chỉnh chiến lược cả trên chiến trường và trên bàn Hội nghị Pa-ri. Nhưng mặt khác, trong cuộc chiến đấu ấy, Huế cũng chịu nhiều tổn thất: “Cùng với niềm cổ vũ nồng nhiệt dành cho nó trong mùa xuân Mậu Thân, Huế đã nhận được những lời chia buồn sâu sắc nhất của thế giới về sự tàn phá mà đế quốc Mĩ đã chụp lên những di sản văn hóa của nó”. Sự đánh giá tổn thất, hi sinh mà Huế gánh chiu được nhìn từ cả hai phía. Chính người Mĩ đã lên án sức phá hoại tàn bạo đối với Huế do các trận bom của Mĩ. Nhưng thật xúc động là hình ảnh người Đại tướng “đầu cúi xuống ngực, hai bàn tay chắp lại trong cử chỉ kính cẩn của người già mắt ngấn lệ” khi nói đến “cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc” của thành phố Huế. Không có chữ nào nói về mất mát, hi sinh nhứng “ngấn lệ” trong mắt “người già” đã nói lên tất cả.

Sông Hương, dòng sông của những sự kiện lịch sử hào hùng và dòng sông của cuộc sống hàng ngày. “Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Tại sao đang suy ngẫm về lịch sử, tác giả lại chuyển đột ngột sang hình ảnh sắc áo cưới của Huế rất xưa mà các cô dâu vẫn mặc? Có thể đoán rằng, nhà văn muốn nói đến sự sống hiền hòa, dịu dàng vẫn là mạch sống chính của xứ Huế, của dòng sông Hương, khuôn mặt thực hiền hòa của dòng sông đôi khi ẩn giấu trong màn sương.

Sông Hương là suối nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca, nhạc họa. Mỗi nhà nghệ sĩ đều có khám phá riêng về dòng sông, hay như cách nói của tác giả muốn nhấn mạnh tính chủ động của con sông như một sinh thể “dòng sông ấy không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”. Từ Nguyễn Du với Truyện Kiều bất hủ, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, đến thi ca cách mạng. Thi ca cùng với kiến trúc, âm nhạc, hội họa góp phần làm cho không gian văn hóa sông Hương thêm phong phú, giàu bản sắc.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

Như đã nói, bài bút ký thuộc thể loại tùy bút. Nhà văn đã kết hợp phong cách khảo cứu với sự thể hiện kiến thức sách vở uyên bác; bộc lộ sự lịch lãm, từng trải với vốn sống phong phú, sâu sắc; khả năng phân tích, bình luận thực tế, sắc sảo và một trái tim giàu tình cảm, giàu tình yêu thương con người và quê hương đất nước. Thiên tùy bút như một tác phẩm mẫu mực viết về thắng cảnh quê hương đất nước. dòng sông như một sinh thể sống động. Dòng sông tạo nên cả một không gian văn hóa. Dòng sông qua lịch sử lâu đời, có những trang bi hùng song trong trường kỳ lịch sử, nó đẹp và thân thương như một người con gái. Những điểm nhìn đa chiều giúp người đọc yêu dòng sông hơn, tự hào về quê hương, đất nước hơn.

Trong thiên tùy bút, tác giả chuyển đổi giọng điệu khá linh hoạt. Khi là lối kể tự sự, khi lại là sự tưởng tượng bay bổng với những hình ảnh bất ngờ. Chẳng hạn, ngay trong một đoạn văn, ta cũng thấy sự thay đổi này: “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”.

Có khi là cả một đoạn văn chính luận khô khan sau đó là những cử chỉ im lặng đầy xúc động như đoạn văn viết về cuộc Tổng tiến công Mậu Thân.

Sự xen kẽ giữa tả, kể về sông Hương với sự vận dụng kiến thức sách vở và kiến thức cuộc sống cũng là một nhân tố tọa nên chất tùy bút đặc sắc. Tác giả đã có dịp đi qua nhiều dòng sông lớn trên thế giới như sông Xen, sông Đa-nuýp, sông Nê-va, đó là vốn sống; tác giả thuộc Truyện Kiều, thơ Cao Bá Quát, Tản Đà, dẫn cả tư tưởng biện chứng của Hê-ra-clit,… đó là học vấn. Tác giả có quan điểm riêng về nghệ thuật Huế: “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát. Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”, đó là sự lịch lãm, tinh tế trong trải nghiệm và quan sát. Nhìn chung, tùy bút cho phép tác giả bộ lộ toàn diện các phẩm chất trí tuệ và cảm xúc của mình.

0
phiếu
0đáp án
709 lượt xem

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

(Trích)

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Nguyễn Tuân (1919 –1987) sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn. Quê ông ở làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Ông có một vị trí quan trọng và đóng góp không nhỏ đổi với văn học Việt Nam hiện đại

Người lái đò Sông Đà là bài tùy bút được in trong tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân, xuất bản lần đầu năm 1960. Thiên tùy bút này thể hiện rõ nét đặc sắc của phong cách Nguyễn Tuân. Việc lựa chọn đề tài viết về Sông Đà thời điểm đó cũng là một bản lĩnh, vì hồi ấy từ Quynh Nhai sang Than Uyên chưa có đường sá thuận lợi. Nhà văn phải xin một con ngựa và một dân quân, đi theo đường mòn đến ba ngày không gặp người đi ngược.

2. Về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân

a) Đề tài

Nguyễn Tuân thường chọn những đề tài độc đáo, khác thường, ít được đề cập tới trong văn học sáng tác trước ông. Sông Đà cùng với vùng núi rừng hùng vĩ miền Tây Bắc nước ta và con người nơi đây đã gợi cảm hứng đặc biệt cho nhà văn trong những chuyến đi khoảng 1958-1960. Mở đầu thiên bút kí, nhà văn cho biết: “Tôi cũng tự nhận thấy mình là một người đang tìm vàng ở quanh Sông Đà, đi tìm cái thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc, và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa tươi vui và vững bền”.

b) Cảm hứng nghệ thuật

Nguyễn Tuân viết trong thiên bút ký: “Con Sông Đà thật dữ thật lớn và lớn hơn nữa là những người lao động chở đò kéo đò thắng cái thiên nhiên không bình thường của một con sông Tây Bắc hiểm trở”. Người lái đò là nhân vật trung tâm của bút ký. Về phong cách, Nguyễn Tuân có thiên hướng chọn những đối tượng phi thường, tìm cái đẹp trong cái phi thường, khác thường. Gợi cảm hứng đặc biệt cho Nguyễn Tuân ở các đối tượng miêu tả đặc biệt này là tính chất đỉnh cao của chúng. Những mẫu người được nhà văn ca ngợi thường là các nghệ sĩ bậc thầy, các quán quân kỷ lục đỉnh cao trong lĩnh vực sống và hoạt động riêng của họ. Ví dụ, trong chuyện lái thuyền vượt thác trên sông thì người lái đò sông Đà đạt được tài nghệ của bậc quán quân, các nghệ sĩ bậc thầy tưởng như không một ai cáo thể điêu luyện, tài ba hơn họ được.      Trong phần tùy bút trước đoạn trích, Nguyễn Tuân kể vè thân thế của người lái đò: “Trên dòng Sông Đà, ông xuôi ông ngược hơn một trăm lần, chính tay giữ lái độ sáu chục lần cho những chuyến thuyền then đuôi én sáu chèo… Sông Đà, đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những cái chấm than chấm câu và những đoạn xuống dòng”. Người lái đò này đã quen thuộc với hiểm nguy của ghềnh thác đến nỗi “cũng như người Mèo (người Mông) kêu mỏi chân khi giẫm lên đồng bằng thiếu dốc thiếu đèo, ông bảo rằng: “Chạy thuyền trên khúc sông không có thác, nó dễ dại tay dại chân và buồn ngủ”. Một sự giới thiệu rất hấp dẫn, rất gợi về chân dung người lái đò Sông Đà.

c) Nghệ thuật diễn tả

Nguyễn Tuân cũng là nghệ sĩ bậc thầy tỏng thể tùy bút, một thể loại văn học mà ông chọn lựa cho cả đời viết văn của mình. Nếu tùy bút là kí sự, là thể loại có tính chất ghi chép bao gồm cả tư liệu khảo sát, nghiên cứu về đối tượng thì các bút kí trong Sông Đà của ông là quán quân, đỉnh cao trong sự phong phú, bề bộn, ngổn ngang của tư liệu. Nếu tùy bút cho phép sự tự do trong các liên tưởng, so sánh, trong cái nhìn đa diện, nhiều chiều, cái nhìn có tính chất khảo cứu tỉ mỉ về đối tượng, cho phép những chân trời rộng mở nhất của sáng tạo từ ngữ mới, cách diedatj mới lạ, không lặp lại thì quả Nguyễn Tuân là bậc thầy có một không hai của lối văn tùy bút. Nguyễn Tuân đã dựng cho mình một lâu đài tùy bút đặc sắc và là chúa tể của tòa lâu đài đó.

II-    PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

Như tên gọi của thiên tùy bút đã ghi rõ, nhân vật chính của tác phẩm này là người lái đò Sông Đà. Nguyễn Tuân tận dụng thế mạnh của thể văn tùy bút mà ông tạo ra để giới thiệu người lái đò – nghệ sĩ bậc thầy, quán quân đỉnh cao trong nghề chèo lái, vượt thác ghềnh. Đồng thời, ông cũng chứng tỏ tài nghệ tùy bút bậc thầy của mình khi đặc tả tài nghệ của người lái đò. Nhưng để cảm nhận được tài nghệ tuyệt vời của Người lái đò Sông Đà thì phải đặt nghề chèo lái này vào một hiện thực Sông Đà dữ dội, nghiệt ngã tưởng như cũng độc nhất vô nhị trên đời.

a) Sông Đà, một thách đố cho các nghệ sĩ lái đò

Chở đò dọc trên Sông Đà là một nghề như dành riêng cho những ai có bản lĩnh, có ý chí, có tài năng. Đừng hy vọng tìm sự thanh thản, yên ổn trên dòng sông, nơi người lái đò hàng ngày phải đương đầu với những “cuộc thủy chiến”, tại “mặt trận Sông Đà”, nơi thác nước và đá luôn luôn phối hợp với nhau để tiêu diệt những con thuyền thiếu tay lái bản lĩnh, tài ba.

Nguyễn Tuân đặc tả, cực tả sự dữ dội, hiểm ác của Sông Đà bằng một tổng thể các thủ pháp nghệ thuật khác nhau. Nhà văn quan sát dòng sông từ nhiều góc độ khác nhau. Ông đi dọc Sông Đà, tận mắt quan sát những đoạn thác ghềnh nguy hiểm nhất, ông đã bay lên trên máy bay ngang quãng Sông Đà nhìn xuống và cũng muốn “đưa ống quay phim lên tàu bay “để” phản ánh lên cái dữ tợn và cái lớn của Sông, của thác Sông Đà”; có những cảnh ông dựng lại theo lời kể của người lái đò. Không phải nhà văn không nhìn thấy vẻ thơ mộng của con sông này, chính ông viết đây là con sông “hung bạo và trữ tình”, nhưng ông vẫn nhấn mạnhnhiều hơn đến khía cạnh “hung bạo” của nó. Đây là thủ pháp đối lập trong văn học. Để cảm nhận hết tầm vóc “nghệ sĩ” của người lái đò Sông Đà dũng cảm, cần thấy được sự dữ dội của dòng sông. Đối thủ càng cao cường thì chiến thắng càng vẻ vang.

Để tác động mạnh vào trí tưởng tượng của người đọc, Nguyễn Tuân vận dụng thủ pháp nghe và nhìn, đặc biệt là nhìn và quan sát. Tiếng gầm réo của thác nước Sông Đà rất đa dạng, tùy theo mỗi khúc sông. Nghe tiếng gầm réo này, ta có cảm tưởng như đây là một con người với đủ cung bậc sắc thái của tình cảm. “Tiếng nước thác nghe như oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”. Có lúc, con sông gầm thét, cuồng nộ “như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cũng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Một sự liên tưởng bất ngờ mà hợp lý: thử tưởng tượng khi có ngàn con trâu mộng đang bị bỏng giữa rừng tre nứa cháy nổ lốp đốp thì sức mạnh phá hoại, sự hung tợn của chúng đến mức đáng sợ như thế nào.

Quan sát Sông Đà từ nhiều góc độ khác nhau là một nét đặc biệt của bút pháp Nguyễn Tuân. Nhà văn công phu tìm được một điểm nhìn thật độc đáo và bất ngờ. Ví dụ: Ông tả “cái hút nước” ở quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La. Những cái hút nước “giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”. Thật đáng sợ vì cả những bè gỗ rừng cũng bị cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống, nói gì đến những con thuyền mong manh bé nhỏ sơ ý. Để truyền lại cảm giác lạ lùng sợ hãi cho bạn đọc, nhà văn tưởng tượng một nhà văn quay phim ngồi dưới đáy giếng hướng máy quay phim ngược lên miệng giếng – cái hút nước đó mà quay cảnh cả khối nước trong như pha lê đang ập xuống người quay phim.

Con Sông Đà về mùa xuân có những nét trữ tình, gợi cảm. “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Tuy vậy, đối với người lái đò, không thể nói nhiều đến sự mơ mộng, trữ tình. Sông Đà hung dữ, nguy hiểm hơn một chú ngựa bất kham nhiều lần. Người lái đò Sông Đà đã khuất phục được thác dữ bằng tài nghệ siêu việt của mình. Thác vách đá bày “thạch trận” trên sông. “Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyên đơn độc không còn biết lùi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn”. Nhà văn cũng cực tả cuộc chiến đấu giáp lá cà giữa con sông và người lái đò.

b) Cuộc chiến đấu hàng ngày của Người lái đò Sông Đà

Nguyễn Tuân viết: “Cuộc sống của Người lái đò Sông Đà quả là một cuộc chiến đấu hằng ngày với thiên nhiên, một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một”. Chính vì thế, ông viết Sông Đà.

Tính chất dữ dội, bạo liệt của Sông Đà là do sự phối hợp giữa những thác nước cheo leo hiểm trở và các tảng đá ngầm đá nổi tạo thành. Cuộc chiến đấu của người lái đò trước hết và chủ yếu là phá được “binh pháp của thần sông thần đá”, thực chất là nắm vững quy luật cấu tạo và vận hành của luồng thạch, thác đá.

Trận chiến đấu của thác nước và đá (mà tác giả gọi là thạch trận) được miêu tả trong thiên tùy bút này giống như một trận chiến được bài trí rất công phu, hiểm độc. “Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền”. Để vượt qua ba vòng vây này, đòi hỏi sự bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt và cả khả năng chịu trận. Có những lúc sóng tung cao, đánh mạnh vào hạ bộ người lái đò khiến ông nảy đom đóm mắt . (Tham khảo thêm để hiểu rõ phong cách tùy bút của Nguyễn Tuân: chi tiết Người lái đò Sông Đà phải để truồng khi lái đò cũng là một phát hiện kỳ thú của Nguyễn Tuân, nhưng không được đưa vào đoạn trích. Chi tiết có phần dung tục, đầy hài hước nhưng sự thật này có vai trò thay đổi không khí căng thẳng của câu chuyện kể về các thác nước: “Những chị Mường Phù Yên gần bờ Sông Đà thường phàn nàn về người lái đò Lai Châu hay cởi truồng. Người lái đò Sông Đà hay mặc áo mà không mặc quần. Có khi muốn đóng khố nhưng cũng không đóng được. Cát Sông Đà rất hay ăn da người chở đò. Hễ mặc quần hoặc đóng khố là cát chui ngay vào bẹn rồi loét da”). Nhưng sự bình tĩnh, tỉnh táo, phong độ của người lái đò đã giúp anh vượt qua bốn cửa tử để đến một cửa sinh của thạch trận ở vòng vây thứ nhất.

Ở các vòng vây thứ hai và thứ ba, thế trận của thác và đá ở mỗi vòng vây đều có nét riêng, không gặp lại. Ví dụ như cửa sinh ở vòng vây thứ nhất nằm lập lờ phái tả ngạn sông thì cửa sinh ở vòng vây thứ hai lại nằm ở phía hữu ngạn sông, đến chặng thứ ba, cả hai bên tả, hữu ngạn sông đều là cửa tử và cửa sinh lại nằm ở chính giữa sông. Tựa hồ như dòng sông cũng như một kẻ xảo quyệt, thâm hiểm, đặt bẫy tiêu diệt người lái đò, hay nói bằng ngôn ngữ của tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, bày thế trận nhử quân địch vào để tiêu diệt. Nếu thuyền lao đúng vào cửa sinh thì người lái đò chiến thắng và ngược lại thì sự thất bại đó có thể trả bằng sinh mạng. Người lái đò “có tự do, vì người lái đò ấy đã năm được cái quy luật tất yếu của dòng nước Sông Đà”, người lái đò luôn chiến thắng. Và cũng giống như các nghệ sĩ chân chính, các quán quân vô địch, các tài nghệ bậc thầy, người lái đò không xem nghề chở đò Sông Đà của mình là việc làm phi phàm. Với họ, đây là công việc hàng ngày. Sau chặng đường vượt thác ghềnh, đến quãng sông nước thanh bình, những nghệ sĩ lái đò ấy chỉ nói về những chuyện cuộc sống hàng ngày. “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang cá mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi cá túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi. Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với Sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái khác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp đáng nhớ”. Sự thanh thản sau những thử thách sống còn cũng là một khía cạnh nghệ sĩ, quán quân của người lái đò. Nếu ta liên tưởng đến bài thơ Tây Tiến, thấy ngay là thủ pháp tương phản cũng được tác giả bút ký sử dụng thành công. “Thế là hết thác. Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam, toàn bàn tán về cá anh vũ cá đầm xanh…”.

c) Sông Đà “trữ tình

Sông Đà cũng có lúc thơ mộng, êm đềm. Sau mùa nước lũ, cái mùa mà nước sông đục ngầu sẽ đến mùa xuân, dòng sông xanh màu ngọc bích quý phái chứ không xanh “màu xanh canh hến” của sông Gâm, sông Lô. Bằng thực tế quan sát, nhà văn cực lực bác bỏ tên gọi của người Pháp áp đặt cho Sông Đà là “dòng sông Đen”. Với nhà văn, dù thế nào đi nữa, dù sông Đà dễ thay đổi tính nết, dòng sông này vẫn luôn luôn “gợi cảm”, là cố nhân đối với ông.

Những trang viết về vẻ đẹp nguyên sơ, cổ kính của Sông Đà thuộc loại những trang viết tài hoa nhất, đậm chất thơ nhất trong bài tùy bút: “Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lý đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

Thể tùy bút cho phép một sự tự do rộng rãi nhất trong việc bao quát tư liệu và tự do độc thoại của tác giả. Trong phạm vi tư liệu, Nguyễn Tuân có lúc vì trung thành với nguyên tắc “đỉnh cao” của ông mà không ngần ngại đi tới cùng kiệt của lối văn tư liệu khảo cứu điều tra, đến nỗi có cảm tưởng là thiên tùy bút này, không có một nhà văn nào có thể tìm tòi được tư liệu nào hơn ông khi khảo về Sông Đà. Nhưng cũng chính vì vậy mà nhiều lúc đọc ông, người đọc có cảm tưởng “sốt ruột” vì tư liệu bề bộn.

Thể tùy bút cũng cho nhà văn một sự tự do vô bờ trong suy ngẫm, liên tưởng, so sánh. Nhà văn đã huy động một kho tri thức phong phú với vốn học vấn uyên bác, một vốn sống đa dạng, một khả năng quan sát tinh nhạy, một trí tưởng tượng phóng túng trong việc dựng nên một thế giới nghệ thuật về sông Đà kỳ vĩ, hoành tráng.

Đọc Người lái đò Sông Đà cũng như các thiên tùy bút khác của Nguyễn Tuân, dễ có cảm giác bất ngờ: bất ngờ trước một cách tả cảm giác rất độc đáo: tưởng tượng một người quay phim cầm máy quay bị hút xuống “cái nút” của Sông Đà, ngồi dưới đáy quay ngược lên như cảm giác người xem “lấy gân” ghì chặt lấy ghế; bất ngờ trước một sự so sánh (ví dụ về chuyện có quãng Sông Đà vách đá chẹt lòng sông như một cái yết hầu “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy minh như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”); bất ngờ trước sự liên tưởng (để nói về sự vắng lặng của những đoạn Sông Đà ban đêm, ông “thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp – lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái – Lai Châu”. Chú ý: đến nay vẫn chưa có tuyến đường sắt ấy); bất ngờ trước lối tạo từ mới đặc sắc và là sở trường của nhà văn (Ví dụ: Thạch trận, màu xanh canh hến, bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử, màu nắng tháng ba Đường thi,…).Đặc sắc của tùy bút Nguyễn Tuân còn tiếp tục được nghiên cứu, phân tích, nhưng có thể khẳng định rằng nhà văn đã tạo dựng được phong cách riêng đặc sắc, độc đáo của mình trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.

Ngôn ngữ tùy bút của Nguyễn Tuân đầy sáng tạo, một trong những nhân tố đem lại sự hấp dẫn cho người đọc.

Đọc Người lái đò Sông Đà, chúng ta thêm yêu đất nước tươi đẹp hùng vĩ ngàn đời của ta, chúng ta thêm hiểu những kỳ tích lao động sáng tạo của nhân dân ta. Ta không thể không nói lời biết ơn Nguyễn Tuân đã giúp ta nuôi dưỡng được tình cảm tốt đẹp đó.

0
phiếu
0đáp án
585 lượt xem

RỪNG XÀ NU

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

       Nguyễn Trung Thành tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ông có bút danh khác là Nguyên Ngọc. Nguyễn Trung Thành là bút danh được dùng trong những năm ông hoạt động ở chiến trường miền Nam thời kỳ chống Mĩ cứu nước.

       Truyện ngắn Rừng xà nu công bố lần đầu năm 1965. Khi đó, cách mạng miền Nam đã trải qua thời kỳ đen tối đến lúc Đồng khởi và đang tiếp tục cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai. Theo lời Nguyễn Trung Thành, ông nhớ rất rõ ngày 8-3-1965, mấy vạn lính thủy quân lục chiến Mĩ đổ bộ vào bãi biển Chu Lai. “Đó là những ngày sôi sục, nghiêm trang, nghiêm trọng, lo lắng, quyết liệt, hào hùng: dân tộc ta bước vào cuộc chạm trán một mất một còn trực tiếp với đế quốc Mĩ”.

          Vấn đề đặt ra trong truyện ngắn là vấn đề trung tâm của toàn dân tộc lúc đó: con đường duy nhất lúc đó cầm vũ khí đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong một thế tương quan lực lượng chênh lệch về vũ khí kỹ thuật, đâu là sức mạnh mang lại thắng lợi cho chúng ta? Truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành góp phần tìm ra câu trả lời: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Ý chí quyết đấu là nguồn gốc của sức mạnh. Tác phẩm cũng chỉ ra vẻ đẹp tinh thần của nhân dân Tây Nguyên bất khuất.

          Lúc nhà văn định viết một truyện ngắn về đồng bằng đánh Mĩ nhưng mấy đêm thức ròng ông không sao viết được. Ông chuyển qua viết về miền núi và trong một đêm giữa năm 1965, Rừng xà nu đột ngột đến với tác giả. Mặc dù câu chuyện hư cấu nhưng các nguyên mẫu đều là có thật, nhà văn đã gặp họ ở nơi này nơi khác, lúc này lúc khác. Nguyễn Trung Thành kể là ông đã quen biết ông Núp, ông Mết từ hồi đánh Pháp, khoảng năm 1963 đã gặp anh Đề người Xê-đăng và nghe anh kể, năm 1959 anh Đề đã cùng 10 trai làng dùng dao dựa, giáo, mác giết được một tiểu đội lính Diệm. Cuối năm 1963, trong một hội nghị ở huyện Đắc-lây, Nguyễn Trung Thành đã gặp một cô gái người Ê-đê xinh đẹp, vừa là cán bộ phụ nữ xã, vừa là du kích. Những con người ấy gặp nhau, âm thầm hình thành những nhân vật văn học trong tác giả để khi ông viết, chúng hội tụ về dưới trang văn. Quá trình viết câu chuyện trở nên dễ dàng: “Tất cả, tôi không phải “bịa” thêm gì cả, tôi thấy rõ hết. Mặc dầu tất cả đay hoàn toàn là một câu chuyện bịa mà như thật. Với tôi nó hoàn toàn có thật”.

2. Nguyễn Trung Thành nói về biểu tượng rừng xà nu

       Cây xà nu là cây thông. Văn học trung đại đã viết không ít về cây thông, nhưng đều tập trung khai thác ý nghĩa biểu trưng của cây thông cho phẩm chất của người quân tử. Bởi lẽ cây thông vẫn xanh tươi ngay cả giữa mùa đông lạnh giá trong khi tất cả các loài cây khác đều rụng lá. Đây là thứ cây tượng trưng cho sự kiên cường, bất khuất, không chịu đổi dời bản tính theo ngoại cảnh. Truyện ngắn Rừng xà nu cũng khai thác nghĩa biểu trưng của cây thông nhưng không phải là của một cây thông riêng rẽ mà là của một rừng thông, một “tập thể” thông. Tác phẩm cũng không nhằm vào biểu tượng quân tử ở cây thông mà hướng đến diễn tả sức sống mạnh mẽ, bất diệt của rừng thông như một biểu tượng về sức sống mạnh mẽ, bất diệt của những con người Tây Nguyên bình dị, không một bạo lực nào có thể tiêu diệt nổi. Đây là một nét mới của ý nghĩa biểu trưng của rừng thông mà văn học cách mạng có thể đưa vào kho tàng văn học.

          Nguyễn Trung Thành kể về hồi tháng 5 năm 1962 hành quân từ miền Bắc vào đến khu rừng bát ngát ở phía Tây Thừa Thiên thì gặp cây xà nu. “Tôi say mê cây xà nu từ ngày đó. Ấy là một thứ cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh nhã, vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô tận. Không khí ở đây thơm lừng. Nệm lá dưới mặt đất ngả lưng êm ru”. Vì thế, khi dự định viết về miền núi đánh giặc, Nguyễn Trung Thành đã gặp cây xà nu trong những dòng đầu tiên: “Bắt đầu đến dưới ngòi bút, gần như không hề tính trước, là một rừng xà nu, những cây xà nu… rừng xà nu chợt đến và lập tức tôi biết tôi đã tạo được không khí, đã có không gian ba chiều. Và cũng đã lập tức nhập được vào không khí và không gian ấy”.

          Biểu tượng xà nu đã hình thành từ thực tế quan sát, suy nghĩ nhiều năm của tác giả để trong giây lát có thể xuất hiện, dẫn dắt cho mạch truyện.

I-  PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Đặc điểm nội dung

a) Rừng xà nu, biểu tượng vế sức sống của người dân Tây Nguyên

       Ý nghĩa tượng trưng của rừng xà nu rất dễ quan sát thấy qua việc miêu tả rừng xà nu ở phần mở đầu và phần kết thúc câu chuyện.

       Mở đầu thiên truyện là cuộc chiến đấu thầm lặng mà quyết liệt giữa một bên là rừng xà nu và một bên là đạn pháo của giặc. Một chi tiết được miêu tả không hề ngẫu nhiên và trái lại, được tác giả có dụng ý nhấn mạnh: giặc bắn đại bác ngày hai lần, nhưng “hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn”. Những loạt đạn đại bác là sự thử thách nghiệt ngã đối với rừng xà nu. Hàng vạn cây xà nu bị thương, nhựa ứa ra, đau đớn uất hận như máu nhỏ. “Ở chỗ viết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh ngày hè nắng gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Nhưng nói tới sự tàn phá của đại bác giặc cũng là một cách giới thiệu sức sống bất diệt của cây xà nu.

Đối lập với sự tàn phá của đạn đại bác giặc là hình ảnh rừng xà nu kiên cường, bất khuất, hệt như con người, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác vươn lên trước những làn đạn: “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời như thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bui vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng […]. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã”.

       Kết thúc câu chuyện, nhà văn láy lại hai ý: một số cây xà nu to bị thương, nhựa ứa ra “lóng lánh nắng hè” và những cây nhỏ đang mọc lên như để thay thế những cây bị ngã: “Quanh đó vô số những cây con đang mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê”. Rừng xà nu có dáng dấp của một tác phẩm luận đề, cách mở đầu và kết thúc hé mở triết lý mà tác phẩm sẽ phân tích, chứng minh.

       Có thể nói hình tượng rừng xà nu là một biểu tượng đẹp về dân làng Xô Man. Trong làng này, những người dân tộc Strá cũng quật cường, bất khuất, các thế hệ nối tiếp nhau cùng chung một truyền thống đấu tranh cách mạng kiên trung, một truyền thống không khi nào bị gián đoạn, đứt quãng. Cây xà nu ở đay cũng giống như cây tre dưới xuôi, một biểu tượng đẹp về sức sống dẻo dai bền bỉ của con người.

b) Các thế hệ người Strá tham gia đấu tranh cách mạng

       Nhân vật trung tâm của tác phẩm- nếu như có yêu cầu phải xác định – có thể tìm thấy ở nhân vật Tnú. Tuy vậy không thể nói là các nhân vật khác được xây dựng mờ nhạt hay đơn giản. Tnú chỉ là đại biểu cho một trong các thế hệ nối tiếp đấu tranh cách mạng ở làng Xô Man.

-     Cụ Mết là đại diện của thế hệ người Strá đã từng tham gia đánh Pháp nay lại tiếp tục đánh Mĩ và bè lũ tay sai. Một con người vững chãi, từng trải, một lòng một dạ với Đảng, với cách mạng. Sức mạnh thể chất và tinh thần toát lên từ vẻ ngoài của cụ Mết. “Một bà tay nặng trịch nắm chặt lấy vai anh như một kìm sắt. Anh quay lại: cụ Mết! Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải láng bóng. Ông ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn”. Ở ông già sáu mươi tuổi này “tiếng nói vẫn ồ ồ, dội vang trong lồng ngực”. Mọi lời nói của cụ đều được dân làng lắng nghe, trân trọng: “Lúc ông cụ Mết nói, mọi người đều im bặt”. Lẽ đơn giản là cụ thường nói lên những tư tưởng lớn, có ý nghĩa chân lý; mà cũng không đơn giản là chỉ nói, cụ dẫn dắt cả làng đi theo con đường cách mạng. Cụ thường nhân dịp thích hợp để giáo dục, nhắc nhở dân làng về đấu tranh cách mạng. Ví dụ, cụ chỉ chia cho mỗi người mấy hạt muối quý giá và giải thích: “Năm nay làng không đói. Gạo đủ ăn tới mùa suốt. Nhưng phải để giành, dự trữ mỗi bếp cho được ba năm […] đánh thằng Mĩ phải đánh dài”. Cụ triết lí về sức mạnh quật khởi của các thế hệ qua biểu tượng cây xà nu “không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ  ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”. Lời của người từng trải, kinh lịch thật chắc gọn mà sâu sắc. Cụ Mết nói: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Cụ hiểu tình huống đầy kịch tính khi Tnú với hai bàn tay không nhảy ra cứu vợ con: “Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây thừng. Tau k nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cụ Mết không ngờ cụ đã nói lên một chân lý của thời đại ấy, cũng như ở dưới xuôi kia, trong thành phố, anh Trỗi nói “Còn thằng Mĩ thì không có ai hạnh phúc”, ở nông thôn, chị Út Tịch nói “Còn cái lai quần cũng đánh”.

-     Hai chị em Mai và Dít cũng là một biểu tượng thu nhỏ về sự tiếp nối truyền thống cách mạng ở Tây Nguyên. Mai cùng với Tnú đã thay các thế hệ trước nuôi cán bộ cách mạng. Người cán bộ cách mạng – anh Quyết – hỏi: “Các em không sợ giặc bắt à? Nó giết như anh Xút, như bà Nhan đó”. Để trả lời, Tnú dẫn câu nói như một chân lí đã được tổng kết từ cụ Mết: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Mối liên hệ gắn bó giữa Đảng và cách mạng, Đảng và dân và nước được họ nhận thức rất rõ ràng, giản dị. Cái chết đầy xúc động của hai mẹ con Mai do bàn tay độc ác của kẻ thù chỉ làm cho ý chí chiến đấu của Dít, em gái Mai thêm sắt đá, kiên cường. Ngày Mai mất, Dít còn nhỏ. “Tnú cầm mấy cây xà nu soi cho Dít gằn gạo. Nó gằn đủ ba mươi lon gạo trắng, đổ ruột ghét cho Tnú mang đi. Nó lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh trong khi mọi ngườ, cả cụ già Mết, đều khóc vì cái chết của Mai”.

          Dít có cách thể hiện tình cảm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ có thể hiểu được khi đặt vào bối cảnh của phong trào cách mạng miền Nam đầu những năm 60, khi gắn với truyền thống cách mạng của người dân Tây Nguyên từ hồi chống Pháp. Buổi hội ngộ đầu tiên của họ sau mấy năm Tnú đi vắng hơi bất ngờ với Tnú. Cặp mắt mở to, trong suốt, bình thản của Dít nhìn Tnú hồi lâu rồi Dít hỏi Tnú bằng cái giọng lạnh lùng: “Đồng chí về có giấy không?”. Trong sự lạnh lùng của nguyên tắc đó bao hàm một nguyên cớ thật đẹp: Dít muốn Tnú phải là một chiến sĩ giải phóng quân mẫu mực, về phép dù chỉ một đêm cũng phải có giấy phép của chỉ huy. Chỉ sau khi biết Tnú có giấy phép, Dít mới vồn vã: “Sao anh về có một đêm thôi […] Thôi cũng được. Về một đêm cho làng thấy mặt là được rồi. Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi”. Thể hiện tình cảm cá nhân gắn liền một cách hài hòa với sự nghiệp cách mạng là một đặc điểm phổ biến của văn học cách mạng, tạo nên chất sử thi cho tác phẩm.

-     Hình tượng Tnú: mặc dù một đặc điểm lớn của văn học cách mạng là diễn đạt hài hòa sự nghiệp anh hùng của các cá nhân và sự nghiệp cách mạng của quần chúng, chúng ta có vẫn có thể nói đến Tnú như một nhân vật chính, thể hiện cảm hứng của thiên truyện.

           là một chiến sĩ cách mạng với những nét đặc trưng của người dân Tây Nguyên. Cuộc đời anh li kỳ như một huyền thoại trong thiên sử thi anh hùng ca chói lọi của núi rừng Tây Nguyên. Cụ Mết muốn câu chuyện về Tnú sẽ được các thế hệ nối tiếp nhau kể cho nhau nghe.

          Học chữ hay quên, nhưng Tnú rất sáng dạ, thông minh khi làm liên lac cho anh Quyết từ huyện về xã. Tnú chấp nhận khó khăn: không đi đường mòn, cứ xé rừng mà đi; không vượt sống ở chỗ nước êm mà vượt thác. Đó là vì sự an toàn của những chuyến đi chuyển thư từ, công văn. Lần cuối cùng bị địch bắt, Tnú đã kịp nuốt cái thư của cán bộ để giữ bí mật. Rồi anh vượt ngục của kẻ thù trở về. Anh gan góc, dũng cảm, ít lời mà cương quyết. Khi bị bắt, kẻ thù bắt anh phải khai ai là cộng sản. Tnú đặt tay lên bụng nói: “Ở đây này!”. Lưng anh đã phải nhận bao nhát dao chém của bọn lính. Tnú đã lao vào giữa bọn lính để cứu mẹ con Mai nhưng đã không cứu được mà thân mình bị bắt. Sự việc đó có nhiều ý nghĩa nhưng cho thấy bản lĩnh của anh. Khi chúng đốt hai bàn tay anh cũng là lúc tất cả thanh niên trong làng đã đem những cây dựa mài bằng đá núi Ngọc Linh chém chết hết mười tên lính.

          Mô-típ bàn tay là một mô-típ có sức diễn đạt rất sâu sắc của thiên truyện. Bàn tay Tnú như một tấm gương phản ánh tư tưởng, tình cảm của anh. Bàn tay Tnú có lcus đặt trong lòng bàn tay Mai để rồi họ thành vợ thành chồng. Bàn tay ấy hãnh diện để lên bụng để trả lời quân thù: Cộng sản “ở đây này”. Khi đau đớn, uất hận, bàn tay ấy đã bứt hàng chục trái vả mà không biết. Để đe dọa những bàn tay cầm giáo mác, cầm súng, kẻ địch quấn giẻ tẩm dầu xà nu lên mười đầu ngón tay của Tnú và đốt. Nhưng chính lúc kẻ thù định hủy diệt bàn tay thiêng liêng của người dân Tây Nguyên thì chúng đã phải nhận lấy đòn trừng phạt thích đáng nhất. Các trai làng cầm giáo mác giết chết mười tên giặc. Đốt hai bàn tay của Tnú tức là tiêu diệt ý chí đấu tranh cách mạng, chỉ đứng lên giết chết kẻ thù, chặn đứng tội ác của chúng là con đường sống duy nhất. Tnú đã không dùng dao, dùng súng mà dùng mười đầu ngón tay cụt bóp cổ chết tên chỉ huy địch cũng là một cách trả lời cho kẻ thù biết sự khủng bố điên cuồng, độc ác của chúng là vô ích. Tnú kể lại sôi nổi: “Tôi tống đầu gối lên ngực nó, tôi bóp đèn pin lên mặt nó: Dục, mày có nhớ tau không? Nó lắc đầu. Được, đây này, hai bàn tay tau đây này, nhớ chứ? Tau vẫn cầm được súng? Mắt nó trắng dã. Tôi nói: Này, tau có súng đây, tau có cả dao găm đây. Nhưng tau không giết mày bằng súng, tau không đâm mày bằng dao nghe chưa! Dục! Tau giết mày bằng mười ngón tay cụt này thôi, tau bóp cổ mày thôi!”. Thằng Dục, đứa đã tẩm dầu đốt tayanh hiển hiện ở bất cứ một tên giặc nào. Trong sự hồn nhiên của Tnú có chân lý: “Chúng nó đứa nào cũng giống như thằng Dục”. Tính cách của Tnú là điển hình cho tính cách của người Tây Nguyên: ít lời, giản dị mà cương quyết, rắn chắc; cuộc đời và số phận của Tnú là điển hình cho số phận và cuộc đời của người Tây Nguyên: đầy đau thương mà quật cường , anh dũng, một lòng kiên trung với cách mạng.

2.         Đặc điểm về nghệ thuật

          Vốn là tác giả của Đất nước đứng lên, Nguyễn Trung Thành hiểu rõ và năm vững văn hóa, đất nước và con người Tây Nguyên. Ông có sở trường dựng nên không khí của núi rừng Tây Nguyên, văn hóa Tây Nguyên.

          Truyện ngắn này có sức hấp dẫn nhờ nghệ thuật khắc họa những nét tính cách đặc sắc của người Tây Nguyên qua ngôn ngữ, ngoại hình, hành động của họ. Người Tây Nguyên trầm lặng, ít nói nhưng có cách bày tỏ tình cảm, tư tưởng riêng qua hành động. Khi Tnú về thăm làng cũ, có người nhảy phóc từ trên sàn nhà xuống đất để đón anh. Cụ Mết có lối mắng yêu thật lạ: “Cha mẹ mày, đi lâu thế! Để cho lũ con gái chúng nó lớn lên chẳng còn thằng thanh niên nào cho nó bắt chồng!”. Rồi cô Dít ít lời mà cũng không kém phần ý tứ: “Dít ngồi sụp xuống trước mặt anh, hai chân xếp về một bên, đưa tay kéo tấm váy che kín cả gót chân”… Ngôn ngữ nhân vật có  bản sắc dân tộc, chắc gọn, đơn giản mà đầy triết lý. Những chi tiết nho nhỏ như vậy đã dệt thành một bức tranh chân dung về những người Tây Nguyên vừa lạ lùng, vừa gần gũi thân thương.

          Không gian núi rừng Tây Nguyên cổ sơ, trầm mặc cũng được dựng lại một cách sống động qua hình ảnh đậm chất Tây Nguyên. Đó là tiếng chày giã gạo như một nỗi nhớ da diết nhất cho những đứa con Tây Nguyên đi xa. Đó là hồi mõ dìa ba tiếng vang lên từ phía nhà ưng thôi thúc mọi người lại họp ở chỗ già làng. Đó là các cây đuốc sáng quanh nhà cụ Mết. Rồi không khí trang trọng, thành kính của dân làng vây quanh cụ Mết chờ cụ kể chuyện về cuộc đời Tnú như chờ nghe kể khan truyền thống. Rồi tiếng cồng chiêng, rồi mỏ đá mài trên núi Ngọc Linh đủ dùng cho cả trăm cuộc khởi nghĩa gươm giáo mác của Tây Nguyên. Có nhà nghiên cứu đưa ra nhận xét rằng, truyện Rừng xà nu mang đậm màu sắc sử thi. Chất sử thi toát lên từ tinh thần vì cộng đồng của con người, từ những vấn đề chung, liên quan đến số phận chung của cả cộng đồng.

          Nguyễn Trung Thành nói “Rừng xà nu” là truyện của một đời, và được kể trong một đêm. Đó là cái đêm dài như cả một đời. Nhưng nó cũng ngắn, cũng chỉ là một đêm trong sự sống vất vả, đau khổ và hạnh phúc”. Câu chuyện kể một đêm chính là nói câu chuyện cụ Mết kể cho dân làng nghe kể về cuộc đời Tnú nhân dịp anh được về nghỉ phép một đêm: “Đêm nay tau kể chuyện nó cho cả làng nghe, để mừng nó về thăm làng. Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tau chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe…”. Đó đúng là thể chức kể sử thi của người Tây Nguyên. Câu chuyện một đời của Tnú nhưng cũng là câu chuyện của cả buôn làng, không chỉ kể một đêm mà sẽ kể mãi, như những thiên sử thi đã từng được kể hàng trăm năm, ngàn năm nay. Thêm một ý nghĩa nữa của câu chuyện Tnú, một thiên sử thi của thời đại mới.

          Tuy vai người kể chuyện là cụ Mết nhưng thực ra, cách kể của Rừng xà nu khá linh hoạt. Điểm nhìn của người kể có thay đổi, khi là ngôn ngữ tác giả, khi là lời cụ Mết, khi là chính nhân vật Tnú hiện diện. Ví dụ, cả đoạn tả Tnú từ gốc cây xông ra đến khi anh bị bọn thằng Dục tẩm dầu vào giẻ đốt cả mười ngón tay là nhìn tâm trạng anh từ bên trong, người kể hóa thân vào nhân vật để quan sát, ứng xử và bộ lộ cảm xúc. “Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!”. Đây tất nhiên không phải là lời kể của người đứng nhìn từ bên ngoài mà là cảm nhận của người trong cuộc.

0
phiếu
0đáp án
477 lượt xem

VỢ NHẶT

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Kim Lân (1920 – 2007) tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình nghèo khó, ông chỉ được học hết bậc Tiểu học rồi phỉa vừa đi làm thợ kiếm sống vừa viết văn.

Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc tỏ ra rất am hiểu về nông thôn và người nông dân.

Vợ nhặt được viết sau Cách mạng tháng Tám, là một chương viết lại của truyện Xóm ngụ cư. Nạn đói mà tác phẩm miêu tả là nạn đói lớn nhất của dân tộc ta trong thế kỷ XX xảy ra vào đầu năm 1945 do Nhật – Pháp gây ra. Đã có đến hơn 2 treeiuj người bị chết trong nạn đói này. Những nhân vật và chuyện đói đều được gợi ý từ thực tế mà nhà văn quan sát và có hư cấu thêm. Theo lời nhà văn Kim Lân, “khi viết về cái đói, thường mọi người có ý nghĩ là khi đói người ta cực khổ và chỉ muốn chết. Tôi định viết một số truyện ngắn nhưng ý khác là khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người. Lúc đói người ta phải kiếm sống, thậm chí nhặt rác rưởi, nhặt ốc, nhặt chuột, ăn uống một cách thê thảm nhưng đến tối họ vẫn có một gia đình, gia đình nào về gia đình ấy, vẫn hi vọng một điều gì. Họ vẫn trò chuyện về đồng áng, giỗ chạp, những chuyện hướng về một cái gì là sự sống, đói nhưng không làm cho người ta đen tối, mất hi vọng dù phải cướp cám mà ăn”.

2. Kim Lân nói về tác phẩm Vợ nhặt

Cũng thoe lời Kim Lân nói về Vợ nhặt, “nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cảnh chết. Bóng tối của nó phủ xuống mọi làng. Trong hoàn cảnh ấy giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo chỉ nhờ mấy bát bánh đúc ngoài chợ - đúng là nhặt được vợ như tôi nói trong truyện”.

Về mĩ học của truyện, cần chú ý đến sự kết hợp giữa cái bi và cái hài như là một nhân tố giúp cho câu chuyện về cái đói giảm bớt chất bi thảm, căng thẳng. Đúng như tác giả nói, dù sao con người vẫn có hy vọng vào tương lai.

Về kỹ thuật kể chuyện trong Vợ nhặt, Kim Lân đã từng nói: “Nhân vật do hoàn cảnh của câu chuyện mà nảy ra những tâm tư, hành động, cách xử sự mà tôi không thể định trước”. Đây là tác phẩm, gióng như nhiều tác phẩm văn xuôi hiện đại khác, sử dụng lối kể chuyện hiện đại theo đó, tác giả không định trước tính cách, tâm lý, hành động của nhân vật. Các phương diện của tính cách bộc lộ dần dần theo diễn biến truyện. Cần chú ý phân tích nghệ thuật kể chuyện này.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Phân tích theo nhân vật

          Đúng theo lời tác giả, qua thiên truyện này, một mặt nhà văn muốn ghi lại để tố cáo tội ác Nhật – Pháp gây ra cho đồng bào ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, mặt khác ông gửi gắm một chủ nghĩa nhân đạo lạc quan: giữa đói khổ, người nông dân vẫn khao khát cuộc sống hạnh phúc đời thường, vẫn hy vọng, tin tưởng vào ngày mai tươi sáng. Chủ đề này thể hiện qua ba nhân vật: Tràng, người “vợ nhặt” vô danh và bà cụ Tứ- mẹ Tràng.

          Khung cảnh nền của câu chuyện là nạn đói kinh hoàng bao phủ vùng quê, tập trung ở xóm ngụ cư. “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Các nhân vật sẽ được tác giả xem xét trong khung cảnh hiện thực, “Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy”.

a) Nhân vật Tràng

-     Tràng có địa vị thấp kém ngay cả ở một vùng quê nghèo vì anh là dân ngụ cư. Vì là dân ngụ cư nên gia đình anh không có ruộng đất, hàng ngày phải đi làm thuê.

-     Ngoại hình nhân vật Tràng xấu xí, thô kệch, có vẻ dữ tợn nhưng thực ra hiền lành. “Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ gì vừa lí thú vừa dữ tợn”. Song cách anh phản ứng lại chuyện bọn trẻ con trêu đùa, quấy quả anh lại cho thấy anh hiền lành, củ mỉ cù mì: “Trẻ con trong xóm, cứ thấy cái thân hình to lớn, vập vạp của hắn từ dốc chợ đi xuống là ùa cả ra vây lấy hắn, reo cười váng lên […]. Đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi. Trang chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch. Cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy cứ mỗi chiều lại xôn xao lên một lúc”. Nét tính cách này được nhấn mạnh rõ ràng có ý nghĩa chuẩn bị cho sự việc anh cưu mang người phụ nữ mà anh sẽ “nhặt” về làm vợ.

-     Tràng bị ế vì thân phận ngụ cư hèn kém, nghèo khổ (anh làm nghề kéo xe chở thóc thuê), vì thế, việc Tràng “nhặt” được vợ ngoài đường vẫn làm cho anh thấy bâng khuâng mãi. Tuy vậy, việc Tràng quyết định “nhặt” người phụ nữ làm vợ có hai nguyên do: (1) Tràng sống cô đơn, không hề biết đến tình cảm của người phụ nữ, anh sống như một thân cây khô héo, rất dễ xúc động trước tình cảm này; (2) Tràng có một tấm lòng nhân hậu, giàu lòng bao dung nên sẵn sàng cưu mang một người phụ nữ xa lạ khi người đó hầu như ở vào cảnh đói rét thê thảm. Hia lần quen nhau tưởng như tầm phào song đã lý giải cho hai nguyên nhân đó. Lần thứ nhất, Tràng đẩy xe bò và thị “lon ton chạy lại đẩy xe cho Tràng… Thị liếc mắt, cười tít. Tràng thích lắm. Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế”. Một nét nhân bản quan trọng của tác phẩm hé mở: ẩn bên trong mỗi con người, dù có nghèo khó, cơ cực đến mấy, vẫn là tình yêu, khát vọng sống có hạnh phúc lứa đôi. Đói nghèo không thể làm thui chột tình yêu của con người. Lần thứ hai gặp lại, Tràng không nhận ra thị vì không ngờ thị “xuống mã” nhanh đến thế: “Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Chắc hẳn Tràng động lòng thương nên anh đã “đãi” con ma đói khát đó một chầu bánh đúc, vì đối với thị lúc đó, ăn đang là tiếng thét mãnh liệt nhất của bản năng: “Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả: ăn thật nhá! ừ ăn thì ăn sợ gì! Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp ba bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Nhiều sáng tác trước Cách mạng tháng Tám của Nam Cao cũng thường xuyên đề cập đến cái đói quay quắt như một sức mạnh bản năng làm biến dạng nhân cách con người (Đòn chồng, Trẻ con không được ăn thịt chó,…). Giữa hai người không hề có tình yêu, sợi dây gắn bó họ với nhau là cái đói. Đó là tình cảnh trớ trêu của câu chuyện “nhặt vợ”.

-     Sự khao khát một tình yêu, tình vợ chồng cộng với lòng trắc ẩn thương người đã khiến Tràng quyết định trước khi có suy nghĩ kĩ: “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Nói thế Tràng cũng tưởng là nói đùa, ai ngờ thị về thật. Mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Sau không biết nghĩ thế nào hắn tặc lưỡi một cái: Chậc, kệ!”. Những người lao động ít nói như Tràng thường có quyết định nhanh chóng, ít phân vân, do dự.

-     Hai mảnh đời cư cực đến với nhau thật đơn giản, khiến những ai giàu lòng trắc ẩn cũng buồn đến nao lòng. Họ lấy nhau giữa lúc cảnh chết đói đang lởn vởn đe dọa không chừa một ai. Cảnh “rước dâu” thật bi thảm, giữa một không gian tăm tối, đầy tử khí: “Ngã tư xóm chợ về chiều càng xác xơ, heo hút. Từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp xúp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Tiếng quạ kêu như tiếng gọi của thần chết, như tiếng những oan hồn đói khát đang vẩn vơ đâu đây (có thể liên tưởng so sánh với tiếng quạ kêu kết thúc truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn). Lộ trình của cuộc rước dâu đi qua những cảnh ghê rợn như vậy đấy.

          Nhưng bất chấp hiện thực vô cùng nghiệt ngã, những cảm xúc mới lạ, lâng lâng vẫn xâm chiếm tâm hồn Tràng, không những làm cho anh đẹp hơn, tốt lên mà còn như tỏa chút ánh sáng ấm áp vào xóm ngụ cư tăm tối: “Giữa cảnh tối sầm vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Mặt hắn có vẻ gì đó phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Tràng thích ý khi hai người đi qua xóm ngụ cư dân chúng đứng trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. “Hình như họ cũng hiểu được đôi phần. Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ”. Đó là cái nhìn từ phía những người dân trong xóm ngụ cư. Còn Tràng? Hắn đắc ý khi thấy “thị” ngượng nghịu, lúng túng, “mặt hắn cứ vênh lên tự đắc với mình” (tự đắc vì nhặt được vợ? vì đã cưu mang một người khốn khổ? Tự đắc với chung quanh vì mình cũng có vợ như ai?)

(Tham khảo thêm đoạn văn bị lược đi trong đoạn trích Vợ nhặt của Ngữ văn lớp 12 để hiểu rõ hơn tâm trạng của Tràng mà tác giả dụng công miêu tả: Hành trình đón dâu của Tràng đã đến lối lẽ vào một con đường nhỏ, vắng vẻ, khi không còn nhiều con mắt dòm ngó, đã thoải mái, Tràng còn “định nói với thị một vài câu rõ tình tứ mà chẳng biết nói thế nào”. Tràng, một gã ngụ cư thất học thì làm sao nói nổi một lời văn hoa. Nhà văn Kim Lân tỏ ra có biệt tài về miêu tả tâm lý nhân vật. Ông nhìn thấy chính lúc Tràng muốn nói vài câu tình tứ ấy là lúc trong lòng y trào dâng một cảm xúc nhân bản sâu sắc: “Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng”. Với cảm xúc lâng lâng, lạ kỳ ấy, cuối cùng anh phu kéo xe chở thóc cục mịch cũng tìm được câu “tình tứ” nhất mà anh ta có thể nghĩ ra được nhân cớ mua hai hào dầu. Nhà văn trân trọng ghi lại những câu đối thoại quê mùa ấy vì đó là những giây phút thăng hoa của tình yêu giữa hai con người khốn khổ: “Câu chuyện xem chừng đã thân thân. Hắn đi sát bên thị hơn, ngẫm nghĩ một lúc, chợt hắn giơ cái chai con vẫn cầm lăm lăm một bên tay lên khoe: - Dầu tối nay thắp đây này. – Sang nhỉ. – Khá thôi. Hai hào đấy, đắt quá, cơ mà chả cần. – Hoang nó vừa vừa chứ. Hắn chặc lưỡi: - Vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chả nhẽ chưa tối đã rúc vào ngay, hì hì… - Khỉ gió. Thị phát đánh đét vào lưng hắn, khoặm mặt lại. Hắn thích chí ngửa cổ cười khanh khách”.

-     Sự việc cứ phát triển theo logic nội tại của nó: Mặc dù nạn đói và cái chết đang rình rập xung quanh, sự gắn bó giữa hai con người khốn khổ vẫn đem lịa cho Tràng một niềm lạc quan, yêu đời. Đêm tân hôn của họ diễn ra trong không gian đầy mùi tử khí “mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”. Toàn truyện luôn luôn có sự đối lập giữa cái đói, cái chết và tình yêu, khát vọng sống của con người để rồi ca ngợi chiến thắng của tình yêu và cuộc sống.

Nhưng sáng hôm sau, tỉnh dậy, Tràng thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Tình yêu vợ chồng đã thay đổi cái nhìn cuộc sống nhân vật, có chút gì gợi lại sự chuyển biến cảm xúc, tâm trọng của Chí Phéo sau khi yêu Thị Nở. Tình yêu nhân đạo hóa con người. Hắn thấy mẹ và vợ hắn đang dọn dẹp nhà cửa, cổng ngõ, một cảnh tượng bình dị mà đời hắn chưa được chứng kiến: “Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.

          Trong tâm hồn Tràng có bao nhiêu cảm xúc cao đẹp, đáng trân trọng. Nhưng nếu không có người vợ thì có lẽ chẳng bao giờ trong anh nảy nở những cảm xúc ấy. Và nếu không có nạn đói kém kinh hoàng thì chắc gì anh – một kẻ nghèo khó, xấu xí, thô kệch – lại “nhặt” không được một người vợ! Với Tràng, đúng là hạnh phúc chỉ đến trong đau khổ. Sự sống chẳng bao giờ chán nản.

b)   Nhân vật người “vợ nhặt”

          Nhân vật người Vợ nhặt có vai trò bổ sung cho hình tượng người chồng là Tràng dẫu cho “thị” luôn đóng vai trò thụ động (theo quan niệm trong xã hội có ảnh hưởng Nho giáo thời xưa, chuyện hôn nhân hay tình yêu thường do nam giới chủ động).

          Sở dĩ tác giả không đặt tên cho người phụ nữ này, có thể là vì chị ta lúc đó, ở vào hoàn cảnh đó đã hành động giống như hàng trăm ngàn người phụ nữ khác. Một người phụ nữ vô danh, không có gì nổi bật, đáng chú ý. Thoạt đầu chị ta đến với Tràng không vì tình yêu. Cái đói quay quắt thôi thúc chị ta phải bấu víu vào một ai đó, một người đàn ông nào đó khả dĩ cứu chị ta khỏi chết đói. Và cách tiếp cận, cách bấu víu chung nhất của chị ta là chỏng lỏn, cong cớn, sưng sỉa, liều lĩnh, mặt dày. Đây là nét tính cách đã hình thành trong môi trường bươn chải, kiếm sống gian nan của chị ta. Đó là một cuộc hôn nhân không định trước, nạn đói, chứ không phải tình yêu, đã mai mối cho hai con người khốn khổ đến với nhau, để nương tựa vào nhau, chống chọi lại cơn bão đói. Bà cụ Tứ, mẹ Tràng nghĩ rất đúng: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được”. Một phụ nữ không có gì hấp dẫn về thể hình cũng như tính nết, nhưng vẫn có thể thổi vào tâm hồn Tràng một ngọn gió yêu đời, lạc quan như vậy. Anh cu Tràng khốn khổ khao khát sống có tình yêu và hạnh phúc gia đình biết bao.

Tính cách người “vợ nhặt” cũng có thay đổi: Trước tấm lòng nhân hậu của Tràng và bà cụ Tứ, chị ta đã tìm lại được phẩm chất phụ nữ chưa bị dập tắt hẳn. Vẫn là quy luật tình yêu nhân đạo hóa con người. Sau khi tiếp xúc với mẹ chồng, sau những cử chỉ yêu thương của Tràng, qua đêm tân hôn hạnh phúc, chị ta đã có thay đổi: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh. Không biết có phải vì làm dâu mà thị tu chí làm ăn không?”. Nếu không phải đổi khác vì tình yêu thì chí ít là vì tình người. Những con người khốn khổ ấy cần cho nhau, có thể mang lại hạnh phúc cho nhau, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn thử thách.

c)     Nhân vật bà cụ Tứ

          Để hình tượng bà mẹ Tràng xuất hiện là cách tác giả đưa thêm một điểm nhìn mới đói với việc Tràng lấy vợ. Bà cụ mau chóng hiểu ra chuyện con mình nhặt được vợ thì nghẹn ngào thương hai con. Với sự từng trải, với sự hiểu biết và với lòng yêu thương con, cụ nhìn thấy trong việc con lấy vợ một cái gì đó thật đáng thương, thật ai oán. Đơn giản nhất là bà lo không biết chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không.

          Cụ thương con trai vì nhà nghèo hèn nên chỉ có thể lấy vợ trong lúc đói kém, khó khăn. Cụ lo cho chúng nó sẽ lặp lại cuộc đợi cực khổ dài dằng dặc của vợ chồng cụ trước đây. Và người mẹ không cầm được nước mắt vì nghĩ đến mâm cơm đạm bạc thê thảm của ngày đói sẽ là bữa tiệc cưới mừng hai đứa thành gia thất.

Nhưng vẫn với một tấm lòng trải đời, tấm lòng nhiều xót thương day dứt ấy bà cụ Tứ vẫn dành cho con một sự chăm sóc thật cảm động. Trong bữa cơm, cụ bàn chuyện tương lai: “Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này: - Tràng ạ, khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho xem”. Có lẽ đó là ước mơ thầm kí của cụ về việc sinh sôi nảy nở trong căn nhà của mình. Hình ảnh đàn gà đông đúc có thể gợi liên tưởng đến lũ cháu chắt đông vui của cụ trong tương lai. Và cũng không chỉ bàn hay suy nghĩ, bà cụ còn ‘xăm xăm thu dọn, quét tước nhà cửa. Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”.

          Nhờ có hình tượng bà cụ Tứ mà câu chuyện “nhặt vợ” của Tràng được soi chiếu từ một góc độ mới, làm bật lên các âm hưởng khác nhau: đau buồn và hứng khởi, bi quan và lạc quan, lãng mạn và đời thường. Những cung bậc cảm xúc đa dạng đan xen nhau, thay đổi nhanh chóng trong thời gian trước và sau đêm tân hôn.

          Chuyện anh cu Tràng nhặt vợ là chuyện buồn vui xen kẽ. Liệu cuộc đời vợ chồng Tràng có tái diễn lại cuộc đời của bố mẹ anh không? Câu trả lời dường như bỏ ngỏ, nhưng hình ảnh “những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp” và lá cờ đỏ bay phấp phới kết thúc câu chuyện lại dự báo một tương lai lạc quan hơn. Cách mạng về, cuộc sống mở ra thoe một chiều hướng mới. Những thân phận khốn khổ sẽ tìm thấy lối thoát cho cuộc đời mình ở cách mạng.

2.     Đặc điểm về nghệ thuật

          Như Kim Lân đã tâm sự, khi viết Vợ nhặt, ông không định trước tâm tư, hành động, cách ứng xử của nhân vật. Điều đó có nghĩa là tính cách nhân vật và diễn biến của câu chuyện dần dần bộc lộ trong tiến trình câu chuyện. Tác giả tôn trọng tính khách quan, tính hiện thực của nhân vật. Truyện được kể theo cách không báo trước mà người đọc cũng không thể dự đoán trước mọi diễn biến. Tình huống truyện dần dần hiện ra. Sự bất ngờ gây hứng thú cho người đọc. Một buổi chiều, giữa lúc nạn đói kinh hoàng như một cơn gió độc lan đến xóm ngụ cư, dân xóm bỗng thấy Tràng dẫn một người đàn bà lạ về nhà. Người đói là ai, có quan hệ gì với Tràng, quan hệ đó đi đến đâu, ứng xử của người trong xóm, người trong gia đình Tràng sẽ như thế nào? Những câu hỏi ấy lần lượt được đặt ra và tác giả để cho nhân vật tự dẫn dắt tiến  trình truyện. Đây là điều khác biệt về cách kể chuyện của văn xuôi thời trung đại. Trong văn xuôi thời trung đại, người kể chuyện tỏ ra biết hết, biết trước mọi chuyện và câu chuyện được kể ra như để minh họa cho điều đã biết trước đó. Mở đầu Chuyện người con gái Nam Xương (trích Truyền kỳ mạn lục), Nguyễn Dữ viết: “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thật hòa” (Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2007). Tác giả đã cho biết trước Vũ thị xinh đẹp, nết na, chàng Trương đem trăm lạng bạc cưới về” nhưng có tính hay ghen. Đặc điểm này báo trước bi kịch do lòng ghen thái quá của Trương sẽ gây ra cho Vũ thị.

          Sự kết hợp, đan xen chất bi và chất hài như hai pham trù mĩ học đối lập nhau cũng là một nét đáng chú ý của truyện. Phần đầu truyện, có những cảnh hàm chứa chất hài hước đối lập với sự xám xịt, tăm tối của cảnh chiều tàn trong xóm ngụ cư “tối sầm lại vì đói khát ấy”. Tràng về nhà với một người đàn bà, vừa đi vừa “tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Trẻ con trêu Tràng và người phụ nữa lạ kia với câu nói lái “chông vợ hài”. Tràng nhớ lại cảnh hai người quen nhau với những hoạt cảnh hài hước. Giữa cảnh đói khát đến cơm chẳng có mà ăn, Tràng hò “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này! – Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!”. Rồi thị “cong cớn” nói, chạy “lon ton” lại đẩy xe cho anh. Lần sau, Tràng vỗ túi đựng tiền nói “Rích bố cu” (“rất giàu” hay có thể hiểu nôm nay là “khối tiền đây”). Câu nói bằng tiếng Pháp “bồi”, tức tiếng Pháp nói không chuẩn của người không được học chính quy, bài bản trong tình huống ấy thật hài hước, làm duyên dáng thêm cho cuộc giao duyên vốn rất tầm thường chỉ dừng lại ở “chủ đề ăn uống”. Mấy gã đẩy xe bò mà cũng nói tiếng Pháp cơ đấy! Rồi liệu có được mấy hào trong túi tiền mà khoe khoang? Dẫu sao thì cử chỉ và câu nói đùa của Tràng đã mở đường tiến tới khá táo bạo cho người phụ nữ đói khát với hai con mắt trũng hoáy “sáng lên”… Chất hài giúp cho câu chuyện bớt căng thẳng nặng nề, niềm vui sống vẫn ẩn chứa đâu đây dẫu cho đói khát và cái chết đong lởn vởn quanh họ.

          Điểm nhìn trần thuật cũng là điều cần nhấn mạnh khi viết về nghệ thuật kể chuyện của tác giả. Sự đa dạng, nhiều chiều của điểm nhìn nghệ thuật đã được Kim Lân vận dụng để kể chuyện: khi kể bằng ngôn ngữ tác giả, khi kể bằng ngôn ngữ bình luận của dân xóm ngụ cư, kể cả của trẻ con “chông vợ hài”, khi từ điểm nhìn của Tràng, khi từ điểm nhìn của bà cụ Tứ với ngôn ngữ, tâm trạng riêng của người mẹ từng trải, rất thương con, vừa mừng vừa lo trước cảnh hai đứa con về ở với nhau. Chẳng hạn, những  c âu nói trao đổi qua lại của người dân xóm ngụ cư thắc mắc về người đàn bà lạ theo sau Tràng đã thay thế cho lời dẫn dắt của tác giả - nếu chỉ thuần ngôn ngữ kể của tác giả câu chuyện sẽ đơn điệu, đồng thời tạo ra không gian cho diễn biến câu chuyện. Xung quanh hai người có nhiều người chứng kiến câu chuyện của họ, bình luận về họ, với nỗi niềm vui buồn xen kẽ. Do đó câu chuyện khá phong phú sắc thái thẩm mĩ: trẻ con chỉ nhìn thấy sự hài hước, dân xóm ngụ cư có sự cảm thông, bà mẹ thấy bi thảm, thương xót, Tràng thấy hứng khởi, có thể đùa tếu. Câu chuyện có nhiều đoạn đối thoại giữa các nhân vật làm thay đổi mạch truyện kể.

0
phiếu
0đáp án
504 lượt xem

VỢ CHỒNG A PHỦ

(Trích)

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Tô Hoài sinh năm 1920, tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê nội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội); quê ngoại ở làng Nghĩa Đo, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình thợ thủ công, Tô Hoài chỉ được học hết bậc Tiểu học; trước khi đến với văn chương, ông phải làm nhiều nghề để kiếm sống (bán hàng, làm kế toán hiệu buôn...).

Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam, là nhà văn có biệt tài nắm bắt rất nahnh nhạy những nét riêng trong phong tục, tập quán của những miền đất mà ông đã đi qua.

Năm 1952, Tô Hoài đã cùng với bộ đội tiến quân vào giải phóng Tây Bắc. Đây là cơ hội để ông sống và tìm hiểu đất nước và con người vùng Tây Bắc. Vợ chồng A Phủ là một truyện ngắn trong tập Truyện Tây Bắc – kết quả của chuyến đi Tây Bắc này. Truyện Tây Bắc đã được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam công nhận của truyện ngắn này là ở việc diễn tả nỗi thống khổ của người dân miền núi, đặc biệt là người phụ nữ Mông dưới chế độ thống lí, phìa tạo.

2. Tô Hoài nói về việc sáng tác Vợ chồng A Phủ

Là một truyện ngắn, Vợ chồng A Phủ có những nét đặc sắc trong việc xây dựng nhân vật. Việc phân tích tác phẩm cần bám vào các nhân vật. Đây là câu chuyện xây dựng dựa vào nguyên mẫu có thực. Tô Hoài kể lại: “Truyện Vợ chồng A Phủ tôi viết vào quãng những năm 1952, 1953… thời kỳ ấy, tôi cùng bộ đội và nhân dân bước vào chiến dịch Tây Bắc, giải phóng ba tỉnh Sơn La, Lai Châu và Hoàng Liên Sơn. Bước đường hình thành câu chuyện cùng với nhân vật, tư tưởng nhân vật cứ hình thành dần, đến khi chiến dịch kết thúc thắng lợi thì tôi cũng đã nghĩ xong và viết luôn. Có nghĩa là câu chuyện Vợ chồng A Phủ tôi đã xây dựng bằng mắt thấy tai nghe và cảm nghĩ về những con người và sự việc ấy trong cuộc chiến đấu giải phóng quê hương của các dân tộc thiểu số anh em ở biên giớ Tây Bắc đất nước”.

II-   PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

-     Chủ đề của tác phẩm là số phận đau khổ của người dân dưới chế độ phong kiến ở miền núi và sức mạnh phản kháng tiềm tàng trong những con người – nạn nhân này. Tô Hoài nói về tác phẩm này: “Người dân tộc Mông ở trên núi cao, đã bao đời vất vả. Trong nỗi vất vả phải kể đến cái khổ cùng kiệt, là số phận người phụ nữ. Không chỉ là đói khát, là ngày đêm đi nương kiếm cái ăn và lúi húi trong bếp từ lúc trời chưa tan sương, mà đời một người con gái dân tộc Mông từ ngày bước chân đi lấy chồng là phải dấn mình vào địa ngục khủng khiếp không thể lời nào tả nổi được. Mê tín và thần quyền mà xã hội thời ấy coi là tuyệt đối thiêng liêng đã bắt người đàn bà ấy bán cho “cái ma” nhà ấy rồi và “cái ma” của nhà ấy không bao giờ cho người đàn bà này ra khỏi nhà nữa. Cả đến những trường hợp dã man đến độ dùng tiền bạc và thế lực, đã “cướp” người đàn bà đem về “trình ma”, thế là người đàn bà cũng bị “cái ma” vô hình trói cả đời trong nhà ấy… Những người đàn bà dân tộc Mông trong truyện Vợ chồng A Phủ cũng như Mị trong truyện ấy, tất cả đều đã trải qua những hãi hùng trên. Bao nhiêu khủng khiếp đã qua đi không bao giờ có thể trở lại nữa, nhưng câu chuyện thương tâm, cái đau đời người vẫn còn đọng lại mãi qua mọi thế hệ, như một nhắc nhở. Nhưng điều kì lạ là dẫu trong cùng cực đến thế mọi thế lực của tội ác cũng không giết được sức sống con người. Lay lắt đói khổ, nhục nhã, Mị vẫn sống, âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt… Mị và A Phủ gặp nhau trong một hoàn cảnh thật khốc liệt và éo le. Những số phận con người bên bờ cái chết. Trong nguy hiểm, nhưng khi có cơ hội và có quyết tâm của con người để chống lại cái số kiếp như trời định sẵn, họ đã vùng lên. Và sức mạnh vùng lên cứ phát triển mãi, khi cuộc đời riêng và cuộc sống xã hội mới gặp nhau đã nảy nở một cách tự nhiên” (theo Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Văn học, Hà Nội, 1998). Những ý kiến ấy rất cần thiết để chúng ta hiểu đúng dụng ý của tác giả.

-     Về bố cục, truyện Vợ chồng A Phủ gồm hai nửa như được “ghép lại” với nhau. Ở nửa đầu của truyện, không gian nghệ thuật là ở Hồng Ngài. Nơi ấy thế lực thống trị của bọn chúa đất nắm quyền sinh, quyền sát trong tay, đó là những thống lí, thống quản, xéo phải,… Nơi ấy những con người lao động lương thiện như Mị, A Phủ bị chúng cướp đoạt quyền sống, quyền làm người, phải sống kiếp con rùa, kiếp con trâu, con ngựa – kiếp nô lệ chung thân, truyền kiếp… Bị dồn vào chỗ chết, buộc Mị phải cắt dây cởi trói cứu A Phủ và cả hai bỏ trốn. Nửa thứ hai của truyện, không gian nghệ thuật chuyển sang Phiềng Sa. Ở đây, bọn thực dân Pháp đang thiết lập và củng cố thế lực thống trị mà hiện thân là cái đồn Bản Pe đùn lên đỏ như tổ mối. Nhưng Phiềng Sa cũng là khu du kích, ở nơi ấy Mị và A Phủ thành vợ chồng. Ai cũng gọi họ là “Vợ chồng A Phủ”, họ thành du kích và đấu tranh tự giác để tự giải phóng đời mình dưới sự giác ngộ và lãnh đạo của Đảng mà đại diện là cán bộ A Châu.

a) Thống lí Pá Tra và A Sử - những kẻ đại diện cho chế độ phong kiến ở miền núi Tây Bắc

-     Để hiểu thấu đáo số phận của hai nhân vật chính là Mị và A Phủ, không thể phân tích hia nhân vật Pá Tra và A Sử.

Thống lý Pá Tra là mẫu nhân vật điển hình cho bọn chúa đất ở vùng cao. Chúng có những nét đặc trưng riêng biệt thuộc về dân tộc tính (ngoại hình, lối sống…) nhưng về bản chất chúng không khác với bọn cường hào gian ác ở khắp nơi. Chúng giàu có nhưng keo kiệt, độc ác, trọng của khinh người, tàn bạo.

Pá Tra làm giàu bằng những cách phổ biến của bọn địa chủ, cường hào: cho vay nặng lãi và bóc lột sức lao động của dân nghèo. Cha mẹ Mị vay tiền của Pá Tra mỗi năm phải nộp lãi một nương ngô, lao động suốt đời không đủ trả nợ, đành chấp nhận gán con gái để trả nợ theo yêu cầu của Pá Tra. Vẫn cách thức ấy, Pá Tra biến A Phủ thành nô lệ cho hắn; cho A Phủ phải “vay tiền” của y để nộp vạ cho làng.

Những người vợ trong nhà Pá Tra thực chất là những nô lệ: “con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày”. Thân phận con người còn cơ cực hơn con vật. Đó là lời tố cáo đanh thép tội ác của bọn chúa đất phong kiến trên vùng cao Tây Bắc.

Tuy giàu có, ăn chơi hoang phí nhưng Pá Tra và con trai A Sử keo kiệt và khinh rẻ con người. Tính mạng và nhân phẩm con người bị chúng chà đạp dã mạn, không thương xót. Mị bị A Sử trói trong đêm mùa xuân. Trong nhà Pá Tra đã từng có người phụ nữ là vợ bị trói bỏ mặc ba ngày và chết. Mị cũng đã có thể bị mặc cho đến chết nếu như A Sử không bị đánh và cần có Mị đi hái thuốc. A Phủ bị chúng bắt về hành hạ, đánh đập và biến thành đứa ở, rồi cũng vì mất một con bò trong hàng trăm con bò mà A Phủ bị trói bỏ mặc và nếu không có Mị táo bạo cắt dây trói giải thoát thì đã chết.

-     Nghệ thuật miêu tả: Mặc dù đây không phải là những nhân vật chính, song với một số phác họa, Tô Hoài đã dựng chân dung chúng rất sống động, rất thật, khiến người đọc phẫn nộ, căm giận.

A Sử độc ác, không có tình người. Mị là vợ hắn nhưng “Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết”. Và Tết này, Mị muốn đi chơi thì y trói Mị vào cột: dùng dây lương trói hai tay, dùng cả một thúng sợi đay trói đứng Mị vào cột nhà, lại quấn cả tóc Mị lên cột. Mị không thể cúi hay nghiêng đầu được! Thật là sự cực tả cái lối trói người của A Sử, một kẻ lạnh lùng coi tính mạng và phẩm giá của con người như cỏ rác. “Đời trước, ở nhà thống lí Pá Tra có một người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi”.

Nhân vật Pá Tra có chân dung rõ hơn. Cái cách kết hợp hút thuốc phiện và đánh đòn thù A Phủ là một cách hành hạ con người thật độc đáo. Nếu coi tiệc hút thuốc phiện do Pá Tra tổ chức là một lối hưởng lạc phổ biến của bọn cường hào vùng núi thời ấy thì việc hắn cho người đánh A Phủ cũng là một kiểu “nhấm nháp” lạc thú. “Cứ mỗi đợt bọn chức việc hút thuốc phiện xong, A Phủ lại phải ra quỳ giữa nhà, lại bị người xô đến đánh”, “Khói thuốc phiện ngào ngạt tuôn qua các lỗ của sổ. Rồi Pá Tra lại ngóc cổ lên, vuốt tóc, gọi A Phủ,… Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút”. Với “khát vọng” trả thù những ai dám xúc phạm uy danh của chúng, những ai xâm phạm lợi ích, uy tín của chúng, bọn cường hào không mảy may động lòng trước nỗi đau khổ hay thậm chí là cái chết của người dân. Tô Hoài đã dụng công tả “phiên tòa” tên Pá Tra thiết lập để xử phạt A Phủ. Hắn tuyên bố: “A Phủ, mày đánh con quan làng, đáng nhẽ làng xử mày tội chết, nhưng làng tha cho mày được sống mà nộp vạ. Cả tiền phạt, tiền thuốc, tiền lợn, mày phải chịu một trăm bạc trắng. Mày không có trăm bạc thì tao cho mày vay để mày ở nợ. Bao giờ có tiền giả thì tao cho mày về, chưa có tiền giả thì tao bắt mày làm con trâu, con ngựa cho nhà tao. Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi”. A Phủ “sờ lên đồng bạc trên tráp”, nhặt đồng bạc lên rồi lại đặt ngay xuống tráp và Pá Tra trút cả bạc vào trong tráp! Các “quan làng” tiệc tùng trên đau khổ của A Phủ. Tập trung đặc tả cảnh quan làng bắt vạ A Phủ là cách tác giả dồn nén tình huống đến độ căng thẳng, chuẩn bị cho sự bứt phá bột phát của cả hai nhân vật – nạn nhân là Mị và A Phủ.

Cách Pá Tra trói A Phủ cũng là một đoạn phản ánh rõ nét tính cách tàn nhẫn và khinh bạc của hắn. Hắn buộc A Phủ phải tự đi tìm cọc, kiếm dây mây, tự tay A Phủ chôn cọc gỗ sẵn sàng để hắn trói. Cách trói của Pá Tra cũng là cách của A Sử, chỉ để lại cổ và đầu là hơi lúc lắc được. Khi phát hiện A Phủ có ý đồ tự cởi trói, hắn thêm một thòng lọng vào cổ, để A Phủ không cúi, không lắc được nữa. Trói người là một cách giam cầm, tù đày độc đáo của bọn cường hào miền núi.

Dưới ách thống trị của bọn cường hào như thống lí Pá Tra, số phận của người dân thật vô cùng đau khổ, nhưng cũng chính chúng đã đẩy người dân bị áp bức đến chỗ vùng đậy.

b) Mị - biểu tượng của nỗi đau khổ về thể chất và tinh thần

Xuất hiện lần đàu trước mắt bạn đọc là lúc Mị lấy A Sử làm chồng, mặc dù cô không hề yêu hắn và hắn cũng chẳng có tình yêu với cô: “Không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau”. Đó là nỗi khổ tâm lớn nhất của người con gái đang bước vào đời với bao mơ ước, hi vọng như Mị. Cô từng nói với bố đừng bán cô cho nhà giàu, rằng cô sẵn sàng làm nương ngô để trả nợ. Khi bị A Sử lừa bắt cóc đưa về, Mị có ý định tự tử bằng lá ngón rồi nghĩ đến món nợ truyền kiếp của gia đình mình, cô lại dằn lòng. Giữa Mị và A Sử không thấy nói đến tình cảm vợ chồng, với tình yêu hay tình nghĩa. Thực chất Mị chỉ là con ở, là tôi đòi.

Lao động nặng nhọc, liên miên trong nhà Pá Tra đã tạo nên tâm lý an phận, cam chịu thân phận nô lệ của Mị. “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phỉa đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi”. Tưởng chừng như mọi ý chí phản kháng đã tê liệt

Ở trong nhà Pá Tra, Mị chỉ là một thân phận nữ tù nhân. Cái buồn cô ở tăm tối là biểu trưng cho không gian tù hãm, bế tắc của một mảnh đời bị giam hãm trong tù ngục: “Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó của. Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông vằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi”. Một cái lỗ vuông nhỏ nhìn ra không gian núi rừng bao la nói lên thân phận tù hãm này. Thân phận Mị là thân phận của người bị kết án tù chung thân. Tâm trạng một cô gái quan lớn lên trong không gian bao la, tự do của núi rừng nay bị giam cầm trong căn buồn nhỏ hẹp như chiếc xà lim.

Nghệ thuật miêu tả nhân vật của Tô Hoài có nét đặc sắc riêng. Có hai phương thức mà ông sử dụng nhất quán trong toàn câu chuyện: (1) Nhìn nhân vật bằng cái nhìn của người bên ngoài để cho cái nhìn đó có tính khách quan; (2) Nhìn nhân vật từ bên trong nhân vật đó (tác giả hóa thân vào nhân vật). Ngay từ trong phần đầu truyện, ông đã cho thấy thế mạnh của lối miêu tả nhân vật này:

          + Câu chuyện về thân thế, cuộc đời Mị được dân làng kể lại: “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa cạnh tàu ngựa…”. Cách dẫn chuyện thông qua lời nét đặc biệt của phong tục tập quán, lối sống, lối cảm nghĩ, lối nói của người dân miền núi. “Cô Mị về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ ngày nào cô cũng không nhớ, cũng không ai nhớ. Nhưng người nghèo ở Hồng Ngài thì vẫn còn kể lại câu chuyện Mị về làm người nhà quan thống lí”. Thì ra câu chuyện về cuộc đời thống khổ của Mị là câu chuyện lan truyền rộng rãi cả vùng, là mối quan tâm của cả làng. Đây là lối dẫn chuyện mang dáng dấp của lối kể chuyện cổ tích, hứa hẹn một cốt truyện hấp dẫn.

          + Mị được miêu tả bằng cái nhìn của chính nhân vật từ bên trong nhìn ra. Tâm lý nhân vật được tác giả quan tâm nhiều hơn là hành động. Đây là cô gái dân tộc Mông cảm và nghĩ nhiều hơn là nói nên nhà văn hạn chế tả chân dung ngoại hình, hâu như không sử dụng phạm trù ngôn ngữ nhân vật mà để cho nhân vật tự thể hiện mình bằng các giác quan (cảm nhận) và tâm trạng. với cách này, Tô Hoài đã diễn tả được những nét tâm trạng, xúc ảm khó diễn tả, nhất là xúc cảm của cô gái đang yêu: “Đến tết năm ấy, Tết thì vui chơi, trai gái đánh pao, đánh quay rồi đêm đêm rủ nhau đi chơi. Những nhà có con gái thì bố mẹ không ngủ được vì tiếng chó sủa. Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách. Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị. Một đêm khuya, Mị nghe tiếng gõ vách. Tiếng gõ vách hò hẹn của người yêu. Mị hồi hộp lặng lẽ quơ tay lên thì gặp hai ngón tay lách qua khe gỗ, sờ một ngón thấy có đeo nhẫn. Người yêu của Mị thường đeo nhẫn ngón tay ấy. Mị bèn nhấc tấm vách gỗ. Một bàn tay dắt Mị bước ra”. Mị đã có người yêu song đã bị A Sử đánh lừa. Tình huống bắt cóc Mị liên quan đến phong tục cướp vợ của các dân tộc trên vùng cao tạo nên hứng thú cho người đọc.

Phần thứ hai của truyện dành để diễn tả sự trỗi dậy của khát vọng sống âm ỉ từ đáy sâu tiềm thức của Mị.

          Mặc dù thân phận nô lệ, tù đày, mặc dù nỗi buồn khổ, tủi nhục đã biến Mị thành một cái bóng lặng lẽ, âm thầm, trong con người Mị, vẫn âm ỉ một khát vọng sống, sống có tình yêu và hạnh phúc. Bao nhiêu năm tháng trôi qua, bỗng một ngày hội mùa xuân, khát vọng ấy bùng dậy. Diễn tả diễn biến tâm trạng của tác giả.

Bối cảnh nền cho tâm trạng mới của Mị là không khí náo nức của ngày hội mùa xuân. “Trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi tren mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ […]. Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi”. Màu sắc tươi sáng và âm thanh rộn rã tạo cho không gian núi rừng ngày Tết một sức cuốn hút náo nức. Mùa xuân ở bất cứ dân tộc nào cũng tượng trưng cho tình yêu, tuổi trẻ, sức sống mạnh mẽ.

          Không quan tâm nhiều đến việc miêu tả ngoại cảnh. Tô Hoài dành tâm huyết chăm sóc cho thế giới nội tâm nhân vật. Nhân vật được thể hiện từ bên trong chứ không qua lời người dẫn chuyện. người kể chuyện đã ẩn đi để nhân vật tự trình hiện: “Mị nghe tiếng sao vọng lại, thiết tha bổi hổi. Mị ngòi nhẩm thầm bài hát của người mình thổi:

Mày có con trai con gái rồi

Mày đi làm nương

Ta không có con trai con gái

Ta đi tìm người yêu

Tưởng như Mị đã khô héo từ lâu vì buồn khổ. Nhưng không, tiếng sao gọi người yêu đã đánh thức con tim của mọt thiếu phụ làm vợ mà không có tình yêu, đưa chị trở về với những ngày hội xuân, về tình yêu một thuở. Từ đây, mọi tâm trạng và hành động của Mị đều phục tùng logic của hồi tưởng. Cô như đắm mình trong miền hồi tưởng, hồi ức về ngày hội mùa xuân, về người yêu. Tiếng sao có vai trò lý giải các diễn biến tâm trạng của Mị. “Tai Mị văng vẳng tiếng sao gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”. Ngoài kia, sự sống chẳng bao giờ chán nản, cuộc sống vẫn diễn ra theo nhịp điệu của nó khiến Mị đã quên đi mình đang bị trói. Uống rươu không phải là điều xa lạ với Mị. Các cô gái Mông về mùa xuân vẫn uống rượu. Mị uống ừng ực từng bát và chất men say làm cho cô có tâm trạng lâng lâng hứng khởi. Nhưng quan trọng hơn là chất men say của kỉ niệm đẹp: “Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi […]. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lơ lửng bay ngoài đường”. Tiếng sao gọi người yêu ám ảnh, thôi thúc, dẫn đến hành động, ban đầu là một hành động nho nhỏ: “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Đây là chi tiết có ý nghĩa. Mị đã có ý định thay đổi một cái gì đó, dù là chỉ làm cho căn nhà sáng lên. Kỉ niệm cũ đã thổi hồng bếp than vùi dưới tro. Lúc này, Mị không có ý nghĩ nào khác là thoát ra với không gian hội hè tự do ngoài kia. Chỉ có tâm trạng và hành động: “Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi. Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách”. Câu văn ngắn, nhịp điệu gấp rút, khẩn trương, các ý nghĩ thoáng qua và hành động tiếp nối nhau nhanh gấp.

Niềm khao khát sống trong tình yêu hạnh phúc trỗi dậy cũng nồng nan men rượu. Nhưng giả thử không có men rượu thì tiếng sáo gọi bạn tình yêu ấy cũng đủ làm cô thổn thức. A Sử đã trói chặt cô lại nhưng cô đâu có để ý đến việc bị trói, cho dù là trói một cách độc ác. “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sao đưa Mị đi theo những cuộc chơi”. Cả một thời con gái sống dậy mạnh mẽ trong cô. Quên thực tại đang bị trói một cách ê chề, trong đầu Mị là những âm thanh, những hình ảnh, những cảm xúc năm nào : “Chó sủa xa xa. Chừng đã khuya. Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi. Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi.

Cả đêm ấy Mị phải trói đứng như thế. Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại đau nhức. Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ. Hơi rượu tỏa. Tiếng sao. Tiếng chó sủa xa xa. Mị lúc mê, lúc tỉnh”. Toàn bộ đoạn văn này miêu tả nhân vật từ điểm nhìn của chính nhân vật.

Tại sao bao năm trước đó, vẫn là cảnh mùa xuân như thế nhưng tâm hồn Mị vẫn nín lặng và chính là mùa xuân này Mị mới sống lại với khát vọng sống thật mạnh mẽ? Thật khó mà trả lời, song chỉ có một điều chắc chắn: sự dồn nén qua năm tháng đã đến độ bùng nổ, một khi khát vọng ấy trỗi dậy, nó sẽ không chết đi. Từ thời điểm này, Mị đã khác. Khi tỉnh dậy, Mị có cảm giác sợ - sợ cái chết. “Mị chợt nhớ lại câu chuyện người ta vẫn kể: đời trước, ở nhà thống lý Pá Tra có một người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi. Nhớ thế, Mị sợ quá, Mị cựa quậy, xem mình còn sống hay chết”. Sợ chết vì cô vẫn muốn sống, vẫn hy vọng mơ hồ về cuộc sống, về tình yêu, hạnh phúc. Cô khao khát sống.

Mặc dù bọn cường hào miền núi Pá Tra đã đàn áp ý chí tự do của con người, đã biến con người trong tay chúng thành nô lệ, thành tù nhân nhưng phần lương thiện tốt đẹp của con người vẫn sống. Số phận bi thảm của cô không làm lu mờ chủ nghĩa nhân đạo lạc quan của tác giả. Một mặt, nhà văn tố cáo chế độ phong kiến ở miền núi, mặt khác vẫn giữ niềm tin vào sức sống mãnh liệt của nạ nhân của chế độ này.

Mị cắt dây trói cho A Phủ rồi cùng A Phủ chạy trốn khoải nhà Pá Tra là sự phát triển logic của diễn biến tâm trạng trong Mị. Không phải ngẫu nhiên thân phận thống khổ của A Phủ được diễn tả từ điểm nhìn của Mị. Nếu như ý muốn đi chơi ngày xuâ của Mị là kết quả logic của diễn biến tâm trạng trong cô thì quyết định cắt dây trói cứu A Phủ là do sự động lòng trắc ẩn, sự cảm thông. Lòng thương dân và thương người, sự căm ghét bọn thống trị tàn ác đã giúp Mị vùng lên.

Lúc đàu, hành động của Mị khiến ta có cảm tưởng thân phận nô lệ, tù hãm đã làm cho Mị dửng dưng, lạnh nhạt với xung quanh. Đêm nào Mị cũng dậy thổi lửa hơ tay, hơ lưng vì trời rất lạnh. A Phủ vẫn bị trói, mở mắt trừng trừng “Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”. Nhưng lòng thương người của cô cũng giống ngọn lửa kia, đến một lúc rồi bùng cháy lên. Ấy là lúc “Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Cô liên tưởng đến thân phận mình đã có lúc suýt chết trói, đến thân phận của một người đàn bà đã từng bị chết trói như thế và lo cho A Phủ: “Cơ chừng này chỉ đem mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”. Mị cũng nghĩ đến lúc A Phủ trốn được, cô phải trói thay vào đấy, song “trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ”. Mị không sợ vì tình thương và sự căm phẫn đã át hết nỗi sợ chết. Cô đã cắt dây trói gỡ cho A Phủ. Hai tù nhân, nô lệ của nhà Pá Tra đã chạy trốn tìm tự do. Các sự việc diễn ra liên tiếp, ngoài dự kiến của Mị: từ ý nghĩ “phảng phất” về cái chết đang lơ lửng trên đầu “người kia” (A Phủ), ý nghĩ về việc mình sẽ bị trói thay vào cọc vì A Phủ trốn được đến chỗ cô rón rén tiến đến cắt dây trói, sua đó cùng A Phủ bỏ chạy. Nhưng đó cũng là phép biện chứng của tâm hồn: một hành động có tính chất bùng nổ, quyết liệt như thế, phải là kết quả của một quá trình phát triển tiệm tiến của tâm trạng, cảm xúc, tư tưởng. Tô Hoài nói: “Vẻ đẹp của một tâm hồn con người, bao giờ cũng vậy, một tấm lòng, một tinh thần vị tha, một hành động không phải chỉ vì mình, đấy mới trở thành những câu chuyện đời đời nhớ mãi”. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ có dáng dấp của một thiên phân tích tâm lý sắc sảo, tinh tế. Những dồn nén của thân phận bị chà đạp, đã đẩy đến những hành động quyết liệt trong giây lát, quyết định hướng đi của cuộc đời và chính nhân vật cũng không dự tính trước.

c) A Phủ - một phương diện khác về thân phận người dân dưới chế độ phong kiến ở miền núi

Tuy A Phủ không phải là nhân vật chính của câu chuyện nhưng hình tượng A Phủ cũng góp phần làm hoàn chỉnh hơn nhận thức về nỗi thống khổ của con người ở vùng núi Tây Bắc trước Cách mạng.

-     A Phủ có một thân phận nghèo hèn: mồ côi cha mẹ, một thân một mình, bị đem bán đổi thóc rồi trốn đi làm cho nhà người. Hình bóng quen thuộc của nhân vật đứa con mồ côi bất hạnh vốn rất quen thuộc trong truyện cổ tích

-     A Phủ lớn lên trở thành một thanh niên có sức khỏe, có nhiều khả năng lao động, là niềm mơ ước thầm kín của nhiều cô gái. Tuy nghèo hèn “không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc” nhưng A Phủ vẫn sống cuộc sống hồn nhiên của tuổi trẻ. “Tuy nhiên, đang tuổi chơi, trong ngày Tết đến, dù A Phủ chẳng có quần áo mới như nhiều trai khác, A Phủ chỉ có độc một chiếc vòng vía lằn trên cổ, A Phủ cũng cứ cùng trai làng đem sáo, khèn, đem con quay và quả pao, quả yến đi tìm người yêu ở các làng trong vùng”.

Điều đáng chú ý là A Phủ sớm có lòng quả cảm, anh biết căm ghét sự hống hách của bọn có quyền thế và dám táo bạo chống lại chúng. Cảnh A Sử bị A Phủ trừng trị thật sinh động: “Một người to lớn chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử. Con quay gỗ ngát lăng vào giữa mặt. Nó vừa kịp bưng tay lên, A Phủ đã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp”. Chi tiết nắm vòng cổ A Sử rất có ý nghĩa vì A Sử là con nhà quan – tầng lớp thống trị, có “nạm vòng bạc ở cổ rủ xuống những tua chỉ xanh đỏ mà chỉ riêng con quan trong làng mới được đeo”. A Phủ có những phẩm chất tốt đẹp của người lao động chân chính, có tiềm năng cách mạng. Thực ra, việc anh đánh A Sử chỉ là hành động bột phát trong giây phút, nếu phải cân nhắc kĩ thì chưa chắc A Phủ dám đánh con quan. Nhưng trong giây phút, lương tâm của chàng đã kêu gọi hành động vì chính nghĩa ấy.

Nhưng sự chống đối tự phát, đơn độc của pa chỉ là nguồn gốc của nỗi thống khổ và bất hạnh của anh. Không phải A Phủ cam chịu mà là có cả một bộ máy đàn áp, trả thù sự chống đối của anh. Việc Pá Tra điên cuồng trả thù A Phủ một mặt tố cáo sự độc ác, dã man của bọn cường hào vùng núi, tốt cáo thân phận thống khổ của con người lương thiện dưới chế độ thống lí, phìa tạo, mặt kahcs cho thấy một bài học: Nếu đấu tranh đơn đọc, không có tổ chức thì mọi sự chống đối đơn độc chỉ dẫn đến thất bại. Đó là bài học cách mạng vỡ lòng cho những ai muốn thủ tiêu chế độ phong kiến thực dân, giải phóng cho cuộc đời mình.

Vợ chồng A Phủ là một truyên ngắn thành công của Tô Hoài. Ý nghĩa nhân đạo và ý nghĩa cách mạng đã được nhà văn chuyển tải tới người đọc bằng một nghệ thuật xây dựng nhân vật tinh tế, đặc sắc. Chúng ta có dịp hiểu hiện thực đen tối của xã hội phong kiến miền núi và do đó hiểu được ý nghĩa vĩ đại mà cách mạng đã đem đến cho người dân vùng núi Tây Bắc này.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

-     Về không gian, tác giả đã khắc họa hai loại không gian: không gian tù túng bên trong căn nhà Pá Tra như là địa ngục, đối lập với không gian tự do, đày âm thanh, màu sắc của ngày xuân; không gian truyện (cảnh sắc Tây Bắc ngày hội xuân; con người với phong tục tập quán đặc sắc; hình ảnh những người Mông ít thuyết lí, thiên vè hành động,…) cũng ghi dấu ấn đặc trưng về văn hóa và con người Tây Bắc, tạo nên sự hấp dẫn cho độc giả miền xuôi.

-     Về thời gian, tác giả đã chọn được những điểm thắt nút căng thẳng nhất để dừng lại miêu tả: như khi Mị cầm nắm lá ngón định chết, khi A Sử trói Mị, khi bọn quan làng phạt vạ A Phủ, đặc biệt là thời điểm tình huống có tính bùn nổ để câu chuyện chuyển sang hướng khác – Mị cắt dây trói cho A Phủ rồi hai người cùng chạy trốn. Nhiều năm trôi qua nhưng không có sự kiện gì nổi bật thì bị tác giả lướt qua – nén lại. Đến đêm hội mùa xuân năm ấy, chỉ trong thời khắc một đêm, trong đêm, chỉ trong giây lát, mọi sự việc diễn ra rất nhanh. Mị cắt dây trói cho A Phủ, A Phủ khụy xuống, rồi vùng dậy, chạy, Mị cũng “vụt chạy ra”, hai người lao nhanh xuống dốc núi. Cách chọn không gian – thời gian như vậy rất tương đồng với nghệ thuật xử lý không gian – thời gian của điện ảnh.

0
phiếu
0đáp án
824 lượt xem

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?

(Trích)

I-     NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại thành phố Huê, quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, tỉnh Quảng Trị. Ngay khi còn là sinh viên và đi dạy học, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tích cực tham gia các phong trò yêu nước chống Mĩ – ngụy ở nội thành thành phố Huế. Năm 1966, ông lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ bằng hoạt động văn nghệ. Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Trị Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt.

Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn vừa cầm bút vừa cầm súng, có phong cách độc đáo và đặc biệt sở trường về thể văn bút ký, tùy bút. Ký của ông có một diện mạo riêng – vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa, lịch sử rất phong phú – có những đóng góp mới cho văn xuôi Việt Nam hiện đại.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? được tác giả viết tại Huế, ngày 4-1-1981, in trong tập sách cùng tên. Bài bút ký có ba phần. Văn bản trong sách giáo khoa là phần thứ nhất.

2. Về dòng sông Hương

Sông Hương là một dòng sông nổi tiếng chảy giữa lòng thành phố Huế ( Huế đọc chệch đi là Hóa – xưa xứ Huế được gọi là Thuận Hóa). Khi gọi Châu Hóa như tác giả viết trong bài tùy bút thì hiệu quả là gợi ngay một ấn tượng về miền đất lịch sử.

Hai nguồn chính làm nên dòng sông này là dòng Tả Trạch và Hữu Trạch phát nguồn từ dãy Trường Sơn đổ về, hợp lưu lại ngã ba Bằng Lãng tạo thành sông Hương. Sông Hương chảy từ Bằng Lãng đến cửa Thuận An, vượt qua chừng 30km với tốc độ dòng chảy chậm, hiền hòa. Nguyên nhân là do độ chênh giữa mực nước sông và nước biển không lớn nên dòng chảy không mạnh. Cũng có một số nhân tố khác mà chính bài ký có nói: Những chi lưu là những nhánh sông đào hai bên sông và hai hòn đảo nhỏ trên sông cũng làm giảm lưu tốc của dòng chảy.

Huế là nơi thi hào Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều,từng sống. Do đó, mở đầu bài ký, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã liên tưởng dòng sông với tình yêu trong Truyện Kiều, một cách bắt đầu câu chuyện hấp dẫn vì đặt hình tượng dòng sông vào ngữ cảnh văn hóa toàn dân tộc. Ông viết: “Chính sông Hương và thành phố của nó vẫn gợi cho tôi, như một vang bóng trong thời gian, hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng của Truyện Kiều: tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và cả hai cùng gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở”.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? là nhan đề bài tùy bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thực ra, truy tìm nguồn gốc tên gọi sông Hương chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ tình yêu dòng sông, yêu quê hương xứ sở tươi đẹp, với bề dày truyền thống văn hóa và cách mạng. Đoạn trích đã lược bớt phần tác giả bà về cội nguồn tên gọi Hương Giang. Để hiểu đầy đủ về vấn đề này, chúng tôi xin cung cấp một cách ngắn gọn các cách cắt nghĩa tên gọi sông Hương đã được các nhà nghiên cứu tổng hợp.

Về cơ bản, đến nay có bốn cách giải thích khác nhau về cội nguồn tên gọi của sông Hương:

-     Theo truyền thuyết, khi xưa, chúa Nguyễn Hoàng trên đường từ Quảng Trị đi tuần du về phương Nam nghỉ ngơi bên bờ sông Hương, nằm mộng thấy một người phụ nữ nhà trời (thiên mụ) trao cho nén hương và dặn rằng, đi thuyền xuôi theo dòng sông, đến khi hương tàn thì dừng lại, đấy là nơ có thể định đô. Vì thế mà Nguyễn Hoàng đã chọn được nơi đóng thủ phủ Phú Xuân, sau này là kinh đô. Để ghi ơn “thiên mụ”, ngay trong năm 1601, chúa Nguyễn Hoàng đã xây dựng ngôi chùa Thiên Mụ nổi tiếng và đặt tên cho dòng sông là sông Hương.

-     Một dã sử lại kể rằng vua Quang Trung đã ra lệnh chính thức gọi Hương Giang cho toàn bộ dòng sông từ trên núi cao ra đến biển, chấm dứt tình trạng mỗi đoạn sông lại được gọi riêng theo tên địa phương như Đan Điền, Hương Trà.

-     Cắt nghĩa tên sông bằng các yếu tố tự nhiên có thuyết nói rằng vì cây thạch xuowng bồ mọc ở hai bên bờ dòng tả trạch và hữu trạch, một loại dược liệu quý, có mùi thơm, từ đó có tên là sông Hương.

-     Cách cắt nghĩa đầy nghệ thuật mà Hoàng Phủ Ngọc Tường tâm huyết. ở đoạn kết thiên bút ký mà chúng ta đang nói đến, ông viết: “Có nhiều cách trả lời cho câu hỏi ấy; trong đó, tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước trăm hoa đỏ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi. Tôi lĩnh hội ý nghĩa của truyền thuyết ấy như nhà thơ chọn bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hóa và lịch sử”.

Một cách lý tưởng, để hiểu được đầy đủ bài tùy bút đặc sắc này, người đọc cần cso một số hiểu biết nhất định về xứ Huế. Chẳng hạn nếu có cơ hội một lần đến thăm các lăng tẩm ở Huế thì sẽ cảm nhậ hết cái so sánh ví von dòng Hương Gian chạy qua khu vực này có vẻ đẹp trầm mặc nhất; hoặc nếu ta có một lần đến cầu Tràng Tiền vắt qua sông Hương, sẽ hiểu chính những nhịp cầu có dáng cong như cầu vồng trên cây cầu này gợi ý cho so sánh của tác giả “như những vành trăng non”. Tác giả dẫu là tài hư cấu, tưởng tượng đến mấy thì vẫn là dựa trên cơ sở những gợi ý từ hiện thực.

3. Về thể văn tùy bút

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán- Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi [đồng Chủ biên], NXB Giáo dục, 2004), bút ký là một thể ký có quy mô trương ứng với truyện ngắn nhưng khác truyện ngắn ở chỗ tác giả bút ký không sử dụng hư cấu vào việc phản ánh hiện thực. Bút ký ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tưởng tượng nào đó. Sức hấp dẫn và thuyết phụ của bút ký tùy thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu, khám phá, diễn đạt của tác giả đối với các sự kiện được dề cập đến nhằm khám phá ra các khía cạnh “có vấn đề”, những ý nghĩa mới mẻ, sâu sắc trong va chạm giữa tính cách và hoàn cảnh, cá nhân và môi trường. Bút ký có thể thiên về văn học, cũng có thể thuộc về báo chí tùy theo mức độ biểu hiện cái riêng của tác giả và mức độ sử dụng các biện pháp nghệ thuật cùng tính chất tác động của nó đối với công chúng.

Chúng ta vừa làm quen với thể tùy bút qua bút ký Sông Đà của Nguyễn Tuân. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là nhà văn viết tùy bút tài hoa nổi tiếng. Thể tùy bút cho phép tác giả kể, tả và phát biểu trực tiếp, không hạn chế các suy nghĩ, cảm xúc, bình luận thể hiện “cái tôi” của mình. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã biết khai thác tối đa đặc trưng của tùy bút khi viết sông Hương, một đối tượng chiếm lĩnh có những điểm khác nhau căn bản so với Sông Đà của Nguyễn Tuân.

II-    PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

Đoạn trích có hai phần với hai nội dung chính riêng, phân biệt bằng dấu sao. Phàn đầu dành cho những dòng bình luận, suy ngãm về cảnh quan tự nhiên của sông Hương và những cảnh quan nhân tạo hai bền bờ dòng sông; phần thứ hai viết về lịch sử và văn hóa đôi vờ sông Hương.

a) Cảnh quan tự nhiên của sông Hương và các không gian văn hóa đôi bờ dòng sông

Nhà văn sử dụng ngôn ngữ tự sự nhưng không phải là tự sự về một đối tượng của khoa Địa lý học mà như kể về một sinh thể, một cô gái. Và song song một dòng mạch trữ tình theo tuyến tự sự. Kể, tả và bình luận được kết hợp nhuần nhuyễn làm nên chất tùy bút đặc trưng của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Để viết thiên tùy bút, nhà văn phải là người rất am hiểu và có tình cảm gắn bó thân thiết với dòng sông. Nhưng để tác phẩm thành công, tác giả phải có tài năng văn chương thật sự.

Sông Hương từ dải Trường Sơn đổ ra biển Đông có hai chặng khác nhau. Chặng thư snhaats từ ngọn nguồn trên sườn Đông dải Trường Sơn quanh co qua các dải đồi núi; chặng thứ hai, khi mặt dòng nước dòng sông đã phẳng lặng dần đến khi gặp chùa Thiên Mụ là bắt đầu tìm đúng đường về thành phố. Nhà văn ngược lên tận ngọn nguồn con sông để nhận diện nó rồi xuôi theo dòng để quan sát nó lượn  quanh thành phố Huế. “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”. Và kết quả là một phát hiện “Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. “Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già […] và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Đây là những so sánh nhân cách hóa thật đặc sắc. Nhiều tên gọi các dòng sông gắn với hình ảnh người mẹ (sông Mê Kông và sông Hồng – còn gọi là sông Cái – đều là những sông Mẹ), nhưng tác giả đã thích so sánh sông Hương với người thiếu nữ.

Người viết lần theo dòng chảy con sông không phải với tư cách là nhà địa lý hay người đi vẽ bản đồ mà là như một chàng trai khám phá tính cách của cô gái. Từ góc nhìn đó, những tư tưởng và so sánh thú vị xuất hiện. Dòng sông như một cô gái đẹp đã nằm ngủ từ bao giờ giữa cánh đồng hoang dại của Châu Hóa, rồi đến khi có “người tình mong đợi” đã đến đánh thức người đẹp – người tình đây hẳn là thành phố Huế, song sự xuất hiện của Huế lại gắn liền với con người, lại không thể tách rời với tiến trình Nam tiến của dân tộc. Dòng sông tạo nền tảng để xuất hiện văn hóa, văn minh, song cũng đợi con người để hiện thực hóa tiềm năng đó. Những câu văn có sức gợi liêng tưởng vô cùng, tùy thuộc vào vốn sống, sự từng trải và quan tâm của người đọc.

Xuống đến đồng bằng, dòng sông uốn lượn qua nhiều khúc quanh để đến gặp thành phố. Từ chùa Thiên Mụ, dòng sông đã tìm đúng hướng về “Từ đây, như đã tìm đúng hướng về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuois cùng, nó đã tìm thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”. Tác giả hình dung đó là những chuyển động “uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó”. Không những đặc tả các đường uốn lượn, tác giả còn có quan sát và cách diễn đạt thú vị về màu sắc con sông. Sắc sông trở nên xanh thẳm khi đến chân núi Hòn Chén (tác giả dùng tên chữ là Ngọc Trản – nguyên nghĩa là Chén Ngọc), vùng đồi núi lô nhô và lăng tẩm tạo nên vẻ đẹp trầm mặc nhất cho con sông.

Dòng sông chảy qua Huế đi chậm “cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”. So sánh sự bình yên, “điệu nhảy lặng lờ” của nó khi ngang qua thành phố với dòng chảy gấp gáp của sông Nê- va khi đi qua Lê-nin-grat (nay là Xanh-pê-téc-bua) nước Nga, liên tưởng đế triết lý của Hê-ra-clit “không thể tắm hai lần trong một dòng sông” là đoạn văn tài hoa, trí tuệ mà cũng rất hấp dẫn.

Cảnh quan thiên nhiên góp phần tạo nên những nền văn hóa đặc sắc. Dù tả cảnh quan dòng sông, tác giả luôn liên tưởng, mở rộng suy ngẫm về đặc trưng riêng của dòng sông Hương, quan sát không gian văn hóa hình thành quanh đôi bờ và dọc theo dòng sông. “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya […] toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”. Khoang thuyền, mái chèo khuya đều là những hình ảnh liên hệ với dòng sông. Đến đây, nhà văn lại liên tưởng đến những bản đàn trong Truyện Kiều bất hủ như một minh chứng hùng hồn cho vai trò văn hóa của sông Hương.

Trước khi giã từ thành phố để về với biển cả, “nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao […] tôi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Rồi lại so sánh với nàng Kiều “Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả”.

Nhìn chung, cảnh quan sông Hương được nhìn ngắm từ góc nhìn văn hóa. Nhà văn suy ngẫm đầy chất trữ tình về không gian văn hóa trên hai bờ sông Hương. Uyên bác, lịch lãm, từng trải và tài hoa là những phẩm chất dễ thấy của tác giả trong phần này.

b) Sông Hương trong lịch sử và thi ca

Sông Hương – mà cũng là Huế - đã có lịch sử của nó trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Không thể tách rời sông Hương với lịch sử dân tộc, càng không thể tách rời nó với Huế. Cảm hứng ấy toát lên từ những câu văn tự sự tưởng như khô khan. “Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỷ vinh quang với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỷ trung đại”.

Càng về cuối thời trung đại, trong các thế kỷ XIVIII, XIX, Huế và sông Hương càng có mặt nhiều hơn trong các sự kiện lịch sử “long trời lở đất” và tiếp tục truyền thống ấy qua Cách mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. “Thế kỷ mười tám, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ mười chín với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển”.

Đến thời hiện đại, Huế và sông Hương đã có những hi sinh, mất mát đầy cống hiến cho lịch sử cách mạng dân tộc. Đến đay, dường như sông Hương tạm lùi vào hậu trường để Huế hiện ra trên tiền cảnh. Nhà văn trầm tư trên sự kiện lịch sử - cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1968, khi toàn miền Nam từ Quảng Trị đến Nam Bộ, trong đó có Huế, đồng loạt nổi dậy đánh Mĩ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đó cho thấy sức mạnh của cách mạng, làm suy yếu kẻ thù, buộc chúng phải điều chỉnh chiến lược cả trên chiến trường và trên bàn Hội nghị Pa-ri. Nhưng mặt khác, trong cuộc chiến đấu ấy, Huế cũng chịu nhiều tổn thất: “Cùng với niềm cổ vũ nồng nhiệt dành cho nó trong mùa xuân Mậu Thân, Huế đã nhận được những lời chia buồn sâu sắc nhất của thế giới về sự tàn phá mà đế quốc Mĩ đã chụp lên những di sản văn hóa của nó”. Sự đánh giá tổn thất, hi sinh mà Huế gánh chiu được nhìn từ cả hai phía. Chính người Mĩ đã lên án sức phá hoại tàn bạo đối với Huế do các trận bom của Mĩ. Nhưng thật xúc động là hình ảnh người Đại tướng “đầu cúi xuống ngực, hai bàn tay chắp lại trong cử chỉ kính cẩn của người già mắt ngấn lệ” khi nói đến “cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc” của thành phố Huế. Không có chữ nào nói về mất mát, hi sinh nhứng “ngấn lệ” trong mắt “người già” đã nói lên tất cả.

Sông Hương, dòng sông của những sự kiện lịch sử hào hùng và dòng sông của cuộc sống hàng ngày. “Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Tại sao đang suy ngẫm về lịch sử, tác giả lại chuyển đột ngột sang hình ảnh sắc áo cưới của Huế rất xưa mà các cô dâu vẫn mặc? Có thể đoán rằng, nhà văn muốn nói đến sự sống hiền hòa, dịu dàng vẫn là mạch sống chính của xứ Huế, của dòng sông Hương, khuôn mặt thực hiền hòa của dòng sông đôi khi ẩn giấu trong màn sương.

Sông Hương là suối nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca, nhạc họa. Mỗi nhà nghệ sĩ đều có khám phá riêng về dòng sông, hay như cách nói của tác giả muốn nhấn mạnh tính chủ động của con sông như một sinh thể “dòng sông ấy không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”. Từ Nguyễn Du với Truyện Kiều bất hủ, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, đến thi ca cách mạng. Thi ca cùng với kiến trúc, âm nhạc, hội họa góp phần làm cho không gian văn hóa sông Hương thêm phong phú, giàu bản sắc.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

Như đã nói, bài bút ký thuộc thể loại tùy bút. Nhà văn đã kết hợp phong cách khảo cứu với sự thể hiện kiến thức sách vở uyên bác; bộc lộ sự lịch lãm, từng trải với vốn sống phong phú, sâu sắc; khả năng phân tích, bình luận thực tế, sắc sảo và một trái tim giàu tình cảm, giàu tình yêu thương con người và quê hương đất nước. Thiên tùy bút như một tác phẩm mẫu mực viết về thắng cảnh quê hương đất nước. dòng sông như một sinh thể sống động. Dòng sông tạo nên cả một không gian văn hóa. Dòng sông qua lịch sử lâu đời, có những trang bi hùng song trong trường kỳ lịch sử, nó đẹp và thân thương như một người con gái. Những điểm nhìn đa chiều giúp người đọc yêu dòng sông hơn, tự hào về quê hương, đất nước hơn.

Trong thiên tùy bút, tác giả chuyển đổi giọng điệu khá linh hoạt. Khi là lối kể tự sự, khi lại là sự tưởng tượng bay bổng với những hình ảnh bất ngờ. Chẳng hạn, ngay trong một đoạn văn, ta cũng thấy sự thay đổi này: “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”.

Có khi là cả một đoạn văn chính luận khô khan sau đó là những cử chỉ im lặng đầy xúc động như đoạn văn viết về cuộc Tổng tiến công Mậu Thân.

Sự xen kẽ giữa tả, kể về sông Hương với sự vận dụng kiến thức sách vở và kiến thức cuộc sống cũng là một nhân tố tọa nên chất tùy bút đặc sắc. Tác giả đã có dịp đi qua nhiều dòng sông lớn trên thế giới như sông Xen, sông Đa-nuýp, sông Nê-va, đó là vốn sống; tác giả thuộc Truyện Kiều, thơ Cao Bá Quát, Tản Đà, dẫn cả tư tưởng biện chứng của Hê-ra-clit,… đó là học vấn. Tác giả có quan điểm riêng về nghệ thuật Huế: “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát. Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”, đó là sự lịch lãm, tinh tế trong trải nghiệm và quan sát. Nhìn chung, tùy bút cho phép tác giả bộ lộ toàn diện các phẩm chất trí tuệ và cảm xúc của mình.

0
phiếu
0đáp án
428 lượt xem

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

(Trích)

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Nguyễn Tuân (1919 –1987) sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn. Quê ông ở làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Ông có một vị trí quan trọng và đóng góp không nhỏ đổi với văn học Việt Nam hiện đại

Người lái đò Sông Đà là bài tùy bút được in trong tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân, xuất bản lần đầu năm 1960. Thiên tùy bút này thể hiện rõ nét đặc sắc của phong cách Nguyễn Tuân. Việc lựa chọn đề tài viết về Sông Đà thời điểm đó cũng là một bản lĩnh, vì hồi ấy từ Quynh Nhai sang Than Uyên chưa có đường sá thuận lợi. Nhà văn phải xin một con ngựa và một dân quân, đi theo đường mòn đến ba ngày không gặp người đi ngược.

2. Về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân

a) Đề tài

Nguyễn Tuân thường chọn những đề tài độc đáo, khác thường, ít được đề cập tới trong văn học sáng tác trước ông. Sông Đà cùng với vùng núi rừng hùng vĩ miền Tây Bắc nước ta và con người nơi đây đã gợi cảm hứng đặc biệt cho nhà văn trong những chuyến đi khoảng 1958-1960. Mở đầu thiên bút kí, nhà văn cho biết: “Tôi cũng tự nhận thấy mình là một người đang tìm vàng ở quanh Sông Đà, đi tìm cái thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc, và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa tươi vui và vững bền”.

b) Cảm hứng nghệ thuật

Nguyễn Tuân viết trong thiên bút ký: “Con Sông Đà thật dữ thật lớn và lớn hơn nữa là những người lao động chở đò kéo đò thắng cái thiên nhiên không bình thường của một con sông Tây Bắc hiểm trở”. Người lái đò là nhân vật trung tâm của bút ký. Về phong cách, Nguyễn Tuân có thiên hướng chọn những đối tượng phi thường, tìm cái đẹp trong cái phi thường, khác thường. Gợi cảm hứng đặc biệt cho Nguyễn Tuân ở các đối tượng miêu tả đặc biệt này là tính chất đỉnh cao của chúng. Những mẫu người được nhà văn ca ngợi thường là các nghệ sĩ bậc thầy, các quán quân kỷ lục đỉnh cao trong lĩnh vực sống và hoạt động riêng của họ. Ví dụ, trong chuyện lái thuyền vượt thác trên sông thì người lái đò sông Đà đạt được tài nghệ của bậc quán quân, các nghệ sĩ bậc thầy tưởng như không một ai cáo thể điêu luyện, tài ba hơn họ được.      Trong phần tùy bút trước đoạn trích, Nguyễn Tuân kể vè thân thế của người lái đò: “Trên dòng Sông Đà, ông xuôi ông ngược hơn một trăm lần, chính tay giữ lái độ sáu chục lần cho những chuyến thuyền then đuôi én sáu chèo… Sông Đà, đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những cái chấm than chấm câu và những đoạn xuống dòng”. Người lái đò này đã quen thuộc với hiểm nguy của ghềnh thác đến nỗi “cũng như người Mèo (người Mông) kêu mỏi chân khi giẫm lên đồng bằng thiếu dốc thiếu đèo, ông bảo rằng: “Chạy thuyền trên khúc sông không có thác, nó dễ dại tay dại chân và buồn ngủ”. Một sự giới thiệu rất hấp dẫn, rất gợi về chân dung người lái đò Sông Đà.

c) Nghệ thuật diễn tả

Nguyễn Tuân cũng là nghệ sĩ bậc thầy tỏng thể tùy bút, một thể loại văn học mà ông chọn lựa cho cả đời viết văn của mình. Nếu tùy bút là kí sự, là thể loại có tính chất ghi chép bao gồm cả tư liệu khảo sát, nghiên cứu về đối tượng thì các bút kí trong Sông Đà của ông là quán quân, đỉnh cao trong sự phong phú, bề bộn, ngổn ngang của tư liệu. Nếu tùy bút cho phép sự tự do trong các liên tưởng, so sánh, trong cái nhìn đa diện, nhiều chiều, cái nhìn có tính chất khảo cứu tỉ mỉ về đối tượng, cho phép những chân trời rộng mở nhất của sáng tạo từ ngữ mới, cách diedatj mới lạ, không lặp lại thì quả Nguyễn Tuân là bậc thầy có một không hai của lối văn tùy bút. Nguyễn Tuân đã dựng cho mình một lâu đài tùy bút đặc sắc và là chúa tể của tòa lâu đài đó.

II-    PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

Như tên gọi của thiên tùy bút đã ghi rõ, nhân vật chính của tác phẩm này là người lái đò Sông Đà. Nguyễn Tuân tận dụng thế mạnh của thể văn tùy bút mà ông tạo ra để giới thiệu người lái đò – nghệ sĩ bậc thầy, quán quân đỉnh cao trong nghề chèo lái, vượt thác ghềnh. Đồng thời, ông cũng chứng tỏ tài nghệ tùy bút bậc thầy của mình khi đặc tả tài nghệ của người lái đò. Nhưng để cảm nhận được tài nghệ tuyệt vời của Người lái đò Sông Đà thì phải đặt nghề chèo lái này vào một hiện thực Sông Đà dữ dội, nghiệt ngã tưởng như cũng độc nhất vô nhị trên đời.

a) Sông Đà, một thách đố cho các nghệ sĩ lái đò

Chở đò dọc trên Sông Đà là một nghề như dành riêng cho những ai có bản lĩnh, có ý chí, có tài năng. Đừng hy vọng tìm sự thanh thản, yên ổn trên dòng sông, nơi người lái đò hàng ngày phải đương đầu với những “cuộc thủy chiến”, tại “mặt trận Sông Đà”, nơi thác nước và đá luôn luôn phối hợp với nhau để tiêu diệt những con thuyền thiếu tay lái bản lĩnh, tài ba.

Nguyễn Tuân đặc tả, cực tả sự dữ dội, hiểm ác của Sông Đà bằng một tổng thể các thủ pháp nghệ thuật khác nhau. Nhà văn quan sát dòng sông từ nhiều góc độ khác nhau. Ông đi dọc Sông Đà, tận mắt quan sát những đoạn thác ghềnh nguy hiểm nhất, ông đã bay lên trên máy bay ngang quãng Sông Đà nhìn xuống và cũng muốn “đưa ống quay phim lên tàu bay “để” phản ánh lên cái dữ tợn và cái lớn của Sông, của thác Sông Đà”; có những cảnh ông dựng lại theo lời kể của người lái đò. Không phải nhà văn không nhìn thấy vẻ thơ mộng của con sông này, chính ông viết đây là con sông “hung bạo và trữ tình”, nhưng ông vẫn nhấn mạnhnhiều hơn đến khía cạnh “hung bạo” của nó. Đây là thủ pháp đối lập trong văn học. Để cảm nhận hết tầm vóc “nghệ sĩ” của người lái đò Sông Đà dũng cảm, cần thấy được sự dữ dội của dòng sông. Đối thủ càng cao cường thì chiến thắng càng vẻ vang.

Để tác động mạnh vào trí tưởng tượng của người đọc, Nguyễn Tuân vận dụng thủ pháp nghe và nhìn, đặc biệt là nhìn và quan sát. Tiếng gầm réo của thác nước Sông Đà rất đa dạng, tùy theo mỗi khúc sông. Nghe tiếng gầm réo này, ta có cảm tưởng như đây là một con người với đủ cung bậc sắc thái của tình cảm. “Tiếng nước thác nghe như oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”. Có lúc, con sông gầm thét, cuồng nộ “như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cũng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Một sự liên tưởng bất ngờ mà hợp lý: thử tưởng tượng khi có ngàn con trâu mộng đang bị bỏng giữa rừng tre nứa cháy nổ lốp đốp thì sức mạnh phá hoại, sự hung tợn của chúng đến mức đáng sợ như thế nào.

Quan sát Sông Đà từ nhiều góc độ khác nhau là một nét đặc biệt của bút pháp Nguyễn Tuân. Nhà văn công phu tìm được một điểm nhìn thật độc đáo và bất ngờ. Ví dụ: Ông tả “cái hút nước” ở quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La. Những cái hút nước “giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”. Thật đáng sợ vì cả những bè gỗ rừng cũng bị cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống, nói gì đến những con thuyền mong manh bé nhỏ sơ ý. Để truyền lại cảm giác lạ lùng sợ hãi cho bạn đọc, nhà văn tưởng tượng một nhà văn quay phim ngồi dưới đáy giếng hướng máy quay phim ngược lên miệng giếng – cái hút nước đó mà quay cảnh cả khối nước trong như pha lê đang ập xuống người quay phim.

Con Sông Đà về mùa xuân có những nét trữ tình, gợi cảm. “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Tuy vậy, đối với người lái đò, không thể nói nhiều đến sự mơ mộng, trữ tình. Sông Đà hung dữ, nguy hiểm hơn một chú ngựa bất kham nhiều lần. Người lái đò Sông Đà đã khuất phục được thác dữ bằng tài nghệ siêu việt của mình. Thác vách đá bày “thạch trận” trên sông. “Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyên đơn độc không còn biết lùi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn”. Nhà văn cũng cực tả cuộc chiến đấu giáp lá cà giữa con sông và người lái đò.

b) Cuộc chiến đấu hàng ngày của Người lái đò Sông Đà

Nguyễn Tuân viết: “Cuộc sống của Người lái đò Sông Đà quả là một cuộc chiến đấu hằng ngày với thiên nhiên, một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một”. Chính vì thế, ông viết Sông Đà.

Tính chất dữ dội, bạo liệt của Sông Đà là do sự phối hợp giữa những thác nước cheo leo hiểm trở và các tảng đá ngầm đá nổi tạo thành. Cuộc chiến đấu của người lái đò trước hết và chủ yếu là phá được “binh pháp của thần sông thần đá”, thực chất là nắm vững quy luật cấu tạo và vận hành của luồng thạch, thác đá.

Trận chiến đấu của thác nước và đá (mà tác giả gọi là thạch trận) được miêu tả trong thiên tùy bút này giống như một trận chiến được bài trí rất công phu, hiểm độc. “Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền”. Để vượt qua ba vòng vây này, đòi hỏi sự bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt và cả khả năng chịu trận. Có những lúc sóng tung cao, đánh mạnh vào hạ bộ người lái đò khiến ông nảy đom đóm mắt . (Tham khảo thêm để hiểu rõ phong cách tùy bút của Nguyễn Tuân: chi tiết Người lái đò Sông Đà phải để truồng khi lái đò cũng là một phát hiện kỳ thú của Nguyễn Tuân, nhưng không được đưa vào đoạn trích. Chi tiết có phần dung tục, đầy hài hước nhưng sự thật này có vai trò thay đổi không khí căng thẳng của câu chuyện kể về các thác nước: “Những chị Mường Phù Yên gần bờ Sông Đà thường phàn nàn về người lái đò Lai Châu hay cởi truồng. Người lái đò Sông Đà hay mặc áo mà không mặc quần. Có khi muốn đóng khố nhưng cũng không đóng được. Cát Sông Đà rất hay ăn da người chở đò. Hễ mặc quần hoặc đóng khố là cát chui ngay vào bẹn rồi loét da”). Nhưng sự bình tĩnh, tỉnh táo, phong độ của người lái đò đã giúp anh vượt qua bốn cửa tử để đến một cửa sinh của thạch trận ở vòng vây thứ nhất.

Ở các vòng vây thứ hai và thứ ba, thế trận của thác và đá ở mỗi vòng vây đều có nét riêng, không gặp lại. Ví dụ như cửa sinh ở vòng vây thứ nhất nằm lập lờ phái tả ngạn sông thì cửa sinh ở vòng vây thứ hai lại nằm ở phía hữu ngạn sông, đến chặng thứ ba, cả hai bên tả, hữu ngạn sông đều là cửa tử và cửa sinh lại nằm ở chính giữa sông. Tựa hồ như dòng sông cũng như một kẻ xảo quyệt, thâm hiểm, đặt bẫy tiêu diệt người lái đò, hay nói bằng ngôn ngữ của tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, bày thế trận nhử quân địch vào để tiêu diệt. Nếu thuyền lao đúng vào cửa sinh thì người lái đò chiến thắng và ngược lại thì sự thất bại đó có thể trả bằng sinh mạng. Người lái đò “có tự do, vì người lái đò ấy đã năm được cái quy luật tất yếu của dòng nước Sông Đà”, người lái đò luôn chiến thắng. Và cũng giống như các nghệ sĩ chân chính, các quán quân vô địch, các tài nghệ bậc thầy, người lái đò không xem nghề chở đò Sông Đà của mình là việc làm phi phàm. Với họ, đây là công việc hàng ngày. Sau chặng đường vượt thác ghềnh, đến quãng sông nước thanh bình, những nghệ sĩ lái đò ấy chỉ nói về những chuyện cuộc sống hàng ngày. “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang cá mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi cá túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi. Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với Sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái khác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp đáng nhớ”. Sự thanh thản sau những thử thách sống còn cũng là một khía cạnh nghệ sĩ, quán quân của người lái đò. Nếu ta liên tưởng đến bài thơ Tây Tiến, thấy ngay là thủ pháp tương phản cũng được tác giả bút ký sử dụng thành công. “Thế là hết thác. Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam, toàn bàn tán về cá anh vũ cá đầm xanh…”.

c) Sông Đà “trữ tình

Sông Đà cũng có lúc thơ mộng, êm đềm. Sau mùa nước lũ, cái mùa mà nước sông đục ngầu sẽ đến mùa xuân, dòng sông xanh màu ngọc bích quý phái chứ không xanh “màu xanh canh hến” của sông Gâm, sông Lô. Bằng thực tế quan sát, nhà văn cực lực bác bỏ tên gọi của người Pháp áp đặt cho Sông Đà là “dòng sông Đen”. Với nhà văn, dù thế nào đi nữa, dù sông Đà dễ thay đổi tính nết, dòng sông này vẫn luôn luôn “gợi cảm”, là cố nhân đối với ông.

Những trang viết về vẻ đẹp nguyên sơ, cổ kính của Sông Đà thuộc loại những trang viết tài hoa nhất, đậm chất thơ nhất trong bài tùy bút: “Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lý đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

Thể tùy bút cho phép một sự tự do rộng rãi nhất trong việc bao quát tư liệu và tự do độc thoại của tác giả. Trong phạm vi tư liệu, Nguyễn Tuân có lúc vì trung thành với nguyên tắc “đỉnh cao” của ông mà không ngần ngại đi tới cùng kiệt của lối văn tư liệu khảo cứu điều tra, đến nỗi có cảm tưởng là thiên tùy bút này, không có một nhà văn nào có thể tìm tòi được tư liệu nào hơn ông khi khảo về Sông Đà. Nhưng cũng chính vì vậy mà nhiều lúc đọc ông, người đọc có cảm tưởng “sốt ruột” vì tư liệu bề bộn.

Thể tùy bút cũng cho nhà văn một sự tự do vô bờ trong suy ngẫm, liên tưởng, so sánh. Nhà văn đã huy động một kho tri thức phong phú với vốn học vấn uyên bác, một vốn sống đa dạng, một khả năng quan sát tinh nhạy, một trí tưởng tượng phóng túng trong việc dựng nên một thế giới nghệ thuật về sông Đà kỳ vĩ, hoành tráng.

Đọc Người lái đò Sông Đà cũng như các thiên tùy bút khác của Nguyễn Tuân, dễ có cảm giác bất ngờ: bất ngờ trước một cách tả cảm giác rất độc đáo: tưởng tượng một người quay phim cầm máy quay bị hút xuống “cái nút” của Sông Đà, ngồi dưới đáy quay ngược lên như cảm giác người xem “lấy gân” ghì chặt lấy ghế; bất ngờ trước một sự so sánh (ví dụ về chuyện có quãng Sông Đà vách đá chẹt lòng sông như một cái yết hầu “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy minh như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”); bất ngờ trước sự liên tưởng (để nói về sự vắng lặng của những đoạn Sông Đà ban đêm, ông “thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp – lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái – Lai Châu”. Chú ý: đến nay vẫn chưa có tuyến đường sắt ấy); bất ngờ trước lối tạo từ mới đặc sắc và là sở trường của nhà văn (Ví dụ: Thạch trận, màu xanh canh hến, bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử, màu nắng tháng ba Đường thi,…).Đặc sắc của tùy bút Nguyễn Tuân còn tiếp tục được nghiên cứu, phân tích, nhưng có thể khẳng định rằng nhà văn đã tạo dựng được phong cách riêng đặc sắc, độc đáo của mình trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.

Ngôn ngữ tùy bút của Nguyễn Tuân đầy sáng tạo, một trong những nhân tố đem lại sự hấp dẫn cho người đọc.

Đọc Người lái đò Sông Đà, chúng ta thêm yêu đất nước tươi đẹp hùng vĩ ngàn đời của ta, chúng ta thêm hiểu những kỳ tích lao động sáng tạo của nhân dân ta. Ta không thể không nói lời biết ơn Nguyễn Tuân đã giúp ta nuôi dưỡng được tình cảm tốt đẹp đó.

0
phiếu
0đáp án
844 lượt xem

THÔNG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẾ GIỚI

PHÒNG CHỐNG AIDS, 1-12-2003

 

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Một vài thông tin về căn bệnh HIV/AIDS

Để hiểu được văn bản này, cần có một số hiểu biết tối thiểu về căn bệnh được coi là căn bệnh thế kỷ này.

AIDS là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Acquired Immune Deficelency Syndrome”, nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phỉa, trong tiếng Pháp, thuật ngữ tương đương là SIDA, viết tắt “Syndrom de L’immunodéficience Acquise”. Thông thường, cơ thể chúng ta có khả năng miễn dịch và tự đề kháng chống lại nhiều bệnh tật, nhưng khi mắc phải bệnh này, cơ thể mất sức đề kháng, dẫn đến tử vong nhanh. Tác nhân gây ra bệnh là loại vi-rút gây suy giảm hệ miễn dịch trong cơ thể. Các đường lây lan chính của HIV là con đường sinh hoạt tình dục không an toàn, dùng chung bơm kim tiêm với người sử dụng ma túy tiêm vào đường tĩnh mạch, đường lây lan từ mẹ truyền sang con nếu mẹ bị bệnh.

Người ta gọi nhiễm HIV là chỉ chung tất cả những ai đã mạng HIV trong cơ thể. Khi người nhiễm HIV đã ở mức độ trầm trọng, suy giảm miễn dịch cơ thể ở mức xét nghiệm máu có số Lympho bào T4< 200/mm3  hoặc sức khỏe bị sa sút với nhiều chứng bệnh nguy hiểm. Từ lúc nhiễm HIV đến lúc bị AIDS có thể trải qua một thời gian và khi đến giai đoạn AIDS thì rất nguy hiểm đến tính mạng.

Hiện nay, chưa có cách nào đối phó hữu hiệu khi đã nhiễm bệnh. Cách tốt nhất là đề phòng đừng để bị nhiễm bệnh.

Theo báo cáo của Chương trình thống nhất của Liên hợp quốc về HIV/AIDS tháng 12 năm 2006, tổng số người chung sống với HIV trên thế giới là 39,5 triệu; số người nhiễm HIV trong năm 2006 là 4,3 triệu; số người chết vì AIDS năm 2006 là 2,9 triệu (TNT dẫn theo Wikipeda, bản tiếng Nga).

2. HIV/AIDS là căn bệnh thế kỷ của toàn thế giới

Do quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, căn bệnh này không cô lập ở riêng quốc gia nào mà lây lan khắp thế giới. Thực tế đòi hỏi nỗ lực chung của cộng đồng nhân loại thống nhất sức mạnh để chống lại căn bệnh thế kỷ này,

Vấn dề HIV/AIDS đòi hỏi thế giới phải thay đổi nhiều quan niệm cũ, nhưng không đặt vấn đề đạo đức của quan hệ tình dục mà là đặt vấn đề quan hệ tình dục an toàn; không kỳ thị và phân biệt đối xử với người bị HIV/AIDS…

 

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Phân tích theo kết cấu

Bức thông điệp gồm ba phần chính:

-     Phần thứ nhất (từ đầu đến “quá ít so với yêu cầu thực tế”): nhắc lại sự nhất trí về mục tiêu, thời hạn mà Đại hộ đồng Liên hợp quốc đã thông qua năm 2001 và đến ngày hôm nay lại cam kết và các nguồn lực đã tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng với yêu cầu thực tế.

-     Phần thứ hai (tiếp theo đến “về chính trị và hành động thực tế của mình”): Nêu đối sánh một bên là những nỗ lực tăng lên và một bên là sự hoành hành dữ dội không có dấu hiệu suy giảm của căn bệnh HIV/AIDS. Từ đó, chỉ ra cần nỗ lực hơn nữa.

-     Phần thứ ba (phần còn lại): Chỉ ra việc cần công khai lên tiếng về HIV/AIDS, không im lặng, không phân biệt đối xử với người bị nhiễm bệnh, kêu gọi mọi người trên toàn thế giới sát cánh trong cuộc chiến chung chống lại căn bệnh HIV/AIDS.

2.   Phân tích theo nội dung

-     Đánh giá về đại dịch HIV/AIDS và những thành tựu cũng như hạn chế của nhân loại trong việc đối phó với nạ dịch này.

-     Là một bức thông ddiepj, văn bản cần hết sức ngắn gọn và chính xác, trong phần thứ hai của thông điệp, tác giả ghi nhận những nỗ lực của thế giới về phương diện là thành lập Quỹ toàn cầu về phòng chống HIV/AIDS. Không những ở tầm quốc gia, quốc tế mà ở tầm các công ti, các tổ chức từ thiện (các tổ chức phi chính phủ như ta quen gọi) đang hoạt động tích cực cùng các tổ chức chính phủ và quốc tế ứng phó với đại dịch này.

-     Phần quan trọng của bản thông điệp là nêu những thông tin ngắn gọn nhưng thẳng thắn, không quanh co về nguy cơ to lớn của căn bệnh này: HIV/AIDS vẫn hoành hành, gây tử vong ở tỉ lệ cao trên thế giới và rất ít dấu hiệu suy giảm. Những con số thống kê đầy ấn tượng cho một cái nhìn toàn cảnh về căn bệnh này:

+  Về thời gian: “Mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi, có khoảng 10 người bị nhiễm HIV”.

+  Về không gian: “Ở những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất, tuổi thọ của người dân bị giảm sút nghiêm trọng”, “và “Bệnh dịch này đang lan rộng nhanh nhất ở chính những khu vực mà trước đây hầu như vẫn còn an toàn – đặc biệt là Đông Âu và toàn bộ khu vực Châu Á – từ dãy U-ran đến Thái Bình Dương”.

+  Về giới tính của người bị nhiễm bệnh: “HIV/AIDS đang lây lan với tốc độ báo động ở phụ nữ. Giờ đây, phụ nữ đã chiếm tới một nửa trong tổng số người nhiễm trên toàn thế giới”.

-     Phân tích nguyên nhân, tác giả chỉ rõ:

          “Chúng ta đã không hoàn thành được một số mục tiêu đề ra cho năm nay theo Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS”.

          “Nhưng điều quan trọng hơn là chúng ta đã bị chậm trong việc giảm quy mô và tác động của địch so với chỉ tiêu đã đề ra cho năm 2005. Lẽ ra chúng ta phải giảm được 1/4 số thanh niên bị nhiễm HIV ở các nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất; lẽ ra chúng ta phải giảm được một nửa tỉ lệ trẻ sơ sinh bị nhiễm; lẽ ra chugns ta phải triển khai các chương trình chăm sóc toàn diện ở khắp mọi nơi”. Một laotj các khả năng đã không thành hiện thực đẻ phải đánh giá “Với tiến độ như hiện nay, chúng ta sẽ không đạt được bất cứ mục tiêu nào vào năm 2005”.

-     Những nhiệm vụ đòi hỏi nhân loại phải nỗ lực hơn nữa:

Sau khi đánh giá có tính chất phê phán, bản thông điệp khẳng định nhân loại cần nỗ lực hơn nữa “bằng những nguồn nhân lực và hành động cần thiết”. Theo tác giả, “Chúng ta phải đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mình”. Nhận định này hoàn toàn có cơ sở vì như chúng ta đã thấy những con số dẫn ở trên đây, cứ mỗi phút trôi qua, có khoảng 10 người bị nhiễm HIV, và năm 2006 số người chết vì AIDS lên tới 2,9 triệu người.

          Căn bệnh AIDS đã trở thành một sự thật hiển nhiên mà sự từ chối, lảng tránh đều trở nên vô nghĩa; và thái độ đối với người nhiễm bệnh cũng cần thay đổi. “Chúng ta phải công khai lên tiếng về AIDS. Dè dặt, từ chối đối mặt với sự thật không mấy dễ chịu này, hoặc vội vàng phán xét đồng loại của mình, chúng ta sẽ không đạt được tiến độ hoàn thành các mục tiêu đề ra, thậm chí chúng ta còn bị châm hơn nữa, nếu ự kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn tiếp tục diễn ra đối với người bị HIV/AIDS”. Đây là cách nhìn hoàn toàn mới, rất tích cực và hiện thực về người nhiễm căn bệnh thế kỷ. Ngay ở Việt Nam, chúng ta cũng chưa hẳn là đã từ bỏ cách nhìn cũ, phân biệt đối xử với họ. Tác giả kêu gọi: “Hãy đừng để một ai có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các bức rào ngăn cách giữa “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết.

          Như vậy, có hai ý tưởng chính của bức thông điệp, đó là: kêu gọi lên tiếng tức không né tránh, nói về căn bệnh thế kỷ, “lên tiếng thật to và dõng dạc về HIV/AIDS”; và từ bỏ sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm bệnh. Hai yêu cầu thật giản dị nhưng là để chiến thắng sức ỳ tâm lý của nhân loại.

3.   Đặc điểm về nghệ thuật

          Bản thông điệp là một văn kiện có tầm quốc tế, bàn về một vấn đề cấp thiết đang đặt ra trước toàn nhân loại. Có thể xem đây là một mẫu mực về lối văn nghị luận.

Kết cấu bản thông điệp rất rõ ràng, chặt chẽ. Các phần của bài viết không dài dòng, quanh co, chung chung mà đi thẳng vào vấn đề trọng tâm cần nói. Liên hệ về ý nghĩa các phần rất chặt chẽ.

Cách trình bày tư tuonwgr từ ngôi thứ nhất số nhiều (chúng ta) cũng là một nét nghệ thuật tinh tế: tất cả chúng ta đang sống trong thời đại có đại dịch HIV/AIDS, chúng ta cần sát cánh để thực hiện các nỗ lực... Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều này đặt tất cả người nghe vào vị trí của người tham gia, người trong cuộc chứ không phải là người quan sát thờ ơ bên ngoài.

          Người viết bản thông điệp biết cách thể hiện cảm xúc của mình khi chuyển ngôi từ “chúng ta” sang “tôi”: “tôi kêu gọi”, “Hãy cùng tôi đánh đổ các thành lũy của sự im lặng, kỳ thị và phân biệt đối xử đang vây quanh bệnh dịch này”, “Hãy sát cánh cùng chúng tôi”,… những lời kêu gọi xuất phát từ “tôi” chứ không phải chúng ta thể hiện cảm xúc và trách nhiệm của tác giả, trên cương vị Tổng thư ký Liên hợp quốc.

12345...14Trang sau 153050mỗi trang
209

bài tập

Chat chit và chém gió
  • emily: Về quê tình cảm thân thương dạt dào. 8/24/2017 7:34:08 PM
  • cos^2(T): hồi hương = về quê 8/24/2017 7:34:14 PM
  • emily: Thương nhau tình nghĩa đòng bào 8/24/2017 7:34:25 PM
  • cos^2(T): địa cầu = trái đất 8/24/2017 7:34:37 PM
  • emily: Người cùng một bọc lẽ nào ghét nhau. 8/24/2017 7:34:45 PM
  • cos^2(T): à chỗ nào ý nhờ ... 8/24/2017 7:34:51 PM
  • emily: thay đỏi vị trí ạ? 8/24/2017 7:35:03 PM
  • cos^2(T): đồng bào = cùng ( một ) bọc 8/24/2017 7:35:10 PM
  • emily: thinking 8/24/2017 7:35:20 PM
  • cos^2(T): yawn cj bt làm văn , nhưng dễ buồn ngủ 8/24/2017 7:35:29 PM
  • emily: big_grin 8/24/2017 7:35:37 PM
  • cos^2(T): tiếp , cj vt nốt cho 8/24/2017 7:35:38 PM
  • emily: ok 8/24/2017 7:35:49 PM
  • cos^2(T): xoh ! 8/24/2017 7:38:52 PM
  • emily: e ra r 8/24/2017 7:53:23 PM
  • nhih: hi mina 8/28/2017 4:10:52 AM
  • emily: . 8/28/2017 6:13:03 AM
  • Nắng: Hương 8/28/2017 6:20:26 AM
  • Nắng: e hok nhanh nhỉ 8/28/2017 6:20:29 AM
  • emily: sao e nhanh ạ? 8/28/2017 6:21:00 AM
  • emily: đây ms lớp 7 8/28/2017 6:21:08 AM
  • Nắng: ơ năm nay e lp 8 mà nhỉ 8/28/2017 6:21:21 AM
  • Nắng: s hok lp 7 ... ôn lại à 8/28/2017 6:21:28 AM
  • emily: vâng ạ 8/28/2017 6:22:14 AM
  • emily: e đg hk hè mà 8/28/2017 6:22:19 AM
  • Nắng: ừ , cj bt r 8/28/2017 6:22:30 AM
  • emily: cj xem đề chưa ạ? 8/28/2017 6:22:48 AM
  • Nắng: rồi 8/28/2017 6:23:01 AM
  • emily: cj có thể làm đc k ạ? 8/28/2017 6:23:34 AM
  • Nắng: được 8/28/2017 6:23:41 AM
  • Nắng: có lẽ thế ... 8/28/2017 6:23:44 AM
  • emily: cj hk giỏi nhỉ 8/28/2017 6:24:17 AM
  • Nắng: cj mà làm dài qá 8/28/2017 6:24:20 AM
  • Nắng: thì đừng trách cj nhé 8/28/2017 6:24:24 AM
  • emily: dài càng tôt mà 8/28/2017 6:24:34 AM
  • Nắng: ok 8/28/2017 6:24:37 AM
  • emily: happy 8/28/2017 6:24:41 AM
  • emily: cj đang làm hả? 8/28/2017 6:25:31 AM
  • Nắng:8/28/2017 6:26:05 AM
  • emily: wow 8/28/2017 6:26:25 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:29 AM
  • emily: not_worthy 8/28/2017 6:26:33 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:36 AM
  • Nắng: miễn lễ 8/28/2017 6:26:38 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:41 AM
  • emily: hihihi 8/28/2017 6:26:46 AM
  • emily: hee_hee 8/28/2017 6:26:50 AM
  • emily: đa tạ 8/28/2017 6:26:57 AM
  • emily: hee_hee 8/28/2017 6:27:03 AM
  • emily: cj xong chưa cj/ 8/28/2017 6:30:48 AM
  • Nắng: no_talking 8/28/2017 6:30:57 AM
  • emily: cj sao vậy ạ? 8/28/2017 6:31:51 AM
  • emily: sad 8/28/2017 6:32:03 AM
  • emily: cj ơi 8/28/2017 6:32:48 AM
  • Nắng: ơi 8/28/2017 6:33:02 AM
  • emily: cj ik đâu? 8/28/2017 6:34:03 AM
  • emily: hay cj nêu ý chính cg đc 8/28/2017 6:34:14 AM
  • Nắng: https://hoc24.vn/hoi-dap/question/120798.html 8/28/2017 6:47:38 AM
  • Nắng: vào đi , ko cần đăng kí cx đọc đk 8/28/2017 6:47:49 AM
  • emily: vâng 8/28/2017 6:48:21 AM
  • emily: thanks 8/28/2017 6:48:22 AM
  • Nắng: kcj 8/28/2017 6:48:29 AM
  • Phù thủy nhỏ: hi mn 9/16/2017 8:56:16 AM
  • Phương Thảo: vỏ sò khóa là gì? 9/25/2017 8:53:52 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:00:56 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:01:00 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:01:48 AM
  • carolina26072005: happy 11/28/2017 8:24:30 PM
  • carolina26072005: hello 11/28/2017 8:24:39 PM
  • kocotendst2k3: 2222 12/4/2017 9:14:23 PM
  • kocotendst2k3: Cho e hỏi chi tiết nào đã thể hiện sâu sắc, cảm động tình cha con của ông 6 vs bé thu ạ 12/4/2017 9:16:06 PM
  • hieuchutien: chich nhau ko 12/5/2017 5:48:55 AM
  • hieuchutien: cai dit nhau 12/5/2017 5:49:15 AM
  • hieuchutien: cut 12/5/2017 5:49:17 AM
  • hieuchutien: cc 12/5/2017 5:49:18 AM
  • ๖ۣۜGemღ: Mọi người có thắc mắc hay cần hỗ trợ gì thì gửi tại đây nhé https://goo.gl/dCdkAc 12/6/2017 8:53:59 PM
  • letu200122: @@ 12/12/2017 11:12:14 PM
  • letu200122: alo 12/12/2017 11:12:42 PM
  • свинья: rolling_on_the_floorrolling_on_the_floor 12/30/2017 8:58:02 PM
  • lanho: hi 1/10/2018 8:51:32 PM
  • dumamiconvan: sao A 2/26/2018 8:09:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:30 PM
  • Rushia : .. 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:34 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:34 PM
  • ๖ۣۜBossღ: x 3/2/2018 9:19:09 PM
  • ๖ۣۜBossღ: h 3/4/2018 7:11:57 PM
  • ngocanhwang: em chào mọi người ạ 3/18/2018 6:07:38 PM
  • caochanhkhai1111: hello 4/5/2018 10:21:43 PM
  • dungvong2006: helo 4/9/2018 9:04:06 PM
  • dungvong2006: em Ng Hồng Ngọc có đây k nhỉ 4/9/2018 9:05:38 PM
  • Nguyễn Nhung: angel 4/9/2018 9:09:49 PM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010