Vợ nhặt (Kim Lân )

0
phiếu
0đáp án
952 lượt xem

VỢ NHẶT

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Kim Lân (1920 – 2007) tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình nghèo khó, ông chỉ được học hết bậc Tiểu học rồi phỉa vừa đi làm thợ kiếm sống vừa viết văn.

Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc tỏ ra rất am hiểu về nông thôn và người nông dân.

Vợ nhặt được viết sau Cách mạng tháng Tám, là một chương viết lại của truyện Xóm ngụ cư. Nạn đói mà tác phẩm miêu tả là nạn đói lớn nhất của dân tộc ta trong thế kỷ XX xảy ra vào đầu năm 1945 do Nhật – Pháp gây ra. Đã có đến hơn 2 treeiuj người bị chết trong nạn đói này. Những nhân vật và chuyện đói đều được gợi ý từ thực tế mà nhà văn quan sát và có hư cấu thêm. Theo lời nhà văn Kim Lân, “khi viết về cái đói, thường mọi người có ý nghĩ là khi đói người ta cực khổ và chỉ muốn chết. Tôi định viết một số truyện ngắn nhưng ý khác là khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người. Lúc đói người ta phải kiếm sống, thậm chí nhặt rác rưởi, nhặt ốc, nhặt chuột, ăn uống một cách thê thảm nhưng đến tối họ vẫn có một gia đình, gia đình nào về gia đình ấy, vẫn hi vọng một điều gì. Họ vẫn trò chuyện về đồng áng, giỗ chạp, những chuyện hướng về một cái gì là sự sống, đói nhưng không làm cho người ta đen tối, mất hi vọng dù phải cướp cám mà ăn”.

2. Kim Lân nói về tác phẩm Vợ nhặt

Cũng thoe lời Kim Lân nói về Vợ nhặt, “nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cảnh chết. Bóng tối của nó phủ xuống mọi làng. Trong hoàn cảnh ấy giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo chỉ nhờ mấy bát bánh đúc ngoài chợ - đúng là nhặt được vợ như tôi nói trong truyện”.

Về mĩ học của truyện, cần chú ý đến sự kết hợp giữa cái bi và cái hài như là một nhân tố giúp cho câu chuyện về cái đói giảm bớt chất bi thảm, căng thẳng. Đúng như tác giả nói, dù sao con người vẫn có hy vọng vào tương lai.

Về kỹ thuật kể chuyện trong Vợ nhặt, Kim Lân đã từng nói: “Nhân vật do hoàn cảnh của câu chuyện mà nảy ra những tâm tư, hành động, cách xử sự mà tôi không thể định trước”. Đây là tác phẩm, gióng như nhiều tác phẩm văn xuôi hiện đại khác, sử dụng lối kể chuyện hiện đại theo đó, tác giả không định trước tính cách, tâm lý, hành động của nhân vật. Các phương diện của tính cách bộc lộ dần dần theo diễn biến truyện. Cần chú ý phân tích nghệ thuật kể chuyện này.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Phân tích theo nhân vật

          Đúng theo lời tác giả, qua thiên truyện này, một mặt nhà văn muốn ghi lại để tố cáo tội ác Nhật – Pháp gây ra cho đồng bào ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, mặt khác ông gửi gắm một chủ nghĩa nhân đạo lạc quan: giữa đói khổ, người nông dân vẫn khao khát cuộc sống hạnh phúc đời thường, vẫn hy vọng, tin tưởng vào ngày mai tươi sáng. Chủ đề này thể hiện qua ba nhân vật: Tràng, người “vợ nhặt” vô danh và bà cụ Tứ- mẹ Tràng.

          Khung cảnh nền của câu chuyện là nạn đói kinh hoàng bao phủ vùng quê, tập trung ở xóm ngụ cư. “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Các nhân vật sẽ được tác giả xem xét trong khung cảnh hiện thực, “Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy”.

a) Nhân vật Tràng

-     Tràng có địa vị thấp kém ngay cả ở một vùng quê nghèo vì anh là dân ngụ cư. Vì là dân ngụ cư nên gia đình anh không có ruộng đất, hàng ngày phải đi làm thuê.

-     Ngoại hình nhân vật Tràng xấu xí, thô kệch, có vẻ dữ tợn nhưng thực ra hiền lành. “Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ gì vừa lí thú vừa dữ tợn”. Song cách anh phản ứng lại chuyện bọn trẻ con trêu đùa, quấy quả anh lại cho thấy anh hiền lành, củ mỉ cù mì: “Trẻ con trong xóm, cứ thấy cái thân hình to lớn, vập vạp của hắn từ dốc chợ đi xuống là ùa cả ra vây lấy hắn, reo cười váng lên […]. Đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi. Trang chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch. Cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy cứ mỗi chiều lại xôn xao lên một lúc”. Nét tính cách này được nhấn mạnh rõ ràng có ý nghĩa chuẩn bị cho sự việc anh cưu mang người phụ nữ mà anh sẽ “nhặt” về làm vợ.

-     Tràng bị ế vì thân phận ngụ cư hèn kém, nghèo khổ (anh làm nghề kéo xe chở thóc thuê), vì thế, việc Tràng “nhặt” được vợ ngoài đường vẫn làm cho anh thấy bâng khuâng mãi. Tuy vậy, việc Tràng quyết định “nhặt” người phụ nữ làm vợ có hai nguyên do: (1) Tràng sống cô đơn, không hề biết đến tình cảm của người phụ nữ, anh sống như một thân cây khô héo, rất dễ xúc động trước tình cảm này; (2) Tràng có một tấm lòng nhân hậu, giàu lòng bao dung nên sẵn sàng cưu mang một người phụ nữ xa lạ khi người đó hầu như ở vào cảnh đói rét thê thảm. Hia lần quen nhau tưởng như tầm phào song đã lý giải cho hai nguyên nhân đó. Lần thứ nhất, Tràng đẩy xe bò và thị “lon ton chạy lại đẩy xe cho Tràng… Thị liếc mắt, cười tít. Tràng thích lắm. Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế”. Một nét nhân bản quan trọng của tác phẩm hé mở: ẩn bên trong mỗi con người, dù có nghèo khó, cơ cực đến mấy, vẫn là tình yêu, khát vọng sống có hạnh phúc lứa đôi. Đói nghèo không thể làm thui chột tình yêu của con người. Lần thứ hai gặp lại, Tràng không nhận ra thị vì không ngờ thị “xuống mã” nhanh đến thế: “Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Chắc hẳn Tràng động lòng thương nên anh đã “đãi” con ma đói khát đó một chầu bánh đúc, vì đối với thị lúc đó, ăn đang là tiếng thét mãnh liệt nhất của bản năng: “Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả: ăn thật nhá! ừ ăn thì ăn sợ gì! Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp ba bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Nhiều sáng tác trước Cách mạng tháng Tám của Nam Cao cũng thường xuyên đề cập đến cái đói quay quắt như một sức mạnh bản năng làm biến dạng nhân cách con người (Đòn chồng, Trẻ con không được ăn thịt chó,…). Giữa hai người không hề có tình yêu, sợi dây gắn bó họ với nhau là cái đói. Đó là tình cảnh trớ trêu của câu chuyện “nhặt vợ”.

-     Sự khao khát một tình yêu, tình vợ chồng cộng với lòng trắc ẩn thương người đã khiến Tràng quyết định trước khi có suy nghĩ kĩ: “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Nói thế Tràng cũng tưởng là nói đùa, ai ngờ thị về thật. Mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Sau không biết nghĩ thế nào hắn tặc lưỡi một cái: Chậc, kệ!”. Những người lao động ít nói như Tràng thường có quyết định nhanh chóng, ít phân vân, do dự.

-     Hai mảnh đời cư cực đến với nhau thật đơn giản, khiến những ai giàu lòng trắc ẩn cũng buồn đến nao lòng. Họ lấy nhau giữa lúc cảnh chết đói đang lởn vởn đe dọa không chừa một ai. Cảnh “rước dâu” thật bi thảm, giữa một không gian tăm tối, đầy tử khí: “Ngã tư xóm chợ về chiều càng xác xơ, heo hút. Từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp xúp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Tiếng quạ kêu như tiếng gọi của thần chết, như tiếng những oan hồn đói khát đang vẩn vơ đâu đây (có thể liên tưởng so sánh với tiếng quạ kêu kết thúc truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn). Lộ trình của cuộc rước dâu đi qua những cảnh ghê rợn như vậy đấy.

          Nhưng bất chấp hiện thực vô cùng nghiệt ngã, những cảm xúc mới lạ, lâng lâng vẫn xâm chiếm tâm hồn Tràng, không những làm cho anh đẹp hơn, tốt lên mà còn như tỏa chút ánh sáng ấm áp vào xóm ngụ cư tăm tối: “Giữa cảnh tối sầm vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Mặt hắn có vẻ gì đó phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Tràng thích ý khi hai người đi qua xóm ngụ cư dân chúng đứng trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. “Hình như họ cũng hiểu được đôi phần. Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ”. Đó là cái nhìn từ phía những người dân trong xóm ngụ cư. Còn Tràng? Hắn đắc ý khi thấy “thị” ngượng nghịu, lúng túng, “mặt hắn cứ vênh lên tự đắc với mình” (tự đắc vì nhặt được vợ? vì đã cưu mang một người khốn khổ? Tự đắc với chung quanh vì mình cũng có vợ như ai?)

(Tham khảo thêm đoạn văn bị lược đi trong đoạn trích Vợ nhặt của Ngữ văn lớp 12 để hiểu rõ hơn tâm trạng của Tràng mà tác giả dụng công miêu tả: Hành trình đón dâu của Tràng đã đến lối lẽ vào một con đường nhỏ, vắng vẻ, khi không còn nhiều con mắt dòm ngó, đã thoải mái, Tràng còn “định nói với thị một vài câu rõ tình tứ mà chẳng biết nói thế nào”. Tràng, một gã ngụ cư thất học thì làm sao nói nổi một lời văn hoa. Nhà văn Kim Lân tỏ ra có biệt tài về miêu tả tâm lý nhân vật. Ông nhìn thấy chính lúc Tràng muốn nói vài câu tình tứ ấy là lúc trong lòng y trào dâng một cảm xúc nhân bản sâu sắc: “Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng”. Với cảm xúc lâng lâng, lạ kỳ ấy, cuối cùng anh phu kéo xe chở thóc cục mịch cũng tìm được câu “tình tứ” nhất mà anh ta có thể nghĩ ra được nhân cớ mua hai hào dầu. Nhà văn trân trọng ghi lại những câu đối thoại quê mùa ấy vì đó là những giây phút thăng hoa của tình yêu giữa hai con người khốn khổ: “Câu chuyện xem chừng đã thân thân. Hắn đi sát bên thị hơn, ngẫm nghĩ một lúc, chợt hắn giơ cái chai con vẫn cầm lăm lăm một bên tay lên khoe: - Dầu tối nay thắp đây này. – Sang nhỉ. – Khá thôi. Hai hào đấy, đắt quá, cơ mà chả cần. – Hoang nó vừa vừa chứ. Hắn chặc lưỡi: - Vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chả nhẽ chưa tối đã rúc vào ngay, hì hì… - Khỉ gió. Thị phát đánh đét vào lưng hắn, khoặm mặt lại. Hắn thích chí ngửa cổ cười khanh khách”.

-     Sự việc cứ phát triển theo logic nội tại của nó: Mặc dù nạn đói và cái chết đang rình rập xung quanh, sự gắn bó giữa hai con người khốn khổ vẫn đem lịa cho Tràng một niềm lạc quan, yêu đời. Đêm tân hôn của họ diễn ra trong không gian đầy mùi tử khí “mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”. Toàn truyện luôn luôn có sự đối lập giữa cái đói, cái chết và tình yêu, khát vọng sống của con người để rồi ca ngợi chiến thắng của tình yêu và cuộc sống.

Nhưng sáng hôm sau, tỉnh dậy, Tràng thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Tình yêu vợ chồng đã thay đổi cái nhìn cuộc sống nhân vật, có chút gì gợi lại sự chuyển biến cảm xúc, tâm trọng của Chí Phéo sau khi yêu Thị Nở. Tình yêu nhân đạo hóa con người. Hắn thấy mẹ và vợ hắn đang dọn dẹp nhà cửa, cổng ngõ, một cảnh tượng bình dị mà đời hắn chưa được chứng kiến: “Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.

          Trong tâm hồn Tràng có bao nhiêu cảm xúc cao đẹp, đáng trân trọng. Nhưng nếu không có người vợ thì có lẽ chẳng bao giờ trong anh nảy nở những cảm xúc ấy. Và nếu không có nạn đói kém kinh hoàng thì chắc gì anh – một kẻ nghèo khó, xấu xí, thô kệch – lại “nhặt” không được một người vợ! Với Tràng, đúng là hạnh phúc chỉ đến trong đau khổ. Sự sống chẳng bao giờ chán nản.

b)   Nhân vật người “vợ nhặt”

          Nhân vật người Vợ nhặt có vai trò bổ sung cho hình tượng người chồng là Tràng dẫu cho “thị” luôn đóng vai trò thụ động (theo quan niệm trong xã hội có ảnh hưởng Nho giáo thời xưa, chuyện hôn nhân hay tình yêu thường do nam giới chủ động).

          Sở dĩ tác giả không đặt tên cho người phụ nữ này, có thể là vì chị ta lúc đó, ở vào hoàn cảnh đó đã hành động giống như hàng trăm ngàn người phụ nữ khác. Một người phụ nữ vô danh, không có gì nổi bật, đáng chú ý. Thoạt đầu chị ta đến với Tràng không vì tình yêu. Cái đói quay quắt thôi thúc chị ta phải bấu víu vào một ai đó, một người đàn ông nào đó khả dĩ cứu chị ta khỏi chết đói. Và cách tiếp cận, cách bấu víu chung nhất của chị ta là chỏng lỏn, cong cớn, sưng sỉa, liều lĩnh, mặt dày. Đây là nét tính cách đã hình thành trong môi trường bươn chải, kiếm sống gian nan của chị ta. Đó là một cuộc hôn nhân không định trước, nạn đói, chứ không phải tình yêu, đã mai mối cho hai con người khốn khổ đến với nhau, để nương tựa vào nhau, chống chọi lại cơn bão đói. Bà cụ Tứ, mẹ Tràng nghĩ rất đúng: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được”. Một phụ nữ không có gì hấp dẫn về thể hình cũng như tính nết, nhưng vẫn có thể thổi vào tâm hồn Tràng một ngọn gió yêu đời, lạc quan như vậy. Anh cu Tràng khốn khổ khao khát sống có tình yêu và hạnh phúc gia đình biết bao.

Tính cách người “vợ nhặt” cũng có thay đổi: Trước tấm lòng nhân hậu của Tràng và bà cụ Tứ, chị ta đã tìm lại được phẩm chất phụ nữ chưa bị dập tắt hẳn. Vẫn là quy luật tình yêu nhân đạo hóa con người. Sau khi tiếp xúc với mẹ chồng, sau những cử chỉ yêu thương của Tràng, qua đêm tân hôn hạnh phúc, chị ta đã có thay đổi: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh. Không biết có phải vì làm dâu mà thị tu chí làm ăn không?”. Nếu không phải đổi khác vì tình yêu thì chí ít là vì tình người. Những con người khốn khổ ấy cần cho nhau, có thể mang lại hạnh phúc cho nhau, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn thử thách.

c)     Nhân vật bà cụ Tứ

          Để hình tượng bà mẹ Tràng xuất hiện là cách tác giả đưa thêm một điểm nhìn mới đói với việc Tràng lấy vợ. Bà cụ mau chóng hiểu ra chuyện con mình nhặt được vợ thì nghẹn ngào thương hai con. Với sự từng trải, với sự hiểu biết và với lòng yêu thương con, cụ nhìn thấy trong việc con lấy vợ một cái gì đó thật đáng thương, thật ai oán. Đơn giản nhất là bà lo không biết chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không.

          Cụ thương con trai vì nhà nghèo hèn nên chỉ có thể lấy vợ trong lúc đói kém, khó khăn. Cụ lo cho chúng nó sẽ lặp lại cuộc đợi cực khổ dài dằng dặc của vợ chồng cụ trước đây. Và người mẹ không cầm được nước mắt vì nghĩ đến mâm cơm đạm bạc thê thảm của ngày đói sẽ là bữa tiệc cưới mừng hai đứa thành gia thất.

Nhưng vẫn với một tấm lòng trải đời, tấm lòng nhiều xót thương day dứt ấy bà cụ Tứ vẫn dành cho con một sự chăm sóc thật cảm động. Trong bữa cơm, cụ bàn chuyện tương lai: “Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này: - Tràng ạ, khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho xem”. Có lẽ đó là ước mơ thầm kí của cụ về việc sinh sôi nảy nở trong căn nhà của mình. Hình ảnh đàn gà đông đúc có thể gợi liên tưởng đến lũ cháu chắt đông vui của cụ trong tương lai. Và cũng không chỉ bàn hay suy nghĩ, bà cụ còn ‘xăm xăm thu dọn, quét tước nhà cửa. Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”.

          Nhờ có hình tượng bà cụ Tứ mà câu chuyện “nhặt vợ” của Tràng được soi chiếu từ một góc độ mới, làm bật lên các âm hưởng khác nhau: đau buồn và hứng khởi, bi quan và lạc quan, lãng mạn và đời thường. Những cung bậc cảm xúc đa dạng đan xen nhau, thay đổi nhanh chóng trong thời gian trước và sau đêm tân hôn.

          Chuyện anh cu Tràng nhặt vợ là chuyện buồn vui xen kẽ. Liệu cuộc đời vợ chồng Tràng có tái diễn lại cuộc đời của bố mẹ anh không? Câu trả lời dường như bỏ ngỏ, nhưng hình ảnh “những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp” và lá cờ đỏ bay phấp phới kết thúc câu chuyện lại dự báo một tương lai lạc quan hơn. Cách mạng về, cuộc sống mở ra thoe một chiều hướng mới. Những thân phận khốn khổ sẽ tìm thấy lối thoát cho cuộc đời mình ở cách mạng.

2.     Đặc điểm về nghệ thuật

          Như Kim Lân đã tâm sự, khi viết Vợ nhặt, ông không định trước tâm tư, hành động, cách ứng xử của nhân vật. Điều đó có nghĩa là tính cách nhân vật và diễn biến của câu chuyện dần dần bộc lộ trong tiến trình câu chuyện. Tác giả tôn trọng tính khách quan, tính hiện thực của nhân vật. Truyện được kể theo cách không báo trước mà người đọc cũng không thể dự đoán trước mọi diễn biến. Tình huống truyện dần dần hiện ra. Sự bất ngờ gây hứng thú cho người đọc. Một buổi chiều, giữa lúc nạn đói kinh hoàng như một cơn gió độc lan đến xóm ngụ cư, dân xóm bỗng thấy Tràng dẫn một người đàn bà lạ về nhà. Người đói là ai, có quan hệ gì với Tràng, quan hệ đó đi đến đâu, ứng xử của người trong xóm, người trong gia đình Tràng sẽ như thế nào? Những câu hỏi ấy lần lượt được đặt ra và tác giả để cho nhân vật tự dẫn dắt tiến  trình truyện. Đây là điều khác biệt về cách kể chuyện của văn xuôi thời trung đại. Trong văn xuôi thời trung đại, người kể chuyện tỏ ra biết hết, biết trước mọi chuyện và câu chuyện được kể ra như để minh họa cho điều đã biết trước đó. Mở đầu Chuyện người con gái Nam Xương (trích Truyền kỳ mạn lục), Nguyễn Dữ viết: “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thật hòa” (Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2007). Tác giả đã cho biết trước Vũ thị xinh đẹp, nết na, chàng Trương đem trăm lạng bạc cưới về” nhưng có tính hay ghen. Đặc điểm này báo trước bi kịch do lòng ghen thái quá của Trương sẽ gây ra cho Vũ thị.

          Sự kết hợp, đan xen chất bi và chất hài như hai pham trù mĩ học đối lập nhau cũng là một nét đáng chú ý của truyện. Phần đầu truyện, có những cảnh hàm chứa chất hài hước đối lập với sự xám xịt, tăm tối của cảnh chiều tàn trong xóm ngụ cư “tối sầm lại vì đói khát ấy”. Tràng về nhà với một người đàn bà, vừa đi vừa “tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Trẻ con trêu Tràng và người phụ nữa lạ kia với câu nói lái “chông vợ hài”. Tràng nhớ lại cảnh hai người quen nhau với những hoạt cảnh hài hước. Giữa cảnh đói khát đến cơm chẳng có mà ăn, Tràng hò “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này! – Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!”. Rồi thị “cong cớn” nói, chạy “lon ton” lại đẩy xe cho anh. Lần sau, Tràng vỗ túi đựng tiền nói “Rích bố cu” (“rất giàu” hay có thể hiểu nôm nay là “khối tiền đây”). Câu nói bằng tiếng Pháp “bồi”, tức tiếng Pháp nói không chuẩn của người không được học chính quy, bài bản trong tình huống ấy thật hài hước, làm duyên dáng thêm cho cuộc giao duyên vốn rất tầm thường chỉ dừng lại ở “chủ đề ăn uống”. Mấy gã đẩy xe bò mà cũng nói tiếng Pháp cơ đấy! Rồi liệu có được mấy hào trong túi tiền mà khoe khoang? Dẫu sao thì cử chỉ và câu nói đùa của Tràng đã mở đường tiến tới khá táo bạo cho người phụ nữ đói khát với hai con mắt trũng hoáy “sáng lên”… Chất hài giúp cho câu chuyện bớt căng thẳng nặng nề, niềm vui sống vẫn ẩn chứa đâu đây dẫu cho đói khát và cái chết đong lởn vởn quanh họ.

          Điểm nhìn trần thuật cũng là điều cần nhấn mạnh khi viết về nghệ thuật kể chuyện của tác giả. Sự đa dạng, nhiều chiều của điểm nhìn nghệ thuật đã được Kim Lân vận dụng để kể chuyện: khi kể bằng ngôn ngữ tác giả, khi kể bằng ngôn ngữ bình luận của dân xóm ngụ cư, kể cả của trẻ con “chông vợ hài”, khi từ điểm nhìn của Tràng, khi từ điểm nhìn của bà cụ Tứ với ngôn ngữ, tâm trạng riêng của người mẹ từng trải, rất thương con, vừa mừng vừa lo trước cảnh hai đứa con về ở với nhau. Chẳng hạn, những  c âu nói trao đổi qua lại của người dân xóm ngụ cư thắc mắc về người đàn bà lạ theo sau Tràng đã thay thế cho lời dẫn dắt của tác giả - nếu chỉ thuần ngôn ngữ kể của tác giả câu chuyện sẽ đơn điệu, đồng thời tạo ra không gian cho diễn biến câu chuyện. Xung quanh hai người có nhiều người chứng kiến câu chuyện của họ, bình luận về họ, với nỗi niềm vui buồn xen kẽ. Do đó câu chuyện khá phong phú sắc thái thẩm mĩ: trẻ con chỉ nhìn thấy sự hài hước, dân xóm ngụ cư có sự cảm thông, bà mẹ thấy bi thảm, thương xót, Tràng thấy hứng khởi, có thể đùa tếu. Câu chuyện có nhiều đoạn đối thoại giữa các nhân vật làm thay đổi mạch truyện kể.

 

0
phiếu
0đáp án
589 lượt xem

VỢ NHẶT

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Kim Lân (1920 – 2007) tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình nghèo khó, ông chỉ được học hết bậc Tiểu học rồi phỉa vừa đi làm thợ kiếm sống vừa viết văn.

Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc tỏ ra rất am hiểu về nông thôn và người nông dân.

Vợ nhặt được viết sau Cách mạng tháng Tám, là một chương viết lại của truyện Xóm ngụ cư. Nạn đói mà tác phẩm miêu tả là nạn đói lớn nhất của dân tộc ta trong thế kỷ XX xảy ra vào đầu năm 1945 do Nhật – Pháp gây ra. Đã có đến hơn 2 treeiuj người bị chết trong nạn đói này. Những nhân vật và chuyện đói đều được gợi ý từ thực tế mà nhà văn quan sát và có hư cấu thêm. Theo lời nhà văn Kim Lân, “khi viết về cái đói, thường mọi người có ý nghĩ là khi đói người ta cực khổ và chỉ muốn chết. Tôi định viết một số truyện ngắn nhưng ý khác là khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người. Lúc đói người ta phải kiếm sống, thậm chí nhặt rác rưởi, nhặt ốc, nhặt chuột, ăn uống một cách thê thảm nhưng đến tối họ vẫn có một gia đình, gia đình nào về gia đình ấy, vẫn hi vọng một điều gì. Họ vẫn trò chuyện về đồng áng, giỗ chạp, những chuyện hướng về một cái gì là sự sống, đói nhưng không làm cho người ta đen tối, mất hi vọng dù phải cướp cám mà ăn”.

2. Kim Lân nói về tác phẩm Vợ nhặt

Cũng thoe lời Kim Lân nói về Vợ nhặt, “nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cảnh chết. Bóng tối của nó phủ xuống mọi làng. Trong hoàn cảnh ấy giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo chỉ nhờ mấy bát bánh đúc ngoài chợ - đúng là nhặt được vợ như tôi nói trong truyện”.

Về mĩ học của truyện, cần chú ý đến sự kết hợp giữa cái bi và cái hài như là một nhân tố giúp cho câu chuyện về cái đói giảm bớt chất bi thảm, căng thẳng. Đúng như tác giả nói, dù sao con người vẫn có hy vọng vào tương lai.

Về kỹ thuật kể chuyện trong Vợ nhặt, Kim Lân đã từng nói: “Nhân vật do hoàn cảnh của câu chuyện mà nảy ra những tâm tư, hành động, cách xử sự mà tôi không thể định trước”. Đây là tác phẩm, gióng như nhiều tác phẩm văn xuôi hiện đại khác, sử dụng lối kể chuyện hiện đại theo đó, tác giả không định trước tính cách, tâm lý, hành động của nhân vật. Các phương diện của tính cách bộc lộ dần dần theo diễn biến truyện. Cần chú ý phân tích nghệ thuật kể chuyện này.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Phân tích theo nhân vật

          Đúng theo lời tác giả, qua thiên truyện này, một mặt nhà văn muốn ghi lại để tố cáo tội ác Nhật – Pháp gây ra cho đồng bào ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, mặt khác ông gửi gắm một chủ nghĩa nhân đạo lạc quan: giữa đói khổ, người nông dân vẫn khao khát cuộc sống hạnh phúc đời thường, vẫn hy vọng, tin tưởng vào ngày mai tươi sáng. Chủ đề này thể hiện qua ba nhân vật: Tràng, người “vợ nhặt” vô danh và bà cụ Tứ- mẹ Tràng.

          Khung cảnh nền của câu chuyện là nạn đói kinh hoàng bao phủ vùng quê, tập trung ở xóm ngụ cư. “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Các nhân vật sẽ được tác giả xem xét trong khung cảnh hiện thực, “Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy”.

a) Nhân vật Tràng

-     Tràng có địa vị thấp kém ngay cả ở một vùng quê nghèo vì anh là dân ngụ cư. Vì là dân ngụ cư nên gia đình anh không có ruộng đất, hàng ngày phải đi làm thuê.

-     Ngoại hình nhân vật Tràng xấu xí, thô kệch, có vẻ dữ tợn nhưng thực ra hiền lành. “Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ gì vừa lí thú vừa dữ tợn”. Song cách anh phản ứng lại chuyện bọn trẻ con trêu đùa, quấy quả anh lại cho thấy anh hiền lành, củ mỉ cù mì: “Trẻ con trong xóm, cứ thấy cái thân hình to lớn, vập vạp của hắn từ dốc chợ đi xuống là ùa cả ra vây lấy hắn, reo cười váng lên […]. Đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi. Trang chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch. Cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy cứ mỗi chiều lại xôn xao lên một lúc”. Nét tính cách này được nhấn mạnh rõ ràng có ý nghĩa chuẩn bị cho sự việc anh cưu mang người phụ nữ mà anh sẽ “nhặt” về làm vợ.

-     Tràng bị ế vì thân phận ngụ cư hèn kém, nghèo khổ (anh làm nghề kéo xe chở thóc thuê), vì thế, việc Tràng “nhặt” được vợ ngoài đường vẫn làm cho anh thấy bâng khuâng mãi. Tuy vậy, việc Tràng quyết định “nhặt” người phụ nữ làm vợ có hai nguyên do: (1) Tràng sống cô đơn, không hề biết đến tình cảm của người phụ nữ, anh sống như một thân cây khô héo, rất dễ xúc động trước tình cảm này; (2) Tràng có một tấm lòng nhân hậu, giàu lòng bao dung nên sẵn sàng cưu mang một người phụ nữ xa lạ khi người đó hầu như ở vào cảnh đói rét thê thảm. Hia lần quen nhau tưởng như tầm phào song đã lý giải cho hai nguyên nhân đó. Lần thứ nhất, Tràng đẩy xe bò và thị “lon ton chạy lại đẩy xe cho Tràng… Thị liếc mắt, cười tít. Tràng thích lắm. Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế”. Một nét nhân bản quan trọng của tác phẩm hé mở: ẩn bên trong mỗi con người, dù có nghèo khó, cơ cực đến mấy, vẫn là tình yêu, khát vọng sống có hạnh phúc lứa đôi. Đói nghèo không thể làm thui chột tình yêu của con người. Lần thứ hai gặp lại, Tràng không nhận ra thị vì không ngờ thị “xuống mã” nhanh đến thế: “Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Chắc hẳn Tràng động lòng thương nên anh đã “đãi” con ma đói khát đó một chầu bánh đúc, vì đối với thị lúc đó, ăn đang là tiếng thét mãnh liệt nhất của bản năng: “Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả: ăn thật nhá! ừ ăn thì ăn sợ gì! Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp ba bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Nhiều sáng tác trước Cách mạng tháng Tám của Nam Cao cũng thường xuyên đề cập đến cái đói quay quắt như một sức mạnh bản năng làm biến dạng nhân cách con người (Đòn chồng, Trẻ con không được ăn thịt chó,…). Giữa hai người không hề có tình yêu, sợi dây gắn bó họ với nhau là cái đói. Đó là tình cảnh trớ trêu của câu chuyện “nhặt vợ”.

-     Sự khao khát một tình yêu, tình vợ chồng cộng với lòng trắc ẩn thương người đã khiến Tràng quyết định trước khi có suy nghĩ kĩ: “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Nói thế Tràng cũng tưởng là nói đùa, ai ngờ thị về thật. Mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Sau không biết nghĩ thế nào hắn tặc lưỡi một cái: Chậc, kệ!”. Những người lao động ít nói như Tràng thường có quyết định nhanh chóng, ít phân vân, do dự.

-     Hai mảnh đời cư cực đến với nhau thật đơn giản, khiến những ai giàu lòng trắc ẩn cũng buồn đến nao lòng. Họ lấy nhau giữa lúc cảnh chết đói đang lởn vởn đe dọa không chừa một ai. Cảnh “rước dâu” thật bi thảm, giữa một không gian tăm tối, đầy tử khí: “Ngã tư xóm chợ về chiều càng xác xơ, heo hút. Từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp xúp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Tiếng quạ kêu như tiếng gọi của thần chết, như tiếng những oan hồn đói khát đang vẩn vơ đâu đây (có thể liên tưởng so sánh với tiếng quạ kêu kết thúc truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn). Lộ trình của cuộc rước dâu đi qua những cảnh ghê rợn như vậy đấy.

          Nhưng bất chấp hiện thực vô cùng nghiệt ngã, những cảm xúc mới lạ, lâng lâng vẫn xâm chiếm tâm hồn Tràng, không những làm cho anh đẹp hơn, tốt lên mà còn như tỏa chút ánh sáng ấm áp vào xóm ngụ cư tăm tối: “Giữa cảnh tối sầm vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Mặt hắn có vẻ gì đó phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Tràng thích ý khi hai người đi qua xóm ngụ cư dân chúng đứng trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. “Hình như họ cũng hiểu được đôi phần. Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ”. Đó là cái nhìn từ phía những người dân trong xóm ngụ cư. Còn Tràng? Hắn đắc ý khi thấy “thị” ngượng nghịu, lúng túng, “mặt hắn cứ vênh lên tự đắc với mình” (tự đắc vì nhặt được vợ? vì đã cưu mang một người khốn khổ? Tự đắc với chung quanh vì mình cũng có vợ như ai?)

(Tham khảo thêm đoạn văn bị lược đi trong đoạn trích Vợ nhặt của Ngữ văn lớp 12 để hiểu rõ hơn tâm trạng của Tràng mà tác giả dụng công miêu tả: Hành trình đón dâu của Tràng đã đến lối lẽ vào một con đường nhỏ, vắng vẻ, khi không còn nhiều con mắt dòm ngó, đã thoải mái, Tràng còn “định nói với thị một vài câu rõ tình tứ mà chẳng biết nói thế nào”. Tràng, một gã ngụ cư thất học thì làm sao nói nổi một lời văn hoa. Nhà văn Kim Lân tỏ ra có biệt tài về miêu tả tâm lý nhân vật. Ông nhìn thấy chính lúc Tràng muốn nói vài câu tình tứ ấy là lúc trong lòng y trào dâng một cảm xúc nhân bản sâu sắc: “Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng”. Với cảm xúc lâng lâng, lạ kỳ ấy, cuối cùng anh phu kéo xe chở thóc cục mịch cũng tìm được câu “tình tứ” nhất mà anh ta có thể nghĩ ra được nhân cớ mua hai hào dầu. Nhà văn trân trọng ghi lại những câu đối thoại quê mùa ấy vì đó là những giây phút thăng hoa của tình yêu giữa hai con người khốn khổ: “Câu chuyện xem chừng đã thân thân. Hắn đi sát bên thị hơn, ngẫm nghĩ một lúc, chợt hắn giơ cái chai con vẫn cầm lăm lăm một bên tay lên khoe: - Dầu tối nay thắp đây này. – Sang nhỉ. – Khá thôi. Hai hào đấy, đắt quá, cơ mà chả cần. – Hoang nó vừa vừa chứ. Hắn chặc lưỡi: - Vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chả nhẽ chưa tối đã rúc vào ngay, hì hì… - Khỉ gió. Thị phát đánh đét vào lưng hắn, khoặm mặt lại. Hắn thích chí ngửa cổ cười khanh khách”.

-     Sự việc cứ phát triển theo logic nội tại của nó: Mặc dù nạn đói và cái chết đang rình rập xung quanh, sự gắn bó giữa hai con người khốn khổ vẫn đem lịa cho Tràng một niềm lạc quan, yêu đời. Đêm tân hôn của họ diễn ra trong không gian đầy mùi tử khí “mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”. Toàn truyện luôn luôn có sự đối lập giữa cái đói, cái chết và tình yêu, khát vọng sống của con người để rồi ca ngợi chiến thắng của tình yêu và cuộc sống.

Nhưng sáng hôm sau, tỉnh dậy, Tràng thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Tình yêu vợ chồng đã thay đổi cái nhìn cuộc sống nhân vật, có chút gì gợi lại sự chuyển biến cảm xúc, tâm trọng của Chí Phéo sau khi yêu Thị Nở. Tình yêu nhân đạo hóa con người. Hắn thấy mẹ và vợ hắn đang dọn dẹp nhà cửa, cổng ngõ, một cảnh tượng bình dị mà đời hắn chưa được chứng kiến: “Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.

          Trong tâm hồn Tràng có bao nhiêu cảm xúc cao đẹp, đáng trân trọng. Nhưng nếu không có người vợ thì có lẽ chẳng bao giờ trong anh nảy nở những cảm xúc ấy. Và nếu không có nạn đói kém kinh hoàng thì chắc gì anh – một kẻ nghèo khó, xấu xí, thô kệch – lại “nhặt” không được một người vợ! Với Tràng, đúng là hạnh phúc chỉ đến trong đau khổ. Sự sống chẳng bao giờ chán nản.

b)   Nhân vật người “vợ nhặt”

          Nhân vật người Vợ nhặt có vai trò bổ sung cho hình tượng người chồng là Tràng dẫu cho “thị” luôn đóng vai trò thụ động (theo quan niệm trong xã hội có ảnh hưởng Nho giáo thời xưa, chuyện hôn nhân hay tình yêu thường do nam giới chủ động).

          Sở dĩ tác giả không đặt tên cho người phụ nữ này, có thể là vì chị ta lúc đó, ở vào hoàn cảnh đó đã hành động giống như hàng trăm ngàn người phụ nữ khác. Một người phụ nữ vô danh, không có gì nổi bật, đáng chú ý. Thoạt đầu chị ta đến với Tràng không vì tình yêu. Cái đói quay quắt thôi thúc chị ta phải bấu víu vào một ai đó, một người đàn ông nào đó khả dĩ cứu chị ta khỏi chết đói. Và cách tiếp cận, cách bấu víu chung nhất của chị ta là chỏng lỏn, cong cớn, sưng sỉa, liều lĩnh, mặt dày. Đây là nét tính cách đã hình thành trong môi trường bươn chải, kiếm sống gian nan của chị ta. Đó là một cuộc hôn nhân không định trước, nạn đói, chứ không phải tình yêu, đã mai mối cho hai con người khốn khổ đến với nhau, để nương tựa vào nhau, chống chọi lại cơn bão đói. Bà cụ Tứ, mẹ Tràng nghĩ rất đúng: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được”. Một phụ nữ không có gì hấp dẫn về thể hình cũng như tính nết, nhưng vẫn có thể thổi vào tâm hồn Tràng một ngọn gió yêu đời, lạc quan như vậy. Anh cu Tràng khốn khổ khao khát sống có tình yêu và hạnh phúc gia đình biết bao.

Tính cách người “vợ nhặt” cũng có thay đổi: Trước tấm lòng nhân hậu của Tràng và bà cụ Tứ, chị ta đã tìm lại được phẩm chất phụ nữ chưa bị dập tắt hẳn. Vẫn là quy luật tình yêu nhân đạo hóa con người. Sau khi tiếp xúc với mẹ chồng, sau những cử chỉ yêu thương của Tràng, qua đêm tân hôn hạnh phúc, chị ta đã có thay đổi: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh. Không biết có phải vì làm dâu mà thị tu chí làm ăn không?”. Nếu không phải đổi khác vì tình yêu thì chí ít là vì tình người. Những con người khốn khổ ấy cần cho nhau, có thể mang lại hạnh phúc cho nhau, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn thử thách.

c)     Nhân vật bà cụ Tứ

          Để hình tượng bà mẹ Tràng xuất hiện là cách tác giả đưa thêm một điểm nhìn mới đói với việc Tràng lấy vợ. Bà cụ mau chóng hiểu ra chuyện con mình nhặt được vợ thì nghẹn ngào thương hai con. Với sự từng trải, với sự hiểu biết và với lòng yêu thương con, cụ nhìn thấy trong việc con lấy vợ một cái gì đó thật đáng thương, thật ai oán. Đơn giản nhất là bà lo không biết chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không.

          Cụ thương con trai vì nhà nghèo hèn nên chỉ có thể lấy vợ trong lúc đói kém, khó khăn. Cụ lo cho chúng nó sẽ lặp lại cuộc đợi cực khổ dài dằng dặc của vợ chồng cụ trước đây. Và người mẹ không cầm được nước mắt vì nghĩ đến mâm cơm đạm bạc thê thảm của ngày đói sẽ là bữa tiệc cưới mừng hai đứa thành gia thất.

Nhưng vẫn với một tấm lòng trải đời, tấm lòng nhiều xót thương day dứt ấy bà cụ Tứ vẫn dành cho con một sự chăm sóc thật cảm động. Trong bữa cơm, cụ bàn chuyện tương lai: “Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này: - Tràng ạ, khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho xem”. Có lẽ đó là ước mơ thầm kí của cụ về việc sinh sôi nảy nở trong căn nhà của mình. Hình ảnh đàn gà đông đúc có thể gợi liên tưởng đến lũ cháu chắt đông vui của cụ trong tương lai. Và cũng không chỉ bàn hay suy nghĩ, bà cụ còn ‘xăm xăm thu dọn, quét tước nhà cửa. Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”.

          Nhờ có hình tượng bà cụ Tứ mà câu chuyện “nhặt vợ” của Tràng được soi chiếu từ một góc độ mới, làm bật lên các âm hưởng khác nhau: đau buồn và hứng khởi, bi quan và lạc quan, lãng mạn và đời thường. Những cung bậc cảm xúc đa dạng đan xen nhau, thay đổi nhanh chóng trong thời gian trước và sau đêm tân hôn.

          Chuyện anh cu Tràng nhặt vợ là chuyện buồn vui xen kẽ. Liệu cuộc đời vợ chồng Tràng có tái diễn lại cuộc đời của bố mẹ anh không? Câu trả lời dường như bỏ ngỏ, nhưng hình ảnh “những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp” và lá cờ đỏ bay phấp phới kết thúc câu chuyện lại dự báo một tương lai lạc quan hơn. Cách mạng về, cuộc sống mở ra thoe một chiều hướng mới. Những thân phận khốn khổ sẽ tìm thấy lối thoát cho cuộc đời mình ở cách mạng.

2.     Đặc điểm về nghệ thuật

          Như Kim Lân đã tâm sự, khi viết Vợ nhặt, ông không định trước tâm tư, hành động, cách ứng xử của nhân vật. Điều đó có nghĩa là tính cách nhân vật và diễn biến của câu chuyện dần dần bộc lộ trong tiến trình câu chuyện. Tác giả tôn trọng tính khách quan, tính hiện thực của nhân vật. Truyện được kể theo cách không báo trước mà người đọc cũng không thể dự đoán trước mọi diễn biến. Tình huống truyện dần dần hiện ra. Sự bất ngờ gây hứng thú cho người đọc. Một buổi chiều, giữa lúc nạn đói kinh hoàng như một cơn gió độc lan đến xóm ngụ cư, dân xóm bỗng thấy Tràng dẫn một người đàn bà lạ về nhà. Người đói là ai, có quan hệ gì với Tràng, quan hệ đó đi đến đâu, ứng xử của người trong xóm, người trong gia đình Tràng sẽ như thế nào? Những câu hỏi ấy lần lượt được đặt ra và tác giả để cho nhân vật tự dẫn dắt tiến  trình truyện. Đây là điều khác biệt về cách kể chuyện của văn xuôi thời trung đại. Trong văn xuôi thời trung đại, người kể chuyện tỏ ra biết hết, biết trước mọi chuyện và câu chuyện được kể ra như để minh họa cho điều đã biết trước đó. Mở đầu Chuyện người con gái Nam Xương (trích Truyền kỳ mạn lục), Nguyễn Dữ viết: “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thật hòa” (Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2007). Tác giả đã cho biết trước Vũ thị xinh đẹp, nết na, chàng Trương đem trăm lạng bạc cưới về” nhưng có tính hay ghen. Đặc điểm này báo trước bi kịch do lòng ghen thái quá của Trương sẽ gây ra cho Vũ thị.

          Sự kết hợp, đan xen chất bi và chất hài như hai pham trù mĩ học đối lập nhau cũng là một nét đáng chú ý của truyện. Phần đầu truyện, có những cảnh hàm chứa chất hài hước đối lập với sự xám xịt, tăm tối của cảnh chiều tàn trong xóm ngụ cư “tối sầm lại vì đói khát ấy”. Tràng về nhà với một người đàn bà, vừa đi vừa “tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Trẻ con trêu Tràng và người phụ nữa lạ kia với câu nói lái “chông vợ hài”. Tràng nhớ lại cảnh hai người quen nhau với những hoạt cảnh hài hước. Giữa cảnh đói khát đến cơm chẳng có mà ăn, Tràng hò “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này! – Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!”. Rồi thị “cong cớn” nói, chạy “lon ton” lại đẩy xe cho anh. Lần sau, Tràng vỗ túi đựng tiền nói “Rích bố cu” (“rất giàu” hay có thể hiểu nôm nay là “khối tiền đây”). Câu nói bằng tiếng Pháp “bồi”, tức tiếng Pháp nói không chuẩn của người không được học chính quy, bài bản trong tình huống ấy thật hài hước, làm duyên dáng thêm cho cuộc giao duyên vốn rất tầm thường chỉ dừng lại ở “chủ đề ăn uống”. Mấy gã đẩy xe bò mà cũng nói tiếng Pháp cơ đấy! Rồi liệu có được mấy hào trong túi tiền mà khoe khoang? Dẫu sao thì cử chỉ và câu nói đùa của Tràng đã mở đường tiến tới khá táo bạo cho người phụ nữ đói khát với hai con mắt trũng hoáy “sáng lên”… Chất hài giúp cho câu chuyện bớt căng thẳng nặng nề, niềm vui sống vẫn ẩn chứa đâu đây dẫu cho đói khát và cái chết đong lởn vởn quanh họ.

          Điểm nhìn trần thuật cũng là điều cần nhấn mạnh khi viết về nghệ thuật kể chuyện của tác giả. Sự đa dạng, nhiều chiều của điểm nhìn nghệ thuật đã được Kim Lân vận dụng để kể chuyện: khi kể bằng ngôn ngữ tác giả, khi kể bằng ngôn ngữ bình luận của dân xóm ngụ cư, kể cả của trẻ con “chông vợ hài”, khi từ điểm nhìn của Tràng, khi từ điểm nhìn của bà cụ Tứ với ngôn ngữ, tâm trạng riêng của người mẹ từng trải, rất thương con, vừa mừng vừa lo trước cảnh hai đứa con về ở với nhau. Chẳng hạn, những  c âu nói trao đổi qua lại của người dân xóm ngụ cư thắc mắc về người đàn bà lạ theo sau Tràng đã thay thế cho lời dẫn dắt của tác giả - nếu chỉ thuần ngôn ngữ kể của tác giả câu chuyện sẽ đơn điệu, đồng thời tạo ra không gian cho diễn biến câu chuyện. Xung quanh hai người có nhiều người chứng kiến câu chuyện của họ, bình luận về họ, với nỗi niềm vui buồn xen kẽ. Do đó câu chuyện khá phong phú sắc thái thẩm mĩ: trẻ con chỉ nhìn thấy sự hài hước, dân xóm ngụ cư có sự cảm thông, bà mẹ thấy bi thảm, thương xót, Tràng thấy hứng khởi, có thể đùa tếu. Câu chuyện có nhiều đoạn đối thoại giữa các nhân vật làm thay đổi mạch truyện kể.

0
phiếu
1đáp án
3K lượt xem
0
phiếu
1đáp án
6K lượt xem
12Trang sau 153050mỗi trang
23

bài tập

Chat chit và chém gió
  • cos^2(T): tiếp , cj vt nốt cho 8/24/2017 7:35:38 PM
  • emily: ok 8/24/2017 7:35:49 PM
  • cos^2(T): xoh ! 8/24/2017 7:38:52 PM
  • emily: e ra r 8/24/2017 7:53:23 PM
  • nhih: hi mina 8/28/2017 4:10:52 AM
  • emily: . 8/28/2017 6:13:03 AM
  • Nắng: Hương 8/28/2017 6:20:26 AM
  • Nắng: e hok nhanh nhỉ 8/28/2017 6:20:29 AM
  • emily: sao e nhanh ạ? 8/28/2017 6:21:00 AM
  • emily: đây ms lớp 7 8/28/2017 6:21:08 AM
  • Nắng: ơ năm nay e lp 8 mà nhỉ 8/28/2017 6:21:21 AM
  • Nắng: s hok lp 7 ... ôn lại à 8/28/2017 6:21:28 AM
  • emily: vâng ạ 8/28/2017 6:22:14 AM
  • emily: e đg hk hè mà 8/28/2017 6:22:19 AM
  • Nắng: ừ , cj bt r 8/28/2017 6:22:30 AM
  • emily: cj xem đề chưa ạ? 8/28/2017 6:22:48 AM
  • Nắng: rồi 8/28/2017 6:23:01 AM
  • emily: cj có thể làm đc k ạ? 8/28/2017 6:23:34 AM
  • Nắng: được 8/28/2017 6:23:41 AM
  • Nắng: có lẽ thế ... 8/28/2017 6:23:44 AM
  • emily: cj hk giỏi nhỉ 8/28/2017 6:24:17 AM
  • Nắng: cj mà làm dài qá 8/28/2017 6:24:20 AM
  • Nắng: thì đừng trách cj nhé 8/28/2017 6:24:24 AM
  • emily: dài càng tôt mà 8/28/2017 6:24:34 AM
  • Nắng: ok 8/28/2017 6:24:37 AM
  • emily: happy 8/28/2017 6:24:41 AM
  • emily: cj đang làm hả? 8/28/2017 6:25:31 AM
  • Nắng:8/28/2017 6:26:05 AM
  • emily: wow 8/28/2017 6:26:25 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:29 AM
  • emily: not_worthy 8/28/2017 6:26:33 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:36 AM
  • Nắng: miễn lễ 8/28/2017 6:26:38 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:41 AM
  • emily: hihihi 8/28/2017 6:26:46 AM
  • emily: hee_hee 8/28/2017 6:26:50 AM
  • emily: đa tạ 8/28/2017 6:26:57 AM
  • emily: hee_hee 8/28/2017 6:27:03 AM
  • emily: cj xong chưa cj/ 8/28/2017 6:30:48 AM
  • Nắng: no_talking 8/28/2017 6:30:57 AM
  • emily: cj sao vậy ạ? 8/28/2017 6:31:51 AM
  • emily: sad 8/28/2017 6:32:03 AM
  • emily: cj ơi 8/28/2017 6:32:48 AM
  • Nắng: ơi 8/28/2017 6:33:02 AM
  • emily: cj ik đâu? 8/28/2017 6:34:03 AM
  • emily: hay cj nêu ý chính cg đc 8/28/2017 6:34:14 AM
  • Nắng: https://hoc24.vn/hoi-dap/question/120798.html 8/28/2017 6:47:38 AM
  • Nắng: vào đi , ko cần đăng kí cx đọc đk 8/28/2017 6:47:49 AM
  • emily: vâng 8/28/2017 6:48:21 AM
  • emily: thanks 8/28/2017 6:48:22 AM
  • Nắng: kcj 8/28/2017 6:48:29 AM
  • Phù thủy nhỏ: hi mn 9/16/2017 8:56:16 AM
  • Phương Thảo: vỏ sò khóa là gì? 9/25/2017 8:53:52 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:00:56 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:01:00 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:01:48 AM
  • carolina26072005: happy 11/28/2017 8:24:30 PM
  • carolina26072005: hello 11/28/2017 8:24:39 PM
  • kocotendst2k3: 2222 12/4/2017 9:14:23 PM
  • kocotendst2k3: Cho e hỏi chi tiết nào đã thể hiện sâu sắc, cảm động tình cha con của ông 6 vs bé thu ạ 12/4/2017 9:16:06 PM
  • hieuchutien: chich nhau ko 12/5/2017 5:48:55 AM
  • hieuchutien: cai dit nhau 12/5/2017 5:49:15 AM
  • hieuchutien: cut 12/5/2017 5:49:17 AM
  • hieuchutien: cc 12/5/2017 5:49:18 AM
  • ๖ۣۜGemღ: Mọi người có thắc mắc hay cần hỗ trợ gì thì gửi tại đây nhé https://goo.gl/dCdkAc 12/6/2017 8:53:59 PM
  • letu200122: @@ 12/12/2017 11:12:14 PM
  • letu200122: alo 12/12/2017 11:12:42 PM
  • свинья: rolling_on_the_floorrolling_on_the_floor 12/30/2017 8:58:02 PM
  • lanho: hi 1/10/2018 8:51:32 PM
  • dumamiconvan: sao A 2/26/2018 8:09:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:30 PM
  • Rushia : .. 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:34 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:34 PM
  • ๖ۣۜBossღ: x 3/2/2018 9:19:09 PM
  • ๖ۣۜBossღ: h 3/4/2018 7:11:57 PM
  • ngocanhwang: em chào mọi người ạ 3/18/2018 6:07:38 PM
  • caochanhkhai1111: hello 4/5/2018 10:21:43 PM
  • dungvong2006: helo 4/9/2018 9:04:06 PM
  • dungvong2006: em Ng Hồng Ngọc có đây k nhỉ 4/9/2018 9:05:38 PM
  • Nguyễn Nhung: angel 4/9/2018 9:09:49 PM
  • maizabuza: happy 9/26/2018 5:36:49 AM
  • nguyenlena123: big_grin 10/8/2018 10:10:20 PM
  • nguyenlena123: thương vợ của tú xương và chữ người tử tù của nguyễn tuân 10/8/2018 10:10:58 PM
  • nguyenlena123: Bác Dương thôi đã thôi rồi 10/8/2018 10:12:20 PM
  • nguyenlena123: Hãy có một lần nhìn lại bản thân và cách đối xử với nó với cha mẹ 10/8/2018 10:14:14 PM
  • shixamxi2005: r đâu 2/28/2019 1:26:03 PM
  • linhcute555666:9/2/2019 9:58:38 AM
  • linhcute555666: hú hú hú 9/2/2019 9:58:59 AM
  • linhcute555666: ư ư 9/2/2019 9:59:01 AM
  • linhcute555666: hú hú 9/2/2019 9:59:04 AM
  • linhcute555666: :vvv 9/2/2019 9:59:05 AM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely