Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)

0
phiếu
0đáp án
658 lượt xem

RỪNG XÀ NU

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

       Nguyễn Trung Thành tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ông có bút danh khác là Nguyên Ngọc. Nguyễn Trung Thành là bút danh được dùng trong những năm ông hoạt động ở chiến trường miền Nam thời kỳ chống Mĩ cứu nước.

       Truyện ngắn Rừng xà nu công bố lần đầu năm 1965. Khi đó, cách mạng miền Nam đã trải qua thời kỳ đen tối đến lúc Đồng khởi và đang tiếp tục cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai. Theo lời Nguyễn Trung Thành, ông nhớ rất rõ ngày 8-3-1965, mấy vạn lính thủy quân lục chiến Mĩ đổ bộ vào bãi biển Chu Lai. “Đó là những ngày sôi sục, nghiêm trang, nghiêm trọng, lo lắng, quyết liệt, hào hùng: dân tộc ta bước vào cuộc chạm trán một mất một còn trực tiếp với đế quốc Mĩ”.

          Vấn đề đặt ra trong truyện ngắn là vấn đề trung tâm của toàn dân tộc lúc đó: con đường duy nhất lúc đó cầm vũ khí đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong một thế tương quan lực lượng chênh lệch về vũ khí kỹ thuật, đâu là sức mạnh mang lại thắng lợi cho chúng ta? Truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành góp phần tìm ra câu trả lời: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Ý chí quyết đấu là nguồn gốc của sức mạnh. Tác phẩm cũng chỉ ra vẻ đẹp tinh thần của nhân dân Tây Nguyên bất khuất.

          Lúc nhà văn định viết một truyện ngắn về đồng bằng đánh Mĩ nhưng mấy đêm thức ròng ông không sao viết được. Ông chuyển qua viết về miền núi và trong một đêm giữa năm 1965, Rừng xà nu đột ngột đến với tác giả. Mặc dù câu chuyện hư cấu nhưng các nguyên mẫu đều là có thật, nhà văn đã gặp họ ở nơi này nơi khác, lúc này lúc khác. Nguyễn Trung Thành kể là ông đã quen biết ông Núp, ông Mết từ hồi đánh Pháp, khoảng năm 1963 đã gặp anh Đề người Xê-đăng và nghe anh kể, năm 1959 anh Đề đã cùng 10 trai làng dùng dao dựa, giáo, mác giết được một tiểu đội lính Diệm. Cuối năm 1963, trong một hội nghị ở huyện Đắc-lây, Nguyễn Trung Thành đã gặp một cô gái người Ê-đê xinh đẹp, vừa là cán bộ phụ nữ xã, vừa là du kích. Những con người ấy gặp nhau, âm thầm hình thành những nhân vật văn học trong tác giả để khi ông viết, chúng hội tụ về dưới trang văn. Quá trình viết câu chuyện trở nên dễ dàng: “Tất cả, tôi không phải “bịa” thêm gì cả, tôi thấy rõ hết. Mặc dầu tất cả đay hoàn toàn là một câu chuyện bịa mà như thật. Với tôi nó hoàn toàn có thật”.

2. Nguyễn Trung Thành nói về biểu tượng rừng xà nu

       Cây xà nu là cây thông. Văn học trung đại đã viết không ít về cây thông, nhưng đều tập trung khai thác ý nghĩa biểu trưng của cây thông cho phẩm chất của người quân tử. Bởi lẽ cây thông vẫn xanh tươi ngay cả giữa mùa đông lạnh giá trong khi tất cả các loài cây khác đều rụng lá. Đây là thứ cây tượng trưng cho sự kiên cường, bất khuất, không chịu đổi dời bản tính theo ngoại cảnh. Truyện ngắn Rừng xà nu cũng khai thác nghĩa biểu trưng của cây thông nhưng không phải là của một cây thông riêng rẽ mà là của một rừng thông, một “tập thể” thông. Tác phẩm cũng không nhằm vào biểu tượng quân tử ở cây thông mà hướng đến diễn tả sức sống mạnh mẽ, bất diệt của rừng thông như một biểu tượng về sức sống mạnh mẽ, bất diệt của những con người Tây Nguyên bình dị, không một bạo lực nào có thể tiêu diệt nổi. Đây là một nét mới của ý nghĩa biểu trưng của rừng thông mà văn học cách mạng có thể đưa vào kho tàng văn học.

          Nguyễn Trung Thành kể về hồi tháng 5 năm 1962 hành quân từ miền Bắc vào đến khu rừng bát ngát ở phía Tây Thừa Thiên thì gặp cây xà nu. “Tôi say mê cây xà nu từ ngày đó. Ấy là một thứ cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh nhã, vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô tận. Không khí ở đây thơm lừng. Nệm lá dưới mặt đất ngả lưng êm ru”. Vì thế, khi dự định viết về miền núi đánh giặc, Nguyễn Trung Thành đã gặp cây xà nu trong những dòng đầu tiên: “Bắt đầu đến dưới ngòi bút, gần như không hề tính trước, là một rừng xà nu, những cây xà nu… rừng xà nu chợt đến và lập tức tôi biết tôi đã tạo được không khí, đã có không gian ba chiều. Và cũng đã lập tức nhập được vào không khí và không gian ấy”.

          Biểu tượng xà nu đã hình thành từ thực tế quan sát, suy nghĩ nhiều năm của tác giả để trong giây lát có thể xuất hiện, dẫn dắt cho mạch truyện.

I-  PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Đặc điểm nội dung

a) Rừng xà nu, biểu tượng vế sức sống của người dân Tây Nguyên

       Ý nghĩa tượng trưng của rừng xà nu rất dễ quan sát thấy qua việc miêu tả rừng xà nu ở phần mở đầu và phần kết thúc câu chuyện.

       Mở đầu thiên truyện là cuộc chiến đấu thầm lặng mà quyết liệt giữa một bên là rừng xà nu và một bên là đạn pháo của giặc. Một chi tiết được miêu tả không hề ngẫu nhiên và trái lại, được tác giả có dụng ý nhấn mạnh: giặc bắn đại bác ngày hai lần, nhưng “hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn”. Những loạt đạn đại bác là sự thử thách nghiệt ngã đối với rừng xà nu. Hàng vạn cây xà nu bị thương, nhựa ứa ra, đau đớn uất hận như máu nhỏ. “Ở chỗ viết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh ngày hè nắng gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Nhưng nói tới sự tàn phá của đại bác giặc cũng là một cách giới thiệu sức sống bất diệt của cây xà nu.

Đối lập với sự tàn phá của đạn đại bác giặc là hình ảnh rừng xà nu kiên cường, bất khuất, hệt như con người, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác vươn lên trước những làn đạn: “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời như thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bui vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng […]. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã”.

       Kết thúc câu chuyện, nhà văn láy lại hai ý: một số cây xà nu to bị thương, nhựa ứa ra “lóng lánh nắng hè” và những cây nhỏ đang mọc lên như để thay thế những cây bị ngã: “Quanh đó vô số những cây con đang mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê”. Rừng xà nu có dáng dấp của một tác phẩm luận đề, cách mở đầu và kết thúc hé mở triết lý mà tác phẩm sẽ phân tích, chứng minh.

       Có thể nói hình tượng rừng xà nu là một biểu tượng đẹp về dân làng Xô Man. Trong làng này, những người dân tộc Strá cũng quật cường, bất khuất, các thế hệ nối tiếp nhau cùng chung một truyền thống đấu tranh cách mạng kiên trung, một truyền thống không khi nào bị gián đoạn, đứt quãng. Cây xà nu ở đay cũng giống như cây tre dưới xuôi, một biểu tượng đẹp về sức sống dẻo dai bền bỉ của con người.

b) Các thế hệ người Strá tham gia đấu tranh cách mạng

       Nhân vật trung tâm của tác phẩm- nếu như có yêu cầu phải xác định – có thể tìm thấy ở nhân vật Tnú. Tuy vậy không thể nói là các nhân vật khác được xây dựng mờ nhạt hay đơn giản. Tnú chỉ là đại biểu cho một trong các thế hệ nối tiếp đấu tranh cách mạng ở làng Xô Man.

-     Cụ Mết là đại diện của thế hệ người Strá đã từng tham gia đánh Pháp nay lại tiếp tục đánh Mĩ và bè lũ tay sai. Một con người vững chãi, từng trải, một lòng một dạ với Đảng, với cách mạng. Sức mạnh thể chất và tinh thần toát lên từ vẻ ngoài của cụ Mết. “Một bà tay nặng trịch nắm chặt lấy vai anh như một kìm sắt. Anh quay lại: cụ Mết! Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải láng bóng. Ông ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn”. Ở ông già sáu mươi tuổi này “tiếng nói vẫn ồ ồ, dội vang trong lồng ngực”. Mọi lời nói của cụ đều được dân làng lắng nghe, trân trọng: “Lúc ông cụ Mết nói, mọi người đều im bặt”. Lẽ đơn giản là cụ thường nói lên những tư tưởng lớn, có ý nghĩa chân lý; mà cũng không đơn giản là chỉ nói, cụ dẫn dắt cả làng đi theo con đường cách mạng. Cụ thường nhân dịp thích hợp để giáo dục, nhắc nhở dân làng về đấu tranh cách mạng. Ví dụ, cụ chỉ chia cho mỗi người mấy hạt muối quý giá và giải thích: “Năm nay làng không đói. Gạo đủ ăn tới mùa suốt. Nhưng phải để giành, dự trữ mỗi bếp cho được ba năm […] đánh thằng Mĩ phải đánh dài”. Cụ triết lí về sức mạnh quật khởi của các thế hệ qua biểu tượng cây xà nu “không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ  ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”. Lời của người từng trải, kinh lịch thật chắc gọn mà sâu sắc. Cụ Mết nói: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Cụ hiểu tình huống đầy kịch tính khi Tnú với hai bàn tay không nhảy ra cứu vợ con: “Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây thừng. Tau k nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cụ Mết không ngờ cụ đã nói lên một chân lý của thời đại ấy, cũng như ở dưới xuôi kia, trong thành phố, anh Trỗi nói “Còn thằng Mĩ thì không có ai hạnh phúc”, ở nông thôn, chị Út Tịch nói “Còn cái lai quần cũng đánh”.

-     Hai chị em Mai và Dít cũng là một biểu tượng thu nhỏ về sự tiếp nối truyền thống cách mạng ở Tây Nguyên. Mai cùng với Tnú đã thay các thế hệ trước nuôi cán bộ cách mạng. Người cán bộ cách mạng – anh Quyết – hỏi: “Các em không sợ giặc bắt à? Nó giết như anh Xút, như bà Nhan đó”. Để trả lời, Tnú dẫn câu nói như một chân lí đã được tổng kết từ cụ Mết: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Mối liên hệ gắn bó giữa Đảng và cách mạng, Đảng và dân và nước được họ nhận thức rất rõ ràng, giản dị. Cái chết đầy xúc động của hai mẹ con Mai do bàn tay độc ác của kẻ thù chỉ làm cho ý chí chiến đấu của Dít, em gái Mai thêm sắt đá, kiên cường. Ngày Mai mất, Dít còn nhỏ. “Tnú cầm mấy cây xà nu soi cho Dít gằn gạo. Nó gằn đủ ba mươi lon gạo trắng, đổ ruột ghét cho Tnú mang đi. Nó lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh trong khi mọi ngườ, cả cụ già Mết, đều khóc vì cái chết của Mai”.

          Dít có cách thể hiện tình cảm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ có thể hiểu được khi đặt vào bối cảnh của phong trào cách mạng miền Nam đầu những năm 60, khi gắn với truyền thống cách mạng của người dân Tây Nguyên từ hồi chống Pháp. Buổi hội ngộ đầu tiên của họ sau mấy năm Tnú đi vắng hơi bất ngờ với Tnú. Cặp mắt mở to, trong suốt, bình thản của Dít nhìn Tnú hồi lâu rồi Dít hỏi Tnú bằng cái giọng lạnh lùng: “Đồng chí về có giấy không?”. Trong sự lạnh lùng của nguyên tắc đó bao hàm một nguyên cớ thật đẹp: Dít muốn Tnú phải là một chiến sĩ giải phóng quân mẫu mực, về phép dù chỉ một đêm cũng phải có giấy phép của chỉ huy. Chỉ sau khi biết Tnú có giấy phép, Dít mới vồn vã: “Sao anh về có một đêm thôi […] Thôi cũng được. Về một đêm cho làng thấy mặt là được rồi. Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi”. Thể hiện tình cảm cá nhân gắn liền một cách hài hòa với sự nghiệp cách mạng là một đặc điểm phổ biến của văn học cách mạng, tạo nên chất sử thi cho tác phẩm.

-     Hình tượng Tnú: mặc dù một đặc điểm lớn của văn học cách mạng là diễn đạt hài hòa sự nghiệp anh hùng của các cá nhân và sự nghiệp cách mạng của quần chúng, chúng ta có vẫn có thể nói đến Tnú như một nhân vật chính, thể hiện cảm hứng của thiên truyện.

           là một chiến sĩ cách mạng với những nét đặc trưng của người dân Tây Nguyên. Cuộc đời anh li kỳ như một huyền thoại trong thiên sử thi anh hùng ca chói lọi của núi rừng Tây Nguyên. Cụ Mết muốn câu chuyện về Tnú sẽ được các thế hệ nối tiếp nhau kể cho nhau nghe.

          Học chữ hay quên, nhưng Tnú rất sáng dạ, thông minh khi làm liên lac cho anh Quyết từ huyện về xã. Tnú chấp nhận khó khăn: không đi đường mòn, cứ xé rừng mà đi; không vượt sống ở chỗ nước êm mà vượt thác. Đó là vì sự an toàn của những chuyến đi chuyển thư từ, công văn. Lần cuối cùng bị địch bắt, Tnú đã kịp nuốt cái thư của cán bộ để giữ bí mật. Rồi anh vượt ngục của kẻ thù trở về. Anh gan góc, dũng cảm, ít lời mà cương quyết. Khi bị bắt, kẻ thù bắt anh phải khai ai là cộng sản. Tnú đặt tay lên bụng nói: “Ở đây này!”. Lưng anh đã phải nhận bao nhát dao chém của bọn lính. Tnú đã lao vào giữa bọn lính để cứu mẹ con Mai nhưng đã không cứu được mà thân mình bị bắt. Sự việc đó có nhiều ý nghĩa nhưng cho thấy bản lĩnh của anh. Khi chúng đốt hai bàn tay anh cũng là lúc tất cả thanh niên trong làng đã đem những cây dựa mài bằng đá núi Ngọc Linh chém chết hết mười tên lính.

          Mô-típ bàn tay là một mô-típ có sức diễn đạt rất sâu sắc của thiên truyện. Bàn tay Tnú như một tấm gương phản ánh tư tưởng, tình cảm của anh. Bàn tay Tnú có lcus đặt trong lòng bàn tay Mai để rồi họ thành vợ thành chồng. Bàn tay ấy hãnh diện để lên bụng để trả lời quân thù: Cộng sản “ở đây này”. Khi đau đớn, uất hận, bàn tay ấy đã bứt hàng chục trái vả mà không biết. Để đe dọa những bàn tay cầm giáo mác, cầm súng, kẻ địch quấn giẻ tẩm dầu xà nu lên mười đầu ngón tay của Tnú và đốt. Nhưng chính lúc kẻ thù định hủy diệt bàn tay thiêng liêng của người dân Tây Nguyên thì chúng đã phải nhận lấy đòn trừng phạt thích đáng nhất. Các trai làng cầm giáo mác giết chết mười tên giặc. Đốt hai bàn tay của Tnú tức là tiêu diệt ý chí đấu tranh cách mạng, chỉ đứng lên giết chết kẻ thù, chặn đứng tội ác của chúng là con đường sống duy nhất. Tnú đã không dùng dao, dùng súng mà dùng mười đầu ngón tay cụt bóp cổ chết tên chỉ huy địch cũng là một cách trả lời cho kẻ thù biết sự khủng bố điên cuồng, độc ác của chúng là vô ích. Tnú kể lại sôi nổi: “Tôi tống đầu gối lên ngực nó, tôi bóp đèn pin lên mặt nó: Dục, mày có nhớ tau không? Nó lắc đầu. Được, đây này, hai bàn tay tau đây này, nhớ chứ? Tau vẫn cầm được súng? Mắt nó trắng dã. Tôi nói: Này, tau có súng đây, tau có cả dao găm đây. Nhưng tau không giết mày bằng súng, tau không đâm mày bằng dao nghe chưa! Dục! Tau giết mày bằng mười ngón tay cụt này thôi, tau bóp cổ mày thôi!”. Thằng Dục, đứa đã tẩm dầu đốt tayanh hiển hiện ở bất cứ một tên giặc nào. Trong sự hồn nhiên của Tnú có chân lý: “Chúng nó đứa nào cũng giống như thằng Dục”. Tính cách của Tnú là điển hình cho tính cách của người Tây Nguyên: ít lời, giản dị mà cương quyết, rắn chắc; cuộc đời và số phận của Tnú là điển hình cho số phận và cuộc đời của người Tây Nguyên: đầy đau thương mà quật cường , anh dũng, một lòng kiên trung với cách mạng.

2.         Đặc điểm về nghệ thuật

          Vốn là tác giả của Đất nước đứng lên, Nguyễn Trung Thành hiểu rõ và năm vững văn hóa, đất nước và con người Tây Nguyên. Ông có sở trường dựng nên không khí của núi rừng Tây Nguyên, văn hóa Tây Nguyên.

          Truyện ngắn này có sức hấp dẫn nhờ nghệ thuật khắc họa những nét tính cách đặc sắc của người Tây Nguyên qua ngôn ngữ, ngoại hình, hành động của họ. Người Tây Nguyên trầm lặng, ít nói nhưng có cách bày tỏ tình cảm, tư tưởng riêng qua hành động. Khi Tnú về thăm làng cũ, có người nhảy phóc từ trên sàn nhà xuống đất để đón anh. Cụ Mết có lối mắng yêu thật lạ: “Cha mẹ mày, đi lâu thế! Để cho lũ con gái chúng nó lớn lên chẳng còn thằng thanh niên nào cho nó bắt chồng!”. Rồi cô Dít ít lời mà cũng không kém phần ý tứ: “Dít ngồi sụp xuống trước mặt anh, hai chân xếp về một bên, đưa tay kéo tấm váy che kín cả gót chân”… Ngôn ngữ nhân vật có  bản sắc dân tộc, chắc gọn, đơn giản mà đầy triết lý. Những chi tiết nho nhỏ như vậy đã dệt thành một bức tranh chân dung về những người Tây Nguyên vừa lạ lùng, vừa gần gũi thân thương.

          Không gian núi rừng Tây Nguyên cổ sơ, trầm mặc cũng được dựng lại một cách sống động qua hình ảnh đậm chất Tây Nguyên. Đó là tiếng chày giã gạo như một nỗi nhớ da diết nhất cho những đứa con Tây Nguyên đi xa. Đó là hồi mõ dìa ba tiếng vang lên từ phía nhà ưng thôi thúc mọi người lại họp ở chỗ già làng. Đó là các cây đuốc sáng quanh nhà cụ Mết. Rồi không khí trang trọng, thành kính của dân làng vây quanh cụ Mết chờ cụ kể chuyện về cuộc đời Tnú như chờ nghe kể khan truyền thống. Rồi tiếng cồng chiêng, rồi mỏ đá mài trên núi Ngọc Linh đủ dùng cho cả trăm cuộc khởi nghĩa gươm giáo mác của Tây Nguyên. Có nhà nghiên cứu đưa ra nhận xét rằng, truyện Rừng xà nu mang đậm màu sắc sử thi. Chất sử thi toát lên từ tinh thần vì cộng đồng của con người, từ những vấn đề chung, liên quan đến số phận chung của cả cộng đồng.

          Nguyễn Trung Thành nói “Rừng xà nu” là truyện của một đời, và được kể trong một đêm. Đó là cái đêm dài như cả một đời. Nhưng nó cũng ngắn, cũng chỉ là một đêm trong sự sống vất vả, đau khổ và hạnh phúc”. Câu chuyện kể một đêm chính là nói câu chuyện cụ Mết kể cho dân làng nghe kể về cuộc đời Tnú nhân dịp anh được về nghỉ phép một đêm: “Đêm nay tau kể chuyện nó cho cả làng nghe, để mừng nó về thăm làng. Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tau chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe…”. Đó đúng là thể chức kể sử thi của người Tây Nguyên. Câu chuyện một đời của Tnú nhưng cũng là câu chuyện của cả buôn làng, không chỉ kể một đêm mà sẽ kể mãi, như những thiên sử thi đã từng được kể hàng trăm năm, ngàn năm nay. Thêm một ý nghĩa nữa của câu chuyện Tnú, một thiên sử thi của thời đại mới.

          Tuy vai người kể chuyện là cụ Mết nhưng thực ra, cách kể của Rừng xà nu khá linh hoạt. Điểm nhìn của người kể có thay đổi, khi là ngôn ngữ tác giả, khi là lời cụ Mết, khi là chính nhân vật Tnú hiện diện. Ví dụ, cả đoạn tả Tnú từ gốc cây xông ra đến khi anh bị bọn thằng Dục tẩm dầu vào giẻ đốt cả mười ngón tay là nhìn tâm trạng anh từ bên trong, người kể hóa thân vào nhân vật để quan sát, ứng xử và bộ lộ cảm xúc. “Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!”. Đây tất nhiên không phải là lời kể của người đứng nhìn từ bên ngoài mà là cảm nhận của người trong cuộc.

 

0
phiếu
0đáp án
656 lượt xem

RỪNG XÀ NU

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

       Nguyễn Trung Thành tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ông có bút danh khác là Nguyên Ngọc. Nguyễn Trung Thành là bút danh được dùng trong những năm ông hoạt động ở chiến trường miền Nam thời kỳ chống Mĩ cứu nước.

       Truyện ngắn Rừng xà nu công bố lần đầu năm 1965. Khi đó, cách mạng miền Nam đã trải qua thời kỳ đen tối đến lúc Đồng khởi và đang tiếp tục cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai. Theo lời Nguyễn Trung Thành, ông nhớ rất rõ ngày 8-3-1965, mấy vạn lính thủy quân lục chiến Mĩ đổ bộ vào bãi biển Chu Lai. “Đó là những ngày sôi sục, nghiêm trang, nghiêm trọng, lo lắng, quyết liệt, hào hùng: dân tộc ta bước vào cuộc chạm trán một mất một còn trực tiếp với đế quốc Mĩ”.

          Vấn đề đặt ra trong truyện ngắn là vấn đề trung tâm của toàn dân tộc lúc đó: con đường duy nhất lúc đó cầm vũ khí đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong một thế tương quan lực lượng chênh lệch về vũ khí kỹ thuật, đâu là sức mạnh mang lại thắng lợi cho chúng ta? Truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành góp phần tìm ra câu trả lời: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Ý chí quyết đấu là nguồn gốc của sức mạnh. Tác phẩm cũng chỉ ra vẻ đẹp tinh thần của nhân dân Tây Nguyên bất khuất.

          Lúc nhà văn định viết một truyện ngắn về đồng bằng đánh Mĩ nhưng mấy đêm thức ròng ông không sao viết được. Ông chuyển qua viết về miền núi và trong một đêm giữa năm 1965, Rừng xà nu đột ngột đến với tác giả. Mặc dù câu chuyện hư cấu nhưng các nguyên mẫu đều là có thật, nhà văn đã gặp họ ở nơi này nơi khác, lúc này lúc khác. Nguyễn Trung Thành kể là ông đã quen biết ông Núp, ông Mết từ hồi đánh Pháp, khoảng năm 1963 đã gặp anh Đề người Xê-đăng và nghe anh kể, năm 1959 anh Đề đã cùng 10 trai làng dùng dao dựa, giáo, mác giết được một tiểu đội lính Diệm. Cuối năm 1963, trong một hội nghị ở huyện Đắc-lây, Nguyễn Trung Thành đã gặp một cô gái người Ê-đê xinh đẹp, vừa là cán bộ phụ nữ xã, vừa là du kích. Những con người ấy gặp nhau, âm thầm hình thành những nhân vật văn học trong tác giả để khi ông viết, chúng hội tụ về dưới trang văn. Quá trình viết câu chuyện trở nên dễ dàng: “Tất cả, tôi không phải “bịa” thêm gì cả, tôi thấy rõ hết. Mặc dầu tất cả đay hoàn toàn là một câu chuyện bịa mà như thật. Với tôi nó hoàn toàn có thật”.

2. Nguyễn Trung Thành nói về biểu tượng rừng xà nu

       Cây xà nu là cây thông. Văn học trung đại đã viết không ít về cây thông, nhưng đều tập trung khai thác ý nghĩa biểu trưng của cây thông cho phẩm chất của người quân tử. Bởi lẽ cây thông vẫn xanh tươi ngay cả giữa mùa đông lạnh giá trong khi tất cả các loài cây khác đều rụng lá. Đây là thứ cây tượng trưng cho sự kiên cường, bất khuất, không chịu đổi dời bản tính theo ngoại cảnh. Truyện ngắn Rừng xà nu cũng khai thác nghĩa biểu trưng của cây thông nhưng không phải là của một cây thông riêng rẽ mà là của một rừng thông, một “tập thể” thông. Tác phẩm cũng không nhằm vào biểu tượng quân tử ở cây thông mà hướng đến diễn tả sức sống mạnh mẽ, bất diệt của rừng thông như một biểu tượng về sức sống mạnh mẽ, bất diệt của những con người Tây Nguyên bình dị, không một bạo lực nào có thể tiêu diệt nổi. Đây là một nét mới của ý nghĩa biểu trưng của rừng thông mà văn học cách mạng có thể đưa vào kho tàng văn học.

          Nguyễn Trung Thành kể về hồi tháng 5 năm 1962 hành quân từ miền Bắc vào đến khu rừng bát ngát ở phía Tây Thừa Thiên thì gặp cây xà nu. “Tôi say mê cây xà nu từ ngày đó. Ấy là một thứ cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh nhã, vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô tận. Không khí ở đây thơm lừng. Nệm lá dưới mặt đất ngả lưng êm ru”. Vì thế, khi dự định viết về miền núi đánh giặc, Nguyễn Trung Thành đã gặp cây xà nu trong những dòng đầu tiên: “Bắt đầu đến dưới ngòi bút, gần như không hề tính trước, là một rừng xà nu, những cây xà nu… rừng xà nu chợt đến và lập tức tôi biết tôi đã tạo được không khí, đã có không gian ba chiều. Và cũng đã lập tức nhập được vào không khí và không gian ấy”.

          Biểu tượng xà nu đã hình thành từ thực tế quan sát, suy nghĩ nhiều năm của tác giả để trong giây lát có thể xuất hiện, dẫn dắt cho mạch truyện.

I-  PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Đặc điểm nội dung

a) Rừng xà nu, biểu tượng vế sức sống của người dân Tây Nguyên

       Ý nghĩa tượng trưng của rừng xà nu rất dễ quan sát thấy qua việc miêu tả rừng xà nu ở phần mở đầu và phần kết thúc câu chuyện.

       Mở đầu thiên truyện là cuộc chiến đấu thầm lặng mà quyết liệt giữa một bên là rừng xà nu và một bên là đạn pháo của giặc. Một chi tiết được miêu tả không hề ngẫu nhiên và trái lại, được tác giả có dụng ý nhấn mạnh: giặc bắn đại bác ngày hai lần, nhưng “hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn”. Những loạt đạn đại bác là sự thử thách nghiệt ngã đối với rừng xà nu. Hàng vạn cây xà nu bị thương, nhựa ứa ra, đau đớn uất hận như máu nhỏ. “Ở chỗ viết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh ngày hè nắng gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Nhưng nói tới sự tàn phá của đại bác giặc cũng là một cách giới thiệu sức sống bất diệt của cây xà nu.

Đối lập với sự tàn phá của đạn đại bác giặc là hình ảnh rừng xà nu kiên cường, bất khuất, hệt như con người, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác vươn lên trước những làn đạn: “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời như thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bui vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng […]. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã”.

       Kết thúc câu chuyện, nhà văn láy lại hai ý: một số cây xà nu to bị thương, nhựa ứa ra “lóng lánh nắng hè” và những cây nhỏ đang mọc lên như để thay thế những cây bị ngã: “Quanh đó vô số những cây con đang mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê”. Rừng xà nu có dáng dấp của một tác phẩm luận đề, cách mở đầu và kết thúc hé mở triết lý mà tác phẩm sẽ phân tích, chứng minh.

       Có thể nói hình tượng rừng xà nu là một biểu tượng đẹp về dân làng Xô Man. Trong làng này, những người dân tộc Strá cũng quật cường, bất khuất, các thế hệ nối tiếp nhau cùng chung một truyền thống đấu tranh cách mạng kiên trung, một truyền thống không khi nào bị gián đoạn, đứt quãng. Cây xà nu ở đay cũng giống như cây tre dưới xuôi, một biểu tượng đẹp về sức sống dẻo dai bền bỉ của con người.

b) Các thế hệ người Strá tham gia đấu tranh cách mạng

       Nhân vật trung tâm của tác phẩm- nếu như có yêu cầu phải xác định – có thể tìm thấy ở nhân vật Tnú. Tuy vậy không thể nói là các nhân vật khác được xây dựng mờ nhạt hay đơn giản. Tnú chỉ là đại biểu cho một trong các thế hệ nối tiếp đấu tranh cách mạng ở làng Xô Man.

-     Cụ Mết là đại diện của thế hệ người Strá đã từng tham gia đánh Pháp nay lại tiếp tục đánh Mĩ và bè lũ tay sai. Một con người vững chãi, từng trải, một lòng một dạ với Đảng, với cách mạng. Sức mạnh thể chất và tinh thần toát lên từ vẻ ngoài của cụ Mết. “Một bà tay nặng trịch nắm chặt lấy vai anh như một kìm sắt. Anh quay lại: cụ Mết! Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải láng bóng. Ông ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn”. Ở ông già sáu mươi tuổi này “tiếng nói vẫn ồ ồ, dội vang trong lồng ngực”. Mọi lời nói của cụ đều được dân làng lắng nghe, trân trọng: “Lúc ông cụ Mết nói, mọi người đều im bặt”. Lẽ đơn giản là cụ thường nói lên những tư tưởng lớn, có ý nghĩa chân lý; mà cũng không đơn giản là chỉ nói, cụ dẫn dắt cả làng đi theo con đường cách mạng. Cụ thường nhân dịp thích hợp để giáo dục, nhắc nhở dân làng về đấu tranh cách mạng. Ví dụ, cụ chỉ chia cho mỗi người mấy hạt muối quý giá và giải thích: “Năm nay làng không đói. Gạo đủ ăn tới mùa suốt. Nhưng phải để giành, dự trữ mỗi bếp cho được ba năm […] đánh thằng Mĩ phải đánh dài”. Cụ triết lí về sức mạnh quật khởi của các thế hệ qua biểu tượng cây xà nu “không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ  ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”. Lời của người từng trải, kinh lịch thật chắc gọn mà sâu sắc. Cụ Mết nói: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Cụ hiểu tình huống đầy kịch tính khi Tnú với hai bàn tay không nhảy ra cứu vợ con: “Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây thừng. Tau k nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cụ Mết không ngờ cụ đã nói lên một chân lý của thời đại ấy, cũng như ở dưới xuôi kia, trong thành phố, anh Trỗi nói “Còn thằng Mĩ thì không có ai hạnh phúc”, ở nông thôn, chị Út Tịch nói “Còn cái lai quần cũng đánh”.

-     Hai chị em Mai và Dít cũng là một biểu tượng thu nhỏ về sự tiếp nối truyền thống cách mạng ở Tây Nguyên. Mai cùng với Tnú đã thay các thế hệ trước nuôi cán bộ cách mạng. Người cán bộ cách mạng – anh Quyết – hỏi: “Các em không sợ giặc bắt à? Nó giết như anh Xút, như bà Nhan đó”. Để trả lời, Tnú dẫn câu nói như một chân lí đã được tổng kết từ cụ Mết: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Mối liên hệ gắn bó giữa Đảng và cách mạng, Đảng và dân và nước được họ nhận thức rất rõ ràng, giản dị. Cái chết đầy xúc động của hai mẹ con Mai do bàn tay độc ác của kẻ thù chỉ làm cho ý chí chiến đấu của Dít, em gái Mai thêm sắt đá, kiên cường. Ngày Mai mất, Dít còn nhỏ. “Tnú cầm mấy cây xà nu soi cho Dít gằn gạo. Nó gằn đủ ba mươi lon gạo trắng, đổ ruột ghét cho Tnú mang đi. Nó lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh trong khi mọi ngườ, cả cụ già Mết, đều khóc vì cái chết của Mai”.

          Dít có cách thể hiện tình cảm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ có thể hiểu được khi đặt vào bối cảnh của phong trào cách mạng miền Nam đầu những năm 60, khi gắn với truyền thống cách mạng của người dân Tây Nguyên từ hồi chống Pháp. Buổi hội ngộ đầu tiên của họ sau mấy năm Tnú đi vắng hơi bất ngờ với Tnú. Cặp mắt mở to, trong suốt, bình thản của Dít nhìn Tnú hồi lâu rồi Dít hỏi Tnú bằng cái giọng lạnh lùng: “Đồng chí về có giấy không?”. Trong sự lạnh lùng của nguyên tắc đó bao hàm một nguyên cớ thật đẹp: Dít muốn Tnú phải là một chiến sĩ giải phóng quân mẫu mực, về phép dù chỉ một đêm cũng phải có giấy phép của chỉ huy. Chỉ sau khi biết Tnú có giấy phép, Dít mới vồn vã: “Sao anh về có một đêm thôi […] Thôi cũng được. Về một đêm cho làng thấy mặt là được rồi. Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi”. Thể hiện tình cảm cá nhân gắn liền một cách hài hòa với sự nghiệp cách mạng là một đặc điểm phổ biến của văn học cách mạng, tạo nên chất sử thi cho tác phẩm.

-     Hình tượng Tnú: mặc dù một đặc điểm lớn của văn học cách mạng là diễn đạt hài hòa sự nghiệp anh hùng của các cá nhân và sự nghiệp cách mạng của quần chúng, chúng ta có vẫn có thể nói đến Tnú như một nhân vật chính, thể hiện cảm hứng của thiên truyện.

           là một chiến sĩ cách mạng với những nét đặc trưng của người dân Tây Nguyên. Cuộc đời anh li kỳ như một huyền thoại trong thiên sử thi anh hùng ca chói lọi của núi rừng Tây Nguyên. Cụ Mết muốn câu chuyện về Tnú sẽ được các thế hệ nối tiếp nhau kể cho nhau nghe.

          Học chữ hay quên, nhưng Tnú rất sáng dạ, thông minh khi làm liên lac cho anh Quyết từ huyện về xã. Tnú chấp nhận khó khăn: không đi đường mòn, cứ xé rừng mà đi; không vượt sống ở chỗ nước êm mà vượt thác. Đó là vì sự an toàn của những chuyến đi chuyển thư từ, công văn. Lần cuối cùng bị địch bắt, Tnú đã kịp nuốt cái thư của cán bộ để giữ bí mật. Rồi anh vượt ngục của kẻ thù trở về. Anh gan góc, dũng cảm, ít lời mà cương quyết. Khi bị bắt, kẻ thù bắt anh phải khai ai là cộng sản. Tnú đặt tay lên bụng nói: “Ở đây này!”. Lưng anh đã phải nhận bao nhát dao chém của bọn lính. Tnú đã lao vào giữa bọn lính để cứu mẹ con Mai nhưng đã không cứu được mà thân mình bị bắt. Sự việc đó có nhiều ý nghĩa nhưng cho thấy bản lĩnh của anh. Khi chúng đốt hai bàn tay anh cũng là lúc tất cả thanh niên trong làng đã đem những cây dựa mài bằng đá núi Ngọc Linh chém chết hết mười tên lính.

          Mô-típ bàn tay là một mô-típ có sức diễn đạt rất sâu sắc của thiên truyện. Bàn tay Tnú như một tấm gương phản ánh tư tưởng, tình cảm của anh. Bàn tay Tnú có lcus đặt trong lòng bàn tay Mai để rồi họ thành vợ thành chồng. Bàn tay ấy hãnh diện để lên bụng để trả lời quân thù: Cộng sản “ở đây này”. Khi đau đớn, uất hận, bàn tay ấy đã bứt hàng chục trái vả mà không biết. Để đe dọa những bàn tay cầm giáo mác, cầm súng, kẻ địch quấn giẻ tẩm dầu xà nu lên mười đầu ngón tay của Tnú và đốt. Nhưng chính lúc kẻ thù định hủy diệt bàn tay thiêng liêng của người dân Tây Nguyên thì chúng đã phải nhận lấy đòn trừng phạt thích đáng nhất. Các trai làng cầm giáo mác giết chết mười tên giặc. Đốt hai bàn tay của Tnú tức là tiêu diệt ý chí đấu tranh cách mạng, chỉ đứng lên giết chết kẻ thù, chặn đứng tội ác của chúng là con đường sống duy nhất. Tnú đã không dùng dao, dùng súng mà dùng mười đầu ngón tay cụt bóp cổ chết tên chỉ huy địch cũng là một cách trả lời cho kẻ thù biết sự khủng bố điên cuồng, độc ác của chúng là vô ích. Tnú kể lại sôi nổi: “Tôi tống đầu gối lên ngực nó, tôi bóp đèn pin lên mặt nó: Dục, mày có nhớ tau không? Nó lắc đầu. Được, đây này, hai bàn tay tau đây này, nhớ chứ? Tau vẫn cầm được súng? Mắt nó trắng dã. Tôi nói: Này, tau có súng đây, tau có cả dao găm đây. Nhưng tau không giết mày bằng súng, tau không đâm mày bằng dao nghe chưa! Dục! Tau giết mày bằng mười ngón tay cụt này thôi, tau bóp cổ mày thôi!”. Thằng Dục, đứa đã tẩm dầu đốt tayanh hiển hiện ở bất cứ một tên giặc nào. Trong sự hồn nhiên của Tnú có chân lý: “Chúng nó đứa nào cũng giống như thằng Dục”. Tính cách của Tnú là điển hình cho tính cách của người Tây Nguyên: ít lời, giản dị mà cương quyết, rắn chắc; cuộc đời và số phận của Tnú là điển hình cho số phận và cuộc đời của người Tây Nguyên: đầy đau thương mà quật cường , anh dũng, một lòng kiên trung với cách mạng.

2.         Đặc điểm về nghệ thuật

          Vốn là tác giả của Đất nước đứng lên, Nguyễn Trung Thành hiểu rõ và năm vững văn hóa, đất nước và con người Tây Nguyên. Ông có sở trường dựng nên không khí của núi rừng Tây Nguyên, văn hóa Tây Nguyên.

          Truyện ngắn này có sức hấp dẫn nhờ nghệ thuật khắc họa những nét tính cách đặc sắc của người Tây Nguyên qua ngôn ngữ, ngoại hình, hành động của họ. Người Tây Nguyên trầm lặng, ít nói nhưng có cách bày tỏ tình cảm, tư tưởng riêng qua hành động. Khi Tnú về thăm làng cũ, có người nhảy phóc từ trên sàn nhà xuống đất để đón anh. Cụ Mết có lối mắng yêu thật lạ: “Cha mẹ mày, đi lâu thế! Để cho lũ con gái chúng nó lớn lên chẳng còn thằng thanh niên nào cho nó bắt chồng!”. Rồi cô Dít ít lời mà cũng không kém phần ý tứ: “Dít ngồi sụp xuống trước mặt anh, hai chân xếp về một bên, đưa tay kéo tấm váy che kín cả gót chân”… Ngôn ngữ nhân vật có  bản sắc dân tộc, chắc gọn, đơn giản mà đầy triết lý. Những chi tiết nho nhỏ như vậy đã dệt thành một bức tranh chân dung về những người Tây Nguyên vừa lạ lùng, vừa gần gũi thân thương.

          Không gian núi rừng Tây Nguyên cổ sơ, trầm mặc cũng được dựng lại một cách sống động qua hình ảnh đậm chất Tây Nguyên. Đó là tiếng chày giã gạo như một nỗi nhớ da diết nhất cho những đứa con Tây Nguyên đi xa. Đó là hồi mõ dìa ba tiếng vang lên từ phía nhà ưng thôi thúc mọi người lại họp ở chỗ già làng. Đó là các cây đuốc sáng quanh nhà cụ Mết. Rồi không khí trang trọng, thành kính của dân làng vây quanh cụ Mết chờ cụ kể chuyện về cuộc đời Tnú như chờ nghe kể khan truyền thống. Rồi tiếng cồng chiêng, rồi mỏ đá mài trên núi Ngọc Linh đủ dùng cho cả trăm cuộc khởi nghĩa gươm giáo mác của Tây Nguyên. Có nhà nghiên cứu đưa ra nhận xét rằng, truyện Rừng xà nu mang đậm màu sắc sử thi. Chất sử thi toát lên từ tinh thần vì cộng đồng của con người, từ những vấn đề chung, liên quan đến số phận chung của cả cộng đồng.

          Nguyễn Trung Thành nói “Rừng xà nu” là truyện của một đời, và được kể trong một đêm. Đó là cái đêm dài như cả một đời. Nhưng nó cũng ngắn, cũng chỉ là một đêm trong sự sống vất vả, đau khổ và hạnh phúc”. Câu chuyện kể một đêm chính là nói câu chuyện cụ Mết kể cho dân làng nghe kể về cuộc đời Tnú nhân dịp anh được về nghỉ phép một đêm: “Đêm nay tau kể chuyện nó cho cả làng nghe, để mừng nó về thăm làng. Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tau chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe…”. Đó đúng là thể chức kể sử thi của người Tây Nguyên. Câu chuyện một đời của Tnú nhưng cũng là câu chuyện của cả buôn làng, không chỉ kể một đêm mà sẽ kể mãi, như những thiên sử thi đã từng được kể hàng trăm năm, ngàn năm nay. Thêm một ý nghĩa nữa của câu chuyện Tnú, một thiên sử thi của thời đại mới.

          Tuy vai người kể chuyện là cụ Mết nhưng thực ra, cách kể của Rừng xà nu khá linh hoạt. Điểm nhìn của người kể có thay đổi, khi là ngôn ngữ tác giả, khi là lời cụ Mết, khi là chính nhân vật Tnú hiện diện. Ví dụ, cả đoạn tả Tnú từ gốc cây xông ra đến khi anh bị bọn thằng Dục tẩm dầu vào giẻ đốt cả mười ngón tay là nhìn tâm trạng anh từ bên trong, người kể hóa thân vào nhân vật để quan sát, ứng xử và bộ lộ cảm xúc. “Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!”. Đây tất nhiên không phải là lời kể của người đứng nhìn từ bên ngoài mà là cảm nhận của người trong cuộc.

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Văn học như một dòng sông chảy mãi, chảy mãi theo thời gian. Trên dòng sông văn học ấm áp và xanh đó, biết đếm sao cho hết những dáng núi, hàng cây nghiêng mình bên dòng nước. Nó là biểu tượng cho mỗi dân tộc, mỗi vùng đất, cho niềm tự hào khôn nguôi... Có ai quên rừng bạch dương chạy dài tít tắp đậm đà trong nền văn học đồ sộ Nga, có ai quên những cây hoa anh đào thấp thoáng trong mỗi tâm hồn người Nhật, và Việt Nam chúng ta tự hào với cây tre hiên ngang, thẳng tắp, vững bền theo năm tháng. Nhưng đâu chỉ có cây tre, trên mỗi miền đất nước chúng ta, làm sao có thể quên những rặng dừa xanh, những trái măng cụt hay nhãn nồng Bắc và Tây Nguyên tự hào xiết bao với “Rừng xà nu” kiêu hãnh “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho dân làng” trong trang văn của Nguyễn Trung Thành. Có thể nói, viết về rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành đã trạm tới được một nét đẹp điển hình và đặc sắc của đất Tây Nguyên hoang dại đầy khí phách. Một trong những đoạn văn đặc sắc và có sức biểu cảm nhất của truyện chính là đoạn đầu tác phẩm: “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc... Đứng trên đồi xa nu trông ra xa đến hết tầm mắt cũng không thấy gì ngoài những đồi xa nu nối tiếp tới chân trời”.

Đặt doạn văn vào toàn tác phẩm, ta nhận thấy Rừng xa nu có một kết cấu hay nói đúng hơn là một lối vào đè rất mới lạ: “Làng ở tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy”. Nếu như giới thiệu theo lối cổ điển, Nguyễn Trung Thành sẽ giới thiệu tên làng, nguồn gốc, rồi mới nói đến vấn đề ông muốn nói. Nhưng không, vào đề ông nói ngay đến vị trí nguy hiểm “trong tầm đại bác của địch” của dân làng Xô Man mà không hề nhắc đến tên địa danh của làng. Trong cách kể của nhà văn, dường như chúng ta đều biết cái làng đó rồi, như người đi xa lâu ngày không gặp chỉ náo nức muốn biết tình trạng sức khỏe của người thân giờ này ra sao. Và làng xô man trong tiềm thức mỗi chúng ta, dù có thể chưa một lần đặt chân đến, vẫn sao thấy có chút gì thân quen, gần gũi. Trong chiến tranh đâu chỉ có làng Xô Man mới nằm trong tầm đại bác của đồn giặc? Tất cả làng, các xóm trên đất nước Việt Nam này đều chịu chung nỗi đau thương đó. Ta cũng thấy lòng có chút gì đồng điệu.

Nhưng đây không phải làng quê của ta! Nếu như Hoàng Cầm nhớ thiết tha đất Kinh Bắc với “lúa nếp thơm nồng, tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, nếu như Nguyễn Đình Thi mơ màng về Hà Nội nhớ, Hà Nội thương với “gió thổi mùa thu hương cốm mới” thì làng Xô Man lại kiêu hãnh và gan góc với “ngọn đồi xa nu cạnh con nước lớn”. Ta nhận ra đây chính là làng Xô Man chứ không phải bất kì một làng nào trên mọi miền đất nước. Có lẽ chính vì tính chất rất “riêng”, “mới lạ” “đặc sắc”, có tính đại diện, phổ quát cao cho các dân tộc Tây Nguyên nên rừng xà nu được Nguyễn Trung Thành miêu tả thật là sinh động, gan góc như một sinh thể có hồn.

Tính chất tàn phá mạnh liệt của chiến tranh in đậm trên mỗi thân cây: “Cả rừng xu nu hàng vạn cây, không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão, ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngọt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn”. Chỉ cần ba câu văn thôi nhưng ta có thể thấy trước mắt mình cả một khu rừng xà nu sau mỗi lần “chúng nó bắn”. Nhưng nét đẹp và sự gợi cảm của mỗi câu văn không chỉ là nói lên một hiện tượng tàn khốc mang tính tàn phá huỷ diệt như thế. “Một tác phẩm sẽ chết nếu nó miêu tả chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là sự thôi thúc mạnh mẽ sẽ mang tính chủ quan của tinh thần thời đại” (M. Gorki), “của niềm vui và nỗi đau khổ, của nụ cười trong sáng hay giọt nước mắt cay dắng” (Rãun Gamzatop). Những vết thương của cây xà nu không chỉ là sự phản quang tội ác của giặc, không chỉ là sự mất mát hoàn toàn. Nguyễn Trung Thành đã miêu tả những cây xà nu không chỉ là laọi cây thông thường mà dưới góc độ khác, góc độ như một con người, con người Tây Nguyên gan góc, dũng mãnh, đầy quả cảm. Cây xà nu hiên ngang từ dáng đứng thẳng tắp dám hứng “hầu hết đạn đại bác”, đến phẩm chất “thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt”. Tác giả không miêu tả một cây, ông miêu tả cả một rừng cây. Phải chăng một chi tiết nhỏ đó thôi cũng bao hàm một sức chứa lớn. Đó là sự khái quát cao độ của hình tượng cây xà nu đông đảo, toàn diện và có phần chung chung nhưng lại không vô nghĩa, và đặc biệt không hề nhạt nhoà, bé nhỏ. Nó cũng như con người: bị thương và chết đi, nhựa của nó chảy ra “dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn”. Đây không phải là một phép so sánh giản đơn mà dường như trong tiềm thức của người nghệ sĩ, cây xa nu gần gũi thân yêu thực sự không phải là vật vô tri vô giác, ông tin đó là một sinh thể, là một con người. Lẽ dĩ nhiên trong văn chương có những điều “bất khả giải”, chỉ có thể cảm nhận bằng cảm giác, đôi khi rất khó tin, thậm chí không có sự “trùng khít giữa cái miêu tả và cái được miêu tả” nhưng cái tài của Nguyễn Trung Thành chính là ông đã tạo ra được “ảo tưởng giống như thiệt” (Fêdine) của sự vật được phản ánh. Ông đã truyền sự rung cảm từ con tim chủ quan người nghệ sĩ sang mỗi chúng ta là người tiếp nhận, khiến chúng ta không chỉ yêu mà còn tin vào sức sống cũng như vẻ đẹp rất “người” tiềm ẩn trong mỗi cây xà nu tưởng hết sức thông thuộc, bình dị. Sức sống mãnh liệt của cây xà nu chính nằm trong sự nối tiếp “cạnh một cây xà nu mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Đúng như Nguyễn Trung Thành nói “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy”, sức sống và sự kế tiếp của cây rừng xà nu không khỏi khiến ta cảm phục, dường như có chút gì rạo rực, bâng khuâng... Ta chợt nhớ đến một câu thơ của Tố Hữu:

Lớp cha trước lớp con sau,
Đã thành đồng chí chung câu quân hành

Có thể Nguyễn Trung Thành cũng đâu chỉ viết về sự tiếp nối mạnh mẽ của cây rừng xà nu? Phải chăng đằng sau sức sống và sự “sinh sôi nảy nở như vậy”, còn có một sức sống tiềm ẩn khác của con người Tây Nguyên, của dân làng Xô Man trong kháng chiến. Họ cũng dũng mãnh như cây xà nu với “hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Sức mạnh ngòi bút Nguyễn Trung Thành có lẽ chính là ở ông đã nắm bắt nhuần nhuyễn đặc biệt đó, miêu tả tài hoa và tinh tế sự hoà hợp giữa con người và thiên nhiên Tây Ngưyên, khiến ta thấy thấp thoáng ẩn hiện sau mỗi cây xà nu là sự gan góc, sức sống mạnh mẽ và nụ cuời cởi mở của dân làng Xô Man. Sự hoà nhập đó tạo nên sức gợi cũng như sức sống tiềm tàng của mỗi câu chữ mà Nguyễn Trung Thành sử dụng. Tuy nhiên, cái khéo chính là ông đã miêu tả cây xà nu tuy trong góc độ như một con người nhưng lại không phải là con người. Ông không biến một sinh vật thành một con người đơn giản để cuối cùng mất đi bản sắc của riêng nó. Xà nu là loại cây “ham ánh sáng mặt trời”. “Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh sáng, thứ ánh sáng trong rừng rọi từ cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lanh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng. Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mươi hôm thi cây chết. Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum suê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một cơ thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh thay thế những cây đã ngã”.

Thật là quật cường và cũng thật là diệu kì. Có lẽ bản thân những câu văn trên cũng nói lên sức sống cùng phẩm chất ham sống tuyệt vời của cây xà nu. Nhà văn không miêu tả phiến diện đến nỗi khó tin là tất cả các loạ cây dưới tầm đại bác đều còn sống và đều vươn lên với sức mạnh kì diệu. Cây xà nu là như vậy, đẹp đẽ và kiêu hành biết bao. “Tấm ngực lớn” của nó không chỉ thể hiện sức tráng kiện, dũng mãnh đến gai góc của một loại cây ở thời kì trưởng thành đang hoà nhập trong sức mạnh cồng đồng như cả dân làng Xô Man mà còn thể hiện chút chân thực đến say lòng người, cùng niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của chính mình.

Cái hay và đặc sắc của đoạn văn chính là ở chỗ nhà văn đã nhìn rừng xà nu như một sinh thể có hồn hoà nhập vào đời sống nhiệt tình của con người Tây Nguyên nói chung, của dân làng Xô Man nói riêng. Khép lại đoạn văn và cũng là toàn tác phẩm là một câu văn đầy sức gợi: “Đứng trên đồi xa nu trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời” không phải ngẫu nhiên mà nhà văn Nguyễn Trung Thành sử dụng câu văn này hai lần, ở đoạn này và đoạn cuối tác phẩm. Rừng xà nu dường như đã lớn lên đến sức sống căng tràn nhất, trải dài khắp nẻo đường. Ta như cảm giác cánh tay rừng xà nu đang vươn dài ôm lấy làng Xô Man vào lồng ngực lớn của mình, yêu thương, che chở và bảo vệ. Sức mạnh của khu rừng, của làng Xô Man và của cả một chút gì bí ẩn, hoang sơ gợi sự khát khao, kiếm tìm với người biết yêu thương và sự đe doạ dữ dội đối với kẻ thù xâm lược, kiếm tìm với người biết yêu thương và lời đe doạ dữ dội đối với kẻ thù xâm lược: “Chừng nào chúng ta còn tồn tại thì các người đừng hòng xâm nhập vào đây phá tan cuộc sống yên bình nơi đây”.

Thật là đẹp và cũng thật kì vĩ! Ta cảm giác như choáng ngợp, mỗi lời văn ngập tràn không khí sử thi hoang dã, dũng mãnh, gan góc và đầy bí mật như trong những lời kể về khu rừng già đại ngàn và đời sống của chàng Đam San thưở xưa rực rỡ. Chính sức sống hoang dã, mãnh liệt này là một nét đặc sắc và vô cùng độc đáo của vùng đất Tây Nguyên mà con người dù có viết nhiều về nó mãi mãi không thể nào khám phá hết chiều sâu tận cùng.

“Rừng xà nu” là câu chuyện của cả đời được kể trong một đêm do đó những cảm xúc về cây xà nu chính là những rung cảm mãnh liệt nhất của người nghệ sĩ “được viết ra khi cảm xúc tràn đầy” (Tố Hữu).

Theo lới tác giả kể, câu chuyện được viết ra chỉ trong vòng hai tiếng rưỡi nhưng lại được thai nghén hàng chục năm.Ta chợt hiểu sâu sắc đằng sau những dòng chữ kia là tấm lòng yêu thương chất chứa, dồn nén của người nghệ sĩ. Có lẽ ông đã dồn rất nhiều tâm huyết để dựng lên hình tượng cây xà nu đẹp, đầy gợi cảm và mang sức chứa, khái quát cao độ. Nó xứng đáng là kết tinh của thiên nhiên của con người Tây Nguyên dũng mãnh, gan góc và quật cường. Thành công lớn của đoạn văn chính là hình tượng cây xà nu đã diễn tả sâu sắc và tinh tế nội dung toàn tác phẩm cũng như điều mà nhà văn gửi gắm.

Sưu tầm.

12Trang sau 153050mỗi trang
23

bài tập

Chat chit và chém gió
  • emily: thay đỏi vị trí ạ? 8/24/2017 7:35:03 PM
  • cos^2(T): đồng bào = cùng ( một ) bọc 8/24/2017 7:35:10 PM
  • emily: thinking 8/24/2017 7:35:20 PM
  • cos^2(T): yawn cj bt làm văn , nhưng dễ buồn ngủ 8/24/2017 7:35:29 PM
  • emily: big_grin 8/24/2017 7:35:37 PM
  • cos^2(T): tiếp , cj vt nốt cho 8/24/2017 7:35:38 PM
  • emily: ok 8/24/2017 7:35:49 PM
  • cos^2(T): xoh ! 8/24/2017 7:38:52 PM
  • emily: e ra r 8/24/2017 7:53:23 PM
  • nhih: hi mina 8/28/2017 4:10:52 AM
  • emily: . 8/28/2017 6:13:03 AM
  • Nắng: Hương 8/28/2017 6:20:26 AM
  • Nắng: e hok nhanh nhỉ 8/28/2017 6:20:29 AM
  • emily: sao e nhanh ạ? 8/28/2017 6:21:00 AM
  • emily: đây ms lớp 7 8/28/2017 6:21:08 AM
  • Nắng: ơ năm nay e lp 8 mà nhỉ 8/28/2017 6:21:21 AM
  • Nắng: s hok lp 7 ... ôn lại à 8/28/2017 6:21:28 AM
  • emily: vâng ạ 8/28/2017 6:22:14 AM
  • emily: e đg hk hè mà 8/28/2017 6:22:19 AM
  • Nắng: ừ , cj bt r 8/28/2017 6:22:30 AM
  • emily: cj xem đề chưa ạ? 8/28/2017 6:22:48 AM
  • Nắng: rồi 8/28/2017 6:23:01 AM
  • emily: cj có thể làm đc k ạ? 8/28/2017 6:23:34 AM
  • Nắng: được 8/28/2017 6:23:41 AM
  • Nắng: có lẽ thế ... 8/28/2017 6:23:44 AM
  • emily: cj hk giỏi nhỉ 8/28/2017 6:24:17 AM
  • Nắng: cj mà làm dài qá 8/28/2017 6:24:20 AM
  • Nắng: thì đừng trách cj nhé 8/28/2017 6:24:24 AM
  • emily: dài càng tôt mà 8/28/2017 6:24:34 AM
  • Nắng: ok 8/28/2017 6:24:37 AM
  • emily: happy 8/28/2017 6:24:41 AM
  • emily: cj đang làm hả? 8/28/2017 6:25:31 AM
  • Nắng:8/28/2017 6:26:05 AM
  • emily: wow 8/28/2017 6:26:25 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:29 AM
  • emily: not_worthy 8/28/2017 6:26:33 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:36 AM
  • Nắng: miễn lễ 8/28/2017 6:26:38 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:41 AM
  • emily: hihihi 8/28/2017 6:26:46 AM
  • emily: hee_hee 8/28/2017 6:26:50 AM
  • emily: đa tạ 8/28/2017 6:26:57 AM
  • emily: hee_hee 8/28/2017 6:27:03 AM
  • emily: cj xong chưa cj/ 8/28/2017 6:30:48 AM
  • Nắng: no_talking 8/28/2017 6:30:57 AM
  • emily: cj sao vậy ạ? 8/28/2017 6:31:51 AM
  • emily: sad 8/28/2017 6:32:03 AM
  • emily: cj ơi 8/28/2017 6:32:48 AM
  • Nắng: ơi 8/28/2017 6:33:02 AM
  • emily: cj ik đâu? 8/28/2017 6:34:03 AM
  • emily: hay cj nêu ý chính cg đc 8/28/2017 6:34:14 AM
  • Nắng: https://hoc24.vn/hoi-dap/question/120798.html 8/28/2017 6:47:38 AM
  • Nắng: vào đi , ko cần đăng kí cx đọc đk 8/28/2017 6:47:49 AM
  • emily: vâng 8/28/2017 6:48:21 AM
  • emily: thanks 8/28/2017 6:48:22 AM
  • Nắng: kcj 8/28/2017 6:48:29 AM
  • Phù thủy nhỏ: hi mn 9/16/2017 8:56:16 AM
  • Phương Thảo: vỏ sò khóa là gì? 9/25/2017 8:53:52 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:00:56 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:01:00 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:01:48 AM
  • carolina26072005: happy 11/28/2017 8:24:30 PM
  • carolina26072005: hello 11/28/2017 8:24:39 PM
  • kocotendst2k3: 2222 12/4/2017 9:14:23 PM
  • kocotendst2k3: Cho e hỏi chi tiết nào đã thể hiện sâu sắc, cảm động tình cha con của ông 6 vs bé thu ạ 12/4/2017 9:16:06 PM
  • hieuchutien: chich nhau ko 12/5/2017 5:48:55 AM
  • hieuchutien: cai dit nhau 12/5/2017 5:49:15 AM
  • hieuchutien: cut 12/5/2017 5:49:17 AM
  • hieuchutien: cc 12/5/2017 5:49:18 AM
  • ๖ۣۜGemღ: Mọi người có thắc mắc hay cần hỗ trợ gì thì gửi tại đây nhé https://goo.gl/dCdkAc 12/6/2017 8:53:59 PM
  • letu200122: @@ 12/12/2017 11:12:14 PM
  • letu200122: alo 12/12/2017 11:12:42 PM
  • свинья: rolling_on_the_floorrolling_on_the_floor 12/30/2017 8:58:02 PM
  • lanho: hi 1/10/2018 8:51:32 PM
  • dumamiconvan: sao A 2/26/2018 8:09:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:30 PM
  • Rushia : .. 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:34 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:34 PM
  • ๖ۣۜBossღ: x 3/2/2018 9:19:09 PM
  • ๖ۣۜBossღ: h 3/4/2018 7:11:57 PM
  • ngocanhwang: em chào mọi người ạ 3/18/2018 6:07:38 PM
  • caochanhkhai1111: hello 4/5/2018 10:21:43 PM
  • dungvong2006: helo 4/9/2018 9:04:06 PM
  • dungvong2006: em Ng Hồng Ngọc có đây k nhỉ 4/9/2018 9:05:38 PM
  • Nguyễn Nhung: angel 4/9/2018 9:09:49 PM
  • maizabuza: happy 9/26/2018 5:36:49 AM
  • nguyenlena123: big_grin 10/8/2018 10:10:20 PM
  • nguyenlena123: thương vợ của tú xương và chữ người tử tù của nguyễn tuân 10/8/2018 10:10:58 PM
  • nguyenlena123: Bác Dương thôi đã thôi rồi 10/8/2018 10:12:20 PM
  • nguyenlena123: Hãy có một lần nhìn lại bản thân và cách đối xử với nó với cha mẹ 10/8/2018 10:14:14 PM
  • shixamxi2005: r đâu 2/28/2019 1:26:03 PM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely