1345

bài tập

Bài 1.
     Đời người không khỏi có những lúc bước chân lang thang đưa ta đến những sông hồ, bờ bãi, biển cồn, núi cao, đèo dốc… những không gian trời nước mênh mông. Nghĩa là ta sẽ phải đối diện với cái vô cùng vô tận của không gian, cái vô thủy vô chung của thời gian. Khi ấy, ngay cả những người vô tâm nhất cũng không tránh khỏi cảm giác cô đơn. Bởi người ta thấy rõ hơn bao giờ hết rằng con người thật là nhỏ nhoi, kiếp người chỉ là thoáng chốc. Đời người sao quá phù du! Ta bỗng thấy mình như đang bơ vơ lưu lạc giữa cái mênh mông của đất trời, trôi nổi trong cái xa vắng, rợn ngợp của thời gian. Ta bỗng thấy cái chơi vơi giữa thế gian này! … Ấy là lúc có thể đọc thơ Huy Cận. Bởi đó là thế giới của Lửa thiêng, thế giới của Tràng giang. Thi sĩ đã cất lên giùm ta cái cảm xúc, cái nỗi niềm nhân thế đó. 
      Ngày trước, để bênh vực cho bài Tràng giang (cũng là bênh vực cho Thơ Mới), người ta đã phải viện ra cái kỉ niệm của một chiến sĩ nào đó mà rằng: một người cách mạng như thế cũng rất yêu hai câu đầu của bài Tràng giang, vậy bài thơ này là lành mạnh, nỗi buồn ở đấy là trong sáng, chứ không có hại gì! Rồi ngay cả Xuân Diệu cũng phải lập cả một hàng rào che quanh để bênh vực cho lòng yêu thiên nhiên của bài thơ. Không, lòng yêu thiên nhiên tạo vật tự nó là một giá trị, ngang hàng với những tình yêu khác. Lòng yêu thiên nhiên là một cảm xúc thuộc về nhân tính. Tự nó không cần bảo vệ! 
     Tràng giang không nhất thiết phải là sông Hồng, sông Cửu Long, đó cũng có thể là Hoàng Hà, Hằng Hà,Vonga, Dương Tử, … cũng được chứ sao. Tràng giang là một tạo vật thiên nhiên. Nó có thể được gợi Ý, gợi tứ từ sông Hồng, từ một chỗ đứng xác định là bến Chèm. Nhưng khi đã thành hình tượng “tràng giang” thì nó đã khước từ mọi địa danh, địa chỉ cụ thể để trở thành một tạo vật thiên nhiên phổ quát rồi. Lòng yêu của thi sĩ trong đó là một lòng yêu dành cho thiên nhiên, tạo vật, một lòng yêu có ở hết thảy con người! Và đó chính là tầm vóc đáng phải có của bài thơ này!
      Cảm hứng của bài thơ quả là cảm hứng không gian. Không gian được trải ra từ mặt sông lên tận chót vót đỉnh trời, không gian được mở ra từ thẳm sâu vũ trụ vào tận thăm thẳm tâm linh con người. Ấy là một thế giới vừa được nhìn bằng sự chiêm nghiệm cổ điển vừa được cảm nhận bằng tâm thế cô đơn của một cái tôi hiện đại, rất đặc trưng cho thơ Mới. Có lẽ vì thế chăng mà Tràng giang hiện ra như một bức tranh tạo vật trường cửu, lớn lao, vừa hoang sơ, vừa cổ kính, trong đó thi sĩ hiện lên như một lữ thứ đơn độc, lạc loài?
       Tràng giang là một không gian mênh mông vô biên. Ngay cái tên bài thơ đã như một cửa ngõ mở vào vô biên rồi. Tràng giang gợi ra hình tượng một con sông chảy mênh mang giữa trời và đất. Vầ câu đề từ như thêm một lần nữa vén lên bức rèm, bước qua một hành lang mở thông vào vô biên: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Nhưng dẫu sao những hình ảnh sống động của thế giới ấy có thể cảm nhận hoàn toàn trực quan chỉ thực sự mở ra với những câu đầu: 

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, 
Con thuyền xuôi mái nước song song. 
       Có lẽ cái chất thơ của sông nước đã nhập vào những câu thơ thế này để phô bày vẻ đẹp của nó. Câu thứ nhất tả sóng, câu thứ hai tả những dòng trôi, những luồng nước trên mặt sông. Nếu câu thứ nhất gợi được những vòng sóng đang loang ra, lan xa, gối lên nhau, xô đuổi nhau đến tận chân trời, thì câu thứ hai lại vẽ ra những luồng nước cứ song song, rong ruổi mãi về cuối trời. Không gian vừa mở ra bề rộng, vừa vươn theo chiều dài. ĐÚng là nó có thấp thoáng âm hưởng hai câu thơ cũng tả sông nước trong bài Đăng cao nổi tiếng của Đỗ Phủ: 
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
(Ngàn cây bát ngát, lá rụng xào xạc, 
Dòng sông dằng dặc, nước cuồn cuộn trôi)
      Cũng là đối xứng, nhưng Đỗ Phủ viết theo lối đối chọi, còn Huy Cận- có cải biên, chỉ dùng tương xứng thôi. Cũng dùng những từ láy nguyên để gợi tả, trong khi tác giả Đăng Cao đặt ở giữa câu, thì tác giả Tràng giang lại đẩy xuống cuối câu. Nhờ thế hai từ láy nguyên “điệp điệp”, “song song” tạo ra được dư ba. Nghĩa là lời thơ đã ngừng mà Ý hướng và âm hưởng vẫn còn vang vọng như dội mãi vào vô biên. Dòng sông lớn mang trong lòng một nỗi buồn lớn!
      Suốt dọc bài thơ, Huy Cận còn dày công khắc họa vẻ mênh mông vô biên bằng biết bao chi tiết giàu tính nghệ thuật nữa. Vừa dùng cái lớn lao để gợi sự mênh mông, vừa dùng cái hữu hạn để gợi sự vô cùng. Ấy là hàng trăm ngả sông, những cồn đất, những bờ xanh, bãi vàng, lớp lớp mây cao đùn núi bạc, ấy là một cành củi khô, một bóng chim nhỏ … Nhưng có lẽ bức tranh vô biên của Tràng giang đã đạt đến tận cùng là ở hai câu: 

Nắng xuống, trời lển, sâu chót vớt,
Sông dài, trời rộng, bên cô liêu. 

         Câu trên là sự vô biên được mở về chiều cao. Câu dưới là sự vô biên cả về bề rộng và chiều dài. Có một khoảng không gian đang giãn nở ra trong cụm từ: “Nắng xuống, trời lên”. Hai động từ ngược hướng “lên”, “xuống” đem lại một cảm giác chuyển động rất rõ rệt. Nắng xuống đến đâu, trời lên đến đó. Và nó được hoàn tất bởi cụm từ “sâu chót vót”. Có cái gì như phí lí. Có lẽ không chịu được vẻ phi lí mà nhiều người đã cố tình in và viết thành “sầu chót vót” để dễ hình dung hơn. Tiếc rằng, chính “sâu” mới là sự xuất thần của hồn thơ. Đây không phải là sự lạ hóa ngôn từ. Nếu có thì trước hết là sự lạ hoátrong cách nhìn, trong cảm giác. Ánh mắt tác giả không dừng lại ở đỉnh trời một cách thường tình để nhận biết về chiều cao mà nó như xuyên vào đáy vũ trụ để cảm nhận về chiều sâu. Song, dầu sao, đây vẫn là chiều sâu của cái nhìn ngước lên. Cho nên mới là “sâu chót vót”. Chót vót vốn là một từ láy độc quyền của chiều cao, bỗng phát huy một hiệu quả không ngờ. Nó còn gợi sắc thái chưa hoàn tất. Dường như cái nhìn thi sĩ vươn tới đâu thì trời sẽ sâu tới đó, mỗi lúc một chót vót hơn. Vừa tương xứng, vừa hô ứng với câu trên, câu thứ hai mở ra bát ngát, tít tắp. Câu thơ được viết giản dị, không chữ nào lạ, ngỡ như chỉ là sự sắp xếp các chiều kích của tràng giang, thế thôi. Vậy mà thấy động. Các trạng thái tĩnh, các tính từ dường như cựa quậy đòi động từ hóa. Trong áp lực của cái nhìn xa hút, cso cảm giác sông dài ra, trời rộng thêm, bến cô liêu đi vậy. 

Thế mới lạ, không có chữ nào lạ hóa, mà vẫn mới lạ. Thế mới biết, chính cảm xúc mới lạ làm nên cái mới lạ chân chính cho nghệ thuật. 

3. Là một người thuộc lớp tây học, nhưng tâm hôn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi, nên không gian Tràng giang cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả cái trạng thái tĩnh của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan niệm, tĩnh là gốc của động, tĩnh là cội nguồn của thế giới. Cùng với nó, tĩnh tại và thanh vắng cũng trở thành một tiêu chuẩn mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái tĩnh vắng mênh mông trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không, một hư không chứa đầy âm nhạc, chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của Tràng giang được cảm nhận bằng nỗi cô đơn bơ vơ. Có lẽ vì thế mà Tràng giang còn là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái Tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông của đồng loại. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng. 

         Đúng ra con người cso thoáng xuất hiện trong hình bóng chiệc thuyền ở đầu bài thơ. Một con thuyền “xuôi mái”, thụ động buông trôi trên dòng nước luân lạc. Và nó cũng chỉ hiện ra thoáng chốc, sau đó nép mình vào bờ bãi mà mất hút trên sông nước, trả lại không gian cho sự ngự trị của muôn ngả sông, nghìn luồng sóng: 

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả, 
Củi một cành khô lạc mấy dòng. 

Khát thèm âm thanh của cuộc sống người, thi sĩ lắng nghe, không dám mơ đến thứ âm thanh náo động, vui tươi, chỉ là âm thanh xoàng xĩnh nhất, buồn chán nhất của cuộc sống người, thế mà cũng không có: 

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Chứ “đâu” ở đầu câu có thể hiểu là từ chỉ nơi chốn với nghĩa là “đâu đó”. Cũng có thể hiểu là phủ định từ với nghĩa là “đâu có”. Dù theo nghĩa nào thì nó cũng nhằm nói tới cuộc sống tan rã, một đằng thì đã vắng bóng, một đằng thì đang vắng bóng mà thôi. Rồi cả đến những phương tienj giao lưu gợi sự có mặt của con người cũng không hề có: 

Mênh mông không một chuyến đò ngang,
Không cầu gợi chút niềm thân mật. 

Và sự phủ định cuối cùng: “Không khói hoàng hôn…”. Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng của “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén, Ngày xem hoa bợ cây” (Nguyễn Trãi), “Lác đác bên sông chợ mấy nhà” (Bà Huyện Thanh Quan) hay “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” (Nguyễn Khuyến) nữa. Tràng giang hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thủa khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế. Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi, cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh này, hơn nghìn năm trước, Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê: 

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai- Tản Đà dịch)

Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần khói sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên đâu. Nhớ nhà như là để vượt thoát, để trốn chạy nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:

Lòng quê dợn dợn với con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. 

Dòng sông chảy giữa mênh mang trời đất đến đây như bống dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê. Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất. 

Đứng trước những dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta, nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau khi ta tan biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng dưng không them biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn. Đứng bên dòng sông lớn, hãy lắng nghe nhịp triều miên viễn mênh mang. Nó là nhịp ca của vĩnh hằng, nhịp của vũ trụ. Và hình như, Huy Cận đã chuyển dược nhịp chảy trôi miên viễn ấy vaoaf trong bài thơ. Những từ láy, nhất là láy nguyên “điệp điệp”, “song song”, “lớp lớp”, “dợn dợn”, … ẩn hiện trong toàn bài không chỉ gợi được sự đường bệ mà còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp// Con thuyền xuôi mái nước song song”. Các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối liên tiếp như một chuỗi dài, tạo nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: “nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót – Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”, ‘hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, … cứ nối nối, tiếp tiếp, cứ song song trùng điệp không cùng … khi hiện thành câu chữ, khi chìm trong âm vang. Tất cả những yếu tố ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau tạo thành một âm hưởng cứ ngấm ngầm chảy đây đó trong lòng bài thơ: âm hưởng trôi xuôi bất tận. Nó khiến cho ta có một cảm tưởng thật rõ rệt mặt bằng chữ nghĩa của cả bài thơ cũng như đang xuôi dòng trôi dạt, những hình ảnh, những hình tượng cũng đang lặng lẽ xuoi dòng: dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian mà còn chảy trong thời gian … Từ thủa khai thiên lập địa, sông chảy miết qua các thời đại mà về đây. Phải chăng đây là chiều thứ tư đầy mơ hồ và hư ảo của không gian Tràng giang. 

Tôi đọc bài thơ bao lần và không sao xóa được khỏi lòng mình cái cảm giác bâng quơ này: mình là cái cành củi khô luân lạc trên dòng tràng giang kia hay mình là cánh chim nhỏ lạc lõng dưới lớp lớp mây cao đùn núi bạc đó… Nó là cảm tưởng của một đứa trẻ… Mà dường như cũng là của một người già… Bởi vì Tràng giang là dòng sông mà cũng là dòng đời chăng? 
Sưu tầm
Bài 2.
BÀI LÀM
Tự tình ở số ít những bài thơ mà Hồ Xuân Hương bộc lộ trực tiếp “cái tôi” đầy xúc cảm và bản lĩnh của mình trước cuộc sống .
Bài thơ mở đầu với một không gian:
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn.
Nhưng đấy cũng là một thời gian.Nói đấy đủ hơn ,Tự tình là tiêng lòng cất lên vào một không – thời gian.Không - thời gian ấy trong văn học trung đại thường hiếm , và nếu có thì đó là tiếng lòng của một đấng máy râu ,xót xa , cảm hoài trước thời thế .Nếu xem Truyện Kiều ra đời sau khi Hồ Xuân Hương đẫ mất thì kiểu bộc lộc tâm tình đao là liền kề , ở Thuý Kiều ,với nhiều trạng huống ,sau khi tảo mộ ,gặp Kim Trọng (Một mình nặng ngắm bóng nga / Rộn ràng đường gần với nỗi xa bời bời…),lúc đã quyết định bán mình chuộc cha ( Nỗi riêng ,riêng những bàn hoàn /Dầu chong trắng đĩa , lệ tràn thấm khăn) , khi thất thân bởi Mã Giám Sinh (Đêm xuân một giấc mơ màng/Đuốc hoa đẻ đó mặc nàng nằm trơ/Nỗi riêng tầm tã tuôn mưa),hoặc lúc ở lầu xanh 9Khi tỉnh rượu lúc tàn canh /Giật mình mình lại thương mình xót xa)…

Đêm khuya thanh vắng là lúc con người thường đối diện với chính ản thân mình , để xót thương , để tự vấn , tự nhìn ngắm lại bản thân.Tự tình là một cách đối diện như thé . Đấy là lúc những âm vang của cuộc đời dường như không động đến con người ,song con người lại cảm nhận được cả bước đi của cuộc đời .Tiếng trống cnah chỉ văng vẳng , tức ngưòi nghe phải lắng tai nghe , nhưng nhịp điệu của nó thì đã qua đầy đủ ,với tất cả sự hối hả , thúc giục ( trông canh dồn ).Nó thúc giục người ta chẳng phải để hành động mà soi lại đời mình:
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Hồng nhan là gương mặt hồng , má hồng , đồng thời cũng để người đàn bà đẹp,người đàn bà đẹp .Cách Hồ Xuân Hương trên ,dưới bốn trăm năm có một người từng một mình một bóng dưới ánh trăng thanh , cũng cảm nhận bước đi của thời gian với bao u hoài:

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
(việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng , một cuộc say)
(Đặng Dung)
Người ấy là đấng trượng phu, đã sốt ruột , thậm chí đến đớn đau trước dòng thời đời tuôn chẩy trong sự bất lực của chính mình.
Còn ở đây , người đang cảm nhận vè cuộc đời lại là một phụ nữ.Thế cuộc cũng khác .Nguời đó biết được giá trị của mình ( là hồng nhan=người đàn bà đẹp ,có tài sắc ) .Nhưng biết được phẩm giá của mình không phải để sung sướng ,tự hào .Trái lại , biết chỉ thêm ngậm ngùi cay đắng.Vì sao như vậy? Từ cái đạt trước một dnah từ sẽ khiến danh từ ấy mang sác thái ngữ nghĩa của sự xem thường ,khinh miệt,như:cái thằng ấy ,cái con ấy v.v…hồng nhan vốn là danh từ để chỉ người đẹp khi đặt sau từ cái đã không còn nguyên giá trị nữa .Sự tươi xinh , đẹp đẽ kia chỉ có giá trị tự nó thôi.Chưa hết ,trước cái hông nhan là tính từ trơ,vốn có hàm nghĩa xấu ,chỉ sự không biết xấu hổ ( Cứ trơ cái mặt ấy ra! ), đồng thời chỉ sự lẻ loi ,không biết nương tựa vào đâu (Đứng trơ giữa đồng) .Hoá ra,hồng nhan -một phẩm giá con người trong cuộc thế này đã trở thành thứ gì chẳng có ích gì, thậm chí đang xấu hổ nữa!
Bốn câu thơ tiếp thưo ( thực và luân ) nói rõ thêm cái tình thế đáng buồn đó:
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây,đá mấy hòn.
Chén rượu cũng như miếng trầu là những thứ không làm cho người no nê,nhưng nhiều lúc khiến người ta vui sướng , thân mật , bớt buồn , quên đời.Thế mà,chén rượu ở đây không giúp ích điều đó ,bởi hương đưa say lại tỉnh.Vầng trăng tròn chỉ sự viên mãn ,tốt đẹp, song mong ước ấy mãi chưa tới ( Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn ).Thành ra hai câu luận có vẻ như tả cảnh ( về mặt đất ,về bầu trời ) mà thực ra là sự bộc lộ một thái độ bực dọc theo kiểu của Hồ Xuân Hương .Cuộc đời đang diễn ra trước mắt của nữ sĩ thật vẹo vọ,khập khễnh ,chẳng ra dáng ra hình gì !

Hai câu kết đẩy đến cùng tâm trạng của Hồ Xuân Hương trước cuộc đời:

Ngàn nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẽ tí con con! 
Cuộc đời đáng chán , đáng buồn như thế thì cái sự xuân tới ,xuân qua nào có gì đáng nói ? Nó lặp đi lặp lại buồn tẻ đến mức người ta phải ngán ngẩm .Thời Thơ Mới ,các thi sĩ thường hay bộc lộ nỗi sầu,nỗi khổ trước cuộc đời ( Tôi có chờ đợi ai đau / Ai mang xuân đến gửi thêm sầu -Chế Lan Viên...).Hồ Xuân Hương không nói tới nỗi buồn -dường như điều đó trái với bản tính của thi sĩ , người thích sự thẳng thắn , mạnh mẽ .Bà nói tới nỗi niềm ngán ngẩm .Phải buồn lắm , chán lắm ngưòi ta mới có tâm trạng như vậy .Và ,cũng phải đau đớn , phẫn uất lắm người ta mới có một cách thề như vậy trước cuộc đời! 
Sưu tầm

Sưu tầm
Bài 3.
      Chi tiết nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng quyết định mật thiết đến sự thành công của tác phẩm. Nếu không có chi tiết nghệ thuật thì tác phẩm văn học dù ở thể loại nào đi chăng nữa thì cũng chỉ như cái vỏ âm thanh vô hồn không sức sống. Cũng vậy, Nam Cao cũng cần lắm những chi tiết nghệ thuật để “Chí Phèo” trở nên một kiệt tác hoàn hảo đạt đến sự chuẩn mực của nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa. Cùng với hình tượng nhân vật Chí Phèo, rất nhiều những chi tiết nghệ thuật khác đã góp phần vào thành công của truyện, mà ta không thể không kể đến một chi tiết dù bé nhỏ nhưng vô cùng giàu ý nghĩa và quan trọng góp phần bộc lộ tư tưởng của tác giả: “ những âm thanh mà Chí Phèo nghe được trong buổi sáng tỉnh dậy sau cơn say”.
      Chí Phèo là một đứa trẻ bị bỏ rơi, được một người đi thả ống lươn nhặt về. Từ bé đến năm hai mươi tuổi, Chí được nhân dân lao động cưu mang đùm bọc. Lớn lên trong sự lương thiện, đứa trẻ mồ côi Chí Phèo, dẫu cho phải làm thuê, cuốc mướn vẫn có một tấm lòng lương thiện và một cuộc sống tốt lành. Anh thanh niên hai mươi tuổi “hiền như đất” ấy còn có một ước mơ rất đỗi chính đáng: có một cuộc sống ổn định, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ ở nhà dệt vải, một ước mơ rất đỗi bình dị của người dân lao động. Thế nhưng phận đời đưa đẩy, Chí vào làm canh điền cho lí Kiến. Ở đây bánh xe cuộc đời Chí bắt đầu quay những vòng quay định mệnh, bắt đầu từ việc Chí mới hai mươi tuổi, phơi phới sức trai nên đã bị bà ba, một dạng phó đoan, bắt làm những việc bất chính. Bà ta cứ bắt Chí phải bóp chân, mà cứ bắt “bóp lên trên, lên trên nữa”. Chí thừa nhận, “hai mươi tuổi, người ta không là đá, nhưng cũng không toàn là xác thịt”, Chí ý thức được những việc mình đang làm, Chí không sa vào cám dỗ. Lòng tự trọng khiến Chí cảm thấy nhục nhã cho mình, nhưng lại sợ. Chính vì cơn ghen cuồng nộ của lí Kiến, Chí bị đẩy vào tù, cùng với một bài học cay đắng về cuộc sống: muốn tồn tại phải ác, phải mạnh.
      Trở về sau bảy, tám năm, Chí trở nên một tên gớm ghiếc, cái đầu trọc lốc, cái răng trắng hớn, cái mặt cơng cơng, hai mắt gườm gườm, trông Chí như một tên du côn, chẳng còn chút gì là anh thanh niên Chí Phèo ngày xưa nữa. Không những thế, những cử chỉ của Chí cũng khiến mọi người dè chừng khiếp sợ: uống rượu, chửi bới, lúc nào cũng sẵn sàng rạch mặt ăn vạ. Nhưng Chí chỉ thực sự trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại khi bị lí Kiến, giờ là bá Kiến, lợi dụng trở thành tay sai cho lão. Chí ngày càng hung hãn, ngang ngược trong những cơn say triền miên. Hắn đã chà đạp biết bao gia đình, đã làm khổ biết bao nhiêu máu và nước mắt của những người dân hiền lành, lương thiện. Chí làm tất cả những việc đó trong cơn say, và rồi cũng chính trong cơn say ấy, theo một cách bản năng, Chí gặp thị Nở - một người đàn bà xấu xí, ngẩn ngơ, ế chồng...
      Sáng hôm sau, Chí tỉnh dậy trong túp lều của mình. Lần đầu tiên sau mười mấy năm, Chí bắt đầu cảm nhận được thiên nhiên xung quanh mình. “Mặt trời chắc đã lên cao, và nắng bên ngoài bắt đầu rực rỡ”. Lần đầu tiên từ khi từ nhà tù trở về, Chí ý thức được cảnh vật đẹp đẽ đầy sức sống xung quanh mình. Tiếng chim hót ríu rít bên ngoài vọng vào tai Chí, âm thanh trong trẻo của tiếng chim khiến Chí chú ý đến những điều thường nhật vẫn diễn ra bên ngoài túp lều của mình. Những điều ấy thật đơn giản và ngày nào cũng có, thế nhưng tại sao maix cho đến tận giờ này Chí mới nhận ra sự có mặt của nó? Cũng như trong “Vợ chồng A Phủ”, khung cảnh thiên nhiên đầy sức sống vào độ xuân về Tết đến đã tác động vào tâm thức Mị giúp Mị bừng tỉnh trong cơn mê mất ý thức, thì trong “Chí phèo” Nam cao cũng sử dụng sức sống của thiên nhiên để đánh thức một kẻ đã bị cuốn vào dòng đời lầm lạc mà đánh mất bản thân mình. Từ khi trở về sau gần chục năm ở tù, lúc nào Chí cũng say, hắn tràn từ cơn say này đến cơn say khác, nhưng bây giờ hắn tỉnh. Hắn thực sự tỉnh táo để nhận ra được cuộc sống xung quanh mình, để cảm thấy bâng khuâng, thấy đắng miệng và đặc biệt là hắn thấy “lòng mơ hồ buồn”! Cuộc đời hắn có gì đáng buồn, nơi ở được bá Kiến chu cấp, không ai dám lên mặt với hắn, cái “nghề” của hắn cho hắn cái ăn mỗi ngày, vậy thì hắn có gì phải buồn? Nhưng cuộc đời đâu chỉ có thế, đâu chỉ quanh quẩn trong mỗi chuyện nơi ăn chốn ở, sự sống nó đòi hỏi nhiều thứ hơn, nhiều hơn những gì mà hắn đang có. Hắn nhận ra sự tương phản rõ ràng ngay trong chính căn lều của mình. Trong khi ngoài kia, chim chóc thi nhau hót ríu rít, ánh nắng rực rỡ tràn ngập mọi thứ thì trong cái lều ẩm thấp của hắn lại “mới chỉ hơi lờ mờ”. Trong cái lều chật hẹp ẩm thấp ấy, hắn đã quên hết mọi thứ xinh đẹp của cuộc sống, hắn lúc nào cũng chỉ thấy tù mù, như chính cuộc đời của hắn vậy, tối tăm đối lập với thế giới bên ngoài. “Ở đây, người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”. Điều đó khiến hắn “mơ hồ buồn”. Hắn buồn một nỗi buồn vô định, không rõ ràng, hắn lờ mờ nhận ra rằng cuộc đời mình thật đáng thương. Những cảm giác mơ hồ đến với hắn, thật nhẹ nhàng nhưng cũng đủ làm hắn phải suy nghĩ. Hắn đã tỉnh dậy sau một cơn say rượu, hay là một cơn say mất phương hướng.
       Hắn “bủn rủn, tay chân không buồn nhấc”, hắn hơi rùng mình khi nghĩ đến rượu. Hắn sợ rượu. Trong suốt ngần ấy năm đắm mình trong những cơn say không có bắt đầu và kết thúc, hắn đã uống quá nhiều rượu rồi. Hắn tìm đến rượu như một sự chạy trốn, để hắn khỏi phải đói mặt với cái thực tại tàn nhẫn bất công. Tiếng chim hót ngoài kia vẫn vẳng bên tai hắn. Cuộc sống ngoài ấy sao mà vui vẻ quá! Có tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, có tiếng cười nói của tiếng người đi chợ. Những âm thanh của cuộc sống lao động bình dị ấy đã xuyên qua thính giác của Chí, va đập vào tâm hồn của hắn, để rồi hắn thở dài một tiếng than: “Chao ôi là buồn!”. Nam cao đã thật tinh tế để có thể nhận ra nỗi buồn mơ hồ của Chí, nhưng lại càng sâu sắc hơn khi thấu hiểu tiếng than của Chí Phèo. Nỗi buồn mông lung ấy giờ đây đã dâng lên thành lời than, sự đối lập mà Chí nhìn thấy lại càng rõ ràng. Trong gần hai mươi năm sống kiếp quỷ dữ, Chí chỉ nghe thấy tiếng chửi bới, tiếng đánh đâp, tiếng khóc than, những âm thanh đó khác hẳn hoàn toàn với những gì Chí đang nghe thấy: tiếng cười nói của cuộc sống trong lành. Bản tính cốt yếu của sự sống chính là cảm giác và tư tưởng, cuộc sống của những con người bên ngoài kia mặc dù có lam lũ vất vả, nhưng ắt hẳn nó vẫn luôn lạc quan và ám áp vui tươi. Còn Chí, cuộc đời Chí chỉ có doạ nạt, đâm chém... Đó đâu phải là sống, đó là tồn tại vất vưởng bằng những chuỗi ngày đen tối nhất trong cuộc đời Chí. Anh thanh niên hai mưoi tuổi ngày nào đâu rồi, sao giờ chỉ còn lại kẻ mà ai cũng gớm ghiếc, ai cũng xem là quỷ dữ?! Chí không chỉ nghe bằng đôi tai cha sinh mẹ đẻ, mà Chí con nghe bằng đôi tai của một tâm hồn đã thức tỉnh.
     Nếu trong “Vợ chồng A Phủ”, tiếng sao đêm tình mùa xuân đưa Mị trở về với thời con gái hồn nhiên hạnh phúc, thì cũng với một tác động như vậy, Nam Cao đã để Chí Phèo nhớ về cái ước mơ một thời xa xăm của hắn qua tiếng những người đàn bà đi bán vải. Nam Cao đã đặc biệt chú ý miêu tả âm thanh này bằng một đoạn đối thoại, bởi điều này đặc biệt quan trọng đối với Chí Phèo. Hiện ra trong tâm trí hắn giờ đây là hình ảnh những người phụ nữ, tảo tần lam lũ vì gia đình, hết lòng lo cho chồng cho con. Cuộc sống của những người đàn bà ấy có thể vô cùng nhọc nhằn trong công việc mưu sinh, nhưng ấm áp vì hạnh phúc gia đình. Điều đó làm hắn cảm thấy “nao nao buồn”. Nỗi buồn không những dâng lên thành tiếng than mà giờ đây đã khiến hắn rưng rưng cảm động. Hắn tìm lại cái ước mơ hắn bỏ quên trong hai mươi năm qua: một gia đình nho nhỏ, đầm ấm. Hắn không cần những điều cao xa, hắn chỉ ao ước có một gia đình bình thường, “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”, nhưng cái ước mơ ấy dường như đã rất xa rồi. Cái ước mơ hạnh phúc ấy thật đơn xơ nhỏ bé đến tội nghiệp, nhưng Chí vẫn không thể với tới được nữa rồi. Hắn thấy mình thật cô độc. Hắn như cười buồn cho mình: “Buồn thay cho đời!”. Hắn thấy mình thật thảm hại, thấy mình “đã tới cái dốc bên kia của đời”. Nỗi buồn của hắn cũng vì thế mà mang tính triết lí của một người đã biết suy nghĩ. “Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Câu văn thật lạ, theo lẽ thường tình, chữ “và” không được phép xuất hiện sau dấu phẩy, nhưng ở đây Nam Cao lại để cả hai hiện diện cùng lúc nhằm mục đích nhấn mạnh sự đáng sợ của nỗi cô độc. Nam Cao luôn đề cao con người tư tưởng, ông đặc biệt chú ý đến những hoạt động bên trong con người và coi đó là nguyên nhân của những hành động bên ngoài, chính vì thế nỗi cô độc là một điều vô cùng đáng sợ, đáng sợ hơn tất thảy những thứ khác. Chí Phèo sợ điều ấy. Hắn khao khát muốn được giao tiếp với cuộc sống bằng phẳng lương thiện bên ngoài, và đúng lúc ấy thì chiếc cầu nối đưa hắn trở về với thế giới vốn dĩ của hắn – thị Nở bước vào. Thị, chính thị sẽ mở cánh cổng để hắn bước vào thế giới của thị, để hắn trở về với hình ảnh anh thanh niên hiền lành, chất phác ngày nào. Bằng sự thương cảm xót xa trước cảnh đời bất hạnh, nam Cao đã để thị Nở thay mặt mình giúp Chí Phèo nhận thức được cuộc sống, thay đổi quan niệm sống và thức tỉnh ý thức mình.
      Nếu như thị Nở là con đường để Chí Phèo làm lại cuộc đời thì những âm thanh Chí nghe được trong buối sáng sau cơn say đã tác động vào tâm thức Chí, giúp Chí nhận ra hiện tại và nhớ về quá khứ, đồng thời khơi dậy nơi Chí một khao khát sống. Nam cao đã nhờ vào những âm thanh ấy mà miêu tả tâm lí Chí Phèo một cách chân thực, logic với nỗi buồn rất riêng. Nỗi buồn của Chí được miêu tả nhiều lần, mỗi lần lại là một cung bậc, một sắc thái khác nhau, gắn với một nguyên cớ khác nhau. Nỗi buồn ấy cho dù được miêu tả ở nhiều góc cạnh, song cuối cùng cũng đưa đến một mục đích: đánh dấu sự thức tỉnh của Chí Phèo. Chí giờ đây không còn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa mà đã trở thành một con người với những sắc thái cảm xú rất nhân bản, những chi tiết âm thanh ấy cũng vì thế mà trở nên rất quan trọng. Tếng chim hót rất đỗi bình dị, nhưng Nam Cao đã chọn nó để miêu tả sức sống của thiên nhiên; tiếng anh chèo gõ mái đuổi cá kia ngày nào cũng có, nhưng hôm nay Nam Cao đặc biệt nhắc đến để Chí Phèo nhận ra những âm thanh quen thuộc của đời sống lao động bình thường; và đặc biệt giữa muôn vàn những âm thanh, có thể lẫn lộn đâu đó tiếng chửi bới của một phiên chợ, nhưng Nam Cao đã phát hiện và ưu ái chọn lọc tiếng cười nói của những người đàn bà đi bán vải để gợi Chí Phèo nhớ đến cái mơ ước của một thời xa xôi. 
      Cũng như trong “Vợ chồng A Phủ”, tiếng sáo đêm tình mùa xuân được Tô Hoài miêu tả một cách công phu thì những chi tiết âm thanh ấy cũng đã được Nam Cao chọn lọc và miêu tả một cách chi tiết để làm nổi bật lên chủ đề tư tưởng nhân đạo cao đẹp của tác phẩm. Nam Cao đã phát hiện ra phần tốt đẹp trong con người Chí Phèo, để rồi xót thương, cảm thông và tin tưởng vào niềm khao khát sống một cuộc sống lương thiện và khát vọng muốn hưởng hạnh phúc chính đáng của Chí. Chính điều đó đã tạo nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm, đưa tác phẩm tiến gần về đỉnh cao nghệ thuật của văn học Việt Nam.

Sưu tầm
Bài 4.
1. Yêu cầu về kĩ năng:

_ Biết cách làm một bài nghị luận văn học để cảm nhận tác phẩm về nội dung, nghệ thuật

_ Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp, dùng từ

2. Yêu cầu về kiến thức:

Trên cơ sở hiểu biết, thí sinh trình bày theo nhiều cách nhưng cần nêu được những ý chính sau:

1. Tác giả, tác phẩm:

- Tác giả: Nguyễn Tuân là nhà văn mang phong cách tài hoa, uyên bác

- Tác phẩm: “Chữ người tử tù” rút ra từ tập “Vang bóng một thời” (1940), không chỉ thành công về nội dung mà còn có những nghệ thuật đặc sắc, nhất là tạo tình huống truyện độc đáo.
2. Phân tích cụ thể:

- Tìm hiểu về tình huống truyện trong tác phẩm tự sự, trong “Chữ người tử tù”

+ Sự gặp gỡ giữa những tâm hồn yêu cái đẹp trong hoàn cảnh éo le, đầy kịch tính.

+ Quản ngục, thơ lại là người có quyền trong nhà tù – Huấn Cao, phạm nhân đều hướng về cái đẹp của nghệ thuật thư pháp

- Khai thác tình huống truyện xoay quanh hai tuyến nhân vật:

+ Huấn Cao:

· Tài viết chữ đẹp hấp dẫn quản ngục, ông xem việc có được chữ của ông Huấn là có báu vật trên đời

· Tâm: yêu nước, hiên ngang, bất khuất của người có tài, “biệt nhỡn liên tài” để tìm người giữ chữ cho đời (chọn dẫn chứng và phân tích để làm bật lên những ý trên)

+ Quản ngục, thơ lại:

· Hai nhân vật này hợp lại để xin và giữ chữ bằng cái tâm hướng về cái đẹp

· Yêu cái đẹp đến độ dám chơi chữ với tử tù (chọn dẫn chứng và phân tích)

+ Và kết thúc của tình huống truyện là “cảnh cho chữ lạ lùng chưa từng có”:

· Cho chữ ở nhà ngục tử tù bật lên sự tồn tại vĩnh hằng của thư pháp ngay chốn tử tù

· Sự thay bậc đổi ngôi: người tù thì đứng, dù cổ mang gông, chân vướng xiềng vẫn ung dung cho chữ, còn thơ lại, quản ngục run run, khúm núm.

· Nhà tù tối tăm, hôi hám, dơ bẩn nhưng sáng rực với bó đuốc soi rọi trên ba cái đầu chụm vào nhau cùng hướng về tấm lụa bạch và mùi thơm của thoi mực.

· Sức mạnh của thư pháp cảm hứng kẻ lầm đường lạc lối về với nẻo chính đường ngay (minh họa và phân tích)

- Cảm nhận chung: Nghệ thuật tạo tình huống truyện trong “Chữ người tử tù” làm bật lên tư tưởng, nội dung của tác phẩm “Chữ người tử tù”.

3. Đánh giá tác giả, nghệ thuật tạo tình huống truyện của tác phẩm.


Bài 1.

NHÌN VỀ VỐN VĂN HÓA DÂN TỘC

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.    Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

          Trần Đình Hượu (1926 – 1995) quê ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ông là nhà nghiên cứu chuyên vè các vấn đề tư tưởng, văn hóa và văn học Việt Nam. Ông sở trường về nghiên cứu tư tưởng phương Đông, nhất là Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến tư tưởng, văn hóa, văn học Việt Nam. Định hướng nghiên cứu của ông khi đọc các hiện thượng văn hóa, văn học quá khứ là tìm mối liên hệ của quá khứ và hiện tại. Cuốn sách tập hợp các bài viết của ông có tên Đến hiện đại từ truyền thống đã nói lên định hướng nghiên cứu đó. Không thể hiểu đúng văn hóa và văn học Việt Nam hiện đại nếu như không hiểu biết quá khư. Một đặc điểm nữa trong các công trình nghiên cứu của ông là sự ngầm ẩn cảm hứng đối thoại, tranh luận. Không đơn giản, xuôi chiều, Trần Đình Hượu thường đặt lại vấn đề, xem xét vấn đề dưới góc độ khác, với chủ trương tôn trọng quá khứ, phân tích một cách khách quan các sự kiện lịch sử để tìm ra chân lý.

Bài viết được tác giả hoàn thành năm 1986, vào thời điểm Đảng ta phát động công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. văn hóa dân tộc sẽ ứng xử thế nào đây trong bước chuyển lớn này? Ông viết: “Nay chúng ta bước vào một khúc ngoặt vĩ đại của lịch sử, không thể không làm công việc tự ý thức, tự phê phán nghiêm túc văn hóa dân tộc như một yêu cầu như một yêu cầu của sự phát triển là một cảm hứng quan trọng trong nhiều công trình của Trần Đình Hượu.

2.    Về văn hóa Việt Nam

          Ở nước ta, nhất là thời điểm Trần Đình Hượu viết bài này, cách tiếp cận văn hóa dân tộc, đôi khi còn dựng lại ở mục đích tuyên truyền chứ chưa phải là khoa học. Trong phần mở đầu bài viết ( không được trích trong Ngữ văn 12), ông nhẹ nhàng chỉ ra hạn chế của cách tiếp cận đó như: “Khi kháng chiến thì nói đặc tính của dân tộc ta là yêu nước, bất khuất, khi xã hội xã hội chủ nghĩa thì là cần cù lao động, khi gặp khó khăn thì lại là lạc quan yêu đời”. Không nhằm thỏa mãn tinh thần dân tộc hay mục tiêu tuyên truyền, với tư cách là nhà khoa học, Trần Đình Hượu tìm bản sắc văn hóa dân tộc với cái nhìn khách quan, kh, đi tìm những yếu tố kế thừa và những yếu tố cần vượt qua của văn hóa truyền thống. Theo ông, “Tìm đặc sắc văn hóa dân tộc không phải chỉ để bồi dưỡng lòng tự hào, không phải chỉ để kế thừa theo lối lấy, bỏ, thêm, bớt mà còn để phát huy tiềm năng sáng tạo, giải phóng sức sáng tạo. Về mặt ấy thì thiên hướng, mục tiêu, cung cách sáng tạo đã bộc lộ trong quá khứ - có phần là mặt mạnh, có phần là mặt yếu – mới chỉ bảo được nhiều cho chúng ta trên bước đường hiện đại và tương lai” (Đoạn này cũng thuộc phần đầu bài viết không được trích trong sách giáo khoa). Cách đặt vấn đề của ông vì thế hấp dẫn, thuyết phục và có ý nghĩa.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.    Khái niệm “vốn văn hóa dân tộc”

          Khái niệm “văn hóa” được tác giả sử dụng để chỉ các lĩnh vực như là các thành tố cấu thành:  tôn giáo, triết học, khoa học, âm nhạc, kiến trúc, văn học,…

Khung thời gian của “vốn văn hóa dân tộc” được nói đến là trước thời kì cận – hiện đại, tức là khoảng từ đầu thế kỷ XX trở về trước, trước khi tiếp xúc văn hóa Đông – Tây thực sự diễn ra và có thể làm biến đổi văn hóa truyền thống.

Trong cụm từ “vốn văn hóa dân tộc” có khái niệm “dân tộc”. Tất nhiên đây cũng là một khái niêm khoa học khá phức tạp mà chương trình Ngữ văn lớp 12 chưa đề cập đến, song cần hiểu bản thân “dân tộc” đã chỉ khả năng giao lưu, tiếp nhận văn hóa và yêu cầu so sánh với văn hóa các dân tộc khác. Bàn về bản sắc hay đặc sắc của văn hóa dân tộc, theo Trần Đình Hượu, là đề cập toàn diện, cả sở trường và sở đoản, cả khuyết tật: “Trong sự sáng tạo văn hóa, mỗi dân tộc hình như từ lâu đã có những thói quen, những ưa thích, những sở trường, những khuyết tật làm nên đặc sắc của nó. Nắm vững những cái đó, bước đi ở hiện tại sẽ ít mù quáng hơn và cũng nhờ thế có thể phần nào dự đoán để định hướng cả bước đi trong tương lai”. Chủ trương tìm cả sở trường và khuyết tật này của văn hóa dân tộc sẽ được nhà nghiên cứu nhất quán trong phần viết được trích dẫn trong sách giáo khoa Ngữ văn 12.

          Tất cả những nhận xét của Trần Đình Hượu về vốn văn hóa Việt Nam đều xuất phát từ sự so sánh ngầm ẩn với văn hóa các dân tộc khác (ông viết: giữa các dân tộc) mà do lối viết uyên bác của mình, ông không đi sâu chứng minh cụ thể, song với vốn văn hóa phổ thông, chúng ta cũng có thể dễ dàng tìm thấy các dẫn chứng.

2.    Đánh giá khách quan, nghiêm túc về văn hóa Việt Nam

-     Nhận định tổng quát của ông mở đầu cho luận bàn trong đoạn trích này có thể khiến cho những người có đầu óc dân tộc chủ nghĩa, quen ca ngợi một chiều bản sắc dân tộc giật mình, thậm chí khó chịu:

          “ Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hóa của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật”.

          Chúng ta không có một nền văn hóa có tầm cỡ, có thể ảnh hưởng đến văn hóa thế giới, hay có đặc sắc nổi bật. Một nhận xét tổng quát có vẻ nhiêm khắc khi đặt văn hóa Việt Nam trên bình diện toàn nhân loại (giữa các dân tộc). Phương pháp được sử dụng ở đây là phương pháp so sánh, giúp người viết tránh được những nhận định tùy tiện về bản sắc văn hóa dân tộc.

Nhưng nhận định này cũng gợi hứng thú vì cách đặt vấn đề dũng cảm, mới mẻ, hứa hẹn cách triển khai phân tích hấp dẫn.

-     Lập luận: tác giả nêu đặc trưng văn hóa các dân tộc khác để so sánh. “Ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo, hoặc là một trường phái triết học, một ngành khoa học, một nền âm nhạc, hội họa,… phát triển rất cao, ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ văn hóa, thành đặc sắc văn hóa của dân tộc đó, thành thiên hướng văn hóa của dân tộc đó”. Ở đây nói đến sự phát triển cao của một số thành tựu văn hóa nhất định của một dân tộc nào đó có ảnh hưởng phổ biến, lâu dài đến văn hóa toàn nhân loại.

          Trong tương quan so sánh, ở văn hóa Việt Nam truyền thống, không có gì đạt đến đỉnh cao, cái gì cũng có song không đạt tầm cỡ kỷ lục. Thần thoại không phong phú, tôn giáo hay triết học đều không phát triển: “Người Việt Nam không có tâm lí kiền thành, cuồng tín tôn giáo, mà cũng không say mê tranh biện triết học. Các tôn giáo đều có mặt nhưng thường là biến thành một lối thờ cúng, ít ai quan tâm đến giáo lý. Không có một ngành khoa học, ky thuật, giả khoa học (khái niệm giả khoa học chỉ các môn phái khoa học thần bí thời xưa như luyện kim đan, làm thuốc trường sinh bất tử…) nào phát triển đến thành có truyền thống. Âm nhạc, hội họa, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kỹ”. Nhận xét về thơ, ông đưa ra một nghịch lý: “Hầu như người nào cũng có thể, cũng có dịp làm dăm ba câu thơ. Nhưng số nhà thơ để lại nhiều tác phẩm thì không có”.

-     Phác họa nguyên nhân: “Thực tế đó cho ta biết khuynh hướng, hứng thú, sự ưa thích, nhưng hơn thế, còn cho ta biết sự hạn chế của trình độ sản xuất, của đời sống xã hội. Đó là văn hóa của dân nông nghiệp định cư, không có nhu cầu lưu chuyển, trao đổi, không có sự kích thích của đô thị”. Nhận định về nguyên nhân ở đây thực ra là không mới, vì các yếu tố nêu lên đã được nhiều người nhận xét. Chẳng hạn như cội rễ văn hóa nông nghiệp, chủ trương bế quan tỏa cảng, đô thị kém phát triển, không coi trọng thương nghiệp,… Cái mới là sự liên hệ nhất quán của tác giả giữa cái nền tảng kinh tế, phương thức sản xuất với bản sắc văn hóa dân tộc để chỉ ra cội rễ của những hạn chế. Tất nhiên, một kết luận có thể rút ra được từ đây là để phát triển văn hóa cần công nghiệp hóa, đô thị hóa, cần mở rộng giao lưu quốc tế. Những phân tích có tính triết học về văn hóa dân tộc nhằm vào sự phát triển, đổi mới chứ không nhằm mục đích tuyên truyền.

3.    Phân tích tính chất trung dung của văn hóa Việt Nam.

          Sau nhận định tổng quát, Trần Đình Hượu phân tích chỉ ra tính chất trung dung văn hóa Việt Nam. Trung dung là chọn cái giữa, giữ thế trung bình, không thiên lệch về một phía nào, không thái quáện ở các mà cũng không bất cập:

-     Về tôn giáo: Người Việt Nam “ít tinh thần tôn giáo”, biểu hiện ở các quan niệm ứng xử sau: “Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, có ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về)”. Nếu so sánh với một số dân tộc có cuồng tín tôn giáo thì tinh thần hiện thực, không cuồng tín tôn giáo là mặt mạnh của tư duy cần ghi nhận của dân tộc ta. Nhưng điệu cần chú ý ở đây: Trần Đình Hượu nhắm vào cái tính chất nửa vời, nước đôi của niềm tin tôn giáo ở người Việt, vừa sống theo thế tục lại vừa có niềm tin vào linh hồn, ma quỷ. Vả lại cũng có những hạn chế tư duy thế tục, như chính Trần Đình Hượu đã viết ở một đoạn khác: “Thói quen gạt bỏ những cái xa vời, khó hiểu, xa lánh quỷ thần, không quan tâm đến thế giới linh thiêng làm cho con người không bỏ mê tín song cũng không hứng thú cái thần bí, không tò mò và ít hoài nghi, không say mê tìm hiểu những cái chưa biết, gạt bỏ những cái khác lạ”.

-     Về ý thức cá nhân và sở hữu: “Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham làm giành giật cho nhiều nhưng cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người”. Tinh thần cộng đồng, chủ trương sống an nhàn, không có khát vọng cao xa, hơn người vừa là mặt tích cực vừa là mặt hạn chế vì không kích thích con người cá nhân phát triển.

-     Một loạt những biểu hiện khác về phương diện tư duy: “Không chuộng trí mà cũng không chuộng dũng. Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thượng võ […]. Trong tâm trí nhân dân thường có Thần và Bụt mà không có Tiên. Thần uy linh bảo hộ dân và Bụt hay cứu giúp mọi người; còn Tiên nhiều phép lạ, ngao du ngaoif thế giới thì xa lạ. Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo. Khôn khéo là “ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau”, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn. Đối với cái dị kỷ, cái mới, không dễ hòa hợp những cũng không cự tuyệt đến cùng, chấp nhận cái gì vừa phải, hợp với mình nhưng cũng chần chừ, dè dặt, giữ mình.

          Không thể đánh giá một chiều hoặc tích cực hoặc tiêu cực đối với các biểu hiện tư duy nói trên, có cả tiêu cực, cả tích cực. Nhưng nếu nhìn theo quan điểm phát triển, dễ thấy có những cản trở nhất định. Chẳng hạn như, chỉ hướng đến Thần và Bụt vì mục đích thực dụng mà thấy xa lạ với Tiên thì trong tư duy rõ ràng không coi trọng sự phiêu diêu, bay bổng một cách lãng mạn; không coi trọng trí tuệ mà chỉ ca tụng sự khôn khéo thì dễ sa vào tiểu xảo, chỉ giỏi mô phỏng, bắt chước, “nhái lại” sản phẩm của người khác chứ khó mà sáng tạo mới, độc đáo. Nếu quá lo thủ thế giữ mình trong bốn lũy tre làng, khó hòa hợp với cái mới (trong cái mới có cái khác mình) thì khả năng phát triển tất nhiên sẽ bị hạn chế.

-     Về thẩm mỹ: Trần Đình Hượu phân tích các biểu hiện khác nhau của quan niệm thẩm mĩ có tính trung dung của người Việt. “Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình hợp lý, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kỳ. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải”.

          Một quan niệm thẩm mỹ như thế tạo ra cái đẹp độc đáo, đặc sắc riêng nhưng cũng khó có thể sản sinh ra những sáng tạo kỳ vĩ, huy hoàng, đạt tầm cỡ nhân loại. Một trong những ví dụ cho phép hình dung quan niệm thẩm mĩ có tính trung dung như thế là kiến trúc: “Không có công trình kiến trúc nào, kể cả của vua chúa, nhằm vào sự vĩnh viễn”. Ta hiểu đó là tác giả đang ngầm so sánh với những công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới như Kim Tự Tháp, Ăng Co, Vạn lí trường thành,…

          Lý giải bản chất và nguồn gốc tâm lý của văn hóa dân tộc, tác giả viết: “Hình như ta coi trọng Thế hơn Lực, quý sự kín đáo hơn sự phô trương, sự hòa đồng hơn rạch ròi trắng đen. Phải chăng đó là kết quả của ý thức lâu đời về sự nhỏ yếu, về thực tế nhiều khó khăn, nhiều bất trắc?

          Nhìn vào lối sống, quan niệm sống, ta có thể nói người Việt Nam sống có văn hóa, người Việt Nam có nền văn hóa của mình. Nhưng cái thô dã, những hung bạo đã bị xóa bỏ để có cái nền nhân bản. Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa. Không có khát vọng để hướng đến những sáng tạo lớn mà nhạy cảm, tinh nhanh, khôn khéo gỡ các khó khăn, tìm được sự bình ổn”.

Theo tác giả, có thể khẳng định rằng văn hóa Việt Nam đã hình thành trong quá trình lịch sử, đây là một thực tế hiển nhiên, “người Việt Nam có nền văn hóa cua mình”. Bản chất văn hóa là đối lập, khắc phục cái bản năng hoang dã, xây dựng những giá trị nhân bản. Các tính chất như tính thiết thực, linh hoạt, dung hòa là chỗ mạnh nhưng cũng bao hàm cả mặt hạn chế của truyền thống tư duy dân tộc. Thiết thực như chính ông nói (ở một đoạn khác), thì dễ nghiêng về duy vật, biện chứng tự phát, xa lạ với cái thần bí nhưng cũng xa lạ với cái duy lý; linh hoạt thì uyển chuyển, không cứng nhắc, song lại thiếu một phong cách riêng; dung hòa thì tránh được cực đoan, thái quá song lại không thúc đẩy sự phát triển đến tận cùng, đến cực độ. Trong triết học có quy luậtvề sự thay đổi của lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất. Chỉ đạt đến 0° C thì nước mới đóng băng, chỉ đạt đến 100° C thì nước mới bốc hơi. Các trạng thái nửa vời, trung dung không đẩy sự vật phát triển tới một trình độ mới.

4. Vấn đề giao lưu văn hóa

Tổng kết lại điều vừa trình bày, tác giả viết: “Những cái vừa nói là cái đã lắng đọng, đã ổn định, chắc chắn là kết quả của sự dung hợp của cái vốn có, của văn hóa Phật giáo, văn hóa Nho giáo, cái được dân tộc sàng lọc, tinh luyện để thành bản sắc của mình. Phật giáo, Nho giáo tuy từ ngoài du nhập vào nhưng đều để lại dấu ấn sâu sắc trong bản sắc dân tộc”.

          Không thể có một nền văn hóa dân tộc nào lại hình thành mà thiếu sự giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa khác. Do đó, bản sắc văn hóa dân tộc cũng cần được nhìn từ góc độ giao lưu văn hóa. Một nền văn hóa bất kỳ nào cũng bao gồm thành tố văn hóa bản địa (tác giả dùng “cái vốn có”) và văn hóa ngoại nhập. trong văn hóa Việt Nam, sự có mặt của các học thuyết Nho – Phật – Đạo đến từ văn hóa bên ngoài, làm phong phú thêm cho văn hóa Việt Nam truyền thống. Nho giáo và Đạo giáo của Trung Quốc, Phật giáo của Ấn Độ (Phật giáo Thiền tông lại là sản phẩm kếp hợp của Phật giáo Ấn Độ và Đạo giáo Trung Quốc). Giao lưu văn hóa là sự tiếp xúc văn hóa, là cho và nhận những giá trị văn hóa, dẫn đến sự tinh luyện các giá trị văn hóa truyền thống và văn hóa ngoại nhập, làm thành văn hóa đặc sắc của riêng mình. Tất nhiên, ở đây đang bàn về văn hóa truyền thống, tức văn hóa từ cuối thế kỷ XIX trở về trước nên tác giả mới đề cập đến Nho – Phật – Đạo mà chưa nói đến văn hóa phương Tây, chưa nói đến Thiên Chúa giáo.

          Nhà nghiên cứu lưu ý, các thành tố văn hóa ngoại sinh có ảnh hưởng ở Việt Nam với mức độ và tính chất khác nhau, phản ánh đặc điểm của chính văn hóa Việt Nam trong khi lựa chọn nguồn ảnh hưởng. Ông viết: “Phật giáo, Nho giáo tuy từ ngoài du nhập vào nhưng đều để lại dấu ấn sâu sắc trong bản sắc dân tộc. Có điều, để thích ứng với cái vốn có, Phật giáo không được tiếp nhận ở khái cạnh trí tuệ, cầu giải thoát, mà Nho giáo cũng không được tiếp nhận ở khía cạnh nghi lễ tủn mủn, giáo điều khắc nghiệt. Đạo giáo hình như không có nhiều ảnh hưởng trong văn hóa như tư tưởng Lão – Trang thì lại ảnh hưởng nhiều đến lớp trí thức cao cấp, để lại dấu vết khá rõ trong văn học”.

          Tuy chưa có dịp phân tích kĩ trong bài viết này, song Trần Đình Hượu đã lưu ý rằng các học thuyết Nho – Phật – Đạo có vai trò, vị trí khác nhau đối với văn hóa Việt Nam; bản thân các tầng lớp xã hội khác nhau cũng tiếp nhận những giá trị văn hóa này không giống nhau. Và văn hóa Việt Nam cũng có sự lựa chọn, thanh lọc để tìm lấy những yếu tố thích hợp cho mình chứ không bê nguyên xi tất cả các học thuyết đó.

          Bài học rút ra từ giao lưu văn hóa trong quá khứ là: “Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hóa không chỉ trông cậy vào sự tạo tác của mình dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hóa những giá trị văn hóa bên ngoài. Về mặt đó, lịch sử chứng minh là dân tộc Việt Nam có bản lĩnh”. Vấn đề giao lưu văn hóa được tác giả đề cao, nhưng giao lưu không thể là hành động sao chép, trở thành bản phô tô cóp pi của văn hóa bên ngoài mà là “khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hóa” văn hóa bên ngoài. Khả năng ấy được tác giả gọi bằng khái niệm “bản lĩnh”. Bản lĩnh là sự tự tin, không kiêu căng mà cũng không tự ti, không coi thường giá trị văn hóa nhân loại nhưng cũng không choáng ngợp trước văn hóa bên ngoài, biết thâu tóm cái tinh hoa cần cho văn hóa dân tộc mình.

          Nhìn chung, bằng lố trình bày điềm tĩnh, nhẹ nhàng mà sâu sắc, ẩn chứa kiến thức uyên bác và nỗi niềm trăn trở suy tư cho đường đi của văn hóa dân tộc vào thời điểm mở đầu công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, Trần Đình Hượu đã phát biểu tư tưởng mới, thẳng thắn, có ý nghĩa xây dựng để tất cả người Việt Nam cùng suy nghĩ về vấn đề trọng đại này. Để kết thúc, có thể dẫn lời của Trần Ngọc Vương, một học trò gần gũi của nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu: “Là nhà nghiên cứu triết học và lịch sử tư tưởng, tự đòi hỏi phải xác lập cho mình thói quen tư duy mang tính lý thuyết liên tục, nhưng những kết quả cụ thể thể hiện trong các công trình, các bài viết chủ yếu của ông cũng thấm đẫm tinh thần phục vụ thực tiễn. Tuy nhiên, tính thực tiễn đó không thể được hiểu là sự bình tán dễ dãi hay sự minh họa, phụ họa cho những kết luận nào đó có sẵn, mà là những nỗ lực liên tục của lao động trí tuệ đặng tìm tới những kiến giải vì thực tế, mở đường cho việc nhận thức và chỉ đạo thực tế có hiệu quả hơn” (Nhiều tác giả, Chân dung một thế kỉ Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006).

 

 

Bài 2.

HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT

(Trích)

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.    Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

          Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) quê gốc ở Đà Nẵng, sinh tại huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ. Thuở nhỏ, Lưu Quang Vũ sống với gia đình tại chiến khu Việt Bắc; từ năm 1954, về Hà Nội sống và học tập. Năm 1965, Lưu Quang Vũ gia nhập quân đội, phục vụ trong Quân chủng Phòng không – Không quân; năm 1970 ra quân, làm nhiều nghề để mưu sinh nhưng hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực văn nghệ. Từ năm 1978 đến khi mất, là biên tập viên tạp chí Sân khấu. Lưu Quang Vũ qua đời cùng vợ và con trai trong một tai nạn giao thông thảm khốc, giữa lúc tài năng đang chín rộ.

Lưu Quang Vũ được đánh giá là một trong những nhà viết kịch tài năng nhất của văn nghệ Việt Nam hiện đại. Ông có công lớn góp phần vực dậy cả một nền sân khấu lúc đó đang có nguy cơ tụt hậu. Kịch của Lưu Quang Vũ hấp dẫn chủ yếu bằng xung đột trong cách sống và quan niệm sống, qua đó, khẳng định khát vọng hoàn thiện nhân cách con người.

          Hồn Trương Ba, da hàng thịt (viết năm 1981 nhưng đến 1984 mới ra mắt công chúng) là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ, đã công diễn nhiều lần trên sân khấu trong và ngoài nước.

2.    Về tích truyện

          Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt được tác giả Lưu Quang Vũ hoàn thành năm 1984, công diễn lần đầu năm 1987. Đây là vở kịch rất thành công, đã được Nhà hát kịch Việt Nam diễn khoảng 500 buổi, chưa kể các đoàn chèo, cải lương đã dàn dựng và diễn theo (theo Hồ Anh Thái, trong Lưu Quang Vũ – về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, 2007).

          Về tích truyện, trong văn học Việt Nam, có hai tích truyện về bi kịch hồn người nọ xác người kia. Trước hết là truyện dân gian Hồn Trương Ba, da hàng thịt và vở tuồng hài dân gian Trương Đồ Nhục. Nhưng nếu so sánh thì dấu ấn của Hồn Trương Ba, da hàng thịt là rõ hơn Trương Đồ Nhục. Tuy nhiên, Lưu Quang Vũ đã từ câu chuyện cũ nâng lên thành những vấn đề đầy tính triết lí về cuộc sống và giá trị mà các tích cũ chưa có được.

3.    Về cách đọc và giải thích Hồn Trương Ba, da hàng thịt

Trước hết cần xác định nội dung khái niệm hồn trong vở kịch này. Hồn có nhiều hàm nghĩa:

-     Linh hồn: tức phần quan trong nhất của một sự vật, quyết định sự sống của sự vật (mất hồn, hết hồn, hồn lìa khỏi xác là cách nói ám chỉ sự khống không còn). Theo nghĩa này, hồn vía có phần giống nhau, thường được ghép chung trong từ hồn vía. Nhìn chung, cách hiểu khái niệm “linh hồn” như là cách hiểu dân gian, có sắc thái tâm linh. Người xưa tin rằng hồn xác tách rời nhau, thể xác có thể mất đi nhưng linh hồn thì bất diệt, có thể tái sinh hết kiếp này sang kiếp khác – linh hồn là bất tử, có thể chiêu hồn, gọi hồn. Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ đã khai tác quan niệm truyền thống về hồn xác (vì lí do hiệp vần nên gọi là da) lấy đó làm điểm tựa để triển khai các triết lí.

-     Nhưng hồn còn có nghĩa là tâm hồn, tư tưởng và tình cảm của con người, phân biệt với thân xác. Trong lời đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt, hoặc với Đế Thích, hồn hàm nghĩa là tâm hồn, tư tưởng, cảm xúc, có lúc cụ thể hóa bằng những từ ngữ như xao xuyến, lâng lâng cảm xúc.

-     Là một vở kịch đa nghĩa, có những cách giải thích khác nhau đố với chủ đề của tác phẩm này (Theo Lưu Quang Vũ – Về tác gia và tác phẩm, sđd), có thể dẫn ra để tham khảo:

          + Tác phẩm nói về tấn bi kịch toàn nhân loại: “Mọi người từ Ngọc Hoàng đến anh hàng thịt không ai có được cái hồn của mình trong cái xác của mình. Mà hạnh phúc của con người lại khác: mình phải là chính mình” (Phan Ngọc).

          + “Không thể sống với bất cứ giá nào. Có những giá đắt quá, không thể trả được” – với những kết luận đắng chát như thế, hồn Trương Ba tự nguyện rút vào cõi hư vô… Trên thế giới này, nơi những con người hướng thiện là đau khổ, cô độc và thất bại, họ chỉ có thể trở về nơi cõi hư vô tịch diệt. Cái duy nhất mà họ có thể làm được, như Trương Ba của Lưu Quang Vũ làm, là trung thành đến cùng với bản chất của mình, giữ gìn cho bằng được, bằng giá của ngay sự sống, cái phẩm giá con người của mình” (Phạm Vĩnh Cư).

          + “Vở kịch không chỉ dừng nói đến sự hòa hợp và ý thức đạo lý về phần hồn và phần xác của con người mà còn đề cao cuộc đấu tranh cho sự hoàn thiện nhân cách con người… Những rắc rối đổ vỡ bắt nguồn tự sự sống vay mượn của Trương Ba trong xác anh hàng thịt đã khiến cho chúng ta thấy: Cuộc sống thật là đáng quý nhưng không phải sống thế nào cũng được. Cuộc sống chỉ có giá trị khi con người được sống đúng là mình, được sống trong một thế giới thống nhất” (Lưu Khánh Thơ).

          + “Ý nghĩa câu chuyện không được trình bày thẳng băng, cụ thể mà thông qua cuộc đấu tranh hết sức khốc liệt, phức tạp giữa phần hồn với phần xác; tác giả muốn đề cập đến vấn đề mang tầm khái quát cao đó là: sự tha hóa của con người tốt trong môi trường xấu” (Cao Minh)

          + “Linh hồn và thể xác là một thể thống nhất trong đó linh hồn giữ vị trí chủ đạo nên linh hồn phải chịu trách nhiệm cuối cùng về hành động của thể xác, không thể thỏa mãn mọi nhu cầu ở mọi mức độ, mọi nơi, mọi lúc rồi đổ trách nhiệm cho thể xác. Cuộc đấu tranh trong bản thân con người để làm chủ những nhu cầu và ham muốn, nhất là khi bị hoàn cảnh tác động. Ở đây, cuộc đấu tranh này cũng cảnh báo khả năng lấn át của thể xác, của những nhu cầu tầm thường đối với linh hồn tức là đối với khát vọng sống cao khiết” (Đặng Hiển).

          + “Nghĩa tự nó của Hồn Trương Ba, da hàng thịt là nghĩa mà lâu nay các thế hệ lĩnh hội từ câu chuyện: sự hòa hợp và ý thức đạo lí về phần hồn và phần xác của con người. Còn nghĩa cho nó là cuộc đấu tranh cho sự hoàn thiện nhân cách con người mà chúng ta đang tiến hành hiện nay theo đòi hỏi không chỉ của ý thức đạo lý mà còn của chính nhu cầu tồn tại của con người, là quan niệm nhân sinh trong môi trường đạo đức xã hội mới” (Phan Trọng Thưởng).

II-   PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

          Đối với một văn bản tác phẩm kịch thì cách phân tích thuận tiện hơn cả là phân tích các đối thoại, xung đột giữa các nhân vật. Sự tồn tại của các nhân vật trong kịch là tồn tại thông qua các đoạn đối thoại. Giữa các màn đối thoại có sự gắn kết logic khá chặt chẽ. Màn đối thoại này bổ sung cho màn đối thoại kia, đem lại tầng triết lí khác nhau cho vở kịch.

a) Đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt

          Đây là đoạn có màu sắc kịch phi lí, vì thực tế không thể có cuộc trò chuyện giữa hồn và xác. Nhưng hình thức phi lí đã chuyển tải triết lí mà tác giả muốn gửi gắm.

          Một cuộc tranh luận giữa hồn và xác xem ai có vai trò lớn hơn, quan trọng hơn. Hồn có xuất phát điểm đầy tự tin về tầm quan trọng của mình

          Thân xác cho rằng mình cũng có tầm quan trọng, mặc dù thân xác rất khiêm tốn, luôn gọi hồn là ông trong khi hồn lại chỉ dùng từ mày đầy miệt thị. Một đặc điểm nữa của cuộc đối thoại là hồn luôn nêu vấn đề trước, gây hấn trước và xác chỉ trả lời hay phản biện lại luận điểm của hồn.

Hồn: “Cái thân thể kềnh càng thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc!”.

Xác: “Cái linh hồn mờ nhạt của ông Trương Ba khốn khổ kia ơi, ông không tách ra khỏi tôi được đâu, dù tôi chỉ là thân xác…”.

Hồn: “Mày không có tiếng nói, mày chỉ là xác thịt âm u đui mù…”.

Xác: “Xác thịt này có tiếng nói đấy! Ông đã biết tiếng nói của tôi rồi, dã luôn bị tiếng nói ấy sai khiến…”.

          Thực ra, qua cuộc đối thoại dài và rất căng thẳng ấy, ta thấy rõ cả hồn và xác chỉ là hai phương tiện của một con người, một nhân cách. Xác hàng thịt đã có lí lẽ của nó: “tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực” khi bên cạnh một người phụ nữ là cách xác diễn đạt sự xao xuyến của hồn hay khi hồn Trương Ba tát thằng con tóe máu mồm thì tức là cơn giận (một trạng thái cảm xúc) đã được xác hiện thực hóa. Nghĩa là những rung động của cảm xúc phải được thể hiện qua thân xác, còn thân xác có vai trò chuyển tải cảm xúc.

Hồn: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn…”.

Xác: “Nực cười thật! Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi, mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn!”.

Bất cứ hành động nào cũng xuất phát từ ý muốn, dục vọng từ hồn (ta gọi là động cơ) nhưng thân xác thực hiện ý muốn đó, dẫu chỉ từ một ánh mắt, một nụ cười. Cái cảm xúc được thể hiện thông qua các giác quan, tức thân thể. Xác nói: “Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi” và tuyên bố một chân lý: “chúng ta tuy hai mà một”.

          Xác cũng nêu những bằng chứng cho thấy sự gắn kết qua lại của thân xác và linh hồn (hay là thân xác và tâm lý): khi muốn hành hạ tâm hồn con người, người ta xúc phạm thể xác. Xác đã phê phán chủ trương của giới trí thức đề cao tâm hồn, coi thường sự tồn tại của thân xác mà bỏ bê thân xác họ khổ sở nhếch nhác. (Các tôn giáothường tuyên truyền lối sống khắc kỷ, coi thường nhu cầu vật chất, coi thường, khinh miệt bản năng tính dục… tức là coi thường thân xác). Không thể coi cái nào quan trọng hơn cái nào giữa phần hồn và thể xác. Đó là một quan niệm hiện đại, đúng đắn. Vấn đề không phải là tuyên truyền sự khắc kỉ mà là chú ý đến nhu cầu của thể xác. Nghe qua có cảm tưởng phàm tục song có lý: “Mỗi bữa tôi thèm ăn tam, chín bát cơm, tôi thèm ăn thịt, hỏi có gì là tội lỗi nào? Lỗi là ở chỗ không có đủ tám, chín bát cơm cho tôi ăn chứ!”.

          Trong cuộc tranh luận, dần dần hồn đuối lý, lý lẽ càng kém sắc sảo và trở nên ấp úng. Vì đuối lý nên các phản ứng của hồn ngày càng yếu ớt, thậm chí chỉ biết “nhưng…nhưng” và “lý lẽ của anh thật đê tiện” rồi kêu trời. Một tầng nghĩa của vở kịch đa nghĩa này là chúng ta cần tôn trọng cả thân xác. Thân xác là một phương diện không thể thiếu được của nhân cách con người. Điều này chính Đế Thích cũng sẽ nói “Ra khỏi thân xác, hồn chẳng còn cái gì nữa”.

          Nhưng màn đối thoại cũng cho thấy sự bế tắc của cuộc tranh luận. Sự gắn bó giữa hồn và xác là quan trọng nhưng không thể theo cách lấy xác của người này ghép vào hồn người khác. Mỗi con người là một thực thể riêng biệt, không lặp lại. Khi xác hàng thịt kêu gọi hồn Trương Ba “phải sống hòa thuận với nhau” tức là kêu gọi một sự gán ghép khiên cưỡng, bất hợp lý. Vở kịch có nhiều tầng nghĩa đan xen nhau.

b) Đối thoại giữa hồn Trương Ba với người thân

          Hồn Trương Ba đối thoại với vợ, con gái, con dâu. Các kiểu phản ứng khác nhau cảu người thân Trương Ba vì hồn và thân xác không phải là củ một người cho thấy ông gặp phiền toái và rắc rối như thế nào.

           hiểu nhầm chồng, người vợ nói muốn đi khỏi nhà “để ông được thảnh thơi với cô vợ người hàng thịt”.

          Đứa cháu tên Gái không công nhận ông vì ông đã trở thành một người vụng về, thô lỗ, phũ phàng. Bàn tay của người hàng thịt không thể khéo léo như của Trương Ba được nên hễ động vào cây cối trong vườn là làm gãy, nát; chữa diều cho cu Tị thì gãy nan, rách giấy. Cái Gái mắng ông là “đồ tể”.

Trong cuộc đối thoại, có lẽ người con dâu là nói những điều triết lý hơn cả. “Thầy bảo con: Cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nỗi có lúc chính con cũng không nhận ra…”. Vậy là không phải chỉ có cái bên trong mới là quan trọng duy nhất. Việc đề cao thiên lệch một trong hai yếu tố hồn hay xác đều bất ổn. Nhưng thân xác phải thống nhất, hài hòa với hồn. Trương Ba đã đau đớn nhận ra rằng ảo tưởng về sự không quan trọng của thân xác đã dẫn đến sai lầm, thân xác của người hàng thịt không hòa hợp với hồn của lão dẫn tới bao nhiêu phiền toái. Bắt đầu có ý nghĩa triết lý: hồn không cần cái đời sống do thân xác xa lạ mang lại. Chuyện chuyển sang cuộc đối thoại với Đế Thích.

c)    Đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích

          Sự xuất hiện của Đế Thích đúng lúc Trương Ba đã nhận thấy đã đến lúc không thể chấp nhận được sự sống do một thân xác xa lạ đem lại.

Hồn Trương Ba: “không thể bên trong một đằng, bên ngoài môt nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Khát vọng vủa Trương Ba lại đề cập đến một tầng sâu triết lý khác, phản đối sự phân vân, sự nước đôi, hay nói đúng ra là sự giả dối, bên trong thế này, bên ngoài thế khác.

Đế Thích: “Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay cả tôi đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sông theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên bầu trời đều như thế cả, nữa là ông?”. Đế Thích đã đề cập đến một bi kịch có tính phổ biến của nhân loại, ngay cả Ngọc Hoàng thượng đế là đấng tối cao cũng nhiều khi không thể là chính mình, cũng phải khuôn theo một danh vị nào đó chứ không phải là chính mình. Đó là bi kịch của sự phân thân, thực chất là giả dối. Tầng triết lý mới lại đã được mở ra.

          Cuộc đối thoại tiếp tục đào sâu vào triết lý. Hồn Trương Ba yêu cầu Đế Thích trả lại sự sống cho người hàng thịt. Bản thân hồn Trương Ba sẵn sàng trả lại thân thể cho anh hàng thịt: “Thân thể anh hàng thịt còn lành lặn nguyên xi đây, tôi trả lại cho anh ta. Ông hãy làm cho hồn anh ta được sống lại với thân xác này”. Bởi vì theo hồn Trương Ba, tâm hồn của anh hàng thịt tuy tầm thường nhưng “đúng là của anh ta, sẽ sống hòa thuận được với thân anh ta, chúng sinh ra để sống với nhau”. Hãy đẻ cho con người là chính mình.

          Với kinh nghiệm và nhận thức như thế, khi Đế Thích gợi ý để hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị, hồn Trương Ba đã cân nhắc, suy nghĩ kỹ, và đã từ chối. “Bao nhiêu sự rắc rối. Bà vợ tôi, các con tôi sẽ nghĩ ngợi, xử sự thế nào, khi chồng mình, bố mình mang thân một thằng bé lên 10? Làm trẻ con không phải dễ!”. Hồn Trương Ba lường trước nhiều sự cố bất tiện, nào là cu Tị bỗng thành ông nội, rồi ông sẽ sống dai hơn tất cả vợ, bạn bè cùng lứa, sẽ lạc vào đám hậu sinh bất đồng với thế hệ ông về sở thích… Hồn Trương Ba không muốn vì sự sống trái với quy luật sinh tử ở đời. Ông từ chối không nhập vào xác cu Tị vừa mới chết, ông xin Đế Thích giúp cho cu Tị sống lại. Đồng thời ông nói “Tôi không muốn nhập vào hình thù ai nữa! Tôi đã chết rồi, hãy để tôi chết hẳn”. Sống, chết theo quy luật của tự nhiên cuối cùng lại là một chân lý sau một hồi tranh luận. Sự sống bao giờ cũng là đáng quý, nhưng sống theo đúng quy luật, sống là chính mình, không phân tâm, giả dối mới đáng sống.

          Có thể nói đoạn đối thoại giữa hồn Trương Ba với Đế Thích hàm chứa nhiều triết lý quan trọng của vở kịch. Đế Thích nói việc Trương Ba chết là một nhầm lẫn của quan thiên đình. Cái sai ấy được sửa chữa bằng cách làm cho hồn Trương Ba được sống. Nhưng hồn Trương Ba nói: “Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù lại bằng một việc đúng khác”. Đây là một triết lý quan trọng, nhưng cũng là cách nhìn vấn đề thân xác – tâm hồn ở khía cạnh khác. Đó là giây phút xuất thần. Hồn Trương Ba đã thấy rõ việc sống lại bằng cách nhập vào thân xác hàng thịt là một sai lầm lớn của Đế Thích và cả của ông nữa. Để sửa chữa, một là hãy để cho cu Tị sống lại, hai là để cho ông chết hẳn. Hồn Trương Ba thấy mình thanh thản, nhẹ nhàng, thấy mình chính là mình: “Không thể sống với bất cứ giá nào… Có những cái giá quá đắt, không thể trả được… Lạ thật, từ lúc tôi có đủ can đảm đi đến quyết định này, tôi bỗng cảm thấy mình lại là Trương Ba thật, tâm hồn tôi lại trở lại thanh thản, trong sáng như xưa…”.

          Ai cũng muốn sống, nhưng sống giả tạo, phân vân, sống mà không là chính mình thì vô cùng đau khổ. Hồn Trương Ba: “Ông tưởng tôi không ham sống hay sao? Nhưng sống thế này, còn khổ hơn là cái chết”. Đế Thích viện dẫn tình cảm riêng tư (sống để chơi cờ) để thuyết phục hồn Trương Ba, nhưng nhận được câu trả lời: “Vì để chứng minh ông tồn tại mà tôi cứ phải tiếp tục cuộc sống không phải là tôi ư?”. Những câu đối thoại dần dần làm sáng tỏ tư tưởng quan trọng là cần sống với chính mình, không giả dối, phân thân; tâm hồn, tư tưởng, tình cảm phải thống nhất với thân xác. Trương Ba đã lìa đời để chấm dứt cuộc sống giả tạo, phân thân.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

          Nhìn chung, trong cảnh VII, chúng ta đã thấy được phong cách kịch của Lưu Quang Vũ. Từ một câu chuyện dân gian, nhà văn đã khai thác, phát triển để nêu nhiều vấn đề quan trọng của con người trong thời hiện đại. Có nhiều tầng triết lý khác nhau đan xen rất thú vị trong cảnh này, đến nỗi người xem có quyền tiếp nhận các triết lý ấy tùy theo góc độ quan tâm của bản thân. Quá tình tạo nghĩa cho văn bản vẫn tiếp tục sau khi nó được công bố.

          Tuy nhiên từ văn bản, các cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt, với người thân và với Đế Thích, dễ thấy có một triết lý quan trọng được quan tâm: hồn và xác là hai thực thể quan trọng làm nên nhân cách con người. Để là chính mình, để không giả dối và phân thân, cần có cuộc sống hài hòa cả thân xác lẫn tâm hồn. Vở kịch từ ý nghĩa đó, buộc chúng ta suy nghĩ, đấu tranh chống lại sự giả dối vẫn tồn tại, hoặc là làm ra vẻ khinh miệt thân xác, coi thường nhu cầu vật chất, coi thường đời sống bản năng nhưng thực chất che giấu bên trong những dục vọng tầm thường; hoặc là sống buông thả theo bản năng tham muốn vật chất, thiếu lí trí tỉnh táo. Tác phẩm buộc người đọc (người xem) phải suy nghĩ để sống tốt hơn. Đó là ý nghĩa nhân văn sâu sắc của vở kịch.

 

Bài 3.

NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.  Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

          Nguyễn Thi (1928 – 1968) tên khai sinh là Nguyễn Hoàng Ca, quê ở xã Quần Phương Thượng (nay là xã Hải Anh), huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng. Cha và mẹ Nguyễn Thi đã hoạt động cách mạng vào những năm 30 của thế kỷ XX và gia đình ông là cơ sở cách mạng. Mồ côi cha từ năm mười tuổi, mẹ đi bước nữa, Nguyễn Thi chịu nhiều vất vả, tủi nhục từ thuở ấu thơ.

          Tuy sinh ra ở đất Bắc, nhưng Nguyễn Thi đặc biệt gắn bó với nhân dân miền Nam bằng một tình cảm ân nghĩa thủy chung mà ông muốn gửi vào từng trang viết của mình. Ông được trân trọng coi là nhà văn của những người nông dân Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước ác liệt.

Nguyễn Thi là một nhà văn – chiến sĩ mà cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo văn chương là một tấm gương sáng cho thế hệ nhà văn từng trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Những đứa con trong gia đình được Nguyễn Thi viết ngay trong những ngày chiến đáu ác liệt khi ông công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.

2.  Hình tượng người mẹ trong truyện Những đứa con trong gia đình

          Các sáng tác văn học của Nguyễn Thi tập trung phản ánh hiện thực đấu tranh dữ dội, quyết liệt của người nông dân Nam Bộ chống đế quốc Mĩ xâm lược và tay sai, giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Nhà văn đã diễn tả thành công những vẻ đẹp của người nông dân Nam Bộ bộc lộ trong hiện thực đấu tranh cách mạng này, những vẻ đẹp mà trong đời thường ta có thể không chú ý: Tình yêu quê hương đất nước, sự căm thù giặc sâu sắc, tinh thần hi sinh, xả thân vì sự nghiệp chiến đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

          Người mẹ có một ảnh hưởng rất sâu đậm đến tư tưởng, tình cảm của chị em Chiến, Việt . “Cuốn sổ gia đình” mà chú Năm giữ có những nội dung không được trích nhưng nếu ta biết thì việc phân tích đoạn trích sẽ thuật lợi hơn. Đây là loại sử biên niên của gia đình, một nửa của cuốn sử biên niên đó ghi lại những đau thương, tổn thất do kẻ thù của đất nước gây ra cho gia đình này: “Thím Năm bơi xuồng đi rọc lá chuối bị càng –nông Mỏ Cày bắn bể xuồng, chết còn mặc cái quần mới, trong túi còn hia đồng bạc. Ông nội nghe súng nổ, sợ bò đứt dây ra nắm giàm bò, lính tổng Phòng vào nói: “Mày là du kích!” rồi bắn vào giữa bụng ông nội…”. Một lối chép sử biên niên gia đình thật nôm na, đơn giản mà sức tố cáo thật lớn lao. Tội ác của kẻ thù để lại dấu ấn sâu đậm trong trang sử của đại gia đình. Ông, bà, cô, bác, cha, mẹ của Việt và Chiến bị kẻ thù giết hại hoặc lăng nhục. Cha họ bị giặc Pháp chặt dầu. Má trúng đạn pháo giặc Mĩ khi bà đi đấu tranh ở Mỏ Cày về bị giặc bắn đuổi theo. Mối thù sâu nặng, chông chất cần được trả, đó là ý nghĩa đầu tiên mà “cuốn sổ gia đình” của chú Năm nhắn gửi cho những đứa con của gia đình. Phần khác của cuốn sổ đó ghi lại “một số công tác của gia đình”. Đây không phải một gia đình nạn nhân, đây là gia đình có truyền thống đấu tranh cách mạng. “Ông nội đi đóng đáy ở sông Bình Khánh có mò được hai cây mút mát dưới tàu chìm… Thằng Hai, con chú Năm, đi về phép, lúc gian lộ Giồng Trôm, thấy cốt Ngã Ba, liền bò vào đặt trái, lấy cốt xong, bó năm cây súng vác về xã nhà… Những bản lĩnh và phẩm chất của Việt và Chiến được gieo mầm trên một mảnh đất màu mỡ của một truyền thống gia đình giàu lòng yêu nước, căm thù giặc. Trong cuốn biên niên ấy của gia đình, hai chị em Chiến và Việt đã kịp ghi được một chiến công đầu.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.  Phân tích theo nhân vật

a) Nhân vật Chiến

          Chiến là cô gái có những nét ngoại hình và tính cách giống hệt mẹ. Cũng một vóc dáng chắc nịch đủ sức để vượt qua mọi gian khổ như má. Đây là cảnh hia chị em khiêng bàn thờ má sang gửi bên nhà chú Năm: “Chị Chiến ra đứng giữa sân, kéo cái khăn trên cổ xuống, cũng xắn tay áo để lộ hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng, rồi dang cả thân người to và chắc nịch của mình nhắc bổng một đầu bàn thờ má lên”. Mẹ mất, Chiến dù hơn em trai có một tuổi nhưng đã tỏ rõ sự già dặn, khôn ngoan, biết lo toan cho gia đình. Khi hai chị em chuẩn bị tòng quân, những xếp đặt của Chiến về nhà cửa cho thấy cô thực sự đã là một người lớn, chín chắn, biết suy nghĩ, chỉ có một điều nữa là giống hệt má “phải chị thở dài rồi kêu thằng út dậy đi đái nữa thì giống hệt như má vậy”. Chiến thao thức không ngủ được. Má dường như đêm nay cũng theo ánh đom đóm về nhà ngó coi hai chị em tính toán việc nhà ra sao trước giờ lên đường tòng quân. Suy nghĩ về hành động của Chiến bộc lộ nét đẹp của con người vì cộng đồng. Khi hai chị em chuẩn bị đi tòng quân, Chiến bàn với Việt để nhà cho “xã mượn mở trường học”, “giường ván cũng cho xã mượn làm ghế học”, ruộng đất do cách mạng cấp trao lại chi bộ để chia cho bà con cô bác khác làm. Chuyện công và chuyện tư đều được Chiến tính toán thấu đáo. Các dụng cụ gia đình như chén, cuốc, vá, đèn soi, nơm gửi chú Năm để chị Hai muốn lấy gì thì lấy, hai công mía do họ trồng nhờ chú Năm đốn để giành làm giỗ má. Hai chị em không muốn làm phiền chú Năm và chị Hai. Bàn thờ gửi chú Năm. Cuộc sống thiếu mẹ đã tôi luyện Chiến già dặn, chắc chắn. Nhưng Chiến không tỏ ra gia trưởn. Chiến bàn bạc với Việt tất cả những gì cần làm. Những cử chỉ, lời nó của Chiến khiến cho  “Việt thấy thương chị lạ”.

          Về chuyện hai chị em sắp vào bộ đội, có hai việc mà Chiến không nhường em. Thông thường ganh đua, không nhường nhịn là do ích kỷ, nhất là chị em ganh đua. Nhưng việc Chiến không nhường em lại hàm chứa một động cơ rất trong sáng, cao thượng. Một là hai chị em đều đấu tranh nhau đi bộ đội, trong lúc Năm quyết định thu xếp việc nhà cho cả hai chị em tòng quân. Hai là, chị không chịu thua em Việt về khí phách:

“ – chú Năm nói mầy với tao đi kì này là ra chân trời mặt biển, xa nhà thì ráng học chúng học bạn, thù cha mẹ chưa trả mà bỏ về là chú chặt đầu.

Việt lăn kềnh ra ván cười khì khì:

-     Chị có bị chặt đầu thì chặt chớ chùng nào tôi mới bị.

-     Tao thưa với chú Năm rồi, đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”.

          Cách nói khiến Việt phải chịu là chị nói “in như má”.

          Nhân vật Chiến là mẫu nhân vật tiêu biểu cho thời kỳ kháng chiến chống Mĩ. Lẽ ra, Chiến cũng như bao thiếu nữ khác được học hành, được sống trong tình thương yêu của gia đình, người thân. Như thế hệ Chiến mang nặng mối thù nhà, nợ nước, không thể không tòng quân giết giặc. Tình hình lịch sử của mẫu hình nhân vật cần được chú ý để thấy hết vẻ đẹp tinh thần cũng như những hi sinh cao cả của thế hệ ấy.

b)        Nhân vật Việt

          Việt là cậu con trai mới lớn, có những vẻ đẹp riêng của chàng trai Nam Bộ. Mang nặng mối thù nhà, Việt khao khát được tòng quân đánh Mĩ trả thù nhà. Chị Chiến muốn đi tòng quân, chư cho Việt đi đợt này mà qua năm sau hãy đi vì “mày còn nhỏ” thì Việt “đá trái dừa rụng dưới chân xuống mương cái đùng”, nói “bộ mình chị biết đi trả thù à?”. Chi tiết đá dừa nói nhiều về tính cách mạnh mẽ, cương quyết của Việt.

          Trong đêm mít tinh, thanh niên ghi tên tòng quân, hai chị em giành nhau chạy lên gặp anh cán bộ huyện đội. Việt tranh nói trước chị Chiến, xin đi bộ đội. Qua lời Chiến, ta hiểu giữa hia chị em đã có sự bàn bạc để chị đi trước mà Việt không chịu. Chỉ khi chú Năm xin cho cả hia chị em cùng đi thì anh cán bộ huyện đội mới ghi tên cả hai. Chú ý chi tiết: “Đêm ấy thanh niên ghi tên tòng quân đông lắm”. Có thể có một nghĩa tiềm ẩn: hai chị em đều giành nhau đi bộ đội đã cổ vũ nhiều thanh niên khác ghi tên.

Chi tiết Việt lăn kềnh ra ván, cười khì khì khi chị Chiến giao hẹn thù cha mẹ chưa trả mà bỏ về là chú Năm chặt đầu. Việt nói: “Chị có bị chặt đầu thì chặt chớ chừng nào tôi mới bị”. Cach nói có vẻ rờn rợn, nhưng thể hiện rất đúng khí phách, bản lĩnh của chàng trai, cô gái đi đánh Mĩ hồi đó.

          Việt vẫn có những nét của tuổi hồn nhiên nên cậu vô tư hơn, ít suy nghĩ hơn chị. Cậu nói “má dặn chị làm sao, giờ chị cứ làm như vậy”, nói vài câu rồi “ngủ quên lúc nào không biết”. Nhưng từ trong sâu thẳm tâm hồn mình, cậu con trai đó “thấy thương chị lạ”. Có điều, là con trai, sự thể hiện tính cách khác người chị. Chi tiết hai chị em Việt hứa khi đưa bàn thờ má qua nhà chú Năm trước buổi tòng quân nhập ngũ: “Đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa ba má về” có ý nghĩa tượng trưng. Đối với người Việt Nam, việc chuyển bàn thờ má thật thành kính và thiêng liêng. Ý nghĩa của việc hai đứa con sắp ra đi vô cùng trọng đại. Độc lập dân tộc và hạnh phúc của từng gia đình không tách rời. Hai chị em có những nét khác nhau nhưng mẫu số chung của họ là truyền thống gia đình, là lòng căm thù quân xâm lược.

c)         Nhân vật chú Năm

          Đây cũng là một hình tượng đẹp, có ý nghĩa tượng trưng về truyền thống gia đình. Đây là một người đàn ông Nam Bộ, tính cách mạnh mẽ, phóng khoáng, quyết đoán. Chú bước lên xin cho ghi tên cả hai chị em Chiến và Việt, nói “Việc lớn ta tính toán theo việc lớn, còn việc thỏn mỏn trong nhà tôi thu xếp khắc xong”.

          Tuy chú Năm đã già nhưng vẫn làm những việc có ý nghĩa nhắc nhở, khích lệ các cháu. Chú lập cuốn sổ gia đình, chơ cho hai cháu khôn lớn, trao cuốn sổ thiêng liêng này ở thời điểm hai cháu sắp lên đường tòng quân như là cử chỉ ghi nhận sự trưởng thành cảu hai  đứa cháu. Chú hứa “tao sẽ ghi cho hai đứa bây từng ngày” – ghi đây là ghi những thành tích, những chiến công. Chú bảo “con nít chúng bây kì đánh giặc này khôn hơn chú hồi trước”. Và chú hay cất giọng hò, không phải vì chú có giọng hò hay mà chú hò để gửi gắm tâm tình, ước mơ của chú, để nhắn nhủ các cháu. Chú Năm là biểu tượng cho truyền thống gia đình, là lời nhắn nhủ của cha chú cho các cháu về cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc và hạnh phúc gia đình.

          Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình đã góp phần lý giải sức mạnh chiến thắng của những người lính giải phóng từ góc độ truyền thống gia đình. Gia địnhlà một hình ảnh thu nhỏ của cả xã hội, đất nước. Sức sống bất diệt, sức mạnh chiến thắng bắt nguồn từ truyền thống yêu nước quật cường được cá thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau. Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn lại chọn lối viết giống như tiểu thuyết của dòng ý thức, để cho Việt, sau khi lập chiến công bị thương, trong lúc mê lúc tỉnh đã “nhìn” thấy những người thân trong gia đình. Những hình ảnh người thân ấy là nguồn năng lượng tiếp sức của Việt, mặc dù bị thương nặng anh đã trụ được suốt ba ngày cho tới lúc gặp lại được đồng đội, trong suốt ba ngày đó anh luôn luôn trong tư thế sẵn sàng bắn nếu gặp địch.

d)       Nhân vật người má của Việt

          Nhân vật người má của Việt hiện thân cho truyền thống gia đình. Trong các tác phẩm của Nguyễn Thi, hình tượng người má, người mẹ mang đậm chất Nam Bộ bao giờ cũng gợi cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ nhất cho ông. Họ là một nguồn sinh lực dồi dào, họ sinh ra những đứa con để nối tiếp truyền thống gia đình để các con noi theo. Họ cso thể ngã xuongs vì bom đạn kẻ tù, nhưng họ sẽ tái sinh trong máu thịt và sống lại trong cuộc đời của những đứa con. Họ bất tử. má của Việt và Chiến trong thiên truyện này là người như vậy. Trước khi nhập ngũ, Chiến và Việt ddeuf cảm thấy má trở về ngồi đó.

2.  Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Thi

a)  Dòng ý thức

          Câu chuyện được kể lại qua dòng ý thức của Việt, khi tỉnh khi mê man ở chiến trường, sua khi chiến đấu bị thương. Dòng liên tưởng của nhân vật cho phép câu chuyện được kể không phụ thuộc vào tiến trình thời gian sự kiện, không đòi hỏi kể theo trật tự trước sau của sự kiện mà có thể đạo lộn trật trự sự kiện theo đúng quy luật tâm lý. Thủ pháp “dòng ý thức”: Câu chuyền về gia đình, về những đứa con trong gia đình được nhà văn kể lại thông qua tia hồi quang ký ức vọng đến từ quá khứ trong tâm trí cảu Việt khi cậu bị thương nặng, mất máu, kiệt sức, lúc mê lúc tỉnh. Việt không hồi tưởng vì lúc này không còn sức mà động não, mà nhớ lại nữa, các ký ức tiềm ẩn tự chúng vọt sống dậy, trở về trong trí óc anh một cách vô thức. Lúc tỉnh, Việt nhớ đến thực tại chiến trường, cậu lo chuẩn bị đánh địch nếu bị phát hiện, rồi lại mê man, kí ức hiện về. “Việt tỉnh dậy lần thứ tư, trong đầu còn thoáng qua hình ảnh của người mẹ. Đêm nữa lại đến. Đêm sâu thăm thẳm, bắt đầu từ tiếng dế gáy u u cáo vút mãi lên. Người Việt như đang tan ra nhè nhẹ. Ước gì bây giờ lại được gặp má. Phải, ví như má đang bơi xuồng, má sẽ ghé lại, xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy […]. Nhưng mấy giọt mưa lất phất trên cổ làm Việt choàng tỉnh hẳn”.

          Thủ pháp dẫn chuyện này tạo cho nhà văn khả năng to lớn trong việc lựa chọn những sự việc, tình tiết, chi tiết cần thiết nhất mà không bị ràng buộc bởi trật tự thời gian, không gian. Mặt khác, những ký ức sống dậy trong các cơn mê (trạng thái vô thức) cho thây chiều sâu của tính cách nhân vật, cho thấy sự gắn bó sâu sắc của nhân vật với quê hương, với gia đình, do đó góp phần lý giải sức mạnh tinh thần to lớn giúp Việt vượt qua cái chết để tồn tại cho đến lúc gặp đồng đội, tức là lý giải nguồn gốc của sức mạnh đã đem lại chiến thắng của cuộc chiến đấu chống Mĩ. Hình ảnh má phảng phất hiện về trong trạng thái mê tỉnh chập chờn cho thấy má là người thân yêu nhất, là nỗi niềm thiêng liêng nhất của Việt. Hình ảnh chị Chiến hay chú Năm hiện ra gắn liền với cảnh hia chị em giành nhau đi bộ đội cho thấy đó là sự kiện quan trọng nhất, kỉ niệm sâu sắc nhất của Việt. Từ đó, những vấn đề lớn của thời đại được thể hiện.

b) Bút pháp hiện thực

          Nguyễn Thi miêu tả cuộc sống trong những hình thái của bản thân đời sống. Nhà văn không né tránh kể cả những mảng hiện thực dữ dội nhất. Cuộc sống, cuộc đấu tranh thật vô cùng quyết liệt, chi tiết ba của Việt bị Tây chặt đầu mà bà má tay bế con, tay cầm rổ chạy theo đòi giặc trả đầu ba cho kì được, về một mặt nào đó có phần rùng rợn nhưng là một chi tiết điển hình . Thực tế là như vậy và có ghi nhận thì mới hiểu được sức mạnh căm thù quân cướp nước ở người dân Nam Bộ.

Tuy vậy, nhà văn tôn trọng hiện thực mà không sao chép hiện thực. Ông biết chọn lọc những chi tiết có sức thể hiện mà lý luận văn học gọi là chi tiết điển hình. Cảnh hia chị em Chiến, Việt chuyển bàn thờ mẹ qua gửi chú Năm có giá trị biểu đạt cao. Người Việt Nam theo đạo thờ ông bà, cha mẹ và với họ bàn thờ cha mẹ, tổ tien là linh thiêng nhất. Quê hương, đất nước, Tổ quốc trước hết thể hiện nơi bàn thờ. Khi khiêng bàn thờ, Việt mới thấy rõ lòng mình và mối thù giặc Mĩ cậu cảm thấy có thể rờ thấy được.

          Những đứa con trong gia đình là một bức tranh hiện thực, sinh động về cuộc sống của con người Nam Bộ. Đặc biệt phải nói đến ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật giàu tính hiện thực, đậm màu sắc dân gian Nam Bộ đã góp phần xây dựng những chân dung thực về người dân Nam Bộ. Nhà văn dùng ngôn ngữ dân gian để thuật chuyện, gọn gàng, giản dị, chắc nịch, thiên về mô tả hành động. Ngôn ngữ nhân vật đậm màu sắc dân gian, thể hiện tính cách con người Nam Bộ. Lời lẽ của chú Năm bao giờ cũng thể hiện sự khoáng đạt, mạnh mẽ, dứt khoát của chú, một người đã trải nghề sông nước, tâm hồn mở rộng trong không gian bao la của Nam Bộ. Một khi chú đã nhận việc gì về phần mình, chú đều coi việc đó là “thỏn mỏn”, chú không nghĩ đó là việc lớn lao, trọng đại. Ngôn ngữ đối thoại của má Việt thường đanh gọn, dứt khoát. Ngôn ngữ của Chiến, Việt cũng giống như ngôn ngữ của mẹ, thường ngắn gọn, đi vào thực chất câu chuyện mà không vòng vo, không lý sự, ít triết lý. Bản ính của họ là nông dân nên ở họ hành động nhiều hơn là triết luận.

          Những đứa con trong gia đình là một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Thi. Bằng một phong cách nghệ thuật riêng, nhà văn đã góp phần khám phá vẻ đẹp của người nông dân Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, khám phá cội nguồn của sức mạnh chiến thắng của nhân dân ta. Qua một giọt nước, thấy được biển cả. Gia đình Việt, Chiến là hình ảnh thu nhỏ của miền Nam trong những năm tháng đánh Mĩ. Ở gia đình ấy, dấu ấn tội ác do giặc Pháp – Mĩ gây ra đã hằn sâu vào cuốn sổ gia đình. Những gia đình ấy, truyền thống đánh giặc cũng chói lọi, rực rỡ. Câu chuyện gia đình là câu chuyện của cả nước, cả toàn dân tộc.

 

Bài 4.

VỢ NHẶT

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Kim Lân (1920 – 2007) tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình nghèo khó, ông chỉ được học hết bậc Tiểu học rồi phỉa vừa đi làm thợ kiếm sống vừa viết văn.

Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc tỏ ra rất am hiểu về nông thôn và người nông dân.

Vợ nhặt được viết sau Cách mạng tháng Tám, là một chương viết lại của truyện Xóm ngụ cư. Nạn đói mà tác phẩm miêu tả là nạn đói lớn nhất của dân tộc ta trong thế kỷ XX xảy ra vào đầu năm 1945 do Nhật – Pháp gây ra. Đã có đến hơn 2 treeiuj người bị chết trong nạn đói này. Những nhân vật và chuyện đói đều được gợi ý từ thực tế mà nhà văn quan sát và có hư cấu thêm. Theo lời nhà văn Kim Lân, “khi viết về cái đói, thường mọi người có ý nghĩ là khi đói người ta cực khổ và chỉ muốn chết. Tôi định viết một số truyện ngắn nhưng ý khác là khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người. Lúc đói người ta phải kiếm sống, thậm chí nhặt rác rưởi, nhặt ốc, nhặt chuột, ăn uống một cách thê thảm nhưng đến tối họ vẫn có một gia đình, gia đình nào về gia đình ấy, vẫn hi vọng một điều gì. Họ vẫn trò chuyện về đồng áng, giỗ chạp, những chuyện hướng về một cái gì là sự sống, đói nhưng không làm cho người ta đen tối, mất hi vọng dù phải cướp cám mà ăn”.

2. Kim Lân nói về tác phẩm Vợ nhặt

Cũng thoe lời Kim Lân nói về Vợ nhặt, “nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cảnh chết. Bóng tối của nó phủ xuống mọi làng. Trong hoàn cảnh ấy giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo chỉ nhờ mấy bát bánh đúc ngoài chợ - đúng là nhặt được vợ như tôi nói trong truyện”.

Về mĩ học của truyện, cần chú ý đến sự kết hợp giữa cái bi và cái hài như là một nhân tố giúp cho câu chuyện về cái đói giảm bớt chất bi thảm, căng thẳng. Đúng như tác giả nói, dù sao con người vẫn có hy vọng vào tương lai.

Về kỹ thuật kể chuyện trong Vợ nhặt, Kim Lân đã từng nói: “Nhân vật do hoàn cảnh của câu chuyện mà nảy ra những tâm tư, hành động, cách xử sự mà tôi không thể định trước”. Đây là tác phẩm, gióng như nhiều tác phẩm văn xuôi hiện đại khác, sử dụng lối kể chuyện hiện đại theo đó, tác giả không định trước tính cách, tâm lý, hành động của nhân vật. Các phương diện của tính cách bộc lộ dần dần theo diễn biến truyện. Cần chú ý phân tích nghệ thuật kể chuyện này.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Phân tích theo nhân vật

          Đúng theo lời tác giả, qua thiên truyện này, một mặt nhà văn muốn ghi lại để tố cáo tội ác Nhật – Pháp gây ra cho đồng bào ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, mặt khác ông gửi gắm một chủ nghĩa nhân đạo lạc quan: giữa đói khổ, người nông dân vẫn khao khát cuộc sống hạnh phúc đời thường, vẫn hy vọng, tin tưởng vào ngày mai tươi sáng. Chủ đề này thể hiện qua ba nhân vật: Tràng, người “vợ nhặt” vô danh và bà cụ Tứ- mẹ Tràng.

          Khung cảnh nền của câu chuyện là nạn đói kinh hoàng bao phủ vùng quê, tập trung ở xóm ngụ cư. “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Các nhân vật sẽ được tác giả xem xét trong khung cảnh hiện thực, “Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy”.

a) Nhân vật Tràng

-     Tràng có địa vị thấp kém ngay cả ở một vùng quê nghèo vì anh là dân ngụ cư. Vì là dân ngụ cư nên gia đình anh không có ruộng đất, hàng ngày phải đi làm thuê.

-     Ngoại hình nhân vật Tràng xấu xí, thô kệch, có vẻ dữ tợn nhưng thực ra hiền lành. “Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ gì vừa lí thú vừa dữ tợn”. Song cách anh phản ứng lại chuyện bọn trẻ con trêu đùa, quấy quả anh lại cho thấy anh hiền lành, củ mỉ cù mì: “Trẻ con trong xóm, cứ thấy cái thân hình to lớn, vập vạp của hắn từ dốc chợ đi xuống là ùa cả ra vây lấy hắn, reo cười váng lên […]. Đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi. Trang chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch. Cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy cứ mỗi chiều lại xôn xao lên một lúc”. Nét tính cách này được nhấn mạnh rõ ràng có ý nghĩa chuẩn bị cho sự việc anh cưu mang người phụ nữ mà anh sẽ “nhặt” về làm vợ.

-     Tràng bị ế vì thân phận ngụ cư hèn kém, nghèo khổ (anh làm nghề kéo xe chở thóc thuê), vì thế, việc Tràng “nhặt” được vợ ngoài đường vẫn làm cho anh thấy bâng khuâng mãi. Tuy vậy, việc Tràng quyết định “nhặt” người phụ nữ làm vợ có hai nguyên do: (1) Tràng sống cô đơn, không hề biết đến tình cảm của người phụ nữ, anh sống như một thân cây khô héo, rất dễ xúc động trước tình cảm này; (2) Tràng có một tấm lòng nhân hậu, giàu lòng bao dung nên sẵn sàng cưu mang một người phụ nữ xa lạ khi người đó hầu như ở vào cảnh đói rét thê thảm. Hia lần quen nhau tưởng như tầm phào song đã lý giải cho hai nguyên nhân đó. Lần thứ nhất, Tràng đẩy xe bò và thị “lon ton chạy lại đẩy xe cho Tràng… Thị liếc mắt, cười tít. Tràng thích lắm. Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế”. Một nét nhân bản quan trọng của tác phẩm hé mở: ẩn bên trong mỗi con người, dù có nghèo khó, cơ cực đến mấy, vẫn là tình yêu, khát vọng sống có hạnh phúc lứa đôi. Đói nghèo không thể làm thui chột tình yêu của con người. Lần thứ hai gặp lại, Tràng không nhận ra thị vì không ngờ thị “xuống mã” nhanh đến thế: “Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Chắc hẳn Tràng động lòng thương nên anh đã “đãi” con ma đói khát đó một chầu bánh đúc, vì đối với thị lúc đó, ăn đang là tiếng thét mãnh liệt nhất của bản năng: “Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả: ăn thật nhá! ừ ăn thì ăn sợ gì! Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp ba bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Nhiều sáng tác trước Cách mạng tháng Tám của Nam Cao cũng thường xuyên đề cập đến cái đói quay quắt như một sức mạnh bản năng làm biến dạng nhân cách con người (Đòn chồng, Trẻ con không được ăn thịt chó,…). Giữa hai người không hề có tình yêu, sợi dây gắn bó họ với nhau là cái đói. Đó là tình cảnh trớ trêu của câu chuyện “nhặt vợ”.

-     Sự khao khát một tình yêu, tình vợ chồng cộng với lòng trắc ẩn thương người đã khiến Tràng quyết định trước khi có suy nghĩ kĩ: “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Nói thế Tràng cũng tưởng là nói đùa, ai ngờ thị về thật. Mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Sau không biết nghĩ thế nào hắn tặc lưỡi một cái: Chậc, kệ!”. Những người lao động ít nói như Tràng thường có quyết định nhanh chóng, ít phân vân, do dự.

-     Hai mảnh đời cư cực đến với nhau thật đơn giản, khiến những ai giàu lòng trắc ẩn cũng buồn đến nao lòng. Họ lấy nhau giữa lúc cảnh chết đói đang lởn vởn đe dọa không chừa một ai. Cảnh “rước dâu” thật bi thảm, giữa một không gian tăm tối, đầy tử khí: “Ngã tư xóm chợ về chiều càng xác xơ, heo hút. Từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp xúp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Tiếng quạ kêu như tiếng gọi của thần chết, như tiếng những oan hồn đói khát đang vẩn vơ đâu đây (có thể liên tưởng so sánh với tiếng quạ kêu kết thúc truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn). Lộ trình của cuộc rước dâu đi qua những cảnh ghê rợn như vậy đấy.

          Nhưng bất chấp hiện thực vô cùng nghiệt ngã, những cảm xúc mới lạ, lâng lâng vẫn xâm chiếm tâm hồn Tràng, không những làm cho anh đẹp hơn, tốt lên mà còn như tỏa chút ánh sáng ấm áp vào xóm ngụ cư tăm tối: “Giữa cảnh tối sầm vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Mặt hắn có vẻ gì đó phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Tràng thích ý khi hai người đi qua xóm ngụ cư dân chúng đứng trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. “Hình như họ cũng hiểu được đôi phần. Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ”. Đó là cái nhìn từ phía những người dân trong xóm ngụ cư. Còn Tràng? Hắn đắc ý khi thấy “thị” ngượng nghịu, lúng túng, “mặt hắn cứ vênh lên tự đắc với mình” (tự đắc vì nhặt được vợ? vì đã cưu mang một người khốn khổ? Tự đắc với chung quanh vì mình cũng có vợ như ai?)

(Tham khảo thêm đoạn văn bị lược đi trong đoạn trích Vợ nhặt của Ngữ văn lớp 12 để hiểu rõ hơn tâm trạng của Tràng mà tác giả dụng công miêu tả: Hành trình đón dâu của Tràng đã đến lối lẽ vào một con đường nhỏ, vắng vẻ, khi không còn nhiều con mắt dòm ngó, đã thoải mái, Tràng còn “định nói với thị một vài câu rõ tình tứ mà chẳng biết nói thế nào”. Tràng, một gã ngụ cư thất học thì làm sao nói nổi một lời văn hoa. Nhà văn Kim Lân tỏ ra có biệt tài về miêu tả tâm lý nhân vật. Ông nhìn thấy chính lúc Tràng muốn nói vài câu tình tứ ấy là lúc trong lòng y trào dâng một cảm xúc nhân bản sâu sắc: “Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng”. Với cảm xúc lâng lâng, lạ kỳ ấy, cuối cùng anh phu kéo xe chở thóc cục mịch cũng tìm được câu “tình tứ” nhất mà anh ta có thể nghĩ ra được nhân cớ mua hai hào dầu. Nhà văn trân trọng ghi lại những câu đối thoại quê mùa ấy vì đó là những giây phút thăng hoa của tình yêu giữa hai con người khốn khổ: “Câu chuyện xem chừng đã thân thân. Hắn đi sát bên thị hơn, ngẫm nghĩ một lúc, chợt hắn giơ cái chai con vẫn cầm lăm lăm một bên tay lên khoe: - Dầu tối nay thắp đây này. – Sang nhỉ. – Khá thôi. Hai hào đấy, đắt quá, cơ mà chả cần. – Hoang nó vừa vừa chứ. Hắn chặc lưỡi: - Vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chả nhẽ chưa tối đã rúc vào ngay, hì hì… - Khỉ gió. Thị phát đánh đét vào lưng hắn, khoặm mặt lại. Hắn thích chí ngửa cổ cười khanh khách”.

-     Sự việc cứ phát triển theo logic nội tại của nó: Mặc dù nạn đói và cái chết đang rình rập xung quanh, sự gắn bó giữa hai con người khốn khổ vẫn đem lịa cho Tràng một niềm lạc quan, yêu đời. Đêm tân hôn của họ diễn ra trong không gian đầy mùi tử khí “mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”. Toàn truyện luôn luôn có sự đối lập giữa cái đói, cái chết và tình yêu, khát vọng sống của con người để rồi ca ngợi chiến thắng của tình yêu và cuộc sống.

Nhưng sáng hôm sau, tỉnh dậy, Tràng thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Tình yêu vợ chồng đã thay đổi cái nhìn cuộc sống nhân vật, có chút gì gợi lại sự chuyển biến cảm xúc, tâm trọng của Chí Phéo sau khi yêu Thị Nở. Tình yêu nhân đạo hóa con người. Hắn thấy mẹ và vợ hắn đang dọn dẹp nhà cửa, cổng ngõ, một cảnh tượng bình dị mà đời hắn chưa được chứng kiến: “Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.

          Trong tâm hồn Tràng có bao nhiêu cảm xúc cao đẹp, đáng trân trọng. Nhưng nếu không có người vợ thì có lẽ chẳng bao giờ trong anh nảy nở những cảm xúc ấy. Và nếu không có nạn đói kém kinh hoàng thì chắc gì anh – một kẻ nghèo khó, xấu xí, thô kệch – lại “nhặt” không được một người vợ! Với Tràng, đúng là hạnh phúc chỉ đến trong đau khổ. Sự sống chẳng bao giờ chán nản.

b)   Nhân vật người “vợ nhặt”

          Nhân vật người Vợ nhặt có vai trò bổ sung cho hình tượng người chồng là Tràng dẫu cho “thị” luôn đóng vai trò thụ động (theo quan niệm trong xã hội có ảnh hưởng Nho giáo thời xưa, chuyện hôn nhân hay tình yêu thường do nam giới chủ động).

          Sở dĩ tác giả không đặt tên cho người phụ nữ này, có thể là vì chị ta lúc đó, ở vào hoàn cảnh đó đã hành động giống như hàng trăm ngàn người phụ nữ khác. Một người phụ nữ vô danh, không có gì nổi bật, đáng chú ý. Thoạt đầu chị ta đến với Tràng không vì tình yêu. Cái đói quay quắt thôi thúc chị ta phải bấu víu vào một ai đó, một người đàn ông nào đó khả dĩ cứu chị ta khỏi chết đói. Và cách tiếp cận, cách bấu víu chung nhất của chị ta là chỏng lỏn, cong cớn, sưng sỉa, liều lĩnh, mặt dày. Đây là nét tính cách đã hình thành trong môi trường bươn chải, kiếm sống gian nan của chị ta. Đó là một cuộc hôn nhân không định trước, nạn đói, chứ không phải tình yêu, đã mai mối cho hai con người khốn khổ đến với nhau, để nương tựa vào nhau, chống chọi lại cơn bão đói. Bà cụ Tứ, mẹ Tràng nghĩ rất đúng: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được”. Một phụ nữ không có gì hấp dẫn về thể hình cũng như tính nết, nhưng vẫn có thể thổi vào tâm hồn Tràng một ngọn gió yêu đời, lạc quan như vậy. Anh cu Tràng khốn khổ khao khát sống có tình yêu và hạnh phúc gia đình biết bao.

Tính cách người “vợ nhặt” cũng có thay đổi: Trước tấm lòng nhân hậu của Tràng và bà cụ Tứ, chị ta đã tìm lại được phẩm chất phụ nữ chưa bị dập tắt hẳn. Vẫn là quy luật tình yêu nhân đạo hóa con người. Sau khi tiếp xúc với mẹ chồng, sau những cử chỉ yêu thương của Tràng, qua đêm tân hôn hạnh phúc, chị ta đã có thay đổi: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh. Không biết có phải vì làm dâu mà thị tu chí làm ăn không?”. Nếu không phải đổi khác vì tình yêu thì chí ít là vì tình người. Những con người khốn khổ ấy cần cho nhau, có thể mang lại hạnh phúc cho nhau, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn thử thách.

c)     Nhân vật bà cụ Tứ

          Để hình tượng bà mẹ Tràng xuất hiện là cách tác giả đưa thêm một điểm nhìn mới đói với việc Tràng lấy vợ. Bà cụ mau chóng hiểu ra chuyện con mình nhặt được vợ thì nghẹn ngào thương hai con. Với sự từng trải, với sự hiểu biết và với lòng yêu thương con, cụ nhìn thấy trong việc con lấy vợ một cái gì đó thật đáng thương, thật ai oán. Đơn giản nhất là bà lo không biết chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không.

          Cụ thương con trai vì nhà nghèo hèn nên chỉ có thể lấy vợ trong lúc đói kém, khó khăn. Cụ lo cho chúng nó sẽ lặp lại cuộc đợi cực khổ dài dằng dặc của vợ chồng cụ trước đây. Và người mẹ không cầm được nước mắt vì nghĩ đến mâm cơm đạm bạc thê thảm của ngày đói sẽ là bữa tiệc cưới mừng hai đứa thành gia thất.

Nhưng vẫn với một tấm lòng trải đời, tấm lòng nhiều xót thương day dứt ấy bà cụ Tứ vẫn dành cho con một sự chăm sóc thật cảm động. Trong bữa cơm, cụ bàn chuyện tương lai: “Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này: - Tràng ạ, khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho xem”. Có lẽ đó là ước mơ thầm kí của cụ về việc sinh sôi nảy nở trong căn nhà của mình. Hình ảnh đàn gà đông đúc có thể gợi liên tưởng đến lũ cháu chắt đông vui của cụ trong tương lai. Và cũng không chỉ bàn hay suy nghĩ, bà cụ còn ‘xăm xăm thu dọn, quét tước nhà cửa. Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”.

          Nhờ có hình tượng bà cụ Tứ mà câu chuyện “nhặt vợ” của Tràng được soi chiếu từ một góc độ mới, làm bật lên các âm hưởng khác nhau: đau buồn và hứng khởi, bi quan và lạc quan, lãng mạn và đời thường. Những cung bậc cảm xúc đa dạng đan xen nhau, thay đổi nhanh chóng trong thời gian trước và sau đêm tân hôn.

          Chuyện anh cu Tràng nhặt vợ là chuyện buồn vui xen kẽ. Liệu cuộc đời vợ chồng Tràng có tái diễn lại cuộc đời của bố mẹ anh không? Câu trả lời dường như bỏ ngỏ, nhưng hình ảnh “những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp” và lá cờ đỏ bay phấp phới kết thúc câu chuyện lại dự báo một tương lai lạc quan hơn. Cách mạng về, cuộc sống mở ra thoe một chiều hướng mới. Những thân phận khốn khổ sẽ tìm thấy lối thoát cho cuộc đời mình ở cách mạng.

2.     Đặc điểm về nghệ thuật

          Như Kim Lân đã tâm sự, khi viết Vợ nhặt, ông không định trước tâm tư, hành động, cách ứng xử của nhân vật. Điều đó có nghĩa là tính cách nhân vật và diễn biến của câu chuyện dần dần bộc lộ trong tiến trình câu chuyện. Tác giả tôn trọng tính khách quan, tính hiện thực của nhân vật. Truyện được kể theo cách không báo trước mà người đọc cũng không thể dự đoán trước mọi diễn biến. Tình huống truyện dần dần hiện ra. Sự bất ngờ gây hứng thú cho người đọc. Một buổi chiều, giữa lúc nạn đói kinh hoàng như một cơn gió độc lan đến xóm ngụ cư, dân xóm bỗng thấy Tràng dẫn một người đàn bà lạ về nhà. Người đói là ai, có quan hệ gì với Tràng, quan hệ đó đi đến đâu, ứng xử của người trong xóm, người trong gia đình Tràng sẽ như thế nào? Những câu hỏi ấy lần lượt được đặt ra và tác giả để cho nhân vật tự dẫn dắt tiến  trình truyện. Đây là điều khác biệt về cách kể chuyện của văn xuôi thời trung đại. Trong văn xuôi thời trung đại, người kể chuyện tỏ ra biết hết, biết trước mọi chuyện và câu chuyện được kể ra như để minh họa cho điều đã biết trước đó. Mở đầu Chuyện người con gái Nam Xương (trích Truyền kỳ mạn lục), Nguyễn Dữ viết: “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thật hòa” (Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2007). Tác giả đã cho biết trước Vũ thị xinh đẹp, nết na, chàng Trương đem trăm lạng bạc cưới về” nhưng có tính hay ghen. Đặc điểm này báo trước bi kịch do lòng ghen thái quá của Trương sẽ gây ra cho Vũ thị.

          Sự kết hợp, đan xen chất bi và chất hài như hai pham trù mĩ học đối lập nhau cũng là một nét đáng chú ý của truyện. Phần đầu truyện, có những cảnh hàm chứa chất hài hước đối lập với sự xám xịt, tăm tối của cảnh chiều tàn trong xóm ngụ cư “tối sầm lại vì đói khát ấy”. Tràng về nhà với một người đàn bà, vừa đi vừa “tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Trẻ con trêu Tràng và người phụ nữa lạ kia với câu nói lái “chông vợ hài”. Tràng nhớ lại cảnh hai người quen nhau với những hoạt cảnh hài hước. Giữa cảnh đói khát đến cơm chẳng có mà ăn, Tràng hò “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này! – Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!”. Rồi thị “cong cớn” nói, chạy “lon ton” lại đẩy xe cho anh. Lần sau, Tràng vỗ túi đựng tiền nói “Rích bố cu” (“rất giàu” hay có thể hiểu nôm nay là “khối tiền đây”). Câu nói bằng tiếng Pháp “bồi”, tức tiếng Pháp nói không chuẩn của người không được học chính quy, bài bản trong tình huống ấy thật hài hước, làm duyên dáng thêm cho cuộc giao duyên vốn rất tầm thường chỉ dừng lại ở “chủ đề ăn uống”. Mấy gã đẩy xe bò mà cũng nói tiếng Pháp cơ đấy! Rồi liệu có được mấy hào trong túi tiền mà khoe khoang? Dẫu sao thì cử chỉ và câu nói đùa của Tràng đã mở đường tiến tới khá táo bạo cho người phụ nữ đói khát với hai con mắt trũng hoáy “sáng lên”… Chất hài giúp cho câu chuyện bớt căng thẳng nặng nề, niềm vui sống vẫn ẩn chứa đâu đây dẫu cho đói khát và cái chết đong lởn vởn quanh họ.

          Điểm nhìn trần thuật cũng là điều cần nhấn mạnh khi viết về nghệ thuật kể chuyện của tác giả. Sự đa dạng, nhiều chiều của điểm nhìn nghệ thuật đã được Kim Lân vận dụng để kể chuyện: khi kể bằng ngôn ngữ tác giả, khi kể bằng ngôn ngữ bình luận của dân xóm ngụ cư, kể cả của trẻ con “chông vợ hài”, khi từ điểm nhìn của Tràng, khi từ điểm nhìn của bà cụ Tứ với ngôn ngữ, tâm trạng riêng của người mẹ từng trải, rất thương con, vừa mừng vừa lo trước cảnh hai đứa con về ở với nhau. Chẳng hạn, những  c âu nói trao đổi qua lại của người dân xóm ngụ cư thắc mắc về người đàn bà lạ theo sau Tràng đã thay thế cho lời dẫn dắt của tác giả - nếu chỉ thuần ngôn ngữ kể của tác giả câu chuyện sẽ đơn điệu, đồng thời tạo ra không gian cho diễn biến câu chuyện. Xung quanh hai người có nhiều người chứng kiến câu chuyện của họ, bình luận về họ, với nỗi niềm vui buồn xen kẽ. Do đó câu chuyện khá phong phú sắc thái thẩm mĩ: trẻ con chỉ nhìn thấy sự hài hước, dân xóm ngụ cư có sự cảm thông, bà mẹ thấy bi thảm, thương xót, Tràng thấy hứng khởi, có thể đùa tếu. Câu chuyện có nhiều đoạn đối thoại giữa các nhân vật làm thay đổi mạch truyện kể.

 

Bài 1. Nam Cao là một nhà văn lớn của nền văn học hiện thực phê phán nói riêng và là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam nói chung. Sở dĩ Nam Cao có một vị trí xứng đáng như vậy bởi cả cuộc đời cầm bút của mình, ông luôn trăn trở để nâng cao “Đôi Mắt” của mình. Tất cả những gì Nam Cao để lại cho cuộc đời chính là tấm gương của một người “trí thức trung thực vô ngần” luôn tự đấu tranh để vươn tới những cảnh sống và tâm hồn thật đẹp. Với những nét tiêu biểu như vậy, Nam Cao đã thể hiện qua một hệ thống các quan điểm sáng tác của mình trước cách mạng tháng Tám.

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám được thể hiện qua “Trăng Sáng” và “Đời Thừa”. Trong “Trăng Sáng”, nhà văn quan niệm văn chương nghệ thuật phải “vị nhân sinh”, nhà văn phải viết cho hay, cho chân thực những gì có thật giữa cuộc đời, giữa xã hội mà mình đang sống. Ông viết “Chao ôi! Nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than”. Đó chính là quan điểm nghệ thuật của Nam Cao. Trước cách mạng, Nam Cao mang tâm sự u uất, đó không chỉ là tâm trạng của một người nghệ sĩ “tài cao, phận thấp, chí khí uất” (Tản Đà) mà đó còn là tâm sự của người người trí thức giàu tâm huyết nhưng lại bị xã hội đen tối bóp nghẹt sự sống. Nhưng Nam Cao không vì bất mãn cá nhân mà ông trở nên khinh bạc. Trái lại ông còn có một trái tim chan chứa yêu thương đối với người dân nghèo lam lũ. Chính vì lẽ đó mà văn chương của ông luôn cất lên “những tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”.



Trong “Đời thừa”, một tác phẩm tiêu biểu của văn Nam Cao trước cách mạng, Nam Cao cũng có những quan điểm nghệ thuật. Khi mà ta đã chọn văn chương nghệ thuật làm nghiệp của mình thì ta phải dồn hết tâm huyết cho nó, có như thế mới làm nghệ thuật tốt được. “Đói rét không có nghĩa lý gì đối với gã tuổi trẻ say mê lý tưởng. Lòng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở. Hắn đọc, suy ngẫm, tìm tòi, nhận xét, suy tưởng không biết chán. Đối với hắn lúc ấy nghề thuật là tất cả, ngoài nghệ thuật không có gì đáng quan tâm nữa…”. Nam Cao còn quan niệm người cầm bút phải có lương tâm và trách nhiệm đối với bạn đọc, phải viết thận trọng và sâu sắc: “sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi, còn sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Với Nam Cao, bản chất của văn chương là đồng nghĩa với sự sáng tạo “văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. Quan điểm của Nam Cao là một tác phẩm văn chương đích thực phải góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc: Nó phải chứa đựng một cái gì đó vừa lớn lao vừa cao cả, vừa đau đớn vừa phấn khởi: “Nó ca ngợi tình thương, lòng bác ái, sự công bình, nó làm người gần người hơn”.

Văn nghiệp của Nam Cao (1915-1951) chủ yếu được thể hiện trước cách mạng tháng Tám. Với quan điểm sáng tác thể hiện trong hai truyện “Trăng Sáng” và “Đời Thừa” giúp ta hiểu sâu hơn về Nam Cao. Qua đó, ta thấy được những đóng góp về nghệ thuật cũng như tư tưởng của Nam Cao cho văn học Việt Nam. Từ đấy giúp ta hiểu vì sao Nam Cao – một nhà văn chưa tròn bốn mươi tuổi lại để lại cho cuộc đời một sự nghiệp văn chương vĩ đại đến như vậy.

Bài 2.
Thời kỳ văn học 1930-1945, không ai vượt được Nam Cao trong việc mô tả tấn bi kịch của người trí thức, nhất là người trí thức nghèo trong xã hội cũ. 

Chỉ xét riêng một truyện ngắn Đời thừa (in lần đầu tiên vào cuối năm 1943), ta cũng có thể nhận ra tấn bi kịch ấy với bao nghịch cảnh, bế tắc, xót xa. 

Hộ, nhân vật chính của Đời thừa, là một nhà văn có tài và đầy tâm huyết. Người đọc có thể nhận ra ở Hộ nhiều nét tự truyện của chính Nam Cao. Hộ đã từng viết được những tác phẩm có giá trị, được bạn bè cùng giới viết văn và người đọc yêu mến, cổ vũ. Nhưng, không muốn dừng lại ở bất kỳ chặng nào của thành công, không bao giờ mãn nguyện với những gì đã được viết ra. Hộ luôn luôn khao khát vươn tới cái tận thiện, tận mĩ của nghệ thuật. Hộ thèm khát nghĩ đến một tác phẩm “nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời”. 

Hộ dốc lòng phụng sự nghệ thuật. Với Hộ, nghệ thuật là tất cả,là trên hết, niềm đam mê nghệ thuật cao nhất, loại trừ hết mọi đam mê khác. Công việc hàng ngày của Hộ chỉ còn có hai thứ: đọc và viết, không viết thì đọc, không đọc thì viết; đọc để càng hoàn thiện thêm cây bút của mình, đọc để thưởng thức cái đẹp chân chính, cái đẹp cao thượng của văn chương nghệ thuật; viết để sáng tạo, để thể hiện những khát vọng đẹp đẽ của mình về văn chương thế sự. Đọc và viết, Hộ quên tất cả cuộc đời nhỏ nhen, quên tất cả những khó khăn, nghèo túng của một nhà văn nghèo. Trong cách nhìn của Hộ, cả cái nghèo túng ấy cũng là một nét đẹp, cái đẹp của một nhà văn, một con người quên mình vì văn chương, nghệ thuật. 

Hộ (và cả Nam Cao nữa) có là một nhà văn “nghệ thuật vị nghệ thuật” không? Không. Bởi với Hộ, nghề văn thật là một nghề cao đẹp trong đời, là một nghề có ý nghĩa phục vụ con người, phụng sự nhân loại ở mức độ cao. Nó làm cho con người trở nên phong phú hơn, cao thượng hơn, nhân ái và độ lượng hơn, gần gũi nhau hơn. Hộ tự đòi hỏi cao và không bao giờ tự bằng lòng về mình, vì cái đẹp, sự tuyệt đối của nghệ thuật, đồng thời cũng vì một ý thức trách nhiệm cao đối với người đọc, đối với nhân loại mà Hộ phụng sự. Đối với Hộ, đưa ra cho người đọc một tác phẩm mờ nhạt, nông cạn, hơn nữa, lại viết cẩu thả, là một việc làm thiếu lương tâm, tệ hơn nữa, đó là một sự lừa gạt. Không muốn chỉ làm “một người thợ khéo tay” trong nghề văn. Hộ muốn “khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có”. Cuộc đời mà sống với những hoài bão như của Hộ, luôn phấn đấu để vươn tới, để hoàn thiện, luôn nhìn thấy mối mâu thuẫn giữa điều đã làm được và điều đáng phải làm được, luôn cố gắng để xoá bỏ sự mâu thuẫn giữa điều mình đang có và cái mình phải có, phải vươn tới; nguyên chừng ấy thôi đã đủ để cho người ta không yên, đã đủ để người ta phải sầu khổ, nhiều khi cảm thấy đổ vỡ. Nhưng không chỉ có thế, tấn bi kịch của Hộ còn lớn hơn nhiều! 

Là một người tôn thờ cái đẹp, cái cao thượng trong văn chương, Hộ cũng muốn sống đẹp trong tư cách một con người. Và Hộ đã có một hành động đẹp, tuyệt đẹp của lòng nhân ái. Hộ đã cứu danh dự của Từ, cứu sống đời Từ, cưu mang Từ đúng vào lúc Từ cần đến những điều ấy nhất. Trong tư cách một người chồng, một người cha, Hộ muốn Từ và các con mình hạnh phúc, ít nhất là không khổ, không đau khổ. Nhưng Hộ đã làm được những gì? Từ càng ngày càng khổ, càng gầy gò, xanh xao vì thiếu thốn, đói khát. Các con Hộ thì càng nheo nhóc, tật bệnh. Nguyên chỉ nhìn thấy cái cảnh ấy cũng đã đau khổ rồi, đầy bi kịch rồi, bi kịch của một người muốn làm điều tốt, muốn hạnh phúc cho người khác mà không sao làm được. 

Tuy nhiên bi kịch chính của Hộ là ở chỗ này: mối mâu thuẫn giữa khát vọng của một người nghệ sĩ với ước muốn làm một con người tốt đẹp. Để có tiền có thể nuôi vợ nuôi con (dầu chỉ có mức độ thiếu đói), Hộ phải viết vội những tác phẩm mà ngay khi biết ra xong, chính Hộ đã thấy chán. Hộ phải chống lại ngay chính mình, vi phạm ngay những tiêu chuẩn mà Hộ đặt ra cho mình trong tư cách nhà nghệ sĩ. Viết văn để kiếm tiền, viết vội, viết cẩu thả, đó là điều không thể tha thứ, không thể bào chữa được, đối với Hộ. Nhưng để làm một người nghệ sĩ chân chính ư? Thì Hộ phải bỏ mặc vợ con, thậm chí tàn nhẫn với vợ con. Nhưng như thế, với Hộ, lại là hèn nhát, là vô lương tâm, cũng không thể tha thứ được. Hộ đã chẳng từng nêu như một tiêu chuẩn sống là gì: Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình”. Hộ không thể chọn lấy một trong hai con đường: hi sinh nghệ thuật để làm một người chồng, người cha tốt, hoặc vì cái đẹp tối thượng của nghệ thuật mà hi sinh phần con người, làm một con người nhẫn tâm, vô trách nhiệm. Cả hai thứ trách nhiệm ở Hộ đều được ý thức rất cao. Hộ không có quyền, và không thể chọn lấy và hi sinh bất kỳ phần nào. Tấn bi kịch thường xuyên dai dẳng của Hộ chính là ở đó. Trên cả hai phương diện trách nhiệm, Hộ đều cảm thấy mình làm được ở mức tồi nhất. Vì thế mà Hộ luôn luôn lên án mình, tự xỉ vả mình. Tấn bi kịch ấy trở thành một chứng u uất trầm kha nơi Hộ, có những lúc đã bộc phát lên. Những lúc ấy, những lúc say rượu, Hộ đã chọn lấy một, đã muốn tìm một giải phóng cực đoan nhất. Nhưng rồi tỉnh cơn say, tình thế vẫn vậy, cái vòng lẩn quẩn vẫn vậy, xem chừng lại nặng nề, bi đát hơn. 

Đời thừa kết thúc bằng một lần tỉnh rượu của Hộ sau một cơn say (trước đó đã bao nhiêu lần như thế?), Hộ khóc trước cái dáng nằm ngủ khổ sở của Từ, trong vòng tay gầy yếu của Từ. Cả Từ cũng khóc. Hộ khóc vì hối hận đã tệ bạc, đã tỏ ra thô bạo với Từ. Nhưng nguyên nhân chính, hẳn Hộ đã khóc cho nỗi đau của mình, khóc vì cái bế tắc của đời mình, khóc sự tan vỡ thảm thương của hoài bão to tát và đẹp nhất của mình. Rồi cả Từ nữa, Từ cũng khóc vì cô đã mơ hồ nhận ra điều đó. 

Đời thừa có phải là tấn bi kịch muôn đời của người trí thức? Người ta có thể vừa sống với hoài bão lớn lao hiến dâng cho sự nghiệp, vừa sống với phần con người tốt đẹp của mình không? Được lắm chứ. Thế thì nguyên nhân bi kịch của Hộ ở đâu? Chính là ở sự bế tắc chật hẹp của đời sống. Cái vòng lẩn quẩn mà xã hội đã khép chặt lại trên thân phận người trí thức nghèo trong xã hội cũ, đặc biệt xã hội Việt Nam thời kỳ 1930-1945. 

Nam cao, với Đời thừa, đã để lại cho ta một bức tranh hiện thực, đồng thời cũng để lại cho ta một thông điệp. Người ta có thể sống mà không cảm thấy đời mình là đời thừa; không cảm thấy sống là sống mòn, là một cách chết mòn. Muốn thế, phải giật tung hết những cái lẩn quẩn, những bế tắc của đời sống đi. Cuộc khởi nghĩa tháng Tám đã làm công việc đó.

Sưu tầm



Bài 3.
1. Sơ lược về tiểu sử
 - Nam Cao (1915 – 1951) là bút danh của nhà văn - nhà báo - liệt sĩ Trần Hữu Tri. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, nay thuộc Hòa Hậu, Lí Nhân, Hà Nam (cách thành phố Nam Định chừng hơn 10 km).   
- Học xong thành chung, Nam Cao bôn ba nhiều nơi, nhưng bệnh tật đẩy ông về quê. Từ đó, Nam Cao sống chật vật bằng nghề dạy học và viết văn. Năm 1943 , ông vào Hội Văn hoá cứu quốc. Tham gia Tổng khởi nghĩa ở quê hương, ông được cử làm chủ tịch xã.
Sau Cách mạng, với tư cách phóng viên - Nam Cao có mặt trong đoàn quân Nam tiến, rồi lên chiến khu Việt Bắc làm công tác văn nghệ. Cuối tháng 11 năm 1951, trên đường đi công tác vào vùng địch tạm chiếm, Nam Cao anh dũng hi sinh tại làng Vũ Đại, huyện Gia Viễn, Ninh Bình, khi tài năng đang nở rộ
- Là cây bút xuất sắc của dòng văn học hiện thực (1940 - 1945), là người đi tiên phong trong việc xây dựng nền văn học mới, Nam Cao được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1,1996).
2. Con người
- Nhìn bề ngoài, Nam Cao có phần vụng về, ít nói, lạnh lùng nhưng nội tâm thì luôn luôn sôi sục, căng thẳng. Trong ông thường diễn ra xung đột gay gắt giữa “lòng nhân đạo và thói ích kỷ, giữa tinh thần dũng cảm và thái độ hèn nhát, giữa tính chân thực với sự giả dối, giữa khát vọng cao cả với mong muốn tầm thường”. Các trang viết về tri thức nghèo thể hiện rất rõ đặc điểm trên đây trong con người Nam Cao.
- Nam Cao sống ân tình với người nghèo khổ, bị áp bức, khinh miệt. Vì vậy, viết về người nghèo, ngòi bút Nam Cao lúc nào cũng tràn đầy niềm xót thương, cảm thông...
- Ông luôn luôn trăn trở, suy tư về bản thân và cuộc sống. Vì thế, từ những chuyện nhỏ nhặt, thường ngày, Nam Cao nêu được nhiều vấn đề xã hội lớn lao, nhiều bài học triết lý sâu sắc. Với mình thì khiêm nhường, với người thì trân trọng
Ba đặc điểm trên đây ảnh hưởng nhiều đến phong cách sáng tác của Nam Cao.

Bài 4.

- Nguyễn Tuân (1910-1987) người Hà Nội.
 - Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: tài hoa, tài tử, uyên bác, độc đáo. Ông là người suốt đời đi tìm cái đẹp. Tác phẩm của Nguyễn Tuân là những tờ hoa, trang văn đích thực thể hiện tấm lòng gắn bó thiết tha với những giá trị văn hóa cổ truyền, với nếp sống thanh cao, đầy nghệ thuật của ông cha… Nguyễn Tuân sở trường về tuỳ bút.
 - Tác phẩm tiêu biểu: “Vang bóng một thời” (1940), “Sông Đà” (1960), “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” (1972),…

 

Bài 1.

Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)

Chuyên đề này nhằm giúp các em củng cố các vấn đề cơ bản xoay quanh tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”:

- Hình ảnh gia đình như một dòng sông liền chảy với các thế hệ nối tiếp nhau giữ gìn truyền thống.

- Hình tượng nhân vật Chiến và Việt tiêu biểu cho vẻ đẹp của tuổi trẻ Miền Nam chống Mĩ.

- “Chất Nam Bộ” của ngòi bút Nguyễn Thi thông qua việc xây dựng các nhân vật tiêu biểu cho tính cách người Nam Bộ và hệ thống ngôn ngữ mang màu sắc địa phương phong phú, sinh động.

KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Vài nét về tác giả, tác phẩm:

a. Tác giả

+ Tiểu sử - con người:

- Bút danh: Nguyễn Hoàng Ca.

- Tuổi nhỏ: vất vả, tủi cực.

- 15 tuổi vào Nam vừa  đi làm kiếm sống vừa tự học nơi đất khách quê người > tâm hồn giàu suy tư, trải đời, hiểu người sâu sắc.

- Quê ở Bắc nhưng sống, làm việc, hoạt động cách mạng chủ yếu ở Miền Nam > gắn bó ân tình, chung thủy với nhân dân miền Nam.

+ Sáng tác:

- Thể loại: bút kí, truyện ngắn, tiểu thuyết.

- Tác phẩm tiêu biểu: Truyện và kí (1978)

- Đặc điểm:

• Nguồn cảm hứng: xuất phát từ hiện thực nóng bỏng, ác liệt ở mặt trận miền Đông – Nam Bộ.

• Nhân vật: viết thành công nhất về người nông dân Nam Bộ:

Bản chất hồn nhiên, bộc trực, căm thù giặc sâu sắc, lạc quan, yêu đời, tín nghĩa.

 Gan góc, sẵn sàng hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc > chất “Út Tịch” trong mỗi nhân vật.

• Khả năng thâm nhập sâu vào đời sống tâm lí nhân vật:

 Tài quan sát.

 Năng lực phân tích sắc sảo.

 Diễn tả chân xác những điều nhân vật cảm thấy> tái hiện chân thực, sinh động quá trình tâm lí tế vi của nhân vật.

• Ngôn ngữ: góc cạnh, phong phú, giàu chất tạo hình., đậm khí chất Nam Bộ > tạo dựng không gian văn hóa và cá tính nhân vật.

• Giàu chất hiện thực (nhiều chi tiết dữ dội, ác liệt của chiến tranh), vừa đằm thắm chất trữ tình.

+ Vị trí văn học sử: cây bút văn xuôi tài năng của văn học kháng chiến.

b. Tác phẩm

+ Xuất xứ: Rút từ tập “Truyện và kí” (1978)

+ Khái quát về tác phẩm:

- Truyện tái hiện qua hồi tưởng của nhân vật Việt, trong tình trạng bị thương, mê man, hiện tại và quá khứ đan xen để nói lên truyền thống một gia đình từ đó khái quát bức tranh Nam Bộ.

- Diễn biến: đứt nối theo trí nhớ nhân vật > những mảnh hiện thực chắp dính linh hoạt.

+ Vị trí: Là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Thi.

2. Phân tích:

a. Tình huống truyện

Câu chuyện gia đình của anh giải phóng Việt rơi vào tình huống đặc biệt: bị thương nặng trong một trận đánh, phải nằm lại giữa chiến trường.

+ Nhiều lần ngất đi rồi tỉnh lại

+ Truyện kể theo dòng nội tâm nhân vật: khi đứt (ngất đi) khi nối (tỉnh lại)

 Cách trần thuật theo dòng ý thức nhân vật.

b. Cách trần thuật

+ 3 phương thức trần thuật phổ biến trong tác phẩm tự sự (căn cứ vào ngôi của nhân vật được kể).

- Phương thức 1: theo ngôi thứ 3 của người kể chuyện giấu mình > lời gián tiếp.

- Phương thức 2: theo ngôi thứ nhất do nhân vật tự kể chuyện > lời trực tiếp.

- Phương thức 3: theo ngôi thứ ba của người kể chuyện tự giấu mình nhưng điểm nhìn, lời kể lại theo giọng điệu của nhân vật > lời nửa trực tiếp.

+ Những đứa con trong gia đình: kể theo phương thức thứ 3

c. Hình ảnh gia đình

+ Má: (đọc toàn bộ truyện để có sự phân tích khái quát)

- Qua kí ức đứa con: rất phụ nữ, vị tha, nhân hậu nhưng không mềm yếu.

- Có cuộc sống cơ cực, lam lũ, nhọc nhằn, khổ đau (bốc chồng và chồng bị giặc giết, một thân một mình nuôi ba đứa con nhỏ)

- Tính cách phi thường trong những biểu hiện tình cảm bình thường:

o Với chồng: đi đòi đầu chồng > gan góc.

o Với con:

 Thương con hết mực nhưng rất nghiêm khắc (trong hồi ức chập chờn của Chiến, Má hiện lên đầu tiên: ghé lại, xoa đầu, đánh thức, lấy cơm cho Việt ăn…)

 Luôn luôn nhắc nhở con về truyền thống gia đình và mối thù dân tộc.

 Hun đúc, nuôi dưỡng ở con ý chí chiến đấu không mệt mỏi.

 Cả Chiến và Việt luôn tạc dạ lời dặn của mẹ > hình bóng của người mẹ đầy yêu thương và có sức mạnh cổ vũ mãnh liệt với hai chị em. Má in dấu trong mỗi câu nói, mỗi hành động của từng đứa con.

+ Chú Năm:

- Khắc họa qua giọng hò:

“Câu hò nổi lên giữa ban ngày, bắt đầu cất lên như một hiệu lệnh dưới ánh nắng chói chang, rồi kéo dài, từng tiếng một vỡ ra, nhắn nhủ, tha thiết, cuối cùng ngắt lại như một lời thề dữ dội” > so sánh tiếng hò như “một hiệu lệnh”, “một lời thề dữ dội” > Tiếng hò hút tất cả tâm lực của Chú Năm > vừa nhắc nhớ về truyền thống, thắp lên niềm tự hào về quê hương khó nghèo nhưng giàu có và bất khuất, vừa như lời hiệu triệu, một tiếng trống quân thúc giục động viên thanh niên ra trận.

- Giữ cuốn sổ gia đình, ghi từng ngày thay cho Việt và Chiến.

 Người giữ lửa yêu nước truyền cho các thế hệ.o

 Những con người có chung phẩm chất: yêu nước, gắn bóo với quê hương tha thiết, căm thù giặc, gan góc, kiên cường, chiến đấu hết mình vì Tổ quốc.

+ Cuốn sổ gia đình

- Chi chi tiết những việc xảy ra với gia đình > bằng chứng sống về tội ác của kẻ thù, lưu giữ, nuôi dưỡng truyền thống gia đình.

- Trao cho Việt và Chiến > hành động ý nghĩa: trao cho thế hệ con cháu trách nhiệm giữ gìn truyền thống.

- Cuốn sổ như một con sông > Con sông tích tụ nước từ bao đời, luôn luôn chảy (như các thế hệ tiếp nối nhau), đổ vể biển rộng (hòa quyện vào truyền thống bất khuất của dân tộc, hướng tới tương lai tươi sáng) > dòng chảy truyền thống gia đình bền bỉ, liên tục và bất tử.

Nhận xét:

• Hình ảnh gia đình, gắn với nhan đề tác phẩm, là môi trường khắc họa hình ảnh những đứa con.

• Tiêu biểu cho hình ảnh những gia đình miền Nam giàu truyền thống yêu nước trong kháng chiến chống Mĩ.

d. Hình ảnh những đứa con

+ Chiến:

- Tính cách trẻ con:

• Tranh đi bộ đội với em

• Tranh bắt ếch.

- Mang những phẩm chất của Má

• Đảm đang, tháo vát: Thu xếp nhà cửa gọn gàng trước khi đi.

• Tiềm ẩn bản năng chăm lo của một người phụ nữ: thương và lo cho em, nghĩ ngợi việc nhà…

• Bộc trực, quyết liệt, gan góc, không đội trời chung với kẻ thù: “Nếu giặc còn thì tao mất”.

> Chiến là hình ảnh tiếp nối của Má: 3 lần được so sánh với má (nói in như má vậy, giống hệt như má vậy, nói nghe in như má vậy) > sự tiếp nối truyền thống gia đình >dòng chảy truyền thống dạt dào qua các thế hệ.

+ Việt:

- Tính cách trẻ con, hồn nhiên, vô tư:

• Tranh đi bộ đội, tranh bắt ếch với chị.

• Trong khi chị Chiến lo toan thu xếp việc gia đình thì Việt “lăn kềnh ra ván cười”, vừa nghe vừa “chụp một con đom đóm úp trong lòng tay” rồi ngủ quên lúc nào không biết

• Đi đánh giặc vẫn đeo ná thun.

• Không sợ giặc nhưng lại sợ ma.

- Yêu thương, gắn bó với gia đình

• Thương má:

o Hình dung về má qua hồi ức của Việt dịu dàng, tha thiết.

o Chuyển bàn thờ má: nhắn nhủ, tâm sự với má về quyết tâm trả thù.

• Thương chú Năm, thương chị: “Chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ”

- Chiến sĩ giải phóng gan góc, quả cảm:

• Diệt được xe bọc thép của giặc.

•  Bị thương nặng, lạc đồng đội, trong hồi ức đứt nối nhưng luôn thường trực nung nấu: tìm về với anh em, để tiếp tục đấu tranh.

- Căm thù giặc sâu sắc và quyết tâm chiến đấu đến cùng:

• Thể hiện sâu sắc qua chi tiết cảm động: chuyển bàn thờ mẹ cùng chị Chiến

• Đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặ trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa má về > lời nhắn nhủ, tâm tình cũng là lời thế, lời hứa với Má.

•  Mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai > mối thù trừu tượng tụ thành hình thành khối như máu bầm không tan.

>> Việt và Chiến vừa là khúc sau của dòng sông truyền thống gia đình vừa tiêu biểu cho thế hệ trẻ miền Nam chống Mĩ: bộc trực, thẳng thắn, gan dạ, dũng cảm, căm thù giặc sâu sắc, yêu nước tha thiết và quyết tâm chiến đấu vì độc lập.

e. Một vài nét đặc sắc về nghệ thuật

+ Xây dựng nhân vật: am hiểu và diễn tả chân xác, sâu sắc tâm lí nhân vật > cá thể hóa tính cách.

+ Ngôn ngữ: đậm chất Nam Bộ, từ cách xưng hô, cách dùng từ, cách nói… (Việt đá trái dừa rụng xuống mương cái đùng, việc thỏn mỏn, nói in như má…)

 

CỦNG CỐ KIẾN THỨC

Đề 1: Phân tích nhân vật Việt trong “Những đứa con trong gia đình” để thấy vẻ đẹp tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ.

Để 2: So sánh hai nhân vật Việt và Chiến.

Đề 3: Trong truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”, nhân vật chú Năm nói: “Chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó”.

Hãy phân tích và chứng minh: trong truyện ngắn này, có một dòng sông truyền thống gia đình liên tục chảy từ thế hệ cha ông đến đời chị em Chiến Việt.

Gợi ý giải đề:

Đề 1: Nhân vật Việt > thấy vẻ đẹp tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ

+ Tổng quát:

- Giới thiệu chung về tác giả , tác phẩm.

- Vị trí, ý nghĩa hình tượng nhân vật Việt trong việc biểu hiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

+ Phân tích:

- Trẻ con, hồn nhiên > góp phần khắc họa hình ảnh tuổi trẻ chống Mĩ sinh động.

- Yêu thương, gắn bó với gia đình.

- Gan góc, quả cảm.

- Căm thù giặc sâu sắc và quyết tâm chiến đấu đến cùng.

+ Đánh giá:

- Vai trò, ý nghĩa hình tượng  với giá trị tác phẩm.

- Tiêu biểu cho vẻ đẹp tuổi trẻ chống Mĩ.

- Đặc sắc nghệ thuật xây dựng hình tượng: miêu tả tâm lí, ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ miêu tả sinh động có tác dụng cá tính hóa nhân vật.

- So sánh với hình tượng chiến sĩ giải phóng khác trong văn học chống Mĩ để thấy Nguyễn Thi là những “nhà văn của nông dân Nam Bộ” , xây dựng hình tượng người chiến sĩ giải phóng “đậm chất Nam Bộ”.

Để 2: So sánh tính cách hai nhân vật Việt và Chiến.

+ Chiến: là hình bóng của người Má: dẫu có lúc trẻ con nhưng đã tiềm ẩn những nét đẹp của người con gái trưởng thành (tháo vát, chăm lo thu xếp việc gia đình, yêu thương em).

+ Việt: có sự trẻ con, hiếu động của một cậu con trai mới lớn (trong khi chị lo toan việc nhà thì Việt phó thác cho chị và có những biểu hiện rất trẻ con: “lăn kềnh ra ván cười”, vừa nghe vừa “chụp một con đom đóm úp trong lòng tay” rồi ngủ quên lúc nào không biết…)

 So sánh đoạn đối thoại trước khi lên đường của hai chị em.ð

+ Điểm chung của hai nhân vật: yêu thương gia đình, căm thù giặc, gan góc, bất khuất, dũng cảm.

+ Đánh giá:

- Mỗi nhân vật được xây dựng với những nét tính cách riêng biệt, đặc sắc, hợp thành hình tượng tuổi trẻ chống Mĩ miền Nam.

- Hai chị em là khúc sau của dòng sông truyền thống gia đình.

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật > “chất Nam Bộ” trong văn Nguyễn Đình Thi.

Đề 3: Hãy phân tích và chứng minh: trong truyện ngắn này, có một dòng sông truyền thống gia đình liên tục chảy từ thế hệ cha ông đến đời chị em Chiến Việt.

+ Giải thích câu nói của chú Năm.

+ Phân tích và chứng minh tính liên tục của dòng chảy truyền thống gia đình:

- Má và chú Năm.

- Chiến và Việt.

+ Đánh giá:

- Thể hiện quan niệm về con người của Nguyễn Thi: mỗi con người phải là một khúc trong dòng sông truyền thống gia đình.

- Thể hiện sự am hiểu và ân tình của nhà văn với nhân dân miền Nam > “nhà văn của nông dân Nam Bộ”.

 

Bài 2.

Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

Chuyên đề này nhằm giúp các em củng cố các vấn đề cơ bản xoay quanh tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.

- Tình huống nhận thức độc đáo

- Đổi mới trong cách nhìn hiện thực và con người của Nguyễn Minh Châu.

- Nghệ thuật tự sự đặc sắc.

KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Khái quát:

a. Tác giả

+ Tiểu sử - con người

(Theo tâm sự của chính nhà văn, lời kể của Vương Trí Nhàn và nhận xét của nhiều bạn bè, người thân).

- Từ bé tới lớn: rụt rè và vô cùng nhút nhát.

- Sống nội tâm, hay trăn trở, thích một mình để suy ngẫm, phân tích.

- Chân thành.

=> Thiên hướng nhận thức, phân tích, nghiền ngẫm hiện thực trong văn Nguyễn Minh Châu.

+ Sáng tác:

Quá trình sáng tác: chia hai chặng rõ rệt.

o Trước thập kỉ 80: ngòi bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mạn.

o Đầu thập kỉ 80 – khi mất: cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lí nhân sinh.

Đổi mới:

o Quan niệm mới về con người và cuộc đời:

- Con người không nhất phiến, đơn chiều, lí tưởng mà là con người bề bộn, phức tạp, được ánh xạ qua nhiều mối quan hệ với hiện thực (cả mặt tốt lẫn mặt xấu “rồng phượng và rắn rết”…)

- Cuộc sống đa chiều, đầy những vết nham nhở sần sùi, có cả niềm vui lẫn nỗi buồn, sự vật vã, bức bối đầy phức tạp và biến động.

=> Khơi tìm những mặt khuất lấp của chiến tranh, những phần sâu kín trong tâm hồn con người.

o Đề tài:

- Con người cá nhân với các câu chuyện đời thường là trung tâm.

- Không phải con người “trùng khít với chính mình, với bộ áo xã hội của nó một cách đau đớn, giả dối” (Bakhtin) mà là con người hiện thực trong các mối quan hệ đa dạng.

=> “Đọc lời ai điếu cho một nền văn nghệ minh họa”.

+ Vị trí văn học sử:

- Ngòi bút tiêu biểu của thời kỳ văn học đổi mới – người mở đường đầy tài hoa và tinh anh (Nguyên Ngọc).

b. Tác phẩm:

+ Xuất xứ: Thuộc giai đoạn sáng tác thứ 2.

+ Vị trí văn học sử:

- Tiêu biểu cho những đổi mới của Nguyễn Minh Châu.

- In đậm dấu ấn phong cách tự sự - triết lí của Nguyễn Minh Châu.

+ Tình huống truyện:

- Nhận diện: tình huống nhận thức.

- Mô tả: Phùng - một nghệ sĩ nhiếp ảnh có tài đang trong giây phút thăng hoa tuyệt đỉnh, khám phá ra vẻ đẹp “trời cho”của con thuyền biển buổi sớm mai thì chứng kiến đôi vợ chồng từ trên con thuyền bước xuống, lão đàn ông đánh vợ một cách hung bạo và vô lí. 

Sự việc lặp lại một lần nữa, Phùng không chỉ thấy thái độ nhẫn nhịn, câm lặng chịu đựng của người đàn bà mà còn thấy được thái độ, hành động của chị em Phác trước sự dã man của cha với mẹ.

Anh nhận rõ những ngang trái, nghịch lí trong gia đình thuyền chài, hiểu sâu thêm tính cách người đàn bà, chị em Phác, người đàn ông, người đồng đội (Đẩu) và chính bản thân mình.

+ Bố cục: 2 phần lớn

- Phần 1 (từ đầu - chiếc thuyền lưới vó đã biến mất): Hai phát hiện của Phùng.

- Phần 2 (còn lại): Câu chuyện của người đàn bà làng chài.

2. Phân tích:

a. Hai phát hiện của Phùng.

+ Phát hiện thứ nhất: Phát hiện về vẻ đẹp thiên nhiên.

- Vị thế của Phùng: nghệ sĩ nhiếp ảnh.

- Mục đích của chuyến đi: chụp bổ sung một bức ảnh buổi sáng có sương mù theo yêu cầu của trưởng phòng (để xuất bản bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển).

- Điểm nhìn: từ xa, trong làn sương mờ ảo.

- Sự hình thành tác phẩm:

• Bắt đầu từ cảnh “trời cho”.

• Tuy nhiên để có được tác phẩm, cần một tâm hồn nghệ sĩ tinh tế nhanh nhạy nắm bắt khoảnh khắc xuất thần của nghệ thuật:

o Mô tả khung cảnh lãng mạn, thơ mộng.

o Trạng thái, hành động:

o Bối rối, trong tim tưởng như có cái gì bóp thắt lại => cơn “đau đẻ”, khoảnh khắc xung động cực điểm để tác phẩm hoài thai.

• Không phải lựa chọn gì nữa, bấm một hồi “liên thanh” => dường như thiên nhiên đã bày sẵn tuyệt tác, người nghệ sĩ chỉ việc ghi lại một cách dễ dàng.

- Cảm hứng triết lí về nghệ thuật:

• Vẻ đẹp của “cái đẹp tuyệt đỉnh”: “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ; một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. => nghệ thuật là sự giản dị, tự nhiên.

• “Cái đẹp là đạo đức” => khoảnh khắc phát hiện ra một tác phẩm độc đáo là sự “khám phá chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn” => cái đẹp “thanh lọc” tâm hồn, để tâm hồn con người cao khiết, không gợn đục, thánh thiện.

Nhận xét:

Sự phát hiện ra cái đẹp trong nghệ thuật đôi khi là kết hợp của rung động và duyên may. Nhìn ở góc độ này, nó là thứ dẫu sao còn tương đối dễ phát hiện, dễ thấy.

+ Phát hiện thứ hai: Phát hiện về hiện thực cuộc sống.

* Điểm nhìn: chiếc thuyền đâm thẳng vào chỗ trước tôi đứng => gần, trực diện, rõ nét.

Hình ảnh:

- Người đàn bà: cao lớn, với những đường nét thô kệch, rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi(…) tái ngắt và dường như đang buồn ngủ, tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới.

- Người đàn ông: tấm lưng rộng và cong, mái tóc tổ quạ, đi chân chữ bát, hàng lông mày cháy nắng, hai con mắt đầy vẻ độc dữ.

> Hình ảnh xấu xí, sù sì, trần trụi, thô mộc, gai góc của đời sống, đối lập với vẻ lãng mạn của khung cảnh thiên nhiên trong bức ảnh nghệ thuật.

Hành động:

- Người chồng: hùng hổ, rút chiếc thắt lưng, “chẳng nói chẳng rằng” quật tới tấp vào lưng người đàn bà => hành động hung bạo, dã man, lạnh lùng, như một con thú dữ.

- Người vợ: cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu lên một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn.

- Đứa con: giằng thắt lưng, quật lại bố để bảo vệ mẹ.

> Giống như một vở kịch câm, không lời chú giải, đầy nghịch lí khiến câu hỏi về hiện thực trong Phùng muốn vỡ ra.

Nhận xét:

Phát hiện về một hiện thực gồ ghề, gai góc, ngang trái, phức tạp, không dễ lí giải, khác xa, thậm chí đối lập với vẻ đẹp bình yên của tác phẩm nhiếp ảnh.

+ Mối quan hệ giữa hai phát hiện (mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, nhà văn và cuộc đời)

- Phát hiện nghệ thuật, ở một chừng mực nhất định dễ thấy hơn phát hiện về hiện thực.

- Đời sống con người vốn bề bộn, phức tạp. Hiện thực không đơn chiều, giản đơn, toàn màu hồng mà đa chiều, phân tranh nhiều mảng sáng tối chưa dễ lí giải. Nhà văn nếu đứng ở ngoài xa để quan sát sẽ chỉ thấy một hiện thực mờ ảo - chiếc thuyền thấp thoáng biển khơi. Từ đó đòi hỏi nhà văn phải có cái nhìn sâu sắc, suy tư hơn nữa.

b. Người đàn bà làng chài và câu chuyện đời tự kể.

+ Hình dáng: thô mộc, xấu xí, như nét vẽ vội của tạo hoá, mang những đặc trưng của một người đàn bà miền biển lam lũ.

+ Thái độ, hành động khi được mời tới toà án:

- Sợ sệt, lúng túng, tìm đến một góc tường để ngồi .

- Rón rén ngồi ghé vào chiếc ghế mà Đẩu mời.

- Van xin chính quyền đừng bắt chị bỏ người chồng vũ phu: “Quí toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó” => kiên quyết không bỏ chồng bằng mọi giá.=> hành động ẩn chứa nhiều nghịch lí, gây bất ngờ đối với cả Đẩu và Phùng => một sự thật không dễ lí giải trong hoàn cảnh người đàn bà phải chịu đựng những trận đánh thừa sống thiếu chết.(ba ngày một trận nhỏ, năm ngày một trận lớn) => Câu hỏi đặt ra: điều gì khiến người đàn bà khốn khổ ấy tha thiết bám víu cuộc sống địa ngục kinh hoàng với người chồng hung bạo kia?

+ Câu chuyện cuộc đời:

- Cách xưng hô: con, quý toà - chị, các chú => thay đổi tương quan: bị động, yếu thế, thiếu tự tin, bề dưới nói với bề trên - chủ động, bình đẳng, con ngưòi có hiểu biết nói với người đang lắng nghe.

- Nội dung câu chuyện:

- Xấu, buộc phải lấy anh hàng chài

- Đám đàn bà đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật => chồng hung hăng.

- Bất kể lúc nào khổ quá, chồng lại lôi ra đánh, ngay trên tàu, sau này xin mãi mới được lên bờ chịu đòn.

- Lí lẽ để “đừng bắt tôi bỏ nó”:

- Giá đẻ ít đi => biện minh cho hành động hung hăng của chồng bằng cách chỉ ra lỗi thuộc vê sự nghèo đói, lạc hậu, “đẻ lắm”.

- Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết nỗi vất vả của một người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông(. ..) những khi biển động => vì cần một trụ cột.

- Đàn bà trên thuyền phải sống cho con chứ không thể sống cho mình => vì trách nhiệm, tấm lòng vị tha, bản năng hi sinh của một người mẹ.

- Cũng có lúc vợ chồng con cái sống hòa thuận, vui vẻ => cuộc sống với ngưòi đàn ông “dã man” kia không phải không có những khoảnh khắc đầm ấm hạnh phúc.

Nhận xét:

Qua nội dung câu chuyện, cách kể và ngôn ngữ kể chuyện, thấy được:

- Số phận người đàn bà: đau khổ, bất hạnh, buộc phải bảo vệ, duy trì một cuộc sống bị đày đoạ, đánh đập.

- Tính cách: yêu thương con, vị tha, nhân hậu, am hiểu lẽ sống giản đơn của một người đàn bà hàng chài.

-  Sự lí giải, làm sáng tỏ hiện thực đời sống đầy nghịch lí mà Phùng và Đẩu “không thể hiểu được”.

c. Hệ thống nhân vật

+ Người đàn bà: vô danh, phiếm định => khái quát cuộc đời, số phận, tính cách của bao người phụ nữ làng chài khác.

+ Người đàn ông:

- Xưa kia: “anh con trai cục tính nhưng hiền lành”.

- Nay: vì nghèo đã biến đổi thành gã đàn ông hung bạo, vũ phu.

- Có sự gặp gỡ với các nhân vật của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trước cách mạng.

+ Chị em Phác:

Nạn nhân bé bỏng, đau khổ => thêm vào tác phẩm một nét khắc dằn dữ của hiện thực.

+ Phùng:

- Là người lính vào sinh ra tử nơi chiến trường.

- Là một nghệ sĩ tài hoa, phát hiện ra vẻ đẹp tinh khôi, huyền mộng của nghệ thuật.

- Chứng kiến cảnh đánh đập lần thứ hai, “vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới” can thiệp => Ý nghĩa:

- Chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, một khoảng cách đủ để tạo nên vẻ đẹp lung linh, nhưng sự thật cuộc đời lại ở rất gần.

- Thái độ cần có của người nghệ sĩ:

- Đừng vì nghệ thuật mà quên cuộc đời vì nghệ thuật chân chính luôn hướng tới cuộc đời.

- Trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãy là một con người sẵn sàng khám phá, dò tìm để thấu hiểu, yêu ghét mọi lẽ buồn vui đời thường và dám đấu tranh cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

- Chi tiết: hỏi người đàn bà một câu cắt ngang không ăn nhập: người chồng trước có đi lính nguỵ không => định dung cái nhìn trong chiến tranh để lí giải một hiện thực nghịch lí thời hậu chiến => Dụng ý: hiện thực cuộc sống mới hôm nay đã khác xa với hiện thực 30 năm chiến tranh, bề bộn, ngổn ngang, đa diện, bởi thế nó đòi hỏi một điểm nhìn khác, cách lí giải hiện thực khác. Không thể dùng cái nhìn địch – ta để phân tích mà cần nhìn nhận sâu sắc từ nhiều góc độ.

d. Một số đặc sắc về nghệ thuật.

+ Xây dựng hình ảnh giàu giá trị biểu tượng: chiếc thuyền ngoài xa.

- Con thuyền có thật.

- Con thuyền biểu tượng cho: nghệ thuật, ẩn dụ cho kiếp người đơn độc trên đại dương cuộc đời.

+ Nghệ thuật tự sự độc đáo:

- Điểm nhìn trần thuật: người kể chuyện Phùng - một người lính dày dặn kinh nghiệm chiến trường, một nghệ sĩ nhiếp ảnh tài hoa, một con người tha thiết đấu tranh cho sự công bằng => điểm nhìn trần thuật sắc sảo, giàu suy tư.

- Ngôn ngữ:

• Ngôn ngữ người kể chuyện: khách quan, chân thực, giàu sức thuyết phục (do sự lựa chọn điểm nhìn trần thuật).

• Ngôn ngữ nhân vật: cá thể hoá (Ngôn ngữ của người đàn bà: lóng ngóng, van lơn khi mới đối diện với “quí toà”; chững chạc, thấu trải khi tự kể câu chuyện đời mình, dịu dàng, xa xót khi nói với con; lời lẽ của người đàn ông: tàn nhẫn, tục tằn,…)

CỦNG CỐ KIẾN THỨC

Đề 1: Ý nghĩa nhan đề “Chiếc thuyền ngoài xa”.

Đề 2: Phân tích tình huống truyện “Chiếc thuyền ngoài xa”

Đề 3: Phân tích những phát hiện của nghệ sĩ Phùng trong “Chiếc thuyền ngoài xa”.

Đề 4: Tính luận đề trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.

Đề 5: Những đổi mới trong cách nhìn hiện thực cuộc sống của Nguyễn Minh Châu trong “Chiếc thuyền ngoài xa”.

Đề 6: Phân tích “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu để thấy cái nhìn thấu hiểu trĩu nặng tình thương và nỗi lo cho con người.

Đề 7: Phân tích các nhân vật trong “Chiếc thuyền ngoài xa” để làm nổi bật tư tưởng của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

Gợi ý giải đề

Đề 1: Ý nghĩa nhan đề.

+ Xuất xứ tác phẩm:

+ Ý nghĩa nhan đề:

- Con thuyền có thật trong cuộc đời

- Con thuyền biểu tượng cho nghệ thuật, ẩn dụ cho kiếp người đơn độc trên đại dương cuộc đời.

- Cái đẹp nghệ thuật dễ tìm hơn cái đẹp đích thực của con người

- Nghệ thuật phải quan tâm đến đời sống và phải quan tâm đến con người.

Đề 2: Tình huống truyện.

+ Giới thuyết:

+ Phân tích:

- Nhận diện

- Mô tả

- Ý nghĩa:

·         Giúp nhà văn khám phá tính cách, vẻ đẹp nhân vật người đàn bà.

·         Thể hiện rõ nét tư tưởng

+ Đánh giá

- Tình huống bất ngờ và kì lạ

- Khơi gợi tư duy và cảm hứng người đọc.

- Tình  huống có “sức xoáy”

Đề 3: Những phát hiện của nghệ sĩ Phùng

+ 2 phát hiện

+ Phân tích dựa vào phần Kiến thức cơ bản.

Đề 4: Những đổi mới trong cách nhìn hiện thực cuộc sống

+ Hiện thực cuộc sống: bề bộn, nhiều chiều, phức tạp, không nhất phiến, lí tưởng mà đầy ngang trái.

+ Vẻ đẹp của con người vì thế cũng khó phát hiện hơn, đòi hỏi phải có một góc nhìn khác.

Đề 5: Phân tích các nhân vật để làm nổi bật tư tưởng

Dựa vào kiến thức cơ bản để làm bài.

 

Bài 3.
Câu 3 : Giải thích yù nghĩa  nhan đề truyện ngắn “Thuốc” của Lỗ Tấn
- Thuoá là nhan đề đa nghĩa. Trước hết nó là thứ thuốc chữa bệnh lao của người TQ u mê, lạc hậu, một cách chữa bệnh đầy mê tín tin rằng chiếc bánh bao tạm máu người là một phương thuốc  chữa được bệnh lao . Rót cuộc con bệnh vẫn chét . Chét trong không khí ẩm móc tanh mùi máu của nước Trung Hoa lạc hậu .
- Qua truyện, Lỗ Tán đã đề cập tới một vấn đề có yù nghĩa xã hội sâu xa , khái quát hơn đó là sự u mê , đớn hèn, mông muội về chính trị xã hội của quần chúng và bi kịch không hiểu, không ủng hộ người CM tiên phong .
- Với tư cách là nhà văn cách mạng, Lỗ Tán muốn khẳng định : Để cứu Trung Quốc , phải có phương thuốc chữa khỏi bệnh mê muội ,đớn hèn của quần chúng và bệnh xa rời quần chúng của người CM Hạ Du thời đó .Thuốc còn là phương thuật giác ngộ quần chúng đấu tranh tự giải thoát khỏi hàng nghìn năm phong kiến đã đè nặng lên đời sống người dân TQ .
- YÙ nghĩa hình ảnh vòng hoa trên mõ Hạ Du : Thể hiện sự đồng cảm, cảm phục trước khí tiết , nhân cách của người CM, thể hiện niềm tin và sự tiếp nối 
 
Bài 4.
Câu 2 : Tóm tắt truyện “THUỐC” – Lỗ Tán 
Thuốc được viết ngày 25 / 4/ 1919 , đăng trên tạp chí Tân Thanh Niên số tháng 5 – 1919,đúng vào dịp phong trào Ngũ Tứ nổ ra , sau đó in trong tập Gào Thét xuất bản 1923 .
  Vợ chồng lão Hoa Thuyên – chủ quán trà có con trai bị bệnh lao(căn bệnh nan y thời bấy giờ) . Nhờ người giúp , lão Hoa Thuyên đi tìm mua chiếc bánh bao tạm máu người tử tù về cho con ăn , vì cho rằng như thế sẽ khỏi bệnh .  Lão Thuyên dành dụm tiền mua bánh bao tạm máu người tử tù về cho con ăn .
  Sáng hôm sau ,trong quán trà mọi người bàn tán về cái chết của người tử tù vừa  bị chém sáng nay . Đó là Hạ Du , một nhà cách mạng kiên cường , nhưng chẳng ai hiểu gì về anh , nhiều người cho anh điên. Thế rồi , thằng Thuyên cũng chết vì chiếc bánh bao ấy không trị được bệnh lao.
  Năm sau vào tiết Thanh minh  , mẹ Hạ Du và bà Hoa Thuyên đến bãi tha ma viếng mõ con . Gặp nhau , hai người mẹ đau khổ có sự đồng cảm với nhau  . Họ rất ngạc nhiên khi thấy trên  mõ Hạ Du xuất hiện vòng hoa trắng hồng xen lẫn nhau . Đây điểm sáng để kết thúc câu chuyện bi thảm , bày tỏ quyết tâm  tiếp bước người đã khuất .
 Nội dung tác phẩm :    Phản ánh sự u meâ của nhân dân TQ trước cách mạng Tân Hợi, sự lạc hậu về chính trị của quần chúng đối với người làm cách mạng và bi kịch của người cách mạng tiên phong Hạ Du
 
Bài 1.
       Có lúc do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan, người ta đã quá dè dặt, nếu không nói là quá khe khắt, trong việc xác nhận giá trị của thơ lãng mạn (1930-1945). Nhưng cuối cùng, bằng giá trị của chính nó, sự tác động lâu bền và tốt đẹp của nó đối với liên tục nhiều thế hệ người đọc, thơ lãng mạn đã xác định cho mình một vị trí xứng đáng trong nền văn học nước nhà. Ngày nay, những tên tuổi và nhiều bài thơ của những nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử… vẫn được nhắc đến với rất nhiều trân trọng và mến yêu. 
       Hẳn công lớn đầu tiên của thơ lãng mạn, và cũng là của văn học lãng mạn nói chung, là đã đưa ra trước mọi người cái ý niệm “tôi”. Cái “tôi” vốn rất vô nghĩa, rất đáng ghét, đối với chủ nghĩa khắc kỉ của đạo lý phong kiến, trong khoảng 15 năm từ sau 1930, bỗng được các nhà thơ nâng lên thành một ý niệm tốt đẹp và khẳng định vai trò quyết định của nó trong nghệ thuật với tư cách là chủ thể sáng tạo. Một thế giới cũ với những cách nhìn cũ, cách cảm nhận cũ, những lề luật cũ, bỗng vỡ ra, nhường chỗ cho một thế giới được đánh giá, cảm nhận, xúc động bởi cái tôi cá thể ấy. Và quả là một thế giới phong phú đa dạng vô cùng. 
       Các nhà thơ nói: cuộc sống đẹp quá chừng, đáng sống quá chừng, chớ coi thường nó, đừng né tránh nó. Làm sao có thể thờ ơ trước một cuộc đời mà hình như ở đó tạo hóa đã dành sẵn cho con người, cho mỗi người đủ mọi thứ để tạo nên hạnh phúc như thế này. 

Của ong bướm này đây tuần trăng mật 
Này đây hoa của đồng nội xanh rì 
Này đây lá của cành tơ phơ phất 
Của yến anh này đây khúc tình si. 
(Xuân Diệu - Vội vàng) 

       Thật ra, cũng chẳng có gì mới lạ: thì thời nào, thời Nguyễn Du hay Nguyễn Trãi, mà chẳng có ong, bướm, lá, hoa, chim oanh, chim yến! Nhưng đố tìm đâu ra những thời đó, kể đến thời Tản Đà, một niềm vui sống thiết tha và đắm say đến dường ấy. Chính với niềm ham sống mãnh liệt ấy mà Xuân Diệu lúc nào cũng cảm thấy cuộc đời hình như đang trôi nhanh quá, cái khoảng trăm năm sao mà ngắn ngủi, tuổi trẻ của mỗi người sao mà chóng qua. Cảm nhận ấy không khiến cho Xuân Diệu trở nên hư vô, bi quan theo triết lý“sắc không” nhà Phật hay “vô vi” của Lão trang, trái lại, càng khiến nhà thơ cảm nhận rõ hơn sự đáng quí của cuộc đời. 

Ta muốn ôm 
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; 
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, 
…. 
Cho chếch choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, 
Cho no nê thanh sắc của thời tươi; 
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
(Vội vàng)

Yêu đời, ham sống, nhưng cuộc sống là gì? Đâu là những yếu tố tạo nên cuộc sống. Theo các nhà thơ lãng mạn, cuộc sống bao gồm nhiều thứ, nhưng có hai thứ đẹp nhất, kỳ diệu nhất, ấy là thiên nhiên và con người. 
      Trước hết về thiên nhiên, các nhà thơ lãng mạn phá bỏ ngay cái bức tường thiên nhiên giả tạo của văn học cổ vốn lâu nay vây bọc con người, để nhận ra một thiên nhiên thực sự, đang bổi bổi sức sống, sự sống, nguồn cảm xúc vô tận. Quả thật, trong thơ Việt Nam, chưa bao giờ đầy ắp thiên nhiên đến vậy. Này đây, cái lạ lùng của đất trời khi mùa thu tới, buồn lắm, thê lương lắm nhưng sao mà đẹp đến vậy; những nét, những đường, những dáng hình, màu sắc, sao mà sống động, hài hòa, êm ái: 
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang 
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng; 
Đây mùa thu tới - mùa thu tới 
Với áo mơ phai dệt lá vàng 
Hơn một loài hoa đã rụng cành 
Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh, 
Những luồng run rẩy rung rinh lá… 
Đôi nhánh khô gầy xương mong manh. 
(Xuân Diệu - Đây mùa thu tới) 

Còn đây cảnh chiều về trên một cánh đồng quê: 

Mây biếc về đâu bay gấp gấp 
Con cò trên ruộng cánh phân vân 
(Xuân Diệu - Thơ duyên) 

Trước thơ lãng mạn, mây chưa hề “bay gấp gấp” và cánh con cò chưa hề có sự “phân vân” như thế, chưa co sự xốn xang tâm trạng như thế. 

Giờ đây, người đọc, nhờ đọc thơ lãng mạn, mà trở nên giàu có quá chừng. Họ có cả một thế giới vô tận, những của kho vô tận. Hàn Mặc Tử sau này là nhà thơ của những nỗi đau thương. Nhưng trong những năm đầu tiên, khi chưa mắc phải chứng bệnh nan y hiểm nghèo, đã có những dòng thơ tuyệt đẹp về thiên nhiên xứ Huế: 

Sao anh không về chơi thôn Vĩ 
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên 
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc 
Lá trúc che ngang mặt chữ điền 
(Đây thôn Vĩ Dạ) 

Có một điều thật có ý nghĩa: do chỗ thiên nhiên trong thơ lãng mạn là một thiên nhiên được cảm nhận trực tiếp, cụ thể, sống động chứ không phải là thứ thiên nhiên được vay mượn từ sách vở, nên đó hoàn toàn là thiên nhiên sống động của quê hương đất nước. Thế là thơ lãng mạn đưa đến cho người đọc thơ một tình cảm được hai lần nhân lên: tình yêu thiên nhiên cũng là tình yêu quê hương đất nước. Trong mắt người đọc, cái thôn Vĩ Dạ nhỏ bé bên kia bờ sông Hương của kinh thành Thuận Hóa sao mà rõ ràng, xanh thắm, mềm mại, trữ tình. Cần chi phải đến Hàng Châu để ngắm liễu, đến Paris để ngắm sống Seine! Hãy mở mắt và đắm say ngay những điều diệu kì trước mắt của đất nước quê hương. Trong một bài thơ khác của Hàn Mặc Tử, bài Mùa xuân chín , bức tranh mùa xuân nơi xóm quê chỉ được nhắc tới bằng đôi ba nét mà êm ái, đáng yêu biết bao: 

Trong làn nắng ửng khói mơ tan 
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng 
Sột soạt gió trêu tà áo biếc 
Trên giàn thiên lý bóng xuân sang 

Người đọc ngày trước cũng như ngày nay còn thích thú đến sửng sốt khi nhận ra trong bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, bao nhiêu nét đẹp đến tưởng chừng như không thể có mà đã có thật của một chặng đường trẩy hội mùa xuân của con người Việt Nam. Trong thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính… biết bao những cảnh sắc không thể dửng dưng. Cảnh trong bài Tràng giang của Huy Cận là một dòng sông. Dòng sông ấy mênh mang và phảng phất buồn nhưng đẹp lắm, đẹp nhất là nó đã gợi lên mối tình quê hương đằm thắm, tưởng rất nhẹ nhưng sâu thẳm và bền bỉ vô cùng: 

Bèo dạt về đâu hàng nối hang 
Mênh mông không một chuyến đò ngang 
Không cầu gợi chút niềm thân mật 
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng… 
Lòng quê dợn dợn vời con nước 
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà 

Ai dám bảo thơ lãng mạn không góp phần xây dựng lòng yêu nước? Cũng có và cũng mạnh mẽ đó chứ! Trong một hoàn cảnh xã hội mà kẻ thống trị muốn xóa bỏ tất cả những gì gọi là tự hào dân tộc, muốn nô dịch mọi người trong một thứ tư tưởng vọng ngoại, sùng ngoại mê muội nhất, thì những câu thơ, bài thơ như thế đúng là chứa chan tình cảm dân tộc, niềm tự hào dân tộc. Đặc biệt, đây là những câu thơ hay, những bài thơ hay, tác dụng của chúng càng mãnh liệt và bền vững hơn nữa. 

Tuy nhiên, nói đến thơ lãng mạn thì phải nói đến thơ tình yêu. Thơ tình yêu nhiều đến nỗi hình như chính thơ tình yêu mới là thơ lãng mạn, đến nỗi theo nhận xét của nhà phê bình văn học Hoài Thanh, trong cả một tập Thi nhân Việt Nam, chỉ có một nhà thơ là không nói đến “anh anh, em em”! Điều ấy có lí do của nó. Suốt trong gần một nghìn năm của chế độ phong kiến Việt Nam, tình yêu, một nguồn tình cảm mãnh liệt, đẹp đẽ của con người, bị phủ nhận 
hoàn toàn. Chỉ có hôn nhân và nghĩa vụ, không có tình yêu. Sự bùng nổ của thơ tình sau 1930 chính là sự bùng nổ của một trào lưu để phá tan tành cái con đê kiên cố đã cản trở nó. Xuân Diệu nói đắm say sự sống, trước hết cũng là đắm say tình yêu. Có thể nói, không bài thơ nào của Xuân Diệu trong Thơ thơ không phải là thơ tình yêu. Thơ tình của Xuân Diệu thật lắm cung lắm bậc. Có lúc đó là một bài thơ tình e ấp, dịu nhẹ như một làn rung động của gió chiều, của nắng chiều: 

Con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu 
Lá lá cành hoang nắng trở chiều 
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn 
Lần đầu rung động nỗi thương yêu 

Tuy dịu nhẹ, e ấp, nhưng nó thật là tình yêu, nên nó có sức mãnh liệt và giá trị nhân bản vững bền riêng của nó. Trong thơ xưa, làm sao có được cách nói thẳng thắn như thế này về tình yêu: 

Ai hay tuy lặng bước thu êm 
Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm 
Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy, 
Lòng anh thôi đã cưới lòng em 
(Thơ duyên) 

Lòng anh “cưới” lòng em, đó chính là tình yêu. 

Tình yêu trong thơ Hàn Mặc Tử tuy đượm nhiều buồn đau và hoài nghi nhưng không hề kém thiết tha. 

Mơ khách đường xa, khách đường xa 
Áo em trắng quá nhìn không ra 
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh 
Ai biết tình ai có đậm đà? 
(Đây thôn Vĩ Dạ) 

Nhìn chung thơ lãng mạn khá buồn, có khi rất buồn. Cũng cần có cái nhìn thỏa đáng hơn về cái buồn trong thơ lãng mạn. Người ta cần biết vui, biết yêu, nhưng cũng cần biết buồn, biết chán khi cần thiết. Phải buồn trước những điều không thể vui. Vui trước chuyện đáng buồn là vô liêm sỉ. Biết buồn để không vô tư đến trở thành vô tâm. Buồn để trở nên sâu sắc hơn. Nói gì thì nói, cuộc sống trong khoảng những năm 1930-1945 có nhiều chuyện đáng để buồn, trong đó điều đáng buồn nhất là làm dân nô lệ. Trừ những kẻ thật sự vô lương tâm hoặc cố tình vui vẻ để làm vừa lòng bọn chủ nô lệ, mọi người Việt Nam ngày đó, nhất là những người nhạy cảm, đều mặc nhiên mang một nỗi buồn thời đại. Cái buồn ấy lớn đến nỗi nhiều lúc như không thể nhận ra duyên cớ. Nó nằm ở đâu đó trong khắp cả cuộc đời. Xuân Diệu đã từng có câu thơ nổi tiếng mà ngày đó ai cũng công nhận là hay: 

Hôm nay trời nhẹ lên cao 
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn 

Trong thơ Huy Cận, nét nào của cảnh vật, dẫu tuyệt đẹp, vẫn phảng phất nỗi buồn. Nhìn một xóm làng, một phiên chợ vừa tan, một bến đò, Huy Cận cảm đến tận đáy lòng một nỗi sầu muộn mênh mang, nỗi cô đơn của thân phận trước cái vô cùng của cuộc sống: 

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu 
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều 
Nắng xuống trời lên sầu chót vót 
Sông dài trời rộng bến cô lieu 
(Tràng giang) 

Cái buồn trong thơ lãng mạn Việt Nam, xét về bản chất, cũng có mặt tích cực. Nó là một thái độ cần thiết trước cái mong manh và u ám của đời sống lúc ấy. Nó có thể là bước khởi đầu dẫn tới những suy nghĩ sâu sắc và thấu đáo hơn, và có thể dẫn tới sự lựa chọn một thái độ, một hành động tích cực hơn trong đời sống. 

Tuy vậy, thơ lãng mạn nhiều khi đã đẩy nỗi buồn lên một cung bậc thẳng căng quá, tuyệt đối quá. Thơ Xuân Diệu có lúc đã đi đến chỗ tột cùng chán nản, rã rời; nhà thơ nâng nỗi cô đơn thành vĩnh cửu. 

Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề… 
(Nguyệt cầm) 

và: Tôi là con nai bị chiều giăng lưới 
Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối… 

Huy Cận tự thấy mình mang trong lòng một nỗi “vạn cổ sầu” như một định mệnh. Hàn Mặc Tử càng về sau càng đau thương đến thành điên loạn. 

Tuy nhiên, xét về mặt tư tưởng của cả trào lưu thơ mới (1930-1945), đó không phải là điều quá lớn. Cái mới, cái đáng quý mà trào lưu này đưa đến cho người đọc và thời đại vẫn là chính. Chả thế mà nó đã từng làm rung động cả một thế hệ người đọc phần lớn là có học và không phải là thiếu tâm quyết đó hay sao? Hơn nữa, xét về mặt nghệ thuật, thơ lãng mạn đã đưa đến cho văn học nước nhà nhiều điều mới mẻ. 

Một mặt nó tiếp tục kế thừa những tinh hoa của thơ ca dân tộc, thơ ca Á Đông; mặt khác nó tiếp nhận tinh hoa mới lạ của thơ phương Tây để đẩy nền thơ Việt Nam bước hẳn sang thời kỳ hiện đại. Chỉ trong khoảng mấy năm, thơ lãng mạn đã hoàn thành trọn vẹn việc phá vỡ những khuôn vàng thước ngọc của thơ ca phong kiến mà lúc đó đã trở nên lỗi thời. Nếu nói: thơ phải chân thành, thơ phải là tiếng nói của trái tim, thì thơ lãng mạn đã biết phá bỏ những hình thức khiến nó phải sáo rỗng và giả tạo. 

Truớc hết, thơ lãng mạn vứt bỏ những niêm luật gò bó, những đối chọi, những quy định “phá, thừa, thực, luận, kết” để nhà thơ có thể diễn tả một cách thoải mái và phóng khoáng cảm xúc của mình. Cảm xúc, điều đó quan trọng và quyết định giá trị của thơ hơn là ngồi để gò từng ý từng vần cho đúng luật. Thơ lãng mạn có thể sử dụng rất nhiều thể thơ, và ngay trong thể bảy chữ vốn là thể phổ biến của Đường luật, cũng được sử dụng một cách phóng khoáng, sáng tạo: 

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, 
Con thuyền xuôi mái nước song song, 
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngã; 
Củi một cành khô lạc mấy dòng. 
(Huy Cận - Tràng giang) 

Vứt bỏ những ước lệ, những điển cố vốn có tính chất bắt buộc trong ngôn ngữ thơ cổ, thơ lãng mạn đến với ngôn ngữ xanh tươi của đời sống. Trong thơ cổ, nói mùa thu là phải là lá ngô đồng rụng, mùa hè là phải cuốc kêu, liễu thì phải là liễu Chương Đài, mây thì phải mây Tần, mây Hàng… Trái lại, trong thơ lãng mạn, ngôn ngữ cứ tự nó đến với cảm xúc của nhà thơ. Chính thứ ngôn ngữ ấy nhận ra những cảm xúc của nhà thơ. Chính thứ ngôn ngữ ấy nhận ra những cảm xúc có thật về những điều rất thật. Thí dụ, đây là cảm xúc của Hàn Mặc Tử trước cái vời vợi của đất trời Vĩ Dạ: 

Gió theo lối gió mây đường mây 
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay 
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó 
Có chở trăng về kịp tối nay 
(Đây thôn Vĩ Dạ) 

Nói thơ lãng mạn đến với ngôn ngữ của đời sống, đó là nói đến xu hướng chính. Thật ra giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ của đời sống vẫn có một khoảng cách rất lớn. Ngôn ngữ trong thơ lãng mạn vẫn là một ngôn ngữ nghệ thuật, trong sáng, hàm súc và đầy tính nhạc. Các nhà thơ lãng mạn thật đã có công lớn trong việc xây dựng một ngôn ngữ thơ ca dân tộc. Những câu thơ này có sức diễn tả biết bao: 

Chị ấy năm nay còn gánh thóc 
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang…? 
(Hàn Mặc Tử - Mùa xuân chín) 

Bao nhiêu cảnh và tình hàm chứa trong chỉ mấy câu thơ dưới đây của Xuân Diệu: 

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ… 
Non xa khởi sự nhạt sương mờ… 
Đã nghe rét mướt luồn trong gió… 
Đã vắng người sang những chuyến đò… 
(Đây mùa thu tới) 

Đặc biệt Xuân Diệu, với vốn Tây học của mình, đã đưa đến cho thơ những cách nói rất táo bạo. Quả thật, không phải bao giờ cái táo bạo của Xuân Diệu cũng thành công nhưng ông đã có nhiều cái mới thành công, được người đương thời tán thưởng, chẳng hạn: 

Này lắng nghe em khúc nhạc thơm 
Say người như rượu tối tân hôn. 

Thơ lãng mạn (1930-1945) là một bước phát triển vượt bậc của thơ Việt Nam. Nó đã tiếp nhận một cách sáng tạo những tinh hoa của thơ ca dân tộc và thơ ca nhân loại, của thơ cổ điển và hiện đại. Cho đến nay, các nhà thơ vẫn còn thừa hưởng và tiếp tục phát huy nhiều thành tựu mà nó đã đạt được, nhiều vấn đề về nghệ thuật, kỹ thuật mà nó đã đặt ra trong khoảng 15 năm ngắn ngủi ấy. Không phải tất cả nhưng phần lớn những bài thơ lãng mạn vẫn được người đọc yêu thích, nhất là người đọc trẻ tuổi, vẫn có tác dụng xây dựng cho người đọc một thế giới nội tâm phong phú và nhân đạo. 

Bài 2.
1. Quan điểm/ quan niệm sáng tác
+ Là gì:
- Chỗ đứng, điểm nhìn để nhà văn sáng tác.
- Phải được hiện thực hoá trong quá trình sáng tác.
- Được phát biểu trực tiếp hay thể hiện gián tiếp qua các tác phẩm.
- Nhà văn nào cũng có quan điểm/quan niệm sáng tác nhưng để tạo thành một hệ thống có giá trị thì không phải ai cũng làm được.
+ Vai trò:
- Chi phối toàn bộ quá trình sáng tác (lựa chọn đề tài, hình tượng, lựa chọn lối viết, các hình thức nghệ thụât...)
- Phần nào thể hiện tầm tư tưởng của nhà văn.
+ Ví dụ: Quan điểm sáng tác của Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh: Văn học là vũ khí lợi hại phục vụ sự nghiệp cách mạng, nhà văn là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn hoá tư tưởng.
+ Ứng dụng:
Phân tích quan điểm sáng tác của một nhà văn (Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Nam Cao…).
2. Phong cách nghệ thuật
+ Là gì:
Là nét riêng có tính hệ thống trong sáng tác của một nhà văn
+ Đặc điểm:
- Thiên về hình thức nghệ thuật.
- Có sự thống nhất và vận động trong quá trình sáng tác của nhà văn.
+ Vai trò:
- Là một trong những điều kiện quan trọng để đánh giá vị trí, tài năng của nghệ sĩ. Một nhà văn lớn phải là nhà văn có phong cách.
- Thể hiện bản chất của văn chương: hoạt động sáng tạo.
+ Ví dụ: 
- Phong cách nghệ thuật Xuân Diệu: Thơ dù viết về đề nào cũng nồng nàn thao thiết niềm giao cảm với đời. Tư tưởng nghệ thuật độc đáo này được chuyển hoá vào hệ thống các phương tiện biểu hiện mới mẻ (bút pháp tương giao; ngôn ngữ rất Tây, tinh tế; cách cấu tứ theo sự vận động của thời gian cùng giọng điệu thơ đa dạng, phong phú đủ để tái hiện những cung bậc, những biến thái tinh vi nhất, chân xác nhất của thế giới cũng như tình cảm con người).
- Phong cách nghệ thuật Tố Hữu: mang tính chất thơ trữ tình chính trị sâu sắc; đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn; giọng điệu tâm tình ngọt ngào tha thiết; đậm đà tính dân tộc
- Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân: tài hoa, uyên bác; cảm quan sắc nhọn phong phú; chữ nghĩa giàu có; tuỳ bút tài hoa...=> “Ngông”.
+ Ứng dụng
Phân tích phong cách nghệ thuật của một tác giả (Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân, Tố Hữu, Nam Cao, Xuân Diệu…)
3. Tình huống trong truyện ngắn
+ Là gì:
- Là lát cắt của đời sống mà qua đó tính cách nhân vật được bộc lộ sắc nét nhất và tư tưởng nhà thể hiện rõ nhất.
“Là một lát cắt, một khúc của đời sống. Nhưng qua lát cắt, qua khúc ấy người thấy được trăm năm của đời thảo mộc” (Nguyễn Minh Châu)
- Biểu hiện qui luật có tính nghịch lí trong sáng tạo nghệ thuật: qui mô nhỏ nhưng khả năng phản ánh lớn.
+ Vai trò:
- Khắc hoạ tính cách nhân vật, thể hiện tư tưởng nghệ sĩ.
- Xuất phát từ đặc trưng truyện ngắn: dung lượng nhỏ, thể hiện nhân vật qua một khoảnh khắc ngắn ngủi của đời sống (tiểu thuyết: dài, theo sát toàn bộ cuộc đời, số phận nhân vật…) => Tình huống phải giống như thứ nước rửa ảnh làm nổi lên hình sắc nhân vật và tư tưởng nhà văn => Xây dựng được tình huống truyện độc đáo là dấu hiệu của:
• Một tác phẩm có giá trị
• Một tác giả tài năng.
+ Ví dụ: tình huống đợi tàu ám ảnh (Hai đứa trẻ), tình huống cuộc gặp gỡ đầy éo le, oái oăm giữa quản ngục và Huấn Cao (Chữ người tử tù), tình huống nhận thức (Chiếc thuyền ngoài xa)…
+ Ứng dụng:
Phân tích tình huống truyện trong: Chiếc thuyền ngoài xa, Vợ nhặt, Chữ người tử tù,…
4. Các giá trị văn học
+ Mô tả: có 3 giá trị cơ bản của văn học
- Giá trị nhận thức:
• Mang tới cho bạn đọc những tri thức sâu rộng về thế giới
• Giúp con người khám phá, nhận thức, thấu hiểu sâu sắc chính bản thân mình.
- Giá trị giáo dục
• Đem đến những bài học quí giá về lẽ sống
• Về tư tưởng: Hình thành cho con người những tư tưởng tiến bộ, có thái độ và quan điểm sống đúng đắn.
• Về tình cảm: Giúp con người biết yêu ghét đúng đắn, tâm hồn trở nên lành mạnh, trong sáng.
- Giá trị thẩm mĩ: 
• Nội dung: 
 Vẻ đẹp muôn hình vẻ của cuộc đời
 Vẻ đẹp bản thân con người.
• Hình thức: những biện pháp, thủ pháp xây dựng hình tượng nghệ thuật sinh động, giàu sức gợi.
- Mối quan hệ của 3 giá trị:
• Giá trị nhận thức: tiền đề của giá trị giáo dục.
• Giá trị giáo dục: làm sâu sắc hơn giá trị nhận thức
• Các giá trị nhận thức và giá trị giáo dục đều được phát huy tích cực nhất qua giá trị thẩm mĩ.
+ Ví dụ: 
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu mở rộng phạm vi nhận thức về một hiện thực bề bộn, phức tạp thời hậu chiến với những nghịch lí đầy ngang trái, đồng thời khám phá vẻ đẹp bên trong người đàn bà tưởng như chỉ biết cam chịu, khơi gợi ở bạn đọc một thái độ sống, một cách nhìn cuộc đời sâu sắc, tỉnh táo hơn thông qua những hình ảnh có tính chất biểu tượng, qua lối kể chuyện đa dạng.
+ Ứng dụng:
Đánh giá giá trị của một tác phẩm văn học.
5. Nhà văn – văn bản – bạn đọc
+ Nhà văn: người sáng tạo ra văn bản => thực hiện quá trình kí mã => Ý đồ nghệ thuật, cách lí giải của nhà văn về văn bản chỉ là một khả năng hiểu văn bản.
+ Bạn đọc: ngưòi tiếp nhận văn học => thực hiện quá trình giải mã.
+ Văn bản: là một bộ mã, có thể chấp nhận nhiều cách giải khác nhau nhưng phải phù hợp với các mã đã được nhà văn kí gửi.
6. Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ
+ Mô tả (so sánh với hình tượng nhân vật trong tác phẩm tự sự)
Hiện ra qua giọng điệu, trạng thái tâm hồn, cảm xúc (nhân vật trong tác phẩm tự sự: có diện mạo, tính cách, hành động cụ thể)
+ Phân loại: 
- Xét sự xuất hiện của tác giả trong tác phẩm:
• Cái tôi trữ tình: tác giả
• Nhân vật trữ tình nhập vai: khi tác giả hoá thân vào nhân vật khác trong tác phẩm.
- Xét về vai trò:
• Chủ thể trữ tình (người trực tiếp bộc lộ cảm xúc)
• Đối tượng trữ tình: đối tượng hướng tới của tâm trạng chủ thể trữ tình
+ Ví dụ: 
- “Tảo giải” (Giải đi sớm) khắc hoạ hình tượng nhân vật trữ tình Hồ Chí Minh - chủ thể trữ tình, cái tôi trữ tình với vẻ đẹp tâm hồn nghệ sĩ và vẻ đẹp tinh thần chiến sĩ.
- “Sóng”: xây dựng hình tượng nhân vật trữ tình “sóng” – nhân vật trữ tình nhập vai, đối tượng trữ tình mang vẻ đẹp của khao khát tình yêu thuỷ chung, nồng nàn, mãnh liệt.


+ Ứng dụng:
Phân tích hình tượng nhân vật trữ tình trong một bài thơ.
7. Giá trị hiện thực
 + Là gì:
- Phạm vi hiện thực đời sống mà tác phẩm phản ánh.
- Tác phẩm nào cũng có giá trị hiện thực. (Vì văn học bắt nguồn từ cuộc sống: hiện thực đời sống sinh hoạt hàng ngày, hiện thực tình cảm, tâm lí…)
+ Biểu hiện:
Hiện thực phản ánh trong tác phẩm thì vô cùng đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, nói đến giá trị hiện thực trong một tác phẩm văn học người ta thường đề cập 3 nét chính:
- Phơi bày chân thực, sâu sắc cuộc sống cơ cực, nỗi khổ về vật chất hay tinh thần của những con người bé nhỏ, bất hạnh.
- Chỉ ra nguyên nhân gây ra đau khổ cho con người.
- Miêu tả tinh tế vẻ đẹp tiềm ẩn trong con người.
Ở mỗi một tác phẩm cụ thể, giá trị hiện thực được biểu hiện đa dạng. Cùng phản ánh tình cảnh khốn quẫn của người nông dân Việt Nam trước cách mạng, Ngô Tất Tố miêu tả nỗi chật vật về vật chất của chị Dậu vì nạn sưu cao thuế nặng, một cổ nhiều tròng, Nguyễn Công Hoan phơi bày chân thực sự cùng đường tuyệt lộ của người nông dân (“Bước đường cùng”), Nam Cao lại đi vào mảng hiện thực sâu kín nhất, tăm tối nhất – địa hạt tâm lí để lột trần bi kịch bị tha hoá, nỗi đau tinh thần khắc khoải của những con người dưới đáy của xã hội – Chí Phèo.
+ Vai trò:
- Thể hiện cái nhìn hiện thực sâu sắc hay hời hợt của nhà văn.
- Dấu hiệu của một tác phẩm có giá trị.
+ Ứng dụng:
- Phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm. (Chí Phéo, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt…)
- Phân tích nhân vật làm rõ giá trị hiện thực mới mẻ và độc đáo trong một tác phẩm. (nhân vật Chí Phèo, nhân vật Mị, nhân vật người phụ nữ vợ nhặt…) 
8. Giá trị nhân đạo
+ Là gì:
- Hạt nhân: lòng yêu thương con người.
- Đối tượng: thường là nỗi khổ.
+ Biểu hiện: 3 khía cạnh cơ bản.
- Cảm thông với số phận đau khổ của những con người nhỏ bé, bất hạnh.
- Tố cáo các thế lực gây ra đau khổ cho con người.
- Phát hiện, khám phá và ngợi ca vẻ đẹp tiềm ẩn trong những con người bất hạnh. 
Ở mỗi tác phẩm khác nhau, những khía cạnh có sự biến đổi phong phú, linh hoạt. Chẳng hạn, cùng viết về người phụ nữ với cái nhìn trân trọng, yêu thương sâu sắc, Ngô Tất Tố khám phá ở Chị Dậu vẻ đẹp truyền thống, thuỷ chung, không tì vết; Kim Lân phát hiện ra nét nữ tính và khát vọng hạnh phúc bất diệt trong tâm hồn người vợ nhặt, còn Tô Hoài thì khơi tìm sức sống tiềm tàng, mãnh liệt nơi cô gái vùng cao - Mị…
+ Vai trò:
- Thể hiện tầm vóc tư tưởng của nhà văn
“Nhà văn chân chính là nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ” (Biêlinxki)
- Là một trong những dấu hiệu của một tác phẩm giàu giá trị (Văn học là nhân học. Nghệ thuật chỉ có nghĩa khi hướng tới con người, yêu thương con người).
+ Ứng dụng:
- Phân tích giá trị nhân đạo trong một tác phẩm (Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ, Chí Phèo…)
- Làm rõ giá trị nhân đạo độc đáo và mới mẻ của một tác phẩm qua việc phân tích nhân vật (Phân tích nhân vật Tràng, phân tích nhân vật Mị, phân tích nhân vật Chí Phèo…)
+ Mối quan hệ giữa giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo:
- Gắn bó hài hoà trong một tác phẩm. 
- Các khía cạnh biểu hiện nhìn chung tương đồng chỉ khác biệt ở chỗ: nếu nói giá trị hiện thực là nhắc tới sự trình bày, miêu tả hiện thực một cách tương đối khách quan thì nói tới gía trị nhân đạo tức là đã bao hàm thái độ của nhà văn (cảm thông, thương xót, đồng tình, ngợi ca…)

Sưu tầm
Bài 3.
a) Nền văn học phục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu: Văn học trước hết phải là một thứ vũ khí chiến đấu. Ý thức, trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ được đề cao. Quá trình vận động, phát triển của nền văn học mới ăn nhịp với từng chặng đường lịch sử của dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước. Tập trung vào đề tài Tổ quốc và CNXH, xây dựng nhân vật trung tâm là người chiến sĩ trên mặt trận vũ trang và hình ảnh con người mới.

b) Nền văn học hướng về đại chúng: Đại chúng vừa là đối tượng phản ánh và đối tượng phục vụ, vừa là nguồn cung cấp, bổ sung lực lượng sáng tác cho văn học. Văn học quan tâm tới đời sống nhân dân lao động, nói lên nỗi bất hạnh của họ trong xã hội cũ, niềm vui, niềm tự hào về cuộc đời mới, thể hiện con đường tất yếu đến với cách mạng, phát hiện ở họ khả năng cách mạng và phẩm chất anh hùng. Đó là nền văn học có tính nhân dân sâu sắc và nội dung nhân đạo mới.
Về hình thức, phần lớn các tác phẩm đều ngắn gọn, nội dung dễ hiểu, chủ đề rõ ràng, hình thức nghệ thuật quen thuộc.

c) Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn:
- Khuynh hướng sử thi: tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản nhất có ý nghĩa sống còn của đất nước. Nhân vật chính thường tiêu biểu cho lí tưởng chung của dân tộc, gắn bó số phận mình với số phận đất nước, thể hiện và kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cả cộng đồng. Lời văn sử thi mang giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ, hào hùng.
- Cảm hứng lãng mạn: chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định phương diện lí tưởng của cuộc sống mới và vẻ đẹp con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc.
Về nghệ thuật, đặc điểm trên thể hiện ở hướng vận động của cốt truyện, xung đột nghệ thuật, số phận, tính cách nhân vật từ hiện đại vươn tới tương lai, từ bóng tối ra ánh sáng, từ gian khổ hy sinh tới niềm vui chiến thắng.


Bài 4.
a) Chặng đường 1945 – 1954:
- Văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng và kháng chiến: hướng tới đại chúng, phản ánh sức mạnh của quần chúng; thể hiện niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào tương lai tất thắng.
- Truyện ngắn và kí: Một lần tới thủ đô (Trần Đăng), Đôi mắt (Nam Cao), Làng (Kim Lân),…; Vùng mỏ (Vũ Huy Tâm), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Truyện Tây Bắc (Tô Hoài),…
- Thơ: Việt Bắc (Tố Hữu), Đất nước (Nguyễn Đình Thi), Tây Tiến (Quang Dũng),…

b) Chặng đường 1955 – 1964: Tập trung thể hiện hình ảnh người lao động, ngợi ca những đổi thay của đất nước và con người trong bước đầu xây dựng CNXH với cảm hứng lãng mạn.
- Văn xuôi mở rộng đề tài: sự đổi đời trong môi trường xã hội mới (Mùa lạc – Nguyễn Khải); ngợi ca chủ nghĩa anh hùng (Sống mãi với thủ đô – Nguyễn Huy Tưởng, Cao điểm cuối cùng – Hữu Mai); hiện thực đời sống trước CMT8 (Vỡ bờ - Nguyễn Đình Thi, Cửa biển – Nguyên Hồng); công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc (Sông Đà – Nguyễn Tuân).
- Thơ phát triển mạnh mẽ: cảm hứng về sự hồi sinh của đất nước sau chiến tranh, về những thành tựu bước đầu xây dựng CNXH, về sự hoà hợp riêng – chung, về nỗi đau chia cắt đất nước (Gió lộng – Tố Hữu, Ánh sáng và Phù sa – Chế Lan Viên, Riêng chung – Xuân Diệu).

c) Chặng đường 1965 – 1975: Tập trung viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ, ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
- Văn xuôi: Phản ánh cuộc sống chiến đấu và lao động, con người Việt Nam anh dũng, kiên cường, bất khuất (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi, Dấu chân người lính – Nguyễn Minh Châu).
- Thơ đạt nhiều thành tựu xuất sắc: tập trung thể hiện cuộc ra quân vĩ đại của toàn dân tộc, khám phá sức mạnh con người Việt Nam, nhận thức và đề cao sứ mệnh lịch sử, tầm vóc và ý nghĩa nhân loại của cuộc kháng chiến chống Mĩ; thể hiện khuynh hướng khái quát hiện thực, giàu chất suy tưởng, chính luận (Ra trận – Tố Hữu, Vầng trăng và quầng lửa – Phạm Tiến Duật, Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm).
Chặng đường này ghi nhận sự xuất hiện một thế hệ nhà thơ trẻ vừa đánh giặc vừa làm thơ: Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh.


Bài 1.
BÀI LÀM

Hi Lạp có một quá khứ cổ xưa, với những nền văn minh rực rỡ, lâu đời nhất châu Âu. Chính Hi Lạp là nơi sản sinh ra những kiểu kiến trúc độc đáo, những tác phẩm văn chương bất hủ, những triết gia bậc thầy và cả những nhà khoa học như Hê- ra- clit, Ac-si-met,… Có thể nói được là nền học vấn của Hi Lạp có một lịch sử rất lâu đời và rất hoàn chỉnh. Do vậy, dân tộc Hi Lạp hiểu biết rõ những giá trị mà học vấn mang lại, cũng như có nhiều kinh nghiệm về những gian khổ trong quá trình rèn luyện trau dồi, nên họ có câu ngạn ngữ “ Học vấn có những chùm rễ đắng cay, nhưng hoa quả lại ngọt ngào”. Chúng ta hãy đánh giá, xem xét vấn đề này.

Học tập là quá trình con người thu nhận kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng từ thầy cô, bạn bè,sách vở và từ chính cuộc sống, để biến tất cả thành cái của mình, làm hành trang hành xử trong đời sống. Để việc học có hiệu quả, con người phải đầu tư nhiều thời giờ, sức lực, tiền của và nỗ lực hết mình tập trung chú ý vào học tập, rèn luyện.Chỉ để đi học thôi, nhiều người phải đi bộ trên những quãng đường dài, phải băng rừng, lội suối, leo đồi, phải đi trong mưa nắng, trong giá rét hay dưới cái trời nóng bức, phải tranh thủ ngay cả những giờ nghỉ ngơi sau một ngày lao động vất vả… Thêm vào đó, người học còn phải đọc thêm sách tham khảo, nghiên cứu tìm tòi, hỏi han thầy cô bạn bè, phải làm bài, học bài, phải thi cử. Rồi còn có những khó khăn do không hiểu được bài, không theo kịp bạn bè, những lúc đau ốm, mỏi mệt gây ra bao lo âu, phiền muộn. Bao nhiêu vất vả khó nhọc ấy chính là những chùm rễ đắng mà người học phải nếm trải.

Nhưng, khi một chương trình học kết thúc, người học sẽ bước thêm một bước dài trên con đường tri thức. Họ khám phá ra nhiều điều hay trong kho tàng kiến thức nhân loại. Chỉ biết đọc thôi cũng đã là một cách biệt lớn so với những người mù chữ rồi. Vì người đó đã có thể đọc được thông tin trên báo chí để biết tin tức, hay là thưởng thức một tác phẩm văn học nào đó. Nếu theo học tiếp, người đó sẽ biết tính toán các phép toán đơn giản, biết được những định luật lí hóa đơn giản để giải thích các hiện tượng thường gặp trong cuộc sống. Còn với những chương trình chuyên sâu hơn, người học sẽ trở thành những chuyên gia, am hiểu khá sâu trong lĩnh vực đó và trở thành người dạy cho người khác. Họ sẽ trở thành những người có hiểu biết hơn, hữu ích hơn, được người khác quý mến. Như thế, học vấn mang lại cho người học rất nhiều điều tốt đẹp , đó chính là những hoa quả ngọt ngào.

Tuy vậy, cần lưu ý rằng “ hoa quả” của học vấn không phải là để có địa vị cao trong xã hội, để hơn người, để được người khác phục tùng, vị nể, vì người học với mục đích như vậy là kẻ kiêu ngạo. Hoa quả ở đây là sự hiểu biết cái chân, thiện,mĩ, có đức độ. Thầy Tử Lộ cũng nói: “ Quân tử học dĩ tri kì đạo” người quân tử học để hiểu rõ cái đạo. Chính vì thế, người học không những trau dồi kiến thức, mà còn phải rèn luyện nhân cách, đạo đức. Thông thường, người hiểu biết kiến thức sâu rộng và đúng đắn là người có đạo đức và nhân cách cao đẹp. Vì người hiểu biết nhiều là người khiêm nhường, bởi học càng nhiều càng thấy mình thiếu sót, là người khôn ngoan vì biết nhìn nhận đánh giá sự việc một cách đúng đắn, hợp lí, không ba hoa, tự phụ. Do vậy, sự hiểu biết của họ được dùng để sống một cuộc sống tốt đẹp, để trình bày cho người khác hiểu, để bênh vực bảo vệ chân lí, để phục vụ đắc lực hơn.

Chính vì thế, học vấn ở đây cần được hiểu rộng ra là tự rèn luyện nhân cách cho bản thân. Mỗi người đều có những cái chưa tốt cần thay đổi sửa chữa, cái thiếu sót cần bổ sung. Tuy nhiên, để nhận ra những khuyết điểm và chấp nhận thay đổi là một điều không dễ dàng chút nào, như tục ngữ Việt Nam vẫn nói: “ Cái nết đánh chết không chừa” .Do đó, để hoàn thiện mình đòi hỏi ở con người nhiều nỗ lực cố gắng lẫn kiên trì bền chí. Việc đó khó nhưng không phải là không làm được. Đan – Ca-nơ-gin là một triết gia và một bậc thầy trong lĩnh vực hùng biện của thế kỉ XX. Nhưng khi còn đi học, ông mắc tật hay mắc cỡ, không thuyết trình trước lớp được. Thế nên, ông rèn luyện hằng ngày bằng cách vừa tắm cho heo, vừa nói thật mạnh về bài thuyết trình ở lớp hôm sau. Cuối cùng, ông đã bạo dạn mạnh mẽ hơn trong những bài thuyết trình sau này.

Tương tự như ngạn ngữ Hi Lạp, sách Lễ Kí chương XVIII cũng có câu: “ Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo”. Một viên ngọc mà không được mài dũa đẽo gọt thì trở thành vô dụng, cũng như con người không có học, không biết lý lẽ phải trái. Con người sống mà không biết lí lẽ, phải trái như vậy thì sống cũng vô ích cho xã hội. Do đó, như một điều tất yếu, để “ tri đạo” , để sống có ý nghĩa, sống xứng đáng là một con người, được người khác quý trọng, con người phải miệt mài học tập. Chính nhờ trải qua học tập rèn luyện nghiêm túc, con người sẽ mang một giá trị cao đẹp hơn, đáng quý hơn. Việc học tập ở đây cũng sẽ vất vả khó nhọc như viên ngọc bị dũa gọt vậy, và kết quả của quá trình rèn dũa này sẽ tạo ra những viên ngọc tốt đẹp, quý giá biết bao!

Tóm lại, trong quá trình học tập, người học phải biết chấp nhận những gian khổ, không được nản chí sờn lòng. Nhưng người học phải luôn tin tưởng vào một tương lai xán lạn phía trước và tiếp tục nỗ lực không ngừng để vững bước. Nhìn gương của các doanh nhân, có thể nhận thấy được họ đã phải trải qua rất nhiều gian khổ, khó khăn, thử thách, đã nếm trải vị đắng của những chùm rễ học vấn như thế nào?. Nhưng kết quả họ nhận được thật sự ngọt ngào, đó là những thành công trong công việc và trong cuộc sống. Theo những tấm gương đó, chúng ta vững chí kiên tâm, cố gắng không ngừng học tập, trau dồi để trở thành những bông hoa đẹp và những trái ngọt cho xã hội.

Bài 2.
Bài làm:

Trong số chúng ta,chắc hẳn đã có người từng đọc câu chuyện Những cuốn sách và chiếc giỏ đựng than. Truyện kể rằng có một chú bé luôn thấy tò mò về thói quen đọc sách hàng ngày của ông mình. Người ông đã đưa cho chú bé một chiếc giỏ đầy bụi than để đi xách nước mặc dù đã thử nhiều lần nhưng chú đều trở về với vẻ mặt thất vọng. Tuy nhiên có một điều kì lạ mà chú đã không nhận ra: đó là mỗi lần chú đi lấy nước cũng là mỗi lần chiếc giỏ được gột sạch thêm một chút. Câu chuyện đã đem lại cho người đọc một bài học đầy ý nghĩa về việc đọc sách. Đó là: đọc sách làm cho tâm hồn mỗi người trở nên trong sáng, hướng thiện hơn. Cũng giống như câu ngạn ngữ phương Đông : ‘’ Những người đọc sách tuy chưa thành danh nhưng cũng đã có một tư cách cao thượng”.

Trước hết ta có thể hiểu danh ở đây là danh tiếng, địa vị cương vị; là một phương tiện để tạo nên giá trị con người trong cuộc sống, nó là cái bên ngoài ta. Còn tư cách cao thượng là phẩm chất đạo đức của con người, là cái tồn tại ở trong ta, nó vượt lên những cái tầm thường thấp kém. Qua đó ta có thể thấy câu ngạn ngữ đến vai trò quan trọng của việc đọc sách đối với sự hình thành và hoàn thiện những phẩm chất quý giá cho con người. Đó chính là nền tảng căn bản để con người khẳng định danh tiếng, xây dựng địa vị trong tương lai. Đã từ lâu, sách là món ăn tinh thần không thể thiếu hằng ngày của chúng ta. Sách luôn là một kho tàng huyền bí làm kích thích sự tò mò của biết bao người. Nó càng bí ẩn bao nhiêu thì càng gợi sự say mê của con người bấy nhiêu. Nếu chúng ta không thể sống thiếu bạn bè thì chúng ta cũng không thể sống thiếu sách được. Sách là chiếc thìa khóa vạn năng mở ra mọi cánh cửa tri thức và làm đẹp cuộc đời. Chính nhờ có sách mà đời sống con người trở lên thoải mái hơn, tầm hiểu biết được mở rông, nâng cao hơn. Sách bao giờ cũng mang đến cho chúng ta những điều mới mẻ. Sách có nhiều loại mang nhiều đề tài khác nhau. Hồ Chí Minh đã từng nói: ‘’ Không có sách không có tri thức” tức là sách chứa đựng một kho tàng tri thức khổng lồ của nhân loại không chỉ về các lĩnh vực tự nhiên mà còn về các vấn đề xã hội. Đọc sách- chúng ta không chỉ biết được những việc xảy ra từ xa xưa mà còn biết được những vấn đề liên quan ở trên mặt trăng hoặc ở sâu dưới đáy đại dương huyền bí. Không chỉ cung cấp tri thức cho con ngươi, mỗi cuốn sách còn là một kho vốn tư tưởng, tình cảm vô cùng phong phú của con người. Đọc những câu chuyện cổ tích, ta biết được cuộc sống, ước mơ của ông cha ta từ thuở trước. Những cuốn sách lịch sử giúp ta hình dung những trận chiến ác liệt với kẻ thù, những thời vàng son rực rỡ qua các triều đại… 

Hơn thế nữa, sách còn mang đến cho người đọc những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ứng xử cũng như kinh nghiệm lao động sản xuất được đúc rút ra từ bao đời nay. Ngoài ra, sách còn tựa như một hướng dẫn viên đưa ta đến khám phá những danh lam thắng cảnh, những kì quan mà tạo hóa đã ban tặng cho con người. Tất cả những điều đó chính là “ chân trời mới” như nhận định của nhà văn Mác-xim Go-rơ-ki:‘’Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới”. Sách còn dạy cho ta biết được bao điều hay lẽ phải trong cuộc sống, nó có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện nhân cách cho con người, giúp con người sống tốt đẹp hơn. Cho nên có thể nói sách là người bạn thân vô cung hữu ích mang lại niềm tin yêu, vui vẻ đến cho cuộc sống của ta thêm tươi đẹp. 

Sách không những giúp ta mở mang kiến thức, mở rộng tầm nhìn, hiểu biết về các hiện tượng tự nhiên và xã hội, các vấn đề tồn tại trong cuộc sống, từ đó có thể lí giải được và nắm rõ bản chất của con người và cuộc sống mà còn giúp ta nhạy cảm , sâu sắc hơn trong nắm bắt những cảm xúc tình cảm, sâu sắc trong suy nghĩ, cách sống, cách ứng xử và trở nên tinh tế hơn trong cách phát hiện cũng như sáng tạo. Như vậy có thể nói sách vừa là người bạn vừa là người thầy luôn có mặt trong cuộc sống của chúng ta, theo ta trên mọi hành trình. Điều đó lí giải được vì sao sau mỗi trận chiến súng nổ đến rát mặt, không khí còn khét mùi bom đạn, những người lính vẫn dành cho mình những khoảng lặng bình yên, những giây phút thư giãn cùng với trang sách hiếm hoi bên cánh võng mắc giữa rừng Trường Sơn lộng gió.

Như đã nói ở trên: sách được chia làm rất nhiều loại nhưng không phải bất kì loại sách nào cũng là người bạn tốt cho con người. Bao giờ cũng vậy, bên cạnh cái tốt luôn có mặt xấu. Cho nên chúng ta cần phân biệt loại sách chứa đựng nội dung tốt và loại sách chứa nội dung xấu. Đọc sách tốt, ta có được những hiểu biết đúng đắn về cuộc sống, từ đó có những cái nhìn toàn diện, thấu đáo hơn. Sách tốt góp phần giúp giáo dục ta biêt sống nhân ái, biết khát vọng để vươn tới cái đẹp. 

Bên cạnh đó, những loại sách xấu cũng ảnh hưởng không ít đến con người. Sách xấu là những văn hóa phẩm đồi trụy, đen tối, hoặc loại sách ấy lại kích động, mở đường cho những hành vi thấp kém, những lối sống tầm thường. Xã hội sẽ ra sao khi thanh thiếu niên đều say sưa đọc sách xấu , làm những việc không lành mạnh, hại đến bản thân, gia đình và xã hội? Bởi vậy, phải biết lựa chọn sách tốt, loại bỏ sách xấu, phải biết lựa chọn sách phù hợp với lứa tuổi của mình. Đồng thơi, mỗi người phải biết tự hình thành cho mình bản lĩnh, củng cố hiểu biết để phân biệt tốt xấu, đúng sai và để dù có tiếp xúc với cái xấu cũng chiến thắng sức cám dỗ của nó cũng như không bị nó cuốn hút, quyến rũ, mê hoặc. Mỗi người chúng ta tìm đến sách với một mục đích khác nhau nên sẽ có những cách đọc khác nhau. Có người đọc sách để giải trí một cách trong sáng lành mạnh, coi đó là một thú vui tinh thần. 

Có người đọc sách chỉ để học thuộc hay tích lũy. Như vậy ta mới có được cái vỏ ngoài của sách và việc đọc ấy mới chỉ có ích cho bản thân mình. Một cách đọc sách có hiệu quả nhất là đọc để vận dụng và sáng tạo, từ đó tạo nên những giá trị thực sự cho cuộc sống của chúng ta và cả cộng đồng. Trong thời đại ngày nay,yêu cầu chuyên môn hóa cao thì mỗi người có quyền lựa chọn nhiều loại sách song ưu tiên đặc biệt cho những loại sách phù hợp với chuyên môn và năng lực bản thân. Vì chỉ khi đọc những cuốn sách phù hợp với chính mình, ta mới có thể vận dụng và sáng tạo. Sách chỉ thực sự là một người bạn tốt cho những ai biết nâng niu, trân trọng và biết học hỏi, tìm tòi.

Sau khi tìm hiểu và suy nghĩ về câu ngạn ngữ, chắc chắn mỗi người sẽ rút ra những bài học khác nhau để từ đó vận dụng và sáng tạo sao cho có ích nhất đối với bản thân mình, giúp thanh lọc tâm hồn trong sáng, hoàn thiện hơn. Chúng ta sẽ không tiến bộ nêu lười đọc sách nhưng lại càng có hại hơn nếu đọc sách mà không hiểu hoặc đọc bừa bãi và không đúng cách. Vì thế mỗi người hãy tự tìm cho mình một cách đọc sách thích hợp để có được hiệu quả cao nhất.


Bài 3.
Dàn ý: 

I. Mở bài 
Giới thiệu quan niệm mới mẻ và sâu sắc của Nam Cao về kẻ mạnh.

II. Thân bài 
A. Tổng: giải thích khái niệm, cách hiểu ý kiến của tác giả
1. Cách hiểu thông thường
- Kẻ mạnh: Với một cá nhân, là sức khoẻ, là khả năng vượt trội hơn người khác. Trong mối quan hệ với cộng đồng, sức mạnh ấy thường được nhìn nhận ở danh - lợi - quyền, và theo sự tranh đoạt “mạnh được yếu thua”, “cá lớn nuốt cá bé”
- Quan niệm này xuất phát từ quy luật sinh tồn trong tự nhiên, quy luật cạnh tranh trong xã hội.
2. Quan niệm của Nam Cao:
- Kẻ mạnh: đánh giá từ góc độ tinh thần, ở khả năng chia sẻ, đồng cảm, hành động trên tinh thần vị tha. Nam Cao nhấn mạnh vào yếu tố tình người, theo nguyên tắc sống chi phối bởi tình thương giữa người với người.
- Quan niệm này đối lập với quan niệm thông thường, là một định hướng giúp con người hoàn thiện bản thân, tạo nên nền tảng đạo đức xã hội và hướng tới giá trị Chân - Thiện – Mĩ vững bền trong cuộc sống. “Nâng đỡ người khác trên đôi vai”: chỗ dựa tinh thần vững chắc.

B. Phân: 
1. Kẻ mạnh là kẻ có lòng tự tin vào bản thân và tin ở con người, giúp con người nhận thức được chân lý cuộc sống
2. Kẻ mạnh là kẻ có tình cảm bao dung, sẵn sàng giúp đỡ người khác, làm chỗ dựa tinh thần cho người khác, có khả năng hướng thiện cho con người.
3. Kẻ mạnh giúp người khác nhận ra cái đẹp đích thực của cuộc đời, không những thế còn là khả năng hành động
4. Tinh thần bao quát trong ý kiến của Nam Cao: nhấn mạnh ý thức cộng đồng, tình cảm nhân loại, giúp con người có khả năng hy sinh cống hiến vì mục đích chung.
(Dẫn chứng theo hệ thống, có thể theo các phạm vị: nhà trường – gia đình – xã hội; cá nhân - tập thể; mối quan hệ: lợi ích cá nhân - lợi ích cộng đồng)

C. Hợp 
1. Tóm ý: Ý nghĩa lời nói của Nam Cao hướng tới giá trị làm người chân chính. Xác định rõ các tiêu chí.
2. Nâng cao: Biện luận các khả năng để hoàn thiện nhân cách con người
3. Khẳng định tính đúng đắn trong luận điểm của Nam Cao

III. Kết bài
Hướng tới bài học thực tiễn cho bản thân và liên hệ đến ý nghĩa với xã hội.
Bài 4.
BÀI LÀM

Ai đã đọc tác phẩm"Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu hẳn không thể nào quên được hình ảnh người phụ nữ làng chài tảo tần, chịu nhiều sương gió, cực khổ. Vì những gánh nặng của cuộc sống, vì tình thương dành cho con cái, vì cái án mưu sinh, khát khao hạnh phúc mà ng đàn bà đó phải chịu 1 cảnh sống bị đánh đập tàn nhẫn, 1 số phận thật trớ trêu và đầy nghịch lí. Trong xã hội hiện đại ngày nay, dù đã khác và tiến bộ rất nhiều hơn trước đây nhưng nạn bạo hành trong gia đình vẫn xảy ra và làm nhức nhối trong dư luận. 

Bạo hành trong gia đình ám chỉ tới rất nhiều rất nhiều kiểu ngược đãi mà một thành viên trong gia đình, một người sống chung trong hộ gia đình đối với các thành viên khác trong gia đình. Nó làm ảnh hưởng đến con người về mặt vật chất lẫn tinh thần. Những hành động dã man đó là sự kiểu đối xử mất hết tính người và tình người và có thể xem như 1 tệ nạn xã hội phải loại trừ. 

Nó xâm phạm đến quyền con người của các thành viên khác, những hành động đó không thể tha thứ. Các nạn nhân của nạn bạo hành thường là phụ nữ, người già và trẻ em, người tàn tật... những người yếu đuối và đôi khi phải sống phụ thuộc vào người đàn ông, trụ cột của gia đình. Họ không thể tự lực để sống 1 cuộc sống riêng vì như ta đã biết dù có phát triển hơn thì trình độ học tập của dân ta hiện nay cũng chưa thể nói là cao, phần đông lao động là ng chưa học quá lớp 9, để kiếm cái ăn họ phải làm thuê, làm mướn, và cũng vì lẽ đó mà những ng yếu đuối kia luôn bị lệ thuộc vào những kẻ có "trái tim sắt đá". Họ luôn phải dựa vào sức lao động của người khác để có thể tồn tại. Từ mối quan hệ không thể tách rời đó đã tạo nên gánh nặng mưu sinh, gây đè nặng tâm lí và luôn tạo ra sự căng thẳng trong các mối quan hệ trong gia đình, đó cũng là khởi nguồn cơ bản của nạn bạo hành trong gia đình. 

Điều thứ hai ta có thể thấy là ở cơ chế thị trường của xã hội hiện nay, người ta coi trọng đồng tiền hơn bất cứ thứ gì, "có tiền mua tiên cũng được". Dường như câu nói đó ngày càng in sâu vào nhận thức của mỗi người. Trong tâm trí họ lúc nào cũng chỉ nghĩ đến 1 mục đích duy nhất là làm sao có tiền, có thật nhiều tiền để sống thật sung sướng và hạnh phúc. Họ làm tất cả mọi việc để có được tiền và bất kì hành động nào cũng nhằm đạt được nhu cầu thỏa mãn vật chất. 

Cũng từ đó đã tạo nên bao sự dở khóc dở cười cho những người xung quanh họ, một khi con người ta đã đánh mất chính mình, quên đi những tình cảm của người thân xung quanh và mê mụi vì 1 thứ có mãnh lực có thể giết chết cả con người thì tất cả với họ chỉ là con số không. Khi không đạt được mục đích của mình họ đâm ra cáu gắt, tức giận và đổ lỗi cho người thân của mình, và rồi là những hành vi đối xử ngược đãi bạo tàn. 

Lí do thứ ba của tệ nạn này ở sự tha hóa về đạo đức, lối sống, sự suy đồi trong nhận thức và suy nghĩ của một số người. Họ quên đi những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, bị lấn át và cám dỗ trước những thứ xa hoa, phù phiếm, lối sống lai căng chiếm mất con ng họ và làm họ đánh mất đi trá trị của bản thân mình. Tình trạng này hiện nay rất thường thấy, nó không còn hiếm hoi mà dường như ở nơi nào ta cũng gặp. Vì họ không còn đạo đức, không còn tính người nên tất cả những hành động sai trái và mang tính bạo lực với họ chỉ là chuyện thường, họ sẽ không thể dừng lại, không thức tỉnh bởi họ có còn cái gọi là lương tâm đâu khi đạo đức đã bị chôn vùi mà không để lại dấu tích. 

Và như đã nói, trình độ dân trí của nc ta hiện nay vẫn còn rất thấp. Vì vậy mà ng dân không thể biết đến các quyền như quyền con người, bảo vệ con người và cả luật đối với nạn bạo hành trong gia đình. Đồng thời những tư tưởng cổ hủ, lạc hậu vẫn luôn ngự trị trong nhận thức của họ, với tư tưởng người đàn ông là người duy nhất có quyền hành trong gia đình đã tác động lớn đến suy nghĩ và hành động của con người. Đó là nguyên nhân cơ bản thứ tư của nạn bạo hành trong gia đình. 

Trong hoàn cảnh kinh tế của một nước đang phát triển, bên cạnh đời sống có phần nâng cao thì vẫn còn không ít những khó khăn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống nhân dân đặt biệt vùng quê nghèo khó và chính đều này làm nảy sinh nạn bạo hành trong gia đình. Trường hợp của chị Chị Trần Thị T (thôn Văn Hà, xã Gia Phương) lập gia đình năm 20 tuổi. Đã hơn 10 năm qua, chị chưa một ngày được hưởng hạnh phúc từ mái ấm đó. Chồng chị là kẻ nát rượu. Chị kể: "Anh ấy chỉ về nhà khi đã say mềm. Hôm sau anh ta lại đòi tiền đi uống rượu. Không đưa tiền thì anh ta đánh đập, chửi bới, đập phá nhà cửa. Nhà tôi cấy một mẫu ruộng, nhưng anh ta chẳng giúp được tí nào. "Bạc mặt" ở ngoài đồng, về nhà lại lăn vào làm việc nhà, nhiều lúc tôi không gượng nổi. Có hôm vừa thấy tôi đi làm về, anh ta đã lao vào đánh đấm túi bụi đến thâm tím mặt mày. 

Con cái anh ta cũng chẳng tha, đánh mẹ rồi quát đến con. Hai đứa con cứ nhìn thấy bố là khóc thét. Xấu hổ với xóm làng, nhiều lúc tôi muốn chết đi cho rảnh nợ, nhưng nghĩ thương con nên phải cố gắng sống. Số phận mình đã thế thì phải chịu thôi. Hay Gần hai tháng nay, tại thôn Lương Quy, xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh (Hà Nội), cụ Nguyễn Thị Lý, 83 tuổi và chị Oanh, con gái cụ phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất. Ngôi nhà nơi mẹ con cụ Lý đang ở đã bị hai con trai là anh Hùng và anh Dũng phá tường, dỡ mái. Bàn thờ gia tiên và chiếc giường ngủ hàng của cụ Lý cũng bị đập phá tan tành... Những sự việc trên đã gây bức xúc trong dư luận xã hội, đó là những con sâu mọt phá hoại nề nếp và đi ngược với giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. 

Những nạn bạo hành đó gây tác động xấu đến sự phát triển của xã hội, làm cho cuộc sống của xã hội ngày càng trở nên bất an, bởi lúc nào cũng có ng bị đánh đập, hành hạ một cách rất dã man. Nó ảnh hưởng đến vấn đề tâm sinh lí của ng bị hại, họ k thể sống như bao ng bình thường khác mà lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, bị hành hạ và đè nặng trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày. 

Làm cho cuộc sống xã hội bất an, phá vỡ nét đẹp truyền thống của dân tộc trong tình nghĩa, đánh mất những nét đẹp trong lối sống và đạo đức của dân tộc. Làm cho trật tự xã hội bị phá vỡ, cái luân thường đạo lí bị xem nhẹ. Hạnh phúc gia đình bị tan vỡ, tình cảm lục đục, cha con, vợ chồng, mẹ con những giá trị tình cảm đó dần mất đi và rồi khiến gia đình bị suy sụp. Rồi từ đó lại có bao mảnh đời bất hạnh, trẻ em lang thang vì không thể sống chung với gia đình lúc nào cũng bị hành hạ, người già neo đơn và thậm chí phải bỏ nhà ra đi vì sự lạnh nhạt của con cái, rồi gánh nặng xã hội lại đè nặng, bao nhiêu số phận kêu cứu. Sự rối loạn cũng một phần đc bắt đầu từ đây. 

Là một con người của xã hội hiện đại và phát triển, mỗi chúng ta không đượcc phép khoanh tay đứng nhìn mà phải đấu tranh, lên án, phê phán những hành vi đó và quyết tâm lọai trừ chúng ra khỏi cuộc sống văn minh này. Mỗi công dân cần tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tuyên truyền và giáo dục ng dân về luật pháp có liên quan đến bạo hành trong gia đình. Chúng ta cần dang tay giúp đỡ những nạn nhân của tệ nạn này. Điều quan trọng hơn cả là tu dưỡng và rèn luyện đạo đức, k đi theo con đường xấu, biết làm chủ bản thân, tiếp thu và làm theo những tư tưởng tiến bộ. 

Dường như nhìn đc thời cuộc, Nguyễn Minh Châu đã đặt ra 1 vấn đề mà cả thời của ông lẫn thời nay đểu đang xảy ra. Truyện đã phản ánh phần nào về thực trạng nạn bạo hành diễn ra. Đó là 1 điều đau xót và là những cái nhọt của xã hội. Mỗi cá nhân cần có cách sống phù hợp và tiến bộ, có ý thức trách nhiệm để góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh và phát triển, sẽ không còn dòng chữ nào phải lên tiếng để đấu tranh cho quyền của con người và chống nạn bạo hành trong xã hội.
Bài 1.
BÀI LÀM

Ai đã đọc tác phẩm"Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu hẳn không thể nào quên được hình ảnh người phụ nữ làng chài tảo tần, chịu nhiều sương gió, cực khổ. Vì những gánh nặng của cuộc sống, vì tình thương dành cho con cái, vì cái án mưu sinh, khát khao hạnh phúc mà ng đàn bà đó phải chịu 1 cảnh sống bị đánh đập tàn nhẫn, 1 số phận thật trớ trêu và đầy nghịch lí. Trong xã hội hiện đại ngày nay, dù đã khác và tiến bộ rất nhiều hơn trước đây nhưng nạn bạo hành trong gia đình vẫn xảy ra và làm nhức nhối trong dư luận. 

Bạo hành trong gia đình ám chỉ tới rất nhiều rất nhiều kiểu ngược đãi mà một thành viên trong gia đình, một người sống chung trong hộ gia đình đối với các thành viên khác trong gia đình. Nó làm ảnh hưởng đến con người về mặt vật chất lẫn tinh thần. Những hành động dã man đó là sự kiểu đối xử mất hết tính người và tình người và có thể xem như 1 tệ nạn xã hội phải loại trừ. 

Nó xâm phạm đến quyền con người của các thành viên khác, những hành động đó không thể tha thứ. Các nạn nhân của nạn bạo hành thường là phụ nữ, người già và trẻ em, người tàn tật... những người yếu đuối và đôi khi phải sống phụ thuộc vào người đàn ông, trụ cột của gia đình. Họ không thể tự lực để sống 1 cuộc sống riêng vì như ta đã biết dù có phát triển hơn thì trình độ học tập của dân ta hiện nay cũng chưa thể nói là cao, phần đông lao động là ng chưa học quá lớp 9, để kiếm cái ăn họ phải làm thuê, làm mướn, và cũng vì lẽ đó mà những ng yếu đuối kia luôn bị lệ thuộc vào những kẻ có "trái tim sắt đá". Họ luôn phải dựa vào sức lao động của người khác để có thể tồn tại. Từ mối quan hệ không thể tách rời đó đã tạo nên gánh nặng mưu sinh, gây đè nặng tâm lí và luôn tạo ra sự căng thẳng trong các mối quan hệ trong gia đình, đó cũng là khởi nguồn cơ bản của nạn bạo hành trong gia đình. 

Điều thứ hai ta có thể thấy là ở cơ chế thị trường của xã hội hiện nay, người ta coi trọng đồng tiền hơn bất cứ thứ gì, "có tiền mua tiên cũng được". Dường như câu nói đó ngày càng in sâu vào nhận thức của mỗi người. Trong tâm trí họ lúc nào cũng chỉ nghĩ đến 1 mục đích duy nhất là làm sao có tiền, có thật nhiều tiền để sống thật sung sướng và hạnh phúc. Họ làm tất cả mọi việc để có được tiền và bất kì hành động nào cũng nhằm đạt được nhu cầu thỏa mãn vật chất. 

Cũng từ đó đã tạo nên bao sự dở khóc dở cười cho những người xung quanh họ, một khi con người ta đã đánh mất chính mình, quên đi những tình cảm của người thân xung quanh và mê mụi vì 1 thứ có mãnh lực có thể giết chết cả con người thì tất cả với họ chỉ là con số không. Khi không đạt được mục đích của mình họ đâm ra cáu gắt, tức giận và đổ lỗi cho người thân của mình, và rồi là những hành vi đối xử ngược đãi bạo tàn. 

Lí do thứ ba của tệ nạn này ở sự tha hóa về đạo đức, lối sống, sự suy đồi trong nhận thức và suy nghĩ của một số người. Họ quên đi những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, bị lấn át và cám dỗ trước những thứ xa hoa, phù phiếm, lối sống lai căng chiếm mất con ng họ và làm họ đánh mất đi trá trị của bản thân mình. Tình trạng này hiện nay rất thường thấy, nó không còn hiếm hoi mà dường như ở nơi nào ta cũng gặp. Vì họ không còn đạo đức, không còn tính người nên tất cả những hành động sai trái và mang tính bạo lực với họ chỉ là chuyện thường, họ sẽ không thể dừng lại, không thức tỉnh bởi họ có còn cái gọi là lương tâm đâu khi đạo đức đã bị chôn vùi mà không để lại dấu tích. 

Và như đã nói, trình độ dân trí của nc ta hiện nay vẫn còn rất thấp. Vì vậy mà ng dân không thể biết đến các quyền như quyền con người, bảo vệ con người và cả luật đối với nạn bạo hành trong gia đình. Đồng thời những tư tưởng cổ hủ, lạc hậu vẫn luôn ngự trị trong nhận thức của họ, với tư tưởng người đàn ông là người duy nhất có quyền hành trong gia đình đã tác động lớn đến suy nghĩ và hành động của con người. Đó là nguyên nhân cơ bản thứ tư của nạn bạo hành trong gia đình. 

Trong hoàn cảnh kinh tế của một nước đang phát triển, bên cạnh đời sống có phần nâng cao thì vẫn còn không ít những khó khăn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống nhân dân đặt biệt vùng quê nghèo khó và chính đều này làm nảy sinh nạn bạo hành trong gia đình. Trường hợp của chị Chị Trần Thị T (thôn Văn Hà, xã Gia Phương) lập gia đình năm 20 tuổi. Đã hơn 10 năm qua, chị chưa một ngày được hưởng hạnh phúc từ mái ấm đó. Chồng chị là kẻ nát rượu. Chị kể: "Anh ấy chỉ về nhà khi đã say mềm. Hôm sau anh ta lại đòi tiền đi uống rượu. Không đưa tiền thì anh ta đánh đập, chửi bới, đập phá nhà cửa. Nhà tôi cấy một mẫu ruộng, nhưng anh ta chẳng giúp được tí nào. "Bạc mặt" ở ngoài đồng, về nhà lại lăn vào làm việc nhà, nhiều lúc tôi không gượng nổi. Có hôm vừa thấy tôi đi làm về, anh ta đã lao vào đánh đấm túi bụi đến thâm tím mặt mày. 

Con cái anh ta cũng chẳng tha, đánh mẹ rồi quát đến con. Hai đứa con cứ nhìn thấy bố là khóc thét. Xấu hổ với xóm làng, nhiều lúc tôi muốn chết đi cho rảnh nợ, nhưng nghĩ thương con nên phải cố gắng sống. Số phận mình đã thế thì phải chịu thôi. Hay Gần hai tháng nay, tại thôn Lương Quy, xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh (Hà Nội), cụ Nguyễn Thị Lý, 83 tuổi và chị Oanh, con gái cụ phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất. Ngôi nhà nơi mẹ con cụ Lý đang ở đã bị hai con trai là anh Hùng và anh Dũng phá tường, dỡ mái. Bàn thờ gia tiên và chiếc giường ngủ hàng của cụ Lý cũng bị đập phá tan tành... Những sự việc trên đã gây bức xúc trong dư luận xã hội, đó là những con sâu mọt phá hoại nề nếp và đi ngược với giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. 

Những nạn bạo hành đó gây tác động xấu đến sự phát triển của xã hội, làm cho cuộc sống của xã hội ngày càng trở nên bất an, bởi lúc nào cũng có ng bị đánh đập, hành hạ một cách rất dã man. Nó ảnh hưởng đến vấn đề tâm sinh lí của ng bị hại, họ k thể sống như bao ng bình thường khác mà lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, bị hành hạ và đè nặng trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày. 

Làm cho cuộc sống xã hội bất an, phá vỡ nét đẹp truyền thống của dân tộc trong tình nghĩa, đánh mất những nét đẹp trong lối sống và đạo đức của dân tộc. Làm cho trật tự xã hội bị phá vỡ, cái luân thường đạo lí bị xem nhẹ. Hạnh phúc gia đình bị tan vỡ, tình cảm lục đục, cha con, vợ chồng, mẹ con những giá trị tình cảm đó dần mất đi và rồi khiến gia đình bị suy sụp. Rồi từ đó lại có bao mảnh đời bất hạnh, trẻ em lang thang vì không thể sống chung với gia đình lúc nào cũng bị hành hạ, người già neo đơn và thậm chí phải bỏ nhà ra đi vì sự lạnh nhạt của con cái, rồi gánh nặng xã hội lại đè nặng, bao nhiêu số phận kêu cứu. Sự rối loạn cũng một phần đc bắt đầu từ đây. 

Là một con người của xã hội hiện đại và phát triển, mỗi chúng ta không đượcc phép khoanh tay đứng nhìn mà phải đấu tranh, lên án, phê phán những hành vi đó và quyết tâm lọai trừ chúng ra khỏi cuộc sống văn minh này. Mỗi công dân cần tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tuyên truyền và giáo dục ng dân về luật pháp có liên quan đến bạo hành trong gia đình. Chúng ta cần dang tay giúp đỡ những nạn nhân của tệ nạn này. Điều quan trọng hơn cả là tu dưỡng và rèn luyện đạo đức, k đi theo con đường xấu, biết làm chủ bản thân, tiếp thu và làm theo những tư tưởng tiến bộ. 

Dường như nhìn đc thời cuộc, Nguyễn Minh Châu đã đặt ra 1 vấn đề mà cả thời của ông lẫn thời nay đểu đang xảy ra. Truyện đã phản ánh phần nào về thực trạng nạn bạo hành diễn ra. Đó là 1 điều đau xót và là những cái nhọt của xã hội. Mỗi cá nhân cần có cách sống phù hợp và tiến bộ, có ý thức trách nhiệm để góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh và phát triển, sẽ không còn dòng chữ nào phải lên tiếng để đấu tranh cho quyền của con người và chống nạn bạo hành trong xã hội.
Bài 2.
         Xã hội rất phức tạp và muôn màu, muôn vẻ. Bởi lẽ trong xã hội luôn tồn tại người tốt, kẻ xấu, có những người không sống thực với mình, không hành động như suy nghĩ và đôi khi làm hại đến người khác. Chính những thành phần này là nhân tố góp phần hình thành nên xã hội như hiện nay. Một xã hội với nhiều kiểu người và điển hình nhất là kiểu người “sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo” 
         Sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo nghĩa là sống không thực với con người của mình. Người có lối sống như vậy là người không đáng tin cậy. Bởi vì bản thân những người đó đều là những kẻ sống không thành thực, những người gian dối, hay là kẻ luôn tự lừa dối bản thân.Còn một con người toàn vẹn là một người hoàn thiện, một người có suy nghĩ và hành động đồng nhất. Trong ngữ cảnh này, một người toàn vẹn là một người sống thật với bản thân mình, chấp nhận sự thật về bản thân mình.
          Quan niệm sống này của nhà văn Lưu Quang Vũ là rất đúng. Bởi lẽ, mỗi một người khi được sinh ra trong đời đều có thể xác và linh hồn riêng. Thể xác và linh hồn là hai phần tử tuy khác nhau nhưng hợp nhất với nhau và cùng nhau tồn tại hình thành nên con người. Sở dĩ con người khác với loài vật là vì con người có cuộc sống và cách suy nghĩ của riêng mình, biết tôn trọng cuộc sống của nhau, tôn trọng bản chất riêng của từng cá nhân. Người biết sống thành thực với bản thân và biết tôn trọng cái “tôi” cá nhân của người khác sẽ được mọi người trong xã hội tôn trọng. 
          Nhờ quan niệm sống trên, mỗi người càng hiểu thêm tầm quan trọng của việc sống sao cho thực với bản thân mình, sống mà không làm hại đến người khác, sống không lừa lọc, sống không dối trá. Tuy nhiên, trong thực tế, cuộc sống không phải lúc nào cũng màu hồng, không phải ai cũng là người sống thành thật, không phải ai cũng sống mà không dối trá, lừa lọc. Bởi vì xã hội vốn phức tạp theo đúng nghĩa của nó nên con người ta đôi khi phải chuyển biến theo chiều hướng của sự phát triển của xã hội. Chính trong quá trình phát triển và đào thải đầy gay gắt của xã hội, con người lựa chọn cách sống cho riêng mình và trong số những người sống chân thật, hết mình vẫn có những người chọn đường tắt thay vì đường thẳng bằng cách sống giả dối. Điều đó liệu là có thật sự tốt đẹp không khi mà một lúc nào đó, họ sẽ nhận ra rằng xã hội cũng sẽ sớm đào thải mình. Hay nói theo một cách, khi con người lựa chọn cách sống không trọn vẹn, không thật với con người mình thì họ sẽ tự sớm đào thải mình ra khỏi xã hội. 
         Để thật sự là một con người toàn vẹn, ngay từ khi còn trong ghế nhà trường, chúng ta hãy luyện tập thói quen sống có cùng một suy nghĩ và hành động, sống thành thật không chỉ với cộng đồng mà còn phải thành thật với chính bản thân. Chúng ta hãy đừng để cho cuộc sống của chúng ta giống như nhân vật Trương Ba để rồi phải hối tiếc vì đã không thành thật với bản thân, vì dã lựa chọn lối sống hồn người này, xác kẻ kia, một cuộc sống không trọn vẹn.
          Không ai có quyền chọn cho mình một thể xác nhưng vẫn có quyền làm cho tâm hồn mình trong sạch. Chính một tâm hồn trong sạch sẽ giúp cho suy nghĩ và hành động của ta có sự đồng nhất. Sự đồng nhất về hành động và suy nghĩ chính là minh chứng chứng tỏ bản thân là một người trọn vẹn, một cái tôi trọn vẹn. Hãy sống là chính mình, đừng bao giờ lừa dối bản thân hay người khác, cũng đừng sống chia đôi mình ra để rồi lời nói, hành động đều là của người khác trong khi tâm hồn lại là của chính mình. Hãy là một cái tôi toàn vẹn. 
Sưu tầm 
Bài 4.
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2012
Môn thi: NGỮ VĂN – Giáo dục trung học phổ thông
Đáp án đề thi tốt nghiệp môn Văn 2012
Thời gian làm bài: 150 phút, không kể thời gian giao đề
 
I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu 1.(2,0 điểm)
        Trong phần cuối tác phẩm Số phận con người, nhà văn M. Sô-lô-khốp viêt:
Hai con người côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ…
(Ngữ văn 12, tập hai, tr. 123, NXB Giáo dục – 2008)

Hai con người được nói đến ở trên là những nhân vật nào? Vì sao tác giả gọi họ là hai con người côi cút? Hình ảnh hai hạt cát trong câu văn có ý nghĩa  gì?
 
 
Câu 2. (3,0 điểm)

Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội.
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên. Tra đáp án đề thi môn Văn.
 
I. PHẦN RIÊNG – PHÀN TỰ CHỌN (5,0 điểm)

Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)

Câu 3.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu:
Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.
Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa…
(Ngữ văn 12, tập một, tr. 111, NXB Giáo dục – 2000)
 
 
Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)

Phân tích hình tượng sông  Đà trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà của nhà văn Nguyễn Tuân (phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục – 2009).


Bài 1.
BÀI LÀM

Ai đã đọc tác phẩm"Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu hẳn không thể nào quên được hình ảnh người phụ nữ làng chài tảo tần, chịu nhiều sương gió, cực khổ. Vì những gánh nặng của cuộc sống, vì tình thương dành cho con cái, vì cái án mưu sinh, khát khao hạnh phúc mà ng đàn bà đó phải chịu 1 cảnh sống bị đánh đập tàn nhẫn, 1 số phận thật trớ trêu và đầy nghịch lí. Trong xã hội hiện đại ngày nay, dù đã khác và tiến bộ rất nhiều hơn trước đây nhưng nạn bạo hành trong gia đình vẫn xảy ra và làm nhức nhối trong dư luận. 

Bạo hành trong gia đình ám chỉ tới rất nhiều rất nhiều kiểu ngược đãi mà một thành viên trong gia đình, một người sống chung trong hộ gia đình đối với các thành viên khác trong gia đình. Nó làm ảnh hưởng đến con người về mặt vật chất lẫn tinh thần. Những hành động dã man đó là sự kiểu đối xử mất hết tính người và tình người và có thể xem như 1 tệ nạn xã hội phải loại trừ. 

Nó xâm phạm đến quyền con người của các thành viên khác, những hành động đó không thể tha thứ. Các nạn nhân của nạn bạo hành thường là phụ nữ, người già và trẻ em, người tàn tật... những người yếu đuối và đôi khi phải sống phụ thuộc vào người đàn ông, trụ cột của gia đình. Họ không thể tự lực để sống 1 cuộc sống riêng vì như ta đã biết dù có phát triển hơn thì trình độ học tập của dân ta hiện nay cũng chưa thể nói là cao, phần đông lao động là ng chưa học quá lớp 9, để kiếm cái ăn họ phải làm thuê, làm mướn, và cũng vì lẽ đó mà những ng yếu đuối kia luôn bị lệ thuộc vào những kẻ có "trái tim sắt đá". Họ luôn phải dựa vào sức lao động của người khác để có thể tồn tại. Từ mối quan hệ không thể tách rời đó đã tạo nên gánh nặng mưu sinh, gây đè nặng tâm lí và luôn tạo ra sự căng thẳng trong các mối quan hệ trong gia đình, đó cũng là khởi nguồn cơ bản của nạn bạo hành trong gia đình. 

Điều thứ hai ta có thể thấy là ở cơ chế thị trường của xã hội hiện nay, người ta coi trọng đồng tiền hơn bất cứ thứ gì, "có tiền mua tiên cũng được". Dường như câu nói đó ngày càng in sâu vào nhận thức của mỗi người. Trong tâm trí họ lúc nào cũng chỉ nghĩ đến 1 mục đích duy nhất là làm sao có tiền, có thật nhiều tiền để sống thật sung sướng và hạnh phúc. Họ làm tất cả mọi việc để có được tiền và bất kì hành động nào cũng nhằm đạt được nhu cầu thỏa mãn vật chất. 

Cũng từ đó đã tạo nên bao sự dở khóc dở cười cho những người xung quanh họ, một khi con người ta đã đánh mất chính mình, quên đi những tình cảm của người thân xung quanh và mê mụi vì 1 thứ có mãnh lực có thể giết chết cả con người thì tất cả với họ chỉ là con số không. Khi không đạt được mục đích của mình họ đâm ra cáu gắt, tức giận và đổ lỗi cho người thân của mình, và rồi là những hành vi đối xử ngược đãi bạo tàn. 

Lí do thứ ba của tệ nạn này ở sự tha hóa về đạo đức, lối sống, sự suy đồi trong nhận thức và suy nghĩ của một số người. Họ quên đi những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, bị lấn át và cám dỗ trước những thứ xa hoa, phù phiếm, lối sống lai căng chiếm mất con ng họ và làm họ đánh mất đi trá trị của bản thân mình. Tình trạng này hiện nay rất thường thấy, nó không còn hiếm hoi mà dường như ở nơi nào ta cũng gặp. Vì họ không còn đạo đức, không còn tính người nên tất cả những hành động sai trái và mang tính bạo lực với họ chỉ là chuyện thường, họ sẽ không thể dừng lại, không thức tỉnh bởi họ có còn cái gọi là lương tâm đâu khi đạo đức đã bị chôn vùi mà không để lại dấu tích. 

Và như đã nói, trình độ dân trí của nc ta hiện nay vẫn còn rất thấp. Vì vậy mà ng dân không thể biết đến các quyền như quyền con người, bảo vệ con người và cả luật đối với nạn bạo hành trong gia đình. Đồng thời những tư tưởng cổ hủ, lạc hậu vẫn luôn ngự trị trong nhận thức của họ, với tư tưởng người đàn ông là người duy nhất có quyền hành trong gia đình đã tác động lớn đến suy nghĩ và hành động của con người. Đó là nguyên nhân cơ bản thứ tư của nạn bạo hành trong gia đình. 

Trong hoàn cảnh kinh tế của một nước đang phát triển, bên cạnh đời sống có phần nâng cao thì vẫn còn không ít những khó khăn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống nhân dân đặt biệt vùng quê nghèo khó và chính đều này làm nảy sinh nạn bạo hành trong gia đình. Trường hợp của chị Chị Trần Thị T (thôn Văn Hà, xã Gia Phương) lập gia đình năm 20 tuổi. Đã hơn 10 năm qua, chị chưa một ngày được hưởng hạnh phúc từ mái ấm đó. Chồng chị là kẻ nát rượu. Chị kể: "Anh ấy chỉ về nhà khi đã say mềm. Hôm sau anh ta lại đòi tiền đi uống rượu. Không đưa tiền thì anh ta đánh đập, chửi bới, đập phá nhà cửa. Nhà tôi cấy một mẫu ruộng, nhưng anh ta chẳng giúp được tí nào. "Bạc mặt" ở ngoài đồng, về nhà lại lăn vào làm việc nhà, nhiều lúc tôi không gượng nổi. Có hôm vừa thấy tôi đi làm về, anh ta đã lao vào đánh đấm túi bụi đến thâm tím mặt mày. 

Con cái anh ta cũng chẳng tha, đánh mẹ rồi quát đến con. Hai đứa con cứ nhìn thấy bố là khóc thét. Xấu hổ với xóm làng, nhiều lúc tôi muốn chết đi cho rảnh nợ, nhưng nghĩ thương con nên phải cố gắng sống. Số phận mình đã thế thì phải chịu thôi. Hay Gần hai tháng nay, tại thôn Lương Quy, xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh (Hà Nội), cụ Nguyễn Thị Lý, 83 tuổi và chị Oanh, con gái cụ phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất. Ngôi nhà nơi mẹ con cụ Lý đang ở đã bị hai con trai là anh Hùng và anh Dũng phá tường, dỡ mái. Bàn thờ gia tiên và chiếc giường ngủ hàng của cụ Lý cũng bị đập phá tan tành... Những sự việc trên đã gây bức xúc trong dư luận xã hội, đó là những con sâu mọt phá hoại nề nếp và đi ngược với giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. 

Những nạn bạo hành đó gây tác động xấu đến sự phát triển của xã hội, làm cho cuộc sống của xã hội ngày càng trở nên bất an, bởi lúc nào cũng có ng bị đánh đập, hành hạ một cách rất dã man. Nó ảnh hưởng đến vấn đề tâm sinh lí của ng bị hại, họ k thể sống như bao ng bình thường khác mà lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, bị hành hạ và đè nặng trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày. 

Làm cho cuộc sống xã hội bất an, phá vỡ nét đẹp truyền thống của dân tộc trong tình nghĩa, đánh mất những nét đẹp trong lối sống và đạo đức của dân tộc. Làm cho trật tự xã hội bị phá vỡ, cái luân thường đạo lí bị xem nhẹ. Hạnh phúc gia đình bị tan vỡ, tình cảm lục đục, cha con, vợ chồng, mẹ con những giá trị tình cảm đó dần mất đi và rồi khiến gia đình bị suy sụp. Rồi từ đó lại có bao mảnh đời bất hạnh, trẻ em lang thang vì không thể sống chung với gia đình lúc nào cũng bị hành hạ, người già neo đơn và thậm chí phải bỏ nhà ra đi vì sự lạnh nhạt của con cái, rồi gánh nặng xã hội lại đè nặng, bao nhiêu số phận kêu cứu. Sự rối loạn cũng một phần đc bắt đầu từ đây. 

Là một con người của xã hội hiện đại và phát triển, mỗi chúng ta không đượcc phép khoanh tay đứng nhìn mà phải đấu tranh, lên án, phê phán những hành vi đó và quyết tâm lọai trừ chúng ra khỏi cuộc sống văn minh này. Mỗi công dân cần tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tuyên truyền và giáo dục ng dân về luật pháp có liên quan đến bạo hành trong gia đình. Chúng ta cần dang tay giúp đỡ những nạn nhân của tệ nạn này. Điều quan trọng hơn cả là tu dưỡng và rèn luyện đạo đức, k đi theo con đường xấu, biết làm chủ bản thân, tiếp thu và làm theo những tư tưởng tiến bộ. 

Dường như nhìn đc thời cuộc, Nguyễn Minh Châu đã đặt ra 1 vấn đề mà cả thời của ông lẫn thời nay đểu đang xảy ra. Truyện đã phản ánh phần nào về thực trạng nạn bạo hành diễn ra. Đó là 1 điều đau xót và là những cái nhọt của xã hội. Mỗi cá nhân cần có cách sống phù hợp và tiến bộ, có ý thức trách nhiệm để góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh và phát triển, sẽ không còn dòng chữ nào phải lên tiếng để đấu tranh cho quyền của con người và chống nạn bạo hành trong xã hội.
Bài 2.
         Xã hội rất phức tạp và muôn màu, muôn vẻ. Bởi lẽ trong xã hội luôn tồn tại người tốt, kẻ xấu, có những người không sống thực với mình, không hành động như suy nghĩ và đôi khi làm hại đến người khác. Chính những thành phần này là nhân tố góp phần hình thành nên xã hội như hiện nay. Một xã hội với nhiều kiểu người và điển hình nhất là kiểu người “sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo” 
         Sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo nghĩa là sống không thực với con người của mình. Người có lối sống như vậy là người không đáng tin cậy. Bởi vì bản thân những người đó đều là những kẻ sống không thành thực, những người gian dối, hay là kẻ luôn tự lừa dối bản thân.Còn một con người toàn vẹn là một người hoàn thiện, một người có suy nghĩ và hành động đồng nhất. Trong ngữ cảnh này, một người toàn vẹn là một người sống thật với bản thân mình, chấp nhận sự thật về bản thân mình.
          Quan niệm sống này của nhà văn Lưu Quang Vũ là rất đúng. Bởi lẽ, mỗi một người khi được sinh ra trong đời đều có thể xác và linh hồn riêng. Thể xác và linh hồn là hai phần tử tuy khác nhau nhưng hợp nhất với nhau và cùng nhau tồn tại hình thành nên con người. Sở dĩ con người khác với loài vật là vì con người có cuộc sống và cách suy nghĩ của riêng mình, biết tôn trọng cuộc sống của nhau, tôn trọng bản chất riêng của từng cá nhân. Người biết sống thành thực với bản thân và biết tôn trọng cái “tôi” cá nhân của người khác sẽ được mọi người trong xã hội tôn trọng. 
          Nhờ quan niệm sống trên, mỗi người càng hiểu thêm tầm quan trọng của việc sống sao cho thực với bản thân mình, sống mà không làm hại đến người khác, sống không lừa lọc, sống không dối trá. Tuy nhiên, trong thực tế, cuộc sống không phải lúc nào cũng màu hồng, không phải ai cũng là người sống thành thật, không phải ai cũng sống mà không dối trá, lừa lọc. Bởi vì xã hội vốn phức tạp theo đúng nghĩa của nó nên con người ta đôi khi phải chuyển biến theo chiều hướng của sự phát triển của xã hội. Chính trong quá trình phát triển và đào thải đầy gay gắt của xã hội, con người lựa chọn cách sống cho riêng mình và trong số những người sống chân thật, hết mình vẫn có những người chọn đường tắt thay vì đường thẳng bằng cách sống giả dối. Điều đó liệu là có thật sự tốt đẹp không khi mà một lúc nào đó, họ sẽ nhận ra rằng xã hội cũng sẽ sớm đào thải mình. Hay nói theo một cách, khi con người lựa chọn cách sống không trọn vẹn, không thật với con người mình thì họ sẽ tự sớm đào thải mình ra khỏi xã hội. 
         Để thật sự là một con người toàn vẹn, ngay từ khi còn trong ghế nhà trường, chúng ta hãy luyện tập thói quen sống có cùng một suy nghĩ và hành động, sống thành thật không chỉ với cộng đồng mà còn phải thành thật với chính bản thân. Chúng ta hãy đừng để cho cuộc sống của chúng ta giống như nhân vật Trương Ba để rồi phải hối tiếc vì đã không thành thật với bản thân, vì dã lựa chọn lối sống hồn người này, xác kẻ kia, một cuộc sống không trọn vẹn.
          Không ai có quyền chọn cho mình một thể xác nhưng vẫn có quyền làm cho tâm hồn mình trong sạch. Chính một tâm hồn trong sạch sẽ giúp cho suy nghĩ và hành động của ta có sự đồng nhất. Sự đồng nhất về hành động và suy nghĩ chính là minh chứng chứng tỏ bản thân là một người trọn vẹn, một cái tôi trọn vẹn. Hãy sống là chính mình, đừng bao giờ lừa dối bản thân hay người khác, cũng đừng sống chia đôi mình ra để rồi lời nói, hành động đều là của người khác trong khi tâm hồn lại là của chính mình. Hãy là một cái tôi toàn vẹn. 
Sưu tầm 
Bài 3.

PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Phân tích ý nghĩa hình ảnh “cái lò gạch cũ” trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao (Đoạn trích được học trong sách Ngữ văn 11, tập một).

 Câu 2 (3,0 điểm)

            Trên đời này, khi một cánh cửa khép lại, thì sẽ có một cánh cửa khác mở ra.

            Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên

PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)

Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc 3.b)

Câu 3.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)

            Phân tích hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.

 

Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao  (5,0 điểm)

            Cảm nhận của anh(chị) về hai đoạn văn sau:

Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời.

Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve. Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị; Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn. (...)

(Hai đứa trẻ - Thạch Lam, Ngữ văn 11 Nâng cao,

Tập một, NXB Giáo dục 2008, trang 122)

(...) Tiếng trống thành phủ gần đấy đã bắt đầu thu không. Trên bốn chòi canh, ngục tốt cũng bắt đầu điểm vào cái quạnh quẽ của trời tối mịt, những tiếng kiểng và mõ đều đặn thưa thớt. Lướt qua cái thăm thẳm của nội cỏ đẫm sương, vẳng từ một làng xa đưa lại mấy tiếng chó sủa ma. Trong khung cửa sổ có nhiều con song kẻ những nét đen thẳng lên nền trời lốm đốm tinh tú, một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân giời không định. Tiếng dội chó sủa ma, tiếng trống thành phủ, tiếng kiểng mõ canh nổi lên nhiều nhiều. Bấy nhiêu thanh âm phức tạp như bay cao lần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ. (...)

(Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 11 Nâng cao,

Tập một, NXB Giáo dục 2008, trang 143 - 144)

 

---------- Hết ----------

 

Bài 4.

BÀI GIẢI GỢI Ý

CâuI. Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần nêu được những nội dung cơ bản sau :

a. Trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai bản Tuyên ngôn :

- Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776.

- Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791.

b. Ý nghĩa của việc trích dẫn:

- Tác giả tạo một cơ sở pháp lý vững chắc cho bản tuyên ngôn để khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam là “một lẽ phải không ai chối cãi được”, đồng thời tạo tiền đề cho lập luận nêu ở phần sau.

- Tác giả thể hiện thái độ trân trọng tinh hoa văn hóa nhân loại, đề cao truyền thống bình đẳng, nhân đạo, tư tưởng dân chủ tiến bộ của hai nước Pháp và Mỹ để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới.

- Tác giả muốn từ vấn đề nhân quyền để “suy rộng ra” và phát triển thành quyền dân tộc. Đây là đóng góp lớn về tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

- Tác giả cũng chỉ ra cho thực dân Pháp thấy rõ: nếu chúng âm mưu tái chiếm nước ta là xúc phạm đến nguyên lý về quyền độc lập tự do mà chính tổ tiên của chúng đã nêu ra trước kia. Đây là lối tranh luận “lấy gậy ông đập lưng ông” thể hiện thái độ vừa kiên quyết vừa khôn khéo của tác giả. Mặt khác, khi đặt ba bản tuyên ngôn ngang nhau, tác giả còn bộc lộ sâu sắc niềm tự hào dân tộc.

Câu II: Thí sinh cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản của câu hỏi: Viết bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về ý kiến: biết tự hào về bản thân là cần thiết nhưng xấu hổ còn quan trọng hơn.

Thí sinh có thể trình bày bài viết theo những nội dung cụ thể khác nhau. Sau đây là một số gợi ý :

- Giới thiệu ý kiến của đề bài: biết tự hào về bản thân là cần thiết nhưng xấu hổ còn quan trọng hơn.

- Giải thích :

+ Tự hào : lấy làm hài lòng, hãnh diện về cái tốt đẹp mà mình có.

+ Xấu hổ : cảm thấy hổ thẹn khi thấy mình có lỗi hoặc kém cỏi trước người khác.

+ Ý kiến : thể hiện quan điểm của người phát biểu về quan hệ của tự hào với xấu hổ : tự hào thì cần thiết, xấu hổ quan trọng hơn.

- Phân tích, chứng minh :

+ Tự hào là cần thiết :

× Người tự hào thường là người hiểu rõ bản thân, nhất là sở trường, các tốt đẹp của bản thân. Do đó cũng dễ là người có thái độ tự tin.

× Tự hào thường mang lại những cảm xúc tích cực. Nó giúp người ta dễ phấn khởi trong hành động. Do đó cuộc sống dễ đạt được những thành công.

+ Biết xấu hổ còn quan trọng hơn :

× Biết xấu hổ, người ta dễ tránh những lỗi lầm sai trái.

× Biết xấu hổ, người ta dễ nổ lực vươn lên để khắc phục những kém cỏi của bản thân.

× Biết xấu hổ, người ta dễ có lòng khiêm tốn, có tinh thần trách nhiệm, có lương tâm.

× Biết xấu hổ là một trong những biểu hiện của lòng tự trọng, của nhận thức về phẩm giá con người.

× Biết xấu hổ, người ta cũng dễ biết kiềm chế bản thân trước các tình huống.

- Phê phán : Trong thực tế, có những người không biết tự hào, cũng chẳng tự trọng, vô cảm với mình, với người. Nguyên nhân thường do thiếu nhận thức, thiếu kỹ năng sống.

- Bình luận : Tự hào, tự trọng (mà biết xấu hổ là một biểu hiện của nó) là những phẩm chất đáng quý mà mỗi người cần có, trong đó cần nhận thức tự hào là cần thiết nhưng tự trọng thì quan trọng hơn.

- Làm sao để có lòng tự hào và tự trọng :

+ Cần có hiểu biết và ý thức về giá trị con người và cuộc sống.

+ Cần có hiểu biết về ý nghĩa quan trọng của phẩm giá cá nhân.

+ Cần nỗ lực phấn đấu rèn luyện trau dồi những phẩm chất và kỹ năng sống cần thiết để sống tốt.

Câu III.a: 

1. Yêu cầu về kĩ năng:

_ Biết cách làm một bài nghị luận văn học để cảm nhận tác phẩm về nội dung, nghệ thuật

_ Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp, dùng từ

2. Yêu cầu về kiến thức:

Trên cơ sở hiểu biết, thí sinh trình bày theo nhiều cách nhưng cần nêu được những ý chính sau:

1. Tác giả, tác phẩm:

- Tác giả: Nguyễn Tuân là nhà văn mang phong cách tài hoa, uyên bác

- Tác phẩm: “Chữ người tử tù” rút ra từ tập “Vang bóng một thời” (1940), không chỉ thành công về nội dung mà còn có những nghệ thuật đặc sắc, nhất là tạo tình huống truyện độc đáo.
2. Phân tích cụ thể:

- Tìm hiểu về tình huống truyện trong tác phẩm tự sự, trong “Chữ người tử tù”

+ Sự gặp gỡ giữa những tâm hồn yêu cái đẹp trong hoàn cảnh éo le, đầy kịch tính.

+ Quản ngục, thơ lại là người có quyền trong nhà tù – Huấn Cao, phạm nhân đều hướng về cái đẹp của nghệ thuật thư pháp

- Khai thác tình huống truyện xoay quanh hai tuyến nhân vật:

+ Huấn Cao:

· Tài viết chữ đẹp hấp dẫn quản ngục, ông xem việc có được chữ của ông Huấn là có báu vật trên đời

· Tâm: yêu nước, hiên ngang, bất khuất của người có tài, “biệt nhỡn liên tài” để tìm người giữ chữ cho đời (chọn dẫn chứng và phân tích để làm bật lên những ý trên)

+ Quản ngục, thơ lại:

· Hai nhân vật này hợp lại để xin và giữ chữ bằng cái tâm hướng về cái đẹp

· Yêu cái đẹp đến độ dám chơi chữ với tử tù (chọn dẫn chứng và phân tích)

+ Và kết thúc của tình huống truyện là “cảnh cho chữ lạ lùng chưa từng có”:

· Cho chữ ở nhà ngục tử tù bật lên sự tồn tại vĩnh hằng của thư pháp ngay chốn tử tù

· Sự thay bậc đổi ngôi: người tù thì đứng, dù cổ mang gông, chân vướng xiềng vẫn ung dung cho chữ, còn thơ lại, quản ngục run run, khúm núm.

· Nhà tù tối tăm, hôi hám, dơ bẩn nhưng sáng rực với bó đuốc soi rọi trên ba cái đầu chụm vào nhau cùng hướng về tấm lụa bạch và mùi thơm của thoi mực.

· Sức mạnh của thư pháp cảm hứng kẻ lầm đường lạc lối về với nẻo chính đường ngay (minh họa và phân tích)

- Cảm nhận chung: Nghệ thuật tạo tình huống truyện trong “Chữ người tử tù” làm bật lên tư tưởng, nội dung của tác phẩm “Chữ người tử tù”.

3. Đánh giá tác giả, nghệ thuật tạo tình huống truyện của tác phẩm.

Câu III.b. 

1) Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích :

- Trường ca Mặt đường khát vọng viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị vùng tạm chiếm ở miền Nam: nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, đứng dậy xuống đường đấu tranh hoà nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc. Đoạn thơ trích thuộc phần đầu của chương V.

- Tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân” được thể hiện tập trung qua đoạn thơ :

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu 
… 
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.” 

chi phối cách cảm nhận của nhà thơ về các phương diện địa lí, lịch sử, văn hoá … của đất nước.

2) Phân tích đoạn thơ :

a. Tám câu đầu: Tác giả cảm nhận Đất Nước qua những địa danh, thắng cảnh. Những địa danh, thắng cảnh ấy gắn với cuộc sống, số phận, tính cách của nhân dân, được cảm thụ qua tâm hồn nhân dân. Chú ý khả năng gợi cảm nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng của các hình ảnh, cảnh vật: tình nghĩa thuỷ chung, thắm thiết (hình ảnh núi Vọng Phu, hòn Trống Mái); sức mạnh bất khuất (chuyện Thánh Gióng); cội nguồn thiêng liêng (hướng về đất Tổ Hùng Vương); truyền thống hiếu học (cách cảm nhận về núi Bút non Nghiên); Đất Nước tươi đẹp(cách nhìn dân dã về núi Con Cóc, Con Gà, về dòng sông Cửu Long gợi dáng những con rồng)vv… Đất Nước hiện lên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng.

b. Bốn câu cuối nâng ý thơ lên tầm khái quát: sự hoá thân của Nhân Dân vào bóng hình Đất Nước. Nhân Dân chính là người đã tạo dựng, đã đặt tên, ghi dấu ấn cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, miền đất này.

c. Trong đoạn thơ, tác giả đã sử dụng rất nhiều địa danh quen thuộc, những chất liệu văn hoá dân gian để nói về Đất Nước. Theo Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước được hình thành từ công sức của nhân dân, của những con người lao động bình dị. Đây cũng là biểu hiện chiều sâu tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân” trong cảm hứng sáng tạo của nhà thơ.

3) Đánh giá chung :

- Đoạn thơ đã làm rõ những cảm nhận riêng, độc đáo về Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm: không thiêng liêng hóa Đất Nước như trong thơ xưa, mà bằng những hình ảnh thơ rất cụ thể, đời thường, thấm đẫm chất liệu văn hóa dân gian nên Đất Nước gần gũi, gắn liền với mọi con người Việt Nam hôm nay.

- Ra đời trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ của cả nước đang ác liệt, bài thơ có tác dụng như một sự thức tỉnh đối với tuổi trẻ các thành thị miền Nam về tình yêu quê hương đất nước, ý chí đấu tranh bảo vệ độc lập tự do.

Bài 1. Trong các môn thi tốt nghiệp, môn Văn là môn khó đạt điểm cao nhất. Tuy nhiên, đây lại là môn mà thí sinh có thể đạt kết quả cao hơn mong muốn nhờ tâm lý thoải mái khi ngồi trong phòng thi. Tất nhiên, nền tảng là phải được ôn tập tốt. 
Học như thế nào để dễ nhớ?

Những năm gần đây, đề thi trong các kỳ thi tốt nghiệp THPT rất sát kiến thức cơ bản mà học sinh được học trong nhà trường. Chương trình Văn học lớp 12 gồm Văn học Việt Nam, Văn học nước ngoài.


Về hình thức có hai thể loại: Văn xuôi và thơ. HS khi ôn tập nên tập trung vào chương trình cơ bản. Không học rộng. Nhiều HS học miên man, khi làm bài cứ liên tưởng tràn lan khiến cho bài viết bị loãng, khó có điểm cao. 
Các em nên chia kiến thức ra thành những đơn vị nhỏ để dễ nhớ: Tác giả, tác phẩm, giai đoạn văn học, phong cách. Chia “ngang” rồi lại chia “dọc”: Thơ, văn xuôi.

Ngoài những điểm chung phải nhớ cho một tác phẩm văn học, kiến thức phải nhớ của thơ và văn xuôi có những cái riêng. Những kiến thức HS phải nhớ với văn xuôi gồm: Tư tưởng chủ đề, đề tài. Nó là giá trị nhân đạo hay nó nói về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nói về con người đánh Mỹ, hay là luận đề. Đã là văn xuôi thì phải có tóm tắt tác phẩm, tìm những dẫn chứng và phải nhớ dẫn chứng.

HS hãy gạch chân những đoạn văn làm sáng tỏ những nội dung hoặc đề tài mà tác phẩm đề cập tới rồi ghi nhớ. Ví dụ: Nhà văn Nguyễn Tuân miêu tả con sông Đà vừa dữ dội, vừa trữ tình. Vậy chi tiết nào thể hiện sự dữ dội? Chi tiết nào thể hiện nét đẹp trữ tình? 
Với thơ, thì HS phải nhớ được cảm hứng chủ đạo (văn học hiện đại không nặng về đánh giá tư tưởng chủ đề trong tác phẩm thơ). Sau đó các em tách ra từng đoạn, nhớ rõ cảm hứng chủ đạo của từng đoạn.

Tiếp theo là chọn câu nào hay hoặc độc đáo để học thuộc. Không cần thuộc cả đoạn hay cả bài. Cách ra đề bây giờ không đòi hỏi HS phải thuộc cả bài thơ mà chỉ cần thuộc dẫn chứng.

Văn xuôi cũng như thơ, HS nên hệ thống lại và chọn vừa đủ kiến thức để học phục vụ việc ôn thi. Học quá nhiều sẽ mệt, đuối sức. Các em phải thi 6 môn chứ không chỉ môn Văn. Trong khi đó với môn Văn, nếu các em học không tập trung vào kiến thức cơ bản thì đủ cảm thấy việc học quá mênh mông.

Cần chú trọng kỹ năng trình bày

Khi tiếp cận một đề bài, bao giờ HS cũng phải đọc kỹ để nhận diện đúng yêu cầu của đề. HS phải xác định đề bài yêu cầu dạng nghị luận nào: Chứng minh, phân tích, giải thích...? Theo đó để chọn đúng hình thức diễn đạt cho phù hợp. Nếu chứng minh thì phải diễn dịch, quy nạp cho sinh động. Nếu phân tích thì phải sử dụng thao tác tổng - phân - hợp nhiều hơn... 

Sau khi xác định được đề và viết ra nháp các ý chính là đến lúc HS bắt tay vào viết bài. Đến đây, HS phải thể hiện một kỹ năng rất quan trọng: Trình bày. 
Bố cục một bài văn góp phần rất lớn để người đọc (giám khảo) định hình được đây có phải là người có học văn hay không. Một bài văn có 3 phần: Đặt vấn đề, giải quyết vấn đề và kết thúc vấn đề.

Mỗi phần ta chia thành từng ý. Mỗi ý là một đoạn. Giữa các ý phải có chuyển đoạn. Phải có xuống dòng. Lùi vào đầu câu. Viết mà liền tù tì làm cho người đọc thấy rối mắt, không thấy có sự mạch lạc trong tư duy của người viết. Viết như thế sẽ không tạo được thiện cảm với người đọc.

Có một điều HS nên lưu ý, học văn là phải có cảm xúc. Cảm xúc càng trung thực, càng chân thành càng dễ làm người đọc đồng cảm. Các em đừng nghĩ rằng cảm xúc là những từ cảm thán, là những ngôn từ sáo rỗng, bóng bẩy.

Cảm xúc nó thể hiện ở cách diễn đạt, ở các loại câu khác nhau (tương ứng với các góc tiếp cận vấn đề). Nhiều HS tưởng rằng, trong đáp án môn Văn có biểu điểm cho từng ý là giám thị cứ vậy đếm ý mà cho điểm.

Bài làm nào có thể hiện được ý thông qua cảm xúc thì bài đó được điểm cao. Còn những bài tuy đủ ý nhưng không trình bày được cảm xúc, hoặc có cảm xúc mà chưa rõ ý... thì điểm sẽ thấp hơn là điều chắc chắn.

Dung lượng của một bài làm nên tương ứng với thời gian làm bài cho phép. Nếu viết quá ngắn thì giám khảo sẽ cảm nhận rằng, đó là bài làm của một người không có gì để viết, không biết triển khai một bài văn như thế nào. 
Một bài văn không bao giờ chỉ có một đoạn cũng như chỉ có một luận điểm. Ngược lại, nếu quá dài thì lan man, thì không đủ thời gian để đáp ứng những yêu cầu khác trong một đề thi.

Lan man là một bệnh khá phổ biến ở những em học khá môn Văn. Các em phải sắp xếp thời gian hợp lý để tập trung vào yêu cầu chính, không viết lan man, dẫn đến bỏ lửng. Bỏ lửng ý nào là các em mất điểm ý đó. 
Môn Văn là môn thi đầu tiên trong các kỳ thi tốt nghiệp THPT. Do đó, tâm lý khi làm bài thi rất quan trọng. Hơn nữa, môn Văn là môn mà nếu nhờ có tâm lý làm bài tốt, thí sinh có thể đạt được kết quả cao hơn mong muốn. Đây là nét đặc thù của môn Văn so với các môn thi khác.

Nguồn: 
http://diendankienthuc.net/diendan/on-thi-dh-cd-mon-van/68546-on-tap-mon-van-dung-hoc-lan-man.html#ixzz2ob6aXJs0 
Diễn Đàn Kiến Thức - Học Tập Suốt Đời 
Bài 2.
Bài 5: "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành, "Những đứa con trong gia đình" của Nguyễn Thi và "Mảnh trăng cuối rừng" của Nguyễn Minh Châu là những truyện ngắn hay, khám phá, ca ngợi vẻ đẹp của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Anh, chị hãy so sánh để làm rõ những phám phá, sáng tạo riêng của mỗi tác phẩm trong sự thể hiện chủ đề chung của nó.
(Đề thi học sinh giỏi quốc gia năm 2001, bảng B)

BÀI LÀM

"Yêu biết mấy những con người đi tới
Hai cánh tay như hai cánh bay lên
Ngực dám đó những phong ba dữ dội
Chân đạp bùn không sợ các loại sên!"

Hình ảnh những con người Việt Nam ấy đã đi vào thơ ca như một niềm thơ lớn và trở thành phần hồn của mỗi người con đất Việt. Yêu biết mấy hình ảnh người dân quê tôi: cần cù trong lao động, anh hùng trong chiến đấu. Văn thơ thời kỳ kháng chiến chống Mĩ đã dựng lại cả một thời kỳ máu lửa, đi sâu tìm tòi khám phá, ngợi ca vẻ đẹp của con người. Tôi nhớ mãi mãi một Tnú, cụ Mết trong "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thànn; chị Chiến, anh bộ đội tên Việt trong "Những đứa con trong gia đình" của Nguyễn Thi; và cô Nguyệt - người con gái trẻ tuổi dũng cảm trong "Mảnh trăng cuối rừng" của Nguyễn Minh Châu. Họ là hiện thân của vẻ đẹp con người Việt Nam, của sức sống dân tộc. Năm tháng trôi đi và lịch sử đã bước sang trang mới nhưng những con người ấy vẫn sáng ngời lên nhắc nhở ta về một quãng đường đầy gian khổ, đau thương, lại rất đỗi anh hùng mà đất nước mình đã đi qua. Để rồi mỗi lần đọc lại tôi không khỏi ngỡ ngàng vì người dân mình đẹp quá, dũng cảm; và lòng tôi được như sống lại những ngày còn chiến tranh bom đạn ấy.
Đọc "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành, "Những đứa con trong gia đình" của Nguyễn Thi, "Mảnh trăng cuối rừng" của Nguyễn Minh Châu, hiện lên một tập thể anh hùng nhiều thế hệ đang ngày đêm chiến đấu với kẻ thù để giữ từng tấc đất, ngôi nhà cho quê hương, đất nước. Viết về đề tài chiến tranh, cả ba nhà văn đề không đi sâu vào miêu tả những đau thương mất mát của dân mình, hay tội ác tày trời của giặc mỹ mà đi vào khám phá, ca ngợi vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến tranh. Tôi còn nhớ câu nói của một nhà văn nổi tiếng: Con người, tất cả ở con người. Có thể huỷ diệt được sự sống của con người nhưng không thể chiến thắng được nó. Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu viết về con người phải chăng cũng có một lòng tin như thế? Hình ảnh của Tnú, cụ Mết, Việt, chị Chiến, Nguyệt và còn biết bao con người nữa hiện ra trong cảnh sống chết từng giây, mưa bom bão đạn mà vẫn hiên ngang, sáng lên mốt vẻ đẹp phẩm chất lại thường. Họ là kết tinh của vẻ đẹp dân tộc, sức sống dân tộc. Những con người yêu nước thiết tha, chiến đấu quả cảm, quên mình vì tổ quốc ấy lại rất đỗi giản dị, sáng trong, gắn bó với từng làng, bản, thôn xóm. Bên cạnh phẩm chất anh hùng, Nguyệt trong "Mảnh trăng cuối rừng" còn sáng lên một tình yêu thuỷ chung, son sắc, đầy màu sắc lãng mạn. Các tác phẩm thời kỳ này đề đi vào khắc họa phẩm chất đẹp đẽ của con người với giọng điệu ca ngợi, hào hùng, vang vọng không khí sử thì hoành cháng. Ba tác phẩm đã dựng lên một tập thể anh hùng, nhiều thế hệ giữ hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, trong đó mỗi một nhân vật đều có một vẻ đẹp riêng, một tâm hồn, một cái "tôi' riêng hoà chung với cái "ta" rộng lớn ấy. "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành là một truyện ngắn xúc động, hào hùng về cuộc chiến tranh anh dũng của dân tộc Xô Man. Nhà văn đã đi sâu khám phá vẻ đẹp của những người con Tây Nguyên, những con người cả đời gắn bó với cây xà nu như gắn bó với Đảng, với cách mạng. Con người hiện lên trong trang văn của Nguyễn Trung Thành là một tập thể anh hùng nhiều thế hệ. Trang sử hào hùng cuả Tây Nguyên không phải chỉ một người viết mà là sự nối tiếp, kế tục từ đời nay sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ đã cùng nhau dựng xây làng bản, dựng xây làng bản của một thời đất nước dựng lên. Nguyễn Trung Thành đã tìm đến miền đất núi rừng đầy đau thương, nhà văn đẫ lắng nghe họ sống để lắng nghe họ sống để ghi lại cái nhịp sống hào hùng, ghị lại vẻ đẹp tâm hồn, bản chất anh hùng của những con người giản dị, mộc mạc mà thiêng liêng cao quý. Nguyễn Trung Thành như đã trở thành người con của Tây Nguyên, của dân làng Xô Man. Khi viết "Rừng xà nu" tựa hồ ông ngợi ca, tự hào về làng mình, về quê hương của mình.

Nói đến phong trào đấu tranh của dân làng Xô Man, ta không quên hình ảnh anh Quyết. Anh là cán bộ của Đảng, là người đã nhen nhóm phong trào cách mạng cho cộng đồng dân làng Xô Man. Tnú còn nhớ như in lời của anh: " Sau này nếu Mĩ - Diệm giết anh, Tnú phải làm cán bộ thay anh". Anh chính là ngọn lửa đấu tranh nóng bỏng lòng căm thù. Anh là người đã truyền sức mạnh, niềm tin cho Tnú, cho Mai..., Anh là một người chiến sĩ dũng cảm, anh hùng.

Nếu anh Quyết là hiện thân của lớp trẻ, của Đảng thì hình ảnh của cụ Mết lại sáng lên trong truyện ngắn như một trụ cột của dân làng Xô Man. Chẳng những vậy mà sau này, Nguyễn Trung Thành đã ghi lại trong hồ ký, đại ý: Ông là cội nguồn, là Tây Nguyên của thời đất nước đứng lên còn trường tồn đến hôm nay. Ông như lịch sử trùm nhưng không che lấp đi sự nối tiếp mãnh liệt, ngày càng mãnh liệt hơn, sành sỏi và tự giác hơn. Một lời nói của cụ Mết như lời nói của sông núi, là lời nói của cả dân tộc. Ông cụ là cội nguồn của dân làng Xô Man, là người đã lãnh đạo dân làng đánh giặc: "Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo". Cụ hiện thân cho truyền thống, nét đẹp từ ngàn xưa của dân làng. Cụ rất ít khen tốt giỏi mà chỉ nói "được", cụ truyền lại sức mạnh, răn dạy con cháu: "Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bây còn sống phải nhớ nói lại cho con cháu". Hình ảnh cụ Mết là hình của một già làng suốt đời gắn bó với Tây Nguyên, chiến đấu bảo vệ muôn làng. Cụ tự hào về cây xà nu, đố nó giết hết rừng xà nu đất này. Đẹp thay hình ảnh của một ông cụ "râu bây giờ đã dài đến ngực vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược" hiển hiện giữa rừng núi Tây Nguyên. Và hình ảnh cụ cùng lớp thanh niên trong làng cầm giáo mác cứu Tnú cho thấy cụ là hiện thân của sức sống dân tộc, tâm hồn dân tộc. Nguyễn Trung Thành ngợi ca vẻ đẹp Tây Nguyên bởi vẻ đẹp tâm hồn cụ là vẻ đẹp của ngày xưa, trường tồn và mãnh liệt cho đến hôm nay.

Viết về 'Rừng xà nu", viết về những con người anh hùng quả cảm, nhà văn đã khắc học hình ảnh nhân vật trung tâm: Tnú. Tnú là một thanh niên trẻ, anh dũng, gan dạn với một cuộc đời đầy bi kịch, đau thương nhưng anh đã vượt lên trên tất cả để sống, để chiến đấu và vẻ đẹp Tnú là vẻ đẹp của một con người chiến thắng,của một chiến sĩ anh hùng.

Phẩm chất anh hùng của Tnú được bộc lộ từ khi anh còn là một cậu bé cùng Mai đưa thư, tiếp tế cho cán bộ. Tnú yêu cách mạng, yêu Đảng. Một lần bị giặc bắt, anh quyết không khai mặc dù bị tra tấn dã man. Lòng căm thù giặc đã trở thành dòng máu chảy trong lòng anh từ lúc làng Xô Man còn chưa biết vùng dậy đánh giặc. Tnú lớn lên trong sự yêu thương của dân làng, trong mối hận phải trả thù và ước ao được làm cán bộ. Anh trở thành anh thanh niên xung phong của dân làng Xô Man. Cuộc đời của Tnú là cuộc đời đầy cay đắng, bất hạnh. Một lần giặc đã bắt mẹ con Mai (vợ Tnú) để buộc anh phải ra hàng. Không kìm được lòng mình, khi nhìn thấy Mai cùng đứa con bị đánh, anh lao ra nhưng không cứu được hai mẹ con Mai. Rồi Mai chết, đứa con cũng chết, Tnú chắc cũng sắp chết. Tnú chỉ nghĩ " Ai sẽ làm cán bộ lãnh đạo dân làng Xô Man đánh giặc?" và chỉ tiếc không sống được đến ngày cùng dân làng nổi đậy. Chao ôi! Đến lúc cái chết cận kề anh cũng chẳng nghĩ cho bản thân mình. Tnú chỉ đau đáu một nỗi niềm với cách mạng, với Đảng. Rồi khi mười đầu ngón tay anh cháy như mười ngọn đuốc, anh cũng khong kêu van, anh thấy lửa cháy trong bụng, thấy máu đã mặn chát nơi đầu lưỡi "răng anh như đã cắn nán môi anh rồi". Tnú hi sinh tất cả, quên mình vì đồng loại. Bàn tay của anh là bàn tay của người anh hùng, bàn tay ấy kể với ta về số phận một con người đau thương mà không hề chùn bước. Tnú chẳng gục ngã như cây xà nu kia: "Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên". Anh đem theo hình ảnh của Mai, của những tháng ngày đã qua, của hồi ức buồn để bước tiếp trên con đường cách mạng. Tnú là một con người anh hùng, quả cảm, giàu lòng yêu thương. Rồi bé Heng, Dít - tất cả đều mạng cái hồn của dân làng Xô Man. Nguyễn Trung Thành đã ngợi ca vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ cứu nước với bản chất anh hùng, quả cảm của cả một cộng đồng vừa anh hùng lại vừa nhân ái trong công cuộc bảo vệ quê hương. Tôi còn nhớ câu thơ: 
" Đứng vững chãi bốn ngàn năm sừng sững
Lưng đeo gươm tay mền mại bút hoa.
Trong và thực, sáng hai bờ suy tưởng
Sống nhân ái mà nhân ái chan hoà"

Và nếu như Nguyễn Trung Thành khám phá vẻ đẹp ở những người con của miền rừng núi Tây Nguyên thì Nguyễn Thi trong "Những đứa con trong gia đình" lại phát hiện vẻ đẹp con người ở vùng nông thôn Nam Bộ. Và nếu như phẩm chất anh hùng trong "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành bộc lộ qua tập thể của dân làng Xô Man thì bản chất anh hùng trong chuyện ngắn Nguyễn Thi lại bộc lộ qua bối cảnh gia đình. Nhân vật chính trong truyện là Việt và Chiến. Cả hai chị em đều phải sống trong sự thiếu thốn tình thương khi ba vá má bị giặc sát hại. Việt và Chiến tranh nhau đi bộ đội, nỗi đau và sự thiếu hụt tình cảm gia đình đã hun đúc cho cả hai chị em lòng căm thù giặc sâu sắc. Việt là anh bộ đội gan dạ, dũng cảm, tuy bị thương nhưng vẫn cố tìm và quyết đi cùng đồng đội. Trên mặt trận chiến đấu, Việt là một anh lính cụ Hồ, anh hùng quả cảm, lập chiến công và vẫn khiêm tốn không muốn báo cáo cho chị biết. Chi mong mỏi, khao khát được đánh giặc để trả thù cho ba má. Nguyễn Thi đã ca ngợi vẻ đẹp, ca ngợi phẩm chất anh hùng của những đứa con trong gia đình tuy nhỏ tuổi mà vẫn nặng lòng với cách mạng, sãn sàng hi sinh thân mình vì sự nghiệp cứu nước. Bản chất anh hùng của con người Việt Nam có ở mọi thế hệ, mọi dân tộc, tựa như đã trở thành dòng máu ngầm chảy ở mỗi một con người đất Việt. Chiến và Việt là hình ảnh của lớp trẻ hăng hái, dũng cảm trên bước đường chiến đấu gian khổ khốc liệt của quê hương. Họ tiêu biểu cho sức trẻ có thể làm đổi thay lịch sử và ghi thêm trang mới.

Nguyễn Thi đã phát hiện vẻ đẹp anh dũng của con người Việt Nam nhưng chưa đủ, nhà văn còn tìm thấy ẩm sâu bên trong những cong người gan góc, quả cảm ấy là cả một tình yêu thương lớn lao, tình yêu thương gia đình. Việt tuy đã trở thành một anh bộ đội nhưng vẫn ngây thơ, trẻ con như cậu bé thủa nào. Đoạn hai chị em khiêng bàn thờ bàn thờ ba má sang nhà chú Năm gửi để đi bộ đội thật cảm động, nó để lại trong lòng ta biết bao rung động, tình cảm ngọt ngào:"Nào, đưa ba má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má". Câu văn như nghẹn ngào mà lại chứa chan biết bao sự quyết tâm của chị em Chiến và Việt. Việt cảm nhận rõ gánh nặng đang đè lên vai mình, lần đầu tiên Việt cảm nhận lòng mình rõ như thế. Và Việt thấy thương chị. Con người Việt Nam trong chiến tranh đâu chỉ biết chiến đấu mà còn biết yêu thương. Họ đã vượt lên trên lỗi đau cá nhân để chiến đấu vì nỗi đau đồng loại. Hình ảnh của Chiến và Việt hiện lên trong trang viết của Nguyễn Thi thật xúc động, neo lại trong tâm hồn ta khiến ta vừa ngạc nhiên vừa ngỡ ngàng vì vẻ đẹp của con người Việt Nam một thuở.

Không đi sâu vào đề tài chiến tranh, không miêu tả nhiều về cuộc chiến đấu anh dũng của dân tộc, truyện ngắn "Mánh trăng cuối rừng" của Nguyễn Minh Châu đã tìm những hạt ngọc còn ẩn sâu trong cuộc sống. Nhà văn đã viết về đề tài tình yêu trên nền của chiến tranh bom đạn. Đọc "Mảnh trăng cuối rừng' ta bồi hồi tự hỏi:

"Và nơi đâu trên trái đât này
Người vẫn ngọt ngào qua muôn nỗi đắng cay.
Sống chết từng giây, mưa bom bão đạn
Lòng nóng bỏng căm thù vẫn mát tình bạn"

Có nơi nào đẹp như nơi này chăng? Và có người dân nơi đâu vừa anh hùng trong chiến đấu, vừa nóng bỏng căm thù lại vẫn mát tươi một tình bạn, một tình yêu, tình đồng đội và tất cả gom lại thành tình yêu quê hương, đất nước? Hiện lên trong "Mảnh trăng cuối rừng" Nguyễn Minh Châu là hình ảnh của Nguyệt. Vẻ đẹp ngoại hình và phấm chất của Nguyệt được khắc hoạ, miêu tả thông qua cái nhìn của Lãm. Nguyệt sống giữa bom đạn mà bom đạn giội xuống cũng không hề đứt, không thể nào tàn phá được ư? Nguyệt có một niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống.

Hình ảnh Nguyệt hiện lên với " đôi gót chân hồng hồng, sạch sẽ, đôi dép cao su cũng sạch sẽ" ở đâu tác phẩm đã gây cho người đọc biết bao yêu mến. Nguyệt có vẻ đẹp dịu dàng, "mát mẻ như sương núi" toả ra từ nét mặt, dáng người mảnh dẻ. Nguyệt còn là một cô gái dũng cảm, gan dạ khi giúp Lãm vượt qua quãng đường khó. Lời nói cứng cỏi " Anh bị thương thì xe cũng mất, anh cứ nấp đó" cùng hình ảnh "Nguyệt nhìn vết thương, cười khuôn mặt hơi tái nhưng vẫn tươi tỉnh và xinh đẹp" đã làm Lãm "dấy lên tình yêu Nguyệt gần như mê muội lẫn cảm phục" và còn in đậm mãi trong lòng độc giả hình ảnh một cô gái trẻ tuổi, gan góc thông minh được Nguyễn Minh Châu khắc học với giọng điệu ca ngợi trân trọng. Nhà văn đã tìm thấy ở Nguyệt hiện thân của sức trẻ - một sức sống, sức chống chịu phi thường. Nguyệt hiện lên trang viết giữa khung cảnh chiến tranh như mọt mảnh trăng non đầu tháng, sáng trong, dịu hiền và luôn ẩn dấu một vẻ đẹp khiến ta phải tìm kiếm.

Thế nhưng nguyễn Minh Châu không chỉ miêu tả phẩm chất anh hùng của Nguyệt mà còn khắc họa được vẻ đẹp lãng mạn của tình yêu, sức sống lãng mạn của tình yêu, sức sống mãnh liệt và niềm tin bất diệt của cô gái và cuộc sống. Nguyệt yêu Lãm mà chưa hề biết mặt, chưa hề thư từ mà chỉ qua lời của chị Tính. Cô nguyện chờ Lãm, mặc cho đôi khi Lãm phải ngạc nhiên vì "cái sợ chỉ xanh óng ánh" , phải thần thán khi biết Nguyệt vẫn một lòng chờ mình. Không dần dần được khám phá soi tỏ. Trong chiến tranh người ta không chỉ biết chiến đấu mà còn sáng lên một tình yêu thuỷ chung son sắc. Nếu Nguyệt chỉ thông minh, gan dạ, dũng cảm thì cô cũng chỉ như biết bao những cô gái thanh niên xung phong khác. Nguyễn Minh châu đã phát hiện ra vẻ đẹp tiềm ẩn, tưởng như mỏng manh giữa chiến tranh, bom đạn của người con gái ấy. Nguyệt sáng lên trong trang viết của ông hoà cùng ánh trăng, và văn Nguyễn Minh Châu cũng sáng lên trong lòng chúng ta bởi sức sống mãnh liệt của con người. Vẻ đẹp tâm hồn của Nguyệt khiến ta tin yêu con người,, kỳ vọng vào tương lai. Nguyễn Minh châu đã tìm thấy hạt ngọc nơi cuối rừng, hạt ngọc giữa thời rực lửa và cất lên khúc ca ngơi ca về con người, về vẻ đẹp con người Việt Nam hoà chung với khúc ca bất diệt, đầy tự hào của văn học thời kỳ chống Mĩ cứu nước.

"Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành, "Những đứa con trong gia đình" của Nguyễn Thi, "Mảnh trăng cuối rừng" của Nguyễn Minh Châu là những tượng đài lộng lẫy về vẻ đẹp của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đầy gian khổ thử thách mà rất đỗi anh hùng, sức sống mãnh liệt và vẻ đẹp của con người thời chiến với giọng điệu ngợi ca, hào hùng nhưng ở mỗi tác phẩm ta đều bắt gặp một cách khám phá sáng tạo riêng. Nếu như với "Rừng xà nu" Nguyễn Trung Thành đã dựng lên một tập thể anh hùng với hình ảnh cây xà nu ham ánh sáng, có sức sống dẻo dai thì Nguyễ\n Minh Châu lại khắc hoạ hình ảnh mẳng trăng non cuối rừng để làm sáng lên vẻ đẹp của Nguyệt. Nếu như 'Rừng xà nu" và "Những đứa con trong gia đình" đậm không khí sử thi, âm vang trầm hùng, bút pháp hoàng tráng, đố sộ thì "Mảnh trăng cuốc rừng" lại đến với lòng ta bằng một giọng điệu thiết tha, ngọt ngào, giàu màu sắc lãng mạn. Ba tác phẩm đi vào những khía cạnh khác nhau của đời sông kháng chiến, nhân vật hiện lên từ những khung cảnh, hoàn cảnh khác nhau và bút pháp khắc hoạ cũng mang tính độc đáo, cá biệt nhưng đều góp phần vào tiếng nói chung của dân tộc, tiếng nói phám phá ngợi ca vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Năm tháng trôi đi và lịch sử không ngừng biết động, "Rừng xà nu", "Những đứa con trong gia đình", "Mảnh trăng cuối rừng" mãi là những bông hoa không tuổi tựa mùa xuân không ngày tháng, đã ghi lại cái quá khứ hào hùng, sôi động của đất nước mình một thuở. Vẻ đẹp của con người Việt Nam đã làm nên cái hồn của cả dân tộc và góp phần làm cho tác phẩm sống mãi với thời gian. Văn học thời kỳ kháng chiến chống Mĩ cứu nước đã bắt được cái nhịp sống của dân tộc, đã ngợi ca sức sống và vẻ đẹp của con người. Giờ lật lại, chúng ta không khỏi tự hào, xúc động về những năm tháng đất nước mình đã đi qua, về vẻ đẹp muôn đời của con người đất Việt. Và ta mãi cất lên những bài ca không bao giờ quên - bài ca viết về quê hương, viết về con người bởi tự hào biết mấy hai tiếng: Việt Nam.

Vũ Trúc Hà
Trường THPT chuyên Chu Văn An - Lạng Sơn
Bài đoatj giải nhất


Bài 3.
Trong nền văn học Việt Nam chúng ta có thể thấy mảng thơ trữ tình chiếm một vị trí quan trọng và độc tôn. Điều đó không thể chối cãi. Vì vậy môn ngữ văn ở trường THCS cũng giảng dạy một số lượng thơ trữ tình cũng không ít trong các lớp 6, 7, 8, 9 gắn liền vớI các đề tài, chủ đề khác nhau. Với các nhân vật trữ tình khác nhaum xoay quanh đời sống tinh thần của con người, diễn tả nội tâm, tâm trạng và những cung bậc tình cảm khác nhau của con người. Chính vì vậy mà thơ trữ tình được đưa vào nhà trường là tất yếu. Vậy chúng ta phải dạy thơ trữ tình như thế nào để học sinh nắm được tâm trạng, cảm xúc, cách thể hiện tình cảm của các nhân vậttrữ tình được xem là đặc trưng nổi bật của thơ trữ tình. Sau đây là một vài yếu tố hình thức nghệ thuật cần chú ý khi phân tích thơ trữ tình.


I. ĐẶC TRƯNG CỦA THƠ TRỮ TÌNH VÀ MỘT SỐ LỖI CẦN TRÁNH KHI PHÂN TÍCH THƠ TRỮ TÌNH.
1. Đặc trưng của thơ trữ tình.
Thơ là một hình thức nghệ thuật đặc biệt. Hệ thống cảm xúc, tâm trạng và cách thể hiện tình cảm, cảm xúc được xem như là đặc trưng nổi bật của thơ trữ tình. Trong các tác phẩm thuộc các thể loại như văn xuôi, tự sự, kịch… cũng có cảm xúc, tâm trạng, nhưng cách thể hiện thì rất khác so với thơ trữ tình. Cảm xúc của tác giả có trong các thể loại văn học kể trên là thứ cảm xúc được thể hiện một cách gián tiếp thong qua hệ thống hình tượng nhân vật, các sự kiện XH và các diễn biến của câu chuyện… Trái lại, trong thơ trữ tình, tác giả bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình
.
VD trong đoạn thơ sau.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ song chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá
Tế Hanh – Quê Hương

Người đọc cảm nhận được rất rõ tấm lòng và tình cảm nhớ nhung da diết của nhà thơ Tế Hanh đối với quê hương, nơi ông đã sinh ra, lớn lên và gắn bó một thời. Ở đây nhà thơ công khai và trực tiếp nói lên những tình cảm, suy nghĩ của chính mình. Khác cách thể hiện tình cảm trong thơ, chúng ta hay doc đoạn văn sau:

Hôm sau Lão Hạc sang nhà tôi, Vừa thấy tôi Lão báo ngay:
- Cậu Vàng đi đợì rồi, ông giáo a. !
- Cụ bán rồi? 
- Bán rồi! Họ vừa bắt xong.
Lão cố gắng làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước…
Thế nó cho bắt à?
Mặt Lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu Lão nghoẹo về một bên và cái miệng móm mém của Lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc… 
(Nam Cao – LãoHạc)

Người kể chuyện ở đây xưng “tôi”, nhưng “tôi” đây là ông giáo chứ không phải Nam Cao. Nhà văn hoàn toàn không xuất hiện mà giấu mình đi. Trong trang sách chỉ có ông giáo kể lại câu chuyện. Như thế phải qua cách kể chuyện và miêu tả nhân vật ông giáo về nỗi ân hận, đau khổ đến cùng cực của Lão Hạc. Chúng ta mới thấy được tấm lòng thông cảm, thái độ trân trọng yêu mến của Nam Cao đối với nhân vật này.

Trong nhiều bài thơ trữ tình nhà thơ xưng “ta” chẳng hạn
“Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi”
(Tố Hữu)
Hoặc nhiều khi không thấy xưng “ta” hay “tôi” gì cả mà chỉ thấy một ai đó đang lẳng lặng kể và tâm sự, tâm tình, chẳng hạn 
“Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?”
(Ông Đồ - VuDinh Lien)

Trong trường hợp như thế người ta xưng “ta” hoặc không xưng gì cũng đều là chính nhà thơ. Nghĩa là sau câu thơ vẫn hiện lên rất rõ tấm lòng và tình cảm sâu nặng của tác giả. Có những trường hợp nhà thơ mượn lời của một nhân vật nào đó, nhập vai vào một ai đó mà thổ lộ tâm tình (người ta gọi là trữ tình nhập vai) thì thực chất nhân vật trữ tình đó cũng chính là tác giả. Thế Lữ mượn lời con Hổ trong vườn bách thú để dốc bầu tâm sự của chính ông về nỗi chán ghét cái xã hội giả dối, nghèo nàn, nhố nhăng, ngớ ngẩn đương thời, để nói lên khát vọng tự do, khát vọng về một cái thời đi không trở lại… ông viết 

“Ta sống mãi trong tình thương nỗI nhớ
Thủa tung hoành hống hách những ngày xua”
Thì ta ở đây la con Hổ cũng chính là nhà thơ Thế Lữ

Như vậy khi chúng ta phân tích thơ trữ tình thực chất là chỉ ra tiếng long sâu thẳm của chính nhà thơ. Nhưng tiếng long ấy lại được thể hiện rất cô đọng và hàm xúc bằng một nghệt thuật độc đáo - Nghệ thuật ngôn từ. Tiếp xúc với một bài thơ trữ tình trước hết là tiếp xúc bởi một hình thức nghệ thuật ngôn từ này. Nhà thơ gửi long mình qua những con chữ, trong những con chữ và các hình thức biểu đạt độc đáo khác. Tiếng kêu đau đớn đột ngột của Tố Hữu trước sự ra đi của chú bé lien lạc được thể hiện qua chữ “thôi rồi” và hình thức gẫy nhịp của câu thơ.
“Bỗng lòe chớp đỏ
Thôi rồI lượm ơi!”
Như thế phân tích thơ trữ tình trước hết phải xuất phát từ chính các hình thức nghệ thuật, ngôn từ mà chỉ ra vai trò và tác dụng của chúng trong việc thể hiện tình cảm, thái độ của nhà thơ.
Nắm chắc đặc điểm và yếu tố trên chúng ta sẽ tránh được các lỗi dễ mắc trong việc phân tích và cảm nhận thơ trữ tình.

2. Những lỗi cần phải tránh khi phân tích thơ trữ tình:
- Chỉ phân tích nội dung và tư tưởng được phản ánh trong bài thơ, không thấy hình thức nghệ thuật. Đây thực chất chỉ diễn xuôi nội dung thơ ra mà thôi
- Có chú ý đến các hình thức nghệ thuật, nhưng tách rờI các hình thức nghệ thuật nhưng tách rời các hình thức nghệ thuật ra khỏi nội dung (thường là gần kết bài mới nói qua một số hình thức nghệ thuật được nhà thơ sử dụng trong bài)
- Suy diễn một cách máy móc, gượng ép phi lí các nội dung và vai trò, ý nghĩa của các hình thức nghệ thuật trong bài thơ.
=> Tóm lại, để phân tích bài thơ trữ tình có cơ sở khoa học, có sức thuyết phục cần đến rất nhiều năng lực, nhưng trước hết người phân tích cần nắm được một số hình thức nghệ thuật sau

II. MỘT SỐ YẾU TỐ HÌNH THỨC NGHỆT THUẬT CẦN CHÚ Ý KHI PHÂN TÍCH THƠ TRỮ TÌNH.
Đọc tác phẩm văn học trước hết chúng ta tiếp xúc vớI những hình thức nghệ thuật cụ thể của ngôn từ nghệ thuật. Đó là những dấu câu và cách ngắt nhịp, là vần điệu, âm hưởng và nhạc tính, là từ ngữ và hình ảnh, là câu và sự tổ chức đoạn văn, là văn bản và thể loại của văn bản… Phân tích tác phẩm văn học không được thoát ly văn bản có nghĩa là trước hết phải bám sát các hình thức biểu hiện lên của ngôn từ nghệ thuật, chỉ ra vai trò và ý nghĩa của chúng trong việc thể hiện nội dung. Vậy chúng ta phân tích thơ trữ tình phải dựa trên thi pháp.

1. Nhịp thơ:
Nhịp điệu có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với thơ trữ tình. Nó giúp nhà thơ nâng cao khả năng biểu cảm, cảm xúc. Phân tích thơ trữ tình tình không thể không chú ý đến phân tích nhịp thơ. Để xác định nhịp điệu của từng bài thơ ngoài việc đọc từng câu thơ cho ngân vang âm điệu và làm bừng sang hình ảnh thơ, việc nắm được đặc điểm chung của mỗi thể loại cũng là điều rất cần thiết. Thường thường nhip điệu câu thơ lục bát uyển chuyển,mềm mại, thanh thoát, nhịp điệu thơ thất ngôn bát cú hài hòa, chặt chẽ, nhịp của thơ tự do, thơ hiện đại rất phóng khoáng, phong phú.
- Trong thơ trữ tình, cùng với dấu câu, cách ngắt nhịp cần được xem là một từ đa nghĩa, một từ đặc biết trong vốn ngôn ngữ chung của nhân loại. Chúng ta đều biết rằng trong những tình huống giao tiếp thong thường của cuộc sống, im lặng lắm khi lại nói được rất nhiều: Khi căm thù tuột đỉnh, lúc xao xuyến bâng khuâng, khi cô đơn buồn bã, lúc xúc động dâng trào… Những cung bậc tình cảm ấy nhiều khi không được mô tả bằng chữ nghĩa. Sự ngắt nhịp là một trong những phương tiện hữu hiệu để thể hiện “sự imlăng không lời” tạo nên “ý tại ngôn ngoại”, tính hàm nghĩa tạo ra điều không thể nói.
VD: Khi dạy đoạn ngâm trong bài”Sau phút chia ly”. Ta thấy tâm trạng nhà thơ chi phối trực tiếp cách tổ chức, vận hành nhịp điệu của khúc ngâm. Với tâm trạng lưu luyến, nỗi buồn xa cách giữa người chinh phu và người chinh phụ. Chúng ta phải đọc đúng cách ngắt nhịp của khúc ngâm mới phân tích được khúc ngâm một cách sâu sắc.

2. Vần thơ
Tiếng Việt rất giàu tính nhạc. Hệ thống vần điệu và thanh điệu là những yếu tố cơ bản tạo nên tính nhạc của Tiếng Việt nói chung và ngôn từ văn học nói riêng. Vì vậy khi phân tích thơ trữ tình giáo viên cần chú ý phân tích vần thơ, cách gieo vần
VD: Cùng trông lạI mà cung chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai.
- Vần của các câu được hiện với nhau trong đoạn thơ trên là sự hài hòa trong cùng một âm vực cao thấp, một trường độ âm thanh phát ra. Đó là sự hài hòa có được từ việc phối âm giữa các tiếng trong một cặp song thất. Xét từng cặp câu chúng ta thấy được sự hòa âm giữa câu 1 và câu 2, giữa câu 3 và câu 4 nhờ vào những âm giống nhau giữa tiến thứ bảy của câu bảy và tiếng thứ năm của câu bảy ở câu song thất, giữa tiếng thứ sáu của câu sáu và tiếng thứ sáu của câu tám trong cặp lục bát. Với sự hòa âm này của các câu thơ như níu kéo, lưu giữ lấy nhau trong từng đoạn hay cả bài thơ tạo nên sự trầm lắng, mênh mông, bang khuâng, da diết của cái buồn trong đoạn thơ, góp phần biểu đạt một cách hiệu quả tâm trạng nhân vật trữ tình.
- Tạo nên nhạc tính của thơ thực ra không chỉ có vần và hệ thống âm điệu mà ngay cả các âm trong mỗi tiếng cũng có những giá trị biểu đạt nhất định. Theo Đinh Trọng Lạc âm “a” gợi sự vui tươi bao la “Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” ( Phạm Tiến Duật), âm “r” gợi sự hãi hùng run sợ “Những luồng run rẩy rung rinh lá” (Xuân Diệu), Âm “u”, “âu” gợi sự u sầu bâng khuâng “Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu – Ngàn dâu xanh ngắt một màu”.
- Có thể dẫn ra rất nhiều ví dụ để minh họa cho tính nhạc của ngôn ngữ Việt trong thơ. Khi ta phân tích tác phẩm văn học (Nhất là thơ) Giáo viên cần hết sức chú trọng yếu tố này. Khi thấy âm hưởng, nhạc điệu của câu thơ không bình thườngm, có sự chuyển đổi thì hãy tập trung phân tích chỉ ra giá trị, vai trò và tác dụng của chúng trong việc thể hiện nội dung.

3. Từ ngữ và các biện pháp tu từ:
Đây là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của hình thức chất liệu ngôn từ. Bởi vì mọi nội dung cần thể hiện của tác phẩm văn học không thể có cách nào khác là nhờ vào hệ thống từ ngữ ấy. Cá phương tiện như dấu câu nhịp điệu ngữ âm đã nêu ở trên chỉ có ý nghĩa khi nằm trong một văn bản mà từ ngữ là nền tảng. Nhà văn muốn mô tả, tái hiện hiện thực phải thông qua từ ngữ. Muốn đánh giá được nhà văn viết về những điều đó như thế nào lại cũng phải thong qua chữ nghĩa trong văn bản “Văn học là nghệ thuật của ngôn từ” Chính là như vậy. Do tầm quan trọng ấy mà người ta coi lao động của nhà văn là thứ lao động chữ nghĩa. Có thể nói ngôn từ là một đặc trưng quan trọng và nổi bật của văn học. Vì thế giáo viên khi dạy phải chú ý một số điểm sau: 

- Thứ nhất: Phân tích tác phẩm văn học không thể thoát ly và bỏ qua yếu tố từ ngữ. Muốn phân tích tốt từ ngữ trước hết phải nắm vững nghĩa của từ (Nghĩa chung và nghĩa trong văn cảnh cụ thể) sau đó luôn luôn suy nghĩ và đặt câu hỏi: Tại sao nhà văn dung từ này mà không dung từ khác? VD: trong bài “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” của Lý Bạch, câu thơ đầu “Sàng tiền minh nguyệt quang”, tại sao tác giả lại dung từ “sàng” mà không dung từ “thượng” đều có nghĩa là giường? hoặc tại sao từ ngữ này lại xuất hiện nhiều như thế? Có bao nhiêu từ đồng nghĩa với từ này? Có thể thay từ khác được không? VD: Trong bài “Tiếng gà trưa” ( Xuân Quỳnh) torng khổ thơ cuối từ “vì” có thay từ khác được không? Tại sao tác giả lại dung từ đó? hoặc giáo viên có thể đặt câu hỏi “ trong câu ấy, đoạn ấy từ nào cần chú ý?” Giáo viên cần phải lưu ý cho học sinh biết một bài thơ có những từ có giá trị diễn đạt đắt nhất. trong thực tế có những giáo viên không để ý khi phận tích, lại say sưa tán tụng những từ ngữ không phải nhãn tự của bài thơ sẽ làm mất thời gian và không làm nổi bật được bài thơ. Trong trường hợp phân tích các bài thơ những tác phẩm văn học dịch, phải thật thận trọng khi phân tích từ ngữ. Bởi vì những từ đưa ra bình giá chưa chắc là những từ tác giả dùng trong nguyên bản.

- Thứ hai: Người ta nói nhiều đến phân tích hình ảnh trong tác phẩm văn học, nhưng phân tích hình ảnh trong tác phẩm văn học là phân tích từ ngữ. Nhiều người đã nhầm tưởng phân tích từ ngữ và hình ảnh khác nhau nhưng thật ra là một. VD: Câu thơ của Nguyễn Du tả chân dung Tú Bà.
Thoát trông lờn lợt màu da
Ăn gì to lớn đãy đà làm sao?
(Truyện Kiều)

Vẽ chính xác thần thái của một mụ chủ nhà chứa, bọn buôn thịt bán người. . Ta cũng thấy rõ thái độ của tác giả đối với loại người đó. Chữ “lờn lợt” lột tả được rõ nét nhất thần thái của Tú Bà! thực khó diễn tả bằng những từ ngữ khác: Vừa bóng nhẫy, vừa mai mái hay vàng bủng chăng? Đó là bộ mặt “thiếu vệ sinh” có nhà phê bình cho rằng ta đọc câu thơ này có cảm giác lợm giọng là như thế. Còn hai chữ “ăn gì” lại dường như muốn liệt mụ chủ chứa vào một giống loài gì đó không phải giống người. Bởi vì giống người thì ăn cơm, ăn thịt, ăn gạo, ăn cá … Chu “ăn gì” là sao? Đó là một ví dụ để thấy phân tích hinh anh và phân tích từ ngữ là một điều giáo viên cần lưu ý
- Hệ thống từ ngữ hình ảnh, cảm giác trong Tiếng Việt rất phong phú, da dạng
VD: Gợi về tâm trạng như: xao xuyến, bang khuâng, phân vân …
Gợi về thị giác: La đà, lơ lửng, chấp chới …
Gợi về thính giác: mặn chat, chua lòm, ngọt lịm…
Gợi về xúc giác: Lạnh ngát, nóng bỏng, xù xì…

- Thứ ba: Để tạo cách nói, cách viết có hình ảnh, gợi hình tượng bằng từ ngữ. Các nhà văn có thể vận dụng những cách: khi thì dùng từ láy:
VD: NỗI niềm chi rứa Huế ơi
Mà mưa xối xả trắng trờI Thừa Thiên
(Mẹ Tơm - Tố Hữu)
VD: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
(Đồng Chí – Chính Hữu)

- Thứ tư: Ngôn từ Văn học là loại ngôn từ đã được chắt lọc từ ngôn ngữ đời thường, được nâng cấp, sửa sang, làm cho nó càng óng ả, giàu đẹp hơn. Các biện pháp tu từ chính là những phương tiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ trang điểm cho ngôn từ văn học. Có rất nhiều biện pháp tu từ: ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, so sánh, điệp ngữ, … Tất cả những biện pháp đó nhằm mục đích giúp người nói, người viết có những cách diễn đạt hay hơn, đẹp hơn, phong phú hơn, và do vậy mà hiệu quả cao hơn. Phân tích các biện pháp tu từ giáo viên cần chỉ ra tính hiệu quả của cách viết, cách nói ấy, vai trò và tác dụng của chúng trong việc miêu tả, biểu đạt chứ không phải đơn thuần chỉ gọi tên liệt kê các biện pháp mà nhà văn đã dung.

4. Không gian và thời gian trong thơ trữ tình:
Không gian trong thơ trữ tình là nơi tác giả - cái tôi trữ tình hoặc nhân vật trữ tình xuất hiện để thổ lộ tấm long cũa mình. Không gian thường gắn với địa điểm chỉ nơi chốn như: cây đa, bến đò,mái đình, giếng nước, núi cao, biển sâu, trời rộng , song dài… Nhiều địa danh riêng đã trở thành những không gian tượng trưng văn học như: Tiêu tương, Tầm Dương, Cô Tô, Xích Bích, Tây Thiên, Địa Ngục, Thiên Đường, Bồng Lai, Tiên Cảnh, Cõi Phật, SuốI vàng….
Khi đọc tác phẩm Văn Học, chúng ta cnầ chú ý xem nhà văn mô tả không gian ở đây có gì đặc biệt, không gian ấy có ý nghĩa gì và nói được nội dung gì sâu sắc qua không gian đó.

Bài 4.
KỸ NĂNG
PHÂN TÍCH THƠ
DÙNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
 

CHƯƠNG I : DẪN NHẬP VỀ VIỆC PHÂN TÍCH THƠ

I. Định nghĩa về thơ:

Thơ ca là một hiện tượng độc đáo của văn học. Nó xuất hiện từ thời cổ đại và không ngừng vận động phát triển theo thời gian. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, học giả từ đông sang tây, từ cổ đến kim bàn đến nhiều vấn đề khác nhau của nó, nhưng thiết nghĩ, việc tìm hiểu khái niệm thơ là một việc làm cần thiết cho việc cảm thụ và phân tích thơ.

Thơ là gì ? Để trả lời đầy đủ câu hỏi này ta phải xuất phát từ việc nắm vững những nét đặc trưng của thơ ca trong sự đối sánh với các thể loại văn học, các bộ môn nghệ thuật khác. 

Trước hết, ai cũng biết thơ ca lấy ngôn ngữ làm chất liệu. Nói cách khác, thơ ca là một công trình nghệ thuật sáng tạo bằng ngôn từ. Những thể loại văn học khác cũng lấy ngôn từ làm chất liệu, song ngôn ngữ thơ được nhà nghệ sĩ tổ chức thành một hệ thống vừa tinh tế, ngắn gọn, súc tích, vừa tuân theo những quy luật ngữ âm nhất định. Hơn hẳn các thể loại văn học khác, ngữ âm đóng vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và truyền đạt của thơ ca.

Cũng như các thể loại văn học khác, các bộ môn nghệ thuật khác, thơ ca luôn phản ánh đời sống con người , xã hội thông qua những hình tượng nghệ thuật. Nhưng nét đặc trưng về nội dung của thơ là bày tỏ tâm trạng, thái độ, tình cảm của người nghệ sĩ về cuộc đời qua những hình tượng thơ độc đáo - hình tượng là nơi kết tinh những giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ. Nội dung của bài thơ là những rung động từ con tim, là những thổn thức từ tấm lòng của nhà nghệ sĩ trước cuộc đời. Vì lẽ đó, các nhà nghiên cứu đã xếp thơ vào loại tác phẩm trữ tình.

Từ những luận điểm trên, ta có thể rút ra một cách hình dung về thơ : Thơ là một thể loại văn học được xây dựng bằng hình thức ngôn ngữ ngắn gọn súc tích, theo những quy luật ngữ âm nhất định, nhằm phản ánh tâm trạng, thái độ, tình cảm, ... của người nghệ sĩ về đời sống thông qua những hình tượng nghệ thuật.

Về mặt đại thể, ta đã hiểu thơ là gì. Nhưng để có những hiểu biết làm cơ sở lí luận để tiếp nhận tác phẩm thơ ta cần phải tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của thể loại này.

II. Những đặc điểm cơ bản của thơ :
1. Tính trữ tình và chủ thể trữ tình ;

a- Tính trữ tình():Trữ tình là yếu tố quyết định tạo nên chất thơ. Tác phẩm thơ luôn thiên về diễn tả những cảm xúc, rung động, suy tư của chính nhà thơ về cuộc đời. Những rung động ấy xét đến cùng là những tiếng dội của những sự kiện, những hiện tượng đời sống vào tâm hồn nhà thơ. Đây là đặc điểm cơ bản nhất của tác phẩm thơ. Nắm vững đặc điểm này ta sẽ có một định hướng rõ ràng trong việc tiếp cận, phân tích đúng tác phẩm thơ. Nghĩa là, khi phân tích tác phẩm thơ, ta không phải đi sâu vào mổ xẻ, cắt nghĩa, lí giải về các chi tiết, sự kiện, sự việc được nhà thơ đề cập, mà điều cốt lõi là thấy và nói được những cảm xúc, tâm trạng, thái độ và suy tư của nhà thơ về các vấn đề trên. Trong tác phẩm tự sự, những sự kiện, vụ việc vụ việc mà nhà văn miêu tả, kể lại bao giờ cũng chứa đựng một giá trị nội dung tư tưởng , nó thể hiện cái nhìn sự nghiền ngẫm, cách đánh giá của nhà văn về cuộc đời. Song, trong thơ, các sự kiện được nhắc đến chỉ là cái cớ ( có thể hiểu là tứ thơ) để nhà thơ bày tỏ cảm xúc. Ví tác phẩm thơ như một cơ thể sống thì chữ nghĩa, chất liệu, sự kiện ,... chỉ là phần xác, phần hồn của nó chính là nội dung trữ tình. Nội dung trữ tình luôn là cái đích cuối cùng phải vươn tới của quá trình sáng tác cũng như cảm thụ, phân tích thơ.

b- Chủ thể trữ tình() : 


Trong tác phẩm thơ ta luôn bắt gặp bóng dáng con người đang nhìn, ngắm, đang rung động, suy tư về cuộc sống. Con người ấy được gọi là chủ thể trữ tình ( sẽ nói kỹ ở phần sau). Nói cách khác , chủ thể trữ tình là con người đang cảm xúc, suy tư trong tác phẩm thơ. Khác với nhân vật tự sự ( trong tác phẩm tự sự) là những con người bằng xương, bằng thịt, có tính cách, có số phận riêng ; nhân vật trữ tình trong tác phẩm thơ chỉ hiện diện, đối thoại với độc giả bằng những sắc thái tình cảm, thái độ tình cảm.Trong tác phẩm thơ, chủ thể trữ tình là yếu tố luôn có mặt để thể hiện nội dung trữ tình của tác phẩm. Bất kỳ thi phẩm nào cũng đều có chủ thể trữ tình. Thơ ca không phải là ghi chép hay kể lại những hiện tượng thuộc về đời sống bên ngoài mà là thể hiện tâm tư, suy cảm của nhà thơ. Cho nên, khi phân tích thơ, ta phải phân tích nội dung trữ tình . Muốn phân tích nội dung trữ tình thì nhất thiết, nắm bắt và phân tích được chủ thể trữ tình. Bởi lẽ, nội dung trữ tình luôn chứa trong chủ thể trữ tình.


2. Đặc điểm ngôn ngữ thơ:

P.Reveredy nói:” Chỉ một từ thôi cũng đủ tiêu diệt bài thơ hay nhất”. Không cần lý giải dài dòng vẫn thấy vai trò quan trọng của ngôn ngữ thơ. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, xin tóm gọn mấy ý chính về vai trò, đặc điển ngôn ngữ thơ đã được nhiều nhà nghiên cứu thống nhất :

- Không có ngôn ngữ thì không có thơ ca.

- Ngôn ngữ thơ ca cũng nằm trong vốn ngôn ngữ chung, nhưng đã được nhà thơ sử dụng sáng tạo theo những yêu cầu và mục đích sau:

+ Ngôn ngữ thơ phải có tính tạo hình: Tạo hình là khả năng trực tiếp miêu tả các hiện tượng của hiện thực. Nhờ có tính tạo hình mà ngôn ngữ thơ có thể vẽ nên bức tranh về cuộc sống, mở ra trước mắt người đọc, những hình ảnh, sự vật...giống với đối tượng trong thực tế, như đoạn thơ khuyết danh sau đây:
“Bủa vây lưới sắt bịt bùng 
Nguyên hình rắn phải đùng đùng hoá ngay
Chàng dùng dao báu chém rày 
Rõ ràng con rắn vừa tày một gian..”
(Thạch Sanh - khuyết danh)
+ Ngôn ngữ thơ phải có tính biểu hiện: Văn học nói chung, thơ ca nói riêng phản ánh hiện thực cuộc sống qua hình tượng nghệ thuật. Nghĩa là điều mà nhà nghệ sĩ nhận thức , suy tư về cuộc sống luôn được thể hiện một cách gián tiếp . Để làm được điều này người nghệ sĩ đi vào khai thác khả năng biểu hiện của ngôn ngữ. Đó là cách tổ chức sắp xếp ngôn ngữ sao cho từ một hình thức biểu đạt có thể có nhiều nội dung biểu đạt. Đó là quá trình chuyển nghĩa tạo nên lượng ngữ nghĩa kép trong thơ.
Ví dụ :
Người thương ơi cho em nhắn đôi điều 
Dẫu cho mai quán chiều lều cũng ưng" 
( Ca dao )
Hình thức biểu đạt của cụm từ " mai quán chiều lều " vừa có nghĩa trực tiếp chỉ "sáng thì ở quán chiều thì ở lều " vừa chuyển nghĩa để biểu hiện " cuộc sống nghèo khổ không ổn định". Nghĩa biểu hiện là nghĩa mang tính lâm thời trong văn bản thơ.

III. Hai giai đoạn trong quá trình tiếp nhận thơ :

Cái đích cuối cùng trong quá trình tiếp nhận thơ là độc giả đi tìm, lĩnh hội được đầy đủ cái hay, cái đẹp của thi phẩm. Thực tế cho thấy, đứng trước tác phẩm thơ, người đọc dễ dàng khen hay, chê dở. Nhưng nếu yêu cầu chỉ ra cái hay, cái dở thì nhiều người lúng túng khó trả lời. Bởi lẽ, họ chỉ mới cảm thơ mà chưa phân tích được. Từ thực tế ấy, ta nhận thấy quá trình tiếp nhận thơ phải trải qua hai bước từ cảm thơ đến phân tích thơ

1- Cảm thơ


Việc đánh giá, khen chê một tác phẩm thơ mà không có lý do (hay chưa tìm ra lý do) thì gọi là cảm thơ. Đây chính là bước khá quan trọng trong quá tình tiếp nhận thơ.

Mỗi tác phẩm thơ được xem như là một cơ thể sống. Nó có cảm xúc, tiếng nói, cái nhìn riêng về con người và đời sống. Như đã nói ở phần trên, thơ là tác phẩm trữ tình, do vậy mỗi bài thơ có một trường cảm xúc riêng (gọi là trường cảm xúc của bài thơ). Khi tiếp nhận tác phẩm thơ, người đọc chuẩn bị cho mình một tâm thế, một thái độ, một cảm xúc (gọi là trường cảm xúc của người đọc). Do vậy, cảm thơ thực chất là việc giao cảm giữa hai trường cảm xúc của độc giả và bài thơ. Từ đó, ta dễ nhận thấy cảm thơ có những đặc điểm sau:

- Nếu hai trường cảm xúc ấy đồng điệu thì việc cảm thơ diễn ra chính xác và đầy đủ; Nếu lệch pha thì chỉ cảm được một phần hoặc cảm nhận sai, hoặc không cảm nhận được.

- Mỗi độc giả có một tường cảm xúc riêng, do vậy việc cảm thơ diễn ra ở nhiều người trước một tác phẩm cũng có sự khác nhau. Một bài thơ, người khen hay, kẻ chê dở là chuyện thường tình, lắm khi có người không có cảm xúc hay chính kiến. Việc cảm thơ phụ thuộc rất lớn vào độ mẫn cảm của từng người

- Việc cảm thơ thường diễn ra theo sự mách bảo của con tim, chịu sự chi phối bởi tâm lý, thể trạng, hoàn cảnh của độc giả... Do vậy, nó mang tính chủ quan, cảm tính; nên việc cảm thơ không phải lúc nào cũng chính xác.
Từ thực tiễn và lý luận trên, ta có thể rút ra nhận xét: Cảm thơ là một quá trình giao cảm giữa độc giả và bài thơ. Cảm thơ không phải lúc nào cũng chính xác, nhưng dẫu sao nó cũng là một khâu quan trọng nhằm định hướng để phân tích tốt hơn. Không có cảm xúc định hướng do quá trình cảm thơ đưa lại thì việc phân tích thơ khó mà thành công.

2. Phân tích thơ 

Việc khám phá và chiếm lĩnh một cách có cơ sở những giá trị thẩm mỹ của tác phẩm thơ là phân tích thơ. Tất cả quá trình ấy phải được biểu hiện bằng ngôn ngữ của người đọc .

Khác với cảm thơ, phân tích thơ luôn tuân theo những nguyên tắc nhất định có tính khách quan, khoa học đối với nhiều người. Những nguyên tắc ấy là những công cụ đáng tin cậy để người làm văn có những nhận xét, đánh giá chuẩn xác về giá trị thẩm mỹ của tác phẩm thơ.

Năng lực phân tích thơ tuỳ thuộc rất lớn vào trình độ hiểu biết văn chương, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ diễn đạt cũng như các thao tác, phương pháp phân tích của độc giả.

Thành công bao giờ cũng dành cho người nào nắm phương pháp. Phân tích thơ mà không có phương pháp thì khó bề đặt chân đến bờ chân - thiện - mỹ của thi phẩm.

Bài 1.
DÀN Ý
1. Mở đầu
      Người xưa có câu: " Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân". Trang phục là một người bạn đồng hành gắn bó với chúng ta. Chúng không chỉ để che chở sưởi ấm mà còn thể hiện nhu cầu thẩm mĩ của mỗi cá nhân. Do đó việc lựa chọn trang phục sao cho phù hợp với hoàn cảnh, thời tiết. là quan trọng hơn hết.
        Ý nghĩa việc lựa chọn trang phục
        - Có thể nhận biết được nghề nghiệp, thị hiếu thẩm mĩ của mỗi người.
        - Góp phần thể hiện nhân cách con người.
        - Giúp ta tự tin và thành công hơn trong các cuộc giao tiếp.
        Nhận định về trang phục đẹp
         - Việc lựa chọn trang phục hết sức quan trọng.
        - Trang phục đẹp là trang phục không cầu kì, tuy đơn giản nhưng màu sắc hài hoà, phù hợp với đối tượng,   khung cảnh và tuỳ trường hợp giao tiếp .
         - Trang phục thể hiện tính cách:
        + Trang phục đơn giản ? Người giản dị, không cầu kì.
        + Trang phục hợp thời trang, có sự chăm chút ? Người thích làm đẹp, quan tâm đến hình thức bên ngoài.
        *Quan điểm về đồng phục học sinh
        - Tôn thêm nét đẹp tuổi học trò, đảm bảo tính nghiêm túc, tránh được kiểu ăn mặc kệch cỡm, lố lăng không phù hợp với lứa tuổi ở trường học.
         - Xoá bỏ sự ngăn cách và mặc cảm về giàu nghèo giữa các học sinh trong cùng trường, cùng lớp .
         - Hoc sinh xây dựng ý thức giữ gìn truyền thống, lòng tự hào về truyền thống nhà trg
          *Về đồng phục áo dài của nữ sinh
         -Thể hiện nét duyên dáng của nữ sinh
       - Không j` đẹp mắt choa bằng khi mỗi sáng từng nhóm nữ sinh tung tăng với chiếc áo dài thước tha đến trường
          - Đem lại nét đẹp cho nữ sinh nhưng cũng tạo nên một số khó khăn trong các sinh hoạt tập thể.
         *Khẳng định về trang phục đẹp
         - Trang phục đẹp không phải là trang phục đắt tiền, mà là phù hợp với lứa tuổi, tính cách của mỗi người.
         - Tránh ăn mặc hở hang, chưng diện không phù hợp.
         - Chọn trang phục hài hòa, lịch sự, thể hiện tính cách riêng của mỗi người.
        -Trang phục trẻ trung, dễ thương có thể giúp bạn chống stress, giải tỏa căng thẳng mỗi khi cảm thấy mệt mỏi.
        Nói tóm lại, việc lựa chọn trang phục cho phù hợp lứa tuổi là điều mà mỗi học sinh chúng ta cần quan tâm đúng mức để làm nên cái đẹp cho cuộc sống.
        3. Lời kết
       Nói tóm  lại việc lựa chọn trang phục phù hợp , đẹp là điều mà chúng ta cần quan tâm để tô them nét đẹp văn hóa.
Bài 2.
       Vấn đề giáo dục luôn được chú trọng hàng đầu đối với mọi quốc gia trên thế giới không chỉ ở trong thời kì phát triển như ngày nay mà nó đã được áp dụng từ xa xưa thời phong kiến. Việc giáo dục rất cần thiết để tạo ra nhiều người công dân có ích cho xã hội. Giáo dục ở đây ngoài việc bồi dưỡng về mặt kiến thức mà còn giáo dục việc làm người, đây là điều cốt yếu. 
        Để trở thành một người công dân có ích thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải là một học sinh chân chính. Ông bà ta có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về” cho thấy việc giáo dục con người phải bắt đầu khi còn là một đứa trẻ. “Tre già, măng mọc”, trẻ em hôm nay là những mầm non của tương lai đất nước sau này vì thế những mầm non ấy cần được giáo dục kỹ càng ngay khi còn là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường. Người xưa có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn”, việc giáo dục đạo đức con người là quan trọng hàng đầu, cần phải thực hiện đầu tiên, sau đó mới tới việc dạy chữ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Người có tài mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó” vì thế để trở thành một người có ích thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải là một học chân chính, siêng năng học tốt.
        Người công dân có ích là người có đạo đức tốt, không tham gia các tệ nạn xã hội, biết cống hiến hết mình năng lực của bản thân cho đất nước và xã hội. Để trồng một cây con lớn lên, chúng ta phải tốn thời gian khá lâu, nhưng chúng ta phải tốn gấp nhiều lần thời gian ấy để “trồng” một con người có ích. Để có được một phẩm chất đạo đức tốt thì cần phải rèn luyện một thời gian dài, ngay từ khi còn bé chứ không thể vài ngày, vài năm như trồng một cây con. 
        Học sinh chân chính là một học sinh có đạo đức tốt,hiếu thảo với cha mẹ, ngoan ngoãn vâng lời thầy cô, siêng năng học tốt. Từ nhỏ, ở nhà cha mẹ đã dạy và tập cho chúng ta nhiều điều hay như gặp người lớn hơn mình phải cuối đầu chào, nhặt được của rơi không được lấy nhà phải trả cho những người bị mất, không được nói tục, chửi thề,…. Và đến khi vào lớp, thầy cô cũng dạy cho chúng ta như thế, phải học thuộc và làm theo những điều trong sách Đạo đức-sách giáo dục công dân, nghiêm cấm không tham gia vào các tệ nạn xã hội. Đạo đức là cái gốc của con người và những việc làm tốt thường xuyên thực hiện dần dần chúng thấm nhuần vào ta tạo thành đức tính và thói quen mà nó sẽ theo ta đến khi trưởng thành, và thế là chúng ta đã, đang và sẽ trở thành những con người có ích.
        Bên cạnh đó là những học sinh thiếu ý thức, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học, cứ long nhong chơi bời, thậm chí còn bị tham gia các tệ nạn xã hội, bài bạc, rượu bia, hút chích,… trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Họ thành ra như vậy một phần là do thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục từ gia đình. Do cha mẹ quá bận rộn làm ăn kiếm tiền hoặc những nguyên nhân chủ quan khác mà bỏ bê con cái, việc này làm ảnh hưởng rất lớn đến tâm lí của chúng và phần còn lại là do những học sinh đó thiếu ý thức, suy nghĩ còn non trẻ, ham chơi, đua đòi,… rồi tất cả đã vô tình bước vào một con đường đen tối, trở thành gánh nặng cho cộng đồng và xã hội.
          Có những mảnh đời bất hạnh, từ khi sinh ra đã thiếu đi tình cảm gia đình, sự thương yêu của cha mẹ và cũng không được hưởng thụ về mặt vật chất. Đó là những trẻ em đường phố, cuộc đời em như những nhánh lục bình trôi lênh đênh trên mặt nước, vô bến bờ. Thiếu tình thương, không có điều kiện để sống tốt và được giáo dục đàng hoàng nên một số đã khờ dại vướn vào các tệ nạn xã hội. Một nguyên nhân nữa là do sự thờ ơ của cộng đồng, một vài người không những không biết thương cho số phận của họ, mà còn tỏ ra kinh tởm và khinh bỉ, họ miệt thị những đứa trẻ đó. Khiến chúng tự kỉ và rồi một số thiếu ý thức đã rơi vào hố sâu của tệ nạn, làm xã hội có thêm một gánh nặng.
        Nhưng chúng ta thấy, để trở thành một người có ích không phải khó mà cũng không phải dễ dàng gì. Điều cốt lõi ở đây là việc giáo dục, nhất là giáo dục đạo đức của học sinh. Vì thế để tất cả những mầm non tương lai của đất nước đều trở thành những công dân có ích thì nhà nước ta phải càng chú trọng đầu tư vào việc giáo dục hơn nữa và cần thiết nhất là phải có thêm nhiều chính sách xã hội cho những trẻ em đường phố, vì chúng cũng là những mầm non của đất nước sau này. Bên cạnh đó, tình cảm và sự quan tâm của gia đình cũng rất quan trọng. Nó quyết định tương lai, đức tính của một con người và cả đất nước, xã hội.
Nước ta là một nước đang phát triển, nhà nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì thế xã hội đang rất cần nhiều công dân có ích để chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước giàu mạnh, do vậy nên mỗi học sinh chúng ta cần phải ý thức thật tốt, là một học sinh chân chính để trở thành những người có ích cho đất nước mai sau.
Sưu tầm 
Bài 3.
DÀN Ý

1/ Mở bài 
     - Trên thế giới , từ xưa đến nay , hầu như bất kì ai cũng có một người bạn , một tình bạn . Ở VN từng có tình bạn đẹp như : Lưu Bình – Dương Lễ …
     - Ý nghĩa của tình bạn đối với con người như thế nào ? Ngoài sự khôn nhoan điều quý nhất mà thượng đế ban cho con người là tình bằng hữu ( La Rơ – sơ- phu -cô – nhà tư tưởng pháp thế kỉ XVII).

2/ Thân bài 
a/ La Rơ –sơ – phu – cô muốn khẳng định điều gì qua lời phát ngôn ấy ? 
       - Tình bạn là một trong những điều quý giá nhất trên đời , một ân huệ thiêng liêng mà thượng đế ban cho con người , một quà tặng của sự sống. 
        - Con người ta không thể sống mà không có tình bạn , thiếu tình bạn là một thiệt thòi không gì bù đắp được.

b/ Đem tình bạn gắn liền với sự khôn ngoan , nhà tư tưởng pháp có ý nhấn mạnh điều gì?
        - Con người cần có sự khôn ngoan , nhưng con người cần có bạn , có tình bạn.
       - Không thể đem sự khôn ngoan thay thế cho tình bạn. có những trường hợp sự khôn ngoan phải nhường chổ cho tình bạn. 
       - Không thể đem tính toán hơn thiệt làm chuẩn mực cho tình bạn . nếu sự khôn ngoan là lí trí giúp con người có lí lẻ , sự nhạy bén để tính toán việc đời , thì tình bạn xuất phát từ tình cảm vô tư và chân thành. 

c/ Bày tỏ ý kiến của bản thân 
       - La Rô – sơ –phu-cô đã có một quan niệm rất chính xác về tình bạn . Đó là một ân huệ mà cuộc sống đã ban cho , một thứ tình cảm thiêng liêng chỉ con người mới có. 
        - không có tình bạn cuộc sống sẽ buồn tẻ vô cùng con người sẽ chỉ đơn độc như con thú. 
        - Tình bạn là một nguồn chia sẻ , động viên đã giúp cho con người vượt lên bao khó khăn có thể cả những lúc bế tắc tưởng chưng như không thể nào vượt qua nổi. 
         - Một tình bạn chân thành , một người bạn tốt có thể giúp cho con người trở nên tốt hơn. 
        - Một tình bạn tốt phải là một tình bạn vô tư , vượt lên những tính toán thiệt hơn , những cân nhắc lạnh lùng của trí tuệ. 
        - Một tình bạn tốt nhiều khi đòi hỏi sự hi sinh . Không phải ngẫu nhiên mà người VN ngày xưa và cả ngày nay coi câu chuyện của Lưu Bình – Dương Lễ là câu chuyện đẹp đẽ nhất của tình bạn . Người đọc thơ cũng quý trọng Nguyễn Khuyến với những câu thơ thể hiện một cách nghĩ vô tư về tình bạn :
“ Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác
Tôi lại đau trước bac mấy ngày
Làm sao bác vội về ngay
Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời !

3/ Kết bài 

       - Sống trên đời , phải có bạn , phải xây dựng cho mình một tình bạn tốt .
       - Chỉ thực sự có bạn tốt khi chính mình cũng tốt trong tình bạn , phải biết vô tư , phải biết quên mình trong tình bạn 

(Sưu tầm)
Bài 4.
BÀI LÀM
      “ Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu, mà ở chỗ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”. Câu nói của Let-xinh gợi cho ta nhiều suy nghĩ về những thành công và thất bại trong hành trình tìm kiếm những giá trị cao đẹp của đời sống con người.
       Trong cuộc sống, con người luôn khao khát khám phá những giá trị của bản thân mình: Mình đang đứng ở đâu? Mình là ai trong mắt mọi người, trong đời sống xã hội? Xác định được vị trí, hiểu được vị trí bản thân là nhu cầu tất yếu, chính đáng của mỗi con người. Song, không phải ai cũng có được nhận thức đúng đắn về điều đó. Có những kẻ luôn ngộ nhận về khả năng của mình, họ cho rằng mình là số một, là chân lí của cuộc sống. Đó là tư tưởng của những kẻ độc tài, tự kiêu và tự phụ. Lại có người nhút nhát, sợ sệt mọi thứ, không bao giờ nghĩ rằng mình có thể làm được điều gì có ích. Đó lại là những người tự ti. Rõ ràng “ Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu”, tức là giá trị của con người không nằm ở những gì tốt đẹp, đúng đắn mà bản thân họ có hay họ nghĩ rằng mình có. Vậy giá trị ấy nằm ở đâu? Nó nằm ở những “ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí” . Vậy là điều được ghi nhận trong giá trị của con người là những nỗ lực, những cố gắng trong hành trình đi tìm và vươn tới cái đẹp , cái thiện ở đời.
        Cuộc sống là hành trình con người đi tìm mình và tự khẳng định mình. Ai cũng khao khát vươn tới cái hoàn mĩ của sự sống. Nếu con người đạt được một điều nào đó, một chân lí trong cuộc sống thì chân lí đó đã được con người chiếm lĩnh. Nhưng thật bất hạnh nằm ở việc chân lí cũng có tính tương đối, nó có thể đúng trong nhiều trường hợp nhưng lại sai trong một số trường hợp. Vậy nếu con người bằng lòng chân lí mình có, dừng lại cuộc hành trình tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống thì khi ấy con người thất bại. Vậy kết quả của mọi công việc chưa phải là điều lớn nhất mà chúng ta đòi hỏi ở một con người. Quan trọng là con người ấy đã vượt khó, vượt khổ để đi tới thành công. Chính trong quá trình vượt qua những gian khó mà con người nhận lãnh trên đường đi tìm chân lí đã giúp họ bộc lộ nhiều phẩm chất, đức tính của mình. Đó có thể là sự chăm chỉ cũng có thể là lười nhác. Đó có thể là can đảm cũng có thể là hèn nhát. Đó có thể là sáng tạo, năng động nhưng cũng có thể là thụ động, máy móc. Đó có thể là sự chân thành nhưng cũng có thể là sự dối trá. Hành trình đi tìm cái đẹp là hành trình chạy đua trong một đường hầm kín. Kẻ về đích sớm nhất , ló dạng ra khỏi đường hầm sớm nhất chưa chắc là kẻ nhanh nhất, giỏi nhất, tốt nhất. Chính bởi những điều ấy, giá trị đích thực của một con người phải là: “ những gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”.
      Qua quá trình vượt qua những điều khó khăn ấy, con người bộc lộ những phẩm chất, giá trị của mình. Trong cuộc đời này, mọi người đang cùng đứng trên một quả đất nhưng mặt đất chúng ta đứng không bằng phẳng mà chỗ cao, chỗ thấp bởi mỗi người một hoàn cảnh, một điều kiện khác nhau. Còn chân lí lại là một độ cao nhất định mà tất cả chúng ta phải vươn tới mới đạt được. Vậy thì, giá trị của mỗi người không nằm ở việc ai chạm tay vào chân lí sớm hơn mà nằm ở việc đã bước đi như thế nào từ vị trí của mình để đến được với chân lí.
Theo Sách Chuyên đề Văn nghị luận XH*
Bài 1.
Bài làm tham khảo
      Mặt trời tiết cuối đông nhọc nhằn chọc thủng màn sương sớm, từ từ nhô lên khỏi rặng tre của làng xa. Bầu trời dần tươi sáng, cảnh vật như bừng tỉnh để đón chào ngày mới, đón cháo một mùa xuân mới đang sắp sửa tới gần.
     Từ các xóm làng, từ các mái nhà còn sương lam ôm ấp, mọi người đổ ra đường, người gồng gánh, kẻ bưng thúng, xách giỏ, có người đẩy xe chở hàng. Họ lần lược dồn lên con đường lớn. Vai kĩu kịt, tay vung vẫy, chân đi thoăn thoắt...Tất cả đều tiến về chợ huyện.
    Phiên chợ Tết thật đông. Tiếng lợn con en éc, tiếng gà gấy oát...oát, tiếng vịt cạc...cạc, tiếng người nói bô bô trong chợ. Các gian hàng nhanh chóng được bày diện. Nào áo, quần, giày dép nhiều loại, bánh mứt đủ màu, rau quả tươi roi rói, kẻ muôn người bán lon xon, chật ních. Trước cổng chợ, những bức tranh lợn, gà heo, chuột ếch,... được giải treo tiếp nối nhau trông thật đẹp mắt. Rồi bức tranh của làng quê cũng hiện lên từ xa: Biển lúa vàng óng ả, chú bé ngồi ngất nghểu trên lưng trâu ung dung thổi sáo, đàn cò trắng nhởn nhơ trên bầu trời xanh thẳm, chim én lượn vòng trên xóm chợ... Một bức tranh đầy quyến rũ, ấm áp lạ thường.
    Sương tan, nắng ấm rải nhẹ trên hoa lá, chợ đông nghẹt, đủ thứ màu sắc trà trộn, đủ thứ âm thanh chen lẫn. Không ai nói to cũng không ai nói nhiều. Nhưng lường phát âm của vô số người đã làm phiên chợ âm ầm giữa miền quê yên tĩnh và vô cùng vui tươi, trù phú. Sắc xuân rón rén đến gần, xuân phảng phất trong từng nụ hoa đang chúm chím.
    Mặt trời đã ngả về phía tây, chợ vẫn tưng bừng hàng hóa vẫn tấp nập các quầy. Từ các nơi, các loài hoa nườm nượp đưa về. Nào là hoa mai, hoa đào, hoa cẩm chướng, hồng nhung... Chúng rạng rỡ như cô thiếu nữ, chúng lay động dưới ánh xuân như tuổi đôi mươi. Đây đó, một vài cụ đồ nho hí hoái viết thơ xuân, viết những câu đối đỏ trên bức sáo, mọi người chen nhau đọc. Có người mãi ngắm tranh, ngắm hoa, đọc thơ mà quên cả thời gian vận hành, buổi chiều hửng ấm đã nhạt nhòa ngã xuống.
    Cho tới lúc trời tối, chuông chùa văng vẳng ngân vang, mọi người tạm ngưng phiên chợ. Họ lũ lượt trở ra về. Khung cảnh tưng bừng nơi chợ Tết bắt đầu mờ dần rồi mất hẳn, không còn trông thấy một cái gì nữa bởi sương đêm. Phảng phất trong không khí có mùi hương quen thuộc, mùi lúa mới, mùi trái ngọt, hoa thơm... Tất cả đều đặc biệt, đáng yêu, đáng quí bởi nó là mùi vị của một làng quê Việt Nam trù phú, thấm đượm nghĩa tình, ấm nồng hương đồng cỏ nội.
    Phiên chợ Tết đã đem đến cho con người bao điều thú vị. Ai cũng hối hả, khẩn trương với công việc của mình. Họ rạo rực đón xuân trong niền vui lao động. Tôi cũng hồi hộp đón xuân và lo nghĩ đến nhiệm vụ của chính mình.
Bài 2.
    Kiều phương là tên mẹ đặt cho cô em gái nhỏ của tôi. Những cả nhà tôi lại gọi nó bằng một cái tên dễ mến là Mèo. Chả là nó mải mê vẽ tranh lắm lắm nên mặt mũi lúc nào cũng lem luốc trông ngộ nghĩnh như một chú mèo con. Tôi yêu em Kiều Phương lắm! Những nghĩ lại mà thấy thật buồn vì có lần tôi đã cư xử không tốt với Phương
    Mèo mê hội hoạ lắm! Trước đây, khi chưa trở thành hoạ sĩ, nó cứ say xưa suốt cả ngày với đống nguyên liệu có sẵn trong nhà để chế ra những lọ bột màu làm thuốc vẽ. Hàng ngày khi chưa tác nghiệp, khuôn mặt mặt nó trông trắng trẻo, bầu bĩnh, với một đôi mắt đen lay láy thật dễ thương, Mẹ tôi nói, mèo đẹp nhất ở cái mũi dọc dừa. Nên lúc nào vui nó lại chỉ vào cái mũi ra vẻ vui mừng lắm. Mới mười tuổi mà tôi đã rất bất ngờ vì tócnó đẹp, đen lánh như mun. Mái tóc lúc nào cũng được bé bện họn gàng thành hai bím đuôi sam treo trên đôi vai gầy mỏng. Một hôm đi học về tôi lao ngay ra vườn ổi. Nhưng kìa!Mèo đang làm gì vậy? Tôi tiến lại rồi nấp ở một góc cây. ồ thì ra con bé lại chơi trò chế những lọ bột mầu. Trông nó có vẻ thích thú lắm, hai bím tóc đuôi sam sung rung rung cứ đưa qua đưa lại liên hồi.
     Thế rồi bí mật của Mèo con cũng bị lộ vào ngày chú Tiến Lê ư bạn của bố đến chơi. Nhưng thực ra phải kể đến bé Quỳnh, con gái của chú hoạ sĩ, em mới là người phát hiện ra những bức vẽ của Mèo con chú Lê ngạc nhiên vô cùng trước “bộ sưu tập” của Kiều Phương và rồi chú khẳng định:
“Con bé sẽ là một nhân tài”.
     Từ hôm đó, cả gia đình đề chú trọng tới Mèo con làm tôi có cảm giác như một người thừa. Hàng ngày cứ nhìn thấy nó mặc bộ váy mới nào là tôi lại tìm những lời tốt đẹp mà khen ngợi nhưng mấy hôm vừa rồi dù trông nó lung linh lắm, tôi cũng chẳng thèm quở đến. Tôi bắt đầu thấy ganh tị với đôi bàn tay có những ngón búp măng thon dài của Kiều Phương. và nói tóm lại tôi thấy chán mọi người. 
     Nhưng mọi chuyện đã thay đổi từ hôm cả nhà tôi cùng mèo đi nhận giải vì Mèo đạt giải nhất trong cuộc thi hội hoạ mù. Tôi sững sờ trước bức tranh còn Mèo cứ hích hích cái mũi dọc dừa vào má tôi mà tự hào lắm. Lúc ấy tôi chợt nhìn qua đôi mắt của Kiều Phường. Hình như tôi vừa nhận ra trong ánh mắt ấy một niềm thương yêu sâu sắc lắm. Mèo con ơi! Tha lỗi cho anh nhé! Anh đã trách lầm em. Từ nay anh hứa sẽ là một người anh tốt. Và rồi trên con đường học tập, anh em mình sẽ lại tiếp tục thi đua.
Bài 3.
Bài làm tham khảo

    Thời gian trôi nhanh thật, thấm thoắt mới đó mà đã mười năm. Giờ đây tôi đã lớn khôn, đã trở thành sinh viên năm thứ nhất đại học. Hôm nay, có dịp về thăm ngôi trường cũ thân yêu, trong tôi dâng ngập một cảm giác xao xuyến và bỡ ngỡ khôn cùng.
     Ngôi trường cũ hiện ra trước mắt tôi với nhiều nhiều kỉ niệm vừa quen thuộc vừa xen chút lạ lẫm. Con đường đầy sỏi đá năm xưa đã được thay thế bằng một con đường trải đá phẳng lì, êm ru. 
    Xe tôi chạy chầm chậm trên con đường nhỏ mà cảm thấy vui sướng vô cùng. Chiếc cổng trường năm xưa giờ đã được thay thế bằng chiếc cổng xây kín đáo và phía trên ghi rõ hàng chữ Trường THCS…. Tôi còn nhớ rõ ngày ấy, mỗi lần đi học muộn, cánh cửa lại đóng sập lại, tôi phải năn nỉ mãi bác bảo vệ mới cho vào. 
    Bước vào sân trường sự thay đổi ấy càng hiện lên rõ hơn. Dãy lớp tôi học năm xưa giờ được thay thế bằng một nhà cao tầng khang trang, sáng sủa. Lớp cũ năm xưa không còn nhưng tôi vẫn như thấy đâu đây hình ảnh của các bạn cùng lớp. Cái Lan toét, cái Hồng cụ, thằng Sơn tê ta… Ngày ấy cũng ở góc sân trường này, chúng tôi thường chơi đùa. Cây bàng năm xưa vẫn còn nhưng nó đã già hơn trước. Tôi bước lại gần, những nét chữ khắc vào thân cây vẫn còn nhưng những dòng chữ của chúng tôi không còn nữa, có lẽ thời gian đã làm mờ dần. 
    Tôi bước tới khu hiệu bộ, căn nhà cũng được sửa lại đôi chút nhưng vẫn giữ nguyên hình dáng năm xưa, nằm uy nghiêm giữa hai bên hàng cây mát rượi. Đây chính là hàng cây ngày xưa chúng tôi trồng khi trường mới xây xong mà. Ôi! Giờ đây nó đã cao lớn quá, tôi phải ngước mắt lên mới thấy ngọn của nó. Trong tiếng gió tôi nghe những lời rì rầm như những tiếng chào. Dưới gốc cây vẫn còn chiếc biển đề quen thuộc "Cây kỷ niệm lớp...khoá...".

Sân trường đang giờ học im ắng đến lạ thường. Tôi nghe tiếng thầy cô âm vang, trầm ấm trong lớp học. Nỗi nhớ thầy cô các bạn dâng ngập hồn tôi, từ ngày chia tay mỗi người một ngả không biết cuộc sống của họ ra sao. Và các thầy cô của tôi nữa, tôi nhớ cô Thanh dạy văn cũng đồng thời là giáo viên chủ nhiệm, ngày ấy cô rất nghiêm khắc, không ít lần cô đã mắng chúng tôi khi chúng tôi không chịu nghe giảng. Tôi biết lúc đó đã có một số bạn tỏ ý không bằng lòng với cô nhưng chính những người bạn đó sau này đã tâm sự với tôi: Đến khi xa cô rồi mới thấm thía lời cô dạy.
    Thực ra ngày đó chúng tôi còn nhỏ quá chỉ thích chơi thôi. Giờ đây lớn khôn tôi chỉ mong có dịp gặp lại cô để nói hết những tâm sự của mình.
   Đang mải mê với dòng suy nghĩ của mình thì tôi gặp cô Thanh, tôi vô cùng sung sướng và bất ngờ vì bao năm rồi cô vẫn dạy ở nơi đây. Tôi chạy lại, vui mừng:
- Em chào cô! Cô có nhận ra em không ạ?
Cô nheo đôi mắt, sửa lại cặp kính:
- Em là Lan học sinh lớp 6A, khoá học cách đây mười năm rồi phải không?
- Em cảm ơn vì cô vẫn còn nhận ra em.
Thế là cô trò tíu tít nói chuyện. Đến lúc này tôi mới có dịp ngắm nhìn lại gương mặt cô, năm tháng trôi đi, trên khuôn mặt của cô đã có nhiều nếp nhăn, đôi mắt cũng không còn sáng như xưa nữa nhưng cái nhìn của cô vẫn thật dịu dàng. Mái tóc đen năm xưa giờ đã có khá nhiều sợi bạc. Tôi bỗng thấy thương cô vô cùng bởi tôi biết cuộc đời riêng của cô không mấy hạnh phúc nên bao nhiêu tình cảm cô dành hết cho tất cả các học sinh.
Tôi và cô đi dạo quanh sân trường, cô trò nhắc lại bao chuyện cũ, đi bên cô tôi thấy mình như nhỏ lại, như được trở lại tuổi học trò thơ ngây bé nhỏ. Tôi vẫn thấy cô dịu dàng và ân cần như ngày tôi còn đi học. Tôi đã tâm sự hết với cô về những tình cảm của các bạn của lớp dành cho cô như thế nào. Cô rất xúc động, cô nói:
- Những gì cô dạy dỗ các em năm xưa, cô biết rằng có thể ngay lúc đó các em chưa hiểu hết nhưng cô tin rằng mai này lớn lên các em sẽ hiểu. Và từ đó các em sẽ trưởng thành hơn trong cuộc sống. 
- Cô ơi, ngày đó quả chúng em còn nhỏ quá nên không hiểu hết tấm lòng của cô dành cho chúng em.
Cô vuốt tóc tôi mỉm cười, một nụ cười vô cùng nhân hậu:
- Cô chỉ mong mỗi lớp học trò qua đi trở thành những người có ích cho xã hội và nếu có dịp về thăm cô là cô rất vui.
      Trống vào lớp vang lên tôi phải tạm biệt cô rồi. Lúc này tôi chẳng muốn rời xa cô, tôi tự hứa tết năm nay chúng tôi sẽ họp lớp và tất cả sẽ về thăm trường cũ, thăm cô giáo chủ nhiệm.
Ngắm ngôi trường cũ một lần nữa, tạm biệt những kỉ niệm của tuổi thơ tôi ra về trong lòng nao nao bao kỷ niệm buồn vui. Mái trường thân yêu, ngôi nhà thứ hai của chúng tôi, chính nơi đây đã chắp cánh cho tôi bao ước mơ hy vọng. Tôi hiểu rằng dù là mười năm hay bao nhiêu năm nữa, ta cũng sẽ mãi khắc ghi những kỷ niệm về một thời cắp sách đến trường.

Sưu tầm
Bài 4.
Dàn ý tham khảo

I. Mở bài
      - Giới thiệu đôi nét từ cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn, do Lê Lợi lãnh đạo.

II. Thân bài

    - Kể lại diễn biến sự việc theo trình tự sau đây:

    - Lê Thận kéo lưới bắt cá nhưng cả ba lần kéo lưới lên đều có một lưỡi gươm. Lê Thận tham gia nghĩa quân Lam Sơn.

    - Lê Lợi đến nhà Lê Thận thấy lưỡi gươm.

    -  Lê Lợi chạy vào rừng, vô tình thấy chuôi gươm nạm ngọc.

   - Lê Lợi trả lưỡi gươm ở nhà Lê Thận vào chuôi gươm vừa như in.

   - Có gươm thần, nghĩa quân Lam Sơn dâng cao khí thế đánh giặc Minh xâm lược.

  - Cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược thắng lợi, đất nước thanh bình, nhân dân chuyên lo việc ruộng đồng, xây dựng đất nước vững bền.

    - Vua đi thuyền trên hồ Tả Vọng, Rùa nổi lên bên mạn thuyền, xin lại gươm thần.

III. Kết bài 

Hồ Tả Vọng xưa kia nay là Hồ Gươm hay còn gọi là Hồ Hoàn Kiếm.
Bài 1.
BÀI LÀM

Câu tục ngữ có hai vế, đối rất chỉnh. tác giả dân gian đã mượn những thứ gần gũi, thiết thực với đời thường để biểu lộ những tư tưởng, quan điểm của những người dân lao động.

Câu tục ngữ này mượn hình ảnh “đói” và “rét” để nói lên hoàn cảnh nghèo khổ, thiếu thốn của cuộc sống bấy giờ. “Sạch” và “thơm” là cách sống trung thực, không tham lam, biết giữ gìn phẩm chất trong sạch, không sa vào tội lỗi. Hai chữ “cho” có nghĩa là giữ lấy. Hai động từ đó là hai động từ quan trọng nhất trong bài, thể hiện hành động, thói quen, những biểu lộ của người dân lao động. Phải biết giữ gìn phẩm giá, nhân cách đó chính là bài học của câu tục ngữ trên. Đó cũng chính là quan điểm sống của người dân lao động hoàn toàn trái nghịch với cách sống của giai cấp thống trị.

Thời phong kiến xưa, xã hội đầy rẫy những bất công, rối ren, giai cấp thống trị nghiệt ngã, bóc lột nhân dân ta dưới nhiều hình thức, coi thường, khinh rẻ những người dân lao động. Theo bản năng của con người, “con giun xéo lắm cũng quằn”, đến mức đường cùng thì tự nhiên phải biết chống lại bằng bất cứ hành động nào, có mấy ai nghĩ đến việc giữ gìn phẩm chất, thanh danh. Ấy vậy mà những người dân lao động, đối với họ điều đó là quan trọng nhất, là mục tiêu để hướng tới, là động lực thúc đẩy để sống. Dù có bần cùng, đói khổ đến đâu thì ý chí kiên cường của họ vẫn luôn chiến thắng, niềm tin của họ vẫn không bao giờ tàn lui. Từ xa xưa, nước ta vốn dĩ là một nước gắn liền với đồng ruộng, nhân dân ta lam lũ cùng nắng mưa, giai cấp thống thị vẫn vắt kiệt sức của họ bởi những sưu thuế nặng nề, chính sách áp bức đến tận xương tuỷ. Trong hoàn cảnh như vậy, con người mà không có lập trường thì rất dễ bị nhơ bẩn về đạo đức. Những người dân lao động chỉ biết dựa vào nhau, thốt nên lời những kinh nghiệm của cuộc sống để khuyên nhủ nhau sống sao cho khỏi hổ thẹn với trời đất, sao cho khỏi cắn rứt lương tâm, danh dự, ám ảnh bới những tội lỗi xấu xa mà mình đã gây ra.

Nói kết lại, đối với người lao động thời xưa, vật chất không có gì, họ chỉ biết sống dựa vào ý chí, niềm tin, sự nỗ lực, phấn đấu. Nhờ vào những yếu tố đó mà họ đã vượt lên được số phận, biết sống vui vẻ, lạc quan, yêu đời, không một sự bóc lột nào có thể tước đi được tinh thần, lý trí của họ. Điều đó đã được đúc kết qua quá trình lao động sản xuất, cô đọng được qua từng suy nghĩ của mỗi con người. Quan niệm sống ấy thật cao đẹp, nó không chỉ là kinh nghiệm mà nó còn là lời dạy dỗ, khuyên răn, chỉ bảo, áp dụng cho tất cả mọi người.
Sưu tầm 

Bài 2.

BÀI LÀM

Con người có thể tìm thấy nguồn tri thức rộng lớn cho mình từ những cái mà họ bắt đầu. Và để phát triển toàn diện hơn nữa. Nguồn tri thức rộng lớn ấy đã khởi nguồn trong tiềm thức con người cái gọi là tri thức sáng tạo và tìm hiểu- cái gọi là học tập. Con người đã định hướng được tầm quan trọng của việc học từ thời xa xưa, những tri thức ấy dần dà được tích lũy và truyền đạt cho thế hệ ngày nay. Và việc học có tầm quan trọng vô cùng lớn lao. Vì ý thức được tầm quan trọng ấy của việc học, Lê-nin đã đưa ra một câu nói: “học, học nữa, học mãi”. Xét cho cùng, cái ý nghĩa nằm trong đó chứa đựng rất nhiều điều.

Câu nói đó chính là một lời khuyên, một quan niệm đúng đắn. Điều quan trọng mà việc học mang lại chính là tri thức, một thứ tri thức lớn lao, thứ tri thức quý giá của nhân loại. Thứ tri thức ấy góp phần định hướng khả năng của mỗi người, đưa con người tới bờ cõi của sáng tạo, tìm tòi và khám phá. Nó là điểm đến có giới hạn đối với sức của mỗi người mà họ tự đặt mục tiêu cho mình, để có sự cố gắng học thật nhiều hơn nữa. 

Và đối với con người, sức học của họ luôn luôn có giới hạn, nhưng nguồn tri thức mãi mãi không có dấu chấm hết.

Câu nói của Lê-nin, xét cho cùng thì đó chính là chân lí của học tập, rằng việc học chưa bao giờ là trọn vẹn, chưa bao giờ là có giới hạn. Con người cho dù có học đến mấy đi chăng nữa thì nguồn kiến thức mà họ nhận được mãi mãi không bao giờ đầy, và tất nhiên là cũng không khi nào là đủ cả. Nhưng mỗi người không thể nào không cố gắng tích lũy những kiến thức của mình mà bỏ mặc nó, coi như không màng tới, như vậy là chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội được học, được sáng tạo. Câu nói đó muốn khuyên con người phải biết cố gắng học tập, tìm hiểu, dù ít, dù nhiều, cũng là kinh nghiệm sống lớn lao cho đường đời sau này.

Trong câu nói, cái “học” ở đây chứa đựng một hàm ý bao quát của việc học, nhưng cũng không là sự đơn thuần của việc học. “Học” không chỉ đơn thuần là tích lũy thật nhiều kiến thức, mà nó còn là sự trau dồi, học hỏi thêm về lối sống đạo đức, những cái hay, cái đẹp của cuộc sống, con người từ trước đến nay được hình thành qua nhiều thế hệ. Đạo đức và nhân phẩm con người là một điều không thể thiếu, vì thế, cái đó cũng cần phải học, và cái đó cũng được coi là một thứ kiến thức sống tốt đẹp mà ai cũng phải học hỏi. Câu nói của Lê-nin muốn nhấn mạnh về những tri thức trong cuộc sống, nó chưa bao giờ có hạn, con người cũng không thể tự nhận thấy những thứ mình học đã đủ, họ cần phải nhận ra, mọi điều họ biết duy chỉ là một hạt cát nhỏ trong nguồn tri thứ vô tận không điểm dừng của nhân loại, của sự sống. Vì thế, ngày nào còn sống, ngày nào còn thấy mình còn sức thì hãy cứ học, hãy cứ tiếp thu những cái mới trong cuộc sống. Cuộc đời con người là cả một quá trình học tập. chưa bao giờ ngừng sáng tạo, ngừng ý tưởng, ngừng đấu tranh, nó là một cuộc đời cần có những việc làm có ý nghĩa, khoan hãy dừng lại và buông xuôi, để thấy chính mình có thể học và làm việc, thấy mình là người không sống một cách vô nghĩa.

Và một người, nếu như không chịu khó học tập, không nhận ra chân lí của việc học, bỏ quên kiến thức và cơ hội được tích lũy kinh nghiệm cho chính họ thì cả cuộc đời chỉ sống trong thế giới kiến thức hạn hẹp, giới hạn trong tâm tưởng, tầm nhìn về xã hội, mọi thứ sẽ trở nên đơn giản, nghèo nàn và trở nên nhàm chán. Ngược lại, một người, nếu biết cố gắng nắm bắt cơ hội học hỏi thật nhiều, tích lũy kiến thức, mở lối cho tri thức của chính họ, thì họ sẽ luôn nhận thấy sự hứng thú tìm hiểu nhiều hơn, cuộc sống từ đó đối với họ là mỗi một trải nghiệm mới hơn, không bao giờ là cũ.

Con người cần học tập để có thể làm được nhiều việc có ích cho xã hội và cho bản thân, cuộc sống là vô nghĩa nếu như không biết đấu tranh cho việc học tập, ngừng tìm hiểu về cuộc sống, về tri thức tức là tự mình bỏ qua cách sống thật sự ý nghĩa, thật sự trọn vẹn.

Nhận ra được chân lí trong câu nói của Lê-nin, là chúng ta đã phần nào định hình cho mình một cuộc sống mà tự mình nhận ra nó thú vị, luôn luôn mới mẻ. Học nữa, và học mãi chính là chân lí cho việc tìm hiểu nhiều hơn, mỗi chúng ta nếu không cố gắng học tập, thì đã tự giam mình vào một cái lồng của thứ kiến thức nhỏ bé, thứ kiến thức không có giá trị.


Bài 3.
BÀI LÀM
“Giá trị của con người”- Khái niệm đó đã được người xưa hiểu từ rất lâu đời. Những nhà trí thức thời xưa thì đã có óc nhận xét, phân tích sâu sắc và thể hiện dưới những lời ca, truyền từ đời này sang đời khác. 

Trong kho tàng văn học Việt Nam, để thể hiện giá trị của con người thì có vô số tục ngữ, ca dao. Nhưng có một câu tục ngữ thể hiện điều đó lại mang một hình thức ẩn dụ, rất sâu sắc khiến người đọc phải tò mò mà ngẫm nghĩ, nhẹ nhàng mà thấm thía các ý sâu xa. Đó chính là câu tục ngữ “Người ta là hoa đất”.

Câu tục ngữ có 5 chữ nhưng mang nhiều điều hàm ẩn, hình ảnh hoa là một thứ đẹp đẽ, thuần tuý, là kết tinh tạo hoá ban tặng mang một hương thơm nồng nàn, một vẻ đẹp kiều diễm. Vậy thì hoa đất là gì? Hoa đất chính là mạch sống của đất trời, cũng có thể nói hoa đất chính là con người. Tại sao vậy? Con người là một sinh vật hoàn hảo của vũ trụ. Con người có hình thể, bản năng và trí tuệ – đó chính là thứ vũ khí mạnh nhất. Trí tuệ đã đem lại cho con người sự tìm tòi khám phá, những kiến thức khoa học tạo nên những bước ngoặt thành đạt thật đáng khâm phục. Con người có thể xây nên những toà tháp có giá trị cả về kinh tế lẫn lịch sử, những máy móc hiện đại để phục vụ con người. Những nền văn minh từ cổ đại tới hiện đại đều do một tay con người tạo ra. 

Trong quá trình đấu tranh thiên nhiên, bạt núi, ngăn sông, khai khẩn đất hoang, con người đã tin ở trí thông minh và sức lực của mình, con người đã đứng lên xây dựng một xã hội, một tinh cầu văn minh. Câu tục ngữ trên đã khẳng định điều đó. Dường như mọi tinh hoa, vẻ đẹp đều hội tụ vào con người. Và nó còn đẹp trong lòng yêu thương của mỗi cá nhân. Sự gắn bó đi kèm với ý chí chính là thứ để con người trường tồn cùng thời gian. Con người không chỉ là tâm điểm của trái đất mà còn là tâm điểm của vũ trụ, Từ xa xưa, con người đã biết dựa vào nhau để sống, đã biết trao đổi của cải vật chất. Trải theo cùng năm tháng, thời gian thì những bông hoa đất đó đã tạo nên được những thành tựu như ngày nay. Tất cả những điều đó đều thể hiện con người là ngọn đèn bất diệt.

Không đâu xa lạ, ngay trên đất Việt Nam này, nhân dân ta đã phấn đấu xây dựng đất nước mình suốt từ Bắc chí Nam. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, đã làm cho đất nước càng tươi đẹp. Nhân dân ta có mối tình cao cả, đoàn kết anh em từ miền ngược tới miền xuôi. Các Vua Hùng có công dựng nước, nhân dân mọi thời có công giữ nước. Những vị danh nhân, những nhà thành đạt toả sáng trên đường đời. Những điều đó phần nào đã làm sáng tỏ được câu tục ngữ trên.

Thời xưa ông cha ta có những lối suy nghĩ và câu từ giản dị nhưng nó chứa đựng biết bao nhiêu điều mà khiến chúng ta ngày nay thấm thía, cảm nhận mãi mà vẫn chưa thể lĩnh hội hết được. Câu tục ngữ trên là một điển hình rõ nét. Có thể nói câu tục ngữ này mang nhiều ý tứ sâu xa nhưng đúc kết lại bài học của nó là sự trân trọng về giá trị con người. Đó không chỉ là một lời ca ngợi mà còn là một sự khẳng định, một luận điểm đúng đắn sôi nổi thu hút nhiều suy nghĩ của những người xung quanh.

Nguồn Edufly
Bài 4.
BÀI LÀM
“Vào đêm trước ngày khai trường của con, mẹ không ngủ được. Một ngày kia, còn xa lắm, ngày đó con sẽ biết thế nào là không ngủ được. Còn bây giờ giấc ngủ đến với con dễ dàng như uống một li sữa, ăn một cái kẹo. Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo” Đoạn văn ấy cứ mãi khắc sâu trong tôi sau khi đọc xong văn bản “ Cổng trường mở ra” của Lí Lan cùng với bao tâm trạng vui mừng, buồn lo khó tả của người mẹ. 

Văn bản này được đăng trên báo yêu trẻ số 116, ra ngày 1 tháng 9 năm 2000 tại TP HCM. 

Đây là một bài bút kí ghi lại tâm trạng của một người mẹ trong đêm trước ngày chuẩn bị khai giảng của con vào lớp một cùng với vai trò to lớn của nhà trường, nền giáo đục đối với mỗi chúng ta. Không có sự việc, không có cốt truyện theo một chuỗi nhất định nhưng bài văn này đã khá thu hút người đọc bởi mỗi câu văn dạt dào tình cảm với biết bao niềm tâm sự, hồi tưởng kỉ niệm của người mẹ thương yêu con bằng tấm lòng cao cả. Bài văn này đã đưa mỗi chúng ta đến với những rạo rực tinh thần, bâng khuâng khó tả của kí ức tuổi thơ.

Đi sâu vào trong bài ta có thể cảm nhận được từng cảm xúc, câu từ mượt mà với hai luồng tâm trạng trái ngược. Hình ảnh của người con được miêu tả thật ngây thơ, đáng yêu. Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo. Mai đã là ngày khai trường, một ngày trọng đại của tuổi thơ cũng như một kỉ niệm đáng nhớ trong cuộc đời, vẫn tâm trạng như trước một chuyến đi xa, người con chỉ háo hức, lo mỗi việc sáng mai sao dậy cho kịp giờ rồi lại chìm vào trong giấc ngủ dễ dàng như ăn một cái kẹo. Tâm trạng ưu tư đó chính là tâm hồn ngây thơ của người con. Tâm trạng ấy phải chăng một phần cũng do tình thương yêu, sự dạy dỗ, chăm sóc của người mẹ. Trong khi người con đang mơ những giấc mơ đẹp thì người mẹ lại trằn trọc, suy nghĩ. Tâm trạng của mẹ như đang ở ngày đầu tiên khai trường của chính mình. Như ngày thường sau khi con đi ngủ, mẹ dọn dẹp nhà cửa, lượm lặt những đồ chơi mà con bày, dàn trận và làm vài việc riêng của mình. Nhưng hôm nay đã làm xong mọi việc mà mẹ vẫn chưa ngủ. Và thực sự mẹ không lo lắng đến mức không ngủ được. Bao nhiêu kí ức của tuổi thơ tràn về, thôi thúc trong mẹ. Mẹ liên tưởng cảm xúc của con với mình cách đây đã mấy chục năm. Mẹ hồi tưởng lại cái ngày mà bà ngoại cùng mẹ tiến tới ngôi trường với nỗi chơi vơi và sự hốt hoảng khi cánh cổng đóng lại. Bà đã dẫn mẹ qua cánh cổng của thế giới kì diệu, cánh cổng mang đậm nét tuổi thơ. Mẹ đã phần nào chập chững bước qua cánh cổng ấy một mình với với ý nghĩ tự lập và tâm trạng vui buồn đan xen. Mẹ cũng tin tưởng, hi vọng rằng con sẽ mạnh mẽ bước đi trên con đường học tập trước mắt và con đuờng đời đầy chông gai của chính con sau này. Những âm thanh cứ văng vẳng bên tai mẹ thật ngọt ngào thân thương: “Hằng năm cứ vào cuối thu, mẹ tôi lại âu yếm dẫn tôi trên con đường dài và hẹp”. Mẹ đã trải qua biết bao ngày khai giảng nhưng ngày khai giảng ngày mai là ngày khiến mẹ bận tâm nhất, bận tâm hơn cả ngày khai giảng đầu tiên của mình. Vì đó là cái ngày mà con bắt đầu phải làm quen, bắt đầu phải tiếp xúc với thế giới lạ lẫm, học cách ứng xử với thầy cô, bạn bè. Cái hay của bài văn là bộc lộ cảm xúc qua kí ức, hồi tưởng. Bên cạnh những từ ghép đằng lập thể hiện tâm trạng nhân vật, nhà văn còn dùng những từ ghép chính phụ để miêu tả sự vật và con người khá rõ nét. Những biện pháp nghệ thuật tu từ còn làm tăng sức gợi hình, gợi cảm để khiến cho người đọc như đang lạc vào thế giới của mẹ.

Tất cả những cảm xúc đó mới chỉ là một phần trong ý nghĩa của văn bản. Vai trò to lớn của nhà trường, nền giáo dục đối với mỗi cá nhân là điều rất cần thiết. Trong bài, người mẹ đã cố gửi gắm, tạo cho con những cảm giác thoải mái khi bước vào cánh cổng trường học. Mẹ đã lo cho con đầy đủ hành trang trước ngày khai trường: từ cặp sách, đến quần áo, bút vở. Sau những hồi tưởng và mong ước, người mẹ ấy đã liên tưởng tới một nền văn minh của nước Nhật: “Mẹ nghe nói ở Nhật, ngày khai trường là ngày lễ của toàn xã hội. Tất cả mọi người đều nghỉ làm và đưa con tới trường học, không có ưu tiên nào lớn hơn nền giáo dục. Mỗi sai lầm trong giáo dục đều ảnh hưởng, làm chệch đi hàng dặm cả thế hệ sau này”.

Toàn bộ bài văn là tiếng nói nội tâm của người mẹ. Mẹ không trực tiếp nói với con hay với ai, mà mẹ nói với chính mẹ, nói với kí ức, tâm hồn tuổi thơ và cả cảm nhận của mẹ. Đêm nay mẹ không ngủ được, mẹ ngắm nhìn con với những ưu tư, ôn lại những kỉ niệm đẹp đẽ. Cách viết này làm nổi bật được tâm trạng, ý nghĩ, tình cảm của nhân vật. Đó cũng như lời tâm sự nhỏ nhẹ của tác giả đối với bạn đọc một cách tinh tế, thấm thía, lay động, truyền cảm mạnh mẽ tới tư tưởng, suy nghĩ, lập trường của họ.

Nói chung thông điệp của tác giả gửi tới mọi người là vai trò của trường học thông qua những kí ức, tâm sự của người mẹ. Mẹ đã được trải qua những năm tháng chập chững của ngày khai trường và cũng đặt niềm hi vọng của mình vào đứa con thơ. Thế giới kì diệu của người mẹ chính là định hướng cho con một con đường đúng đắn, đó chính là con đường học tập. Con đường này là mơ ước của mẹ cũng là mơ ước của biết bao nhiêu người đặt lên con cái mình. Học tập là nghĩa vụ cao cả của tuổi trẻ đối với gia đình, Tổ quốc, chính vì vậy mà chúng ta cần phải hiểu rằng “Bước qua cánh cổng trường học là một thế giới kì diệu sẽ mở ra. Thế giới ấy chính là chân trời của văn hoá, khoa học”.

Bài 1.
       Vấn đề giáo dục luôn được chú trọng hàng đầu đối với mọi quốc gia trên thế giới không chỉ ở trong thời kì phát triển như ngày nay mà nó đã được áp dụng từ xa xưa thời phong kiến. Việc giáo dục rất cần thiết để tạo ra nhiều người công dân có ích cho xã hội. Giáo dục ở đây ngoài việc bồi dưỡng về mặt kiến thức mà còn giáo dục việc làm người, đây là điều cốt yếu. 
        Để trở thành một người công dân có ích thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải là một học sinh chân chính. Ông bà ta có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về” cho thấy việc giáo dục con người phải bắt đầu khi còn là một đứa trẻ. “Tre già, măng mọc”, trẻ em hôm nay là những mầm non của tương lai đất nước sau này vì thế những mầm non ấy cần được giáo dục kỹ càng ngay khi còn là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường. Người xưa có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn”, việc giáo dục đạo đức con người là quan trọng hàng đầu, cần phải thực hiện đầu tiên, sau đó mới tới việc dạy chữ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Người có tài mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó” vì thế để trở thành một người có ích thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải là một học chân chính, siêng năng học tốt.
        Người công dân có ích là người có đạo đức tốt, không tham gia các tệ nạn xã hội, biết cống hiến hết mình năng lực của bản thân cho đất nước và xã hội. Để trồng một cây con lớn lên, chúng ta phải tốn thời gian khá lâu, nhưng chúng ta phải tốn gấp nhiều lần thời gian ấy để “trồng” một con người có ích. Để có được một phẩm chất đạo đức tốt thì cần phải rèn luyện một thời gian dài, ngay từ khi còn bé chứ không thể vài ngày, vài năm như trồng một cây con. 
        Học sinh chân chính là một học sinh có đạo đức tốt,hiếu thảo với cha mẹ, ngoan ngoãn vâng lời thầy cô, siêng năng học tốt. Từ nhỏ, ở nhà cha mẹ đã dạy và tập cho chúng ta nhiều điều hay như gặp người lớn hơn mình phải cuối đầu chào, nhặt được của rơi không được lấy nhà phải trả cho những người bị mất, không được nói tục, chửi thề,…. Và đến khi vào lớp, thầy cô cũng dạy cho chúng ta như thế, phải học thuộc và làm theo những điều trong sách Đạo đức-sách giáo dục công dân, nghiêm cấm không tham gia vào các tệ nạn xã hội. Đạo đức là cái gốc của con người và những việc làm tốt thường xuyên thực hiện dần dần chúng thấm nhuần vào ta tạo thành đức tính và thói quen mà nó sẽ theo ta đến khi trưởng thành, và thế là chúng ta đã, đang và sẽ trở thành những con người có ích.
        Bên cạnh đó là những học sinh thiếu ý thức, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học, cứ long nhong chơi bời, thậm chí còn bị tham gia các tệ nạn xã hội, bài bạc, rượu bia, hút chích,… trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Họ thành ra như vậy một phần là do thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục từ gia đình. Do cha mẹ quá bận rộn làm ăn kiếm tiền hoặc những nguyên nhân chủ quan khác mà bỏ bê con cái, việc này làm ảnh hưởng rất lớn đến tâm lí của chúng và phần còn lại là do những học sinh đó thiếu ý thức, suy nghĩ còn non trẻ, ham chơi, đua đòi,… rồi tất cả đã vô tình bước vào một con đường đen tối, trở thành gánh nặng cho cộng đồng và xã hội.
          Có những mảnh đời bất hạnh, từ khi sinh ra đã thiếu đi tình cảm gia đình, sự thương yêu của cha mẹ và cũng không được hưởng thụ về mặt vật chất. Đó là những trẻ em đường phố, cuộc đời em như những nhánh lục bình trôi lênh đênh trên mặt nước, vô bến bờ. Thiếu tình thương, không có điều kiện để sống tốt và được giáo dục đàng hoàng nên một số đã khờ dại vướn vào các tệ nạn xã hội. Một nguyên nhân nữa là do sự thờ ơ của cộng đồng, một vài người không những không biết thương cho số phận của họ, mà còn tỏ ra kinh tởm và khinh bỉ, họ miệt thị những đứa trẻ đó. Khiến chúng tự kỉ và rồi một số thiếu ý thức đã rơi vào hố sâu của tệ nạn, làm xã hội có thêm một gánh nặng.
        Nhưng chúng ta thấy, để trở thành một người có ích không phải khó mà cũng không phải dễ dàng gì. Điều cốt lõi ở đây là việc giáo dục, nhất là giáo dục đạo đức của học sinh. Vì thế để tất cả những mầm non tương lai của đất nước đều trở thành những công dân có ích thì nhà nước ta phải càng chú trọng đầu tư vào việc giáo dục hơn nữa và cần thiết nhất là phải có thêm nhiều chính sách xã hội cho những trẻ em đường phố, vì chúng cũng là những mầm non của đất nước sau này. Bên cạnh đó, tình cảm và sự quan tâm của gia đình cũng rất quan trọng. Nó quyết định tương lai, đức tính của một con người và cả đất nước, xã hội.
Nước ta là một nước đang phát triển, nhà nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì thế xã hội đang rất cần nhiều công dân có ích để chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước giàu mạnh, do vậy nên mỗi học sinh chúng ta cần phải ý thức thật tốt, là một học sinh chân chính để trở thành những người có ích cho đất nước mai sau.
Sưu tầm 
Bài 2.
DÀN Ý

1/ Mở bài 
     - Trên thế giới , từ xưa đến nay , hầu như bất kì ai cũng có một người bạn , một tình bạn . Ở VN từng có tình bạn đẹp như : Lưu Bình – Dương Lễ …
     - Ý nghĩa của tình bạn đối với con người như thế nào ? Ngoài sự khôn nhoan điều quý nhất mà thượng đế ban cho con người là tình bằng hữu ( La Rơ – sơ- phu -cô – nhà tư tưởng pháp thế kỉ XVII).

2/ Thân bài 
a/ La Rơ –sơ – phu – cô muốn khẳng định điều gì qua lời phát ngôn ấy ? 
       - Tình bạn là một trong những điều quý giá nhất trên đời , một ân huệ thiêng liêng mà thượng đế ban cho con người , một quà tặng của sự sống. 
        - Con người ta không thể sống mà không có tình bạn , thiếu tình bạn là một thiệt thòi không gì bù đắp được.

b/ Đem tình bạn gắn liền với sự khôn ngoan , nhà tư tưởng pháp có ý nhấn mạnh điều gì?
        - Con người cần có sự khôn ngoan , nhưng con người cần có bạn , có tình bạn.
       - Không thể đem sự khôn ngoan thay thế cho tình bạn. có những trường hợp sự khôn ngoan phải nhường chổ cho tình bạn. 
       - Không thể đem tính toán hơn thiệt làm chuẩn mực cho tình bạn . nếu sự khôn ngoan là lí trí giúp con người có lí lẻ , sự nhạy bén để tính toán việc đời , thì tình bạn xuất phát từ tình cảm vô tư và chân thành. 

c/ Bày tỏ ý kiến của bản thân 
       - La Rô – sơ –phu-cô đã có một quan niệm rất chính xác về tình bạn . Đó là một ân huệ mà cuộc sống đã ban cho , một thứ tình cảm thiêng liêng chỉ con người mới có. 
        - không có tình bạn cuộc sống sẽ buồn tẻ vô cùng con người sẽ chỉ đơn độc như con thú. 
        - Tình bạn là một nguồn chia sẻ , động viên đã giúp cho con người vượt lên bao khó khăn có thể cả những lúc bế tắc tưởng chưng như không thể nào vượt qua nổi. 
         - Một tình bạn chân thành , một người bạn tốt có thể giúp cho con người trở nên tốt hơn. 
        - Một tình bạn tốt phải là một tình bạn vô tư , vượt lên những tính toán thiệt hơn , những cân nhắc lạnh lùng của trí tuệ. 
        - Một tình bạn tốt nhiều khi đòi hỏi sự hi sinh . Không phải ngẫu nhiên mà người VN ngày xưa và cả ngày nay coi câu chuyện của Lưu Bình – Dương Lễ là câu chuyện đẹp đẽ nhất của tình bạn . Người đọc thơ cũng quý trọng Nguyễn Khuyến với những câu thơ thể hiện một cách nghĩ vô tư về tình bạn :
“ Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác
Tôi lại đau trước bac mấy ngày
Làm sao bác vội về ngay
Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời !

3/ Kết bài 

       - Sống trên đời , phải có bạn , phải xây dựng cho mình một tình bạn tốt .
       - Chỉ thực sự có bạn tốt khi chính mình cũng tốt trong tình bạn , phải biết vô tư , phải biết quên mình trong tình bạn 

(Sưu tầm)
Bài 3.
BÀI LÀM
      “ Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu, mà ở chỗ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”. Câu nói của Let-xinh gợi cho ta nhiều suy nghĩ về những thành công và thất bại trong hành trình tìm kiếm những giá trị cao đẹp của đời sống con người.
       Trong cuộc sống, con người luôn khao khát khám phá những giá trị của bản thân mình: Mình đang đứng ở đâu? Mình là ai trong mắt mọi người, trong đời sống xã hội? Xác định được vị trí, hiểu được vị trí bản thân là nhu cầu tất yếu, chính đáng của mỗi con người. Song, không phải ai cũng có được nhận thức đúng đắn về điều đó. Có những kẻ luôn ngộ nhận về khả năng của mình, họ cho rằng mình là số một, là chân lí của cuộc sống. Đó là tư tưởng của những kẻ độc tài, tự kiêu và tự phụ. Lại có người nhút nhát, sợ sệt mọi thứ, không bao giờ nghĩ rằng mình có thể làm được điều gì có ích. Đó lại là những người tự ti. Rõ ràng “ Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu”, tức là giá trị của con người không nằm ở những gì tốt đẹp, đúng đắn mà bản thân họ có hay họ nghĩ rằng mình có. Vậy giá trị ấy nằm ở đâu? Nó nằm ở những “ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí” . Vậy là điều được ghi nhận trong giá trị của con người là những nỗ lực, những cố gắng trong hành trình đi tìm và vươn tới cái đẹp , cái thiện ở đời.
        Cuộc sống là hành trình con người đi tìm mình và tự khẳng định mình. Ai cũng khao khát vươn tới cái hoàn mĩ của sự sống. Nếu con người đạt được một điều nào đó, một chân lí trong cuộc sống thì chân lí đó đã được con người chiếm lĩnh. Nhưng thật bất hạnh nằm ở việc chân lí cũng có tính tương đối, nó có thể đúng trong nhiều trường hợp nhưng lại sai trong một số trường hợp. Vậy nếu con người bằng lòng chân lí mình có, dừng lại cuộc hành trình tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống thì khi ấy con người thất bại. Vậy kết quả của mọi công việc chưa phải là điều lớn nhất mà chúng ta đòi hỏi ở một con người. Quan trọng là con người ấy đã vượt khó, vượt khổ để đi tới thành công. Chính trong quá trình vượt qua những gian khó mà con người nhận lãnh trên đường đi tìm chân lí đã giúp họ bộc lộ nhiều phẩm chất, đức tính của mình. Đó có thể là sự chăm chỉ cũng có thể là lười nhác. Đó có thể là can đảm cũng có thể là hèn nhát. Đó có thể là sáng tạo, năng động nhưng cũng có thể là thụ động, máy móc. Đó có thể là sự chân thành nhưng cũng có thể là sự dối trá. Hành trình đi tìm cái đẹp là hành trình chạy đua trong một đường hầm kín. Kẻ về đích sớm nhất , ló dạng ra khỏi đường hầm sớm nhất chưa chắc là kẻ nhanh nhất, giỏi nhất, tốt nhất. Chính bởi những điều ấy, giá trị đích thực của một con người phải là: “ những gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”.
      Qua quá trình vượt qua những điều khó khăn ấy, con người bộc lộ những phẩm chất, giá trị của mình. Trong cuộc đời này, mọi người đang cùng đứng trên một quả đất nhưng mặt đất chúng ta đứng không bằng phẳng mà chỗ cao, chỗ thấp bởi mỗi người một hoàn cảnh, một điều kiện khác nhau. Còn chân lí lại là một độ cao nhất định mà tất cả chúng ta phải vươn tới mới đạt được. Vậy thì, giá trị của mỗi người không nằm ở việc ai chạm tay vào chân lí sớm hơn mà nằm ở việc đã bước đi như thế nào từ vị trí của mình để đến được với chân lí.
Theo Sách Chuyên đề Văn nghị luận XH*
Bài 4.
Bài viết
          Học tập là mục tiêu suốt đời của mỗi người. Chúng ta hiện nay đang phấn đấu xây dựng một xã hội học tập, nhằm phát huy tối đa khả năng cũng như quyền được được học tập của mỗi người. Có một câu ngạn ngữ của người Gruzia “Học tập là hạt giống của kiến thức, kiến thức là hạt giống của hạnh phúc”.
        Thật vậy! Kiến thức không phải tự nhiên mà có. Đó là tích lũy hiểu biết của nhân loại, của cộng đồng, của nhiều thế hệ thông qua quá trình học tập mà thành. Học tập chính là quá trình tích lũy kiến thức! Câu ngạn ngữ trên đã có một ví von rất hay khi đưa ra hình ảnh “hạt giống” để nhấn mạnh tầm quan trọng của học tập. Hạt giống sẽ nảy nở phát triển thành cây. Quá trình học tập cũng như gieo hạt giống cho trí não và tâm hồn. Kiến thức nhiều cũng là kết quả tích lũy hãt giống để hứa hẹn một mùa bội thu. Kiến thức tốt, đầy đủ, phong phú sẽ gieo những hạt giống cho tương lai của mỗi con người. Tuy nhiên cần phải hiểu thấu đáo hơn câu ngạn ngữ này ở nghĩa bao quát của nó. Hạt giống chuẩn bị không tốt, cây sẽ phát triển èo uột, kiến thức nông cạn ít ỏi khiến chúng ta gặp vô vàn khó khăn, lúng túng và bế tắc trong công việc. Và một người học tập được điều hay lẽ phải thì cũng chính là tích lũy hạt giống tốt, còn kiến thức lệcj lạc, sai lầm thì như hạt giống xấu làm hủy hoại tư duy và tâm hồn, sẽ không tránh khỏi gây tác hại cho đời sống. Cũng như vậy, chỉ trên nền tảng một kiến thức đầy đủ mới có tương lai hạnh phúc. Bởi vậy, trong đời sống, ta gặp không ít những tấm gương đổi đời nhờ kiến thức.
        Tuy nhiên mối quan hệ học tập – kiến thức – hạnh phúc không chỉ được hiểu đơn giản một chiều mà cần phải thấy rõ mối quan hệ biện chứng nhân quả của nó. Ông bà ta cũng thường nói “gieo nhân nào, gặt quả ấy” như một cảnh tỉnh. Xét mối quan hệ trong ba yếu tố học tập – kiến thức – hạnh phúc cũng cần được nhìn nhận từ nhiều phía. Học tập đúng đắn, có phương pháp, có chọn lọc thì mới có kiến thức tốt, đa dạng, phong phú. Kiến thức tốt cần gắn với thức đem kiến thức ấy phục vụ cho xã hội và cho bản thân, không chỉ là những kiến thức thu lượm được theo kiểu thực dụng ích kỷ, vì nếu hạnh phúc của ta lại đem bất hạnh cho người khác thì cũng là chứng tỏ ta đã tích lũy hạt giống xấu cho chính ta, gieo mầm bất hạnh cho kẻ khác.         
       Vì vậy. mỗi chúng ta phải xác định động cơ học tập đúng đắn, thu lượm kiến thức bổ ích, hướng tới hạnh phúc của cộng đồng hài hòa với hạnh phúc cá nhân. Có như vậy mới thật sự trở thành con người có ích cho xã hội.

Bài 1.
Mặt trời lặn đã lâu. Màn đêm dịu dàng buông xuống. Bầu trơì thăm thẳm, lấp lánh muôn vạn vì sao. Xa xa, phía cuối làng, vầng trăng đang từ từ nhô lên khỏi luỹ tre tím mờ trong làn sương mỏng. Tiếng trống ếch khuấy động không khí vỗn tĩnh lặng chốn thôn quê. Hôm nay là rằm tháng Tám, chúng em náo nức chuẩn bị đón Tết Trung thu.

Trước sân mỗi nhà đều có mâm cỗ đón trăng. Trái bưởi vàng rám nắng, cuống lá tươi xanh đặt ở giữa, xug quanh là những trái hồng đỏ tươi, chín mọng. Nải chuối tiêu lốm đốm trứng cuốc cùng với cốm Vòng nnõn nà màu ngọc đựng trong lá sen tươi. Chiếc bánh nướng hình mẹ con đàn lợn nằm quây quần bên nhau trông mới ngộ nghĩnh làm sao ! Một mùi hương dịu ngọt lan toả trong không gian rộn ràng tiếng cười nói của trẻ thơ.

Trăng đang lên cao, tròn vành vạnh như một chiếc đĩa bạc, nổi bật trên nền trời đêm. Ánh trăng ngời ngời toả sáng, soi rõ từng cảnh vật trên mặt đất. Dòng sông uốn khúc quanh làng như dải lụa mềm, mặt nước lấp lánh trắng. Đồng lúa mênh mông trải dài, nhấp nhô gợn sóng như đang rì rào ca ngợi vẻ đẹp của trăng rằm.

Trên đường làng, từng đoàn trẻ tung tăng nối đuôi nhau rước đen. Hàng tră, ngọn nến lung linh. Đèn hình ông sao, hình con thỏ, con gà, con bướm, con chim, hình máy bay, tàu thuỷ... Rồi đèn xếp, đèn kéo quân... đủ kiểu đủ màu, trông thật vui mắt. Tiếng hát xen lẫn tiếng trống ếch, trống cơm náo nức 

Thùng thình, thùng thình trống rộn ràng ngoài đình,
Có con sư tử đang múa quanh vòng quanh.
Trung thu liên hoan trăng sáng ngập đường làng, 
Dưới ánh trăng vàng đàn em hát vang vang...

Ngay tại sân đình, chúng em được dự liên hoan văn nghệ và nghệ và phá cỗ Trung thu: được nghe kể về sự tích tại sao chú Cuội lại phải mãi mãi ngồi dưới gốc cây đa trên cung Quảng. Bánh dẻo, bánh nướng, chuối, bưởi... nhà nào cũng có, nhưng chúng em thích phá cỗ cùng nhau hơn vì rất vui.

Cuộc vui đã tàn, tiếng bước chân rậm rịch toả về kháp các ngả. Khung cảnh làng em vốn đẹp, trong đêm trăng rằm lại càng đẹp, giống như một bức tranh thiên nhiên thơ mộng, gợi cảm giác về một cuộc sống no đủ, thanh bình.
Bài 2.
       Vấn đề giáo dục luôn được chú trọng hàng đầu đối với mọi quốc gia trên thế giới không chỉ ở trong thời kì phát triển như ngày nay mà nó đã được áp dụng từ xa xưa thời phong kiến. Việc giáo dục rất cần thiết để tạo ra nhiều người công dân có ích cho xã hội. Giáo dục ở đây ngoài việc bồi dưỡng về mặt kiến thức mà còn giáo dục việc làm người, đây là điều cốt yếu. 
        Để trở thành một người công dân có ích thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải là một học sinh chân chính. Ông bà ta có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về” cho thấy việc giáo dục con người phải bắt đầu khi còn là một đứa trẻ. “Tre già, măng mọc”, trẻ em hôm nay là những mầm non của tương lai đất nước sau này vì thế những mầm non ấy cần được giáo dục kỹ càng ngay khi còn là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường. Người xưa có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn”, việc giáo dục đạo đức con người là quan trọng hàng đầu, cần phải thực hiện đầu tiên, sau đó mới tới việc dạy chữ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Người có tài mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó” vì thế để trở thành một người có ích thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải là một học chân chính, siêng năng học tốt.
        Người công dân có ích là người có đạo đức tốt, không tham gia các tệ nạn xã hội, biết cống hiến hết mình năng lực của bản thân cho đất nước và xã hội. Để trồng một cây con lớn lên, chúng ta phải tốn thời gian khá lâu, nhưng chúng ta phải tốn gấp nhiều lần thời gian ấy để “trồng” một con người có ích. Để có được một phẩm chất đạo đức tốt thì cần phải rèn luyện một thời gian dài, ngay từ khi còn bé chứ không thể vài ngày, vài năm như trồng một cây con. 
        Học sinh chân chính là một học sinh có đạo đức tốt,hiếu thảo với cha mẹ, ngoan ngoãn vâng lời thầy cô, siêng năng học tốt. Từ nhỏ, ở nhà cha mẹ đã dạy và tập cho chúng ta nhiều điều hay như gặp người lớn hơn mình phải cuối đầu chào, nhặt được của rơi không được lấy nhà phải trả cho những người bị mất, không được nói tục, chửi thề,…. Và đến khi vào lớp, thầy cô cũng dạy cho chúng ta như thế, phải học thuộc và làm theo những điều trong sách Đạo đức-sách giáo dục công dân, nghiêm cấm không tham gia vào các tệ nạn xã hội. Đạo đức là cái gốc của con người và những việc làm tốt thường xuyên thực hiện dần dần chúng thấm nhuần vào ta tạo thành đức tính và thói quen mà nó sẽ theo ta đến khi trưởng thành, và thế là chúng ta đã, đang và sẽ trở thành những con người có ích.
        Bên cạnh đó là những học sinh thiếu ý thức, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học, cứ long nhong chơi bời, thậm chí còn bị tham gia các tệ nạn xã hội, bài bạc, rượu bia, hút chích,… trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Họ thành ra như vậy một phần là do thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục từ gia đình. Do cha mẹ quá bận rộn làm ăn kiếm tiền hoặc những nguyên nhân chủ quan khác mà bỏ bê con cái, việc này làm ảnh hưởng rất lớn đến tâm lí của chúng và phần còn lại là do những học sinh đó thiếu ý thức, suy nghĩ còn non trẻ, ham chơi, đua đòi,… rồi tất cả đã vô tình bước vào một con đường đen tối, trở thành gánh nặng cho cộng đồng và xã hội.
          Có những mảnh đời bất hạnh, từ khi sinh ra đã thiếu đi tình cảm gia đình, sự thương yêu của cha mẹ và cũng không được hưởng thụ về mặt vật chất. Đó là những trẻ em đường phố, cuộc đời em như những nhánh lục bình trôi lênh đênh trên mặt nước, vô bến bờ. Thiếu tình thương, không có điều kiện để sống tốt và được giáo dục đàng hoàng nên một số đã khờ dại vướn vào các tệ nạn xã hội. Một nguyên nhân nữa là do sự thờ ơ của cộng đồng, một vài người không những không biết thương cho số phận của họ, mà còn tỏ ra kinh tởm và khinh bỉ, họ miệt thị những đứa trẻ đó. Khiến chúng tự kỉ và rồi một số thiếu ý thức đã rơi vào hố sâu của tệ nạn, làm xã hội có thêm một gánh nặng.
        Nhưng chúng ta thấy, để trở thành một người có ích không phải khó mà cũng không phải dễ dàng gì. Điều cốt lõi ở đây là việc giáo dục, nhất là giáo dục đạo đức của học sinh. Vì thế để tất cả những mầm non tương lai của đất nước đều trở thành những công dân có ích thì nhà nước ta phải càng chú trọng đầu tư vào việc giáo dục hơn nữa và cần thiết nhất là phải có thêm nhiều chính sách xã hội cho những trẻ em đường phố, vì chúng cũng là những mầm non của đất nước sau này. Bên cạnh đó, tình cảm và sự quan tâm của gia đình cũng rất quan trọng. Nó quyết định tương lai, đức tính của một con người và cả đất nước, xã hội.
Nước ta là một nước đang phát triển, nhà nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì thế xã hội đang rất cần nhiều công dân có ích để chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước giàu mạnh, do vậy nên mỗi học sinh chúng ta cần phải ý thức thật tốt, là một học sinh chân chính để trở thành những người có ích cho đất nước mai sau.
Sưu tầm 
Bài 3.
DÀN Ý

1/ Mở bài 
     - Trên thế giới , từ xưa đến nay , hầu như bất kì ai cũng có một người bạn , một tình bạn . Ở VN từng có tình bạn đẹp như : Lưu Bình – Dương Lễ …
     - Ý nghĩa của tình bạn đối với con người như thế nào ? Ngoài sự khôn nhoan điều quý nhất mà thượng đế ban cho con người là tình bằng hữu ( La Rơ – sơ- phu -cô – nhà tư tưởng pháp thế kỉ XVII).

2/ Thân bài 
a/ La Rơ –sơ – phu – cô muốn khẳng định điều gì qua lời phát ngôn ấy ? 
       - Tình bạn là một trong những điều quý giá nhất trên đời , một ân huệ thiêng liêng mà thượng đế ban cho con người , một quà tặng của sự sống. 
        - Con người ta không thể sống mà không có tình bạn , thiếu tình bạn là một thiệt thòi không gì bù đắp được.

b/ Đem tình bạn gắn liền với sự khôn ngoan , nhà tư tưởng pháp có ý nhấn mạnh điều gì?
        - Con người cần có sự khôn ngoan , nhưng con người cần có bạn , có tình bạn.
       - Không thể đem sự khôn ngoan thay thế cho tình bạn. có những trường hợp sự khôn ngoan phải nhường chổ cho tình bạn. 
       - Không thể đem tính toán hơn thiệt làm chuẩn mực cho tình bạn . nếu sự khôn ngoan là lí trí giúp con người có lí lẻ , sự nhạy bén để tính toán việc đời , thì tình bạn xuất phát từ tình cảm vô tư và chân thành. 

c/ Bày tỏ ý kiến của bản thân 
       - La Rô – sơ –phu-cô đã có một quan niệm rất chính xác về tình bạn . Đó là một ân huệ mà cuộc sống đã ban cho , một thứ tình cảm thiêng liêng chỉ con người mới có. 
        - không có tình bạn cuộc sống sẽ buồn tẻ vô cùng con người sẽ chỉ đơn độc như con thú. 
        - Tình bạn là một nguồn chia sẻ , động viên đã giúp cho con người vượt lên bao khó khăn có thể cả những lúc bế tắc tưởng chưng như không thể nào vượt qua nổi. 
         - Một tình bạn chân thành , một người bạn tốt có thể giúp cho con người trở nên tốt hơn. 
        - Một tình bạn tốt phải là một tình bạn vô tư , vượt lên những tính toán thiệt hơn , những cân nhắc lạnh lùng của trí tuệ. 
        - Một tình bạn tốt nhiều khi đòi hỏi sự hi sinh . Không phải ngẫu nhiên mà người VN ngày xưa và cả ngày nay coi câu chuyện của Lưu Bình – Dương Lễ là câu chuyện đẹp đẽ nhất của tình bạn . Người đọc thơ cũng quý trọng Nguyễn Khuyến với những câu thơ thể hiện một cách nghĩ vô tư về tình bạn :
“ Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác
Tôi lại đau trước bac mấy ngày
Làm sao bác vội về ngay
Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời !

3/ Kết bài 

       - Sống trên đời , phải có bạn , phải xây dựng cho mình một tình bạn tốt .
       - Chỉ thực sự có bạn tốt khi chính mình cũng tốt trong tình bạn , phải biết vô tư , phải biết quên mình trong tình bạn 

(Sưu tầm)
Bài 4.
BÀI LÀM
      “ Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu, mà ở chỗ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”. Câu nói của Let-xinh gợi cho ta nhiều suy nghĩ về những thành công và thất bại trong hành trình tìm kiếm những giá trị cao đẹp của đời sống con người.
       Trong cuộc sống, con người luôn khao khát khám phá những giá trị của bản thân mình: Mình đang đứng ở đâu? Mình là ai trong mắt mọi người, trong đời sống xã hội? Xác định được vị trí, hiểu được vị trí bản thân là nhu cầu tất yếu, chính đáng của mỗi con người. Song, không phải ai cũng có được nhận thức đúng đắn về điều đó. Có những kẻ luôn ngộ nhận về khả năng của mình, họ cho rằng mình là số một, là chân lí của cuộc sống. Đó là tư tưởng của những kẻ độc tài, tự kiêu và tự phụ. Lại có người nhút nhát, sợ sệt mọi thứ, không bao giờ nghĩ rằng mình có thể làm được điều gì có ích. Đó lại là những người tự ti. Rõ ràng “ Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu”, tức là giá trị của con người không nằm ở những gì tốt đẹp, đúng đắn mà bản thân họ có hay họ nghĩ rằng mình có. Vậy giá trị ấy nằm ở đâu? Nó nằm ở những “ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí” . Vậy là điều được ghi nhận trong giá trị của con người là những nỗ lực, những cố gắng trong hành trình đi tìm và vươn tới cái đẹp , cái thiện ở đời.
        Cuộc sống là hành trình con người đi tìm mình và tự khẳng định mình. Ai cũng khao khát vươn tới cái hoàn mĩ của sự sống. Nếu con người đạt được một điều nào đó, một chân lí trong cuộc sống thì chân lí đó đã được con người chiếm lĩnh. Nhưng thật bất hạnh nằm ở việc chân lí cũng có tính tương đối, nó có thể đúng trong nhiều trường hợp nhưng lại sai trong một số trường hợp. Vậy nếu con người bằng lòng chân lí mình có, dừng lại cuộc hành trình tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống thì khi ấy con người thất bại. Vậy kết quả của mọi công việc chưa phải là điều lớn nhất mà chúng ta đòi hỏi ở một con người. Quan trọng là con người ấy đã vượt khó, vượt khổ để đi tới thành công. Chính trong quá trình vượt qua những gian khó mà con người nhận lãnh trên đường đi tìm chân lí đã giúp họ bộc lộ nhiều phẩm chất, đức tính của mình. Đó có thể là sự chăm chỉ cũng có thể là lười nhác. Đó có thể là can đảm cũng có thể là hèn nhát. Đó có thể là sáng tạo, năng động nhưng cũng có thể là thụ động, máy móc. Đó có thể là sự chân thành nhưng cũng có thể là sự dối trá. Hành trình đi tìm cái đẹp là hành trình chạy đua trong một đường hầm kín. Kẻ về đích sớm nhất , ló dạng ra khỏi đường hầm sớm nhất chưa chắc là kẻ nhanh nhất, giỏi nhất, tốt nhất. Chính bởi những điều ấy, giá trị đích thực của một con người phải là: “ những gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”.
      Qua quá trình vượt qua những điều khó khăn ấy, con người bộc lộ những phẩm chất, giá trị của mình. Trong cuộc đời này, mọi người đang cùng đứng trên một quả đất nhưng mặt đất chúng ta đứng không bằng phẳng mà chỗ cao, chỗ thấp bởi mỗi người một hoàn cảnh, một điều kiện khác nhau. Còn chân lí lại là một độ cao nhất định mà tất cả chúng ta phải vươn tới mới đạt được. Vậy thì, giá trị của mỗi người không nằm ở việc ai chạm tay vào chân lí sớm hơn mà nằm ở việc đã bước đi như thế nào từ vị trí của mình để đến được với chân lí.
Theo Sách Chuyên đề Văn nghị luận XH*
Chat chit và chém gió
  • arima sama: . 4/18/2017 7:18:32 AM
  • arima sama: . 4/18/2017 7:18:33 AM
  • arima sama: . 4/18/2017 7:18:33 AM
  • arima sama: . 4/18/2017 7:18:33 AM
  • arima sama: . 4/18/2017 7:18:33 AM
  • arima sama: . 4/18/2017 7:18:34 AM
  • arima sama: . 4/18/2017 7:18:34 AM
  • arima sama: . 4/18/2017 7:18:34 AM
  • arima sama: . 4/18/2017 7:18:34 AM
  • arima sama: . 4/18/2017 7:18:34 AM
  • arima sama: .ok rồi 4/18/2017 7:18:38 AM
  • FairyTalesGoneBad:4/18/2017 7:18:43 AM
  • bongbon.ntt2k3: hi cả nhà happy 4/20/2017 7:55:43 AM
  • Minn Minn: big_grin 4/21/2017 6:32:02 AM
  • nhatkakadan38: hhii ca nha 4/21/2017 6:59:55 AM
  • ๖ۣۜDevilღ: hi em 5/3/2017 7:49:35 AM
  • nvtoan1970: hiiiiii 6/2/2017 7:40:25 AM
  • yumeyume2307: Chảo mn >__< 6/4/2017 8:41:31 AM
  • yumeyume2307: /___\ chả có ma nào 6/4/2017 8:41:58 AM
  • nvtoan1970: meo 6/6/2017 2:20:43 AM
  • nvtoan1970: haizzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzz 6/6/2017 6:14:08 AM
  • hogiathuantn91: helo mb 6/20/2017 9:47:03 PM
  • nguyenngoc: chào các cu 6/26/2017 1:39:07 AM
  • nguyenngoc: cu ơi 6/26/2017 1:39:14 AM
  • ngocngu: meo 6/26/2017 1:40:48 AM
  • ngocngu:6/26/2017 1:41:18 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:26 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:27 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:27 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:27 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:28 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:28 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:28 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:28 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:29 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:29 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:29 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:30 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:30 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:30 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:30 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:31 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:31 AM
  • Tiểu Công Tử: .. 7/25/2017 11:32:32 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:32 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:32 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:32 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:33 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:33 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:33 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:34 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:34 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:34 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:35 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:35 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:35 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:36 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:36 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:36 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:37 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:37 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:37 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:38 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:38 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:38 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:39 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:39 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:39 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:39 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:40 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:40 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:40 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:41 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:41 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:41 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:41 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:42 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:42 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:43 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:43 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:44 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:44 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:45 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:45 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:45 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:46 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:46 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:47 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:47 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:48 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:48 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:49 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:49 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:49 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:50 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:50 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:51 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:51 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:32:52 AM
  • Tiểu Công Tử: happy 7/25/2017 11:32:54 AM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Nhok Sam
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • .
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ