0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

     Đời người không khỏi có những lúc bước chân lang thang đưa ta đến những sông hồ, bờ bãi, biển cồn, núi cao, đèo dốc… những không gian trời nước mênh mông. Nghĩa là ta sẽ phải đối diện với cái vô cùng vô tận của không gian, cái vô thủy vô chung của thời gian. Khi ấy, ngay cả những người vô tâm nhất cũng không tránh khỏi cảm giác cô đơn. Bởi người ta thấy rõ hơn bao giờ hết rằng con người thật là nhỏ nhoi, kiếp người chỉ là thoáng chốc. Đời người sao quá phù du! Ta bỗng thấy mình như đang bơ vơ lưu lạc giữa cái mênh mông của đất trời, trôi nổi trong cái xa vắng, rợn ngợp của thời gian. Ta bỗng thấy cái chơi vơi giữa thế gian này! … Ấy là lúc có thể đọc thơ Huy Cận. Bởi đó là thế giới của Lửa thiêng, thế giới của Tràng giang. Thi sĩ đã cất lên giùm ta cái cảm xúc, cái nỗi niềm nhân thế đó. 
      Ngày trước, để bênh vực cho bài Tràng giang (cũng là bênh vực cho Thơ Mới), người ta đã phải viện ra cái kỉ niệm của một chiến sĩ nào đó mà rằng: một người cách mạng như thế cũng rất yêu hai câu đầu của bài Tràng giang, vậy bài thơ này là lành mạnh, nỗi buồn ở đấy là trong sáng, chứ không có hại gì! Rồi ngay cả Xuân Diệu cũng phải lập cả một hàng rào che quanh để bênh vực cho lòng yêu thiên nhiên của bài thơ. Không, lòng yêu thiên nhiên tạo vật tự nó là một giá trị, ngang hàng với những tình yêu khác. Lòng yêu thiên nhiên là một cảm xúc thuộc về nhân tính. Tự nó không cần bảo vệ! 
     Tràng giang không nhất thiết phải là sông Hồng, sông Cửu Long, đó cũng có thể là Hoàng Hà, Hằng Hà,Vonga, Dương Tử, … cũng được chứ sao. Tràng giang là một tạo vật thiên nhiên. Nó có thể được gợi Ý, gợi tứ từ sông Hồng, từ một chỗ đứng xác định là bến Chèm. Nhưng khi đã thành hình tượng “tràng giang” thì nó đã khước từ mọi địa danh, địa chỉ cụ thể để trở thành một tạo vật thiên nhiên phổ quát rồi. Lòng yêu của thi sĩ trong đó là một lòng yêu dành cho thiên nhiên, tạo vật, một lòng yêu có ở hết thảy con người! Và đó chính là tầm vóc đáng phải có của bài thơ này!
      Cảm hứng của bài thơ quả là cảm hứng không gian. Không gian được trải ra từ mặt sông lên tận chót vót đỉnh trời, không gian được mở ra từ thẳm sâu vũ trụ vào tận thăm thẳm tâm linh con người. Ấy là một thế giới vừa được nhìn bằng sự chiêm nghiệm cổ điển vừa được cảm nhận bằng tâm thế cô đơn của một cái tôi hiện đại, rất đặc trưng cho thơ Mới. Có lẽ vì thế chăng mà Tràng giang hiện ra như một bức tranh tạo vật trường cửu, lớn lao, vừa hoang sơ, vừa cổ kính, trong đó thi sĩ hiện lên như một lữ thứ đơn độc, lạc loài?
       Tràng giang là một không gian mênh mông vô biên. Ngay cái tên bài thơ đã như một cửa ngõ mở vào vô biên rồi. Tràng giang gợi ra hình tượng một con sông chảy mênh mang giữa trời và đất. Vầ câu đề từ như thêm một lần nữa vén lên bức rèm, bước qua một hành lang mở thông vào vô biên: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Nhưng dẫu sao những hình ảnh sống động của thế giới ấy có thể cảm nhận hoàn toàn trực quan chỉ thực sự mở ra với những câu đầu: 

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, 
Con thuyền xuôi mái nước song song. 
       Có lẽ cái chất thơ của sông nước đã nhập vào những câu thơ thế này để phô bày vẻ đẹp của nó. Câu thứ nhất tả sóng, câu thứ hai tả những dòng trôi, những luồng nước trên mặt sông. Nếu câu thứ nhất gợi được những vòng sóng đang loang ra, lan xa, gối lên nhau, xô đuổi nhau đến tận chân trời, thì câu thứ hai lại vẽ ra những luồng nước cứ song song, rong ruổi mãi về cuối trời. Không gian vừa mở ra bề rộng, vừa vươn theo chiều dài. ĐÚng là nó có thấp thoáng âm hưởng hai câu thơ cũng tả sông nước trong bài Đăng cao nổi tiếng của Đỗ Phủ: 
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
(Ngàn cây bát ngát, lá rụng xào xạc, 
Dòng sông dằng dặc, nước cuồn cuộn trôi)
      Cũng là đối xứng, nhưng Đỗ Phủ viết theo lối đối chọi, còn Huy Cận- có cải biên, chỉ dùng tương xứng thôi. Cũng dùng những từ láy nguyên để gợi tả, trong khi tác giả Đăng Cao đặt ở giữa câu, thì tác giả Tràng giang lại đẩy xuống cuối câu. Nhờ thế hai từ láy nguyên “điệp điệp”, “song song” tạo ra được dư ba. Nghĩa là lời thơ đã ngừng mà Ý hướng và âm hưởng vẫn còn vang vọng như dội mãi vào vô biên. Dòng sông lớn mang trong lòng một nỗi buồn lớn!
      Suốt dọc bài thơ, Huy Cận còn dày công khắc họa vẻ mênh mông vô biên bằng biết bao chi tiết giàu tính nghệ thuật nữa. Vừa dùng cái lớn lao để gợi sự mênh mông, vừa dùng cái hữu hạn để gợi sự vô cùng. Ấy là hàng trăm ngả sông, những cồn đất, những bờ xanh, bãi vàng, lớp lớp mây cao đùn núi bạc, ấy là một cành củi khô, một bóng chim nhỏ … Nhưng có lẽ bức tranh vô biên của Tràng giang đã đạt đến tận cùng là ở hai câu: 

Nắng xuống, trời lển, sâu chót vớt,
Sông dài, trời rộng, bên cô liêu. 

         Câu trên là sự vô biên được mở về chiều cao. Câu dưới là sự vô biên cả về bề rộng và chiều dài. Có một khoảng không gian đang giãn nở ra trong cụm từ: “Nắng xuống, trời lên”. Hai động từ ngược hướng “lên”, “xuống” đem lại một cảm giác chuyển động rất rõ rệt. Nắng xuống đến đâu, trời lên đến đó. Và nó được hoàn tất bởi cụm từ “sâu chót vót”. Có cái gì như phí lí. Có lẽ không chịu được vẻ phi lí mà nhiều người đã cố tình in và viết thành “sầu chót vót” để dễ hình dung hơn. Tiếc rằng, chính “sâu” mới là sự xuất thần của hồn thơ. Đây không phải là sự lạ hóa ngôn từ. Nếu có thì trước hết là sự lạ hoátrong cách nhìn, trong cảm giác. Ánh mắt tác giả không dừng lại ở đỉnh trời một cách thường tình để nhận biết về chiều cao mà nó như xuyên vào đáy vũ trụ để cảm nhận về chiều sâu. Song, dầu sao, đây vẫn là chiều sâu của cái nhìn ngước lên. Cho nên mới là “sâu chót vót”. Chót vót vốn là một từ láy độc quyền của chiều cao, bỗng phát huy một hiệu quả không ngờ. Nó còn gợi sắc thái chưa hoàn tất. Dường như cái nhìn thi sĩ vươn tới đâu thì trời sẽ sâu tới đó, mỗi lúc một chót vót hơn. Vừa tương xứng, vừa hô ứng với câu trên, câu thứ hai mở ra bát ngát, tít tắp. Câu thơ được viết giản dị, không chữ nào lạ, ngỡ như chỉ là sự sắp xếp các chiều kích của tràng giang, thế thôi. Vậy mà thấy động. Các trạng thái tĩnh, các tính từ dường như cựa quậy đòi động từ hóa. Trong áp lực của cái nhìn xa hút, cso cảm giác sông dài ra, trời rộng thêm, bến cô liêu đi vậy. 

Thế mới lạ, không có chữ nào lạ hóa, mà vẫn mới lạ. Thế mới biết, chính cảm xúc mới lạ làm nên cái mới lạ chân chính cho nghệ thuật. 

3. Là một người thuộc lớp tây học, nhưng tâm hôn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi, nên không gian Tràng giang cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả cái trạng thái tĩnh của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan niệm, tĩnh là gốc của động, tĩnh là cội nguồn của thế giới. Cùng với nó, tĩnh tại và thanh vắng cũng trở thành một tiêu chuẩn mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái tĩnh vắng mênh mông trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không, một hư không chứa đầy âm nhạc, chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của Tràng giang được cảm nhận bằng nỗi cô đơn bơ vơ. Có lẽ vì thế mà Tràng giang còn là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái Tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông của đồng loại. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng. 

         Đúng ra con người cso thoáng xuất hiện trong hình bóng chiệc thuyền ở đầu bài thơ. Một con thuyền “xuôi mái”, thụ động buông trôi trên dòng nước luân lạc. Và nó cũng chỉ hiện ra thoáng chốc, sau đó nép mình vào bờ bãi mà mất hút trên sông nước, trả lại không gian cho sự ngự trị của muôn ngả sông, nghìn luồng sóng: 

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả, 
Củi một cành khô lạc mấy dòng. 

Khát thèm âm thanh của cuộc sống người, thi sĩ lắng nghe, không dám mơ đến thứ âm thanh náo động, vui tươi, chỉ là âm thanh xoàng xĩnh nhất, buồn chán nhất của cuộc sống người, thế mà cũng không có: 

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Chứ “đâu” ở đầu câu có thể hiểu là từ chỉ nơi chốn với nghĩa là “đâu đó”. Cũng có thể hiểu là phủ định từ với nghĩa là “đâu có”. Dù theo nghĩa nào thì nó cũng nhằm nói tới cuộc sống tan rã, một đằng thì đã vắng bóng, một đằng thì đang vắng bóng mà thôi. Rồi cả đến những phương tienj giao lưu gợi sự có mặt của con người cũng không hề có: 

Mênh mông không một chuyến đò ngang,
Không cầu gợi chút niềm thân mật. 

Và sự phủ định cuối cùng: “Không khói hoàng hôn…”. Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng của “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén, Ngày xem hoa bợ cây” (Nguyễn Trãi), “Lác đác bên sông chợ mấy nhà” (Bà Huyện Thanh Quan) hay “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” (Nguyễn Khuyến) nữa. Tràng giang hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thủa khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế. Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi, cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh này, hơn nghìn năm trước, Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê: 

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai- Tản Đà dịch)

Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần khói sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên đâu. Nhớ nhà như là để vượt thoát, để trốn chạy nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:

Lòng quê dợn dợn với con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. 

Dòng sông chảy giữa mênh mang trời đất đến đây như bống dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê. Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất. 

Đứng trước những dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta, nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau khi ta tan biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng dưng không them biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn. Đứng bên dòng sông lớn, hãy lắng nghe nhịp triều miên viễn mênh mang. Nó là nhịp ca của vĩnh hằng, nhịp của vũ trụ. Và hình như, Huy Cận đã chuyển dược nhịp chảy trôi miên viễn ấy vaoaf trong bài thơ. Những từ láy, nhất là láy nguyên “điệp điệp”, “song song”, “lớp lớp”, “dợn dợn”, … ẩn hiện trong toàn bài không chỉ gợi được sự đường bệ mà còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp// Con thuyền xuôi mái nước song song”. Các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối liên tiếp như một chuỗi dài, tạo nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: “nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót – Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”, ‘hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, … cứ nối nối, tiếp tiếp, cứ song song trùng điệp không cùng … khi hiện thành câu chữ, khi chìm trong âm vang. Tất cả những yếu tố ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau tạo thành một âm hưởng cứ ngấm ngầm chảy đây đó trong lòng bài thơ: âm hưởng trôi xuôi bất tận. Nó khiến cho ta có một cảm tưởng thật rõ rệt mặt bằng chữ nghĩa của cả bài thơ cũng như đang xuôi dòng trôi dạt, những hình ảnh, những hình tượng cũng đang lặng lẽ xuoi dòng: dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian mà còn chảy trong thời gian … Từ thủa khai thiên lập địa, sông chảy miết qua các thời đại mà về đây. Phải chăng đây là chiều thứ tư đầy mơ hồ và hư ảo của không gian Tràng giang. 

Tôi đọc bài thơ bao lần và không sao xóa được khỏi lòng mình cái cảm giác bâng quơ này: mình là cái cành củi khô luân lạc trên dòng tràng giang kia hay mình là cánh chim nhỏ lạc lõng dưới lớp lớp mây cao đùn núi bạc đó… Nó là cảm tưởng của một đứa trẻ… Mà dường như cũng là của một người già… Bởi vì Tràng giang là dòng sông mà cũng là dòng đời chăng? 
Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
762 lượt xem

BÀI LÀM
Tự tình ở số ít những bài thơ mà Hồ Xuân Hương bộc lộ trực tiếp “cái tôi” đầy xúc cảm và bản lĩnh của mình trước cuộc sống .
Bài thơ mở đầu với một không gian:
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn.
Nhưng đấy cũng là một thời gian.Nói đấy đủ hơn ,Tự tình là tiêng lòng cất lên vào một không – thời gian.Không - thời gian ấy trong văn học trung đại thường hiếm , và nếu có thì đó là tiếng lòng của một đấng máy râu ,xót xa , cảm hoài trước thời thế .Nếu xem Truyện Kiều ra đời sau khi Hồ Xuân Hương đẫ mất thì kiểu bộc lộc tâm tình đao là liền kề , ở Thuý Kiều ,với nhiều trạng huống ,sau khi tảo mộ ,gặp Kim Trọng (Một mình nặng ngắm bóng nga / Rộn ràng đường gần với nỗi xa bời bời…),lúc đã quyết định bán mình chuộc cha ( Nỗi riêng ,riêng những bàn hoàn /Dầu chong trắng đĩa , lệ tràn thấm khăn) , khi thất thân bởi Mã Giám Sinh (Đêm xuân một giấc mơ màng/Đuốc hoa đẻ đó mặc nàng nằm trơ/Nỗi riêng tầm tã tuôn mưa),hoặc lúc ở lầu xanh 9Khi tỉnh rượu lúc tàn canh /Giật mình mình lại thương mình xót xa)…

Đêm khuya thanh vắng là lúc con người thường đối diện với chính ản thân mình , để xót thương , để tự vấn , tự nhìn ngắm lại bản thân.Tự tình là một cách đối diện như thé . Đấy là lúc những âm vang của cuộc đời dường như không động đến con người ,song con người lại cảm nhận được cả bước đi của cuộc đời .Tiếng trống cnah chỉ văng vẳng , tức ngưòi nghe phải lắng tai nghe , nhưng nhịp điệu của nó thì đã qua đầy đủ ,với tất cả sự hối hả , thúc giục ( trông canh dồn ).Nó thúc giục người ta chẳng phải để hành động mà soi lại đời mình:
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Hồng nhan là gương mặt hồng , má hồng , đồng thời cũng để người đàn bà đẹp,người đàn bà đẹp .Cách Hồ Xuân Hương trên ,dưới bốn trăm năm có một người từng một mình một bóng dưới ánh trăng thanh , cũng cảm nhận bước đi của thời gian với bao u hoài:

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
(việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng , một cuộc say)
(Đặng Dung)
Người ấy là đấng trượng phu, đã sốt ruột , thậm chí đến đớn đau trước dòng thời đời tuôn chẩy trong sự bất lực của chính mình.
Còn ở đây , người đang cảm nhận vè cuộc đời lại là một phụ nữ.Thế cuộc cũng khác .Nguời đó biết được giá trị của mình ( là hồng nhan=người đàn bà đẹp ,có tài sắc ) .Nhưng biết được phẩm giá của mình không phải để sung sướng ,tự hào .Trái lại , biết chỉ thêm ngậm ngùi cay đắng.Vì sao như vậy? Từ cái đạt trước một dnah từ sẽ khiến danh từ ấy mang sác thái ngữ nghĩa của sự xem thường ,khinh miệt,như:cái thằng ấy ,cái con ấy v.v…hồng nhan vốn là danh từ để chỉ người đẹp khi đặt sau từ cái đã không còn nguyên giá trị nữa .Sự tươi xinh , đẹp đẽ kia chỉ có giá trị tự nó thôi.Chưa hết ,trước cái hông nhan là tính từ trơ,vốn có hàm nghĩa xấu ,chỉ sự không biết xấu hổ ( Cứ trơ cái mặt ấy ra! ), đồng thời chỉ sự lẻ loi ,không biết nương tựa vào đâu (Đứng trơ giữa đồng) .Hoá ra,hồng nhan -một phẩm giá con người trong cuộc thế này đã trở thành thứ gì chẳng có ích gì, thậm chí đang xấu hổ nữa!
Bốn câu thơ tiếp thưo ( thực và luân ) nói rõ thêm cái tình thế đáng buồn đó:
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây,đá mấy hòn.
Chén rượu cũng như miếng trầu là những thứ không làm cho người no nê,nhưng nhiều lúc khiến người ta vui sướng , thân mật , bớt buồn , quên đời.Thế mà,chén rượu ở đây không giúp ích điều đó ,bởi hương đưa say lại tỉnh.Vầng trăng tròn chỉ sự viên mãn ,tốt đẹp, song mong ước ấy mãi chưa tới ( Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn ).Thành ra hai câu luận có vẻ như tả cảnh ( về mặt đất ,về bầu trời ) mà thực ra là sự bộc lộ một thái độ bực dọc theo kiểu của Hồ Xuân Hương .Cuộc đời đang diễn ra trước mắt của nữ sĩ thật vẹo vọ,khập khễnh ,chẳng ra dáng ra hình gì !

Hai câu kết đẩy đến cùng tâm trạng của Hồ Xuân Hương trước cuộc đời:

Ngàn nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẽ tí con con! 
Cuộc đời đáng chán , đáng buồn như thế thì cái sự xuân tới ,xuân qua nào có gì đáng nói ? Nó lặp đi lặp lại buồn tẻ đến mức người ta phải ngán ngẩm .Thời Thơ Mới ,các thi sĩ thường hay bộc lộ nỗi sầu,nỗi khổ trước cuộc đời ( Tôi có chờ đợi ai đau / Ai mang xuân đến gửi thêm sầu -Chế Lan Viên...).Hồ Xuân Hương không nói tới nỗi buồn -dường như điều đó trái với bản tính của thi sĩ , người thích sự thẳng thắn , mạnh mẽ .Bà nói tới nỗi niềm ngán ngẩm .Phải buồn lắm , chán lắm ngưòi ta mới có tâm trạng như vậy .Và ,cũng phải đau đớn , phẫn uất lắm người ta mới có một cách thề như vậy trước cuộc đời! 
Sưu tầm

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
535 lượt xem

      Chi tiết nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng quyết định mật thiết đến sự thành công của tác phẩm. Nếu không có chi tiết nghệ thuật thì tác phẩm văn học dù ở thể loại nào đi chăng nữa thì cũng chỉ như cái vỏ âm thanh vô hồn không sức sống. Cũng vậy, Nam Cao cũng cần lắm những chi tiết nghệ thuật để “Chí Phèo” trở nên một kiệt tác hoàn hảo đạt đến sự chuẩn mực của nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa. Cùng với hình tượng nhân vật Chí Phèo, rất nhiều những chi tiết nghệ thuật khác đã góp phần vào thành công của truyện, mà ta không thể không kể đến một chi tiết dù bé nhỏ nhưng vô cùng giàu ý nghĩa và quan trọng góp phần bộc lộ tư tưởng của tác giả: “ những âm thanh mà Chí Phèo nghe được trong buổi sáng tỉnh dậy sau cơn say”.
      Chí Phèo là một đứa trẻ bị bỏ rơi, được một người đi thả ống lươn nhặt về. Từ bé đến năm hai mươi tuổi, Chí được nhân dân lao động cưu mang đùm bọc. Lớn lên trong sự lương thiện, đứa trẻ mồ côi Chí Phèo, dẫu cho phải làm thuê, cuốc mướn vẫn có một tấm lòng lương thiện và một cuộc sống tốt lành. Anh thanh niên hai mươi tuổi “hiền như đất” ấy còn có một ước mơ rất đỗi chính đáng: có một cuộc sống ổn định, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ ở nhà dệt vải, một ước mơ rất đỗi bình dị của người dân lao động. Thế nhưng phận đời đưa đẩy, Chí vào làm canh điền cho lí Kiến. Ở đây bánh xe cuộc đời Chí bắt đầu quay những vòng quay định mệnh, bắt đầu từ việc Chí mới hai mươi tuổi, phơi phới sức trai nên đã bị bà ba, một dạng phó đoan, bắt làm những việc bất chính. Bà ta cứ bắt Chí phải bóp chân, mà cứ bắt “bóp lên trên, lên trên nữa”. Chí thừa nhận, “hai mươi tuổi, người ta không là đá, nhưng cũng không toàn là xác thịt”, Chí ý thức được những việc mình đang làm, Chí không sa vào cám dỗ. Lòng tự trọng khiến Chí cảm thấy nhục nhã cho mình, nhưng lại sợ. Chính vì cơn ghen cuồng nộ của lí Kiến, Chí bị đẩy vào tù, cùng với một bài học cay đắng về cuộc sống: muốn tồn tại phải ác, phải mạnh.
      Trở về sau bảy, tám năm, Chí trở nên một tên gớm ghiếc, cái đầu trọc lốc, cái răng trắng hớn, cái mặt cơng cơng, hai mắt gườm gườm, trông Chí như một tên du côn, chẳng còn chút gì là anh thanh niên Chí Phèo ngày xưa nữa. Không những thế, những cử chỉ của Chí cũng khiến mọi người dè chừng khiếp sợ: uống rượu, chửi bới, lúc nào cũng sẵn sàng rạch mặt ăn vạ. Nhưng Chí chỉ thực sự trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại khi bị lí Kiến, giờ là bá Kiến, lợi dụng trở thành tay sai cho lão. Chí ngày càng hung hãn, ngang ngược trong những cơn say triền miên. Hắn đã chà đạp biết bao gia đình, đã làm khổ biết bao nhiêu máu và nước mắt của những người dân hiền lành, lương thiện. Chí làm tất cả những việc đó trong cơn say, và rồi cũng chính trong cơn say ấy, theo một cách bản năng, Chí gặp thị Nở - một người đàn bà xấu xí, ngẩn ngơ, ế chồng...
      Sáng hôm sau, Chí tỉnh dậy trong túp lều của mình. Lần đầu tiên sau mười mấy năm, Chí bắt đầu cảm nhận được thiên nhiên xung quanh mình. “Mặt trời chắc đã lên cao, và nắng bên ngoài bắt đầu rực rỡ”. Lần đầu tiên từ khi từ nhà tù trở về, Chí ý thức được cảnh vật đẹp đẽ đầy sức sống xung quanh mình. Tiếng chim hót ríu rít bên ngoài vọng vào tai Chí, âm thanh trong trẻo của tiếng chim khiến Chí chú ý đến những điều thường nhật vẫn diễn ra bên ngoài túp lều của mình. Những điều ấy thật đơn giản và ngày nào cũng có, thế nhưng tại sao maix cho đến tận giờ này Chí mới nhận ra sự có mặt của nó? Cũng như trong “Vợ chồng A Phủ”, khung cảnh thiên nhiên đầy sức sống vào độ xuân về Tết đến đã tác động vào tâm thức Mị giúp Mị bừng tỉnh trong cơn mê mất ý thức, thì trong “Chí phèo” Nam cao cũng sử dụng sức sống của thiên nhiên để đánh thức một kẻ đã bị cuốn vào dòng đời lầm lạc mà đánh mất bản thân mình. Từ khi trở về sau gần chục năm ở tù, lúc nào Chí cũng say, hắn tràn từ cơn say này đến cơn say khác, nhưng bây giờ hắn tỉnh. Hắn thực sự tỉnh táo để nhận ra được cuộc sống xung quanh mình, để cảm thấy bâng khuâng, thấy đắng miệng và đặc biệt là hắn thấy “lòng mơ hồ buồn”! Cuộc đời hắn có gì đáng buồn, nơi ở được bá Kiến chu cấp, không ai dám lên mặt với hắn, cái “nghề” của hắn cho hắn cái ăn mỗi ngày, vậy thì hắn có gì phải buồn? Nhưng cuộc đời đâu chỉ có thế, đâu chỉ quanh quẩn trong mỗi chuyện nơi ăn chốn ở, sự sống nó đòi hỏi nhiều thứ hơn, nhiều hơn những gì mà hắn đang có. Hắn nhận ra sự tương phản rõ ràng ngay trong chính căn lều của mình. Trong khi ngoài kia, chim chóc thi nhau hót ríu rít, ánh nắng rực rỡ tràn ngập mọi thứ thì trong cái lều ẩm thấp của hắn lại “mới chỉ hơi lờ mờ”. Trong cái lều chật hẹp ẩm thấp ấy, hắn đã quên hết mọi thứ xinh đẹp của cuộc sống, hắn lúc nào cũng chỉ thấy tù mù, như chính cuộc đời của hắn vậy, tối tăm đối lập với thế giới bên ngoài. “Ở đây, người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”. Điều đó khiến hắn “mơ hồ buồn”. Hắn buồn một nỗi buồn vô định, không rõ ràng, hắn lờ mờ nhận ra rằng cuộc đời mình thật đáng thương. Những cảm giác mơ hồ đến với hắn, thật nhẹ nhàng nhưng cũng đủ làm hắn phải suy nghĩ. Hắn đã tỉnh dậy sau một cơn say rượu, hay là một cơn say mất phương hướng.
       Hắn “bủn rủn, tay chân không buồn nhấc”, hắn hơi rùng mình khi nghĩ đến rượu. Hắn sợ rượu. Trong suốt ngần ấy năm đắm mình trong những cơn say không có bắt đầu và kết thúc, hắn đã uống quá nhiều rượu rồi. Hắn tìm đến rượu như một sự chạy trốn, để hắn khỏi phải đói mặt với cái thực tại tàn nhẫn bất công. Tiếng chim hót ngoài kia vẫn vẳng bên tai hắn. Cuộc sống ngoài ấy sao mà vui vẻ quá! Có tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, có tiếng cười nói của tiếng người đi chợ. Những âm thanh của cuộc sống lao động bình dị ấy đã xuyên qua thính giác của Chí, va đập vào tâm hồn của hắn, để rồi hắn thở dài một tiếng than: “Chao ôi là buồn!”. Nam cao đã thật tinh tế để có thể nhận ra nỗi buồn mơ hồ của Chí, nhưng lại càng sâu sắc hơn khi thấu hiểu tiếng than của Chí Phèo. Nỗi buồn mông lung ấy giờ đây đã dâng lên thành lời than, sự đối lập mà Chí nhìn thấy lại càng rõ ràng. Trong gần hai mươi năm sống kiếp quỷ dữ, Chí chỉ nghe thấy tiếng chửi bới, tiếng đánh đâp, tiếng khóc than, những âm thanh đó khác hẳn hoàn toàn với những gì Chí đang nghe thấy: tiếng cười nói của cuộc sống trong lành. Bản tính cốt yếu của sự sống chính là cảm giác và tư tưởng, cuộc sống của những con người bên ngoài kia mặc dù có lam lũ vất vả, nhưng ắt hẳn nó vẫn luôn lạc quan và ám áp vui tươi. Còn Chí, cuộc đời Chí chỉ có doạ nạt, đâm chém... Đó đâu phải là sống, đó là tồn tại vất vưởng bằng những chuỗi ngày đen tối nhất trong cuộc đời Chí. Anh thanh niên hai mưoi tuổi ngày nào đâu rồi, sao giờ chỉ còn lại kẻ mà ai cũng gớm ghiếc, ai cũng xem là quỷ dữ?! Chí không chỉ nghe bằng đôi tai cha sinh mẹ đẻ, mà Chí con nghe bằng đôi tai của một tâm hồn đã thức tỉnh.
     Nếu trong “Vợ chồng A Phủ”, tiếng sao đêm tình mùa xuân đưa Mị trở về với thời con gái hồn nhiên hạnh phúc, thì cũng với một tác động như vậy, Nam Cao đã để Chí Phèo nhớ về cái ước mơ một thời xa xăm của hắn qua tiếng những người đàn bà đi bán vải. Nam Cao đã đặc biệt chú ý miêu tả âm thanh này bằng một đoạn đối thoại, bởi điều này đặc biệt quan trọng đối với Chí Phèo. Hiện ra trong tâm trí hắn giờ đây là hình ảnh những người phụ nữ, tảo tần lam lũ vì gia đình, hết lòng lo cho chồng cho con. Cuộc sống của những người đàn bà ấy có thể vô cùng nhọc nhằn trong công việc mưu sinh, nhưng ấm áp vì hạnh phúc gia đình. Điều đó làm hắn cảm thấy “nao nao buồn”. Nỗi buồn không những dâng lên thành tiếng than mà giờ đây đã khiến hắn rưng rưng cảm động. Hắn tìm lại cái ước mơ hắn bỏ quên trong hai mươi năm qua: một gia đình nho nhỏ, đầm ấm. Hắn không cần những điều cao xa, hắn chỉ ao ước có một gia đình bình thường, “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”, nhưng cái ước mơ ấy dường như đã rất xa rồi. Cái ước mơ hạnh phúc ấy thật đơn xơ nhỏ bé đến tội nghiệp, nhưng Chí vẫn không thể với tới được nữa rồi. Hắn thấy mình thật cô độc. Hắn như cười buồn cho mình: “Buồn thay cho đời!”. Hắn thấy mình thật thảm hại, thấy mình “đã tới cái dốc bên kia của đời”. Nỗi buồn của hắn cũng vì thế mà mang tính triết lí của một người đã biết suy nghĩ. “Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Câu văn thật lạ, theo lẽ thường tình, chữ “và” không được phép xuất hiện sau dấu phẩy, nhưng ở đây Nam Cao lại để cả hai hiện diện cùng lúc nhằm mục đích nhấn mạnh sự đáng sợ của nỗi cô độc. Nam Cao luôn đề cao con người tư tưởng, ông đặc biệt chú ý đến những hoạt động bên trong con người và coi đó là nguyên nhân của những hành động bên ngoài, chính vì thế nỗi cô độc là một điều vô cùng đáng sợ, đáng sợ hơn tất thảy những thứ khác. Chí Phèo sợ điều ấy. Hắn khao khát muốn được giao tiếp với cuộc sống bằng phẳng lương thiện bên ngoài, và đúng lúc ấy thì chiếc cầu nối đưa hắn trở về với thế giới vốn dĩ của hắn – thị Nở bước vào. Thị, chính thị sẽ mở cánh cổng để hắn bước vào thế giới của thị, để hắn trở về với hình ảnh anh thanh niên hiền lành, chất phác ngày nào. Bằng sự thương cảm xót xa trước cảnh đời bất hạnh, nam Cao đã để thị Nở thay mặt mình giúp Chí Phèo nhận thức được cuộc sống, thay đổi quan niệm sống và thức tỉnh ý thức mình.
      Nếu như thị Nở là con đường để Chí Phèo làm lại cuộc đời thì những âm thanh Chí nghe được trong buối sáng sau cơn say đã tác động vào tâm thức Chí, giúp Chí nhận ra hiện tại và nhớ về quá khứ, đồng thời khơi dậy nơi Chí một khao khát sống. Nam cao đã nhờ vào những âm thanh ấy mà miêu tả tâm lí Chí Phèo một cách chân thực, logic với nỗi buồn rất riêng. Nỗi buồn của Chí được miêu tả nhiều lần, mỗi lần lại là một cung bậc, một sắc thái khác nhau, gắn với một nguyên cớ khác nhau. Nỗi buồn ấy cho dù được miêu tả ở nhiều góc cạnh, song cuối cùng cũng đưa đến một mục đích: đánh dấu sự thức tỉnh của Chí Phèo. Chí giờ đây không còn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa mà đã trở thành một con người với những sắc thái cảm xú rất nhân bản, những chi tiết âm thanh ấy cũng vì thế mà trở nên rất quan trọng. Tếng chim hót rất đỗi bình dị, nhưng Nam Cao đã chọn nó để miêu tả sức sống của thiên nhiên; tiếng anh chèo gõ mái đuổi cá kia ngày nào cũng có, nhưng hôm nay Nam Cao đặc biệt nhắc đến để Chí Phèo nhận ra những âm thanh quen thuộc của đời sống lao động bình thường; và đặc biệt giữa muôn vàn những âm thanh, có thể lẫn lộn đâu đó tiếng chửi bới của một phiên chợ, nhưng Nam Cao đã phát hiện và ưu ái chọn lọc tiếng cười nói của những người đàn bà đi bán vải để gợi Chí Phèo nhớ đến cái mơ ước của một thời xa xôi. 
      Cũng như trong “Vợ chồng A Phủ”, tiếng sáo đêm tình mùa xuân được Tô Hoài miêu tả một cách công phu thì những chi tiết âm thanh ấy cũng đã được Nam Cao chọn lọc và miêu tả một cách chi tiết để làm nổi bật lên chủ đề tư tưởng nhân đạo cao đẹp của tác phẩm. Nam Cao đã phát hiện ra phần tốt đẹp trong con người Chí Phèo, để rồi xót thương, cảm thông và tin tưởng vào niềm khao khát sống một cuộc sống lương thiện và khát vọng muốn hưởng hạnh phúc chính đáng của Chí. Chính điều đó đã tạo nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm, đưa tác phẩm tiến gần về đỉnh cao nghệ thuật của văn học Việt Nam.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

1. Yêu cầu về kĩ năng:

_ Biết cách làm một bài nghị luận văn học để cảm nhận tác phẩm về nội dung, nghệ thuật

_ Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp, dùng từ

2. Yêu cầu về kiến thức:

Trên cơ sở hiểu biết, thí sinh trình bày theo nhiều cách nhưng cần nêu được những ý chính sau:

1. Tác giả, tác phẩm:

- Tác giả: Nguyễn Tuân là nhà văn mang phong cách tài hoa, uyên bác

- Tác phẩm: “Chữ người tử tù” rút ra từ tập “Vang bóng một thời” (1940), không chỉ thành công về nội dung mà còn có những nghệ thuật đặc sắc, nhất là tạo tình huống truyện độc đáo.
2. Phân tích cụ thể:

- Tìm hiểu về tình huống truyện trong tác phẩm tự sự, trong “Chữ người tử tù”

+ Sự gặp gỡ giữa những tâm hồn yêu cái đẹp trong hoàn cảnh éo le, đầy kịch tính.

+ Quản ngục, thơ lại là người có quyền trong nhà tù – Huấn Cao, phạm nhân đều hướng về cái đẹp của nghệ thuật thư pháp

- Khai thác tình huống truyện xoay quanh hai tuyến nhân vật:

+ Huấn Cao:

· Tài viết chữ đẹp hấp dẫn quản ngục, ông xem việc có được chữ của ông Huấn là có báu vật trên đời

· Tâm: yêu nước, hiên ngang, bất khuất của người có tài, “biệt nhỡn liên tài” để tìm người giữ chữ cho đời (chọn dẫn chứng và phân tích để làm bật lên những ý trên)

+ Quản ngục, thơ lại:

· Hai nhân vật này hợp lại để xin và giữ chữ bằng cái tâm hướng về cái đẹp

· Yêu cái đẹp đến độ dám chơi chữ với tử tù (chọn dẫn chứng và phân tích)

+ Và kết thúc của tình huống truyện là “cảnh cho chữ lạ lùng chưa từng có”:

· Cho chữ ở nhà ngục tử tù bật lên sự tồn tại vĩnh hằng của thư pháp ngay chốn tử tù

· Sự thay bậc đổi ngôi: người tù thì đứng, dù cổ mang gông, chân vướng xiềng vẫn ung dung cho chữ, còn thơ lại, quản ngục run run, khúm núm.

· Nhà tù tối tăm, hôi hám, dơ bẩn nhưng sáng rực với bó đuốc soi rọi trên ba cái đầu chụm vào nhau cùng hướng về tấm lụa bạch và mùi thơm của thoi mực.

· Sức mạnh của thư pháp cảm hứng kẻ lầm đường lạc lối về với nẻo chính đường ngay (minh họa và phân tích)

- Cảm nhận chung: Nghệ thuật tạo tình huống truyện trong “Chữ người tử tù” làm bật lên tư tưởng, nội dung của tác phẩm “Chữ người tử tù”.

3. Đánh giá tác giả, nghệ thuật tạo tình huống truyện của tác phẩm.


0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem


A. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:

Tuy đề bài yêu cầu phân tích nhân vật người lái đò, nhưng trước khi tiến hành, cần giới thiệu vài nét về hình ảnh con sông Đà – cái nền để người lái đò xuất hiện. Khi so sánh nhân vật người lái đò với nhân vật Huấn Cao, phải làm rõ vài nét về vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao để tìm được chỗ thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám.

B. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:

1. Phân tích nhân vật người lái đò sông Đà:

1.1. Vài nét về hình ảnh con sông Đà: Sông Đà hiện lên thật hung dữ nhưng cũng không kém phần thơ mộng, trữ tình là cái nền để người lái đò xuất hiện..

1.2. Nhân vật người lái đò sông Đà:

a. Ông lái đò có ngoại hình và những tố chất khá đặc biệt: tay "lêu nghêu", chân "khuỳnh khuỳnh", "giọng ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh", "nhỡn giới vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó"... Đặc điểm ngoại hình và những tố chất này được tạo nên bởi nét đặc thù của môi trường lao động trên sông nước.

b. Ông lái đò là người tài trí, luôn có phong thái ung dung pha chút nghệ sĩ: ông hiểu biết tường tận về "tính nết" của dòng sông, "nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở", "nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá", "thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở", biết rõ từng cửa tử, cửa sinh trên "thạch trận" sông Đà. Đặc biệt, ông chỉ huy các cuộc vượt thác một cách tài tình, khôn ngoan và biết nhìn những thử thách đã qua bằng cái nhìn giản dị mà không thiếu vẻ lãng mạn...

c. Ông lái đò rất mực dũng cảm trong những chuyến vượt thác đầy nguy hiểm: tả xung hữu đột trước "trùng vi thạch trận" của sông Đà, kiên cường nén chịu cái đau thể xác do cuộc vật lộn với sóng thác gây nên, chiến thắng thác dữ bằng những động tác táo bạo mà vô cùng chuẩn xác, mạch lạc (tránh, đè sấn, lái miết một đường chéo, phóng thẳng...).

d. Ông lái đò là một hình tượng đẹp về người lao động mới. Qua hình tượng này, Nguyễn Tuân muốn phát biểu quan niệm: người anh hùng không phải chỉ có trong chiến đấu mà còn có cả trong cuộc sống lao động thường ngày. Ông lái đò chính là một người anh hùng như thế.

2. So sánh với nhân vật Huấn Cao:

2.1. Nhân vật Huấn Cao:

a. Nhân vật Huấn Cao trong truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân là một con người tài hoa, khí phách hiên ngang bất khuất, “thiên lương” trong sáng.

b. Vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao là vẻ đẹp lãng mạn, có sức chinh phục, cảm hóa mãnh liệt đối với những con người có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”.

c- Hình tượng ông Huấn Cao là hình tượng điển hình cho vẻ đẹp ‘vang bóng một thời” nay đã lùi vào quá khứ chỉ còn dư âm trong tâm trạng của những tấm lòng tích cổ thương kim ( Những người muôn năm cũ/Hồn ở đâu bây giờ- Vũ Đình Liên)

2.2. Từ việc tìm hiểu vài nét về vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao, chúng ta sẽ dễ thấy được chỗ thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám.

a- Nét chung (tính thống nhất): 

- Nguyễn Tuân vẫn tiếp cận con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ.

- Vẫn là ngòi bút tài hoa, uyên bác, lịch lãm, vận dụng tri thức tổng hợp của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật khác nhau trong miêu tả và biểu hiện.

- Vẫn sử dụng vốn ngôn từ hết sức tinh lọc, phong phú, độc đáo. Khả năng tổ chức câu văn xuôi đầy giá trị tạo hình, có nhạc điệu trầm bổng, biết co duỗi nhịp nhàng. Các phép tu từ được nhà văn phối hợp vô cùng điêu luyện.

b- Nét riêng (tính khác biệt):

- Trước Cách mạng tháng Tám, con người Nguyễn Tuân hướng tới và ca ngợi là những “con người đặc tuyển, những tính cách phi thường”. Sau Cách mạng tháng Tám, nhân vật tài hoa nghệ sĩ của Nguyễn Tuân có thể tìm thấy ngay trong cuộc chiến đấu, lao động hàng ngày của nhân dân.

- Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân là một người tài tử, thích chơi “ngông”, mắc cái bệnh ham mê thanh sắc, thích chiêm ngưỡng, chắt chiu cái Đẹp và nhấm nháp những cảm giác mới lạ. Sau Cách mạng tháng Tám, nhà văn nhạy cảm với con người mới, cuộc sống mới từ góc độ thẩm mĩ của nó. Nhưng không còn là một Nguyễn Tuân “nghệ thuật vị nghệ thuật” nữa. Ông đã nhìn cái đẹp của con người là cái đẹp gắn với nhân dân lao động, với cuộc sống đang nẩy nở sinh sôi, đồng thời lên án, tố cáo chế độ cũ, khẳng định bản chất nhân văn của chế độ mới.


Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945. Chí Phèo có lẽ là tác phẩm thành công hơn cả trong việc đem lại cho người đọc những ấn tượng mạnh mẽ, không thể quên về bức tranh đen tối ngột ngạt, bế tắc của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, đồng thời thức tỉnh cái phần lương tri tốt đẹp nhất của con người, khơi dậy lòng căm ghét cái xã hội vạn ác đã chà đạp lên nhân phẩm con người, thương xót, cảm thông với những thân phận cùng đinh bị giày vò, tha hóa trong chế độ cũ. Căm ghét xã hội thực dân phong kiến thối nát, phê phán mãnh liệt các thế lực thống trị xã hội, trên cơ sở cảm thông, yêu thương trân trọng con người, nhất là những con người bị vùi dập, chà đạp, đó là cảm hứng chung của các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 30-45. Tuy nhiên, trong tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao đã khám phá hiện thực ấy bằng một cái nhìn riêng biệt. Nam Cao không trực tiếp miêu tả quá trình bần cùng, đói cơm, rách áo dù đó cũng là một hiện thực phổ biến. Nhà văn trăn trở, suy ngẫm nhiều hơn đến một hiện thực con người: con người không được là chính mình, thậm chí, không còn được là con người mà trở thành một con “quỉ dữ”, bởi âm mưu thâm độc và sự chà đạp của một guồng máy thống trị tàn bạo. Với một cái nhìn sắc bén, đầy tính nhân văn, bằng khả năng phân tích lý giải hiện thực hết sức tinh tế, bằng vốn sống dồi dào và trái tim nhân ái, nhà văn đã xây dựng nên một tác phẩm với những giá trị hiện thực và nhân đạo đặc sắc không thể tìm thấy ở các nhà văn đương thời. 

Thật ra trong bất cứ tác phẩm nghệ thuật chân chính nào, giá trị hiện thực bao giờ cũng đi liền với giá trị nhân đạo. Tác phẩm càng xuất sắc, những giá trị ấy càng thẩm thấu, thống nhất với nhau, khó tách rời. Chí Phèo của Nam Cao cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Bởi vì nội dung phản ánh (và tiếp nhận) - yêu thương, trân trọng hay căm ghét, khinh bỉ? Tách riêng ra hai giá trị là làm phá vỡ sự gắn liền hữu cơ của một chỉnh thể nghệ thuật vốn dĩ thống nhất. 

Đọc xong tác phẩm Chí Phèo ta thấy gì? Mở đầu tác phẩm là cảnh Chí Phèo ngật ngưởng trên đường đi vừa chửi, từ trời đến người, tiếng chửi hằn học, cay độc và chua xót. Kết thúc là cảnh Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu là máu tươi. Bao trùm lên tất cả, tác phẩm ám ảnh ta một không khí ngột ngạt, bế tắc đến khủng khiếp, đầy những mâu thuẫn không thể dung hòa của một làng quê Việt Nam trước Cách mạng, với bao cảnh cướp bóc, dọa nạt, giết chóc, ăn vạ, gây gổ… trong đó Chí Phèo hiện lên như một biếm họa tiêu biểu. Hãy nghe nhà văn miêu tả: “Bây giờ thì hắn trở thành người không tuổi rồi. Ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay là ngoài bốn mươi. Cái mặt hắn không trẻ cũng không già; nó không còn phải là mặt người: nó là mặt một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?. Sau khi ở tù về, hắn đã trở thành một con quỉ dữ của làng Vũ Đại mà không tự biết. Cuộc đời hắn không có ngày tháng bởi những cơn say triền miên. Hắn ăn trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt, chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận. Chưa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ chưa bao giờ hắn tỉnh để nhớ hắn có ở đời. Có lẽ hắn cũng biết rằng hắn là quỉ dữ của làng Vũ Đại để tác quái cho bao nhiêu dân làng. Hắn đâu biết hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đập đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu nước mắt của bao nhiêu người lương thiện… Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua…” Đoạn văn chất chứa bao nhiêu nỗi thống khổ của một thân phận đã không còn được cuộc sống của một con người. Những năng lực vốn có của một con người - năng lực cảm xúc, nhận thức - hầu như bị phá hủy, chỉ còn lại năng lực đâm chém, phá phách. Chí Phèo bị phá hủy nhân tính lẫn nhân hình như thế bởi đâu? Nhà văn không tập trung miêu tả dông dài quá trình tha hóa ấy. Ông thiên về lí giải phân tích cái cội nguồn sâu xa dẫn đến kết cục bi thảm của nó, chỉ bằng một số phác thảo đơn sơ về Bá Kiến, về nhà tù, về bà cô Thị Nở, về dư luận xã hội nói chung… Trong hàng loạt mối liên kết ấy, người đọc dễ dàng nhận ra: sở dĩ Chí Phèo (và không chỉ Chí Phèo mà cả những Năm Thọ, những Binh Chức - cả một tầng lớp được nhà văn cá thể hóa qua nhân vật Chí Phèo) từ một thanh niên lành như cục đất hoá thành con quỉ dữ là bởi vì Chí, ngay từ thuở lọt lòng đã thiếu hẳn tình ấp ủ yêu thương, và đặc biệt khi lớn lên, chỉ được đối xử bằng rẻ khinh, thô bạo và tàn nhẫn. Thủ phạm trực tiếp là Bá Kiến được nhà văn miêu tả là một con cáo già “khôn róc đời”, “ném đá giấu tay”, “già đời trong nghề đục khoét”, biết thế nào là “mềm nắn rắn buông”, “Hay ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng lại dắt nó lên để nó đền ơn. Hay đập bàn đập ghế đòi cho được 5 đồng, nhưng được rồi lại vứt trả lại 5 hào vì thương anh túng quá!”. Chính hắn đã lập mưu đẩy Chí Phèo vào chỗ tù tội oan uổng và sau đó sử dụng Chí Phèo như một tay sai đắc lực phục vụ cho lợi ích và mưu đồ đen tối của mình. Không có Bá Kiến thì không có Chí Phèo, nhưng Chí Phèo không chỉ là sản phẩm của sự thống trị mà thậm chí là phương tiện tối ưu để thống trị: “không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị mấy thằng đầu bò”. Chính Bá Kiến đã rút ra cái kết luận mà theo hắn rất chí lí ấy. Là một tội nhân, nham hiểm, nhẫn tâm, nhưng Bá Kiến lại hiện ra bề ngoài như một kẻ ôn hòa, xởi lởi, biết điều, khiến người đời phải nhìn bằng cặp mắt “kính cẩn”… Vì thế mà hắn đã lường gạt được bao nhiêu dân chất phác lương thiện. Chí Phèo trở thành tay chân đắc lực của hắn; thật sự biến thành công cụ, phương tiện thống trị cho kẻ thù của mình mà không tự biết. Bá Kiến hiện ra trong tác phẩm Chí Phèo như một nhân vật điển hình, sống động và cá biệt, tiêu biểu cho một bộ phận của giai cấp thống trị, được miêu tả, khám phá dưới một ngòi bút bậc thầy. Cùng với hắn là Lý Cường, là chánh Tổng, là đội Tảo… Chính bọn chúng đem lại không khí ngột ngạt khó thở cho nông thôn Việt Nam thành cái thế “Quần ngư tranh thực” (bọn đàn anh chỉ là một đàn cá tranh mồi, chỉ trực rình rập tiêu diệt nhau). 

Chính chúng là thủ phạm gây ra bi kịch của những Chí Phèo… Số phận của Năm Thọ, Binh Chức, tuy chỉ được nhắc qua tác phẩm, nhưng cũng góp phần chỉ ra tính hệ thống và phổ biến của phương cách tha hóa người dân trong sự thống trị của chúng. Đằng sau những Bá Kiến, Lý Cường, Chánh Tổng… như một sự hỗ trợ gián tiếp nhưng tích cực là hệ thống nhà tù dã man, bẩn thỉu - cả một điều kiện môi trường bất hảo. Quá trình Chí Phèo ở tù không được miêu tả trực tiếp, chỉ biết rằng khi vào tù Chí Phèo là người hiền lành lương thiện. Ra khỏi tù, hắn trở về với cái vẻ hung đồ, cái thói du côn ương ngạnh học được từ đấy. Nhà văn chỉ nói có thế. Nhưng như thế với bạn đọc thông minh cũng đã quá đủ! 

Bằng bút pháp độc đáo, tài hoa linh hoạt, giàu biến hóa, Nam Cao khi tả, khi kể theo một kết cấu tâm lý và mạch dẫn dắt của câu chuyện với một cách thức bề ngoài tưởng chừng như khách quan, lạnh lùng và tàn nhẫn, nhưng chất chứa bên trong biết bao nỗi niềm quằn quại, đau đớn trước thân phận đau đớn của kiếp người. Lồng vào bức tranh hiện thực trên kia là thái độ yêu ghét, là cách phân tích và đánh giá những vấn đề về hiện thực mà nhà văn đặt ra. Ngay việc lựa chọn một nhân vật cùng đinh thống khổ nhất của xã hội làm đối tượng miêu tả và gởi gắm biết bao thông cảm, suy tư thương xót… tự nó đã mang nội dung nhân đạo. Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm thể hiện tập trung nhất ở cách nhìn nhận của nhà văn đối với nhân vật bị tha hóa đến tận cùng. Nam Cao vẫn phát hiện trong chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp vốn dĩ, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết. Sự xuất hiện của nhân vật Thị Nở trong tác phẩm có một ý nghĩa thật đặc sắc. Con người xấu đến “ma chê quỉ hờn”, kỳ diệu thay, lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã rọi vào chốn tối tăm của tâm hồn Chí Phèo thức tỉnh, gợi dậy bản tính người nơi Chí Phèo, thắp sáng một trái tim đã ngủ mê qua bao ngày tháng bị dập vùi, hất hủi. Sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với Thị Nở, Chí Phèo giờ đây đã nhận ra nguồn ánh sáng ngoài kia rực rỡ biết bao, nghe ra một tiếng chim vui vẻ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, tiếng lao xao của người đi chợ bán vải… Những âm thanh ấy bao giờ chả có. Nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy. Chao ôi là buồn, trong cái phút tỉnh táo ấy, Chí Phèo như đã thấy tuổi già của hắn, đói rét, ốm đau và cô độc - cái này còn sợ hơn đói rét và ốm đau. Cũng may Thị Nở mang bát cháo hành tới. Nếu không, hắn đến khóc được mất trong tâm trạng như thế… Nhìn bát cháo bốc khói mà lòng Chí Phèo xao xuyến bâng khuâng: Hắn cảm thấy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với thị như làm nũng với mẹ… Ôi sao mà hắn hiền! “Hắn thèm lương thiện - Hắn khát khao làm hòa với mọi người”… Từ một con quỉ dữ, nhờ Thị Nở, đúng hơn nhờ tình thương của Thị Nở, Chí thực sự được trở lại làm người, với tất cả những năng lực vốn có. Một chút tình thương, dù là tình thương của một con người dở hơi, bệnh hoạn, thô kệch, xấu xí,… cũng đủ để làm sống dậy cả một bản tính người nơi Chí Phèo. Thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu biết nhường nào! 

Bằng chi tiết này, Nam Cao đã soi vào tác phẩm một ánh sáng nhân đạo thật đẹp đẽ - Nhà văn như muốn hòa vào nhân vật để cảm thông, chia sẻ những giây phút hạnh phúc thật hiếm hoi của Chí Phèo… 

Nhưng, bi kịch và đau đớn thay, rốt cuộc thì ngay Thị Nở cũng không thể gắn bó với Chí Phèo. Chút hạnh phúc nhỏ nhoi cuối cùng vẫn không đến được với Chí Phèo. Và thật là khắc nghiệt, khi bản tính người nơi Chí Phèo trỗi dậy, cũng là lúc Chí Phèo hiểu rằng mình không còn trở về với lương thiện được nữa. Xã hội đã cướp đi của Chí quyền làm người và vĩnh viễn không trả lại. Những vết dọc ngang trên mặt, kết quả của bao nhiêu cơn say, bao nhiêu lần đâm chém, rạch mặt ăn vạ… đã bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời. Và, như Đỗ Kim Hồi nói, “một khi người được nếm trải chút ít hương vị làm người thì cái xúc cảm người sẽ không thể mất… Đấy là mối bi thảm tột cùng mà cách giải quyết chỉ có thể là cái chết”. (Tạp chí Văn học số 3-1990) 

Cái chết bi thảm của Chí Phèo là lời kết tội đanh thép cái xã hội vô nhân đạo, là tiếng kêu cứu về quyền làm người, cũng là tiếng gọi thảm thiết cấp bách: Hãy cứu lấy con người! Hãy yêu thương con người! 

Đó là tư tưởng, tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc mà người đọc rút ra được từ những trang sách giàu tính nghệ thuật của Nam Cao. Sự kết hợp giữa giá trị hiện thực sắc bén và giá trị nhân đạo cao cả đã làm cho tác phẩm Chí Phèo bất tử, mãi mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ trong tâm hồn người đọc mọi thời đại. 


0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

                                                                                   Bài làm

Thạch Lam là một hiện tượng khá lạ trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945: có chân trong một nhóm văn học lãng mạn, nhóm Tự Lực văn đoàn, Thạch Lam lại có những truyện ngắn đầy tinh thần hiện thực. Ông có một phong cách riêng, một chủ trương riêng về sáng tác. Ông nói : 

“Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly trong sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo vừa thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”. 

Ta có thể rút ra trong quan niệm của Thạch Lam về mục đích của văn học, văn chương, những ý kiến chính xác và bổ ích. 

Trước hết, Thạch Lam từ chối thứ văn chương đem đến cho nguời đọc “sự thoát li trong sự quên”. 

Thế nào là văn chương đem đến “sự thoát ly trong sự quên”? có nhiều thứ văn chương: có thứ văn chương lấy văn chương làm mục đích, tôn cái đẹp làm cứu cánh; đọc văn chương như vào chốn đền thiêng, đứng trên cuộc đời, ở ngoài cuộc đời, đọc để siêu thoát, để quên mọi nỗi lầm than cực nhọc ở đời. Có thứ văn chương tô vẽ cuộc sống thành chốn bồng lai, coi cuộc đời như một nơi chỉ toàn lạc thú để nguời ta chỉ sống “vui vẻ trẻ trung”. Có thứ văn chương đưa người ta vào ảo mộng, lên tiên cảnh, vào những cuộc vui bất tận, tìm ở nơi đó niềm an ủi, chốn ốc đảo để tránh mọi thương đau. Những thứ văn chương ấy nhiều khi có sức mê hoặc lạ lùng, như thứ thuốc an thần cực mạnh có thể làm cho người đọc tạm quên cuộc đời để mà thoát ly nó, lẫn tránh nó. Đương thời Thạch Lam, giữa lúc trên văn đàn Việt Nam đầy rẫy thứ văn chương như thế; từ chối thứ văn chương đem đến “sự thoát ly trong sự nghiệp”, quả là một điều rất độc đáo và tiến bộ. Là một trong những nhân vật chủ chốt của Tự Lực văn đoàn, em ruột của Nhất Linh và Hoàng Đạo, bạn thân thiết của Khái Hưng, mạnh dạn phát biểu sự từ chối ấy, Thạch Lam tỏ ra là một nhà văn đầy bản lĩnh. Rõ ràng quan niệm văn chương của Thạch Lam rất gần gũi với quan niệm của các nhà văn hiện thực giai đọan 1930-1945 như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng. 

Quan điểm của Thạch Lam về văn chương là một quan điểm “nhập cuộc”. Đánh giá cao tác dụng của văn chương đối với đời sống, Thạch Lam chủ trương văn chương là “một thứ khí giới thanh cao và đắc lực”. Khi coi văn chương là “một thứ khí giới”, Thạch Lam rất gần gũi với những nhà văn thơ đã từng là những chiến sĩ đấu tranh cho độc lập, tự do trong lịch sử như Nguyễn Đình Chiểu cách đó gần một trăm năm: 

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm 
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà. 

hay như Hồ Chí Minh mà có lẽ ông chưa hề được đọc: 

Nay ở trong thơ nên có thép… 

Thạch Lam tỏ ra rất tinh tế và hiểu rõ đặc trưng của văn học khi gọi văn chương là 
“thứ khí giới thanh cao”. Văn học là một thứ vũ khí đặc biệt, thứ vũ khí tinh thần, lấy sức mạnh tinh thần làm chính, được tạo nên bởi một thứ chất liệu thanh cao là nghệ thuật, là cái đẹp chân chính của nghệ thuật, của hình tượng và ngôn ngữ nghệ thuật. Mặc dầu thế, văn chương vẫn là một “thứ khí giới đắc lực” trong công cuộc đấu tranh và cải tạo xã hội. Nắm được đặc trưng của văn học và hiểu rõ khả năng của nó có thể làm được những gì trong cuộc sống, Thạch Lam đã xác định rõ mục đích viết văn của mình là “vừa tố cáo vừa thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người trong sạch và phong phú hơn”. Quan niệm của Thạch Lam hơn năm chục năm trước sao mà giống với quan niệm của chúng ta ngày nay lạ lùng. Thạch Lam đã không ngại ngần khi vạch rõ hai nét bản chất của cái xã hội mà ông đang sống: giả dối và tàn ác. Đó là hai sản phẩm đồng thời cũng là hai chỗ dựa để tồn tại của xã hội ấy. Những nhà văn hiện thực chủ nghĩa như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao… với tài nghệ xuất sắc của mình, chẳng đã hết sức cố gắng để làm nổi bật những bức tranh xã hội với hai bản chất đó là gì? Với Thạch Lam, văn chương không chỉ tố cáo mà còn làm thay đổi xã hội đó.

Nhưng với văn chương của mình, Thạch Lam có thể làm gì để thay đổi cái “thế giới giả dối và tàn ác” ấy? Có lẽ tác động thay đổi nằm ngay trong sự tố cáo, tố cáo để xóa bỏ cái giả dối và tàn ác, để thay thế sự tàn ác và giả dối bằng cái thiện, cái chân, cái mĩ, những lý tưởng mà bất kỳ một nền nghệ thuật chân chính nào cũng tôn thờ. Mặt khác, Thạch Lam còn muốn thay đổi xã hội bằng một cách nữa, đó là “làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”. Thạch Lam quả đã rất tin tưởng ở khả năng diệu kỳ của văn chương, sức tác động mãnh liệt của văn chương vào tâm hồn con người, nó có thể đem đến cho con người những khát vọng cao cả, những tình cảm tốt đẹp, làm cho đời sống con người trở nên giàu có hơn. 

Thạch Lam không phải là một nhà lý luận. Ông là một nhà văn. Thạch Lam nói không phải để khuyên bảo ai, ông nói để khẳng định con đường của mình, cho mình. Ông nói để làm theo. Quả nhiên, số tác phẩm không nhiều nhưng đầy đủ giá trị nghệ thuật mà Thạch Lam để lại từ cuộc đời cầm bút ngắn ngủi của mình, đã là sự minh chứng cho lời ông nói. Thật ra, sức tố cáo, nhất là tố cáo cái ác, trong các truyện ngắn của Thạch Lam không lớn. Nhưng quả tình, mỗi truyện ngắn của Thạch Lam đều có sức “làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”. “Dưới bóng hoàng lan” đem đến trong ta tình yêu đậm đà đối với quê hương, đối với những vẻ đẹp trong sạch của cuộc sống, của tình người. “Một cơn giận”, “Đói”, “Gió lạnh đầu mùa”…. Giúp ta tự mình biết độ lượng hơn, trắc ẩn hơn, vị tha hơn. “Hà nội băm sáu phố phường ”giúp ta sống phong phú với sự cảm nhận ra vẻ đẹp trong những điều hết sức nhỏ bé trên đất nước mình, dầu chỉ là hương thoảng nhẹ của hạt cốm vàng hay mùi thơm gắt của bát nước mắm có vị cà cuống… “Nhà mẹ Lê”, “Hai đứa trẻ” làm dâng lên trong ta nỗi phẫn uất, xót xa về những cuộc đời nghèo khổ, tối tăm… Là một nhà văn thuộc một nhóm văn học lãng mạn, Thạch Lam lại viết những tác phẩm gần với Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng .. hơn là với các nhà văn lãng mạn. 

Có thời, do một vài định kiến thiếu căn cứ, văn học ta chưa đánh giá đúng mức Thạch Lam, tác phẩm của Thạch Lam. Nếu đánh giá nhà văn là phải qua tác động của tác phẩm đối với người đọc, và cả những gì mà họ nói về cuộc sống và văn học, ta có thể khẳng định: Thạch Lam là một trong những nhà văn xuất sắc của văn học Việt Nam giai đọan 1930-1945. Thạch Lam không những có đóng góp to lớn về mặt nghệ thuật mà còn có tác động sâu sắc đối với xã hội, đối với việc xây dựng con người. 

0
phiếu
0đáp án
814 lượt xem

Chi tiết nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng quyết định mật thiết đến sự thành công của tác phẩm. Nếu không có chi tiết nghệ thuật thì tác phẩm văn học dù ở thể loại nào đi chăng nữa thì cũng chỉ như cái vỏ âm thanh vô hồn không sức sống. Cũng vậy, Nam Cao cũng cần lắm những chi tiết nghệ thuật để “Chí Phèo” trở nên một kiệt tác hoàn hảo đạt đến sự chuẩn mực của nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa. Cùng với hình tượng nhân vật Chí Phèo, rất nhiều những chi tiết nghệ thuật khác đã góp phần vào thành công của truyện, mà ta không thể không kể đến một chi tiết dù bé nhỏ nhưng vô cùng giàu ý nghĩa và quan trọng góp phần bộc lộ tư tưởng của tác giả: “ những âm thanh mà Chí Phèo nghe được trong buổi sáng tỉnh dậy sau cơn say”.

Chí Phèo là một đứa trẻ bị bỏ rơi, được một người đi thả ống lươn nhặt về. Từ bé đến năm hai mươi tuổi, Chí được nhân dân lao động cưu mang đùm bọc. Lớn lên trong sự lương thiện, đứa trẻ mồ côi Chí Phèo, dẫu cho phải làm thuê, cuốc mướn vẫn có một tấm lòng lương thiện và một cuộc sống tốt lành. Anh thanh niên hai mươi tuổi “hiền như đất” ấy còn có một ước mơ rất đỗi chính đáng: có một cuộc sống ổn định, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ ở nhà dệt vải, một ước mơ rất đỗi bình dị của người dân lao động. Thế nhưng phận đời đưa đẩy, Chí vào làm canh điền cho lí Kiến. Ở đây bánh xe cuộc đời Chí bắt đầu quay những vòng quay định mệnh, bắt đầu từ việc Chí mới hai mươi tuổi, phơi phới sức trai nên đã bị bà ba, một dạng phó đoan, bắt làm những việc bất chính. Bà ta cứ bắt Chí phải bóp chân, mà cứ bắt “bóp lên trên, lên trên nữa”. Chí thừa nhận, “hai mươi tuổi, người ta không là đá, nhưng cũng không toàn là xác thịt”, Chí ý thức được những việc mình đang làm, Chí không sa vào cám dỗ. Lòng tự trọng khiến Chí cảm thấy nhục nhã cho mình, nhưng lại sợ. Chính vì cơn ghen cuồng nộ của lí Kiến, Chí bị đẩy vào tù, cùng với một bài học cay đắng về cuộc sống: muốn tồn tại phải ác, phải mạnh.

Trở về sau bảy, tám năm, Chí trở nên một tên gớm ghiếc, cái đầu trọc lốc, cái răng trắng hớn, cái mặt cơng cơng, hai mắt gườm gườm, trông Chí như một tên du côn, chẳng còn chút gì là anh thanh niên Chí Phèo ngày xưa nữa. Không những thế, những cử chỉ của Chí cũng khiến mọi người dè chừng khiếp sợ: uống rượu, chửi bới, lúc nào cũng sẵn sàng rạch mặt ăn vạ. Nhưng Chí chỉ thực sự trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại khi bị lí Kiến, giờ là bá Kiến, lợi dụng trở thành tay sai cho lão. Chí ngày càng hung hãn, ngang ngược trong những cơn say triền miên. Hắn đã chà đạp biết bao gia đình, đã làm khổ biết bao nhiêu máu và nước mắt của những người dân hiền lành, lương thiện. Chí làm tất cả những việc đó trong cơn say, và rồi cũng chính trong cơn say ấy, theo một cách bản năng, Chí gặp thị Nở - một người đàn bà xấu xí, ngẩn ngơ, ế chồng...

Sáng hôm sau, Chí tỉnh dậy trong túp lều của mình. Lần đầu tiên sau mười mấy năm, Chí bắt đầu cảm nhận được thiên nhiên xung quanh mình. “Mặt trời chắc đã lên cao, và nắng bên ngoài bắt đầu rực rỡ”. Lần đầu tiên từ khi từ nhà tù trở về, Chí ý thức được cảnh vật đẹp đẽ đầy sức sống xung quanh mình. Tiếng chim hót ríu rít bên ngoài vọng vào tai Chí, âm thanh trong trẻo của tiếng chim khiến Chí chú ý đến những điều thường nhật vẫn diễn ra bên ngoài túp lều của mình. Những điều ấy thật đơn giản và ngày nào cũng có, thế nhưng tại sao maix cho đến tận giờ này Chí mới nhận ra sự có mặt của nó? Cũng như trong “Vợ chồng A Phủ”, khung cảnh thiên nhiên đầy sức sống vào độ xuân về Tết đến đã tác động vào tâm thức Mị giúp Mị bừng tỉnh trong cơn mê mất ý thức, thì trong “Chí phèo” Nam cao cũng sử dụng sức sống của thiên nhiên để đánh thức một kẻ đã bị cuốn vào dòng đời lầm lạc mà đánh mất bản thân mình. Từ khi trở về sau gần chục năm ở tù, lúc nào Chí cũng say, hắn tràn từ cơn say này đến cơn say khác, nhưng bây giờ hắn tỉnh. Hắn thực sự tỉnh táo để nhận ra được cuộc sống xung quanh mình, để cảm thấy bâng khuâng, thấy đắng miệng và đặc biệt là hắn thấy “lòng mơ hồ buồn”! Cuộc đời hắn có gì đáng buồn, nơi ở được bá Kiến chu cấp, không ai dám lên mặt với hắn, cái “nghề” của hắn cho hắn cái ăn mỗi ngày, vậy thì hắn có gì phải buồn? Nhưng cuộc đời đâu chỉ có thế, đâu chỉ quanh quẩn trong mỗi chuyện nơi ăn chốn ở, sự sống nó đòi hỏi nhiều thứ hơn, nhiều hơn những gì mà hắn đang có. Hắn nhận ra sự tương phản rõ ràng ngay trong chính căn lều của mình. Trong khi ngoài kia, chim chóc thi nhau hót ríu rít, ánh nắng rực rỡ tràn ngập mọi thứ thì trong cái lều ẩm thấp của hắn lại “mới chỉ hơi lờ mờ”. Trong cái lều chật hẹp ẩm thấp ấy, hắn đã quên hết mọi thứ xinh đẹp của cuộc sống, hắn lúc nào cũng chỉ thấy tù mù, như chính cuộc đời của hắn vậy, tối tăm đối lập với thế giới bên ngoài. “Ở đây, người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”. Điều đó khiến hắn “mơ hồ buồn”. Hắn buồn một nỗi buồn vô định, không rõ ràng, hắn lờ mờ nhận ra rằng cuộc đời mình thật đáng thương. Những cảm giác mơ hồ đến với hắn, thật nhẹ nhàng nhưng cũng đủ làm hắn phải suy nghĩ. Hắn đã tỉnh dậy sau một cơn say rượu, hay là một cơn say mất phương hướng.

Hắn “bủn rủn, tay chân không buồn nhấc”, hắn hơi rùng mình khi nghĩ đến rượu. Hắn sợ rượu. Trong suốt ngần ấy năm đắm mình trong những cơn say không có bắt đầu và kết thúc, hắn đã uống quá nhiều rượu rồi. Hắn tìm đến rượu như một sự chạy trốn, để hắn khỏi phải đói mặt với cái thực tại tàn nhẫn bất công. Tiếng chim hót ngoài kia vẫn vẳng bên tai hắn. Cuộc sống ngoài ấy sao mà vui vẻ quá! Có tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, có tiếng cười nói của tiếng người đi chợ. Những âm thanh của cuộc sống lao động bình dị ấy đã xuyên qua thính giác của Chí, va đập vào tâm hồn của hắn, để rồi hắn thở dài một tiếng than: “Chao ôi là buồn!”. Nam cao đã thật tinh tế để có thể nhận ra nỗi buồn mơ hồ của Chí, nhưng lại càng sâu sắc hơn khi thấu hiểu tiếng than của Chí Phèo. Nỗi buồn mông lung ấy giờ đây đã dâng lên thành lời than, sự đối lập mà Chí nhìn thấy lại càng rõ ràng. Trong gần hai mươi năm sống kiếp quỷ dữ, Chí chỉ nghe thấy tiếng chửi bới, tiếng đánh đâp, tiếng khóc than, những âm thanh đó khác hẳn hoàn toàn với những gì Chí đang nghe thấy: tiếng cười nói của cuộc sống trong lành. Bản tính cốt yếu của sự sống chính là cảm giác và tư tưởng, cuộc sống của những con người bên ngoài kia mặc dù có lam lũ vất vả, nhưng ắt hẳn nó vẫn luôn lạc quan và ám áp vui tươi. Còn Chí, cuộc đời Chí chỉ có doạ nạt, đâm chém... Đó đâu phải là sống, đó là tồn tại vất vưởng bằng những chuỗi ngày đen tối nhất trong cuộc đời Chí. Anh thanh niên hai mưoi tuổi ngày nào đâu rồi, sao giờ chỉ còn lại kẻ mà ai cũng gớm ghiếc, ai cũng xem là quỷ dữ?! Chí không chỉ nghe bằng đôi tai cha sinh mẹ đẻ, mà Chí con nghe bằng đôi tai của một tâm hồn đã thức tỉnh.

Nếu trong “Vợ chồng A Phủ”, tiếng sao đêm tình mùa xuân đưa Mị trở về với thời con gái hồn nhiên hạnh phúc, thì cũng với một tác động như vậy, Nam Cao đã để Chí Phèo nhớ về cái ước mơ một thời xa xăm của hắn qua tiếng những người đàn bà đi bán vải. Nam Cao đã đặc biệt chú ý miêu tả âm thanh này bằng một đoạn đối thoại, bởi điều này đặc biệt quan trọng đối với Chí Phèo. Hiện ra trong tâm trí hắn giờ đây là hình ảnh những người phụ nữ, tảo tần lam lũ vì gia đình, hết lòng lo cho chồng cho con. Cuộc sống của những người đàn bà ấy có thể vô cùng nhọc nhằn trong công việc mưu sinh, nhưng ấm áp vì hạnh phúc gia đình. Điều đó làm hắn cảm thấy “nao nao buồn”. Nỗi buồn không những dâng lên thành tiếng than mà giờ đây đã khiến hắn rưng rưng cảm động. Hắn tìm lại cái ước mơ hắn bỏ quên trong hai mươi năm qua: một gia đình nho nhỏ, đầm ấm. Hắn không cần những điều cao xa, hắn chỉ ao ước có một gia đình bình thường, “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”, nhưng cái ước mơ ấy dường như đã rất xa rồi. Cái ước mơ hạnh phúc ấy thật đơn xơ nhỏ bé đến tội nghiệp, nhưng Chí vẫn không thể với tới được nữa rồi. Hắn thấy mình thật cô độc. Hắn như cười buồn cho mình: “Buồn thay cho đời!”. Hắn thấy mình thật thảm hại, thấy mình “đã tới cái dốc bên kia của đời”. Nỗi buồn của hắn cũng vì thế mà mang tính triết lí của một người đã biết suy nghĩ. “Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Câu văn thật lạ, theo lẽ thường tình, chữ “và” không được phép xuất hiện sau dấu phẩy, nhưng ở đây Nam Cao lại để cả hai hiện diện cùng lúc nhằm mục đích nhấn mạnh sự đáng sợ của nỗi cô độc. Nam Cao luôn đề cao con người tư tưởng, ông đặc biệt chú ý đến những hoạt động bên trong con người và coi đó là nguyên nhân của những hành động bên ngoài, chính vì thế nỗi cô độc là một điều vô cùng đáng sợ, đáng sợ hơn tất thảy những thứ khác. Chí Phèo sợ điều ấy. Hắn khao khát muốn được giao tiếp với cuộc sống bằng phẳng lương thiện bên ngoài, và đúng lúc ấy thì chiếc cầu nối đưa hắn trở về với thế giới vốn dĩ của hắn – thị Nở bước vào. Thị, chính thị sẽ mở cánh cổng để hắn bước vào thế giới của thị, để hắn trở về với hình ảnh anh thanh niên hiền lành, chất phác ngày nào. Bằng sự thương cảm xót xa trước cảnh đời bất hạnh, nam Cao đã để thị Nở thay mặt mình giúp Chí Phèo nhận thức được cuộc sống, thay đổi quan niệm sống và thức tỉnh ý thức mình.
Nếu như thị Nở là con đường để Chí Phèo làm lại cuộc đời thì những âm thanh Chí nghe được trong buối sáng sau cơn say đã tác động vào tâm thức Chí, giúp Chí nhận ra hiện tại và nhớ về quá khứ, đồng thời khơi dậy nơi Chí một khao khát sống. Nam cao đã nhờ vào những âm thanh ấy mà miêu tả tâm lí Chí Phèo một cách chân thực, logic với nỗi buồn rất riêng. Nỗi buồn của Chí được miêu tả nhiều lần, mỗi lần lại là một cung bậc, một sắc thái khác nhau, gắn với một nguyên cớ khác nhau. Nỗi buồn ấy cho dù được miêu tả ở nhiều góc cạnh, song cuối cùng cũng đưa đến một mục đích: đánh dấu sự thức tỉnh của Chí Phèo. Chí giờ đây không còn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa mà đã trở thành một con người với những sắc thái cảm xú rất nhân bản, những chi tiết âm thanh ấy cũng vì thế mà trở nên rất quan trọng. Tếng chim hót rất đỗi bình dị, nhưng Nam Cao đã chọn nó để miêu tả sức sống của thiên nhiên; tiếng anh chèo gõ mái đuổi cá kia ngày nào cũng có, nhưng hôm nay Nam Cao đặc biệt nhắc đến để Chí Phèo nhận ra những âm thanh quen thuộc của đời sống lao động bình thường; và đặc biệt giữa muôn vàn những âm thanh, có thể lẫn lộn đâu đó tiếng chửi bới của một phiên chợ, nhưng Nam Cao đã phát hiện và ưu ái chọn lọc tiếng cười nói của những người đàn bà đi bán vải để gợi Chí Phèo nhớ đến cái mơ ước của một thời xa xôi. 

Cũng như trong “Vợ chồng A Phủ”, tiếng sáo đêm tình mùa xuân được Tô Hoài miêu tả một cách công phu thì những chi tiết âm thanh ấy cũng đã được Nam Cao chọn lọc và miêu tả một cách chi tiết để làm nổi bật lên chủ đề tư tưởng nhân đạo cao đẹp của tác phẩm. Nam Cao đã phát hiện ra phần tốt đẹp trong con người Chí Phèo, để rồi xót thương, cảm thông và tin tưởng vào niềm khao khát sống một cuộc sống lương thiện và khát vọng muốn hưởng hạnh phúc chính đáng của Chí. Chính điều đó đã tạo nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm, đưa tác phẩm tiến gần về đỉnh cao nghệ thuật của văn học Việt Nam.

1
phiếu
0đáp án
3K lượt xem

Cảm nhận về những âm thanh mà Chí Phèo nghe được trong buổi sáng hôm sau khi say rượu trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao

Chi tiết nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng quyết định mật thiết đến sự thành công của tác phẩm. Nếu không có chi tiết nghệ thuật thì tác phẩm văn học dù ở thể loại nào đi chăng nữa thì cũng chỉ như cái vỏ âm thanh vô hồn không sức sống. Cũng vậy, Nam Cao cũng cần lắm những chi tiết nghệ thuật để “Chí Phèo” trở nên một kiệt tác hoàn hảo đạt đến sự chuẩn mực của nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa. Cùng với hình tượng nhân vật Chí Phèo, rất nhiều những chi tiết nghệ thuật khác đã góp phần vào thành công của truyện, mà ta không thể không kể đến một chi tiết dù bé nhỏ nhưng vô cùng giàu ý nghĩa và quan trọng góp phần bộc lộ tư tưởng của tác giả: “ những âm thanh mà Chí Phèo nghe được trong buổi sáng tỉnh dậy sau cơn say”.

Chí Phèo là một đứa trẻ bị bỏ rơi, được một người đi thả ống lươn nhặt về. Từ bé đến năm hai mươi tuổi, Chí được nhân dân lao động cưu mang đùm bọc. Lớn lên trong sự lương thiện, đứa trẻ mồ côi Chí Phèo, dẫu cho phải làm thuê, cuốc mướn vẫn có một tấm lòng lương thiện và một cuộc sống tốt lành. Anh thanh niên hai mươi tuổi “hiền như đất” ấy còn có một ước mơ rất đỗi chính đáng: có một cuộc sống ổn định, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ ở nhà dệt vải, một ước mơ rất đỗi bình dị của người dân lao động. Thế nhưng phận đời đưa đẩy, Chí vào làm canh điền cho lí Kiến. Ở đây bánh xe cuộc đời Chí bắt đầu quay những vòng quay định mệnh, bắt đầu từ việc Chí mới hai mươi tuổi, phơi phới sức trai nên đã bị bà ba, một dạng phó đoan, bắt làm những việc bất chính. Bà ta cứ bắt Chí phải bóp chân, mà cứ bắt “bóp lên trên, lên trên nữa”. Chí thừa nhận, “hai mươi tuổi, người ta không là đá, nhưng cũng không toàn là xác thịt”, Chí ý thức được những việc mình đang làm, Chí không sa vào cám dỗ. Lòng tự trọng khiến Chí cảm thấy nhục nhã cho mình, nhưng lại sợ. Chính vì cơn ghen cuồng nộ của lí Kiến, Chí bị đẩy vào tù, cùng với một bài học cay đắng về cuộc sống: muốn tồn tại phải ác, phải mạnh.

Trở về sau bảy, tám năm, Chí trở nên một tên gớm ghiếc, cái đầu trọc lốc, cái răng trắng hớn, cái mặt cơng cơng, hai mắt gườm gườm, trông Chí như một tên du côn, chẳng còn chút gì là anh thanh niên Chí Phèo ngày xưa nữa. Không những thế, những cử chỉ của Chí cũng khiến mọi người dè chừng khiếp sợ: uống rượu, chửi bới, lúc nào cũng sẵn sàng rạch mặt ăn vạ. Nhưng Chí chỉ thực sự trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại khi bị lí Kiến, giờ là bá Kiến, lợi dụng trở thành tay sai cho lão. Chí ngày càng hung hãn, ngang ngược trong những cơn say triền miên. Hắn đã chà đạp biết bao gia đình, đã làm khổ biết bao nhiêu máu và nước mắt của những người dân hiền lành, lương thiện. Chí làm tất cả những việc đó trong cơn say, và rồi cũng chính trong cơn say ấy, theo một cách bản năng, Chí gặp thị Nở - một người đàn bà xấu xí, ngẩn ngơ, ế chồng...

Sáng hôm sau, Chí tỉnh dậy trong túp lều của mình. Lần đầu tiên sau mười mấy năm, Chí bắt đầu cảm nhận được thiên nhiên xung quanh mình. “Mặt trời chắc đã lên cao, và nắng bên ngoài bắt đầu rực rỡ”. Lần đầu tiên từ khi từ nhà tù trở về, Chí ý thức được cảnh vật đẹp đẽ đầy sức sống xung quanh mình. Tiếng chim hót ríu rít bên ngoài vọng vào tai Chí, âm thanh trong trẻo của tiếng chim khiến Chí chú ý đến những điều thường nhật vẫn diễn ra bên ngoài túp lều của mình. Những điều ấy thật đơn giản và ngày nào cũng có, thế nhưng tại sao maix cho đến tận giờ này Chí mới nhận ra sự có mặt của nó? Cũng như trong “Vợ chồng A Phủ”, khung cảnh thiên nhiên đầy sức sống vào độ xuân về Tết đến đã tác động vào tâm thức Mị giúp Mị bừng tỉnh trong cơn mê mất ý thức, thì trong “Chí phèo” Nam cao cũng sử dụng sức sống của thiên nhiên để đánh thức một kẻ đã bị cuốn vào dòng đời lầm lạc mà đánh mất bản thân mình. Từ khi trở về sau gần chục năm ở tù, lúc nào Chí cũng say, hắn tràn từ cơn say này đến cơn say khác, nhưng bây giờ hắn tỉnh. Hắn thực sự tỉnh táo để nhận ra được cuộc sống xung quanh mình, để cảm thấy bâng khuâng, thấy đắng miệng và đặc biệt là hắn thấy “lòng mơ hồ buồn”! Cuộc đời hắn có gì đáng buồn, nơi ở được bá Kiến chu cấp, không ai dám lên mặt với hắn, cái “nghề” của hắn cho hắn cái ăn mỗi ngày, vậy thì hắn có gì phải buồn? Nhưng cuộc đời đâu chỉ có thế, đâu chỉ quanh quẩn trong mỗi chuyện nơi ăn chốn ở, sự sống nó đòi hỏi nhiều thứ hơn, nhiều hơn những gì mà hắn đang có. Hắn nhận ra sự tương phản rõ ràng ngay trong chính căn lều của mình. Trong khi ngoài kia, chim chóc thi nhau hót ríu rít, ánh nắng rực rỡ tràn ngập mọi thứ thì trong cái lều ẩm thấp của hắn lại “mới chỉ hơi lờ mờ”. Trong cái lều chật hẹp ẩm thấp ấy, hắn đã quên hết mọi thứ xinh đẹp của cuộc sống, hắn lúc nào cũng chỉ thấy tù mù, như chính cuộc đời của hắn vậy, tối tăm đối lập với thế giới bên ngoài. “Ở đây, người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”. Điều đó khiến hắn “mơ hồ buồn”. Hắn buồn một nỗi buồn vô định, không rõ ràng, hắn lờ mờ nhận ra rằng cuộc đời mình thật đáng thương. Những cảm giác mơ hồ đến với hắn, thật nhẹ nhàng nhưng cũng đủ làm hắn phải suy nghĩ. Hắn đã tỉnh dậy sau một cơn say rượu, hay là một cơn say mất phương hướng.

Hắn “bủn rủn, tay chân không buồn nhấc”, hắn hơi rùng mình khi nghĩ đến rượu. Hắn sợ rượu. Trong suốt ngần ấy năm đắm mình trong những cơn say không có bắt đầu và kết thúc, hắn đã uống quá nhiều rượu rồi. Hắn tìm đến rượu như một sự chạy trốn, để hắn khỏi phải đói mặt với cái thực tại tàn nhẫn bất công. Tiếng chim hót ngoài kia vẫn vẳng bên tai hắn. Cuộc sống ngoài ấy sao mà vui vẻ quá! Có tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, có tiếng cười nói của tiếng người đi chợ. Những âm thanh của cuộc sống lao động bình dị ấy đã xuyên qua thính giác của Chí, va đập vào tâm hồn của hắn, để rồi hắn thở dài một tiếng than: “Chao ôi là buồn!”. Nam cao đã thật tinh tế để có thể nhận ra nỗi buồn mơ hồ của Chí, nhưng lại càng sâu sắc hơn khi thấu hiểu tiếng than của Chí Phèo. Nỗi buồn mông lung ấy giờ đây đã dâng lên thành lời than, sự đối lập mà Chí nhìn thấy lại càng rõ ràng. Trong gần hai mươi năm sống kiếp quỷ dữ, Chí chỉ nghe thấy tiếng chửi bới, tiếng đánh đâp, tiếng khóc than, những âm thanh đó khác hẳn hoàn toàn với những gì Chí đang nghe thấy: tiếng cười nói của cuộc sống trong lành. Bản tính cốt yếu của sự sống chính là cảm giác và tư tưởng, cuộc sống của những con người bên ngoài kia mặc dù có lam lũ vất vả, nhưng ắt hẳn nó vẫn luôn lạc quan và ám áp vui tươi. Còn Chí, cuộc đời Chí chỉ có doạ nạt, đâm chém... Đó đâu phải là sống, đó là tồn tại vất vưởng bằng những chuỗi ngày đen tối nhất trong cuộc đời Chí. Anh thanh niên hai mưoi tuổi ngày nào đâu rồi, sao giờ chỉ còn lại kẻ mà ai cũng gớm ghiếc, ai cũng xem là quỷ dữ?! Chí không chỉ nghe bằng đôi tai cha sinh mẹ đẻ, mà Chí con nghe bằng đôi tai của một tâm hồn đã thức tỉnh.

Nếu trong “Vợ chồng A Phủ”, tiếng sao đêm tình mùa xuân đưa Mị trở về với thời con gái hồn nhiên hạnh phúc, thì cũng với một tác động như vậy, Nam Cao đã để Chí Phèo nhớ về cái ước mơ một thời xa xăm của hắn qua tiếng những người đàn bà đi bán vải. Nam Cao đã đặc biệt chú ý miêu tả âm thanh này bằng một đoạn đối thoại, bởi điều này đặc biệt quan trọng đối với Chí Phèo. Hiện ra trong tâm trí hắn giờ đây là hình ảnh những người phụ nữ, tảo tần lam lũ vì gia đình, hết lòng lo cho chồng cho con. Cuộc sống của những người đàn bà ấy có thể vô cùng nhọc nhằn trong công việc mưu sinh, nhưng ấm áp vì hạnh phúc gia đình. Điều đó làm hắn cảm thấy “nao nao buồn”. Nỗi buồn không những dâng lên thành tiếng than mà giờ đây đã khiến hắn rưng rưng cảm động. Hắn tìm lại cái ước mơ hắn bỏ quên trong hai mươi năm qua: một gia đình nho nhỏ, đầm ấm. Hắn không cần những điều cao xa, hắn chỉ ao ước có một gia đình bình thường, “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”, nhưng cái ước mơ ấy dường như đã rất xa rồi. Cái ước mơ hạnh phúc ấy thật đơn xơ nhỏ bé đến tội nghiệp, nhưng Chí vẫn không thể với tới được nữa rồi. Hắn thấy mình thật cô độc. Hắn như cười buồn cho mình: “Buồn thay cho đời!”. Hắn thấy mình thật thảm hại, thấy mình “đã tới cái dốc bên kia của đời”. Nỗi buồn của hắn cũng vì thế mà mang tính triết lí của một người đã biết suy nghĩ. “Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Câu văn thật lạ, theo lẽ thường tình, chữ “và” không được phép xuất hiện sau dấu phẩy, nhưng ở đây Nam Cao lại để cả hai hiện diện cùng lúc nhằm mục đích nhấn mạnh sự đáng sợ của nỗi cô độc. Nam Cao luôn đề cao con người tư tưởng, ông đặc biệt chú ý đến những hoạt động bên trong con người và coi đó là nguyên nhân của những hành động bên ngoài, chính vì thế nỗi cô độc là một điều vô cùng đáng sợ, đáng sợ hơn tất thảy những thứ khác. Chí Phèo sợ điều ấy. Hắn khao khát muốn được giao tiếp với cuộc sống bằng phẳng lương thiện bên ngoài, và đúng lúc ấy thì chiếc cầu nối đưa hắn trở về với thế giới vốn dĩ của hắn – thị Nở bước vào. Thị, chính thị sẽ mở cánh cổng để hắn bước vào thế giới của thị, để hắn trở về với hình ảnh anh thanh niên hiền lành, chất phác ngày nào. Bằng sự thương cảm xót xa trước cảnh đời bất hạnh, nam Cao đã để thị Nở thay mặt mình giúp Chí Phèo nhận thức được cuộc sống, thay đổi quan niệm sống và thức tỉnh ý thức mình.
Nếu như thị Nở là con đường để Chí Phèo làm lại cuộc đời thì những âm thanh Chí nghe được trong buối sáng sau cơn say đã tác động vào tâm thức Chí, giúp Chí nhận ra hiện tại và nhớ về quá khứ, đồng thời khơi dậy nơi Chí một khao khát sống. Nam cao đã nhờ vào những âm thanh ấy mà miêu tả tâm lí Chí Phèo một cách chân thực, logic với nỗi buồn rất riêng. Nỗi buồn của Chí được miêu tả nhiều lần, mỗi lần lại là một cung bậc, một sắc thái khác nhau, gắn với một nguyên cớ khác nhau. Nỗi buồn ấy cho dù được miêu tả ở nhiều góc cạnh, song cuối cùng cũng đưa đến một mục đích: đánh dấu sự thức tỉnh của Chí Phèo. Chí giờ đây không còn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa mà đã trở thành một con người với những sắc thái cảm xú rất nhân bản, những chi tiết âm thanh ấy cũng vì thế mà trở nên rất quan trọng. Tếng chim hót rất đỗi bình dị, nhưng Nam Cao đã chọn nó để miêu tả sức sống của thiên nhiên; tiếng anh chèo gõ mái đuổi cá kia ngày nào cũng có, nhưng hôm nay Nam Cao đặc biệt nhắc đến để Chí Phèo nhận ra những âm thanh quen thuộc của đời sống lao động bình thường; và đặc biệt giữa muôn vàn những âm thanh, có thể lẫn lộn đâu đó tiếng chửi bới của một phiên chợ, nhưng Nam Cao đã phát hiện và ưu ái chọn lọc tiếng cười nói của những người đàn bà đi bán vải để gợi Chí Phèo nhớ đến cái mơ ước của một thời xa xôi. 

Cũng như trong “Vợ chồng A Phủ”, tiếng sáo đêm tình mùa xuân được Tô Hoài miêu tả một cách công phu thì những chi tiết âm thanh ấy cũng đã được Nam Cao chọn lọc và miêu tả một cách chi tiết để làm nổi bật lên chủ đề tư tưởng nhân đạo cao đẹp của tác phẩm. Nam Cao đã phát hiện ra phần tốt đẹp trong con người Chí Phèo, để rồi xót thương, cảm thông và tin tưởng vào niềm khao khát sống một cuộc sống lương thiện và khát vọng muốn hưởng hạnh phúc chính đáng của Chí. Chính điều đó đã tạo nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm, đưa tác phẩm tiến gần về đỉnh cao nghệ thuật của văn học Việt Nam.

Sưu tầm.

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Các mâu thuẫn cơ bản của vở kịch trong hồi V
a. Mâu thuẫn giữa đời sống xa hoa trụy lạc của bọn tham quan bạo chúa với đời sống của thường dân
- Lê Tương Dực bị giết, gian thần Nguyễn Vũ chết trong một trò hề nhạt nhẽo, hoàng hậu và đám cung nữ bị nhục mạ bắt bớ. Dân chúng reo hò, nhiếc móc, đốt phá -> Uy quyền của của bạo chúa tan tành theo tro bụi Cửu Trùng Đài. Đây đúng là dân nổi can qua, vua quan thất thế. tuy nhiên cuộc nổi dậy ấy không thể mang lại những gì tốt đẹp cho họ bởi giang sơn sẽ lại rơi vào tay những kẻ cầm đầu (phe cánh Trịnh Duy Sản)
b. Mâu thuẫn giữa niềm khát khao hiến dâng tất cả cho nghệ thuật của người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng với lợi ích trực tiếp và thiết thực của người dân
- Nguyên nhân sâu xa của bi kịch: người nghệ sĩ thiên tài không có điều kiện sáng tạo vì thế khi biết rằng có thể mượn tay của bạo chúa Lê Tương Dực mà thực hiện hoài bão thì anh ta sẵn sàng bất chấp tất cả kể cả công sức và tiền bạc của nhân dân, bằng mồ hôi, xương máu của những người thợ. Chính đầu đó đẩy Vũ Như Tô đến vị thế đối nghịch với lợi ích trực tiếp của nhân dân, Vũ Như Tô trở thành kẻ thù của dân!
- Cuối vở kịch người ta không chỉ nguyền rủa tác giả Cửu Trùng Đài mà còn đốt phá nó và trừng phạt tác giả của công trình, đỉnh điểm của xung đột.

 

 

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Mở bài:
 Giới thiệu về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, kịch “Vũ Như Tô” và đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”
Thân bài:
- Trình bày hoàn cảnh ra đời, vị trí của đoạn trích
 - Phân tích nhân vật Vũ Như Tô 
a) Phẩm chất và tính cách của Vũ Như Tô 
Tập trung ở những nét nổi bật sau:
- Một nghệ sỹ có tài năng siêu đẳng, còn gọi đó là tài trời
Đó là tài “sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây những lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ, chỉ vảy bút là chim hoa đã hiện trên mảnh lụa thần tình, biến hóa như cảnh hóa công” ( có thể liên hệ với nhân vật Huấn Cao)
- Một nghệ sỹ có hoài bão lớn lao (hùng tâm tráng chí)
Công trình nghệ thuật mà Vũ Như Tô khao khát tạo ra là Cửu Trùng Đài . Như cái tên của nó, đứng ngất ngưởng, vượt trên mọi bờ cõi và giới hạn. Cửu Trùng đài là công trình nghệ thuật vừa hoành tráng, vừa tinh xảo. Cái đẹp của nó là siêu đẳng, có một không hai và là niềm kiêu hãnh của nước nhà. Dân tộc nào xây được Cửu Trùng Đài hoàn toàn có niềm kiêu hãnh mà ngẩng cao đầu. Không chỉ có tài năng siêu đẳng, Vũ Như Tô còn có đủ khát khao và ý chí sáng tạo ra cái đẹp siêu đẳng.
- Một nghệ sỹ đắm chìm mơ mộng, bướng bỉnh đương đầu với thách thức cảu hoàn cảnh nhưng không dễ dàng nhận ra những sự thật thật nhất. Nhân vật này là một khối mâu thuẫn: Vũ Như Tô hành động bất chấp, thậm chí thách thức hoàn cảnh: tranh tinh xảo với hóa công, tranh phải trái với số phận và cuộc đời
Vũ Như Tô tinh nhạy, mẫn tiệp, sáng suốt bao nhiêu trong sáng tạo nghệ thuật thì ngây thơ, ngờ nghệch, mê muội bấy nhiêu trong những toan tính, âu lo đời thường; càng cận kề trong nghệ thuật, càng xa rời thực tế đời sống
b) Bi kịch của Vũ Như Tô là bi kịch của người nghệ sỹ vỡ mộng và bế tắc. Cửu Trùng Đài bị đốt thành tro, Vũ Như Tô đau đớn tột cùng (tiếng kêu của Vũ Như Tô khi nhận ra sự thật, trước khi ra pháp trường, như trộn cả nước mắt và máu: “Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!...) Vũ Như Tô hoàn toàn bế tắc trước một câu hỏi lớn: Xây Cửu Trùng Đài, trên thực tế là đúng hay sai? Có công hay có tội?”.  
Hoàn cảnh thực tế buộc người ta muốn trả lời đúng phải đứng trên cả lập trường Nghệ sỹ lẫn lập trường Nhân dân; lập trường cái Đẹp lẫn lập trường cái Thiện. Bi kịch Vũ Như Tô là bi kịch của người nghệ sĩ có tài và có hoài bão lớn, nhưng không giải quyết được những mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật và đời sống, đặc biệt là không giải quyết được thực sự đúng đắn vấn đề sáng tạo nghệ thuật cho ai và để làm gì:
- Vũ Như Tô muốn xây một công trình kiến trúc vĩ đại, tuyệt mĩ, tô điểm cho non sông và mục đích đó là hết sức cao đẹp, xuất phát từ thiên chức của người nghệ sĩ, từ lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.
- Nhưng trên thực tế, Cửu Trùng Đài xây trên tiền của, mồ hôi, xương máu của nhân dân và nếu được hoàn thành, nó cũng chỉ là nơi ăn chơi sa đọa của vua chúa. Vũ Như Tô đã sai lầm khi lợi dụng quyền lực của bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật của mình, chỉ đứng trên lập trường nghệ sĩ nên trở thành kẻ đối nghịch với nhân dân. Chính vì vậy, nhân dân căm hận bạo chúa, đồng thời cũng oán trách, nguyền rủa người
kiến trúc sư và cuối cùng đã giết chết cả Lê Tương Dực lẫn Vũ Như Tô, đốt cháy Cửu trùng Đài
- Tính cáchVũ Như Tô là tính cách của người nghệ sĩ tài ba, hiện thân cho niềm khát khao và đam 
mê sáng tạo cái đẹp. Vì thế đi tận cùng niềm đam mê khao khát ấy Vũ Như Tô phải đối mặt với bi kịch đau đớn của đời mình, ông trở thành kẻ thù của dân, của những nguời thợ mà không hay biết
- Vũ Như Tô được đặt trong tình thế trăn trở tìm kiếm câu trả lời: xây Cửu Trùng Đài là đúng hay sai? Có công hay có tội? Nhưng Vũ Như Tô không thể trả lời vì ông chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ mà không đứng trên lập trường của nhân dân, đứng trên lập trường cái đẹp mà không đứng trên lập trường cái thiện. Hành động của ông không hướng đến sự hòa giải mà thách thức và chấp nhận sự hủy diệt. Vũ Như Tô tranh tinh xảo với hóa công giờ lại bướng bỉnh tranh phải - trái với số phận và với cuộc đời
Kết bài:
- Khẳng  định vẻ đẹp của nhân vật Vũ Như Tô,bi kịch bế tắc của nghệ sĩ có tài trong mối quan hệ với hiện thực
- Ý nghĩa tư tưởng của đoạn trích: mối quan hệ giữa nghệ thuật với lợi ích nhân dân.

0
phiếu
0đáp án
747 lượt xem

   -  Nam Cao ( 1917- 1951) , là nhà văn tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam ở cả hai giai đọan trước và sau Cách mạng tháng Tám.Ông là một nhà văn có quan điểm nghệ thuật tiến bộ,có tấm lòng đôn hậu,chan chứa tình thương, gắn bó sâu nặng với quê hương và những người nông dân nghèo khổ.
    -  Đặc biệt, đến với truyện ngắn “Chí Phèo”, một trong những truyện ngắn viết về đề tài người nông dân nghèo trước CMT8 của Nam Cao, chúng ta không thể không cảm thông và xót xa, đau đớn trước bi kịch bị cự tuyệt  của  Chí Phèo được thể hiện ở đọan cuối của truyện. Đồng thời qua đó chúng ta cảm nhận sâu sắc giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm. 
 Thân bài : 
  1. Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo: 
    a.Ứớc mơ muốn làm người lương  thiện : 
      - Cứ tưởng Chí Phèo mãi mãi sống kiếp thú vật , rồi sẽ kết thúc bằng cách vùi xác ở một bờ bụi nào đó.May thay, tình cờ Chí đã gặp thị Nở và được thị thương yêu chăm sóc.Người đàn bà xấu như ma chê quỷ hờn ấy với tình yêu thương mộc mạc , chân thành, đã đánh thức phần nhân tính còn lại trong con người Chí, khiến Chí muốn trở lại làm người lương thiện : “Trời ơi ! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao!Thị Nở sẽ mở đường cho hắn.Thị có thể sống yên ổn với hắn sao người khác lại không thể được”
    - Mùi cháo hành đã đẩy lùi hơi ruợu trong Chí, và ngọn lửa lương tri tưởng đã tắt , giờ lại bùng lên với một ước mơ được sống luơng thiện .
  2.Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người : 
     - Nhưng sự mong ước được sống lương thiện của Chí một lần nữa lại không trở thành hiện thực .Thị Nở không thể giúp gì thêm cho hắn.Bởi lẽ : 
      + Bà cô thị kiên quyết ngăn cản mối tình này. Bà không thể đồng ý cho cháu gái bà “đâm đầu” đi lấy thằng Chí Phèo – con quỷ dữ của làng Vũ Đai- bấy lâu chỉ có mỗi một nghề rạch mặt ăn vạ. 
      + Nghe những lời bà cô mắng, thị Nở thấy “lộn ruột”, nhưng cũng phải nghe theo.Rồi thị giận dữ nói lại tất cả những lời bà cô với Chí Phèo .Điều này khiến Chí “ ngẩn người” và thất vọng, lúc này hắn vẫn chưa tuyệt vọng vì hắn vẫn lại như hít thấy hơi cháo hành . 
      + Khi Thị ra về, Chí đuổi theo nắm lấy tay thị. Điều đó chứng tỏ Chí khao khát tình yêu, thiết tha đến với thị Nở - đến với cuộc đời lương thiện - biết chừng nào.
     - Khi thấy không cách gì níu giữ được thị Nở , Chí rơi vào tình thế tuyệt vọng. Lúc này đây Chị thật sự thấm thía sâu sắc cái “bi kịch tinh thần của con người sinh ra làm người nhưng lại không được làm người.” Chí đã :
      + Vật vã , đau đớn .
      + Uống rượu , nhưng càng uống càng tỉnh.
      + Chí ôm mặt  khóc rưng rức và luôn thấy thoang thỏang mùi cháo hành . ( chi tiết này được nhắc đi nhắc lại nhằm tô đậm nỗi khát khao tình yêu thương và nhất là bi kịch tinh thần của Chí.)
 3. Giải quyết : bi kịch biến thành thảm kịch .
     - Bi kịch phải được giải quyết và nó đã được giải quyết bằng con đường tất yếu: xã hội đã không cho Chí sống thì Chí phải chết ( vì nếu sống mà không được công nhậnlà con người thì sống để làm gì?).
     - Trong cơn tuyệt vọng , khủng hỏang và bế tắc , Chí càng thấm thía hơn tội ác của kẻ đã cướp đi bộ mặt và linh hồn của mình.Anh đã đâm chết Bá Kiến và tự kết liễu cuộc đời mình.
4. Bi kịch của Chí Phèo có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc: 
  + Gía trị hiện thực : Tác phẩm ghi lại bức tranh về XHTDPK tàn bạo, vô nhân tính . Đồng thời cũng tái hiện lại chân thực bức tranh cuộc sống khốn cùng, bế tắc của người dân lao động bị xã hội cũ đẩy vào con đường tha hóa.
  + Gía trị nhân đạo: Nhà văn miêu tả số phận bất hạnh và cảm thông sâu sắc với bi kịch của người nông dân  của .Đồng thời ông còn khẳng định sức sống bất diệt của thiên lương. Lương thiện,khát khao hạnh phúc là bản tính tự nhiên, tốt đẹp và mạnh mẽ của con người. Không thế lực bào tàn nào có thể hủy diệt .Từ đó, nhà văn kêu gọi mọi người hãy luôn tin vào con người, tin vào bản chất tốt đẹp của mổĩ người và cùng nhau xây đắp phần Người trong mỗi con người để cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.
 Kết bài : 
    - Nhân vật Chí Phèo được xây dựng thành công, vừa khái quát, vừa cá tính.
    - Bằng tấm lòng yêu thương trân trọng với những người khốn khó, Nam Cao đã phát hiện được những phần sâu kín nhất trong tâm hồn của họ.Đó là những gì còn sót lại của tình người, sự kháy khao hạnh phúc, ước muốn yêu thương và nhất là quyền được làm người lương thiện. Bi kịch của Chí chính là tiếng kêu cứu thiết tha của những con người bất hạnh: Hãy đấu tranh chống lại các thế lực đen tối để con người được sống lương thiện và hạnh phúc 

0
phiếu
0đáp án
2K lượt xem

Mở bài 
Khẳng định vị trí nổi bật của truyện ngắn  “Chí Phèo” trong sự nghiệp văn học của Nam Cao, trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Cuộc gặp gỡ với Thị Nở (cuộc tình và trận ốm) đã thức tỉnh phần người bấy lâu nay bị vùi lấp ở Chí để hắn trở về sống kiếp người một cách tự nhiên. Chính sự quan tâm, chăm sóc của Thị Nở đã giúp Chí Phèo cởi bỏ cái vỏ quỷ dữ để sống lại làm người, khát khao hoàn lương, lương thiện.
Thân bài
Cứ tưởng Chí Phèo sống mãi kiếp thú vật rồi kết thúc cuộc đời bằng cách vùi xác tại một bờ bụi nào đó. Nhưng không, một bước ngoặt lớn đã diễn ra trong cuộc đời Chí. Kể từ khi gặp Thị Nở, Chí Phèo đã thức tỉnh. Đầu tiên là tỉnh rượu rồi mới đến tỉnh ngộ.
+ Tỉnh rượu : Những cảm nhận về không gian cái lều của hắn, về cuộc sống xung quanh : những âm thanh hằng ngày của cuộc sống (âm thanh gọi Chí Phèo trở về với cuộc đời) và sự tự ý thức tình trạng thê thảm của bản thân (già nua, cô độc và trắng tay).
+ Tỉnh ngộ : Được Thị Nở chăm sóc ân cần, Chí thấy cảm động trước tình người. Chí nhận ra một thực tế phũ phàng là cuộc đời mình chưa bao giờ được chăm sóc như thế (chú ý chi tiết bát cháo hành và Chí Phèo khóc).
Đó là dấu hiệu nhân tính bị vùi lấp trong Chí đang trở về.
+ Sau đó là niềm hy vọng : Ước mơ lương thiện trở về, Chí thấy thèm lương thiện và muốn làm hòa với mọi người... Chí đặt hy vọng lớn vào Thị Nở : « Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được... Họ sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện». Chí hình dung về tương lai tươi đẹp khi chung sống cùng với Thị Nở. Rồi Chí ngỏ lời với Thị, trông đợi Thị về xin phép bà cô.
Ở Chí Phèo vẫn còn phần nhân tính rất đáng thương cho dù anh có bị tha hóa, lưu manh hóa.
Bà cô không cho Thị Nở lấy Chí Phèo. Thị Nở từ chối. Chí rơi vào bi kịch tinh thần đau đớn. Chí Phèo chạy theo nắm lấy tay Thị Nở như là nỗ lực để níu Thị lại với mình. Nhưng Thị Nở lại đang tâm đẩy Chí Phèo ra. Chi tiết đó cho thấy Chí càng khát khao cuộc sống bao nhiêu thì cuộc đời lại càng xa lánh Chí bấy nhiêu. Thị Nở đẩy Chí ngã để chứng tỏ sự cắt đứt dứt khoát :  « Hắn đuổi theo thị, nắm lấy tay. Thị gạt ra, lại giúi thêm cho một cái. Hắn lăn khoèo xuống sân ». Đau đớn và căm hận mù quáng, Chí nguyền sẽ giết chết bà cô Thị Nở và Thị Nở.

+ Cuối cùng, trong trạng thái phẫn uất và tuyệt vọng, Chí Phèo về nhà uống rượu (càng uống càng tỉnh). « Nhưng tức quá, càng uống lại càng tỉnh ra. Tỉnh ra, chao ôi, buồn ! Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Hắn ôm mặt khóc rưng rức ». Đó là đỉnh điểm bi kịch tinh thần trong con người Chí Phèo. Đau đớn cùng cực rồi xách dao ra đi. Miệng hắn vẫn nói đến nhà Thị Nở nhưng bước chân hắn lại đến nhà Bá Kiến. 
Cái cao nhất trong phần nhân tính còn lại trong Chí chính là câu nói dõng dạc trước Bá Kiến: Tao muốn làm người lương thiện? Nhưng Hắn cũng tự biết: Không được! Ai cho tao lương thiện ? Câu nói cho thấy tâm trạng cực kì phẫn uất và bế tắc trước kẻ thù của cuộc đời mình, thể hiện bản chất người tốt đẹp, khao khát hướng thiện của con quỷ dữ. 
     Ý nghĩa hành động Chí Phèo giết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình
+ Hành động Chí Phèo giết Bá Kiến thể hiện lòng căm thù trong Chí đã lên đến tột đỉnh khi nhận ra nguyên nhân chính gây ra bi kịch cho cuộc đời mình.
+ Hành động Chí tự kết liễu đời mình thể hiện niềm khao khát trở về cuộc sống lương thiện còn cao hơn cả tính mạng, sức mạnh căm thù đã vùng lên một cách mạnh mẽ dù còn tự phát, manh động 
Tác phẩm có giá trị tố cáo xã hội thực dân phong kiến một cách gay gắt.
Kết bài
Chí Phèo điển hình cho tầng lớp nông dân bị bần cùng hóa, lưu manh hóa không có lối thoát trong xã hội cũ, cho số phận bi thảm của những con người khổ nghèo, tăm tối dưới ách áp bức bóc lột tàn bạo, xảo quyệt của giai cấp thống trị ở nước ta trước Cách mạng tháng Tám.
Phản ánh điều này cho thấy Nam Cao không chỉ là nhà văn hiện thực xuất sắc mà còn là nhà văn rất nhân đạo ở chỗ: không chỉ tố cáo cái xã hội thực dân phong kiến tàn bạo mà còn phát hiện, miêu tả phẩm chất tốt đẹp của người nông dân ngay cả khi bị bị biến thành thú dữ.

12345...13Trang sau 153050mỗi trang
195

bài tập

Chat chit và chém gió
  • emily: Về quê tình cảm thân thương dạt dào. 8/24/2017 7:34:08 PM
  • cos^2(T): hồi hương = về quê 8/24/2017 7:34:14 PM
  • emily: Thương nhau tình nghĩa đòng bào 8/24/2017 7:34:25 PM
  • cos^2(T): địa cầu = trái đất 8/24/2017 7:34:37 PM
  • emily: Người cùng một bọc lẽ nào ghét nhau. 8/24/2017 7:34:45 PM
  • cos^2(T): à chỗ nào ý nhờ ... 8/24/2017 7:34:51 PM
  • emily: thay đỏi vị trí ạ? 8/24/2017 7:35:03 PM
  • cos^2(T): đồng bào = cùng ( một ) bọc 8/24/2017 7:35:10 PM
  • emily: thinking 8/24/2017 7:35:20 PM
  • cos^2(T): yawn cj bt làm văn , nhưng dễ buồn ngủ 8/24/2017 7:35:29 PM
  • emily: big_grin 8/24/2017 7:35:37 PM
  • cos^2(T): tiếp , cj vt nốt cho 8/24/2017 7:35:38 PM
  • emily: ok 8/24/2017 7:35:49 PM
  • cos^2(T): xoh ! 8/24/2017 7:38:52 PM
  • emily: e ra r 8/24/2017 7:53:23 PM
  • nhih: hi mina 8/28/2017 4:10:52 AM
  • emily: . 8/28/2017 6:13:03 AM
  • Nắng: Hương 8/28/2017 6:20:26 AM
  • Nắng: e hok nhanh nhỉ 8/28/2017 6:20:29 AM
  • emily: sao e nhanh ạ? 8/28/2017 6:21:00 AM
  • emily: đây ms lớp 7 8/28/2017 6:21:08 AM
  • Nắng: ơ năm nay e lp 8 mà nhỉ 8/28/2017 6:21:21 AM
  • Nắng: s hok lp 7 ... ôn lại à 8/28/2017 6:21:28 AM
  • emily: vâng ạ 8/28/2017 6:22:14 AM
  • emily: e đg hk hè mà 8/28/2017 6:22:19 AM
  • Nắng: ừ , cj bt r 8/28/2017 6:22:30 AM
  • emily: cj xem đề chưa ạ? 8/28/2017 6:22:48 AM
  • Nắng: rồi 8/28/2017 6:23:01 AM
  • emily: cj có thể làm đc k ạ? 8/28/2017 6:23:34 AM
  • Nắng: được 8/28/2017 6:23:41 AM
  • Nắng: có lẽ thế ... 8/28/2017 6:23:44 AM
  • emily: cj hk giỏi nhỉ 8/28/2017 6:24:17 AM
  • Nắng: cj mà làm dài qá 8/28/2017 6:24:20 AM
  • Nắng: thì đừng trách cj nhé 8/28/2017 6:24:24 AM
  • emily: dài càng tôt mà 8/28/2017 6:24:34 AM
  • Nắng: ok 8/28/2017 6:24:37 AM
  • emily: happy 8/28/2017 6:24:41 AM
  • emily: cj đang làm hả? 8/28/2017 6:25:31 AM
  • Nắng:8/28/2017 6:26:05 AM
  • emily: wow 8/28/2017 6:26:25 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:29 AM
  • emily: not_worthy 8/28/2017 6:26:33 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:36 AM
  • Nắng: miễn lễ 8/28/2017 6:26:38 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:41 AM
  • emily: hihihi 8/28/2017 6:26:46 AM
  • emily: hee_hee 8/28/2017 6:26:50 AM
  • emily: đa tạ 8/28/2017 6:26:57 AM
  • emily: hee_hee 8/28/2017 6:27:03 AM
  • emily: cj xong chưa cj/ 8/28/2017 6:30:48 AM
  • Nắng: no_talking 8/28/2017 6:30:57 AM
  • emily: cj sao vậy ạ? 8/28/2017 6:31:51 AM
  • emily: sad 8/28/2017 6:32:03 AM
  • emily: cj ơi 8/28/2017 6:32:48 AM
  • Nắng: ơi 8/28/2017 6:33:02 AM
  • emily: cj ik đâu? 8/28/2017 6:34:03 AM
  • emily: hay cj nêu ý chính cg đc 8/28/2017 6:34:14 AM
  • Nắng: https://hoc24.vn/hoi-dap/question/120798.html 8/28/2017 6:47:38 AM
  • Nắng: vào đi , ko cần đăng kí cx đọc đk 8/28/2017 6:47:49 AM
  • emily: vâng 8/28/2017 6:48:21 AM
  • emily: thanks 8/28/2017 6:48:22 AM
  • Nắng: kcj 8/28/2017 6:48:29 AM
  • Phù thủy nhỏ: hi mn 9/16/2017 8:56:16 AM
  • Phương Thảo: vỏ sò khóa là gì? 9/25/2017 8:53:52 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:00:56 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:01:00 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:01:48 AM
  • carolina26072005: happy 11/28/2017 8:24:30 PM
  • carolina26072005: hello 11/28/2017 8:24:39 PM
  • kocotendst2k3: 2222 12/4/2017 9:14:23 PM
  • kocotendst2k3: Cho e hỏi chi tiết nào đã thể hiện sâu sắc, cảm động tình cha con của ông 6 vs bé thu ạ 12/4/2017 9:16:06 PM
  • hieuchutien: chich nhau ko 12/5/2017 5:48:55 AM
  • hieuchutien: cai dit nhau 12/5/2017 5:49:15 AM
  • hieuchutien: cut 12/5/2017 5:49:17 AM
  • hieuchutien: cc 12/5/2017 5:49:18 AM
  • ๖ۣۜGemღ: Mọi người có thắc mắc hay cần hỗ trợ gì thì gửi tại đây nhé https://goo.gl/dCdkAc 12/6/2017 8:53:59 PM
  • letu200122: @@ 12/12/2017 11:12:14 PM
  • letu200122: alo 12/12/2017 11:12:42 PM
  • свинья: rolling_on_the_floorrolling_on_the_floor 12/30/2017 8:58:02 PM
  • lanho: hi 1/10/2018 8:51:32 PM
  • dumamiconvan: sao A 2/26/2018 8:09:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:30 PM
  • Rushia : .. 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:34 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:34 PM
  • ๖ۣۜBossღ: x 3/2/2018 9:19:09 PM
  • ๖ۣۜBossღ: h 3/4/2018 7:11:57 PM
  • ngocanhwang: em chào mọi người ạ 3/18/2018 6:07:38 PM
  • caochanhkhai1111: hello 4/5/2018 10:21:43 PM
  • dungvong2006: helo 4/9/2018 9:04:06 PM
  • dungvong2006: em Ng Hồng Ngọc có đây k nhỉ 4/9/2018 9:05:38 PM
  • Nguyễn Nhung: angel 4/9/2018 9:09:49 PM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010