Nội dung theo thẻ

0
phiếu
0đáp án
818 lượt xem

ĐÀN GHI TA CỦA LOR – CA

 

I-  NHỮNG TRI THỨC CẦN NHỚ

1. Về Thanh Thảo

Thanh Thảo tên khai sinh là Hồ Thành Công, sinh năm 1946, quê ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông tham gia kháng chiến chống Mĩ ở chiến trường miền Nam. Từ sau năm 1975, Thanh Thảo chuyên hoạt động văn nghệ. Những năm gần đây, ngoài sáng tác thơ, ông còn viết báo, tiểu luận, phê bình,…

Trưởng thành trong phong trào thơ trẻ những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, tiếng thơ Thanh Thảo đã nổi bật là tiếng nói riêng trung thực của một thế hệ cầm súng tự giác trước vận mệnh dân tộc và lịch sử. Thơ ông nghiêng về suy tư, triết luận.

2. Về Phê-đê-ri-cô Gar-xi-a Lor-ca

Phê-đê-ri-cô Gar-xi-a Lor-ca (1898 – 1936) là một trong những nhà thơ và soạn kịch nổi tiếng nhất Tây Ban Nha. Từ nhỏ, Lor-ca đã được coi là thần đồng với năng khiếu thiên bẩm trên nhiều lĩnh vực của nghệ thuật: thơ ca, hội họa, âm nhạc,…

 Năm 1936, ông bị thế lực dân tộc chủ nghĩa cực đoan bắt và giết hại trong tư cách một người cộng hòa và người cộng sản.

3. Về bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca

Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca (rút trong tập Khối vuông ru-bích) không dễ đọc. Cần có một số tri thức bổ trợ để tiếp cận văn bản tốt hơn.

Bài thơ của Thanh Thảo có tính chất của thơ siêu thực. Nhà thơ đã tâm sự như sau: “Khi viết một bài thơ cụ thể, như bài Đàn ghi ta của Lor-ca, mối quan tâm chính của tôi chỉ là một hình ảnh gợi mở, một tâm hưởng hay một nhịp điệu mơ hồ nào từ đâu đó, chứ tuyệt nhiên không có một “vấn đề” nào cả! Anh hỏi tôi có gửi lời tri âm hay kí thác nào vào bài thơ ấy không, tôi xin trả lời rất thật là tôi không biết. Khi làm thơ thì chỉ từ ngữ gọi là từ ngữ, nhiệp điệu đẩy đưa nhịp điệu”. Tất nhiên đây chỉ là cách nói nhấn mạnh đặc trưng của tư duy thơ siêu thực vốn đề cao yếu tố trực giác, cái vô thức trong quá trình sáng tác. Bản thân sự quan tâm và hứng thú của Thanh Thảo với nhà thơ nổi tiếng Lor-ca cũng đã là một cách gửi gắm, nêu vấn đề.

Điều Thanh Thảo nói như trên rất tương đồng với chủ trương của các nhà thơ siêu thực. Thơ siêu thực hướng đến “lối viết tự động”, nghĩa là viết theo dòng cảm xúc đến một cách ngẫu nhiên, bật lên từ tiềm thức, không hề sắp xếp theo lý trí. Do đó, có cảm giác thơ siêu thực mang màu sắc phi lí, các hình ảnh, các liên tưởng đặt cạnh nhau không theo một logic nào, một nguyên tắc nào theo cách quan niệm duy lý thông thường. Thanh Thảo còn nói: “Dĩ nhiên, Lor-car là một nhà thơ mà tôi hết sức ngưỡng mộ, cả về thi ca lẫn cuộc đời và cái chết của ông đều gây cho tôi nhiều xúc cảm và ấn tượng. Chính những hình ảnh và nhạc điệu trong nhiều bài thơ Lor-ca đã dẫn dắt tôi khi viết bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca mà tôi coi như một khúc tưởng niệm Ông”. Nghĩa là những gì nhà thơ Thanh Thảo tiếp nhận về Lor-ca đã tích tụ lại trong tiềm thức dưới dạng “cảm xúc” và “ấn tượng”, khi viết bài thơ, chúng tự bật ra theo quy luật “viết tự động”. Chẳng hạn, lời đề từ bài thơ “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” chính là bắt nguồn từ bài thơ Ghi nhớ của Lor-ca:

Khi nào tôi chết

hãy vùi thây tôi cùng với cây đàn

dưới lớp cát.

Khi nòa tôi chết

hãy vùi thây tôi giữa rặng cây cam

và đám bạc hà.

Khi nào tôi chết hãy vùi thây tôi, tôi xin các người đó,

nơi một chiếc chong chóng gió.

Khi nào tôi chết!

(Diễm Châu dịch)

Để hiểu được hình tượng cây đàn ghi ta, cũng nên biết bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca:

Ghi ta bần bật khóc

Buổi sáng vỡ bình yên

Ghi ta bần bật khóc

Không thể nào dập tắt

Không thể nào bắt im.

Ghi ta bần bật khóc

Như nước chảy theo mương

Như gió trường trên tuyết

Không thể nào dập tắt

Ghi ta khóc không ngừng

Những chuyện đời xa lắc.

Như mũi tên vô đích

Như hoàng hôn thiếu vắng ban mai

Như hạt cát miền Nam bỏng rát

Xót xa than lạnh giá sắc sơn trà

Những chú chim đầu tiên chết gục theo cành.

Ôi ghi ta nạn nhân khốn khổ đáng thương

Của bàn tay – bộ dao năm lưỡi!

(Chưa rõ người dịch)

Có người hỏi, những hình ảnh “áo choàng đỏ gắt”, “hát nghêu ngao”,… là những đặc trưng Tây Ban Nha, Thanh Thảo trả lời: “Đó là những hình ảnh về Tây Ban Nha đã lặn sâu vào tôi từ khi tôi đọc những tác phẩm của Hê-minh-uê – một nhà văn người Mĩ. Mãi cách đây mấy năm, tôi mới có dịp ghé qua Bác-xê-lô-na, trong khi bài thơ này đã viết cách đây ngót 30 năm, nên những hình ảnh Tây Ban Nha mà tôi có được đều qua sách vở. Cách biểu đạt này theo tôi cũng không mới mẻ gì, nhưng nó thích ứng trong bài thơ này, khi Lor-ca được coi là “con họa mi Tây Ban Nha”. Lor-ca có câu thơ tôi thuộc lòng từ 40 năm nay, qua bản dịch của Hoàng Hưng: “Con ngựa đen/vầng trăng đỏ”, còn hoa li-la (hoa ly- hoa huệ tây) thì không chỉ có ở Tây Ban Nha, nhưng dường như nó đã đi vào một tác phẩm nào đó viết về Tây Ban Nha mà tôi nhớ. Với lại, li-la còn gợi âm thanh như một cú “vê” ghi ta – cây đàn mà người Việt mình hay gọi là “Tây Ban cầm”. Một không khí hơi mờ ảo, những hình ảnh mơ hồ lãng đãng… là những gì tôi có được về xứ sở An-đa-lu-xia mà tôi cảm nhận qua thơ Lor-ca. Tôi đã cố gắng đưa vào bài thơ mình”. Như vậy, các hình ảnh đặc trưng về Tây Ban Nha đã được “nạp” vào tâm khảm nhà thơ bằng nhiều con đường, qua nhiều năm để khi viết về một nhà thơ lớn của Tây Ban Nha, chúng bật ra. Sôi nổi, bồng bột, ngẫu hứng, không xếp đặt, song vẫn quy tụ về con người Tây Ban Nha tài hoa, anh hùng. Bản thân các hình tượng trong bài thơ có thể được tiếp nhận khác nhau, đa nghĩa, tùy thuộc vào vốn sống, sự hiểu biết của từng người.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Ấn tượng về một không gian Tây Ban Nha

Những nét đặc thù đậm chất Tây Ban Nha được liên tưởng như tiếng đàn bọt nước, áo choàng đỏ gắt, miền đơn độc, trên yên ngựa mỏi mòn, hát nghêu ngao,… Đây là những ấn tượng đã được tích lũy qua văn thơ, âm nhạc, điện ảnh, qua thực tế tham quan… tập hợp lại đậm đặc tạo nên tình yêu với đất nước tươi đẹp, có nền văn hóa đầy bản sắc:

Những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

 li-la li-la li-la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chuếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn

Tây Ban Nha hát nghêu ngao

Trong thơ Lor-ca có những bài viết về cô gái Di-gan, cũng được liên tưởng đến trong mạch cảm nghĩ, trong ấn tượng về đất nước có bản sắc văn hóa độc đáo

Nhưng các hình ảnh trên cũng có thể đem lại một cảm nhận về người lữ hành cô độc Lor-ca. Người đi tìm kiếm những giá trị tinh thần, đấu tranh với các thế lực phản động. “Áo choàng đỏ gắt” chứ đựng sau nó hình ảnh những võ sĩ đấu bò tót rất quả cảm ở Tây Ban Nha. Không gian mênh mang, xa rộng, thời gian đêm với vầng trăng chuếnh choáng như trong cơn say nói một cái gì vĩ đại, phóng khoáng, tự do nhưng đầy cô đơn của người nghệ sĩ. Tiếng hát nghêu ngao gợi liên tưởng đến sự vô tư.

Chú ý sự kết hợp, liên kết, đặt cạnh nhau các hình ảnh thị giác (áo choàng đỏ gắt), hình ảnh cảm giác (vầng trăng chuếnh chóng, yên ngựa mỏi mòn), âm thanh (li-la li-la li-la, hát nghêu ngao) đem lại cảm giác khác lạ so với những hình tượng được liên kết theo logic lí trí thông thường.

2. Hình tượng tiếng đàn

“Áo choàng bê bết đỏ”. Có một sự song hành giữa hình tượng người võ sĩ đấu bò tót dũng cảm nhưng đã thành nạn nhân và Lor-ca bị đưa về bãi bắn. Vậy thì cuộc đấu tranh của Lor-car chống lại thế lực phản động cũng như trận đấu đầy quả cảm nhưng cũng rất nguy hiểm của người võ sĩ kia. Tiếng đàn được đặt trong những trường liên tưởng rất khác nhau, gợi nỗi đau đớn bất ngờ trước sự mất mát, trước cái chết của Lor-ca. Tiếng đàn là tiếng lòng, là tâm hồn của Lor-ca: “tiếng ghi ta nâu – bầu trời cô gái ấy”.

Có thể gợi liên tưởng tiếng đàn đến với nỗi đau đớn của cô gái có nước da nâu, người yêu của Lor-ca.

“Tiếng ghi ta lá xanh biết mấy” cũng có thể được hiểu như sự sống vĩnh cửu của tiếng đần.

“Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan” hay là sóng dậy từ tiếng đàn uất hận của người nghệ sĩ chiến đấu?

Trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca dùng hình tượng tiếng đàn chảy máu dưới năm ngón tay như bộ dao năm lưỡi. Lúc này đây, bộ dao năm lưỡi ấy uất ức lướt trên phím đàn khiến máu chảy ròng ròng. Tiếng đàn như tiếng lòng, tiếng thét phẫn nộ của Lor-ca.

Cái chết – sự ra đi của Lor-ca được liên tưởng với hình ảnh Lor-ca bơi sang ngang dòng sống trên chiếc đàn ghi ta màu bạc. Phải chăng tác giả liên tưởng đến hình ảnh vượt sang bến bờ bên kia, sang cõi Niết Bàn trong học thuyết giải thoát của Phật Giáo? Thật khó khẳng định, song song chuỗi những liên tưởng với các hình ảnh ném lá bùa cô gái Di-gan, vào xoáy nước, ném trái tim mình, vào lặng yên bất chợt cũng cho phép hiểu đây là sự ra đi vĩnh viễn.

Âm điệu tiếng đàn còn ngân nga mãi li-la li-la li-la như sự tiếc thương, như sự vĩnh biệt.

Có thể có những cách cảm nhận khác. Những hình tượng siêu thực cho phép mở rộng liên tưởng vô bờ mà các cách đọc như trên chỉ là một.

Người chiến sẽ đáu tranh cho tự do, cho cuộc sống tốt đẹp có thể bị giết nhưng tiếng đàn – tâm hồn của anh thì bất tử. Không thể chôn được tiếng đàn, tất nhiên, tiếng đàn bất diệt nhưu cỏ mọc hoang, có sức sống mãnh liệt. Tiếng đàn khóc như những giọt nước mắt long lanh, vầng trăng nước mắt rọi xuống đáy giếng trong suốt. Đó chỉ là một hướng trong trường liên tưởng đa chiều của  các hình tượng thơ. Dẫu cho các hình tượng rất khó đọc một cách xác quyết theo cách đọc duy lí thông thường nhưng nếu ta hiểu được tình cảm của người viết với Lor-ca thì ta cũng có thể giải thích các hình tượng ấy.

0
phiếu
0đáp án
577 lượt xem

VIỆT BẮC

(Trích)

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả

Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế (xem Vài nét về tiểu sử trong Ngữ văn 12, tập một).

Đường cách mạng, đường thơ của Tố Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam. Bảy tập thơ của Tố Hữu có thể coi là những cuốn biên niên sử bằng thơ ghi lại bảy chặng đường của cách mạng Việt Nam, của đời sống dân tộc, tâm hồn dân tộc trong sự vận động đi lên của tiến trình lịch sử.

2. Về tác phẩm

-     Việt Bắclà tên gọi khu căn cứ địa cách mạng ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta. Chiến khu Việt Bắc nay thuộc sáu tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang. Tính từ khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 cho tới chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Bắc là thủ đô của kháng chiến, của cách mạng được 15. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, miền Bắc được giải phóng, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ đã chuyển từ Việt Bắc về Hà Nội (10/1954).

-     Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác trong bối cảnh chia tay với Việt Bắc đầy lưu luyến như thế. Bài thơ dài 150 câu thơ lục bát. Những lời đối đáp mình – t, ta – mình, kẻ ở - người đi, người dân căn cứ địa cách mạng – người kháng chiến trở về Hà Nội. Tình cảm chia tay ấy được diễn tả dưới hình thức đối đáp của đôi lứa nam nữ trong ca dao dân ca tình yêu, tạo nên chất trữ tình đằm thắm. Câu từ của bài thơ dựa trên sự đối đáp này cho thấy rõ một đặc trưng của thơ Tố Hữu – thơ trữ tình chính trị. Nhà thơ viết về một đề tài cách mạng khô khan, rát khó cho thơ nhưng đã chọn cách chyển tải bằng hình thức đối lập nam nữ nên tác phẩm trở nên hấp dẫn. Hình thức đối lập qua thể thơ lục bát nhuần nhuyễn, những cách nói của văn học dân gian tạo ấn tượng tính dân tộc sâu đậm của bài thơ.

II-   PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Mạch cảm hứng thơ Việt Bắc

Đoạn trích của bài thơ dựa vào sách giáo khoa chủ yêu gợi lại những kỷ niệm, ân tình sâu nặng giữa người đi và kẻ ở. Việt Bắc 15 năm từng là thủ đô kháng chiến, là mảnh đất khai cơ lập nghiệp của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Những lời đưa tiễn cũng là những lời nhắc nhở về những kỉ niệm đẹp trong kháng chiến. Lời đáp lại là tiếng lòng cam kết son sắt thủy chung. Mở đầu bài thơ là hồi tưởng của người ở lại:

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sống nhớ nguồn?

Đừng quên tình cảm thiết tha mặn nồng của người Việt Bắc, cũng đừng quên đây là quê hương cách mạng, là cội nguồn của sự nghiệp lớn. Lời đáp diễn tả tình cảm tha thiết và lời hẹn ước của người về:

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Cũng nói đến sự trân trọng, uống nước nhớ nguồn của người về:

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…

          Hai câu đầu mang sắc thái quan hệ cá nhân, sắc thái tâm tình chia sẻ. Hai câu sau mang sắc thái cảm xúc của “cái ta” chung, là những tình cảm lớn. Chọn hình thức đối lập nam nữ truyền thống trong ca dao, dân ca, tác giả đã diễn tả khéo léo tâm trạng của người cách mạng với người dân Việt Bắc trong buổi chia tay. Câu chuyện của người cách mạng mang màu sắc tâm linh lãng mạn, hấp dẫn.

2. Nỗi nhớ về đất và người Việt Bắc

          Cảnh và người Việt Bắc đã để lại nỗi nhớ không thể quên trong tâm hồn người về. Không một nỗi nhớ nào về thiên nhiên Việt Bắc lại thiếu hình ảnh đẹp về người Việt Bắc và không một nỗi nhớ nào về con người Việt Bắc lại thiếu nỗi nhớ về vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc. Bởi lẽ đơn giản: con người Việt Bắc gắn bó với thiên nhiên, đến lượt mình, người chiến sĩ cách mạng, người kháng chiến sống chan hòa với người Việt Bắc, được che chở giữa đại ngàn rừng núi. Anh không đi ngoạn cảnh, đi du lịch mà đi kháng chiến, sống dựa vào dân, cùng chia sẻ với dân, đồng cam cộng khổ:

Ta đi ta nhớ những ngày

Minh đây ta đso, đắng cay ngọt bùi

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

          Cuộc sống gắn bó, cùng chia sẻ, hòa đồng là điểm tựa cho nỗi nhớ về đất và người Việt Bắc.

          Đáp lại, người Việt Bắc từ góc độ người dân đã từng giúp đỡ, chở che cho người cách mạng nhắc đến những kỷ niệm chia sẻ ân tình. Những món ăn quen thuộc của rừng núi được kể đến đã gợi nhắc những kỷ niêm không thể quên:

Mình về rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già.

Lời đáp lại của người cách mạng thật xốn xang xúc động: quên sao được bắp ngô chia sẻ mà bà mẹ lam lũ, vất vả “địu con lên rẫy” đem về, quên sao được những người lao động cần cù vì cách mạng. Hình ảnh người mẹ và em bé trên lưng mẹ cùng lên nương có sức gợi xúc cảm vô bờ:

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô.

Và nếu có nghĩ đến cảnh rừng tươi đẹp thì nhớ ngay đến những con người trong khung cảnh lao động vì kháng chiến:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Có thể đây là những câu thơ miêu tả thiên nhiên Việt Nam tuyệt đẹp: một bức tranh đủ màu sắc rực rỡ, có âm thanh của cả bốn mùa, cảnh và người giao hòa thân thiết. Mơ nở trắng, hoa chuối đỏ tươi, rừng phách vàng, tiếng ve kêu làm nền cho hình ảnh người em gái hái măng môt mình. Nhưng điều quan trọng là những hình ảnh này gợi nỗi nhớ về Việt Bắc, là để đáp lại lời dặn dò ân cần của người dân ở lại:

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng măng mai để già.

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Những con người Việt Bắc tuy nghèo khó nhưng tình nghĩa. Tấm lòng cao cả của con người Việt Bắc đẹp, trong sáng, lộng lẫy như cảnh Việt Bắc vậy. Người gài dao thắt lưng có thể là anh dân quân du kích mà cũng có thể là người lao động, cũng như cô gái hái măng hay người đan nón chuốt từng sợi giang. Họ đều đang làm những việc ân tình với kháng chiến hệt như bà mẹ địu con lên nương tần tảo kiếm từng bắp ngô để chia sẻ với người cách mạng. Có điều, lời thơ của tác giả thật kín đáo, gợi kỷ niệm riêng của hai người, phải dựa trên kết cấu đối đáp mới “giải mã” được. Sự gắn bó, chia sẻ, tình quân dân cá – nước là cảm hứng chủ đạo của cả đoạn thơ từ đầu cho tới câu “Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”. Không phải ngẫu nhiên mà mình, ta lại nhớ:

Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn va vang núi đèo

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nên cối đều đều suối xa…

Lớp học i tờ hay đêm liên hoan lửa trại ta nhớ về sinh hoạt gắn bó giữa cán bộ cách mạng với người dân trên núi rừng Việt Bắc. Tiếng mõ lốc cốc của đàn trâu trên đường về nhà khi chiều xuống hay tiếng chày giã gọi của cối gạo nương tả âm thanh, tả nhạc rừng (tiếng mõ trâu buổi chiều về nhà, tiếng chày giã gạo vọng từ phía suối xa) để hòa quyện vào nhạc của người “Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”. Không gian và con người được tả rất gợi, rất sinh động đầy xúc cảm.

3. Nỗi nhớ về căn cứ địa cách mạng

-     Việt Bắc là căn cứ địa cách mạng, là thủ đô kháng chiến. Ngày chia tay, người ở lại nhắc về những sự kiện nay đã thành kỷ niệm. Hồi tưởng là mạch cảm xúc chủ đạo, với những từ nhớ lặp đi lặp lại:

Mình về, có nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

-     Người về, như để cam đoan lòng mình sẽ chẳn bao giờ phia mờ những kỷ niệm, cũng nhớ, đắm mình vào mạch hồi tưởng về những tháng ngày chiến đấu gian khổ:

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.

Quên sao được những chiến công hiển hách của quan dân ta trên vùng rừng núi Việt Bắc: phủ Thông, đèo Giàng, phố Ràng… những địa danh biết nói. Việt Bắc che chở, Việt Bắc chứng kiến, Việt Bắc cùng ta đánh giặc:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nếu ở đoạn thơ nhớ về con người và cảnh vật Việt Bắc, âm điệu chủ đạo là trữ tình thì ở đoạn này, âm điệu sử thi anh hùng ca là chủ đạo. Hoạt động của con người được miêu tả có tầm kích vũ trụ: Bước chân làm rung chuyển đất, “Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”, bước chân làm nát đá, ánh đèn pha chọc thủng, rọi sáng “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày”.

-     Nói đến Việt Bắc, căn cứ địa kháng chiến, cũng là nói tới Đảng, Chính phủ và Bác Hồ. Từ Việt Bắc, như từ trái tim, đầu não, các chủ tưởng đường lối của trung ương Đảng và Chính phủ tỏa đi khắp nước, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng:

Điều quân chiến dịch Thu – Đông

Nông thôn phát động giao thông mở đường

Giữ đê, phòng hạn, thu lương

Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu…

Việc lãnh đạo đất nước ở buổi ban đầu lập nước đầy khó kahwn đã được bàn và quyết định ở Việt Bắc. Việt Bắc là niềm hy vọng, niềm mong đợi của cả dân tộc vì nơi đây Bác Hồ và Chính phủ cách mạng đã sống và làm việc:

Ở đâu u ám quân thù

Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đơn giống nòi

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

Nhờ có hình thức đối thoại mình- ta, ta –mình mà hàng loạt kỷ niệm đẹp về chiến khu Việt Bắc đã được tái hiện sinh động, đa dạng.

Những vấn đề chính trị, cách mạng tưởng khô khan đã được diễn đạt thật mềm mại, thiết tha, dễ thấm vào lòng người nhờ hình thước đối đáp của đôi nam nữ.

4. Thể thơ và ngôn ngữ

-     Về thể thơ: Bài thơ Việt Bắc  dài 150 dòng thơ lục bát. Giới nghiên cứu đều thừa nhận vẻ đẹp cổ điển của thơ lục bát ở bài thơ này. Tính chất cổ điển này trước hết thể hiện ở lối câu từ truyền thống của hát đối nam nữ trong ca dao dân ca. Mình – ta, ta – mình gắn bó quấn quýt gợi liên tưởng về những cuộc hát, đối đáp nam nữ truyền thống: Câu thơ lục bát thân thuộc, gần gũi với bất kỳ một người Việt Nam nào.

Hình thức thiểu đối trong câu thơ lục bát truyền thống được Tố Hữu vận dụng khá rộng rãi trong bài thơ Việt Bắc tạo nên cảm giác về sự cân đối, chặt chẽ: nhìn cây nhớ núi/ nhìn sông nhớ nguồn; Bâng khuâng trong dạ/ bồn chồn bước đi; Trám bùi để rụng / măng mai để già,… Nói như Xuân Diệu “khêu gợi nhiều hơn là diễn tả”, “chữ đúc lại với nhau”. Nhưng bản chất của đối xứng là tạo ra thế đối lập khiến cho hình tượng thơ phong phú, đa dang, câu thơ có vẻ cổ điển.

       + Đối lập không gian:

-   Nhìn cây nhớ núi / nhìn sông nhớ rừng

-   Trăng lên đầu núi / nắng chiều lưng nương

       + Đối lập thời gian:

Nhớ khi kháng Nhật / thuở còn Việt Minh

+ Đối lập nội tâm và hành động:

Bâng khuâng trong dạ / bồn chồn bước đi

+ Đối lập hai sự việc:

Địu con lên rẫy / bẻ từng bắp ngô.

+ Đối lập màu sắc:

Hắt hiu lau xám/ đậm đà lòng son

Có thể kể ra nhiều cặp đối lập tương tự.

Mặt khác, về mặt nhịp điêu câu thơ, hình thức tiểu đối đã góp phần thay đổi nhịp điệu của câu thơ lục bát. Trong số tác phẩm dài hơi (150 dòng thơ lục bát), điều này rất có ý nghĩa, làm cho bài thơ luôn luôn vận động, biến hóa, thay đổi từ ý, lợi, nhịp điệu, khiến cho toàn bài thơ hấp dẫn, tránh cảm giác đều đều, lặp đi lặp lại. Bài thơ Việt Bắc xứng đáng là một đỉnh cao của văn học cách mạng.

-   Về ngôn ngữ: Tác gải sử dụng từ ngữ hàng ngày, lời ăn tiếng nói dân gian, cách xưng hô mình – ta, ta – mình; sử dụng các dạng cấu trúc câu phổ biến của ca dao, dân ca trữ tình, hát đối đáp nam – nữ như bao nhiêu…bấy nhiêu (Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu; so sánh Qua đình ngả nón trông đình – đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu); sử dụng mô-típ về nỗi nhớ rất phổ biến trong ca dao, đặt câu hỏi có nhớ…, còn nhớ…; gọi tên các sự vật gợi liên tưởng không gian Việt Bắc: trám, măng mai, lau, hoa chuối, tiếng mõ, cối (cối gạo nương),… những hình ảnh đặc thù của con người Việt Bắc bản khói, áo chàm…

Trong thơ Tố Hữu, các địa danh thường xuyên xuất hiện, như là một biện pháp kỹ thuật khơi gợi tình yêu, niềm tự hào về đất nước. Trong bài viết Việt Bắc, ta gặp lại ngòi Thia, sông Đáy, phủ Thông, đèo Giàng, phố Ràng, đèo De, núi Hồng, mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào. Đó là chưa kể đến những địa danh với những đặc sản khác trong những đoạn thơ không được trích dẫn (như Vại Hương Canh, gạch Bát Tràng, chiếu Nga Sơn, lụa Hà Đông, vải Nam Định,…). Không có tình yêu đất nước chung chung, chỉ có đất nước qua những con người, những vùng đất, những sự vật cụ thể mà ta đang sống.

 

0
phiếu
0đáp án
613 lượt xem

TÂY TIẾN

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

-     Quang Dũng (1921 – 1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm. Quê ở làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) nhưng ông học trung học ở Hà Nội. Sau cách mạng tháng Tám, Quang Dũng tham gia quân đội. Từ sau năm 1954, ông là biên tập viên Nhà xuất bản Văn học.

Quang Dũng là người đa tài, giỏi “cầm, kỳ, thi, họa”. Ông sáng tác bài hát, vẽ tranh, làm thơ, viết văn và giỏi cả kiếm thuật. Bài thơ Tây Tiến thể hiện các tài năng này với chất nhac, chất thơ, chất tạo hình và chất tráng ca là điều tự nhiên.

-     Quang Dũng là người trực tiếp tham gia chiến đấu trong đoàn quân Tây Tiến từ năm 1947. Năm 1948, sau khi xa đơn vị một thời gian, nhà thơ đã sáng tác bài thơ này, lúc đầu cso tên là Nhớ Tây Tiến; năm 1957, khi in lại, ông đã bỏ chứ “nhớ”.

Tây Tiến đã từng có một số phận gian truân, có lúc người ta nghĩ nhà thờ vẫn còn tâm hồn tiểu tư sản, nhưng rồi bài thơ đã có được vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Bài thơ được khắc trên đài tưởng niệm các liệt sĩ Tây Tiến ở Hòa Bình.

2. Về đoàn quân Tây Tiến

          Trung đoàn Tây Tiến được thành lập đầu năm 1947, trong đó có sự tham gia của hai tiểu đoàn Hà Nội với khá nhiều học sinh, trí thức. Nhiệm vụ của trung đoàn Tây Tiến là phối hợp với lực lượng yêu nước Lào lập chính quyền cách mạng ở Sầm Nưa, đánh địch ở Tuần Giáo, Hòa Bình, Quỳnh Nhai, trên tuyến sông Đà, sông Mã, sang Sầm Nưa rồi trở về miền Tây Thanh Hóa… góp phần giữ vững địa bàn miền Tây. Những gian khổ, hi sinh được nhắc đến trong bài thơ là sự thật về cuộc chiến tranh ở rừng núi thời xưa được mệnh danh là “ma thiêng nước độc”. Bệnh sốt rét đã khiến cho nhiều chiến sĩ rụng tóc, hình ảnh “đoàn binh không mọc tóc” và “quân xanh màu lá” là tả thực những chiến sĩ thời gian khổ ấy.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.  Đặc điểm về nội dung

a) Bố cục của bài thơ

          Bài thơ viết theo thể hành, gồm 4 đoạn. Cảm xúc chủ đạo là nỗi nhớ thương da diết đồng đội trong đoàn quân Tây Tiến và núi rừng miền Tây, là niềm tự hào vô hạn về những đồng đội của nhà thơ. Nỗi niềm thương nhớ này trải rộng theo một không gian bao la với bao địa danh núi sông, làng bản miền Tây.

-     Đoạn 1 (từ đầu đến “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”): Một bức tranh toàn cảnh về núi rừng Tây Bắc.

-     Đoạn 2 (tiếp theo đến “Trôi dòng nước lũ hoa đung đưa”): Vẻ đẹp lãng mạn của miền Tây.

-     Đoạn 3 (tiếp theo đến “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”): Bức tượng đài tập thể về những người lính Tây Tiến.

-     Đoạn 4 (đoạn còn lại): Sự nghiệp của những người lính Tây Tiến vẫn được đồng đội tiếp tục.

b) Một bức tranh toàn cảnh về núi rừng Tây Bắc

-     Với một tâm hồn thơ tinh tế, một con mắt của nghệ sĩ tạo hình, nhà thơ khắc họa một bức tranh đặc sắc về hông gian hoạt động của những người lính Tây Tiến. Tuy vậy, phải chú ý rằng Quang Dũng không đơn thuần đứng ngắm nhìn từ xa hay tưởng tượng để tả mà tác giả chuyển tải cảm nhận từng trải về thế giới núi rừng đó, cảm giác của một người đã đắm mình trong không gian đó. Cái nhìn về Tây Bắc là cái nhìn của một người trong cuộc, đã từng tự mình thí nghiệm các cảm giác trèo đèo vượt suối:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

          Về cảnh trập trùng, khúc khuỷu của núi đồi xưa. Chinh phụ ngâm đã từng viết: “Hình khe thể núi gần xa – Đứt thôi lại nổi thấp đà lại cao”. Nhưng sự điệp trùng ấy có thể đứng từ xa nhìn cũng thấy. CÒn tả núi cao đến “heo hút”, “ngàn thước”, nơi súng có thể “ngửi trời” được thì đó là một lối tả đầy cảm giác. Hình ảnh “súng ngửi trời” chuyển tải một thông tin: tác giả là người chiến sĩ mang súng đã qua con dốc hiểm trở ấy. Muốn viết được như thế thì phải có con mắt vượt tầm đỉnh núi, đắm chìm vào trong mây mới cảm nhận được. Tả núi cao mà chủ yếu để nói về những cái vực sâu rợn người “dốc thăm thẳm”. Câu thơ như bị chặt đôi để diễn tả dáng núi cao vút và hạ thấp xuống rất đột ngột. Lên cao thì vất vả nhưng xuống núi thì nguy hiểm vô cùng.

-     Với thơ ca, rừng núi không phải là vô hồn, vô tri, vô giác. Dân gian có thành ngữ “ma thiêng nước độc”. Thế Lữ đã từng nói về “oai linh rừng thẳm” (Nhớ rừng). Nhưng cái mới của Quang Dũng là bằng cái tài thẩm âm tinh tế, và vẫn của người đã sống ở rừng, đã nghe và đã nhìn, ông ghi lại những lời chủ âm đặc thù của rừng già Tây Bắc là tiếng suối, tiếng hổ báo gầm gào, khiến người đọc cảm nhận được cái oai linh rờn rợn của núi rừng lúc chiều buông, đêm về:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đem Mương Hịch cọp trêu người

-     Bằng bút pháp lãng mạn, nhà thơ cực tả sự hiểm trở, dữ dội của thiên nhiên với dụng ý tạo sự đối lập rất rõ. Con người chỉ anh hùng khi vượt qua những thử thách khốc liệt. “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Trên cái nền thiên nhiên khốc liệt ấy, càng tháy rõ vẻ đẹp của sự hi sinh, vượt khó vượt khổ của đoàn quân Tây Tiến. Nhà thơ không mĩ lệ hóa rừng núi, tức không mĩ hóa cuộc chiến tranh; nhà thơ nhìn thẳng vào hiện thực của mất mát, hi sinh, điều mà có thể người này người khác né tránh khi viết về chiến tranh. Dẫu sao, chiến tranh không phải là cuộc dạo chơi. Đã có người đồng đội kiệt sức trên bước đường tiến quân:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

-     Nhưng Tây Bắc không chỉ có núi rừng oai linh, hiểm trở. Tây Bắc còn là con người. Trong bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng sử dụng thủ pháp đối lập tương phản rất thành công. Cứ cuối mỗi đoạn thơ tả cảnh núi rừng hiểm trở, Quang Dũng lại làm dịu cảm giác rùng rợn mỏi mệt bằng việc gợi nhớ đến lòng người Tây Bắc hồn hậu, chân tình. Cứ mỗi lần kiệt sức, mỏi mệt trên đường hành quân hiểm trở, tâm hồn người chiến binh lại được an ủi vỗ về bởi tình quân dân nơi bản Mương, bản Thái:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mương Lát hoa về trong đêm hơi

          “Hoa về trong đêm hơi” theo chúng tôi phải được hiểu là ánh đuốc (của dân bản hay các chiến sĩ ?) cháy sáng bập bùng trong đêm sương giá mịt mùng của rừng núi (đêm hơi)

          Đang rã rời thân thể khi vượt dốc cao ngàn thước và rợn người nhìn xuống vực sâu thầm thì lòng hân hoan, ấm lại vì đã thấy bản làng đang ẩn hiện phía trước:

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

          Câu thứ hai đều là thanh bằng như làm dịu nỗi niềm cơ cực của anh lính Tây Tiến, như một tiếng thở phào nhẹ nhõm vì sắp tới đích. Rừng núi hiểm trở nhưng có tấm lòng của người dân làm dịu đi tất cả những thử thách khốc liệt đó.

Một cặp đối lập nữa rất tiêu biểu cho thủ pháp đối lập trong tả tình, tả cảnh của Quang Dũng:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

          Giờ phút quây quần đầm ấm quanh nồi cơm nếp bốc khói thơm ngào ngạt đã làm ấm lòng người lính trải qua núi cao vực thẳm, những chiều tà thác đổ, những đêm sâu cọp gầm. Những cảnh tượng dữ dội đã ở sau lưng rồi. Hình ảnh cơm lên khói và mùi thơm của nếp xôi rất đặc biệt cũng ấn một thông báo về sự từng trải các cảnh huống khác nhau của “cái tôi” tác giả giữa núi rừng Tây Bắc. Không phải chỉ có những cuộc hành quân giữa núi rừng hiểm trở mà nơi đây còn đầm ấm tình quân dân: những người chiến sĩ cách mạng được nhân dân nồng hậu chào đón.

          Đoạn thơ đầu tuy khắc họa một bức tranh về miền Tây Bắc hùng vĩ nhưng nhà thơ không dừng lại ở cảnh. Tác giả muốn diễn đạt tâm hồn, cảm xúc của những người lính Tây Tiến trên chiến trường miền Tây Bắc, cũng nói đến cả tình quân dân ấm áp, mặn mà.

c) Vẻ đẹp lãng mạn của miền Tây Bắc

-     Đoạn thơ thứ hai với 8 câu thơ nối tiếp mạch cảm xúc của đoạn thơ đầu. Những gian truân, khốc liệt đối với tuổi trẻ hừng hực sức sống đã lùi xa. Giữa đại ngàn hoang vu, cổ sơ ấy bỗng xuất hiện một đêm liên hoan lửa trại. Những cô gái Thái, Lào duyên dáng, xinh đẹp, những tiếng khèn, điệu múa đọc đáo, mới lạ với những anh lính vùng xuôi (có thể là điệu Lăm vông, Lăm tơi mà khi ấy tác giả gọi là man điệu) làm nên màu sắc huyền ảo, lãng mạn. Tả vẻ đẹp lãng mạn của đêm lửa trại là để tả vẻ đẹp lãng mạn của tâm hồn chiến sĩ Tây Tiến. theo Vũ Quần Phương, câu thơ “Kìa em xiêm áo tự bao giờ” là kể chuyện nam bộ đội đóng vai nữ rất đẹp…gái. Nhưng ngữ cảnh toàn bài thơ tạo áp lực cho phép hiểu đay là các cô gái địa phương (Mai Châu mùa em thơn mếp xôi; Khèn lên man điệu nàng e ấp):

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

          Không phải là ánh lửa trại bình thường mà là hội đuốc hoa. Trong tâm thức người Việt, hội hè không thể thiếu trai gái thanh lịch. Khổ thơ mang theo cái rạo rực, bay bổng say người của hội hè. Các từ ngữ bùng lên, kìa em, e ấp diễn tả nỗi lòng, cảm hứng của lính Tây Tiến. Mọi gian khó với tâm hồn trai tráng của họ đã biến mất, còn lại sự yêu đời, lạc quan.

-     Nguyên tắc đối lập được tác giả vận dụng triệt để. Đường Tây Tiến không chỉ hùng vĩ, đầy thử thách bạo liệt mà còn có những cảnh núi sông thơ mộng, đẹp không ngờ:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bề

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

          Cây lau với dòng sông từ xưa đã là hai hình ảnh sóng đôi, gợi hứng cho thi ca, đó là “Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu” (Truyện Kiều) gợi nỗi niềm tương tư của Kim Trọng, đó là “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách – Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu” (Tì bà hành). HÌnh như thân lau nhẹ nhàng, bông hoa lau trắng xóa luôn phất phơ trong gió, sống động như có hồn, bên dòng nước chảy ở thời nào cũng gợi cảm cho nhà thơ. Câu thơ trên gợi vẻ trầm mặc, sương khói, huyền ảo của dòng sông khi chiều về sương xuống. Cảnh thiên nhiên gợi suy tư.

          Chiều sương hồn lau là những hình ảnh tĩnh. Những dáng người cầm lái con thuyền độc mộc lướt theo dòng nước chảy xiết làm những bông lau bên bờ đong đưa là những hình ảnh động. Hai hình ảnh tĩnh và động bổ sung cho nhau, tạo nên bức tranh hài hòa. Cách đặt câu hỏi có thấy… có nhớ… là lối đặt câu khẳng định “hẳn phải nhớ”. Không nhớ làm sao được vẻ đẹp ấy? Con mắt hội họa đã giúp nhà thơ tạo ra bức tranh đẹp như vậy. Có thể nói rừng núi hùng vĩ và con người miền Tây Bắc khỏe đẹp diễn tả tâm hồn đẹp, khỏe, lãng mạn của những người lính Tây Tiến trẻ trung, đầy sức sống.

d)Bức tượng đài tập thể về những người lính Tây Tiến

          Đoạn thơ thứ ba gồm 8 câu thơ tiếp theo. Nhà nghiên cứu văn học Phong Lan đã gọi bài thơ Tây Tiến  là “tượng đài bất tử về người lính vô danh”. Đây là một cách diễn đạt hình tượng rất thành công nội dung đoạn thứ ba.

-     Những gian khổ, hi sinh được nhắc đến trong đoạn thơ này là có thật. Sốt rét ác tính trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt kham khổ đãm là nguyên nhân tạo nên ngoại hình đặc biệt của anh lính Tây Tiến: “không mọc tóc”, “da xanh màu lá”. Nhiều nhà thơ kháng chiến có nói tới căn bệnh sốt rét ở người bộ đội vệ quốc như là một chứng tích của tinh thần hi sinh, vượt gian khổ. Còn Quang Dũng muốn nói đến thần thía của người lính Tây Tiến hơn là ngoại hình. Cái hùng toát lên từ hình tượng người chiến binh:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

          Tác giả không viết “rụng tóc” mà viết “không mọc tóc” vì viết như thế sẽ nói lên cái ý chí không bị động của người lính Tây Tiến, hình như anh chủ động để trọc đầu để dễ dánh giáp lá cà với địch. Từ màu da xanh xao như lá vẫn toát lên cái “oai hùm”. Kế thừ hình tượng truyền thống về những bậc trượng phu, tráng sĩ, những oai tướng hùm thiêng như Từ Hải, như “ông hùm Đề Thám”, câu thơ mang âm hưởng hào hùng, tráng ca.

          Khổ thơ tiếp theo tiếp tục được cấu trúc theo nguyên tắc đối lập. Từ ba câu thơ đầu toát lên khí phách, thần thái của chiến sĩ Tây Tiến. Vẻ oai phong lẫm liệt của chiến sĩ Tây Tiến được diễn tả chủ yếu qua đôi mắt: “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới”. Trong tâm thức người phương Đông, mắt là linh hồn của con người và sự vật. Ở Đông Nam Á, con thuyền khi hạ thủy được con người điểm nhãn để bắt đầu cho cuộc sống của nó. Người ta “khai quang, điểm nhân” cho môt bức tượng. Tả mắt là thủ pháp phổ biến trong văn học để truyền thần nhân vật. Ánh mắt giận dữ của chiến binh Tây Tiến đặc tả khí phách và ý chí chiến đấu của các anh.

          Tuy vậy, vẻ ngoài có vẻ dữ dằn không hề là bản chất của các anh. Họ là những thanh niên, học sinh của Hà Nội tạm “xếp bút nghiên thoe việc đao cung” lên đường kháng chiến. Họ có bao kỷ niệm và trong trái tim của họ vẫn dành trọn chỗ cho những cô gái đã quen và chưa quen của Hà Nội. Với bút pháp quen thuộc, nhà thơ đặt hai trạng thái như đối lập nhau để vẽ nên chân dung hoàn chỉnh của người lính Tây Tiến:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

          Chất men lãng mạn cũng là một động lực tinh thần quan trọng của người lính, giúp họ vượt lên mọi gian khổ, hi sinh. Có thể người nghiêm khắc cho đây là biểu hiện của tâm hồn lãng mạn, tiểu tư sản. Song chính hình ảnh “dáng kiều thơm” là nét vẽ cần thiết cuối cùng giúp cho hoàn chỉnh hình tượng chiến sĩ Tây Tiến.

Chính tinh thần lãng mạn đã là một điểm tựa giúp nhà thơ nói lên một vấn đề mà nhiều người lúc đó né tránh. Đã là chiến tranh thì phải có mất mát, hi sinh. Vấn đề là không rơi vào bi quan, là nhìn ra từ sự mất mát tầm vóc cao đẹp của sự hi sinh. Nhà thơ đã dùng những câu thơ sóng đôi, câu sau cắt nghĩa, lí giải cho câu trước:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

          Những nấm mồ là có thật, tinh thần tự nguyện xả thân cho Tổ quốc cũng là có thật. Đó là hào khí của một thời đại “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

          Cái chết nơi chiến trường thật đơn sơ, giản dị. Anh nằm xuống không có cả manh chiếu bọc thây. Anh về lại đất mẹ như cái chết của anh đã được dòng sông Mã oai hùng cúi chào vĩnh biệt bằng những tiếng gần đau đớn, uất hận. Tiếng gầm của dòng sông Mã ấy sẽ còn mãi mãi đến muôn đời.

Việc dùng các từ Hán Việt đã đem lại sắc thái trang trọng, tôn nghiêm, Biên cương mồ viễn xứ, áo bào, khúc độc hành tạo không khí cổ điển. Nhà thơ kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của những chiến sĩ Tây Tiến. Đoạn thơ mang âm hưởng bi tráng.

e) Sự nghiệp của những người lính Tây Tiến vẫn được đồng đội tiếp tục

Bốn câu thơ kết thúc bài Tây Tiến với nhịp thơ chậm, nhưng giọng thơ vẫn bi hùng. Vẻ đẹp của người lính chủ yếu là ở tinh thần chiến đấu, hi sinh vì Tổ quốc:

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồm về Sầm Nưa chẳng về về xuôi.

          Ra đi không hẹn ước ngày về. Chờ đợi họ ở phía trước vẫn là con đường thăm thẳm, gian nguy còn nhiều. Nhưng bất cứ ai lên với đoàn quân Tây Tiến, sống với hào khí oanh liệt, lãng mạn của những người lính Tây Tiến được thành lập và bắt đầu cuộc trường chinh gian khổ anh hùng – sẽ là cái mộc thời gian lịch sử của một thời không trở lại lần nữa, nhưng tinh thần Tây Tiến thì bất diệt.

2.  Đặc điểm về nghệ thuật

          Bài thơ sử dụng một số từ Hán Việt. Đây có thể là dấu vết của quan niệm truyền thống về người anh hùng, gắn liền với cái hùng, cái bi, cái cao cả, nhằm tạo nên ấn tượng con người vũ trụ.

Bài thơ khá đặc sắc về nhạc điệu do việc tác giả mo phỏng thể hành của thơ truyền thống. Sự thay đổi khá linh hoạt của vần, thanh điệu bằng trắc, nhịp câu thơ khiến cho bài thwo thoát khỏi sự gò bó có thể có của các khổ thơ có dáng vẻ thơ Đường luật.

0
phiếu
0đáp án
531 lượt xem

Trải qua bao năm tháng “Truyền Kiều” của Nguyễn Du vẫn l­u dấu trong tâm khảm bạn đọc không chỉ bởi ngôn ngữ trong sáng ,các biện pháp tu từ điêu luyện mà còn bởi tác phẩm có những câu thơ hay nhất,đẹp nhất,tiêu biểu cho bút pháp tả ng­ười của tác giả: 
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
(Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”)

Bốn câu thơ-28 chữ mà giống như 28 viên ngọc bằng ngôn ngữ toả sáng lấp lánh trong cả trang thơ.Vừa chiêm ngưỡng dáng hình mảnh dẻ thanh tao và tâm hồn trắng trong như tuyết của hai người con gái đầu lòng nhà ông bà Vương viên ngoại, người đọc chợt sững sờ tr­ước bức chân dung giai nhân được hé lộ bằng những đ­ường nét đầu tiên:
Vân xem trang trọng khác vời

Dòng thơ giới thiệu khái quát đủ để người đọc cảm nhận vẻ đẹp cao sang, quí phái của Thuý Vân,để rồi liền sau đó,như một nhà nhiếp ảnh tài ba,Nguyễn Du hướng ống kính của mình vào từng đường nét cụ thể trên gương mặt của người con gái:

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Mỗi câu thơ là một nét vẽ tài hoa về bức chân dung giai nhân, từng đường nét dường như đều là một kì công của tạo hoá,gương mặt tròn đầy,tươi sáng dịu hiền như ánh trăng,đôi mày dài thanh thoát,miệng cười tươi thắm như hoa,tiếng nói trong như ngọc,mái tóc đen,mềm,óng ả hơn mây,làn da trắng mịn màng hơn tuyết…Tả về nàng, Nguyễn Du phải tìm đến hoa,lá,ngọc,vàng,mây,tuyết-những báu vật tinh khôi trong trẻo của đất trời mới lột tả hết vẻ yêu kiều của người con gái ấy.
Vẫn là bút pháp ước lệ với những hình t­ượng quen thuộc nhưng khi tả Vân ngòi bút Nguyễn Du lại có chiều hướng cụ thể hơn lúc tả Kiều.Cụ thể trong thủ pháp liệt kê:khuôn mặt,đôi mày,làn da,mái tóc…Cụ thể trong việc sử dụng từ ngữ để làm nổi bật vẻ đẹp riêng của đối t­ượng:“đoan trang”,“nở nang”,“đầy đặn”.Những biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ,nhân hoá đều nhằm thể hiện vẻ đẹp trung thực, phúc hậu mà quí phái của người thiếu nữ.Điều kì diệu ở đoạn thơ này là Nguyễn Du đã miêu tả chân dung Thuý Vân là chân dung mang tính cách,số phận.Vẻ đẹp của nàng hoà hợp,êm đềm với xung quanh,được thiên nhiên yêu thương,nhường nhịn:“mây thua”;“tuyết nh­ường”nên nàng sẽ có một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ, êm ấm và một tương lai tươi sáng đón chờ.

Đoạn thơ khép lại sau khi đã hoàn thiện trong tâm khảm bạn đọc hình ảnh một nàng Thuý Vân sắc nước hương trời bằng ngôn ngữ thơ tinh luyện, những nét vẽ có thần,hàm xúc, gợi cảm,các biện pháp tu từ được vận dụng tài tình.Hàm ẩn đằng sau bức chân dung mĩ nhân là cả một tấm lòng quí mến trân trọng,ngợi ca con người mà đặc biệt là người phụ nữ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.

Đọc đoạn thơ,tìm hiểu kĩ về đoạn thơ, càng kính phục Nguyễn Du em càng trân trọng sự tinh tế trong ngôn ngữ Tiếng Việt.Bất giác em mong muốn được thay vài chữ trong câu thơ lúc sinh thời của đại thi hào dân tộc để diễn tả những suy nghĩ của mình: 
“Nhiều trăm năm lẻ về sau nữa
Thiên hạ mãi còn nhớ Tố Như”
0
phiếu
0đáp án
222 lượt xem

Có thể nói Nguyễn Duy và Nguyễn Minh Châu là hai cây bút tiêu biểu cho văn học Việt Nam từ năm 1954 đến nay. Mỗi tác phẩm của họ đều để lại những dấu ấn sâu sắc, những âm vang dậy lên trong ta sự xúc động chân thành.

Trong văn học thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Nguyễn Duy và Nguyễn Minh Châu đã rất thành công trong cảm hứng ngợi ca đất nước và nhân dân anh hùng. Từ sau năm 1975 đến nay, đất nước từng bước chuyển mình để đi đến sự đổi mới toàn diện.

Trên cái nền hiện thực ấy, Nguyễn Duy và Nguyễn Minh Châu đã hướng ngòi bút của mình vào các vấn đề có tính chân thực cao về đời sống xã hội. Một trong những đề tài được quan tâm là sự tự thức tỉnh, tự giáo dục để hoàn thiện vẻ đẹp nhân cách.

Đọc tác phẩm “Ánh Trăng” của Nguyễn Duy và “Bến Quê” của Nguyễn Minh Châu, ta cảm nhận sâu sắc bài học làm người mà mỗi tác giả đã gửi gắm trong hành trình tìm về nguồn cội và cuộc đấu tranh tự vấn lương tâm để thức tỉnh chính mình.

Đôi khi giữa cuộc sống phồn hoa đô hội, con người với đầy đủ những tiện nghi sinh hoạt hiện đại, sang trọng, bị cuốn hút bởi nhiều thú vui mới lạ, hấp dẫn dễ đánh mất đi những gì đẹp đẽ thân thương của quá khứ mà đáng lẽ phải trân trọng nâng niu, yêu quý. Ta đã bắt gặp điều ấy qua “Ánh Trăng”. Bài thơ đã đạt giải A trong cuộc thi thơ do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. “Ánh Trăng” là lời nhắc nhủ về những tháng năm gian lao mà anh dũng, nghèo khổ mà nồng ấm tình thương cuả cuộc đời người chiến sĩ gắn bó với thiên nhiên, với con người bình dị, hiền hậu, Nguyễn Duy đã gợi nhớ một miền ký ức thẳm sâu:

  “Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”

Dù sống ở “đồng”, ở “sông” hay ở “bể” ở “rừng” thì đi đâu nhân vật trử tình “Ta” cũng có “Trăng” bầu bạn. Quan hệ giữa Vầng Trăng – Ta là quan hệ tri kỉ. Không gian “Đồng” “Sông” “Biển” “Rừng” gợi nhớ quá khứ gian khổ. Ở đó Vầng Trăng đã trở thành máu thịt của Ta:

“Ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”

Từ Vầng Trăng Tri kỉ đến Vầng Trăng Tình nghĩa là quá trình gắn bó sâu nặng khẳng định một tình cảm vững bền tưởng như không bao giờ thay đổi. Thế nhưng, “người ta định rồi chẳng bao giờ người ta làm được” (lão Hạc – Nam Cao).

Nhân vật trữ tình trong Ánh Trăng đã như thế!

“Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
Vầng Trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường”

Từ Vầng Trăng Tri kỉ, Vầng Trăng Tình nghĩa nay đã biến thành Vầng Trăng người dưng! Qủa là một sự thay đổi không thể lường trước. Một sự phản bội?

Điều gì đã làm nên sự phản bội đáng xấu hổ ấy? Phải chăng là sự đổi thay về môi trường sống: Từ miền gian khổ thiếu thốn, khó khăn về nơi đầy đủ, sung sướng? từ giữa thiên nhiên mộc mạc chân chất.

“Trần trụi với thiên nhiên 
hồn nhiên như cây ảo”

Về với “Ánh điện cửa gương:…? phải chăng “có mới, nới cũ”? Lối sống mới, cuộc sống mới với bao nhiêu cái mới đã làm cho Ta quên đi Ánh Trăng quá khứ, đúng là sự tự cắt bỏ đi một phần máu thịt của chính mình! Thế nhưng, “cuộc đời vốn đa sự, con người vốn đa đoan” chỉ đến khi trong cuộc sống gặp trắc trở khó khăn thì Ta mới có dịp để nhìn lại chính mình:

“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn – đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”

Chính trong lúc khó khăn ấy của cuộc sống, Vầng Trăng, lại đột ngột xuất hiện trọn vẹn, thủy chung. Đối diện với “trăng tròn vành vạnh” là sự đối diện với sự vẹn tròn chân thật, yêu thương và ấm áp. Đối diện với lòng độ lượng, khoan dung của quá khứ ân tình, ân nghĩa Ta chợt thấy giật mình:

“Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”

Nhân vât trữ tình trong bài thơ “giật mình” hay chính Ta cũng phải giật mình. Hãy cảnh tỉnh mình khi chưa quá muộn!

Bài thơ như một lời tự sự của chính tác giả, như một lời tự sự của chính mỗi chúng ta, nhắc nhở ta về thái độ sống “uống nước, nhớ nguồn”, thủy chung cùng quá khứ.

Cũng là một bài học làm người, Nguyễn Minh Châu qua tác phẩm “Bến Quê” để lại trong ta những trăn trở, những suy ngẫm sâu xa mang tính triết lý.

“Bến Quê” được đánh giá là một trong những tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn đổi mới nền văn học. Có nhà văn cho rằng, ông là người mở đường tinh anh và tài năng đã đi được xa nhất.
Bài học làm người ta bắt gặp trong “Bến Quê” được gởi gắm qua nhân vật trữ tình – tư tưởng: nhân vật Nhĩ với nhiều nghịch lí trong cuộc đời.
Nhĩ là con người từng trải, có địa vị, đi rộng, biết nhiều. Bao cảnh đẹp chốn gần xa, của ngon vật lạ trên thế giới anh đều được thưởng thức: “Suốt cả đời Nhĩ đã từng đi không sót một xó xỉnh nào trên trái đất”. Thế mà những cảnh vật gần gũi nơi bến quê: “Cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông Hồng đang phô ra trước khuôn cửa sổ gian gác nhà Nhĩ như một thứ vàng thau xen lẫn màu xanh non. Những màu sắc thân thuộc quá như da thịt như hơi thở của đất mỡ màu” thì mãi cuối cuộc đời khi bị cột chặt trên giường bệnh Nhĩ mới nhận ra! Cũng như lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên – vợ anh mặc tấm áo vá! Hình ảnh người vợ tảo tần giàu đức hy sinh làm Nhĩ thật sự cảm động. Đó là tiếng lòng, tiếng đau thương mà không phải lúc nào anh cũng nghe cũng cảm được. Đến bây giờ Nhĩ mới khám phá ra vẻ đẹp của bến quê ư! Đến bây giờ Nhĩ mới thấy Liên mặt áo vá ư! Tại sao vậy? Phải chăng vì quá mãi mê khám phá những gì xa xôi mới mẻ mà anh đã bỏ quên đi điều gần gũi thân thương và rất đỗi thiêng liêng!

Khát vọng cuối cùng của Nhĩ lúc biết mình sắp từ giả cõi đời là muốn đặt chân lên mảnh đất ở bãi bồi bên kia sông, nơi ấy có bến quê của anh Nhĩ… Anh không thể tự mình làm được điều đó. Bởi vì “nhấc mình ra được bên ngoài phiến nệm nằm, anh tưởng mình như vừa bay được nửa vòng trái đất”. Anh đã phải cậy nhờ Tuấn – con trai anh làm điều ấy. Tuấn là sinh viên học tại một trường đại học ở tận một thành phố phía Nam đã miễn cưỡng nhận lời cha. Thế nhưng, lời cầu xin tha thiết và thái độ khẩn khoản của người cha ốm đau tội nghiệp đã bị anh bỏ quên ngay sau đó. Anh đã rơi vào trận chơi phá cờ thế trên vỉa hè và để lỡ mất chuyến đò duy nhất trong ngày về bãi bồi phía bên kia, để lỡ mất cơ hội duy nhất thực hiện ước nguyện của người cha đáng kính!

“Suốt đời Nhĩ cũng từng chơi phá cờ thế trên nhiều hè phố, thật không dứt ra được. Không khéo rồi thằng con trai anh lại trễ mất chuyến đò trong ngày. Nhĩ nghĩ một cách buồn bã, con người ta trên đường đời thật khó tránh khỏi được những cái điều vòng vèo hoặc chùng mình, vả lại, nó đã thấy có gì hấp dẫn ở bên kia sông đâu? Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều kiện riêng anh khám phá thấy như một niềm say mê pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích hết”. Những suy nghĩ mang tính trải nghiệm của Nhĩ làm cho ta cảm thấy day dứt trăn trở! Làm sao để thoát khỏi “cái điều vòng vèo chùng chình” trong cuộc sống? Trong cuộc đời? Bởi vì chính cái điều vòng vèo chùng chình ấy mà Nhĩ đã đau đớn ân hận vào giờ phút cuối cuộc đời! Và Tuấn – con trai anh rồi sẽ đau đớn ân hận bên linh cữu của cha! Và cả chúng ta nữa, chúng ta cũng có thể như thế!

Bài học làm người mà Nguyễn Minh Châu gửi gắm trong “Bến Quê” thật là sâu sắc!

“Ánh Trăng” và “Bến Quê” – hai tác phẩm với hai thể loại khác nhau nhưng cả hai là bài học quý giá cho mỗi chúng ta. Mắc-xim-gor-ki đã từng nói: “Văn học là nhân học”. Học văn là học về con người, học cách làm người!

Cám ơn Nguyễn Duy, cám ơn Nguyễn Minh Châu bằng văn học nghệ thuật đã cho ta bài học đạo lý làm người. Đó là hành trang sống của mỗi chúng ta để ta vững bước trên đường đời. Đúng là: “Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẻ cho ta đường đi mà nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng ta, khiến ta phải tự bước lên con đường ấy (Nguyễn Đình Thi, Tuyển tập, Tập II – Nhà Xuất bản Văn học)
Sưu tầm 
0
phiếu
0đáp án
732 lượt xem

BÀI LÀM

I- Bố cục

Cố hương là một trong những truyện ngắn tiêu biểu nhất trong tập Gào thét của Lỗ Tấn. Truyện có bố cục theo trình tự thời gian. Có thể chia thành 3 đoạn và đặt tên như sau :

Đoạn 1 (từ "Tôi không quản..." đến"...đang làm ăn sinh sống" ) : Anh Tấn trên đường về quê.

Đoạn 2 (từ "Tinh mơ sáng hôm sau..." đến "... sạch trơn như quét" : Những ngày anh Tấn ở quê.

Đoạn 3 (từ "Thuyền chúng tôi thẳng tiến..." đến"...thành đường thôi") : Anh Tấn trên đường xa quê. 

Đoạn 2 có thể chia thành các đoạn nhỏ :
+ "Tinh mơ sáng hôm sau..." đến "....sắp đến thôi" : Tấn gặp mẹ và nghe nhắc đến Nhuận Thổ.
+ "Lúc bấy giờ..." đến "...ra xem xem sao" : Kí ức của Tấn về Nhuận Thổ.
+ "Mẹ tôi đứng dậy..." đến "...mất ba bốn ngày" : Tấn gặp lại thím Hai Dương - mụ "com-pa".
+ "Một hôm..." đến "...sạch trơn như quét" : Tấn gặp lại Nhuận Thổ. 

II- Nhân xét về bố cục 

Đây là kiểu bố cục "đầu cuối tương ứng". Đoạn đầu là những cảm giác buồn thương quê hương tàn tạ, buồn vì sắp phải vĩnh biệt quê hương.

Đoạn cuối, khi thực sự rời xa quê lại vẫn là cảm giác buồn thương nhưng bây giờ nặng nề hơn, "vô cùng lẻ loi, ngột ngạt, ảo não" và vẫn là một tâm trạng ưu tư suy nghĩ. Tuy nhiên, đây không phải là sự lặp lại như kiểu đèn cù. Mà là sự lặp lại phát triển . Nhân vật tôi mang theo nỗi buồn về sự điêu tàn của quê hương và sự tàn tạ, nghèo khổ, yếu hèn của những con người trên mảnh đất ấy. Nhưng đồng thời "tôi" lại mang trong mình một niềm hy vọng lớn lao. Hy vọng về một con đường sáng sủa cho con cháu mai sau. Nhân vật "tôi", trở về quê lúc trời đông u ám, tối tăm. Đoạn cuối ra đi trong hoàng hôn, trời đang tối dần. Sự tương ứng về thời gian đã phản ánh cái không khí ảm đạm ngột ngạt của xã hội lúc bấy giờ.
Tác giả sắp xếp cho quá khứ, hiện tại xen kẽ nhau. Nhân vật "tôi", xuất hiện như nhân vật trung tâm, được đan xen nhiều đoạn hồi ức, nhiều đoạn độc thoại nội tâm. "Tôi"có dáng dấp như một nhân vật trữ tình, khiến cho câu chuyện giàu chất biểu cảm. Tuy nhiên cốt truyện vẫn giữ theo trình tự thời gian.

Ở đoạn 2, tác giả sử dụng nghệ thuật hãm chậm. Mẹ nhắc đến Nhuận Thổ. Bao nhiêu ký ức đẹp đẽ về người bạn hiện ra, cho thấy "tôi" khao khát gặp bạn xiết bao. Ta tưởng sau đó là Nhuận Thổ. Nhưng tiếp theo, "tôi" lại gặp mụ com-pa. Và bốn ngày sau, Nhuận Thổ mới xuất hiện. Nhưng lại là một Nhuận Thổ hoàn toàn khác. Nhờ sắp xếp kiểu này mà nhân vật "tôi" cũng như người đọc càng sốt ruột chờ đợi. Để rồi khi gặp được Nhuận Thổ, nỗi xót xa bỗng trào dâng bóp nghẹt con tim. 

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
590 lượt xem

Bài làm

Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân
Bâng khuâng nhớ cụ thương thân nàng Kiều
( Tố Hữu )

Hai câu thơ giúp ta hiểu được nghĩa tình đậm đà của nhà thơ Tố Hữu đối với thi hào Nguyễn Du và nỗi xót thương của ông đối với một nàng Kiều – hiện thân của một số phận bị đọa đày dưới thời phong kiến.

Ta có thể hiểu được phần nào nỗi đau đó, tâm trạng của Kiều qua tám câu thơ tuyệt vời sau:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dầu dầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi…

Có thể nói đoạn thơ là một bức tranh tâm tình đầy xúc động và là sự thể hiện bút pháp tài hoa của Nguyễn Du trong miêu tả nội tâm nhân vật. Những dòng thơ lục bát tinh tế, sắc sảo đã bao năm tháng đi qua vẫn làm say đắm lòng người. Một mình giữa không gian mênh mông, Kiều thấy bơ vơ quá. Một nỗi nhớ quê hương bỗng trào lên da diết :

Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Câu thơ tả cảnh biển khơi mênh mang, trong ánh nắng đang dần lịm tắt. Cảnh biển bao la một cánh buồm chấp chới gợi nỗi buồn day dứt quá. Cánh buồm lẻ loi, nhỏ nhoi trong bao la như có như không : “thấp thoáng”, “xa xa”, những từ ấy không chỉ gợi hình mà còn gợi tình, gợi cảm. Sự lẻ loi đơn chiếc, lênh đênh của cánh buồm hay là thân phận bơ vơ của Kiều nơi ‘góc bể chân trời’?.
Trời nước bao la, còn Kiều ở trong lầu Ngưng Bích – một cánh chim nhỏ nhoi trong lồng. Câu thơ của ông phảng phất một chút phong cách diễn đạt của ca dao:

Chiều chiều ra đứng bờ sông,
Muốn về quê mẹ mà không có đò.

Kiều đang đứng trước biển nhìn về phương trời xa đăm đắm khát khao nhưng vô cùng mệt mỏi : “buồn trông…”. Âm điệu lời thơ buồn và có gì rã rời quá! Nỗi buồn ấy như nhân lên khi Kiều nhìn đóa hoa nổi trôi, bập bềnh vô định:

Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Thuyền cũng trôi trong vô định, hoa cũng trôi trong vô định, “Biết là về đâu”. Có gì như thân Kiều một mình lạc lõng trong mờ mịt chân mây. Đâu là quê nhà? Chẳng ai là thân nhân. Hình ảnh “hoa trôi man mác” gợi nỗi buồn xót xa. Đau xót cho một đóa hoa lìa cội, lìa cành nổi trôi trên sóng nước dập vùi. Nhìn hoa trôi Kiều liên tưởng đến thân mình. Kiều cũng đang nhắm mắt để mặc dòng đời xô đẩy. Hoa lìa cành, hoa héo hoa tàn. Kiều lìa cửa, lìa nhà, đời Kiều như cánh chim lạc bầy bay trong giông tố. Một ngày kia con chim không tổ ấy có chết rũ bên đường?. Hình ảnh “hoa trôi” gợi cảm và dễ làm rung động lòng người, bởi lẽ dân gian thường dùng hình ảnh “bèo dạt mây trôi” để nói về kiếp người trôi nổi, bập bềnh. Những câu ca dao ấy đã “ phổ vào” hồn thơ của Nguyễn Du từ khi ông còn trong vòng tay của mẹ.

Đọc những câu thơ tiếp, ta càng thấy tâm trạng của Thúy Kiều. Xung quanh nàng, thiên nhiên cũng nhuốm một màu sắc buồn tẻ, héo tàn:

Buồn trông nội cỏ dầu dầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Vẫn âm điệu thơ buồn bởi vần bằng dàn trải, tạo cho ta cảm giác được cái nhìn mệt mỏi, chán chường của nhân vật trước cảnh vật mênh mông một màu buồn. Hình ảnh “nội cỏ dầu dầu” gợi cảm ở mộ Đạm Tiên. Có khác chăng chỉ là nơi đây không phải là một ngôi mộ cụ thể mà thôi. Màu “xanh xanh” làm cho cỏ cây không còn nét tươi sáng lại thêm vẻ ‘dầu dầu’, làm cho sự sống càng thêm cạn kiệt, làm cho bức tranh phong cảnh héo tàn thêm.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi…

Âm điệu lời thơ trở nên dữ dội với những từ gợi thanh : “ầm ầm”, “kêu”. Hình ảnh những đợt sóng cuộn lên, trào tới, xô đẩy, cùng với tiếng rít gào của gió vang lên đe dọa đến hãi hùng. Kiều thấy ‘gió cuốn’, nghe ‘ sóng kêu’ bỗng thấy kinh hoàng, hốt hoảng. Nỗi buồn, sự sợ hãi đã đưa Kiều vào tâm trạng não nề, hoảng hốt như kẻ bị bao vây, bị nhấn chìm, hoàn toàn bất lực. Kiều chới với như rơi vào vực thẳm. Những âm thanh đầy dự báo đã mách bảo với ta chặng đường đầy chông gai của Kiều ở phía trước.

Cả tám câu thơ đều “xoay tròn” trong nỗi buồn sợ của Kiều . Với phép điệp ngữ liên hoàn ‘buồn trông’, “buồn trông…” các câu thơ không chỉ có âm điệu buồn, mà còn làm ta “chóng mặt” trước diễn biến tâm trạng của một con người bất hạnh – Kiều . Chòn được âm điệu thơ, lựa được từ ngữ và hình ảnh phù hợp với tâm trạng nhân vật, nhà thơ đã chứng tỏ sự thông cảm sâu sắc yêu thương Thúy Kiều biết bao!

Đoạn thơ với bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế và hài hòa, thi sĩ Nguyễn Du đã để lại cho người đời một bức tranh tâm lí tình cảm đầy xúc động , mãi mãi làm “say lòng người”.


0
phiếu
0đáp án
214 lượt xem

BÀI LÀM

Mùa xuân đã trở thành đề tài phổ biến trong thơ ca Việt Nam từ bao đời nay. Mùa xuân không chỉ hội tụ vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước mà còn hội tụ những tâm tình của con người. Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải là một trong những bài thơ như vậy. Thanh Hải viết bài thơ này không bao lâu trước khi qua đời. Đó là niềm yêu mến quê hương, đất nước thiết tha và nguyện ước làm một “mùa xuân nho nhỏ” dâng cho đời của tác giả.
Đứng trước mùa xuân.

“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến”.

Ước nguyện thật tha thiết nhưng cũng thật khiêm tốn. Một cá thể nhỏ bé mong muốn được góp sức mình dệt nên tương lai của đất nước. Nhà thơ muốn hoá thân thành con chim hót, một cành hoa, một nốt trầm mang lại niềm vui cho cuộc đời. Tất cả những hình ảnh ấy thật đáng yêu và đáng trân trọng. Bởi chất chứa vẻ đẹp cương quyết nhưng dịu dàng. 

Với Thanh Hải, hoá thân là để hiến dâng, để phục vụ cho mục đích cao cả :

“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”.

Đến đây mùa xuân được đẩy lên thành đỉnh cao, thành mùa xuân của lí tưởng, của tiếng lòng cao cả. Lời thơ tâm tình, tha thiết biểu hiện lẽ sống cao đẹp. Mỗi con người hãy làm “một mùa xuân nho nhỏ” để làm nên mùa xuân bất diệt của đất nước. “Mùa xuân nho nhỏ” là một ẩn dụ đầy sáng tạo khắc sâu ý tưởng “mỗi cuộc đời đã hoá núi sông ta” (Nguyễn Khoa Điềm). Sống trong hoàn cảnh đất nước có xâm lăng, mỗi người đều có khát vọng được cống hiến, được làm một người có ích. Bởi lẽ “sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình” (Tố Hữu). Nhà thơ đã nói hộ những tâm tình của bao người trong thời đại muốn sống hết mình thuỷ chung cùng đất nước, đem cả cuộc đời phục vụ đất nước “dù là tuổi hai mươi, dù là khi tóc bạc”. Hình ảnh “mùa xuân nho nhỏ” ở cuối bài thơ như ánh lên, toả sức xuân tâm hồn trong toàn bài thơ. Đó là tâm hồn của một con người muốn sống một cuộc đời đẹp như mùa xuân, muốn giữ tâm hồn căng tràn nhựa sống như mùa xuân nhưng nhà thơ cũng luôn tự ý thức mình chỉ là “mùa xuân nho nhỏ”, “lặng lẽ dâng cho đời”, chỉ là một “nốt trầm” góp vào bản hoà ca chung. Có thể xem khổ thơ này là lời trăng trối của nhà thơ trước khi về bên kia thế giới. Người đọc ngậm ngùi, xúc động trước một tâm hồn đẹp mãi toả dạng ước mơ và tình yêu cuộc sống.
Khổ thơ cuối cùng là tiếng hát yêu thương :

Mùa xuân - ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.

“Nam ai” và “Nam bình” là hai điệu dân ca nổi tiếng của xứ Huế, phách tiền là nhạc cụ dân tộc để điểm nhịp cho lời ca, tiếng đàn. Câu thơ “Mùa xuân ta xin hát” diễn tả niềm khao khát bồi hồi của nhà thơ đối với quê hương yêu dấu buổi xuân về. Quê hương đất nước trải dài ngàn dặm, chứa chan tình yêu thương. Mỗi cung đàn như đang réo rắt hồn quê hương, đất nước, trong đó có cả tiếng lòng của chính nhà thơ - người con xứ Huế. Thanh Hải đã cất lên những câu hát tâm tình, tự hào, yêu thương dâng tặng cuộc đời, dâng tặng đất nước. Đất nước đã trải qua bốn nghìn năm “vất vả và gian lao”, đất nước như một vì sao chỉ biết hướng về phía trước. Khi mùa xuân đến giữa hương sắc và âm thanh đất trời, lòng người cũng “xôn xao”, cả dân tộc bừng bừng khí thế, một sức xuân dào dạt, hối hả. Mùa xuân mang đến cho con người một sức sống mới, một nhiệt tình cách mạng mới, hăng hái, khẩn trương. Những khát vọng của nhà thơ đã trỗi dậy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Cuộc đời vật chất ngắn ngủi của riêng ông không cho phép nhà thơ thực hiện ước mơ của mình nhưng cả khi không còn nữa thì ông đã là một “mùa xuân nho nhỏ” khiêm tốn và lặng lẽ dâng cho cuộc đời.

Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ khép lại và nhà thơ Thanh Hải cũng đã ra đi ở tuổi 50 nhưng âm vang tiếng thơ, tiếng lòng của người con xứ Huế vẫn ngân lên da diết trong chúng ta. Mỗi người hãy giống như Thanh Hải hoá thân thành một “mùa xuân nho nhỏ” để làm nên mùa xuân trường tồn của đất nước.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
609 lượt xem

Chiến tranh đã đi qua hơn ba mươi năm. Thế nhưng, những ký ức về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc, ký ức về những con người anh hùng trong một thời đại anh hùng thì vẫn tươi mới, nguyên vẹn mỗi khi ta đối diện từng trang sách trong những tác phẩm văn học của thời kỳ này. 

Bằng cảm hứng lãng mạn, kết hợp với khuynh hướng sử thi, văn học Việt Nam trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước đã xây dựng trong văn thơ tượng đài những chiến sĩ anh hùng. Họ là những “Thạch Sanh của thế kỷ XX”. Chiến công của họ đẹp và phi thường như huyền thoại. 

Có hai tác phẩm được coi là tiêu biểu cho cảm hứng ngợi ca người chiến sĩ anh hùng của văn học thời kỳ này, đó là “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật và “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê. Mỗi tác phẩm là một bức tranh đẹp về hình tượng người chiến sĩ điển hình cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh quang vinh. 

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được nhà thơ Phạm Tiến Duật sáng tác năm 1969, rút từ tập thơ “Vầng trăng, quầng lửa” là một bài thơ độc đáo trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1969-1970. Bài thơ khắc họa vẻ đẹp người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn ác liệt. Vẻ đẹp độc đáo được thể hiện ngay trong tên gọi của bài thơ. Đó là sự thống nhất giữa hai sự vật tưởng như tương phản gợi ấn tượng về chất thơ lãng mạn và sự trần trụi khốc liệt. 

Khai thác đề tài chiến tranh, tác giả không chỉ tô đậm tính chất ác liệt, tàn khốc nhằm làm nổi bật sự phi thường của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam mà Phạm Tiến Duật đã có cách nhìn, cách cảm khá mới lạ và thú vị. Từ trong sự tàn khốc ấy, chất thơ vẫn cứ tuôn trào ! 
Câu thơ mở đầu như một lời tự sự xen lẫn miêu tả: 

Không có kính không phải vì xe không có kính 
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

Nó có tác dụng vừa lý giải sự bất thường của hình ảnh chiếc xe độc đáo “không có kính” vừa tô đậm sự ác liệt của chiến trường “bom giật, bom rung...” Đây là hình ảnh vừa lạ vừa chân thực. Lạ là vì trong thơ, người ta thường chọn những sự vật hoàn thiện, hoàn mỹ để miêu tả nhằm tạo thiện cảm với người cảm nhận nó. Với những chiếc xe cũng vậy! Phải sang trọng, bóng loáng chứ sao lại trần trụi, méo mó, biến dạng thế này ! 

Không có kính rồi xe không có đèn, 
Không có mui xe, thùng xe có xước

Nhưng đấy là sự thật. Không phải một chiếc như thế mà tác giả nhìn thấy cả một tiểu đội xe như thế! Bởi vì thời điểm mà bài thơ ra đời có thể nói là ác liệt nhất trong thập niên 60 của thế kỷ XX. 

Đường Trường Sơn - nơi vận chuyển vũ khí lương thực vào chi viện Miền Nam - những năm tháng này là “túi bom, chảo lửa”. Và trên nền hiện thực tàn khốc ấy đã xuất hiện hình ảnh đẹp đẽ, phi thường của người chiến sĩ lái xe. Làm chủ những phương tiện ấy, người chiến sĩ không hề nản chí hay run sợ mà trái lại, lại bình tĩnh đến lạ thường: 

Ung dung buồng lái ta ngồi 
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Vẻ đẹp kiêu hùng được toát ra từ tư thế ngồi “ung dung” đến cái nhìn “nhìn thẳng”. Các từ láy “ung dung” cùng với nhịp thơ nhanh, đều, dứt khoát 2/2/2 diễn tả vẻ đẹp khoan thai, thản nhiên, tự tin của người chiến sĩ. Điệp từ “nhìn” gợi lên sự nối tiếp liên tục của những hình ảnh chiến trường như một đoạn phim đang quay chậm: 

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng 
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim 
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim 
Như sa như ùa vào buồng lái

Các thủ pháp nhân hóa, so sánh, ẩn dụ đã góp phần làm cho hình ảnh thơ thêm sinh động. Tưởng rằng làm chủ những chiếc xe không kính, người chiến sĩ chỉ thấy những khó khăn chồng chất khó khăn. Nhưng không! Nó đã làm tăng những cảm giác mới mẻ mà chỉ có người chiến sĩ khi ngồi trên những chiếc xe như thế mới cảm nhận được một cách rõ ràng, mãnh liệt... Hình ảnh “gió vào xoa mắt đắng”, “con đường chạy thẳng vào tim” tạo ấn tượng độc đáo. Chiếc xe như đang trôi bồng bềnh trong thiên nhiên hoang dã của núi rừng Trường Sơn hùng vĩ. Chất thơ cùng với vẻ đẹp lãng mạn toát lên từ đó. Nhưng có thể nói đẹp nhất là thái độ, tinh thần dũng cảm bất chấp gian khổ để chiến đấu và chiến thắng: 

Không có kính, ừ thì có bụi, 
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc 
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. 

Vẻ đẹp được toát lên từ lời thơ giản dị, giàu “chất lính”, hình ảnh thơ mộc mạc. Điệp ngữ “ừ thì”, “chưa cần” vang lên như một lời thách thức, chủ động chấp nhận gian khổ. Một giọng thơ tự tin, ngang tàng. Một tiếng cười “ha ha” hồn nhiên. Tất cả đã toát lên vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe. 

Đời sống chiến trường gian khổ là thế. Sự sống và cái chết ở đây chỉ là gang tấc. Thế nhưng tình yêu thương đồng chí, đồng đội vẫn tỏa sáng lạ thường. 

Những chiếc xe từ trong bom rơi 
Đã về đây họp thành tiểu đội 
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới 
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. 

Có thể nói rằng, khai thác chất liệu nghệ thuật của đời sống chiến tranh, Phạm Tiến Duật đã rất thành công trong việc khắc họa người chiến sĩ lái xe Trường Sơn bằng những hình ảnh, chi tiết vừa chân thực, gân guốc, mộc mạc vừa lãng mạn nên thơ. 

“Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước: 
Chỉ cần trong xe có một trái tim”.

“Trái tim” ở đây chính là trái tim chứa chan tình yêu Tổ quốc đã giúp người chiến sĩ lái xe làm nên những kỳ tích phi thường. Vẻ đẹp hào hùng của họ tỏa sáng cả bài thơ; đủ làm sống lại trong lòng chúng ta một thời oanh liệt của anh bộ đội cụ Hồ. Chất anh hùng ca dào dạt tạo nên vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. 

Cùng với chủ đề ngợi ca vẻ đẹp người chiến sĩ, nhưng khác với nhà thơ Phạm Tiến Duật trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, nhà văn Lê Minh Khuê trong “Những ngôi sao xa xôi” đã đi tìm và khai thác vẻ đẹp ấy qua hình ảnh của những cô gái thanh niên xung phong. 

Truyện viết về cuộc sống và chiến đấu vô cùng gian khổ của những nữ thanh niên xung phong - những cô gái “Ba sẵn sàng” trên tuyến đường Trường Sơn chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc. Mặc dù cốt truyện đơn giản, nhưng tác giả đã rất thành công trong việc khắc họa vẻ đẹp người nữ chiến sĩ qua miêu tả tâm lý nhân vật sắc sảo và tinh tế. 

Nổi bật trong truyện là ba gương mặt đẹp của tổ trinh sát mặt đường. Họ có những nét tính cách chung của người nữ thanh niên xung phong Trường Sơn thời chống Mỹ nhưng ở mỗi nhân vật lại lấp lánh vẻ đẹp riêng. Hoàn cảnh sống và chiến đấu nơi tuyến lửa đã gắn bó họ thành một khối đoàn kết, yêu thương, gan dạ và dũng cảm.

Họ đóng quân trong một cái hang giữa trọng điểm “túi bom, chảo lửa” trên tuyến đường Trường Sơn. Công việc hàng ngày của họ là đếm bom, rồi lao ra trọng điểm sau những trận bom để đo khối lượng đất đá cần phải san lấp, đánh dấu vị trí bom rơi và phá những quả bom chưa nổ. Một khối lượng công việc vừa đồ sộ vừa nguy hiểm. Cái chết rình rập họ từng phút, từng giờ. “Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang âm ỉ xa dần, thần kinh căng như chảo, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng chung quanh còn nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ...”. Họ làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, dù chỉ có ba người (lại là ba phụ nữ); họ phân công nhau phá bằng hết những quả bom chưa nổ mà không cần đến sự trợ giúp của đơn vị “như mọi lần chúng tôi sẽ giải quyết hết”. 

Trong chiến đấu họ gan dạ, dũng cảm, quyết đoán là thế, nhưng trong cuộc sống họ là những cô gái trẻ trung, yêu đời, dễ rung cảm, lắm ước mơ. Là phụ nữ, họ rất thích cái đẹp và thích làm đẹp cho cuộc sống. 

Nếu như nhân vật Nho “mát mẻ như một que kem trắng”, thích ăn kẹo như một đứa trẻ, giàu mơ ước (Nho ước mơ trở thành công nhân nhà máy điện và trở thành cầu thủ bóng chuyền của nhà máy) thì nhân vật chị Thao lại dạn dày, từng trải trong cuộc sống; thích thêu thùa; thích làm đẹp “tỉa đôi lông mày của mình, tỉa nhỏ như cái tăm” nhưng trong công việc thì “ai cũng gờm chị: cương quyết, táo bạo” (dũng cảm, táo bạo nhưng lại sợ nhìn thấy máu chảy). 

Còn Phương Định, nhân vật chính của truyện là con người hồn nhiên, nhạy cảm, lãng mạn và mơ mộng. Là con gái Thủ đô, cô thường sống với kỷ niệm quê hương. Nơi ấy có một thời học sinh trong trắng, hồn nhiên, vô tư. Nơi ấy có mẹ, có căn gác nhỏ của cô... Những kỷ niệm yêu dấu ấy là liều thuốc tinh thần quý giá động viên cô, tiếp thêm sức mạnh để cô sống đẹp và chiến đấu anh dũng nơi tuyến lửa. 

Ở chiến trường, Phương Định luôn dành cho đồng đội tình yêu thương thắm thiết. Cô yêu quý đồng đội trong “tổ trinh sát mặt đường” của cô và cảm phục các anh bộ đội “những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ”. Trong mắt cô, đó là những “người đẹp nhất, thông minh nhất”. Phương Định rất nhạy cảm. Cô biết mình có “cái nhìn sao mà xa xăm” như lời các anh lái xe nhận xét nhưng cô lại không biểu lộ tình cảm và thích kín đáo giữa đám đông. Cô thích nhạc và mê ca hát. Thậm chí tự đặt lời theo một điệu nhạc nào đó và hát để thấy mình rất buồn cười v.v... Thế nhưng với Phương Định, sự nhạy cảm về tâm hồn có lẽ được biểu hiện tinh tế nhất ở chỗ, chỉ một cơn mưa đá bất ngờ vụt qua trên cao điểm, cũng đủ đánh thức trong cô những ký ức về quê hương, gia đình, khơi dậy trong cô khát khao sum họp đến cháy bỏng. 

Một cô gái Hà Nội chính gốc, lãng mạn và mơ mộng như thế, nhưng trong chiến đấu lại dũng cảm, gan dạ đến tuyệt vời. Một mình phá bom trên đồi “quang cảnh vắng lặng đến dễ sợ” nhưng tinh thần cô không hề nao núng. Đáng lẽ cô phải “đi khom” nhưng sợ mấy anh chiến sĩ “có cái ống nhòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt” nhìn thấy, nên cô “cứ đàng hoàng mà bước tới”. 

Khi ở bên quả bom, tử thần có thể cướp đi mạng sống của cô bất cứ lúc nào, nhưng cô vẫn bình tĩnh thao tác một cách chính xác và chạy đua với thời gian để vượt qua cái chết. 

“Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”. Những cảm giác tinh tế ấy không chỉ là sự nhạy cảm mà còn là kinh nghiệm của sau bao nhiêu lần phá bom ở tuyến lửa và chỉ những người nữ thanh niên xung phong dạn dày như Phương Định, Nho, chị Thao mới có được ! 

Với tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi”, ngòi bút của Lê Minh Khuê đã miêu tả sinh động, chân thực tâm lý nhân vật; làm hiện lên một thế giới nội tâm rất phong phú nhưng không phức tạp, rất đời thường, giản dị nhưng vô cùng trong sáng và cao thượng của những nữ thanh niên xung phong. 

Vẻ đẹp của những “cô gái mở đường” Trường Sơn cùng với vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe trong các tác phẩm văn học chống Mỹ nói chung và trong các tác phẩm của Phạm Tiến Duật và Lê Minh Khuê nói riêng đã giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về ý chí, tâm hồn và nhân cách của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
217 lượt xem

     Nếu toàn cảnh Truyện Kiều có bộ tranh thơ Tứ Bình nổi tiếng, thì ở một góc độ nào đó, bốn khung tranh tâm trạng độc đáo này cũng là bộ Tứ Bình về cảm xúc. Vừa có nhạc điệu từ điệp từ liên hoàn buồn trông, vừa khắc họa cảnh sắc từ nhiều góc độ, tám câu cuối Kiếu ở lầu Ngưng Bích thật đúng là một trong những đoạn thơ đỉnh cao trong hơn ba nghìn dòng thơ Truyện Kiều. 

Chủ đề: Bức tranh tâm trạng qua tám câu cuối đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” 

Nền văn học Việt Nam xưa được ví như bức tường cao dày của xúc cảm và tri thức. Trước những bước đi của thời gian, dường như nó càng thêm vững chãi, uy nghi và lộng lẫy hơn bao giờ hết. Bằng chứng là, dù có mấy trăm, mấy nghìn năm trôi qua, người ta vẫn không ngừng lần mò, tìm về với tinh hoa nghệ thuật của nền cổ văn vốn đã ít nhiều nằm khuất dưới lớp bụi mờ thời gian. Một trong những thi phẩm cho đến tận bây giờ vẫn không giảm sức hút, vẫn được cho là còn quá nhiều để hiểu, để khám phá, chính là Đoạn trường tân thanh- kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, biểu tượng lớn cho văn học trung đại Việt Nam. Xuyên suốt tác phẩm là nét gợi hình, tả cảnh, lối tự sự độc đáo, đầy sáng tạo. Không ngoại lệ, nghệ thuật tả tâm cũng là yếu tố đẩy Truyện Kiều lên đỉnh cao rực rỡ. Hai mươi dòng lục bát Kiều ở lầu Ngưng Bích thể hiện rõ ánh nhìn sâu của Nguyễn Du trong từng xúc cảm mỏng manh của Kiều. 

Đoạn trích nằm ở phần thứ hai của truyện- Gia biến và lưu lạc, như những cụm mây đen đầu tiên che phủ lên cuộc đời Kiều. Đành đoạn dứt tình với Kim Trọng, nàng nguyện hiến thân cứu cha. Cái trong trắng của một tiểu thư từ nhỏ được mẹ cha bảo bọc, tình phụ tử sâu nặng và lòng hiếu thảo của đứa con ngoan đã đẩy nàng Kiều vào vòng lừa lọc từ những kẻ buôn người. Nỗi uất ức của nàng được Tú Bà xoa dịu bằng ngày tháng giam cầm ở lầu cao với cớ rằng để nàng tịnh tâm, bình phục. Ngọn lầu ấy tên là Ngưng Bích, một cái tên quá đẹp so với những cô đơn, tẻ nhạt mà nàng Kiều phải trải qua tại đây. Tọa lạc ở một vùng nổi tiếng với kỹ nghệ ngọc trai thu hút nhiều thương gia, lầu Ngưng Bích như hạt ngọc bích quý giá ngưng đọng, cốt để khóa chặt cái thời xuân sắc tươi đẹp nhất của người con gái họ Vương. Trái hẳn với không khí buôn bán sầm uất bên ngoài, bao trùm lấy không gian trong lầu chỉ là tiếng sóng vỗ ào, ngọn gió biển nặng nề lướt qua, và những suy tư khó nhọc của một phận hồng nhan. Lầu Ngưng Bích nói cho cùng cũng chỉ mới là điểm khởi đầu cho đắng cay về sau của Kiều, nhưng âm điệu buồn da diết của cả đoạn trích đã cho thấy bao đau thương dồn nén trong hồn người, thấm đẫm cả một vùng trời đất rồi lại sắt se vào lòng. Một khoảng mênh mang trĩu nặng trao qua nhận lại giữa người với cảnh đã làm nên khúc thiên sầu Kiều ở lầu Ngưng Bích, đặc biệt là tám dòng tuyệt bút cuối cùng. 

Chưa bước vội vào tấm tranh ảm đạm của tâm trạng nàng Kiều, Nguyễn Du khéo léo gợi mở trước không gian nơi lầu son cao đẹp về hình thức nhưng mang đến cho con người ta cái bi thảm về tinh thần. Nếu nói sáu dòng thơ mở đầu là bức họa bằng ngôn từ thì đó thật sự là một bức họa đẹp. Có núi chập chình ngoài xa, có vầng trăng treo trên đỉnh đầu, không gian khoáng đãng mênh mông. Nhưng trong cái cao rộng mỹ mãn của thiên nhiên lại thiếu nét đẹp con người. Khung cảnh mờ ảo chìm trong cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia vắng vẻ đến quạnh hiu, nàng Kiều dường như chỉ là cái bóng nhỏ lạc lõng giữa cảnh vật xung quanh. Một ngày từ sớm cho đến khuya, Kiều chỉ biết quanh quẩn với mây với đèn. Nàng đối cảnh nhiều tới nỗi một phần đất trời quạnh quẽ như hóa tâm trạng, làm dâng đầy cái niềm xót xa đau đáu trong lòng bấy lâu. Càng hướng ra thiên nhiên, Kiều càng thấy rõ sự cô đơn vây kín từng ngày, càng day dứt khôn nguôi, nhớ cha, nhớ mẹ và nhớ chàng Kim ngày nào cùng hẹn ước. Với Kim Trọng, nàng vẫn chưa thể dẹp yên suy nghĩ phụ bạc, chính nàng đã tự tay cắt đứt sợi tơ hồng, đã đẩy chàng vào mỏi mòn trông ngóng. Niềm tin sắt đá vào lời thề dưới trăng đêm ấy sẽ là lưỡi dao nhọn đâm vào tim chàng, khi mà giờ đây, thân phận nàng đã “hạc nội mây ngàn”, không biết rồi lưu lạc về đâu. Kiều bây giờ có lẽ đã thấm thía cái trơ trọi, bơ vơ nơi đất khách, nhưng mối tình đầu đẹp như mộng ngày ấy vẫn gieo cho Kiều khát vọng son sắt, thủy chung. Với cha mẹ, nàng thương xót hình dung cảnh đấng phụ thân, phụ mẫu thấp thỏm chờ trông. Qua cơn biến cố, rồi mẹ cha sẽ như thế nào? Nàng đi rồi, ai lo phụng dưỡng bậc sinh thành? Đành là dứt tình vì cha, nhưng trong tận thâm tâm một đứa con hiếu thảo, bấy nhiêu vẫn chưa thật tròn đạo làm con. Hết cái day dứt phụ tình Kim, nàng lại nghĩ đến cái tội phụ công sinh dưỡng, không thể chăm sóc cha mẹ khi về già là một trong những nỗi niềm cứ canh cánh trong Kiều lúc bấy giờ. Từ những nỗi niềm buồn thương đó, cụ Nguyễn Du đã khéo léo tô thêm màu xám trên ánh nhìn xa xăm của Kiều, đẩy sầu não lên thành đỉnh điểm, qua tám câu khép lại đoạn trích: 

Buồn trông cửa bể chiều hôm, 
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? 

Tâm trạng buồn nhớ của Kiều giờ đi cả vào ánh mắt. Người buồn thì cảnh cũng buồn. Vẫn là cảnh đó, không gian đó, nhưng đã chất chứa phần nào nỗi lòng Kiều. Khung tranh buồn thứ nhất mở ra ngay thời điểm chiều hôm- là thời điểm quen thuộc của nghệ thuật, của những lưu luyến khó tả. Cửa bể chiều hôm gợi trước mắt ta hình ảnh những tia nắng leo lắt cuối ngày phản chiếu lên mặt biển xanh thẳm rồi lan ngay ra không gian xung quanh, khiến mọi thứ nhuốm màu sẫm tối, có cái gì da diết như đêm luyến ngày, như niềm lưu luyến tha thiết của Kiều về ngày tháng êm đềm xưa kia. Cửa biển trong ánh chiều tà yếu ớt bao trùm luôn cả những con thuyền căng buồm lộng gió ngoài xa- những con thuyền chở hy vọng của nàng Kiều được một lần tự do ngoài bầu trời rộng mở, vượt khỏi cái tù túng tẻ nhạt nơi lầu son gác tía. Những cánh buồm đều ở rất xa, thoắt ẩn thoắt hiện trong ánh hoàng hôn trĩu buồn, như niềm hy vọng của nàng chỉ là những chấm nhỏ ngoài khơi xa mịt mờ, những từ thấp thoáng, xa xa càng khiến hy vọng nhạt nhòa. 

Buồn trông ngọn nước mới sa, 
Hoa trôi man mác biết là về đâu? 

Qua khung tranh thứ hai, vẫn là ánh nhìn vào nước, nhưng đã gần hơn. Có lẽ nào nàng Kiều đã bắt đầu nhượng bộ trước những xa xăm của cuộc đời, nhìn gần để có thêm ít hy vọng, dù nhỏ. Ngờ đâu, cái mà nàng trông thấy còn dữ tợn hơn bội phần. Cánh hoa mỏng manh dập dìu trước ngọn nước từ trên cao đổ xuống. Thử hỏi, cánh hoa mỏng manh ấy làm sao chịu nổi sức nước tràn? Thân phận Kiều cũng vậy, quá bé nhỏ trước dòng đời. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng cho thấy sự nhạy cảm của Kiều. Cái man mác trôi của hoa thể hiện cái băn khoăn, lo lắng cho thân phận lạc loài, vô định của nàng. Kiều bây giờ cũng như bông hoa kia, không còn người thân bên cạnh, tự nàng phải bước lên những chông gai của cuộc đời. 

Buồn trông nội cỏ rầu rầu, 
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. 

Rồi Kiều bắt đầu đảo mắt đến cái sắc xanh nối tiếp của trời và đất. Tuy nhiên, bãi cỏ không mang màu xanh tươi như tiết thanh minh tháng ba, từ láy rầu rầu gợi cho ta sự tàn úa đến thảm thương. Xanh trời nối tiếp xanh đất nhưng xanh nào cũng là màu xanh tàn úa, héo hắt. Màu xanh tàn héo ấy khiến xanh xanh cả đất trời. Kiều nhìn vào màu xanh mong tìm kiếm chút hy vọng nhỏ nhoi lần nữa, nhưng cũng như những lần trước, Kiều quay đi với nỗi thất vọng ngập tràn. Cảnh buồn hay vì người buồn nên cảnh mới buồn thì không biết, chỉ biết lần này, nàng Kiều đã thật sự tuyệt vọng, chẳng còn đối cảnh nào khiến nàng thấy ý muốn níu kéo của mình là đúng. Mọi thứ đều đưa nàng vào suy nghĩ dằn vặt và đau xót hơn. 

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh, 
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. 

Trong lúc tuyệt vọng nhất, Kiều thấy mình dường như chao đảo. Từng ngọn gió mạnh thổi sóng vỗ ầm ầm. Quang cảnh đã thôi yên lặng, mặt biển dậy sóng, lòng Kiều cũng dậy sóng. Những đợt sóng dữ dội như dự báo trước điều bất an, như cảnh báo một tương lai bão táp đang chờ Kiều trước mắt. Người con gái tài sắc trong hoàn cảnh đó đã hoảng loạn vô cùng. 

Tám dòng thơ cuối này tạo nên bốn khung tranh tâm trạng của nàng Kiều. Mỗi khung tranh là một trạng thái tâm lý khác nhau. Điệp từ buồn trông diễn tả cái tăng tiến đến choáng ngợp của từng cung bậc xúc cảm trong Kiều. Nỗi buồn tủi ban đầu đã dồn nghẹn trong lòng thành niềm lo sợ về thân phận lạc loài, cái héo hắt, tuyệt vọng trước thực tại, trào ra thành nỗi hoảng sợ tột độ, hoàn toàn mất phương hướng. Yếu tố không nhỏ giúp cho sự tăng tiến về cảm xúc trở nên dữ dội mà lại sít sao, tự nhiên vô cùng chính là hệ thống từ láy tầng tầng lớp lớp, khiến mấy dòng thơ từ tha thiết trở thành mạnh mẽ, từ mạnh mẽ lại trở về tha thiết. Có thể nói, đại thi hào Nguyễn Du là một nhà bác học của ngôn từ và cảm xúc. Những từ ngữ ông sử dụng luôn uyên thâm nhưng vững nghĩa và dễ hiểu. Nghệ thuật dụng từ trong tám câu cuối của đoạn trích này đã góp phần đưa nó thành thiên sầu khúc. Ngoài ra, cái tài của cụ Nguyễn là vừa để cho Kiều nhìn cảnh bằng con mắt chủ quan của tâm trạng, lại vừa ngầm thể hiện sự xót thương thân phận người trong cảnh từ địa vị của một nhà nhân đạo chủ nghĩa, làm cho dòng thơ có sức gợi cảm mãnh liệt, chinh phục bao tầng lớp độc giả. 

Nếu toàn cảnh Truyện Kiều có bộ tranh thơ Tứ Bình nổi tiếng, thì ở một góc độ nào đó, bốn khung tranh tâm trạng độc đáo này cũng là bộ Tứ Bình về cảm xúc. Vừa có nhạc điệu từ điệp từ liên hoàn buồn trông, vừa khắc họa cảnh sắc từ nhiều góc độ, tám câu cuối Kiếu ở lầu Ngưng Bích thật đúng là một trong những đoạn thơ đỉnh cao trong hơn ba nghìn dòng thơ Truyện Kiều. 

(sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
333 lượt xem

Hướng dẫn

Mở bài: 

Nếu ở dòng văn học trung đại ta bắt gặp cảm xúc dâng trào trước vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời mùa xuân của đại thi hào Nguyễn Du:
“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vào bông hoa”
thì với dòng thơ hiện đại,nối tiếp mạch cảm xúc ấy đến với một hồn thơ sắp kề cận cát bụi- Thanh Hải nhưng tình yêu thiên nhiên đất trời vẫn luôn mãnh liệt,luôn dâng trào qua khổ thơ mở đầu bài thơ “Mùa xuần nho nhỏ” viết tháng 11 năm 1980:
                                                                      “ Mọc giữa dòng sông xanh
                                                                       Một bông hoa tím biếc
                                                                       Ơi con chim chiền chiện
                                                                        
Hót chi mà vang trời ”

Thân bài:

-Khổ thơ đẹp như một bức tranh với âm thanh,màu sắc,với sức xuân hài hòa,sống động:
+Từ “mọc” được đặt ở đầu câu với lối đảo ngữ tạo nên sự khỏe khoắn,tạo nên sức sống tiềm ẩn,tạo nên sự vươn lên trỗi dậy.Giữa dòng sông rộng lớn ,không gian mênh mông,chỉ một bông hoa thôi,một bông hoa tím biếc cũng làm nên sức xuân,cũng làm nên ánh xuân lung linh sắc màu.
+Bức tranh xuân được tô điểm với gam màu thật hài hòa,dịu nhẹ,tươi tắn: màu xanh lam của nước sông Hương hài hòa cùng màu tím biếc của hoa,một màu tím thật giản dị,thủy chung mà cũng thật mộng mơ,quyến rũ. Đó cũng chính là màu đặc trưng của xứ Huế.
+Âm thanh: Đâu đó tiếng chim chiền chiện hót vang trời.Với những thán từ ”gọi”,”ơi”,”chi” mang chất giọng ngọt ngào,đáng yêu và đậm chất xứ Huế mang nhiều màu sắc thái cảm xúc như một lời trách yêu. Khung cảnh mùa xuân có không gian cao rộng,màu sắc tươi thắm,âm thanh vang vọng.Âm thanh vang vọng,hót vang trời,một không gian bay bổng,đằm thắm,dịu dàng.Mùa xuân trong thơ Thanh Hải chẳng có mai vàng,đào thắm cũng chẳng có muôn sắc màu rực rỡ nhưng sao mà tất cả rộ lên sắc màu những âm thanh đều đang ở độ tràn đầy nhựa sống.
+Cảm xúc trước mùa xuân tươi đẹp của thiên nhiên đất trời sao mà say sưa, ngây ngất, xốn xang đến thế.
                                                     “Từng giọt long lanh rơi
                                                      Tôi đưa tay tôi hứng”

Giọt long lanh phải chăng là giọt sương,giọt mưa,giọt nắng,giọt mùa xuân hay giọt của âm thanh, giọt của hạnh phúc. Tiếng chim chiền chiện hót vang trời nhưng không tan biến vào không trung mà ngưng đọng lại thành từng giọt âm thanh như những giọt lưu ly trong vắt long lanh, chói ngời .Với bút pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác từ thính giác đến thị giác và xúc giác”hứng” đó là sự trân trọng vẻ đẹp của thi nhân đối với vẻ đẹp của sự sống ,của đất trời,của chim đó cũng là sự đồng cảm của thi nhân trước thiên nhiên,cuộc đời.

Kết bài:

Nêu cảm nhận chung của em về khổ thơ.
ST 
0
phiếu
0đáp án
542 lượt xem

A. Mở bài.

- Có thể nói trong thực tế cũng như trong văn học nhân loại, hiếm có người phụ nữ nào chịu nhiều bất hạnh như Thúy Kiều trong “ Đoạn trường Tân Thanh của ND”
- Cuộc đời nàng chỉ thoáng qua những tháng ngày êm đềm của tuổi thơ.
- Cuộc đời nàng chỉ thoáng qua những giây phút nồng nàn, tươi đẹp bên người yêu. Còn chuỗi đời còn lại là những chuỗi ngày bất hạnh với những đau đớn ê chề.
- Khởi đầu cho những chuỗi ngày bất hạnh là nàng trở thành món hàng cho bọn “buôn thịt bán người” trong đoạn trích “ Mã Giám sinh mua Kiều”
Đoạn bi thảm trong truyện Kiều của Nguyễn Du.

B. Thân Bài.
1. Vị trí – Tóm tắt đọan trích.

- Từ câu 619 đến 652 gồm 34 câu.
- Mối tình Kim- Kiều đang độ nồng nàn- Trọng đột ngột phải về Liễu Dương hộ tang chú.
- Gia đình Kiều bị vu oan giá hạo.
- Trước cảnh tan nát của gia đình – Kiều can đảm gánh chịu.
- Trao duyên lại cho em- Kiều bán mình chuộc cha và em.

2. Phân tích 2 câu đầu - Đức hi sinh của Kiều
- Mở đàu cho nỗi bất hạnh, t/g cô đọng đức hi sinh của một người con hiếu thảo:
Hạt mưa sá nghĩ phận hèn
Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân

- Hai câu thơ hào hợp lại hình ảnh dân gian “ hạt mưa” – h/ả ẩn dụ – với điển cố bác học “ Tấc cỏ, ba xuân” ( Hạt mưa= ẩn đi : người con gái- nàng Kiều; Tấc cỏ= người con; Ba xuân = công ơn cha mẹ) nói được cái nhỏ nhoi vô định của kiếp đàn bà. Vừa thể hiện được lòng hiếu thảocủa người con quyết hi sinh bản thân, HP, T/y để đền ơn sinh thành của cha mẹ.

3. Bức chân dung của tên lái buôn trơ trẽn.- Trích “ Gần miền ... kíp ra”
a. Giới thiệu: 
- MGS chung lưng với Tú Bà mở hàng (lầu xanh)
- Hắn đi mua hàng( người) về cho Tú Bà bán.
- MGS làm việc dơ bẩn đó lúp dưới chiêu bài đi mua Kiều vè làm vợ lẽ.
Bình: Thúy Kiều cũng hạ mình đến mức ấy thôi - đã quá đủ rồi( làm vợ lẽ cũng là chyện thường tình trong XH xưa)
Chuyển: Kiều không ngờ sau màn vấn danh – bộ mặt tên buôn thịt bán người dần lộ diện lên

b. Màn kịch vấn danh.
- Trong lễ vấn danh MGS x. hiện là một sinh viên trường Quốc tử Giám đến mua Kiều làm lẽ.
+ Giới thiệu: là người viễn khách – khách phương xa
+ Quê “ huyện lâm Thanh cũng gần. Họ tên không rõ ràng.
+ Tuổi ngoại tứ tuần.
+ Diện mạo: mày râu nhãn nhụi , áo quàn bảnh bao chải chuốt,trai lơ.
+Thói quen: Thị của khinh người
+ Cách nói: Hỏi tên, rằng: MGS. Hỏi tên, rằng: huyện Lâm Thanh cũng gần cộc lốc
+ Cử chỉ hành vi: Ghế trên ngồi tót sỗ sàng sỗ sàng, thô lỗ, kệch cỡm.
Tóm lại: - Phơi bày chân tướng MGS – một con buôn vô học
Nhận xét: ND đã giết chết nhân vật MGS bằng từ tót cũng như sau này t/g giết chết Tú Bà bằng từ “ăn gì”, giết Sở Khanh bằng từ “lẻn”
Sơ kết:
- Ngòi bút sắc sảo- thể hiên nhân vật bằng cách vạch trần những mâu thuẫn giữa họ, tuổi tác, vai trò, hành động lời nói thức chất.
thể hịên rõ sự mâu thuẫn trong lời giới thiệu( người có học đi mua tì thiếp) với thực chất( một kẻlái buôn vô học).
- ngôn ngữ miểu tả : dùng từ đắt: nhẵn nhụi, bảnh bao, ngồi tót

c.MGS lột tẩy trong màn mua bán.
- Gặp Kiều: hắn nhìn, hắn ngắm, hắn cân đo, xoay lên đặt xuống coi Kiều như một món hàng ngoài chợ
khi bằng lòng : hắn mặc cả “cò kè” bộc lộ rõ bản chất bỉ ổi, trắng trợn, ti tiện bẩn thỉu
hình thức là một lễ vấn danh nhưng thực chất lại là cuộc mua thịt bán người, trắng trợn bỉ ổi.
Sơ kết: Từ việc mua bán đề cập tới một hiên thực: xã hội đồng tiền và một loại người xuất hiện ở đó đồng tiền có thế lực vạn năng nên việc mua bán con người dễ dàng như mua một món đồ ngoài chợ.
Từ việc mua bán còn có giá trị tố cáo. Nhân vật MGS là sự nhảy nhót của đồng tiền. Có tiền thì dù người đó là ai, dù vô học, bất tài đến mấy cũng có thể ngồi vào vị trí mà người bất hạnh dù lương thiện cũng phải cúi đầu.
Nhưng đồng tiền tự nó biết cách ngụy trang, lèo lá. Nó dùng từ hoa mĩ với tư cách của kẻ đi mua để lấy lòng người bán. Một khi điều đó không phát huy tác dụng nó sẵn sàng bộc lộ bản chất, hiện nguyên hình của một kẻ đầu cơ.
Truyện Kiều nhiều nhân vật phản diện nhưng MGS là một nhân vật khá sắc sảo của ND. Ông đã có ý thức dụng công trong nghệ thuât khắc họa chân dung. ND phối hợp cái riêng của MGS với cái chung( đầy tơ lao sao), xa với gần, ngoại hình với tính cách. Cũng là phường buôn thịt bán người nhưng MGS nổi bật hẳn nên với bản chất kệch kỡm, rẻ tiền, thô bỉ, đúng hạng buôn, hãng buôn người.
 
4: Thúy Kiều với nỗi đau đầu đời.

Nỗi mình thêm tức nỗi nhà
Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng.

Tâm trạng đau khổ ê chề, nỗi đau khổ tột cùng nhưng vẫn không làm suy giảm vẻ trang đài của nàng.

nghệ thuật đối ngữ “ thềm hoa một bước/ lệ hoa mấy hàng” người đẹp buồn cũng đẹp, bước chân đẹp, giọt nước mắt cũng đẹp
- Thềm hoa: bước chân người đẹp ngại ngùng,đau đớn tủi nhục, nặng nề.
- Lệ hoa: giọt lệ người đẹp giọt lệ buồn tủi của sự e thẹn, bẽ bàng
- “Nét buồn như cúc/ điệu gầy như mai” đối lập với hành vi thô bạo, xúc phạm đến thân thể yêu kiều của người đẹp.
Nàng Kiều - 1 món hàng cho bon con buôn lựa chọn đắn đo đó là những hành vi chi thấy ở những chợ buôn nô lệ thơi trung cổ.
Bình: như cơn ác mộng, trong khoảng khắc, một tiêu thư khuê các, xinh đẹp trong trắng đang sống yên vi trong một gia đình lương thiện, một cô gái chớm yêu mối tình đầu đang say đắnm phải đi lấy chồng, mà chồng thì lại là một kẻ buôn bán vô học bị biến thành món hàng cho bọn con buôn mặc cả ngã giá đó là bi kịch thứ nhất. Bi kịch người thiếu nữ
- Bị kịch tình yêu – lòng hiếu thảo
Là một người con hiếu thảo “ Liều đem tấc cỏ quyết đên ba xuân”>< là một người yêu thủy chung “ nguyện ước”trung tình nàng đau đớn giằng xé bên tình bên hiếu quyết giữ trọn chữ hiếu, nàng cảm nhận sâu sắc được nỗi tủi nhục, cảnh ngộ éo le, đau đớn của mình.
Ngại ngùng dín gió e sương
Nhìn hoa bỗng thẹn. trông gương mặt dày
     Kiều thông minh nên nàng cảm nhận sâu sắc được cảnh ngộ của mình, nàng tỏ ra như môt món hàng, mặc cho bọn con buôn “dặt dìu” - nàng câm lặng, vô hồn. Nàng chủ động chịu đựng nõi đau, tự nguyên bán mình mong cứu cha em, gia đình. Qua đó ta thấy đượcđức hi sinh, sự chịu đựng, lòng hiếu thảo của một người con. Thấy được bi kịch đau đớn, ê chề đầu đời của Kiều. Thấy được sự cảm thông, lòng yêu thương sâu sắc của tác giả với số phận nhân vật của mình.

5: Tóm lại
- Nội dung: Rất hiện thực ND hoàn thành bức chân dung của một tên lái buôn ghê tởm, bịp bợm núp dưới những điều mĩ miều “ canh thiếp”, “làm ghi..”, “ nạp thái vu quy” thì tác giả nổi giận nói tạc ra: Đây là cuôc mua bán man rợ “ Tiền lưng ã sẵn việc gì chẳng xong”
=>Rõ ràng cái việc mua bán thịt người, nhan sắc, phẩm hạnh con người có tiền là xong. Đồng tiền đã vấy mùi tanh bẩn lên tất cả những gì thiêng liêng quý giá nhất.
=> Phản ánh hiện thực cuộc sống => tố cáo những hạng người xấu xa dùng tiền làm quyền lực; tố cáo xã hội mà số phận người phụ nữ không được trân trọng, không được bảo vệ.
=> Tình cảm của ND với nhân vật của mình ....
- Nghệ thuật: Miêu tả chân dung nhân vật phản diện bằng bút pháp tả thực được thể hiện qua : Từ ngữ, hình ảnh, hành vi, lời nói, hành động...=> chi tiết đời sống hàng ngày.
Đối lập với việc miêu tả nhân vật chính diện: lý tưởng hoá ( dùng điển tích, điển cố, đối, ước lệ tượng trưng..)

C.Kết luận.
- Đoạn trích là một đoạn bi thương, đau đớn nhất trong Truyện Kiều của ND. ở đó con người bị trà đạp, vùi dập đem ra mua bán với đủ những hình thức bịp bợm
- Ngòi bút của ND phẫn nộ trong từng chữ mỗi khi nhắc đến tên buôn người nọ – và cũng xót xa đau đớn khi phải nói về Kiều, người con gái xinh đẹp, tài hoa mà bát hạnh.
- Đoạn trích như một thông điệp gửi đến muôn đời của N: Mong cuộc đời sẽ không còn những cảnh con người bị đem ra làm vật để mua bán, trao đổi, mong cho kiếp người phụ nữ không còn phải đớn đau, ê chề đầy bi kịch như nàng Kiều. Đoạn trích cũng là tiếng nói của tấm lòng nhân đạo cao cả của ND với cuộc đời, với con người.
Sưu tầm 

0
phiếu
0đáp án
753 lượt xem

1) Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích :

- Trường ca Mặt đường khát vọng viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị vùng tạm chiếm ở miền Nam: nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, đứng dậy xuống đường đấu tranh hoà nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc. Đoạn thơ trích thuộc phần đầu của chương V.

- Tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân” được thể hiện tập trung qua đoạn thơ :

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu 
 
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.” 

chi phối cách cảm nhận của nhà thơ về các phương diện địa lí, lịch sử, văn hoá … của đất nước.

2) Phân tích đoạn thơ :

a. Tám câu đầu: Tác giả cảm nhận Đất Nước qua những địa danh, thắng cảnh. Những địa danh, thắng cảnh ấy gắn với cuộc sống, số phận, tính cách của nhân dân, được cảm thụ qua tâm hồn nhân dân. Chú ý khả năng gợi cảm nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng của các hình ảnh, cảnh vật: tình nghĩa thuỷ chung, thắm thiết (hình ảnh núi Vọng Phu, hòn Trống Mái); sức mạnh bất khuất (chuyện Thánh Gióng); cội nguồn thiêng liêng (hướng về đất Tổ Hùng Vương); truyền thống hiếu học (cách cảm nhận về núi Bút non Nghiên); Đất Nước tươi đẹp(cách nhìn dân dã về núi Con Cóc, Con Gà, về dòng sông Cửu Long gợi dáng những con rồng)vv… Đất Nước hiện lên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng.

b. Bốn câu cuối nâng ý thơ lên tầm khái quát: sự hoá thân của Nhân Dân vào bóng hình Đất Nước. Nhân Dân chính là người đã tạo dựng, đã đặt tên, ghi dấu ấn cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, miền đất này.

c. Trong đoạn thơ, tác giả đã sử dụng rất nhiều địa danh quen thuộc, những chất liệu văn hoá dân gian để nói về Đất Nước. Theo Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước được hình thành từ công sức của nhân dân, của những con người lao động bình dị. Đây cũng là biểu hiện chiều sâu tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân” trong cảm hứng sáng tạo của nhà thơ.

3) Đánh giá chung :

- Đoạn thơ đã làm rõ những cảm nhận riêng, độc đáo về Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm: không thiêng liêng hóa Đất Nước như trong thơ xưa, mà bằng những hình ảnh thơ rất cụ thể, đời thường, thấm đẫm chất liệu văn hóa dân gian nên Đất Nước gần gũi, gắn liền với mọi con người Việt Nam hôm nay.

- Ra đời trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ của cả nước đang ác liệt, bài thơ có tác dụng như một sự thức tỉnh đối với tuổi trẻ các thành thị miền Nam về tình yêu quê hương đất nước, ý chí đấu tranh bảo vệ độc lập tự do.



0
phiếu
0đáp án
760 lượt xem

Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật trong đoạn thơ sau:

Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

- Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau
(Sóng – Xuân Quỳnh)

HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH

I. MỞ BÀI 

Trong các nhà thơ Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ của tình yêu. Chị viết nhiều, viết hay về tình yêu với những tác phẩm tiêu biểu như: “Sóng”, “Thuyền và Biển”, “Hoa dọc chiến hào”… trong đó “Sóng” là một bài thơ đặc sắc rất tiêu biểu cho phong cách thơ tình yêu của Xuân Quỳnh. Bài thơ Sóng để lại giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc mà tiêu biểu là bốn khổ thơ sau đây:
Dữ dội và dịu êm
Khi nào ta yêu nhau

II. THÂN BÀI

1. Khái quát trước khi phân tích: Bài thơ Sóng được Xuân Quỳnh sáng tác tại biển Diêm Điền năm 1967, sau được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”. Bài thơ mang âm hưởng của những con sóng biển và những con sóng lòng đang khao khát tình yêu. Bài thơ có hai hình tượng cùng song hành và hòa điệu, đó là “Sóng” và “Em”. Hai hình tượng này đã tạo nên nét đáng yêu cho bài thơ.

2. Bốn câu đầu là những cung bậc của sóng và cũng là những cung bậc trong tình yêu của người phụ nữ:

Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

- Hai câu thơ đầu với nghệ thuật đối: “Dữ dội - dịu êm”; “Ồn ào - lặng lẽ” đã làm hiện lên vẻ đẹp của những con sóng biển ngàn đời đối cực. Những lúc biển động, bão tố phong ba thì biển “dữ dội - ồn ào” còn những giây phút sóng gió đi qua biển lại hiền hòa trở về “dịu êm - lặng lẽ”.

- Nghệ thuật ẩn dụ ở hai câu đầu là ẩn dụ cho tâm trạng người con gái khi yêu. Xuân Quỳnh đã mượn nhịp sóng để thể hiện nhịp lòng của chính mình . Tình yêu của người phụ nữ cũng không chịu yên định mà đầy biến động, khao khát. Đúng như vậy, tình yêu của người con gái nào bao giờ yên định bởi có lúc họ yêu rất dữ dội, yêu mãnh liệt hết mình với những nhớ nhung, đôi khi ghen tuông giận hờn vô cớ. Nhưng cũng có lúc họ lại thu mình trở về với chất nữ tính đáng yêu, họ “lặng lẽ”, “dịu êm” ngắm soi mình và lặng im chiêm nghiệm.

- Hai câu tiếp theo tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hóa để nói đến hành trình đi tìm tình yêu của sóng:

Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

- Ba hình ảnh “sông”, “sóng”, “bể” như là những chi tiết bổ sung cho nhau : sông và bể làm nên đời sóng, sóng chỉ thực sự có đời sống riêng khi ra với biển khơi mênh mông vô tận. Sóng không cam chịu một cuộc sống đời sông chật hẹp, tù túng nên nó làm cuộc hành trình ra biển khơi bao la để thỏa sức vẫy vùng. Mạch sóng mạnh mẽ như bứt phá không gian chật hẹp để khát khao một không gian lớn lao. Hành trình tìm ra tận bể chất chứa sức sống tiềm tàng, bền bỉ để vươn tới giá trị tuyệt đích của chính mình. Tình yêu của Xuân Quỳnh cũng vậy, tình yêu của người phụ nữ cũng không thể đứng yên trong một tình yêu nhỏ hẹp mà phải vươn lên trên tất cả mọi sự nhỏ hẹp tầm thường để được sống với những tình yêu cao cả, rộng lớn, bao dung. Đây là một quan niệm tình yêu tiến bộ và mạnh mẽ của người phụ nữ thời đại. Có thấy ngày xưa quan niệm tình yêu cổ hủ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” thì mới thấy hết được cái mới mẻ trong quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnh: Người phụ nữ chủ động tìm đến với tình yêu để được sống với chính mình.

3. Khổ thơ thứ hai, nhà thơ khẳng định: Tình yêu mãi mãi là khát vọng của tuổi trẻ, nó làm bồi hồi, xao xuyến rung động trái tim của lứa đôi, của con trai con gái, của em và anh.

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ

- Hai câu thơ đầu, từ “Ôi!” cảm thán là nỗi thổn thức của trái tim yêu. Nghệ thuật đối lập “ngày xưa” – “ngày sau” càng làm tôn thêm nét đáng yêu của sóng. Sóng là thế muôn đời vẫn thế vẫn “dữ dội ồn ào” vẫn “dịu êm lặng lẽ” như tình yêu tuổi trẻ có bao giờ đứng yên:

Có những khi vô cớ
Sóng ào ạt xô thuyền
Bởi tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên
(Xuân Quỳnh)

- Hai câu thơ sau, nhà thơ khẳng định tình yêu luôn song hành với tuổi trẻ. Bởi tuổi trẻ sinh ra là để yêu : “Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ không thương một kẻ nào” (Xuân Diệu). Tình yêu là khát vọng là ước mơ của bao người. Sẽ như thế nào nếu thế giới này không có tình yêu lứa đôi ? Tôi tin cuộc sống chẳng còn gì ý nghĩa. Tình yêu luôn làm cho tuổi trẻ phải bồi hồi, điên đảo . Xuân Quỳnh đã từng viết “Những ngày không gặp nhau/Lòng thuyền đau rạn vỡ”. Có yêu nhau mới thấy được cồn cào của vị nhớ, mới thấy được thế nào là bồi hồi trong ngực trẻ.

4. Khổ thơ thứ ba, Xuân Quỳnh băn khoăn nghĩ suy về anh và em, về nơi tình yêu bắt đầu :

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

- Câu thơ đầu, Xuân Quỳnh nhìn về biển khơi “Trước muôn trùng sóng bể”. Nhìn những con sóng vô hồi vô hạn đang hướng vào bờ chị chợt bâng khuâng nghĩ suy về anh và em “Em nghĩ về anh, em” rồi lại hướng nghĩ suy về biển lớn “Em nghĩ về biển lớn” . Những nghĩ suy ấy tất cả là để đặt một câu hỏi lớn: Từ nơi nào sóng lên ?

5. Khổ thơ thứ tư, nhà thơ lý giải về nguồn gốc của sóng của gió, và qua đó tự bâng khuâng về khởi đầu của tình yêu:

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

- Câu thơ đầu nhà thơ tự lý giải nguồn gốc của sóng là từ gió “Sóng bắt đầu từ gió” nghĩa là sóng biển là khởi đầu từ gió, nhờ gió mà có sóng lên. Nhưng ở câu thơ thứ hai nhà thơ lại không lý giải được nguồn gốc của gió “Gió bắt đầu từ đâu”. Đến lúc này thì đúng là nhà thơ phân vân thật sự và đành lắc đầu bất lực “Em cũng không biết nữa”.

- Lí giải được ngọn nguồn của sóng thì dễ bởi “Sóng bắt đầu từ gió” nhưng để hiểu “Gió bắt đầu từ đâu” thì thi nhân lại ấp úng “Em cũng không biết nữa”. Cũng như tình yêu của anh và em nó đến rất bất ngờ và tự nhiên bởi “tình yêu đến trong đời không báo động”. Câu thơ “Khi nào ta yêu nhau” như một cái lắc đầu nhè nhẹ, rất ư là nữ tính. Kì lạ quá, diệu kì quá, em và anh yêu nhau bao giờ nhỉ ? Câu hỏi này muôn đời không ai lí giải nổi nhất là những bạn trẻ đang yêu và đắm say trong men tình ái. Tình yêu là vậy, khó lí giải, khó định nghĩa. Xuân Diệu – ông hoàng của thi ca tình yêu cũng đã từng băn khoăn khi định nghĩa về tình yêu “Đố ai định nghĩa được tình yêu/ Có khó gì đâu một buổi chiều/Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu”. Chính vì không thể lí giải rõ ngọn ngành nên tình yêu vì thế mà trở nên đẹp và là cái đích để cho muôn người đi tìm và khám phá. Càng khám phá càng thú vị, càng khám phá càng đẹp.

6. Nghệ thuật: Thành công của đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung đó là nhờ vào một số thủ pháp nghệ thuật: Thể thơ năm chữ tạo âm điệu của những con sóng biển. Nghệ thuật đối lập, nhân hóa, ẩn dụ… Tất cả đã tạo nên những vần thơ tình yêu hay nhất mọi thời đại.

III. KẾT BÀI

Tóm lại, bốn khổ thơ mở đầu bài thơ Sóng là ba khổ thơ hay nhất của bài thơ. Qua đó người đọc cảm nhận được trái tim yêu của Sóng và người phụ nữ rất nồng nàn say đắm, mãnh liệt cuộn trào nhưng cũng rất nữ tính đáng yêu. Đoạn thơ giúp ta hiểu được tình cảm và hồn thơ Xuân Quỳnh, dù trong mọi hoàn cảnh như thế nào thì tiếng thơ của chị vẫn là tiếng thơ hồn hậu với những khát vọng hạnh phúc đời thường đúng như lời chị viết:

Chỉ riêng điều được sống cùng nhau
Niềm vui sướng với em là lớn nhất
Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực
Giây phút nào tim chẳng đập vì anh!


860
lượt xem

ĐỀ 1; Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:

ĐỀ 1; Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:Ta về, mình có nhớ taTa về, ta nhớ những hoa cùng người.Rừng xanh hoa chuối đỏ tươiĐèo...
12345Trang sau 153050mỗi trang
67

bài viết

Chat chit và chém gió
  • cos^2(T): tiếp , cj vt nốt cho 8/24/2017 7:35:38 PM
  • emily: ok 8/24/2017 7:35:49 PM
  • cos^2(T): xoh ! 8/24/2017 7:38:52 PM
  • emily: e ra r 8/24/2017 7:53:23 PM
  • nhih: hi mina 8/28/2017 4:10:52 AM
  • emily: . 8/28/2017 6:13:03 AM
  • Nắng: Hương 8/28/2017 6:20:26 AM
  • Nắng: e hok nhanh nhỉ 8/28/2017 6:20:29 AM
  • emily: sao e nhanh ạ? 8/28/2017 6:21:00 AM
  • emily: đây ms lớp 7 8/28/2017 6:21:08 AM
  • Nắng: ơ năm nay e lp 8 mà nhỉ 8/28/2017 6:21:21 AM
  • Nắng: s hok lp 7 ... ôn lại à 8/28/2017 6:21:28 AM
  • emily: vâng ạ 8/28/2017 6:22:14 AM
  • emily: e đg hk hè mà 8/28/2017 6:22:19 AM
  • Nắng: ừ , cj bt r 8/28/2017 6:22:30 AM
  • emily: cj xem đề chưa ạ? 8/28/2017 6:22:48 AM
  • Nắng: rồi 8/28/2017 6:23:01 AM
  • emily: cj có thể làm đc k ạ? 8/28/2017 6:23:34 AM
  • Nắng: được 8/28/2017 6:23:41 AM
  • Nắng: có lẽ thế ... 8/28/2017 6:23:44 AM
  • emily: cj hk giỏi nhỉ 8/28/2017 6:24:17 AM
  • Nắng: cj mà làm dài qá 8/28/2017 6:24:20 AM
  • Nắng: thì đừng trách cj nhé 8/28/2017 6:24:24 AM
  • emily: dài càng tôt mà 8/28/2017 6:24:34 AM
  • Nắng: ok 8/28/2017 6:24:37 AM
  • emily: happy 8/28/2017 6:24:41 AM
  • emily: cj đang làm hả? 8/28/2017 6:25:31 AM
  • Nắng:8/28/2017 6:26:05 AM
  • emily: wow 8/28/2017 6:26:25 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:29 AM
  • emily: not_worthy 8/28/2017 6:26:33 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:36 AM
  • Nắng: miễn lễ 8/28/2017 6:26:38 AM
  • emily: thumbs_up 8/28/2017 6:26:41 AM
  • emily: hihihi 8/28/2017 6:26:46 AM
  • emily: hee_hee 8/28/2017 6:26:50 AM
  • emily: đa tạ 8/28/2017 6:26:57 AM
  • emily: hee_hee 8/28/2017 6:27:03 AM
  • emily: cj xong chưa cj/ 8/28/2017 6:30:48 AM
  • Nắng: no_talking 8/28/2017 6:30:57 AM
  • emily: cj sao vậy ạ? 8/28/2017 6:31:51 AM
  • emily: sad 8/28/2017 6:32:03 AM
  • emily: cj ơi 8/28/2017 6:32:48 AM
  • Nắng: ơi 8/28/2017 6:33:02 AM
  • emily: cj ik đâu? 8/28/2017 6:34:03 AM
  • emily: hay cj nêu ý chính cg đc 8/28/2017 6:34:14 AM
  • Nắng: https://hoc24.vn/hoi-dap/question/120798.html 8/28/2017 6:47:38 AM
  • Nắng: vào đi , ko cần đăng kí cx đọc đk 8/28/2017 6:47:49 AM
  • emily: vâng 8/28/2017 6:48:21 AM
  • emily: thanks 8/28/2017 6:48:22 AM
  • Nắng: kcj 8/28/2017 6:48:29 AM
  • Phù thủy nhỏ: hi mn 9/16/2017 8:56:16 AM
  • Phương Thảo: vỏ sò khóa là gì? 9/25/2017 8:53:52 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:00:56 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:01:00 AM
  • supermanvp1607: '' Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái ''. Suy nghĩ của a/c về ý kiến trên 10/8/2017 6:01:48 AM
  • carolina26072005: happy 11/28/2017 8:24:30 PM
  • carolina26072005: hello 11/28/2017 8:24:39 PM
  • kocotendst2k3: 2222 12/4/2017 9:14:23 PM
  • kocotendst2k3: Cho e hỏi chi tiết nào đã thể hiện sâu sắc, cảm động tình cha con của ông 6 vs bé thu ạ 12/4/2017 9:16:06 PM
  • hieuchutien: chich nhau ko 12/5/2017 5:48:55 AM
  • hieuchutien: cai dit nhau 12/5/2017 5:49:15 AM
  • hieuchutien: cut 12/5/2017 5:49:17 AM
  • hieuchutien: cc 12/5/2017 5:49:18 AM
  • ๖ۣۜGemღ: Mọi người có thắc mắc hay cần hỗ trợ gì thì gửi tại đây nhé https://goo.gl/dCdkAc 12/6/2017 8:53:59 PM
  • letu200122: @@ 12/12/2017 11:12:14 PM
  • letu200122: alo 12/12/2017 11:12:42 PM
  • свинья: rolling_on_the_floorrolling_on_the_floor 12/30/2017 8:58:02 PM
  • lanho: hi 1/10/2018 8:51:32 PM
  • dumamiconvan: sao A 2/26/2018 8:09:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:30 PM
  • Rushia : .. 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:31 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:32 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:33 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:34 PM
  • Rushia : . 2/27/2018 2:11:34 PM
  • ๖ۣۜBossღ: x 3/2/2018 9:19:09 PM
  • ๖ۣۜBossღ: h 3/4/2018 7:11:57 PM
  • ngocanhwang: em chào mọi người ạ 3/18/2018 6:07:38 PM
  • caochanhkhai1111: hello 4/5/2018 10:21:43 PM
  • dungvong2006: helo 4/9/2018 9:04:06 PM
  • dungvong2006: em Ng Hồng Ngọc có đây k nhỉ 4/9/2018 9:05:38 PM
  • Nguyễn Nhung: angel 4/9/2018 9:09:49 PM
  • maizabuza: happy 9/26/2018 5:36:49 AM
  • nguyenlena123: big_grin 10/8/2018 10:10:20 PM
  • nguyenlena123: thương vợ của tú xương và chữ người tử tù của nguyễn tuân 10/8/2018 10:10:58 PM
  • nguyenlena123: Bác Dương thôi đã thôi rồi 10/8/2018 10:12:20 PM
  • nguyenlena123: Hãy có một lần nhìn lại bản thân và cách đối xử với nó với cha mẹ 10/8/2018 10:14:14 PM
  • shixamxi2005: r đâu 2/28/2019 1:26:03 PM
  • linhcute555666:9/2/2019 9:58:38 AM
  • linhcute555666: hú hú hú 9/2/2019 9:58:59 AM
  • linhcute555666: ư ư 9/2/2019 9:59:01 AM
  • linhcute555666: hú hú 9/2/2019 9:59:04 AM
  • linhcute555666: :vvv 9/2/2019 9:59:05 AM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely