Nội dung theo thẻ

0
phiếu
0đáp án
990 lượt xem

RỪNG XÀ NU

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

       Nguyễn Trung Thành tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ông có bút danh khác là Nguyên Ngọc. Nguyễn Trung Thành là bút danh được dùng trong những năm ông hoạt động ở chiến trường miền Nam thời kỳ chống Mĩ cứu nước.

       Truyện ngắn Rừng xà nu công bố lần đầu năm 1965. Khi đó, cách mạng miền Nam đã trải qua thời kỳ đen tối đến lúc Đồng khởi và đang tiếp tục cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai. Theo lời Nguyễn Trung Thành, ông nhớ rất rõ ngày 8-3-1965, mấy vạn lính thủy quân lục chiến Mĩ đổ bộ vào bãi biển Chu Lai. “Đó là những ngày sôi sục, nghiêm trang, nghiêm trọng, lo lắng, quyết liệt, hào hùng: dân tộc ta bước vào cuộc chạm trán một mất một còn trực tiếp với đế quốc Mĩ”.

          Vấn đề đặt ra trong truyện ngắn là vấn đề trung tâm của toàn dân tộc lúc đó: con đường duy nhất lúc đó cầm vũ khí đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong một thế tương quan lực lượng chênh lệch về vũ khí kỹ thuật, đâu là sức mạnh mang lại thắng lợi cho chúng ta? Truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành góp phần tìm ra câu trả lời: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Ý chí quyết đấu là nguồn gốc của sức mạnh. Tác phẩm cũng chỉ ra vẻ đẹp tinh thần của nhân dân Tây Nguyên bất khuất.

          Lúc nhà văn định viết một truyện ngắn về đồng bằng đánh Mĩ nhưng mấy đêm thức ròng ông không sao viết được. Ông chuyển qua viết về miền núi và trong một đêm giữa năm 1965, Rừng xà nu đột ngột đến với tác giả. Mặc dù câu chuyện hư cấu nhưng các nguyên mẫu đều là có thật, nhà văn đã gặp họ ở nơi này nơi khác, lúc này lúc khác. Nguyễn Trung Thành kể là ông đã quen biết ông Núp, ông Mết từ hồi đánh Pháp, khoảng năm 1963 đã gặp anh Đề người Xê-đăng và nghe anh kể, năm 1959 anh Đề đã cùng 10 trai làng dùng dao dựa, giáo, mác giết được một tiểu đội lính Diệm. Cuối năm 1963, trong một hội nghị ở huyện Đắc-lây, Nguyễn Trung Thành đã gặp một cô gái người Ê-đê xinh đẹp, vừa là cán bộ phụ nữ xã, vừa là du kích. Những con người ấy gặp nhau, âm thầm hình thành những nhân vật văn học trong tác giả để khi ông viết, chúng hội tụ về dưới trang văn. Quá trình viết câu chuyện trở nên dễ dàng: “Tất cả, tôi không phải “bịa” thêm gì cả, tôi thấy rõ hết. Mặc dầu tất cả đay hoàn toàn là một câu chuyện bịa mà như thật. Với tôi nó hoàn toàn có thật”.

2. Nguyễn Trung Thành nói về biểu tượng rừng xà nu

       Cây xà nu là cây thông. Văn học trung đại đã viết không ít về cây thông, nhưng đều tập trung khai thác ý nghĩa biểu trưng của cây thông cho phẩm chất của người quân tử. Bởi lẽ cây thông vẫn xanh tươi ngay cả giữa mùa đông lạnh giá trong khi tất cả các loài cây khác đều rụng lá. Đây là thứ cây tượng trưng cho sự kiên cường, bất khuất, không chịu đổi dời bản tính theo ngoại cảnh. Truyện ngắn Rừng xà nu cũng khai thác nghĩa biểu trưng của cây thông nhưng không phải là của một cây thông riêng rẽ mà là của một rừng thông, một “tập thể” thông. Tác phẩm cũng không nhằm vào biểu tượng quân tử ở cây thông mà hướng đến diễn tả sức sống mạnh mẽ, bất diệt của rừng thông như một biểu tượng về sức sống mạnh mẽ, bất diệt của những con người Tây Nguyên bình dị, không một bạo lực nào có thể tiêu diệt nổi. Đây là một nét mới của ý nghĩa biểu trưng của rừng thông mà văn học cách mạng có thể đưa vào kho tàng văn học.

          Nguyễn Trung Thành kể về hồi tháng 5 năm 1962 hành quân từ miền Bắc vào đến khu rừng bát ngát ở phía Tây Thừa Thiên thì gặp cây xà nu. “Tôi say mê cây xà nu từ ngày đó. Ấy là một thứ cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh nhã, vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô tận. Không khí ở đây thơm lừng. Nệm lá dưới mặt đất ngả lưng êm ru”. Vì thế, khi dự định viết về miền núi đánh giặc, Nguyễn Trung Thành đã gặp cây xà nu trong những dòng đầu tiên: “Bắt đầu đến dưới ngòi bút, gần như không hề tính trước, là một rừng xà nu, những cây xà nu… rừng xà nu chợt đến và lập tức tôi biết tôi đã tạo được không khí, đã có không gian ba chiều. Và cũng đã lập tức nhập được vào không khí và không gian ấy”.

          Biểu tượng xà nu đã hình thành từ thực tế quan sát, suy nghĩ nhiều năm của tác giả để trong giây lát có thể xuất hiện, dẫn dắt cho mạch truyện.

I-  PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Đặc điểm nội dung

a) Rừng xà nu, biểu tượng vế sức sống của người dân Tây Nguyên

       Ý nghĩa tượng trưng của rừng xà nu rất dễ quan sát thấy qua việc miêu tả rừng xà nu ở phần mở đầu và phần kết thúc câu chuyện.

       Mở đầu thiên truyện là cuộc chiến đấu thầm lặng mà quyết liệt giữa một bên là rừng xà nu và một bên là đạn pháo của giặc. Một chi tiết được miêu tả không hề ngẫu nhiên và trái lại, được tác giả có dụng ý nhấn mạnh: giặc bắn đại bác ngày hai lần, nhưng “hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn”. Những loạt đạn đại bác là sự thử thách nghiệt ngã đối với rừng xà nu. Hàng vạn cây xà nu bị thương, nhựa ứa ra, đau đớn uất hận như máu nhỏ. “Ở chỗ viết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh ngày hè nắng gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Nhưng nói tới sự tàn phá của đại bác giặc cũng là một cách giới thiệu sức sống bất diệt của cây xà nu.

Đối lập với sự tàn phá của đạn đại bác giặc là hình ảnh rừng xà nu kiên cường, bất khuất, hệt như con người, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác vươn lên trước những làn đạn: “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời như thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bui vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng […]. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã”.

       Kết thúc câu chuyện, nhà văn láy lại hai ý: một số cây xà nu to bị thương, nhựa ứa ra “lóng lánh nắng hè” và những cây nhỏ đang mọc lên như để thay thế những cây bị ngã: “Quanh đó vô số những cây con đang mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê”. Rừng xà nu có dáng dấp của một tác phẩm luận đề, cách mở đầu và kết thúc hé mở triết lý mà tác phẩm sẽ phân tích, chứng minh.

       Có thể nói hình tượng rừng xà nu là một biểu tượng đẹp về dân làng Xô Man. Trong làng này, những người dân tộc Strá cũng quật cường, bất khuất, các thế hệ nối tiếp nhau cùng chung một truyền thống đấu tranh cách mạng kiên trung, một truyền thống không khi nào bị gián đoạn, đứt quãng. Cây xà nu ở đay cũng giống như cây tre dưới xuôi, một biểu tượng đẹp về sức sống dẻo dai bền bỉ của con người.

b) Các thế hệ người Strá tham gia đấu tranh cách mạng

       Nhân vật trung tâm của tác phẩm- nếu như có yêu cầu phải xác định – có thể tìm thấy ở nhân vật Tnú. Tuy vậy không thể nói là các nhân vật khác được xây dựng mờ nhạt hay đơn giản. Tnú chỉ là đại biểu cho một trong các thế hệ nối tiếp đấu tranh cách mạng ở làng Xô Man.

-     Cụ Mết là đại diện của thế hệ người Strá đã từng tham gia đánh Pháp nay lại tiếp tục đánh Mĩ và bè lũ tay sai. Một con người vững chãi, từng trải, một lòng một dạ với Đảng, với cách mạng. Sức mạnh thể chất và tinh thần toát lên từ vẻ ngoài của cụ Mết. “Một bà tay nặng trịch nắm chặt lấy vai anh như một kìm sắt. Anh quay lại: cụ Mết! Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải láng bóng. Ông ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn”. Ở ông già sáu mươi tuổi này “tiếng nói vẫn ồ ồ, dội vang trong lồng ngực”. Mọi lời nói của cụ đều được dân làng lắng nghe, trân trọng: “Lúc ông cụ Mết nói, mọi người đều im bặt”. Lẽ đơn giản là cụ thường nói lên những tư tưởng lớn, có ý nghĩa chân lý; mà cũng không đơn giản là chỉ nói, cụ dẫn dắt cả làng đi theo con đường cách mạng. Cụ thường nhân dịp thích hợp để giáo dục, nhắc nhở dân làng về đấu tranh cách mạng. Ví dụ, cụ chỉ chia cho mỗi người mấy hạt muối quý giá và giải thích: “Năm nay làng không đói. Gạo đủ ăn tới mùa suốt. Nhưng phải để giành, dự trữ mỗi bếp cho được ba năm […] đánh thằng Mĩ phải đánh dài”. Cụ triết lí về sức mạnh quật khởi của các thế hệ qua biểu tượng cây xà nu “không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ  ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”. Lời của người từng trải, kinh lịch thật chắc gọn mà sâu sắc. Cụ Mết nói: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Cụ hiểu tình huống đầy kịch tính khi Tnú với hai bàn tay không nhảy ra cứu vợ con: “Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây thừng. Tau k nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cụ Mết không ngờ cụ đã nói lên một chân lý của thời đại ấy, cũng như ở dưới xuôi kia, trong thành phố, anh Trỗi nói “Còn thằng Mĩ thì không có ai hạnh phúc”, ở nông thôn, chị Út Tịch nói “Còn cái lai quần cũng đánh”.

-     Hai chị em Mai và Dít cũng là một biểu tượng thu nhỏ về sự tiếp nối truyền thống cách mạng ở Tây Nguyên. Mai cùng với Tnú đã thay các thế hệ trước nuôi cán bộ cách mạng. Người cán bộ cách mạng – anh Quyết – hỏi: “Các em không sợ giặc bắt à? Nó giết như anh Xút, như bà Nhan đó”. Để trả lời, Tnú dẫn câu nói như một chân lí đã được tổng kết từ cụ Mết: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Mối liên hệ gắn bó giữa Đảng và cách mạng, Đảng và dân và nước được họ nhận thức rất rõ ràng, giản dị. Cái chết đầy xúc động của hai mẹ con Mai do bàn tay độc ác của kẻ thù chỉ làm cho ý chí chiến đấu của Dít, em gái Mai thêm sắt đá, kiên cường. Ngày Mai mất, Dít còn nhỏ. “Tnú cầm mấy cây xà nu soi cho Dít gằn gạo. Nó gằn đủ ba mươi lon gạo trắng, đổ ruột ghét cho Tnú mang đi. Nó lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh trong khi mọi ngườ, cả cụ già Mết, đều khóc vì cái chết của Mai”.

          Dít có cách thể hiện tình cảm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ có thể hiểu được khi đặt vào bối cảnh của phong trào cách mạng miền Nam đầu những năm 60, khi gắn với truyền thống cách mạng của người dân Tây Nguyên từ hồi chống Pháp. Buổi hội ngộ đầu tiên của họ sau mấy năm Tnú đi vắng hơi bất ngờ với Tnú. Cặp mắt mở to, trong suốt, bình thản của Dít nhìn Tnú hồi lâu rồi Dít hỏi Tnú bằng cái giọng lạnh lùng: “Đồng chí về có giấy không?”. Trong sự lạnh lùng của nguyên tắc đó bao hàm một nguyên cớ thật đẹp: Dít muốn Tnú phải là một chiến sĩ giải phóng quân mẫu mực, về phép dù chỉ một đêm cũng phải có giấy phép của chỉ huy. Chỉ sau khi biết Tnú có giấy phép, Dít mới vồn vã: “Sao anh về có một đêm thôi […] Thôi cũng được. Về một đêm cho làng thấy mặt là được rồi. Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi”. Thể hiện tình cảm cá nhân gắn liền một cách hài hòa với sự nghiệp cách mạng là một đặc điểm phổ biến của văn học cách mạng, tạo nên chất sử thi cho tác phẩm.

-     Hình tượng Tnú: mặc dù một đặc điểm lớn của văn học cách mạng là diễn đạt hài hòa sự nghiệp anh hùng của các cá nhân và sự nghiệp cách mạng của quần chúng, chúng ta có vẫn có thể nói đến Tnú như một nhân vật chính, thể hiện cảm hứng của thiên truyện.

           là một chiến sĩ cách mạng với những nét đặc trưng của người dân Tây Nguyên. Cuộc đời anh li kỳ như một huyền thoại trong thiên sử thi anh hùng ca chói lọi của núi rừng Tây Nguyên. Cụ Mết muốn câu chuyện về Tnú sẽ được các thế hệ nối tiếp nhau kể cho nhau nghe.

          Học chữ hay quên, nhưng Tnú rất sáng dạ, thông minh khi làm liên lac cho anh Quyết từ huyện về xã. Tnú chấp nhận khó khăn: không đi đường mòn, cứ xé rừng mà đi; không vượt sống ở chỗ nước êm mà vượt thác. Đó là vì sự an toàn của những chuyến đi chuyển thư từ, công văn. Lần cuối cùng bị địch bắt, Tnú đã kịp nuốt cái thư của cán bộ để giữ bí mật. Rồi anh vượt ngục của kẻ thù trở về. Anh gan góc, dũng cảm, ít lời mà cương quyết. Khi bị bắt, kẻ thù bắt anh phải khai ai là cộng sản. Tnú đặt tay lên bụng nói: “Ở đây này!”. Lưng anh đã phải nhận bao nhát dao chém của bọn lính. Tnú đã lao vào giữa bọn lính để cứu mẹ con Mai nhưng đã không cứu được mà thân mình bị bắt. Sự việc đó có nhiều ý nghĩa nhưng cho thấy bản lĩnh của anh. Khi chúng đốt hai bàn tay anh cũng là lúc tất cả thanh niên trong làng đã đem những cây dựa mài bằng đá núi Ngọc Linh chém chết hết mười tên lính.

          Mô-típ bàn tay là một mô-típ có sức diễn đạt rất sâu sắc của thiên truyện. Bàn tay Tnú như một tấm gương phản ánh tư tưởng, tình cảm của anh. Bàn tay Tnú có lcus đặt trong lòng bàn tay Mai để rồi họ thành vợ thành chồng. Bàn tay ấy hãnh diện để lên bụng để trả lời quân thù: Cộng sản “ở đây này”. Khi đau đớn, uất hận, bàn tay ấy đã bứt hàng chục trái vả mà không biết. Để đe dọa những bàn tay cầm giáo mác, cầm súng, kẻ địch quấn giẻ tẩm dầu xà nu lên mười đầu ngón tay của Tnú và đốt. Nhưng chính lúc kẻ thù định hủy diệt bàn tay thiêng liêng của người dân Tây Nguyên thì chúng đã phải nhận lấy đòn trừng phạt thích đáng nhất. Các trai làng cầm giáo mác giết chết mười tên giặc. Đốt hai bàn tay của Tnú tức là tiêu diệt ý chí đấu tranh cách mạng, chỉ đứng lên giết chết kẻ thù, chặn đứng tội ác của chúng là con đường sống duy nhất. Tnú đã không dùng dao, dùng súng mà dùng mười đầu ngón tay cụt bóp cổ chết tên chỉ huy địch cũng là một cách trả lời cho kẻ thù biết sự khủng bố điên cuồng, độc ác của chúng là vô ích. Tnú kể lại sôi nổi: “Tôi tống đầu gối lên ngực nó, tôi bóp đèn pin lên mặt nó: Dục, mày có nhớ tau không? Nó lắc đầu. Được, đây này, hai bàn tay tau đây này, nhớ chứ? Tau vẫn cầm được súng? Mắt nó trắng dã. Tôi nói: Này, tau có súng đây, tau có cả dao găm đây. Nhưng tau không giết mày bằng súng, tau không đâm mày bằng dao nghe chưa! Dục! Tau giết mày bằng mười ngón tay cụt này thôi, tau bóp cổ mày thôi!”. Thằng Dục, đứa đã tẩm dầu đốt tayanh hiển hiện ở bất cứ một tên giặc nào. Trong sự hồn nhiên của Tnú có chân lý: “Chúng nó đứa nào cũng giống như thằng Dục”. Tính cách của Tnú là điển hình cho tính cách của người Tây Nguyên: ít lời, giản dị mà cương quyết, rắn chắc; cuộc đời và số phận của Tnú là điển hình cho số phận và cuộc đời của người Tây Nguyên: đầy đau thương mà quật cường , anh dũng, một lòng kiên trung với cách mạng.

2.         Đặc điểm về nghệ thuật

          Vốn là tác giả của Đất nước đứng lên, Nguyễn Trung Thành hiểu rõ và năm vững văn hóa, đất nước và con người Tây Nguyên. Ông có sở trường dựng nên không khí của núi rừng Tây Nguyên, văn hóa Tây Nguyên.

          Truyện ngắn này có sức hấp dẫn nhờ nghệ thuật khắc họa những nét tính cách đặc sắc của người Tây Nguyên qua ngôn ngữ, ngoại hình, hành động của họ. Người Tây Nguyên trầm lặng, ít nói nhưng có cách bày tỏ tình cảm, tư tưởng riêng qua hành động. Khi Tnú về thăm làng cũ, có người nhảy phóc từ trên sàn nhà xuống đất để đón anh. Cụ Mết có lối mắng yêu thật lạ: “Cha mẹ mày, đi lâu thế! Để cho lũ con gái chúng nó lớn lên chẳng còn thằng thanh niên nào cho nó bắt chồng!”. Rồi cô Dít ít lời mà cũng không kém phần ý tứ: “Dít ngồi sụp xuống trước mặt anh, hai chân xếp về một bên, đưa tay kéo tấm váy che kín cả gót chân”… Ngôn ngữ nhân vật có  bản sắc dân tộc, chắc gọn, đơn giản mà đầy triết lý. Những chi tiết nho nhỏ như vậy đã dệt thành một bức tranh chân dung về những người Tây Nguyên vừa lạ lùng, vừa gần gũi thân thương.

          Không gian núi rừng Tây Nguyên cổ sơ, trầm mặc cũng được dựng lại một cách sống động qua hình ảnh đậm chất Tây Nguyên. Đó là tiếng chày giã gạo như một nỗi nhớ da diết nhất cho những đứa con Tây Nguyên đi xa. Đó là hồi mõ dìa ba tiếng vang lên từ phía nhà ưng thôi thúc mọi người lại họp ở chỗ già làng. Đó là các cây đuốc sáng quanh nhà cụ Mết. Rồi không khí trang trọng, thành kính của dân làng vây quanh cụ Mết chờ cụ kể chuyện về cuộc đời Tnú như chờ nghe kể khan truyền thống. Rồi tiếng cồng chiêng, rồi mỏ đá mài trên núi Ngọc Linh đủ dùng cho cả trăm cuộc khởi nghĩa gươm giáo mác của Tây Nguyên. Có nhà nghiên cứu đưa ra nhận xét rằng, truyện Rừng xà nu mang đậm màu sắc sử thi. Chất sử thi toát lên từ tinh thần vì cộng đồng của con người, từ những vấn đề chung, liên quan đến số phận chung của cả cộng đồng.

          Nguyễn Trung Thành nói “Rừng xà nu” là truyện của một đời, và được kể trong một đêm. Đó là cái đêm dài như cả một đời. Nhưng nó cũng ngắn, cũng chỉ là một đêm trong sự sống vất vả, đau khổ và hạnh phúc”. Câu chuyện kể một đêm chính là nói câu chuyện cụ Mết kể cho dân làng nghe kể về cuộc đời Tnú nhân dịp anh được về nghỉ phép một đêm: “Đêm nay tau kể chuyện nó cho cả làng nghe, để mừng nó về thăm làng. Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tau chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe…”. Đó đúng là thể chức kể sử thi của người Tây Nguyên. Câu chuyện một đời của Tnú nhưng cũng là câu chuyện của cả buôn làng, không chỉ kể một đêm mà sẽ kể mãi, như những thiên sử thi đã từng được kể hàng trăm năm, ngàn năm nay. Thêm một ý nghĩa nữa của câu chuyện Tnú, một thiên sử thi của thời đại mới.

          Tuy vai người kể chuyện là cụ Mết nhưng thực ra, cách kể của Rừng xà nu khá linh hoạt. Điểm nhìn của người kể có thay đổi, khi là ngôn ngữ tác giả, khi là lời cụ Mết, khi là chính nhân vật Tnú hiện diện. Ví dụ, cả đoạn tả Tnú từ gốc cây xông ra đến khi anh bị bọn thằng Dục tẩm dầu vào giẻ đốt cả mười ngón tay là nhìn tâm trạng anh từ bên trong, người kể hóa thân vào nhân vật để quan sát, ứng xử và bộ lộ cảm xúc. “Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!”. Đây tất nhiên không phải là lời kể của người đứng nhìn từ bên ngoài mà là cảm nhận của người trong cuộc.

 

0
phiếu
0đáp án
373 lượt xem

NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.  Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

          Nguyễn Thi (1928 – 1968) tên khai sinh là Nguyễn Hoàng Ca, quê ở xã Quần Phương Thượng (nay là xã Hải Anh), huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng. Cha và mẹ Nguyễn Thi đã hoạt động cách mạng vào những năm 30 của thế kỷ XX và gia đình ông là cơ sở cách mạng. Mồ côi cha từ năm mười tuổi, mẹ đi bước nữa, Nguyễn Thi chịu nhiều vất vả, tủi nhục từ thuở ấu thơ.

          Tuy sinh ra ở đất Bắc, nhưng Nguyễn Thi đặc biệt gắn bó với nhân dân miền Nam bằng một tình cảm ân nghĩa thủy chung mà ông muốn gửi vào từng trang viết của mình. Ông được trân trọng coi là nhà văn của những người nông dân Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước ác liệt.

Nguyễn Thi là một nhà văn – chiến sĩ mà cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo văn chương là một tấm gương sáng cho thế hệ nhà văn từng trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Những đứa con trong gia đình được Nguyễn Thi viết ngay trong những ngày chiến đáu ác liệt khi ông công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.

2.  Hình tượng người mẹ trong truyện Những đứa con trong gia đình

          Các sáng tác văn học của Nguyễn Thi tập trung phản ánh hiện thực đấu tranh dữ dội, quyết liệt của người nông dân Nam Bộ chống đế quốc Mĩ xâm lược và tay sai, giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Nhà văn đã diễn tả thành công những vẻ đẹp của người nông dân Nam Bộ bộc lộ trong hiện thực đấu tranh cách mạng này, những vẻ đẹp mà trong đời thường ta có thể không chú ý: Tình yêu quê hương đất nước, sự căm thù giặc sâu sắc, tinh thần hi sinh, xả thân vì sự nghiệp chiến đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

          Người mẹ có một ảnh hưởng rất sâu đậm đến tư tưởng, tình cảm của chị em Chiến, Việt . “Cuốn sổ gia đình” mà chú Năm giữ có những nội dung không được trích nhưng nếu ta biết thì việc phân tích đoạn trích sẽ thuật lợi hơn. Đây là loại sử biên niên của gia đình, một nửa của cuốn sử biên niên đó ghi lại những đau thương, tổn thất do kẻ thù của đất nước gây ra cho gia đình này: “Thím Năm bơi xuồng đi rọc lá chuối bị càng –nông Mỏ Cày bắn bể xuồng, chết còn mặc cái quần mới, trong túi còn hia đồng bạc. Ông nội nghe súng nổ, sợ bò đứt dây ra nắm giàm bò, lính tổng Phòng vào nói: “Mày là du kích!” rồi bắn vào giữa bụng ông nội…”. Một lối chép sử biên niên gia đình thật nôm na, đơn giản mà sức tố cáo thật lớn lao. Tội ác của kẻ thù để lại dấu ấn sâu đậm trong trang sử của đại gia đình. Ông, bà, cô, bác, cha, mẹ của Việt và Chiến bị kẻ thù giết hại hoặc lăng nhục. Cha họ bị giặc Pháp chặt dầu. Má trúng đạn pháo giặc Mĩ khi bà đi đấu tranh ở Mỏ Cày về bị giặc bắn đuổi theo. Mối thù sâu nặng, chông chất cần được trả, đó là ý nghĩa đầu tiên mà “cuốn sổ gia đình” của chú Năm nhắn gửi cho những đứa con của gia đình. Phần khác của cuốn sổ đó ghi lại “một số công tác của gia đình”. Đây không phải một gia đình nạn nhân, đây là gia đình có truyền thống đấu tranh cách mạng. “Ông nội đi đóng đáy ở sông Bình Khánh có mò được hai cây mút mát dưới tàu chìm… Thằng Hai, con chú Năm, đi về phép, lúc gian lộ Giồng Trôm, thấy cốt Ngã Ba, liền bò vào đặt trái, lấy cốt xong, bó năm cây súng vác về xã nhà… Những bản lĩnh và phẩm chất của Việt và Chiến được gieo mầm trên một mảnh đất màu mỡ của một truyền thống gia đình giàu lòng yêu nước, căm thù giặc. Trong cuốn biên niên ấy của gia đình, hai chị em Chiến và Việt đã kịp ghi được một chiến công đầu.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.  Phân tích theo nhân vật

a) Nhân vật Chiến

          Chiến là cô gái có những nét ngoại hình và tính cách giống hệt mẹ. Cũng một vóc dáng chắc nịch đủ sức để vượt qua mọi gian khổ như má. Đây là cảnh hia chị em khiêng bàn thờ má sang gửi bên nhà chú Năm: “Chị Chiến ra đứng giữa sân, kéo cái khăn trên cổ xuống, cũng xắn tay áo để lộ hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng, rồi dang cả thân người to và chắc nịch của mình nhắc bổng một đầu bàn thờ má lên”. Mẹ mất, Chiến dù hơn em trai có một tuổi nhưng đã tỏ rõ sự già dặn, khôn ngoan, biết lo toan cho gia đình. Khi hai chị em chuẩn bị tòng quân, những xếp đặt của Chiến về nhà cửa cho thấy cô thực sự đã là một người lớn, chín chắn, biết suy nghĩ, chỉ có một điều nữa là giống hệt má “phải chị thở dài rồi kêu thằng út dậy đi đái nữa thì giống hệt như má vậy”. Chiến thao thức không ngủ được. Má dường như đêm nay cũng theo ánh đom đóm về nhà ngó coi hai chị em tính toán việc nhà ra sao trước giờ lên đường tòng quân. Suy nghĩ về hành động của Chiến bộc lộ nét đẹp của con người vì cộng đồng. Khi hai chị em chuẩn bị đi tòng quân, Chiến bàn với Việt để nhà cho “xã mượn mở trường học”, “giường ván cũng cho xã mượn làm ghế học”, ruộng đất do cách mạng cấp trao lại chi bộ để chia cho bà con cô bác khác làm. Chuyện công và chuyện tư đều được Chiến tính toán thấu đáo. Các dụng cụ gia đình như chén, cuốc, vá, đèn soi, nơm gửi chú Năm để chị Hai muốn lấy gì thì lấy, hai công mía do họ trồng nhờ chú Năm đốn để giành làm giỗ má. Hai chị em không muốn làm phiền chú Năm và chị Hai. Bàn thờ gửi chú Năm. Cuộc sống thiếu mẹ đã tôi luyện Chiến già dặn, chắc chắn. Nhưng Chiến không tỏ ra gia trưởn. Chiến bàn bạc với Việt tất cả những gì cần làm. Những cử chỉ, lời nó của Chiến khiến cho  “Việt thấy thương chị lạ”.

          Về chuyện hai chị em sắp vào bộ đội, có hai việc mà Chiến không nhường em. Thông thường ganh đua, không nhường nhịn là do ích kỷ, nhất là chị em ganh đua. Nhưng việc Chiến không nhường em lại hàm chứa một động cơ rất trong sáng, cao thượng. Một là hai chị em đều đấu tranh nhau đi bộ đội, trong lúc Năm quyết định thu xếp việc nhà cho cả hai chị em tòng quân. Hai là, chị không chịu thua em Việt về khí phách:

“ – chú Năm nói mầy với tao đi kì này là ra chân trời mặt biển, xa nhà thì ráng học chúng học bạn, thù cha mẹ chưa trả mà bỏ về là chú chặt đầu.

Việt lăn kềnh ra ván cười khì khì:

-     Chị có bị chặt đầu thì chặt chớ chùng nào tôi mới bị.

-     Tao thưa với chú Năm rồi, đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”.

          Cách nói khiến Việt phải chịu là chị nói “in như má”.

          Nhân vật Chiến là mẫu nhân vật tiêu biểu cho thời kỳ kháng chiến chống Mĩ. Lẽ ra, Chiến cũng như bao thiếu nữ khác được học hành, được sống trong tình thương yêu của gia đình, người thân. Như thế hệ Chiến mang nặng mối thù nhà, nợ nước, không thể không tòng quân giết giặc. Tình hình lịch sử của mẫu hình nhân vật cần được chú ý để thấy hết vẻ đẹp tinh thần cũng như những hi sinh cao cả của thế hệ ấy.

b)        Nhân vật Việt

          Việt là cậu con trai mới lớn, có những vẻ đẹp riêng của chàng trai Nam Bộ. Mang nặng mối thù nhà, Việt khao khát được tòng quân đánh Mĩ trả thù nhà. Chị Chiến muốn đi tòng quân, chư cho Việt đi đợt này mà qua năm sau hãy đi vì “mày còn nhỏ” thì Việt “đá trái dừa rụng dưới chân xuống mương cái đùng”, nói “bộ mình chị biết đi trả thù à?”. Chi tiết đá dừa nói nhiều về tính cách mạnh mẽ, cương quyết của Việt.

          Trong đêm mít tinh, thanh niên ghi tên tòng quân, hai chị em giành nhau chạy lên gặp anh cán bộ huyện đội. Việt tranh nói trước chị Chiến, xin đi bộ đội. Qua lời Chiến, ta hiểu giữa hia chị em đã có sự bàn bạc để chị đi trước mà Việt không chịu. Chỉ khi chú Năm xin cho cả hia chị em cùng đi thì anh cán bộ huyện đội mới ghi tên cả hai. Chú ý chi tiết: “Đêm ấy thanh niên ghi tên tòng quân đông lắm”. Có thể có một nghĩa tiềm ẩn: hai chị em đều giành nhau đi bộ đội đã cổ vũ nhiều thanh niên khác ghi tên.

Chi tiết Việt lăn kềnh ra ván, cười khì khì khi chị Chiến giao hẹn thù cha mẹ chưa trả mà bỏ về là chú Năm chặt đầu. Việt nói: “Chị có bị chặt đầu thì chặt chớ chừng nào tôi mới bị”. Cach nói có vẻ rờn rợn, nhưng thể hiện rất đúng khí phách, bản lĩnh của chàng trai, cô gái đi đánh Mĩ hồi đó.

          Việt vẫn có những nét của tuổi hồn nhiên nên cậu vô tư hơn, ít suy nghĩ hơn chị. Cậu nói “má dặn chị làm sao, giờ chị cứ làm như vậy”, nói vài câu rồi “ngủ quên lúc nào không biết”. Nhưng từ trong sâu thẳm tâm hồn mình, cậu con trai đó “thấy thương chị lạ”. Có điều, là con trai, sự thể hiện tính cách khác người chị. Chi tiết hai chị em Việt hứa khi đưa bàn thờ má qua nhà chú Năm trước buổi tòng quân nhập ngũ: “Đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa ba má về” có ý nghĩa tượng trưng. Đối với người Việt Nam, việc chuyển bàn thờ má thật thành kính và thiêng liêng. Ý nghĩa của việc hai đứa con sắp ra đi vô cùng trọng đại. Độc lập dân tộc và hạnh phúc của từng gia đình không tách rời. Hai chị em có những nét khác nhau nhưng mẫu số chung của họ là truyền thống gia đình, là lòng căm thù quân xâm lược.

c)         Nhân vật chú Năm

          Đây cũng là một hình tượng đẹp, có ý nghĩa tượng trưng về truyền thống gia đình. Đây là một người đàn ông Nam Bộ, tính cách mạnh mẽ, phóng khoáng, quyết đoán. Chú bước lên xin cho ghi tên cả hai chị em Chiến và Việt, nói “Việc lớn ta tính toán theo việc lớn, còn việc thỏn mỏn trong nhà tôi thu xếp khắc xong”.

          Tuy chú Năm đã già nhưng vẫn làm những việc có ý nghĩa nhắc nhở, khích lệ các cháu. Chú lập cuốn sổ gia đình, chơ cho hai cháu khôn lớn, trao cuốn sổ thiêng liêng này ở thời điểm hai cháu sắp lên đường tòng quân như là cử chỉ ghi nhận sự trưởng thành cảu hai  đứa cháu. Chú hứa “tao sẽ ghi cho hai đứa bây từng ngày” – ghi đây là ghi những thành tích, những chiến công. Chú bảo “con nít chúng bây kì đánh giặc này khôn hơn chú hồi trước”. Và chú hay cất giọng hò, không phải vì chú có giọng hò hay mà chú hò để gửi gắm tâm tình, ước mơ của chú, để nhắn nhủ các cháu. Chú Năm là biểu tượng cho truyền thống gia đình, là lời nhắn nhủ của cha chú cho các cháu về cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc và hạnh phúc gia đình.

          Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình đã góp phần lý giải sức mạnh chiến thắng của những người lính giải phóng từ góc độ truyền thống gia đình. Gia địnhlà một hình ảnh thu nhỏ của cả xã hội, đất nước. Sức sống bất diệt, sức mạnh chiến thắng bắt nguồn từ truyền thống yêu nước quật cường được cá thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau. Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn lại chọn lối viết giống như tiểu thuyết của dòng ý thức, để cho Việt, sau khi lập chiến công bị thương, trong lúc mê lúc tỉnh đã “nhìn” thấy những người thân trong gia đình. Những hình ảnh người thân ấy là nguồn năng lượng tiếp sức của Việt, mặc dù bị thương nặng anh đã trụ được suốt ba ngày cho tới lúc gặp lại được đồng đội, trong suốt ba ngày đó anh luôn luôn trong tư thế sẵn sàng bắn nếu gặp địch.

d)       Nhân vật người má của Việt

          Nhân vật người má của Việt hiện thân cho truyền thống gia đình. Trong các tác phẩm của Nguyễn Thi, hình tượng người má, người mẹ mang đậm chất Nam Bộ bao giờ cũng gợi cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ nhất cho ông. Họ là một nguồn sinh lực dồi dào, họ sinh ra những đứa con để nối tiếp truyền thống gia đình để các con noi theo. Họ cso thể ngã xuongs vì bom đạn kẻ tù, nhưng họ sẽ tái sinh trong máu thịt và sống lại trong cuộc đời của những đứa con. Họ bất tử. má của Việt và Chiến trong thiên truyện này là người như vậy. Trước khi nhập ngũ, Chiến và Việt ddeuf cảm thấy má trở về ngồi đó.

2.  Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Thi

a)  Dòng ý thức

          Câu chuyện được kể lại qua dòng ý thức của Việt, khi tỉnh khi mê man ở chiến trường, sua khi chiến đấu bị thương. Dòng liên tưởng của nhân vật cho phép câu chuyện được kể không phụ thuộc vào tiến trình thời gian sự kiện, không đòi hỏi kể theo trật tự trước sau của sự kiện mà có thể đạo lộn trật trự sự kiện theo đúng quy luật tâm lý. Thủ pháp “dòng ý thức”: Câu chuyền về gia đình, về những đứa con trong gia đình được nhà văn kể lại thông qua tia hồi quang ký ức vọng đến từ quá khứ trong tâm trí cảu Việt khi cậu bị thương nặng, mất máu, kiệt sức, lúc mê lúc tỉnh. Việt không hồi tưởng vì lúc này không còn sức mà động não, mà nhớ lại nữa, các ký ức tiềm ẩn tự chúng vọt sống dậy, trở về trong trí óc anh một cách vô thức. Lúc tỉnh, Việt nhớ đến thực tại chiến trường, cậu lo chuẩn bị đánh địch nếu bị phát hiện, rồi lại mê man, kí ức hiện về. “Việt tỉnh dậy lần thứ tư, trong đầu còn thoáng qua hình ảnh của người mẹ. Đêm nữa lại đến. Đêm sâu thăm thẳm, bắt đầu từ tiếng dế gáy u u cáo vút mãi lên. Người Việt như đang tan ra nhè nhẹ. Ước gì bây giờ lại được gặp má. Phải, ví như má đang bơi xuồng, má sẽ ghé lại, xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy […]. Nhưng mấy giọt mưa lất phất trên cổ làm Việt choàng tỉnh hẳn”.

          Thủ pháp dẫn chuyện này tạo cho nhà văn khả năng to lớn trong việc lựa chọn những sự việc, tình tiết, chi tiết cần thiết nhất mà không bị ràng buộc bởi trật tự thời gian, không gian. Mặt khác, những ký ức sống dậy trong các cơn mê (trạng thái vô thức) cho thây chiều sâu của tính cách nhân vật, cho thấy sự gắn bó sâu sắc của nhân vật với quê hương, với gia đình, do đó góp phần lý giải sức mạnh tinh thần to lớn giúp Việt vượt qua cái chết để tồn tại cho đến lúc gặp đồng đội, tức là lý giải nguồn gốc của sức mạnh đã đem lại chiến thắng của cuộc chiến đấu chống Mĩ. Hình ảnh má phảng phất hiện về trong trạng thái mê tỉnh chập chờn cho thấy má là người thân yêu nhất, là nỗi niềm thiêng liêng nhất của Việt. Hình ảnh chị Chiến hay chú Năm hiện ra gắn liền với cảnh hia chị em giành nhau đi bộ đội cho thấy đó là sự kiện quan trọng nhất, kỉ niệm sâu sắc nhất của Việt. Từ đó, những vấn đề lớn của thời đại được thể hiện.

b) Bút pháp hiện thực

          Nguyễn Thi miêu tả cuộc sống trong những hình thái của bản thân đời sống. Nhà văn không né tránh kể cả những mảng hiện thực dữ dội nhất. Cuộc sống, cuộc đấu tranh thật vô cùng quyết liệt, chi tiết ba của Việt bị Tây chặt đầu mà bà má tay bế con, tay cầm rổ chạy theo đòi giặc trả đầu ba cho kì được, về một mặt nào đó có phần rùng rợn nhưng là một chi tiết điển hình . Thực tế là như vậy và có ghi nhận thì mới hiểu được sức mạnh căm thù quân cướp nước ở người dân Nam Bộ.

Tuy vậy, nhà văn tôn trọng hiện thực mà không sao chép hiện thực. Ông biết chọn lọc những chi tiết có sức thể hiện mà lý luận văn học gọi là chi tiết điển hình. Cảnh hia chị em Chiến, Việt chuyển bàn thờ mẹ qua gửi chú Năm có giá trị biểu đạt cao. Người Việt Nam theo đạo thờ ông bà, cha mẹ và với họ bàn thờ cha mẹ, tổ tien là linh thiêng nhất. Quê hương, đất nước, Tổ quốc trước hết thể hiện nơi bàn thờ. Khi khiêng bàn thờ, Việt mới thấy rõ lòng mình và mối thù giặc Mĩ cậu cảm thấy có thể rờ thấy được.

          Những đứa con trong gia đình là một bức tranh hiện thực, sinh động về cuộc sống của con người Nam Bộ. Đặc biệt phải nói đến ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật giàu tính hiện thực, đậm màu sắc dân gian Nam Bộ đã góp phần xây dựng những chân dung thực về người dân Nam Bộ. Nhà văn dùng ngôn ngữ dân gian để thuật chuyện, gọn gàng, giản dị, chắc nịch, thiên về mô tả hành động. Ngôn ngữ nhân vật đậm màu sắc dân gian, thể hiện tính cách con người Nam Bộ. Lời lẽ của chú Năm bao giờ cũng thể hiện sự khoáng đạt, mạnh mẽ, dứt khoát của chú, một người đã trải nghề sông nước, tâm hồn mở rộng trong không gian bao la của Nam Bộ. Một khi chú đã nhận việc gì về phần mình, chú đều coi việc đó là “thỏn mỏn”, chú không nghĩ đó là việc lớn lao, trọng đại. Ngôn ngữ đối thoại của má Việt thường đanh gọn, dứt khoát. Ngôn ngữ của Chiến, Việt cũng giống như ngôn ngữ của mẹ, thường ngắn gọn, đi vào thực chất câu chuyện mà không vòng vo, không lý sự, ít triết lý. Bản ính của họ là nông dân nên ở họ hành động nhiều hơn là triết luận.

          Những đứa con trong gia đình là một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Thi. Bằng một phong cách nghệ thuật riêng, nhà văn đã góp phần khám phá vẻ đẹp của người nông dân Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, khám phá cội nguồn của sức mạnh chiến thắng của nhân dân ta. Qua một giọt nước, thấy được biển cả. Gia đình Việt, Chiến là hình ảnh thu nhỏ của miền Nam trong những năm tháng đánh Mĩ. Ở gia đình ấy, dấu ấn tội ác do giặc Pháp – Mĩ gây ra đã hằn sâu vào cuốn sổ gia đình. Những gia đình ấy, truyền thống đánh giặc cũng chói lọi, rực rỡ. Câu chuyện gia đình là câu chuyện của cả nước, cả toàn dân tộc.

 

0
phiếu
0đáp án
774 lượt xem

CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

I-   NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.  Về tác giả

Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) xuất thân từ một gia đình nông dân ở làng Thơi, xã Quỳnh Hải (nay là xã Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Năm 1944, Nguyễn Minh Châu học Trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến năm 1958, Nguyễn Minh Châu công tác và chiến đấu ở Sư đoàn 320, bắt đầu viết văn từ năm 1954. Ông rất am hiểu đời sống và tâm hồi người chiến sĩ, thực tế khắc nghiệt và hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mĩ. Từ năm 1980 trở đi, ông đi đầu trong khuynh hướng đổi mới văn học sau chiến tranh: nghĩ và viết nhiều về “đời thường”, về những vấn đề bức xúc đằng sau những chiến công, những vấn đề xã hội, về số phận và phẩm cách con người trong thực trạng phức tạp của đất nước.

2.  Sự đổi mới của cảm hứng nghệ thuật thời kỳ sau năm 1975

          Sau năm 1975, đặc biệt từ sau năm 1985, trong văn học Việt Nam hình thành khuynh hướng văn xuôi mới so với trước đây mà giới nghiên cứu gọi là “văn xuôi đời thường” để phân biệt với xu hướng “văn xuôi sử thi”. Gọi là “văn xuôi sử thi” vì, giống như các sử thi anh hùng ca, xu hướng này mô tả con người gắn liền với sự nghiệp toàn dân tộc, sự nghiệp chung của tập thể. Xu hướng văn xuôi đời thường lại chú trọng quan sát, mô tả, nhận diện con người trong cuộc sống riêng tư, những mảng tối, còn khuất lấp của thân phận, tính cách con người mà trước đây, văn học thời chiến chưa có nhiều điều kiện khám phá. Bản thân Nguyễn Minh Châu trong các sáng tác thời 1975 cũng có xu hướng đi tìm con người sử thi, con người cộng đồng (truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng là một ví dụ quen thuộc). Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa phản ánh sự thay đổi không những về đề tài mà còn về quan điểm thẩm mĩ của nhà văn. Nếu trước 1975, quan điểm thẩm mĩ của nhà văn có thể diễn đạt bằng công thức cái đẹp là cái cao cả, cái anh hùng thì sau năm 1975, cái đẹp là cái thường ngày, cái đẹp là chính cuộc sống.

3.  Khái niệm “tình huống truyện”

       Nghệ thuật truyện ngắn có liên hệ mật thiết với tình huống truyện. Theo Bùi Việt Thắng, trong Bình luận truyện ngắn (NXB Văn học, Hà Nội, 1999), có thể tóm tắt bản chất của tình huống như sau:

-     Tình huống là những thời khắc tiêu biểu (có người gọi là khoảnh khắc, chốc lát,…) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong cuộc sống con người.

-     Tại thời điểm đó, các nhân vật có cơ hội châu tuần lại, gắn kết với nhau (mà trước đó họ vốn xa lạ với nhau hoặc gần mà chưa có điều kiện hiểu biết lẫn nhau).

-     Tại thời khắc đó đã bộc lộ cái bản chất trong quan hệ giữa các tính cách nhân vật, giữa nhân vật với hoàn cảnh.

-     Tình huống là sự thể hiện sâu sắc chủ đề tác phẩm.

          Tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa là kiểu tình huống luận đề. Một nghệ sĩ nhiếp ảnh dự định đi chụp những cảnh biển thật đẹp để đưa vào tờ lịch nhưng đã gặp một cảnh không đẹp chút nào – một phụ nữ bị chồng thường xuyên hành hạ dã man của người chồng vũ phu đó. Luận đề của truyện là nhà văn không nên nhìn cuộc sống đơn giản, một chiều mà cần thâm nhập vào bản chất con người, thâm nhập vào số phận riêng tư của con người để thấy hết tính chất phức tạp của cuộc sống.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.  Phân tích theo kết cấu

     Có thể phân tích theo kết cấu truyện. Truyện có ba phần chính, được phân cách bởi các dấu sao.

-     Phần thứ nhất: Kể về nhiệm vụ mà nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng được giao là chụp một bức ảnh về cảnh biển buổi sáng có sương mù. Cả tuần chưa phục được cảnh nào yêu cầu, cuối cùng anh quyết định chụp cảnh một chiếc thuyền đánh cá thu lưới lúc bình minh.

-     Phần thứ hai: Một chiếc thuyền lao vào bờ và Phùng chứng kiến cảnh người đàn ông đánh đập người phụ nữ nhưng người phụ nữ không chạy trốn, không chống trả, không kêu la.

-         Phần thứ ba: Do Phùng chứng kiến lần thứ hai cảnh hành hạ đó nên anh xông vào bênh vực, bị lão đàn ông đánh bị thương. Tòa án gọi người đàn bà ra định giúp chị thoát khỏi sự hành hạ của lão chồng vũ phu, nhưng điều bất ngờ là người phụ nữ chấp nhận đánh đòn hàng ngày như vậy. Câu chuyện diễn ra bất ngờ khiến nghệ sĩ Phùng ám ảnh, suy nghĩ.

a)     Phần thứ nhất

          Sự đắc ý của Phùng khi chụp được cảnh mà anh coi là “trời cho”: “Trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ […] toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp chặt vào”. “Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Không cần lựa chọn xê dịch nữa, anh “bấm liên thanh một hồi hết một phần tư cuốn phim”, “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại” với cảm giác hạnh phúc tràn ngập tâm hồn. Anh yên tâm ngày mai có thể lên tàu trở về. Anh lại nhận thức lần nữa chân lý nghệ thuật: cái đẹp là cái đạo đức, mĩ và thiện thống nhất. Câu chuyện đến đây vẫn chưa có gì đặc biệt, chưa có đột biến.

b)   Phần thứ hai

          Tình huống truyện diễn biến rất nhanh dường như kịp thời cứu câu chuyện khỏi sự nhàm chán có khả năng xảy ra. “Ngay lúc ấy”, tức là ngay vào lúc Phùng thỏa mãn với hình ảnh anh coi là trời cho thì một biến cố đảo lộn tất cả. “Ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào trước chỗ chúng tôi đứng. Một người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền”. Hai vợ chồng thuyền chài lên bờ, người đàn ông và người đàn bà sửa soạn cho một sự việc rất ngạc nhiên. “Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhua họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn”. Phản ứng của Phùng trước sự việc quá bất ngờ đó là dễ hiểu: anh vốn là người lính đánh Mĩ. “Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất nhào tới”. Nhưng thằng Phác, cậu bé mà anh quen, đã kịp chạy đến can thiệp, giật chiếc dây lưng quật vào ngực lão già. Rồi, “Lão đàn ông định giằng lại chiếc thắt lưng nhưng chẳng được nữa, liền dang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền […]. Thế rồi bất ngờ người đàn bà buông đứa trẻ ra, đi thật nhanh ra khỏi bãi xe tăng hỏng, đuổi theo lão đàn ông. Cả hai người lại trở về chiếc thuyền”. Có cảm giác như gặp một truyện cổ quái đản. Tình huống đột ngột xuất hiện khiến đảo lộn mọi suy nghĩ và quan niệm thông thường. Cả người đánh lẫn người bị đánh đều trở lại thuyền thật bình thản khiến Phùng và cậu bé Phác – con của hai vợ chồng kia – ngơ ngác. Nếu nói bằng ngôn ngữ kịch thì chỗ này giống như thắt nút. Thắt nút trong tâm hồn của người kể chuyện, đẩy xung đột quan niệm trong chính người kể đến cao trào.

c)  Phần thứ ba – mở nút

     Lần thứ hai, Phùng – người kể chuyện – lại chứng kiến màn hành hạ vợ của lão chồng vũ phu và anh xông vào can thiệp, đã đánhlão chồng ra trò (đoạn này bị lược bỏ trong đoạn trích). Nhưng Phùng vẫn chưa hiểu bản chất câu chuyện là ở đâu. Anh ta vẫn nghĩ: “Tôi tin là nếu chiếc Pra-ti-ca trung thành với tôi thì phen này tôi có thể đánh ngã bất kì một bức ảnh mô tả phong cảnh biển nên thơ nào từ trước (câu này cũng bị lược trong đoạn trích). Chỉ đến khi ngồi ở tòa án nghe phụ nữ ấy nói, Phùng mới hiểu bản chất câu chuyện. Đại diện tòa án:

          “Ba ngày một trân nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả nước không cso một người chồng nào như hắn. Tôi chưa hỏi tội của hắn mà tôi chỉ muốn bảo ngay với chị: Chị không sống nổi với cái lão đàn ông vũ phu ấy đâu! Chị nghĩ thế nào?”. Nhưng chị ta trả lời: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”.

       Câu nói khiến Phùng tự nhiên cảm thấy không khí trở nên ngột ngạt khó thở. Như để giải thích, chị ta nói tiếp: “Chị cám ơn các chú! – Người đàn bà đột nhiên thốt lên bằng giọng khẩn thiết – Đây là chị nói thành thực, chị cám ơn các chú. Lòng các chú tốt quá, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc…”. Rồi câu chuyện về cuộc đời người đàn bà như những thước phim quay chậm dần dần hé mở thân phận của người phụ nữ xấu xí vùng biển lấy một gã trai cục tính nhưng khi ấy hắn không bao giờ đánh đập vợ. Thuyền chật, mà con cái nhiều, nỗi khổ đã khiến lão chồng vũ phu đánh vợ như là cách trút nỗi khổ lên đầu vợ. “Sau ngày con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…cho tôi lên bờ mà đánh”. Càng ngày càng thấy rõ nên không nhìn cuộc sống một cách đơn giản. Phùng nghĩ có thể lão chồng độc ác vì đã đi lính ngụy chăng. Nhưng không, lão chưa hề đi lính ngụy, thậm chí vì trốn lính nên nghèo túng. Vấn đề là một gia đình sống trên biển rất cần một người đàn ông. “Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó”. Nhưng cũng không nên nghĩ cuộc sống của người phụ nữ toàn một màu đen. Chị ta nói: “Ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”. Như không tin, Phùng hỏi: “Cả đời chị có một lúc nào thật vui không?”. Và câu trả lời có thể lại cũng khiến anh ngỡ ngàng: “Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Những người quen nghĩ về bình đẳng nam nữ có thể nghĩ đơn giản là giải quyết cho người phụ nữ bỏ gã chồng vũ phu là xong vấn đề. Nhưng nào ngờ được cuộc sống của họ có nhiều phương diện ẩn khuất mà cái nhìn hời hợt khó phát hiện. Chuyến đi săn tìm ảnh đẹp để in vào lịch của Phùng biến thành chuyến đi phát hiện những chân lý của “cuộc sống đời thường”. Không yên tâm với những hình ảnh đã chụp về hình tượng chiếc thuyền ngoài xa, anh khoác chiếc máy ảnh đi lang thang trong đêm. Sự phong phú, đa dạng của cuộc sống thường ngày với tất cả mọi sắc thái của nó là điều bất ngờ lớn nhất đối với người nghệ sĩ nhiếp ảnh. Anh đã chụp được tấm ảnh tuyệt đẹp của chiếc thuyền ngoài xa – khi ở khoảng cách xa – nhưng lại phát hiện ra bên trong chiếc thuyền những bi kịch của cuộc đời khi chiếc thuyền đến gần. Nhiều nhà phê bình đã cho rằng đây là hình ảnh tượng trưng, có ý nghĩa triết lý. Khi chiếc thuyền ở xa, chỉ thấy cái đẹp. Nhưng khi chiếc thuyền tiến lại gần, tức là ta có dịp nhìn sâu vào cuộc sống, những mặt khuất lấp, bi kịch của nó mới bộc lộ.

          Tình huống chứng kiến lão chồng vũ phu đánh vợ đã mở ra một triết lý về sứ mệnh quan trọng của nghệ thuật đi vào khám phá những đề tài, những vấn đề thân phận của con người vốn ẩn kín sau những vẻ ngoài hào nhoáng. Cuộc sống quanh ta đau phải đã hết những số phận đắng cay. Nói cách khác, xu hướng đời thường cần được tăng cường.

2.     Phân tích theo nhân vật.

a)    Nhân vật Phùng – người kể chuyện

          Phùng vốn là một chiến sĩ tham gia chiến trah chống Mĩ. Nhưng tại sao nhà văn lại muốn nhân vật phóng viên ảnh này vốn là bộ đội – một người đã chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước? Có thể nghĩ rằng, tình huống truyện chỉ gây ngỡ ngàng, bất ngờ nhất cho môt người xuất thân là lính? Một người lính có tinh thần chính nghĩa. Tính cách người lính bộc lộ rõ khi anh cả hai lần chứng kiến cảnh lão đàn ông vũ phu đánh vợ đều xông vào can thiệp, khiến cho từ đấy bản chất chuyện gã đàn ông đánh vợ bộc lộ. Nếu không có chuyện Phùng đánh lại lão đàn ông thì tòa án cũng không gọi người vợ thường chịu đòn đó ra để giúp đỡ. Nhưng cũng có thể có một lí do khác nữa: một người lính thì dễ khi anh chứng kiến những tấn bi kịch vẫn âm thầm ẩn náu bên trong những con thuyền nhìn từ xa vốn rất đẹp đẽ và thơ mộng kia. Nếu ta suy diễn như vậy là đúng thì vấn đề của truyện đặt ra là cách mạng phải tiếp tục làm nhiều hơn nữa để đem lại cuộc sống hạnh phúc cho con người.

b)        Nhân vật người đàn bà

          Nhân vật này không có tên, cũng như người chồng chỉ được gọi là “lão đàn ông”. Có thể dụng ý của tác giả là những số phận như thế có thể gặp dễ dàng khắp nơi. Trong cái nhìn của người kể chuyện: “Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Về ngoại hình, như chính người đàn bà tự kể về mình đã nói: “Từ nhỏ tôi đã là một đứa con gái xấu, lại rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa”. Một ngoại hình như thế khó hy vọng lấy được người chồng ưng ý. Bản thân việc lấy chồng của chị cũng không phải là việc bình thường ở cái thời xưa cũ ấy. Nhưng người chồng thời còn trẻ hiền lành: “Cũng vì xấu, trong phố không ai lấy, tôi có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới. Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giwof đánh đập tôi”. Vậy đã rõ là hoàn cảnh đã thay đổi tính cách. Vì nghèo khổ, vì đông con, vì không thể bỏ nghề đã quen bao đời nên họ bám thuyền. Và những trận đòn diễn ra vì một lý do không liên quan gì đến chị “bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu… Giá mà lão uống rượu…thì tôi còn đỡ khổ… Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh…”.

          Cách trả lời của người đàn bà trước những ngạc nhiên khó hiểu của Phùng là rất đơn giản: “Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…”. Trả lời câu hỏi của Đẩu – người cán bộ tòa án: “Trên chiếc thuyền phải có một người đàn ông…dù hắn man rợ, tàn bạo?” là một câu khẳng định: “Phải – người đàn bà đáp – cũng có khi biển động sóng gió chứ chú?”.

Những câu trả lời như những lời tâm sự của người đàn bà khiến cho Phùng đi hết từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. “Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có một người đàn ông để chèo chống mỗi khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! – lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên một nụ cười – vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận vui vẻ”. Người trong gia đình thương người đàn bà và muốn giải thoát cho mụ chính là đứa con trai tên Phác. Nhưng người mẹ sợ có chuyện không hay nên đã gửi cậu về cho ông ngoại nuôi. Chính bà cũng không muốn con can thiệp vào chuyện bố đánh mẹ.

          Đoạn văn trên đây đa nghĩa, có thể phân tích từ nhiều góc độ. Từ góc độ bình đẳng giới, ta thấy bản thân người phụ nữ, do nhận thức hạn chế, cũng tự chấp nhận sự thiệt thòi, gánh chịu nỗi khổ, không biết đến quyền sống cho riêng mình. Từ góc độ nghề nghiệp, lại thấy là những nghề nặng nhọc, nguy hiểm như hàng chài, rất cần có đàn ông với sức mạnh cơ bắp để chèo chống khi có phong ba, bão tố như là sự phân công lao động tự nhiên. Chừng nòa vẫn còn nghề nghiệp như thế thì chừng ấy, những gã đàn ông vẫn có quyền hành hạ phụ nữ mà người phụ nữ vẫn chấp sẵn sàng chấp nhận. Có thể đây là thực tế tồn tại đã bao đời trong xã hội ta, muốn giải phóng người phụ nữ, muốn đem lại bình đẳng nam nữ thì không chỉ có tuyên truyền mà cần có những biện pháp thực tế về kinh tế, luật pháp thì người phụ nữ mới thực sự được tôn trọng trong gia đình. Nếu không thì bản thân người phụ nữ cũng không muốn được “giải phóng”.

          Trong đầu của người chánh án huyện cso “một cái gì vừa mới vỡ ra”, một cách hiểu mới bất chợt hay một cách nghĩ cũ bị lung lay? Có lẽ là cả hai. Nhân vật người phụ nữ tự kể về mình nên có cái chân thực, tự nhiên, không thể tin được.

c)  Nhân vật người chồng

          Nhân vật gã đàn ông – người chồng – được người kể tả lại: “Tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ lúc nào cũng nhìn dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng của người đàn bà”. Người đàn ông lộ rõ một tính cách hoang dã, đầy bản năng, dữ dằn nhưng cũng từ hắn, toát ra sức mạnh vững chãi, một chỗ dựa tin cậy của người đàn ông (dân) làng chài. Những bước đi và tấm lưng của hắn đã nói lên điều đó.

          Cảnh lão hành hạ người vợ và vẻ nhẫn nại, cam chịu của người vợ gây ấn tượng sửng sốt cho Phùng. Thông thường, chuyện đánh đập như thế này là bột phát, thường diễn ra ngay tại chỗ; đằng này, lão lại dẫn vợ lên bờ, chọn chỗ kín đáo sau chiếc xe rà phá mìn bỏ lại để đánh vợ: “Họ đi đến bên chiếc xe rà phá mìn. Người đàn bà đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá nước chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng, rồi đưa một cánh tay lên có lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng ròi lại buông thõng xuống, đưa cặp mặt nhìn xuống chân. Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những diều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lủa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Người đàn bà với vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu môt tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn”. Đánh xong, lão thản nhiên trở về thuyền. “Lão đàn ông định giằng lại chiếc thắt lưng nhưng chẳng được nữa, liền dang thẳng cánh tay cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền. Không hề quay mặt nhìn lại, chỉ có tảng lưng khum khum và vạm vỡ càng có vẻ cúi thấp hơn, nom lão như một con gấu đang đi tìm nguồn nước uống, hai bàn chân chữ bát để lại những vết chân to và sâu trên bãi cát hoang vắng”.Tấm lưng vạm vỡ và bước chân đi vững chãi của hắn lại được người kể chuyện chú ý. Lần này, người kể chuyện so sánh hắn với con gấu. Trong con người này, có hai mặt trái ngược nhau cùng tồn tại. Cái bản năng hoang dã đem lại đau khổ cho người vợ, nhưng sức vóc vững chãi của hắn lai có thể chở che cho cả gia đình. Dáng vẻ người đàn bà chạy theo hắn lên thuyền thật đặc tả “bất ngờ người đàn bà buông đứa trẻ ra, đi thật nhanh ra khỏi bãi xe tăng hỏng, đuổi theo lão đàn ông. Cả hai người lại trở về chiếc thuyền”. Chuyện đánh đập vợ như cơm bữa ấy tạo nên tấn bi kịch căng thẳng trong gia đình. Đến nỗi thằng bé Phác (rất có thể tên nhân vật có nghĩa ẩn dụ: Phác ở đây là chất phác, phác thực cũng như Phùng có nghĩa là sẽ gặp) sẵn sàng đánh bố để cứu mẹ. Người mẹ cho biết “vì sợ thằng bé có thể làm điều gì dại dột đối với bố nó, mụ đã phải gửi nó lên rừng nhờ bố mình nuôi đã nửa năm nay. Ở với ông ngoại, thằng bé sướng hơn ở trên thuyền với bố mẹ. Nhưng hễ rời ra là nó trốn về. Thằng bé tuyên bố với các bác xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt ở dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh”. Cậu còn nhỏ, chưa hiểu hết cuộc sống phức tạp với những mạch ngầm nên phản ứng như thế không có gì khó hiểu. Đây cũng là một bi kịch nữa của cuộc sống. Đứa con trai căm thù bố vì bố đã hành hạ mẹ nhưng chính mẹ lại không muốn đứa con giải thoát cho mình.

          Nhìn chung, các nhân vật đều nói lên một nghịch lý trớ trêu trong cuộc sống. Gã chồng vũ phu vẫn đánh vợ khi thấy khổ nhưng rồi họ vẫn chung sống với nhau, vẫn sinh với nhau một lũ con; người vợ vẫn câm lặng hàng ngày, chấp nhận những trận đồn mà không kêu ca, không bỏ trốn. Nghịch lý như thế rất khó giải thích nếu ta có cái nhìn cuộc sống hời hợt.

          Câu chuyện được khám phá đã ám ảnh người kể chuyện – nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Kết luận là một thông điệp nghệ thuật rất sâu sắc, đầy tính triết lí. Mỗi lần ngắm bức ảnh về chiếc thuyền ngoài xa, anh lại như mường tượng thấy người đàn bà thân phận thật trớ trêu: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân giậm trên mặt đất chắc chắn hòa lẫn trong đám đông…”.

3.  Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Minh Châu

-     Tình huống của truyện như đã nói có khả năng bộ lộ tốt nhất tính cách các nhân vật.

-     Người kể chuyện trong Chiếc thuyền ngoài xa là nhân vật chính, Phùng, người nghệ sĩ nhiếp ảnh vốn xuất thân là lính. Nhưng có lúc người kể chuyện lại là người đàn bà. Cách kể như vậy đem lại sự chân thực, sinh động của lời kể. Cảnh người chồng đánh vợ tất nhiên sẽ chân thực hơn dưới góc độ của người chứng kiến, và từ góc nhìn đó, dễ hiểu phản ứng của người chứng kiến: “Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh chạy nhào tới”. Người kể chuyện vừa kể sự việc, vừa bình luận, vừa phân tích tâm lý chính mình, ví dụ “Chỉ mấy lời mào đầu ấy, người đàn bà cũng mất hết vẻ khúm núm, sợ sệt. Điệu bộ khác, ngôn ngữ khác. Cũng phải nói thật, những lời ấy, nhất là những lời của một người đàn bà khốn khổ, không phải dễ nghe đối với chúng tôi. Dầu mặt hãy còn trẻ, Đẩu cũng là một chánh án huyện . Còn tôi, một người đáng lẽ mụ phải biết ơn…”. Đây là nghệ thuật giúp cho câu chuyện được kể linh hoạt, sinh động, hấp dẫn. Khi người vợ trong vai người kể chuyện thì việc lý giải sự nhẫn nhịn của chị ta mới chân thực, gây được bất ngờ cho người nghe. Trong đoạn này, xen kẽ lời kể của “tôi”, tức nhân vật Phùng, với lời kể của người phụ nữ. Chị ta tự kể về mình, tự phân tích tâm lý mình, tự đánh giá cách hành xử của mình, cách nghĩ đó của người phụ nữ tỏ ra rất xưa cũ nên gây bất ngờ ngạc nhiên, làm sụp đổ những thành kiến cũ của Phùng.

-     Ngôn ngữ nhân vật được Nguyễn Minh Châu rất quan tâm. Nhân vật người chồng vũ phu có thứ ngôn ngữ rất tương hợp với cái vẻ ngoài bản năng, dữ dằn của y, góp phần tạo hình nhân vật. Trong truyện y chỉ nói có hai câu, trong đó đều có những chữ như giết, chết đi, mày, chúng mày: “Cứ ngồi nguyên đấy, Động đậy tao giết cả mày bây giờ”, “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”.

Ngôn ngữ của người vợ thể hiện sự nhẫn nại, cam chịu của ngươi phụ nữ đã bao năm quen với bạo lực gia đình. Đây là một người lao động, quen nói thật, nói thẳng ý nghĩ. Vì thế, không phải dễ nghe đối với Phùng và Đẩu, người chánh án.

 

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?

(Trích)

I-     NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại thành phố Huê, quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, tỉnh Quảng Trị. Ngay khi còn là sinh viên và đi dạy học, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tích cực tham gia các phong trò yêu nước chống Mĩ – ngụy ở nội thành thành phố Huế. Năm 1966, ông lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ bằng hoạt động văn nghệ. Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Trị Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt.

Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn vừa cầm bút vừa cầm súng, có phong cách độc đáo và đặc biệt sở trường về thể văn bút ký, tùy bút. Ký của ông có một diện mạo riêng – vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa, lịch sử rất phong phú – có những đóng góp mới cho văn xuôi Việt Nam hiện đại.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? được tác giả viết tại Huế, ngày 4-1-1981, in trong tập sách cùng tên. Bài bút ký có ba phần. Văn bản trong sách giáo khoa là phần thứ nhất.

2. Về dòng sông Hương

Sông Hương là một dòng sông nổi tiếng chảy giữa lòng thành phố Huế ( Huế đọc chệch đi là Hóa – xưa xứ Huế được gọi là Thuận Hóa). Khi gọi Châu Hóa như tác giả viết trong bài tùy bút thì hiệu quả là gợi ngay một ấn tượng về miền đất lịch sử.

Hai nguồn chính làm nên dòng sông này là dòng Tả Trạch và Hữu Trạch phát nguồn từ dãy Trường Sơn đổ về, hợp lưu lại ngã ba Bằng Lãng tạo thành sông Hương. Sông Hương chảy từ Bằng Lãng đến cửa Thuận An, vượt qua chừng 30km với tốc độ dòng chảy chậm, hiền hòa. Nguyên nhân là do độ chênh giữa mực nước sông và nước biển không lớn nên dòng chảy không mạnh. Cũng có một số nhân tố khác mà chính bài ký có nói: Những chi lưu là những nhánh sông đào hai bên sông và hai hòn đảo nhỏ trên sông cũng làm giảm lưu tốc của dòng chảy.

Huế là nơi thi hào Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều,từng sống. Do đó, mở đầu bài ký, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã liên tưởng dòng sông với tình yêu trong Truyện Kiều, một cách bắt đầu câu chuyện hấp dẫn vì đặt hình tượng dòng sông vào ngữ cảnh văn hóa toàn dân tộc. Ông viết: “Chính sông Hương và thành phố của nó vẫn gợi cho tôi, như một vang bóng trong thời gian, hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng của Truyện Kiều: tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và cả hai cùng gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở”.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? là nhan đề bài tùy bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thực ra, truy tìm nguồn gốc tên gọi sông Hương chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ tình yêu dòng sông, yêu quê hương xứ sở tươi đẹp, với bề dày truyền thống văn hóa và cách mạng. Đoạn trích đã lược bớt phần tác giả bà về cội nguồn tên gọi Hương Giang. Để hiểu đầy đủ về vấn đề này, chúng tôi xin cung cấp một cách ngắn gọn các cách cắt nghĩa tên gọi sông Hương đã được các nhà nghiên cứu tổng hợp.

Về cơ bản, đến nay có bốn cách giải thích khác nhau về cội nguồn tên gọi của sông Hương:

-     Theo truyền thuyết, khi xưa, chúa Nguyễn Hoàng trên đường từ Quảng Trị đi tuần du về phương Nam nghỉ ngơi bên bờ sông Hương, nằm mộng thấy một người phụ nữ nhà trời (thiên mụ) trao cho nén hương và dặn rằng, đi thuyền xuôi theo dòng sông, đến khi hương tàn thì dừng lại, đấy là nơ có thể định đô. Vì thế mà Nguyễn Hoàng đã chọn được nơi đóng thủ phủ Phú Xuân, sau này là kinh đô. Để ghi ơn “thiên mụ”, ngay trong năm 1601, chúa Nguyễn Hoàng đã xây dựng ngôi chùa Thiên Mụ nổi tiếng và đặt tên cho dòng sông là sông Hương.

-     Một dã sử lại kể rằng vua Quang Trung đã ra lệnh chính thức gọi Hương Giang cho toàn bộ dòng sông từ trên núi cao ra đến biển, chấm dứt tình trạng mỗi đoạn sông lại được gọi riêng theo tên địa phương như Đan Điền, Hương Trà.

-     Cắt nghĩa tên sông bằng các yếu tố tự nhiên có thuyết nói rằng vì cây thạch xuowng bồ mọc ở hai bên bờ dòng tả trạch và hữu trạch, một loại dược liệu quý, có mùi thơm, từ đó có tên là sông Hương.

-     Cách cắt nghĩa đầy nghệ thuật mà Hoàng Phủ Ngọc Tường tâm huyết. ở đoạn kết thiên bút ký mà chúng ta đang nói đến, ông viết: “Có nhiều cách trả lời cho câu hỏi ấy; trong đó, tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước trăm hoa đỏ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi. Tôi lĩnh hội ý nghĩa của truyền thuyết ấy như nhà thơ chọn bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hóa và lịch sử”.

Một cách lý tưởng, để hiểu được đầy đủ bài tùy bút đặc sắc này, người đọc cần cso một số hiểu biết nhất định về xứ Huế. Chẳng hạn nếu có cơ hội một lần đến thăm các lăng tẩm ở Huế thì sẽ cảm nhậ hết cái so sánh ví von dòng Hương Gian chạy qua khu vực này có vẻ đẹp trầm mặc nhất; hoặc nếu ta có một lần đến cầu Tràng Tiền vắt qua sông Hương, sẽ hiểu chính những nhịp cầu có dáng cong như cầu vồng trên cây cầu này gợi ý cho so sánh của tác giả “như những vành trăng non”. Tác giả dẫu là tài hư cấu, tưởng tượng đến mấy thì vẫn là dựa trên cơ sở những gợi ý từ hiện thực.

3. Về thể văn tùy bút

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán- Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi [đồng Chủ biên], NXB Giáo dục, 2004), bút ký là một thể ký có quy mô trương ứng với truyện ngắn nhưng khác truyện ngắn ở chỗ tác giả bút ký không sử dụng hư cấu vào việc phản ánh hiện thực. Bút ký ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tưởng tượng nào đó. Sức hấp dẫn và thuyết phụ của bút ký tùy thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu, khám phá, diễn đạt của tác giả đối với các sự kiện được dề cập đến nhằm khám phá ra các khía cạnh “có vấn đề”, những ý nghĩa mới mẻ, sâu sắc trong va chạm giữa tính cách và hoàn cảnh, cá nhân và môi trường. Bút ký có thể thiên về văn học, cũng có thể thuộc về báo chí tùy theo mức độ biểu hiện cái riêng của tác giả và mức độ sử dụng các biện pháp nghệ thuật cùng tính chất tác động của nó đối với công chúng.

Chúng ta vừa làm quen với thể tùy bút qua bút ký Sông Đà của Nguyễn Tuân. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là nhà văn viết tùy bút tài hoa nổi tiếng. Thể tùy bút cho phép tác giả kể, tả và phát biểu trực tiếp, không hạn chế các suy nghĩ, cảm xúc, bình luận thể hiện “cái tôi” của mình. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã biết khai thác tối đa đặc trưng của tùy bút khi viết sông Hương, một đối tượng chiếm lĩnh có những điểm khác nhau căn bản so với Sông Đà của Nguyễn Tuân.

II-    PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

Đoạn trích có hai phần với hai nội dung chính riêng, phân biệt bằng dấu sao. Phàn đầu dành cho những dòng bình luận, suy ngãm về cảnh quan tự nhiên của sông Hương và những cảnh quan nhân tạo hai bền bờ dòng sông; phần thứ hai viết về lịch sử và văn hóa đôi vờ sông Hương.

a) Cảnh quan tự nhiên của sông Hương và các không gian văn hóa đôi bờ dòng sông

Nhà văn sử dụng ngôn ngữ tự sự nhưng không phải là tự sự về một đối tượng của khoa Địa lý học mà như kể về một sinh thể, một cô gái. Và song song một dòng mạch trữ tình theo tuyến tự sự. Kể, tả và bình luận được kết hợp nhuần nhuyễn làm nên chất tùy bút đặc trưng của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Để viết thiên tùy bút, nhà văn phải là người rất am hiểu và có tình cảm gắn bó thân thiết với dòng sông. Nhưng để tác phẩm thành công, tác giả phải có tài năng văn chương thật sự.

Sông Hương từ dải Trường Sơn đổ ra biển Đông có hai chặng khác nhau. Chặng thư snhaats từ ngọn nguồn trên sườn Đông dải Trường Sơn quanh co qua các dải đồi núi; chặng thứ hai, khi mặt dòng nước dòng sông đã phẳng lặng dần đến khi gặp chùa Thiên Mụ là bắt đầu tìm đúng đường về thành phố. Nhà văn ngược lên tận ngọn nguồn con sông để nhận diện nó rồi xuôi theo dòng để quan sát nó lượn  quanh thành phố Huế. “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”. Và kết quả là một phát hiện “Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. “Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già […] và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Đây là những so sánh nhân cách hóa thật đặc sắc. Nhiều tên gọi các dòng sông gắn với hình ảnh người mẹ (sông Mê Kông và sông Hồng – còn gọi là sông Cái – đều là những sông Mẹ), nhưng tác giả đã thích so sánh sông Hương với người thiếu nữ.

Người viết lần theo dòng chảy con sông không phải với tư cách là nhà địa lý hay người đi vẽ bản đồ mà là như một chàng trai khám phá tính cách của cô gái. Từ góc nhìn đó, những tư tưởng và so sánh thú vị xuất hiện. Dòng sông như một cô gái đẹp đã nằm ngủ từ bao giờ giữa cánh đồng hoang dại của Châu Hóa, rồi đến khi có “người tình mong đợi” đã đến đánh thức người đẹp – người tình đây hẳn là thành phố Huế, song sự xuất hiện của Huế lại gắn liền với con người, lại không thể tách rời với tiến trình Nam tiến của dân tộc. Dòng sông tạo nền tảng để xuất hiện văn hóa, văn minh, song cũng đợi con người để hiện thực hóa tiềm năng đó. Những câu văn có sức gợi liêng tưởng vô cùng, tùy thuộc vào vốn sống, sự từng trải và quan tâm của người đọc.

Xuống đến đồng bằng, dòng sông uốn lượn qua nhiều khúc quanh để đến gặp thành phố. Từ chùa Thiên Mụ, dòng sông đã tìm đúng hướng về “Từ đây, như đã tìm đúng hướng về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuois cùng, nó đã tìm thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”. Tác giả hình dung đó là những chuyển động “uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó”. Không những đặc tả các đường uốn lượn, tác giả còn có quan sát và cách diễn đạt thú vị về màu sắc con sông. Sắc sông trở nên xanh thẳm khi đến chân núi Hòn Chén (tác giả dùng tên chữ là Ngọc Trản – nguyên nghĩa là Chén Ngọc), vùng đồi núi lô nhô và lăng tẩm tạo nên vẻ đẹp trầm mặc nhất cho con sông.

Dòng sông chảy qua Huế đi chậm “cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”. So sánh sự bình yên, “điệu nhảy lặng lờ” của nó khi ngang qua thành phố với dòng chảy gấp gáp của sông Nê- va khi đi qua Lê-nin-grat (nay là Xanh-pê-téc-bua) nước Nga, liên tưởng đế triết lý của Hê-ra-clit “không thể tắm hai lần trong một dòng sông” là đoạn văn tài hoa, trí tuệ mà cũng rất hấp dẫn.

Cảnh quan thiên nhiên góp phần tạo nên những nền văn hóa đặc sắc. Dù tả cảnh quan dòng sông, tác giả luôn liên tưởng, mở rộng suy ngẫm về đặc trưng riêng của dòng sông Hương, quan sát không gian văn hóa hình thành quanh đôi bờ và dọc theo dòng sông. “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya […] toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”. Khoang thuyền, mái chèo khuya đều là những hình ảnh liên hệ với dòng sông. Đến đây, nhà văn lại liên tưởng đến những bản đàn trong Truyện Kiều bất hủ như một minh chứng hùng hồn cho vai trò văn hóa của sông Hương.

Trước khi giã từ thành phố để về với biển cả, “nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao […] tôi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Rồi lại so sánh với nàng Kiều “Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả”.

Nhìn chung, cảnh quan sông Hương được nhìn ngắm từ góc nhìn văn hóa. Nhà văn suy ngẫm đầy chất trữ tình về không gian văn hóa trên hai bờ sông Hương. Uyên bác, lịch lãm, từng trải và tài hoa là những phẩm chất dễ thấy của tác giả trong phần này.

b) Sông Hương trong lịch sử và thi ca

Sông Hương – mà cũng là Huế - đã có lịch sử của nó trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Không thể tách rời sông Hương với lịch sử dân tộc, càng không thể tách rời nó với Huế. Cảm hứng ấy toát lên từ những câu văn tự sự tưởng như khô khan. “Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỷ vinh quang với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỷ trung đại”.

Càng về cuối thời trung đại, trong các thế kỷ XIVIII, XIX, Huế và sông Hương càng có mặt nhiều hơn trong các sự kiện lịch sử “long trời lở đất” và tiếp tục truyền thống ấy qua Cách mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. “Thế kỷ mười tám, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ mười chín với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển”.

Đến thời hiện đại, Huế và sông Hương đã có những hi sinh, mất mát đầy cống hiến cho lịch sử cách mạng dân tộc. Đến đay, dường như sông Hương tạm lùi vào hậu trường để Huế hiện ra trên tiền cảnh. Nhà văn trầm tư trên sự kiện lịch sử - cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1968, khi toàn miền Nam từ Quảng Trị đến Nam Bộ, trong đó có Huế, đồng loạt nổi dậy đánh Mĩ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đó cho thấy sức mạnh của cách mạng, làm suy yếu kẻ thù, buộc chúng phải điều chỉnh chiến lược cả trên chiến trường và trên bàn Hội nghị Pa-ri. Nhưng mặt khác, trong cuộc chiến đấu ấy, Huế cũng chịu nhiều tổn thất: “Cùng với niềm cổ vũ nồng nhiệt dành cho nó trong mùa xuân Mậu Thân, Huế đã nhận được những lời chia buồn sâu sắc nhất của thế giới về sự tàn phá mà đế quốc Mĩ đã chụp lên những di sản văn hóa của nó”. Sự đánh giá tổn thất, hi sinh mà Huế gánh chiu được nhìn từ cả hai phía. Chính người Mĩ đã lên án sức phá hoại tàn bạo đối với Huế do các trận bom của Mĩ. Nhưng thật xúc động là hình ảnh người Đại tướng “đầu cúi xuống ngực, hai bàn tay chắp lại trong cử chỉ kính cẩn của người già mắt ngấn lệ” khi nói đến “cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc” của thành phố Huế. Không có chữ nào nói về mất mát, hi sinh nhứng “ngấn lệ” trong mắt “người già” đã nói lên tất cả.

Sông Hương, dòng sông của những sự kiện lịch sử hào hùng và dòng sông của cuộc sống hàng ngày. “Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Tại sao đang suy ngẫm về lịch sử, tác giả lại chuyển đột ngột sang hình ảnh sắc áo cưới của Huế rất xưa mà các cô dâu vẫn mặc? Có thể đoán rằng, nhà văn muốn nói đến sự sống hiền hòa, dịu dàng vẫn là mạch sống chính của xứ Huế, của dòng sông Hương, khuôn mặt thực hiền hòa của dòng sông đôi khi ẩn giấu trong màn sương.

Sông Hương là suối nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca, nhạc họa. Mỗi nhà nghệ sĩ đều có khám phá riêng về dòng sông, hay như cách nói của tác giả muốn nhấn mạnh tính chủ động của con sông như một sinh thể “dòng sông ấy không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”. Từ Nguyễn Du với Truyện Kiều bất hủ, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, đến thi ca cách mạng. Thi ca cùng với kiến trúc, âm nhạc, hội họa góp phần làm cho không gian văn hóa sông Hương thêm phong phú, giàu bản sắc.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

Như đã nói, bài bút ký thuộc thể loại tùy bút. Nhà văn đã kết hợp phong cách khảo cứu với sự thể hiện kiến thức sách vở uyên bác; bộc lộ sự lịch lãm, từng trải với vốn sống phong phú, sâu sắc; khả năng phân tích, bình luận thực tế, sắc sảo và một trái tim giàu tình cảm, giàu tình yêu thương con người và quê hương đất nước. Thiên tùy bút như một tác phẩm mẫu mực viết về thắng cảnh quê hương đất nước. dòng sông như một sinh thể sống động. Dòng sông tạo nên cả một không gian văn hóa. Dòng sông qua lịch sử lâu đời, có những trang bi hùng song trong trường kỳ lịch sử, nó đẹp và thân thương như một người con gái. Những điểm nhìn đa chiều giúp người đọc yêu dòng sông hơn, tự hào về quê hương, đất nước hơn.

Trong thiên tùy bút, tác giả chuyển đổi giọng điệu khá linh hoạt. Khi là lối kể tự sự, khi lại là sự tưởng tượng bay bổng với những hình ảnh bất ngờ. Chẳng hạn, ngay trong một đoạn văn, ta cũng thấy sự thay đổi này: “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”.

Có khi là cả một đoạn văn chính luận khô khan sau đó là những cử chỉ im lặng đầy xúc động như đoạn văn viết về cuộc Tổng tiến công Mậu Thân.

Sự xen kẽ giữa tả, kể về sông Hương với sự vận dụng kiến thức sách vở và kiến thức cuộc sống cũng là một nhân tố tọa nên chất tùy bút đặc sắc. Tác giả đã có dịp đi qua nhiều dòng sông lớn trên thế giới như sông Xen, sông Đa-nuýp, sông Nê-va, đó là vốn sống; tác giả thuộc Truyện Kiều, thơ Cao Bá Quát, Tản Đà, dẫn cả tư tưởng biện chứng của Hê-ra-clit,… đó là học vấn. Tác giả có quan điểm riêng về nghệ thuật Huế: “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát. Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”, đó là sự lịch lãm, tinh tế trong trải nghiệm và quan sát. Nhìn chung, tùy bút cho phép tác giả bộ lộ toàn diện các phẩm chất trí tuệ và cảm xúc của mình.

 

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?

(Trích)

I-     NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại thành phố Huê, quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, tỉnh Quảng Trị. Ngay khi còn là sinh viên và đi dạy học, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tích cực tham gia các phong trò yêu nước chống Mĩ – ngụy ở nội thành thành phố Huế. Năm 1966, ông lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ bằng hoạt động văn nghệ. Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Trị Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt.

Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn vừa cầm bút vừa cầm súng, có phong cách độc đáo và đặc biệt sở trường về thể văn bút ký, tùy bút. Ký của ông có một diện mạo riêng – vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa, lịch sử rất phong phú – có những đóng góp mới cho văn xuôi Việt Nam hiện đại.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? được tác giả viết tại Huế, ngày 4-1-1981, in trong tập sách cùng tên. Bài bút ký có ba phần. Văn bản trong sách giáo khoa là phần thứ nhất.

2. Về dòng sông Hương

Sông Hương là một dòng sông nổi tiếng chảy giữa lòng thành phố Huế ( Huế đọc chệch đi là Hóa – xưa xứ Huế được gọi là Thuận Hóa). Khi gọi Châu Hóa như tác giả viết trong bài tùy bút thì hiệu quả là gợi ngay một ấn tượng về miền đất lịch sử.

Hai nguồn chính làm nên dòng sông này là dòng Tả Trạch và Hữu Trạch phát nguồn từ dãy Trường Sơn đổ về, hợp lưu lại ngã ba Bằng Lãng tạo thành sông Hương. Sông Hương chảy từ Bằng Lãng đến cửa Thuận An, vượt qua chừng 30km với tốc độ dòng chảy chậm, hiền hòa. Nguyên nhân là do độ chênh giữa mực nước sông và nước biển không lớn nên dòng chảy không mạnh. Cũng có một số nhân tố khác mà chính bài ký có nói: Những chi lưu là những nhánh sông đào hai bên sông và hai hòn đảo nhỏ trên sông cũng làm giảm lưu tốc của dòng chảy.

Huế là nơi thi hào Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều,từng sống. Do đó, mở đầu bài ký, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã liên tưởng dòng sông với tình yêu trong Truyện Kiều, một cách bắt đầu câu chuyện hấp dẫn vì đặt hình tượng dòng sông vào ngữ cảnh văn hóa toàn dân tộc. Ông viết: “Chính sông Hương và thành phố của nó vẫn gợi cho tôi, như một vang bóng trong thời gian, hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng của Truyện Kiều: tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và cả hai cùng gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở”.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? là nhan đề bài tùy bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thực ra, truy tìm nguồn gốc tên gọi sông Hương chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ tình yêu dòng sông, yêu quê hương xứ sở tươi đẹp, với bề dày truyền thống văn hóa và cách mạng. Đoạn trích đã lược bớt phần tác giả bà về cội nguồn tên gọi Hương Giang. Để hiểu đầy đủ về vấn đề này, chúng tôi xin cung cấp một cách ngắn gọn các cách cắt nghĩa tên gọi sông Hương đã được các nhà nghiên cứu tổng hợp.

Về cơ bản, đến nay có bốn cách giải thích khác nhau về cội nguồn tên gọi của sông Hương:

-     Theo truyền thuyết, khi xưa, chúa Nguyễn Hoàng trên đường từ Quảng Trị đi tuần du về phương Nam nghỉ ngơi bên bờ sông Hương, nằm mộng thấy một người phụ nữ nhà trời (thiên mụ) trao cho nén hương và dặn rằng, đi thuyền xuôi theo dòng sông, đến khi hương tàn thì dừng lại, đấy là nơ có thể định đô. Vì thế mà Nguyễn Hoàng đã chọn được nơi đóng thủ phủ Phú Xuân, sau này là kinh đô. Để ghi ơn “thiên mụ”, ngay trong năm 1601, chúa Nguyễn Hoàng đã xây dựng ngôi chùa Thiên Mụ nổi tiếng và đặt tên cho dòng sông là sông Hương.

-     Một dã sử lại kể rằng vua Quang Trung đã ra lệnh chính thức gọi Hương Giang cho toàn bộ dòng sông từ trên núi cao ra đến biển, chấm dứt tình trạng mỗi đoạn sông lại được gọi riêng theo tên địa phương như Đan Điền, Hương Trà.

-     Cắt nghĩa tên sông bằng các yếu tố tự nhiên có thuyết nói rằng vì cây thạch xuowng bồ mọc ở hai bên bờ dòng tả trạch và hữu trạch, một loại dược liệu quý, có mùi thơm, từ đó có tên là sông Hương.

-     Cách cắt nghĩa đầy nghệ thuật mà Hoàng Phủ Ngọc Tường tâm huyết. ở đoạn kết thiên bút ký mà chúng ta đang nói đến, ông viết: “Có nhiều cách trả lời cho câu hỏi ấy; trong đó, tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước trăm hoa đỏ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi. Tôi lĩnh hội ý nghĩa của truyền thuyết ấy như nhà thơ chọn bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hóa và lịch sử”.

Một cách lý tưởng, để hiểu được đầy đủ bài tùy bút đặc sắc này, người đọc cần cso một số hiểu biết nhất định về xứ Huế. Chẳng hạn nếu có cơ hội một lần đến thăm các lăng tẩm ở Huế thì sẽ cảm nhậ hết cái so sánh ví von dòng Hương Gian chạy qua khu vực này có vẻ đẹp trầm mặc nhất; hoặc nếu ta có một lần đến cầu Tràng Tiền vắt qua sông Hương, sẽ hiểu chính những nhịp cầu có dáng cong như cầu vồng trên cây cầu này gợi ý cho so sánh của tác giả “như những vành trăng non”. Tác giả dẫu là tài hư cấu, tưởng tượng đến mấy thì vẫn là dựa trên cơ sở những gợi ý từ hiện thực.

3. Về thể văn tùy bút

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán- Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi [đồng Chủ biên], NXB Giáo dục, 2004), bút ký là một thể ký có quy mô trương ứng với truyện ngắn nhưng khác truyện ngắn ở chỗ tác giả bút ký không sử dụng hư cấu vào việc phản ánh hiện thực. Bút ký ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tưởng tượng nào đó. Sức hấp dẫn và thuyết phụ của bút ký tùy thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu, khám phá, diễn đạt của tác giả đối với các sự kiện được dề cập đến nhằm khám phá ra các khía cạnh “có vấn đề”, những ý nghĩa mới mẻ, sâu sắc trong va chạm giữa tính cách và hoàn cảnh, cá nhân và môi trường. Bút ký có thể thiên về văn học, cũng có thể thuộc về báo chí tùy theo mức độ biểu hiện cái riêng của tác giả và mức độ sử dụng các biện pháp nghệ thuật cùng tính chất tác động của nó đối với công chúng.

Chúng ta vừa làm quen với thể tùy bút qua bút ký Sông Đà của Nguyễn Tuân. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là nhà văn viết tùy bút tài hoa nổi tiếng. Thể tùy bút cho phép tác giả kể, tả và phát biểu trực tiếp, không hạn chế các suy nghĩ, cảm xúc, bình luận thể hiện “cái tôi” của mình. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã biết khai thác tối đa đặc trưng của tùy bút khi viết sông Hương, một đối tượng chiếm lĩnh có những điểm khác nhau căn bản so với Sông Đà của Nguyễn Tuân.

II-    PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

Đoạn trích có hai phần với hai nội dung chính riêng, phân biệt bằng dấu sao. Phàn đầu dành cho những dòng bình luận, suy ngãm về cảnh quan tự nhiên của sông Hương và những cảnh quan nhân tạo hai bền bờ dòng sông; phần thứ hai viết về lịch sử và văn hóa đôi vờ sông Hương.

a) Cảnh quan tự nhiên của sông Hương và các không gian văn hóa đôi bờ dòng sông

Nhà văn sử dụng ngôn ngữ tự sự nhưng không phải là tự sự về một đối tượng của khoa Địa lý học mà như kể về một sinh thể, một cô gái. Và song song một dòng mạch trữ tình theo tuyến tự sự. Kể, tả và bình luận được kết hợp nhuần nhuyễn làm nên chất tùy bút đặc trưng của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Để viết thiên tùy bút, nhà văn phải là người rất am hiểu và có tình cảm gắn bó thân thiết với dòng sông. Nhưng để tác phẩm thành công, tác giả phải có tài năng văn chương thật sự.

Sông Hương từ dải Trường Sơn đổ ra biển Đông có hai chặng khác nhau. Chặng thư snhaats từ ngọn nguồn trên sườn Đông dải Trường Sơn quanh co qua các dải đồi núi; chặng thứ hai, khi mặt dòng nước dòng sông đã phẳng lặng dần đến khi gặp chùa Thiên Mụ là bắt đầu tìm đúng đường về thành phố. Nhà văn ngược lên tận ngọn nguồn con sông để nhận diện nó rồi xuôi theo dòng để quan sát nó lượn  quanh thành phố Huế. “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”. Và kết quả là một phát hiện “Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. “Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già […] và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Đây là những so sánh nhân cách hóa thật đặc sắc. Nhiều tên gọi các dòng sông gắn với hình ảnh người mẹ (sông Mê Kông và sông Hồng – còn gọi là sông Cái – đều là những sông Mẹ), nhưng tác giả đã thích so sánh sông Hương với người thiếu nữ.

Người viết lần theo dòng chảy con sông không phải với tư cách là nhà địa lý hay người đi vẽ bản đồ mà là như một chàng trai khám phá tính cách của cô gái. Từ góc nhìn đó, những tư tưởng và so sánh thú vị xuất hiện. Dòng sông như một cô gái đẹp đã nằm ngủ từ bao giờ giữa cánh đồng hoang dại của Châu Hóa, rồi đến khi có “người tình mong đợi” đã đến đánh thức người đẹp – người tình đây hẳn là thành phố Huế, song sự xuất hiện của Huế lại gắn liền với con người, lại không thể tách rời với tiến trình Nam tiến của dân tộc. Dòng sông tạo nền tảng để xuất hiện văn hóa, văn minh, song cũng đợi con người để hiện thực hóa tiềm năng đó. Những câu văn có sức gợi liêng tưởng vô cùng, tùy thuộc vào vốn sống, sự từng trải và quan tâm của người đọc.

Xuống đến đồng bằng, dòng sông uốn lượn qua nhiều khúc quanh để đến gặp thành phố. Từ chùa Thiên Mụ, dòng sông đã tìm đúng hướng về “Từ đây, như đã tìm đúng hướng về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuois cùng, nó đã tìm thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”. Tác giả hình dung đó là những chuyển động “uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó”. Không những đặc tả các đường uốn lượn, tác giả còn có quan sát và cách diễn đạt thú vị về màu sắc con sông. Sắc sông trở nên xanh thẳm khi đến chân núi Hòn Chén (tác giả dùng tên chữ là Ngọc Trản – nguyên nghĩa là Chén Ngọc), vùng đồi núi lô nhô và lăng tẩm tạo nên vẻ đẹp trầm mặc nhất cho con sông.

Dòng sông chảy qua Huế đi chậm “cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”. So sánh sự bình yên, “điệu nhảy lặng lờ” của nó khi ngang qua thành phố với dòng chảy gấp gáp của sông Nê- va khi đi qua Lê-nin-grat (nay là Xanh-pê-téc-bua) nước Nga, liên tưởng đế triết lý của Hê-ra-clit “không thể tắm hai lần trong một dòng sông” là đoạn văn tài hoa, trí tuệ mà cũng rất hấp dẫn.

Cảnh quan thiên nhiên góp phần tạo nên những nền văn hóa đặc sắc. Dù tả cảnh quan dòng sông, tác giả luôn liên tưởng, mở rộng suy ngẫm về đặc trưng riêng của dòng sông Hương, quan sát không gian văn hóa hình thành quanh đôi bờ và dọc theo dòng sông. “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya […] toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”. Khoang thuyền, mái chèo khuya đều là những hình ảnh liên hệ với dòng sông. Đến đây, nhà văn lại liên tưởng đến những bản đàn trong Truyện Kiều bất hủ như một minh chứng hùng hồn cho vai trò văn hóa của sông Hương.

Trước khi giã từ thành phố để về với biển cả, “nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao […] tôi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Rồi lại so sánh với nàng Kiều “Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả”.

Nhìn chung, cảnh quan sông Hương được nhìn ngắm từ góc nhìn văn hóa. Nhà văn suy ngẫm đầy chất trữ tình về không gian văn hóa trên hai bờ sông Hương. Uyên bác, lịch lãm, từng trải và tài hoa là những phẩm chất dễ thấy của tác giả trong phần này.

b) Sông Hương trong lịch sử và thi ca

Sông Hương – mà cũng là Huế - đã có lịch sử của nó trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Không thể tách rời sông Hương với lịch sử dân tộc, càng không thể tách rời nó với Huế. Cảm hứng ấy toát lên từ những câu văn tự sự tưởng như khô khan. “Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỷ vinh quang với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỷ trung đại”.

Càng về cuối thời trung đại, trong các thế kỷ XIVIII, XIX, Huế và sông Hương càng có mặt nhiều hơn trong các sự kiện lịch sử “long trời lở đất” và tiếp tục truyền thống ấy qua Cách mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. “Thế kỷ mười tám, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ mười chín với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển”.

Đến thời hiện đại, Huế và sông Hương đã có những hi sinh, mất mát đầy cống hiến cho lịch sử cách mạng dân tộc. Đến đay, dường như sông Hương tạm lùi vào hậu trường để Huế hiện ra trên tiền cảnh. Nhà văn trầm tư trên sự kiện lịch sử - cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1968, khi toàn miền Nam từ Quảng Trị đến Nam Bộ, trong đó có Huế, đồng loạt nổi dậy đánh Mĩ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đó cho thấy sức mạnh của cách mạng, làm suy yếu kẻ thù, buộc chúng phải điều chỉnh chiến lược cả trên chiến trường và trên bàn Hội nghị Pa-ri. Nhưng mặt khác, trong cuộc chiến đấu ấy, Huế cũng chịu nhiều tổn thất: “Cùng với niềm cổ vũ nồng nhiệt dành cho nó trong mùa xuân Mậu Thân, Huế đã nhận được những lời chia buồn sâu sắc nhất của thế giới về sự tàn phá mà đế quốc Mĩ đã chụp lên những di sản văn hóa của nó”. Sự đánh giá tổn thất, hi sinh mà Huế gánh chiu được nhìn từ cả hai phía. Chính người Mĩ đã lên án sức phá hoại tàn bạo đối với Huế do các trận bom của Mĩ. Nhưng thật xúc động là hình ảnh người Đại tướng “đầu cúi xuống ngực, hai bàn tay chắp lại trong cử chỉ kính cẩn của người già mắt ngấn lệ” khi nói đến “cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc” của thành phố Huế. Không có chữ nào nói về mất mát, hi sinh nhứng “ngấn lệ” trong mắt “người già” đã nói lên tất cả.

Sông Hương, dòng sông của những sự kiện lịch sử hào hùng và dòng sông của cuộc sống hàng ngày. “Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Tại sao đang suy ngẫm về lịch sử, tác giả lại chuyển đột ngột sang hình ảnh sắc áo cưới của Huế rất xưa mà các cô dâu vẫn mặc? Có thể đoán rằng, nhà văn muốn nói đến sự sống hiền hòa, dịu dàng vẫn là mạch sống chính của xứ Huế, của dòng sông Hương, khuôn mặt thực hiền hòa của dòng sông đôi khi ẩn giấu trong màn sương.

Sông Hương là suối nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca, nhạc họa. Mỗi nhà nghệ sĩ đều có khám phá riêng về dòng sông, hay như cách nói của tác giả muốn nhấn mạnh tính chủ động của con sông như một sinh thể “dòng sông ấy không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”. Từ Nguyễn Du với Truyện Kiều bất hủ, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, đến thi ca cách mạng. Thi ca cùng với kiến trúc, âm nhạc, hội họa góp phần làm cho không gian văn hóa sông Hương thêm phong phú, giàu bản sắc.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

Như đã nói, bài bút ký thuộc thể loại tùy bút. Nhà văn đã kết hợp phong cách khảo cứu với sự thể hiện kiến thức sách vở uyên bác; bộc lộ sự lịch lãm, từng trải với vốn sống phong phú, sâu sắc; khả năng phân tích, bình luận thực tế, sắc sảo và một trái tim giàu tình cảm, giàu tình yêu thương con người và quê hương đất nước. Thiên tùy bút như một tác phẩm mẫu mực viết về thắng cảnh quê hương đất nước. dòng sông như một sinh thể sống động. Dòng sông tạo nên cả một không gian văn hóa. Dòng sông qua lịch sử lâu đời, có những trang bi hùng song trong trường kỳ lịch sử, nó đẹp và thân thương như một người con gái. Những điểm nhìn đa chiều giúp người đọc yêu dòng sông hơn, tự hào về quê hương, đất nước hơn.

Trong thiên tùy bút, tác giả chuyển đổi giọng điệu khá linh hoạt. Khi là lối kể tự sự, khi lại là sự tưởng tượng bay bổng với những hình ảnh bất ngờ. Chẳng hạn, ngay trong một đoạn văn, ta cũng thấy sự thay đổi này: “Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”.

Có khi là cả một đoạn văn chính luận khô khan sau đó là những cử chỉ im lặng đầy xúc động như đoạn văn viết về cuộc Tổng tiến công Mậu Thân.

Sự xen kẽ giữa tả, kể về sông Hương với sự vận dụng kiến thức sách vở và kiến thức cuộc sống cũng là một nhân tố tọa nên chất tùy bút đặc sắc. Tác giả đã có dịp đi qua nhiều dòng sông lớn trên thế giới như sông Xen, sông Đa-nuýp, sông Nê-va, đó là vốn sống; tác giả thuộc Truyện Kiều, thơ Cao Bá Quát, Tản Đà, dẫn cả tư tưởng biện chứng của Hê-ra-clit,… đó là học vấn. Tác giả có quan điểm riêng về nghệ thuật Huế: “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát. Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”, đó là sự lịch lãm, tinh tế trong trải nghiệm và quan sát. Nhìn chung, tùy bút cho phép tác giả bộ lộ toàn diện các phẩm chất trí tuệ và cảm xúc của mình.

0
phiếu
0đáp án
811 lượt xem

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

(Trích)

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

Nguyễn Tuân (1919 –1987) sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn. Quê ông ở làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Ông có một vị trí quan trọng và đóng góp không nhỏ đổi với văn học Việt Nam hiện đại

Người lái đò Sông Đà là bài tùy bút được in trong tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân, xuất bản lần đầu năm 1960. Thiên tùy bút này thể hiện rõ nét đặc sắc của phong cách Nguyễn Tuân. Việc lựa chọn đề tài viết về Sông Đà thời điểm đó cũng là một bản lĩnh, vì hồi ấy từ Quynh Nhai sang Than Uyên chưa có đường sá thuận lợi. Nhà văn phải xin một con ngựa và một dân quân, đi theo đường mòn đến ba ngày không gặp người đi ngược.

2. Về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân

a) Đề tài

Nguyễn Tuân thường chọn những đề tài độc đáo, khác thường, ít được đề cập tới trong văn học sáng tác trước ông. Sông Đà cùng với vùng núi rừng hùng vĩ miền Tây Bắc nước ta và con người nơi đây đã gợi cảm hứng đặc biệt cho nhà văn trong những chuyến đi khoảng 1958-1960. Mở đầu thiên bút kí, nhà văn cho biết: “Tôi cũng tự nhận thấy mình là một người đang tìm vàng ở quanh Sông Đà, đi tìm cái thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc, và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa tươi vui và vững bền”.

b) Cảm hứng nghệ thuật

Nguyễn Tuân viết trong thiên bút ký: “Con Sông Đà thật dữ thật lớn và lớn hơn nữa là những người lao động chở đò kéo đò thắng cái thiên nhiên không bình thường của một con sông Tây Bắc hiểm trở”. Người lái đò là nhân vật trung tâm của bút ký. Về phong cách, Nguyễn Tuân có thiên hướng chọn những đối tượng phi thường, tìm cái đẹp trong cái phi thường, khác thường. Gợi cảm hứng đặc biệt cho Nguyễn Tuân ở các đối tượng miêu tả đặc biệt này là tính chất đỉnh cao của chúng. Những mẫu người được nhà văn ca ngợi thường là các nghệ sĩ bậc thầy, các quán quân kỷ lục đỉnh cao trong lĩnh vực sống và hoạt động riêng của họ. Ví dụ, trong chuyện lái thuyền vượt thác trên sông thì người lái đò sông Đà đạt được tài nghệ của bậc quán quân, các nghệ sĩ bậc thầy tưởng như không một ai cáo thể điêu luyện, tài ba hơn họ được.      Trong phần tùy bút trước đoạn trích, Nguyễn Tuân kể vè thân thế của người lái đò: “Trên dòng Sông Đà, ông xuôi ông ngược hơn một trăm lần, chính tay giữ lái độ sáu chục lần cho những chuyến thuyền then đuôi én sáu chèo… Sông Đà, đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những cái chấm than chấm câu và những đoạn xuống dòng”. Người lái đò này đã quen thuộc với hiểm nguy của ghềnh thác đến nỗi “cũng như người Mèo (người Mông) kêu mỏi chân khi giẫm lên đồng bằng thiếu dốc thiếu đèo, ông bảo rằng: “Chạy thuyền trên khúc sông không có thác, nó dễ dại tay dại chân và buồn ngủ”. Một sự giới thiệu rất hấp dẫn, rất gợi về chân dung người lái đò Sông Đà.

c) Nghệ thuật diễn tả

Nguyễn Tuân cũng là nghệ sĩ bậc thầy tỏng thể tùy bút, một thể loại văn học mà ông chọn lựa cho cả đời viết văn của mình. Nếu tùy bút là kí sự, là thể loại có tính chất ghi chép bao gồm cả tư liệu khảo sát, nghiên cứu về đối tượng thì các bút kí trong Sông Đà của ông là quán quân, đỉnh cao trong sự phong phú, bề bộn, ngổn ngang của tư liệu. Nếu tùy bút cho phép sự tự do trong các liên tưởng, so sánh, trong cái nhìn đa diện, nhiều chiều, cái nhìn có tính chất khảo cứu tỉ mỉ về đối tượng, cho phép những chân trời rộng mở nhất của sáng tạo từ ngữ mới, cách diedatj mới lạ, không lặp lại thì quả Nguyễn Tuân là bậc thầy có một không hai của lối văn tùy bút. Nguyễn Tuân đã dựng cho mình một lâu đài tùy bút đặc sắc và là chúa tể của tòa lâu đài đó.

II-    PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Đặc điểm về nội dung

Như tên gọi của thiên tùy bút đã ghi rõ, nhân vật chính của tác phẩm này là người lái đò Sông Đà. Nguyễn Tuân tận dụng thế mạnh của thể văn tùy bút mà ông tạo ra để giới thiệu người lái đò – nghệ sĩ bậc thầy, quán quân đỉnh cao trong nghề chèo lái, vượt thác ghềnh. Đồng thời, ông cũng chứng tỏ tài nghệ tùy bút bậc thầy của mình khi đặc tả tài nghệ của người lái đò. Nhưng để cảm nhận được tài nghệ tuyệt vời của Người lái đò Sông Đà thì phải đặt nghề chèo lái này vào một hiện thực Sông Đà dữ dội, nghiệt ngã tưởng như cũng độc nhất vô nhị trên đời.

a) Sông Đà, một thách đố cho các nghệ sĩ lái đò

Chở đò dọc trên Sông Đà là một nghề như dành riêng cho những ai có bản lĩnh, có ý chí, có tài năng. Đừng hy vọng tìm sự thanh thản, yên ổn trên dòng sông, nơi người lái đò hàng ngày phải đương đầu với những “cuộc thủy chiến”, tại “mặt trận Sông Đà”, nơi thác nước và đá luôn luôn phối hợp với nhau để tiêu diệt những con thuyền thiếu tay lái bản lĩnh, tài ba.

Nguyễn Tuân đặc tả, cực tả sự dữ dội, hiểm ác của Sông Đà bằng một tổng thể các thủ pháp nghệ thuật khác nhau. Nhà văn quan sát dòng sông từ nhiều góc độ khác nhau. Ông đi dọc Sông Đà, tận mắt quan sát những đoạn thác ghềnh nguy hiểm nhất, ông đã bay lên trên máy bay ngang quãng Sông Đà nhìn xuống và cũng muốn “đưa ống quay phim lên tàu bay “để” phản ánh lên cái dữ tợn và cái lớn của Sông, của thác Sông Đà”; có những cảnh ông dựng lại theo lời kể của người lái đò. Không phải nhà văn không nhìn thấy vẻ thơ mộng của con sông này, chính ông viết đây là con sông “hung bạo và trữ tình”, nhưng ông vẫn nhấn mạnhnhiều hơn đến khía cạnh “hung bạo” của nó. Đây là thủ pháp đối lập trong văn học. Để cảm nhận hết tầm vóc “nghệ sĩ” của người lái đò Sông Đà dũng cảm, cần thấy được sự dữ dội của dòng sông. Đối thủ càng cao cường thì chiến thắng càng vẻ vang.

Để tác động mạnh vào trí tưởng tượng của người đọc, Nguyễn Tuân vận dụng thủ pháp nghe và nhìn, đặc biệt là nhìn và quan sát. Tiếng gầm réo của thác nước Sông Đà rất đa dạng, tùy theo mỗi khúc sông. Nghe tiếng gầm réo này, ta có cảm tưởng như đây là một con người với đủ cung bậc sắc thái của tình cảm. “Tiếng nước thác nghe như oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”. Có lúc, con sông gầm thét, cuồng nộ “như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cũng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Một sự liên tưởng bất ngờ mà hợp lý: thử tưởng tượng khi có ngàn con trâu mộng đang bị bỏng giữa rừng tre nứa cháy nổ lốp đốp thì sức mạnh phá hoại, sự hung tợn của chúng đến mức đáng sợ như thế nào.

Quan sát Sông Đà từ nhiều góc độ khác nhau là một nét đặc biệt của bút pháp Nguyễn Tuân. Nhà văn công phu tìm được một điểm nhìn thật độc đáo và bất ngờ. Ví dụ: Ông tả “cái hút nước” ở quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La. Những cái hút nước “giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”. Thật đáng sợ vì cả những bè gỗ rừng cũng bị cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống, nói gì đến những con thuyền mong manh bé nhỏ sơ ý. Để truyền lại cảm giác lạ lùng sợ hãi cho bạn đọc, nhà văn tưởng tượng một nhà văn quay phim ngồi dưới đáy giếng hướng máy quay phim ngược lên miệng giếng – cái hút nước đó mà quay cảnh cả khối nước trong như pha lê đang ập xuống người quay phim.

Con Sông Đà về mùa xuân có những nét trữ tình, gợi cảm. “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Tuy vậy, đối với người lái đò, không thể nói nhiều đến sự mơ mộng, trữ tình. Sông Đà hung dữ, nguy hiểm hơn một chú ngựa bất kham nhiều lần. Người lái đò Sông Đà đã khuất phục được thác dữ bằng tài nghệ siêu việt của mình. Thác vách đá bày “thạch trận” trên sông. “Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyên đơn độc không còn biết lùi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn”. Nhà văn cũng cực tả cuộc chiến đấu giáp lá cà giữa con sông và người lái đò.

b) Cuộc chiến đấu hàng ngày của Người lái đò Sông Đà

Nguyễn Tuân viết: “Cuộc sống của Người lái đò Sông Đà quả là một cuộc chiến đấu hằng ngày với thiên nhiên, một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một”. Chính vì thế, ông viết Sông Đà.

Tính chất dữ dội, bạo liệt của Sông Đà là do sự phối hợp giữa những thác nước cheo leo hiểm trở và các tảng đá ngầm đá nổi tạo thành. Cuộc chiến đấu của người lái đò trước hết và chủ yếu là phá được “binh pháp của thần sông thần đá”, thực chất là nắm vững quy luật cấu tạo và vận hành của luồng thạch, thác đá.

Trận chiến đấu của thác nước và đá (mà tác giả gọi là thạch trận) được miêu tả trong thiên tùy bút này giống như một trận chiến được bài trí rất công phu, hiểm độc. “Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền”. Để vượt qua ba vòng vây này, đòi hỏi sự bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt và cả khả năng chịu trận. Có những lúc sóng tung cao, đánh mạnh vào hạ bộ người lái đò khiến ông nảy đom đóm mắt . (Tham khảo thêm để hiểu rõ phong cách tùy bút của Nguyễn Tuân: chi tiết Người lái đò Sông Đà phải để truồng khi lái đò cũng là một phát hiện kỳ thú của Nguyễn Tuân, nhưng không được đưa vào đoạn trích. Chi tiết có phần dung tục, đầy hài hước nhưng sự thật này có vai trò thay đổi không khí căng thẳng của câu chuyện kể về các thác nước: “Những chị Mường Phù Yên gần bờ Sông Đà thường phàn nàn về người lái đò Lai Châu hay cởi truồng. Người lái đò Sông Đà hay mặc áo mà không mặc quần. Có khi muốn đóng khố nhưng cũng không đóng được. Cát Sông Đà rất hay ăn da người chở đò. Hễ mặc quần hoặc đóng khố là cát chui ngay vào bẹn rồi loét da”). Nhưng sự bình tĩnh, tỉnh táo, phong độ của người lái đò đã giúp anh vượt qua bốn cửa tử để đến một cửa sinh của thạch trận ở vòng vây thứ nhất.

Ở các vòng vây thứ hai và thứ ba, thế trận của thác và đá ở mỗi vòng vây đều có nét riêng, không gặp lại. Ví dụ như cửa sinh ở vòng vây thứ nhất nằm lập lờ phái tả ngạn sông thì cửa sinh ở vòng vây thứ hai lại nằm ở phía hữu ngạn sông, đến chặng thứ ba, cả hai bên tả, hữu ngạn sông đều là cửa tử và cửa sinh lại nằm ở chính giữa sông. Tựa hồ như dòng sông cũng như một kẻ xảo quyệt, thâm hiểm, đặt bẫy tiêu diệt người lái đò, hay nói bằng ngôn ngữ của tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, bày thế trận nhử quân địch vào để tiêu diệt. Nếu thuyền lao đúng vào cửa sinh thì người lái đò chiến thắng và ngược lại thì sự thất bại đó có thể trả bằng sinh mạng. Người lái đò “có tự do, vì người lái đò ấy đã năm được cái quy luật tất yếu của dòng nước Sông Đà”, người lái đò luôn chiến thắng. Và cũng giống như các nghệ sĩ chân chính, các quán quân vô địch, các tài nghệ bậc thầy, người lái đò không xem nghề chở đò Sông Đà của mình là việc làm phi phàm. Với họ, đây là công việc hàng ngày. Sau chặng đường vượt thác ghềnh, đến quãng sông nước thanh bình, những nghệ sĩ lái đò ấy chỉ nói về những chuyện cuộc sống hàng ngày. “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang cá mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi cá túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi. Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với Sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái khác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp đáng nhớ”. Sự thanh thản sau những thử thách sống còn cũng là một khía cạnh nghệ sĩ, quán quân của người lái đò. Nếu ta liên tưởng đến bài thơ Tây Tiến, thấy ngay là thủ pháp tương phản cũng được tác giả bút ký sử dụng thành công. “Thế là hết thác. Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam, toàn bàn tán về cá anh vũ cá đầm xanh…”.

c) Sông Đà “trữ tình

Sông Đà cũng có lúc thơ mộng, êm đềm. Sau mùa nước lũ, cái mùa mà nước sông đục ngầu sẽ đến mùa xuân, dòng sông xanh màu ngọc bích quý phái chứ không xanh “màu xanh canh hến” của sông Gâm, sông Lô. Bằng thực tế quan sát, nhà văn cực lực bác bỏ tên gọi của người Pháp áp đặt cho Sông Đà là “dòng sông Đen”. Với nhà văn, dù thế nào đi nữa, dù sông Đà dễ thay đổi tính nết, dòng sông này vẫn luôn luôn “gợi cảm”, là cố nhân đối với ông.

Những trang viết về vẻ đẹp nguyên sơ, cổ kính của Sông Đà thuộc loại những trang viết tài hoa nhất, đậm chất thơ nhất trong bài tùy bút: “Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lý đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”.

2. Đặc điểm về nghệ thuật

Thể tùy bút cho phép một sự tự do rộng rãi nhất trong việc bao quát tư liệu và tự do độc thoại của tác giả. Trong phạm vi tư liệu, Nguyễn Tuân có lúc vì trung thành với nguyên tắc “đỉnh cao” của ông mà không ngần ngại đi tới cùng kiệt của lối văn tư liệu khảo cứu điều tra, đến nỗi có cảm tưởng là thiên tùy bút này, không có một nhà văn nào có thể tìm tòi được tư liệu nào hơn ông khi khảo về Sông Đà. Nhưng cũng chính vì vậy mà nhiều lúc đọc ông, người đọc có cảm tưởng “sốt ruột” vì tư liệu bề bộn.

Thể tùy bút cũng cho nhà văn một sự tự do vô bờ trong suy ngẫm, liên tưởng, so sánh. Nhà văn đã huy động một kho tri thức phong phú với vốn học vấn uyên bác, một vốn sống đa dạng, một khả năng quan sát tinh nhạy, một trí tưởng tượng phóng túng trong việc dựng nên một thế giới nghệ thuật về sông Đà kỳ vĩ, hoành tráng.

Đọc Người lái đò Sông Đà cũng như các thiên tùy bút khác của Nguyễn Tuân, dễ có cảm giác bất ngờ: bất ngờ trước một cách tả cảm giác rất độc đáo: tưởng tượng một người quay phim cầm máy quay bị hút xuống “cái nút” của Sông Đà, ngồi dưới đáy quay ngược lên như cảm giác người xem “lấy gân” ghì chặt lấy ghế; bất ngờ trước một sự so sánh (ví dụ về chuyện có quãng Sông Đà vách đá chẹt lòng sông như một cái yết hầu “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy minh như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”); bất ngờ trước sự liên tưởng (để nói về sự vắng lặng của những đoạn Sông Đà ban đêm, ông “thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp – lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái – Lai Châu”. Chú ý: đến nay vẫn chưa có tuyến đường sắt ấy); bất ngờ trước lối tạo từ mới đặc sắc và là sở trường của nhà văn (Ví dụ: Thạch trận, màu xanh canh hến, bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử, màu nắng tháng ba Đường thi,…).Đặc sắc của tùy bút Nguyễn Tuân còn tiếp tục được nghiên cứu, phân tích, nhưng có thể khẳng định rằng nhà văn đã tạo dựng được phong cách riêng đặc sắc, độc đáo của mình trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.

Ngôn ngữ tùy bút của Nguyễn Tuân đầy sáng tạo, một trong những nhân tố đem lại sự hấp dẫn cho người đọc.

Đọc Người lái đò Sông Đà, chúng ta thêm yêu đất nước tươi đẹp hùng vĩ ngàn đời của ta, chúng ta thêm hiểu những kỳ tích lao động sáng tạo của nhân dân ta. Ta không thể không nói lời biết ơn Nguyễn Tuân đã giúp ta nuôi dưỡng được tình cảm tốt đẹp đó.

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

ĐÀN GHI TA CỦA LOR – CA

 

I-  NHỮNG TRI THỨC CẦN NHỚ

1. Về Thanh Thảo

Thanh Thảo tên khai sinh là Hồ Thành Công, sinh năm 1946, quê ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông tham gia kháng chiến chống Mĩ ở chiến trường miền Nam. Từ sau năm 1975, Thanh Thảo chuyên hoạt động văn nghệ. Những năm gần đây, ngoài sáng tác thơ, ông còn viết báo, tiểu luận, phê bình,…

Trưởng thành trong phong trào thơ trẻ những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, tiếng thơ Thanh Thảo đã nổi bật là tiếng nói riêng trung thực của một thế hệ cầm súng tự giác trước vận mệnh dân tộc và lịch sử. Thơ ông nghiêng về suy tư, triết luận.

2. Về Phê-đê-ri-cô Gar-xi-a Lor-ca

Phê-đê-ri-cô Gar-xi-a Lor-ca (1898 – 1936) là một trong những nhà thơ và soạn kịch nổi tiếng nhất Tây Ban Nha. Từ nhỏ, Lor-ca đã được coi là thần đồng với năng khiếu thiên bẩm trên nhiều lĩnh vực của nghệ thuật: thơ ca, hội họa, âm nhạc,…

 Năm 1936, ông bị thế lực dân tộc chủ nghĩa cực đoan bắt và giết hại trong tư cách một người cộng hòa và người cộng sản.

3. Về bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca

Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca (rút trong tập Khối vuông ru-bích) không dễ đọc. Cần có một số tri thức bổ trợ để tiếp cận văn bản tốt hơn.

Bài thơ của Thanh Thảo có tính chất của thơ siêu thực. Nhà thơ đã tâm sự như sau: “Khi viết một bài thơ cụ thể, như bài Đàn ghi ta của Lor-ca, mối quan tâm chính của tôi chỉ là một hình ảnh gợi mở, một tâm hưởng hay một nhịp điệu mơ hồ nào từ đâu đó, chứ tuyệt nhiên không có một “vấn đề” nào cả! Anh hỏi tôi có gửi lời tri âm hay kí thác nào vào bài thơ ấy không, tôi xin trả lời rất thật là tôi không biết. Khi làm thơ thì chỉ từ ngữ gọi là từ ngữ, nhiệp điệu đẩy đưa nhịp điệu”. Tất nhiên đây chỉ là cách nói nhấn mạnh đặc trưng của tư duy thơ siêu thực vốn đề cao yếu tố trực giác, cái vô thức trong quá trình sáng tác. Bản thân sự quan tâm và hứng thú của Thanh Thảo với nhà thơ nổi tiếng Lor-ca cũng đã là một cách gửi gắm, nêu vấn đề.

Điều Thanh Thảo nói như trên rất tương đồng với chủ trương của các nhà thơ siêu thực. Thơ siêu thực hướng đến “lối viết tự động”, nghĩa là viết theo dòng cảm xúc đến một cách ngẫu nhiên, bật lên từ tiềm thức, không hề sắp xếp theo lý trí. Do đó, có cảm giác thơ siêu thực mang màu sắc phi lí, các hình ảnh, các liên tưởng đặt cạnh nhau không theo một logic nào, một nguyên tắc nào theo cách quan niệm duy lý thông thường. Thanh Thảo còn nói: “Dĩ nhiên, Lor-car là một nhà thơ mà tôi hết sức ngưỡng mộ, cả về thi ca lẫn cuộc đời và cái chết của ông đều gây cho tôi nhiều xúc cảm và ấn tượng. Chính những hình ảnh và nhạc điệu trong nhiều bài thơ Lor-ca đã dẫn dắt tôi khi viết bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca mà tôi coi như một khúc tưởng niệm Ông”. Nghĩa là những gì nhà thơ Thanh Thảo tiếp nhận về Lor-ca đã tích tụ lại trong tiềm thức dưới dạng “cảm xúc” và “ấn tượng”, khi viết bài thơ, chúng tự bật ra theo quy luật “viết tự động”. Chẳng hạn, lời đề từ bài thơ “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” chính là bắt nguồn từ bài thơ Ghi nhớ của Lor-ca:

Khi nào tôi chết

hãy vùi thây tôi cùng với cây đàn

dưới lớp cát.

Khi nòa tôi chết

hãy vùi thây tôi giữa rặng cây cam

và đám bạc hà.

Khi nào tôi chết hãy vùi thây tôi, tôi xin các người đó,

nơi một chiếc chong chóng gió.

Khi nào tôi chết!

(Diễm Châu dịch)

Để hiểu được hình tượng cây đàn ghi ta, cũng nên biết bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca:

Ghi ta bần bật khóc

Buổi sáng vỡ bình yên

Ghi ta bần bật khóc

Không thể nào dập tắt

Không thể nào bắt im.

Ghi ta bần bật khóc

Như nước chảy theo mương

Như gió trường trên tuyết

Không thể nào dập tắt

Ghi ta khóc không ngừng

Những chuyện đời xa lắc.

Như mũi tên vô đích

Như hoàng hôn thiếu vắng ban mai

Như hạt cát miền Nam bỏng rát

Xót xa than lạnh giá sắc sơn trà

Những chú chim đầu tiên chết gục theo cành.

Ôi ghi ta nạn nhân khốn khổ đáng thương

Của bàn tay – bộ dao năm lưỡi!

(Chưa rõ người dịch)

Có người hỏi, những hình ảnh “áo choàng đỏ gắt”, “hát nghêu ngao”,… là những đặc trưng Tây Ban Nha, Thanh Thảo trả lời: “Đó là những hình ảnh về Tây Ban Nha đã lặn sâu vào tôi từ khi tôi đọc những tác phẩm của Hê-minh-uê – một nhà văn người Mĩ. Mãi cách đây mấy năm, tôi mới có dịp ghé qua Bác-xê-lô-na, trong khi bài thơ này đã viết cách đây ngót 30 năm, nên những hình ảnh Tây Ban Nha mà tôi có được đều qua sách vở. Cách biểu đạt này theo tôi cũng không mới mẻ gì, nhưng nó thích ứng trong bài thơ này, khi Lor-ca được coi là “con họa mi Tây Ban Nha”. Lor-ca có câu thơ tôi thuộc lòng từ 40 năm nay, qua bản dịch của Hoàng Hưng: “Con ngựa đen/vầng trăng đỏ”, còn hoa li-la (hoa ly- hoa huệ tây) thì không chỉ có ở Tây Ban Nha, nhưng dường như nó đã đi vào một tác phẩm nào đó viết về Tây Ban Nha mà tôi nhớ. Với lại, li-la còn gợi âm thanh như một cú “vê” ghi ta – cây đàn mà người Việt mình hay gọi là “Tây Ban cầm”. Một không khí hơi mờ ảo, những hình ảnh mơ hồ lãng đãng… là những gì tôi có được về xứ sở An-đa-lu-xia mà tôi cảm nhận qua thơ Lor-ca. Tôi đã cố gắng đưa vào bài thơ mình”. Như vậy, các hình ảnh đặc trưng về Tây Ban Nha đã được “nạp” vào tâm khảm nhà thơ bằng nhiều con đường, qua nhiều năm để khi viết về một nhà thơ lớn của Tây Ban Nha, chúng bật ra. Sôi nổi, bồng bột, ngẫu hứng, không xếp đặt, song vẫn quy tụ về con người Tây Ban Nha tài hoa, anh hùng. Bản thân các hình tượng trong bài thơ có thể được tiếp nhận khác nhau, đa nghĩa, tùy thuộc vào vốn sống, sự hiểu biết của từng người.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Ấn tượng về một không gian Tây Ban Nha

Những nét đặc thù đậm chất Tây Ban Nha được liên tưởng như tiếng đàn bọt nước, áo choàng đỏ gắt, miền đơn độc, trên yên ngựa mỏi mòn, hát nghêu ngao,… Đây là những ấn tượng đã được tích lũy qua văn thơ, âm nhạc, điện ảnh, qua thực tế tham quan… tập hợp lại đậm đặc tạo nên tình yêu với đất nước tươi đẹp, có nền văn hóa đầy bản sắc:

Những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

 li-la li-la li-la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chuếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn

Tây Ban Nha hát nghêu ngao

Trong thơ Lor-ca có những bài viết về cô gái Di-gan, cũng được liên tưởng đến trong mạch cảm nghĩ, trong ấn tượng về đất nước có bản sắc văn hóa độc đáo

Nhưng các hình ảnh trên cũng có thể đem lại một cảm nhận về người lữ hành cô độc Lor-ca. Người đi tìm kiếm những giá trị tinh thần, đấu tranh với các thế lực phản động. “Áo choàng đỏ gắt” chứ đựng sau nó hình ảnh những võ sĩ đấu bò tót rất quả cảm ở Tây Ban Nha. Không gian mênh mang, xa rộng, thời gian đêm với vầng trăng chuếnh choáng như trong cơn say nói một cái gì vĩ đại, phóng khoáng, tự do nhưng đầy cô đơn của người nghệ sĩ. Tiếng hát nghêu ngao gợi liên tưởng đến sự vô tư.

Chú ý sự kết hợp, liên kết, đặt cạnh nhau các hình ảnh thị giác (áo choàng đỏ gắt), hình ảnh cảm giác (vầng trăng chuếnh chóng, yên ngựa mỏi mòn), âm thanh (li-la li-la li-la, hát nghêu ngao) đem lại cảm giác khác lạ so với những hình tượng được liên kết theo logic lí trí thông thường.

2. Hình tượng tiếng đàn

“Áo choàng bê bết đỏ”. Có một sự song hành giữa hình tượng người võ sĩ đấu bò tót dũng cảm nhưng đã thành nạn nhân và Lor-ca bị đưa về bãi bắn. Vậy thì cuộc đấu tranh của Lor-car chống lại thế lực phản động cũng như trận đấu đầy quả cảm nhưng cũng rất nguy hiểm của người võ sĩ kia. Tiếng đàn được đặt trong những trường liên tưởng rất khác nhau, gợi nỗi đau đớn bất ngờ trước sự mất mát, trước cái chết của Lor-ca. Tiếng đàn là tiếng lòng, là tâm hồn của Lor-ca: “tiếng ghi ta nâu – bầu trời cô gái ấy”.

Có thể gợi liên tưởng tiếng đàn đến với nỗi đau đớn của cô gái có nước da nâu, người yêu của Lor-ca.

“Tiếng ghi ta lá xanh biết mấy” cũng có thể được hiểu như sự sống vĩnh cửu của tiếng đần.

“Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan” hay là sóng dậy từ tiếng đàn uất hận của người nghệ sĩ chiến đấu?

Trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca dùng hình tượng tiếng đàn chảy máu dưới năm ngón tay như bộ dao năm lưỡi. Lúc này đây, bộ dao năm lưỡi ấy uất ức lướt trên phím đàn khiến máu chảy ròng ròng. Tiếng đàn như tiếng lòng, tiếng thét phẫn nộ của Lor-ca.

Cái chết – sự ra đi của Lor-ca được liên tưởng với hình ảnh Lor-ca bơi sang ngang dòng sống trên chiếc đàn ghi ta màu bạc. Phải chăng tác giả liên tưởng đến hình ảnh vượt sang bến bờ bên kia, sang cõi Niết Bàn trong học thuyết giải thoát của Phật Giáo? Thật khó khẳng định, song song chuỗi những liên tưởng với các hình ảnh ném lá bùa cô gái Di-gan, vào xoáy nước, ném trái tim mình, vào lặng yên bất chợt cũng cho phép hiểu đây là sự ra đi vĩnh viễn.

Âm điệu tiếng đàn còn ngân nga mãi li-la li-la li-la như sự tiếc thương, như sự vĩnh biệt.

Có thể có những cách cảm nhận khác. Những hình tượng siêu thực cho phép mở rộng liên tưởng vô bờ mà các cách đọc như trên chỉ là một.

Người chiến sẽ đáu tranh cho tự do, cho cuộc sống tốt đẹp có thể bị giết nhưng tiếng đàn – tâm hồn của anh thì bất tử. Không thể chôn được tiếng đàn, tất nhiên, tiếng đàn bất diệt nhưu cỏ mọc hoang, có sức sống mãnh liệt. Tiếng đàn khóc như những giọt nước mắt long lanh, vầng trăng nước mắt rọi xuống đáy giếng trong suốt. Đó chỉ là một hướng trong trường liên tưởng đa chiều của  các hình tượng thơ. Dẫu cho các hình tượng rất khó đọc một cách xác quyết theo cách đọc duy lí thông thường nhưng nếu ta hiểu được tình cảm của người viết với Lor-ca thì ta cũng có thể giải thích các hình tượng ấy.

0
phiếu
0đáp án
969 lượt xem

VIỆT BẮC

(Trích)

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả

Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế (xem Vài nét về tiểu sử trong Ngữ văn 12, tập một).

Đường cách mạng, đường thơ của Tố Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam. Bảy tập thơ của Tố Hữu có thể coi là những cuốn biên niên sử bằng thơ ghi lại bảy chặng đường của cách mạng Việt Nam, của đời sống dân tộc, tâm hồn dân tộc trong sự vận động đi lên của tiến trình lịch sử.

2. Về tác phẩm

-     Việt Bắclà tên gọi khu căn cứ địa cách mạng ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta. Chiến khu Việt Bắc nay thuộc sáu tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang. Tính từ khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 cho tới chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Bắc là thủ đô của kháng chiến, của cách mạng được 15. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, miền Bắc được giải phóng, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ đã chuyển từ Việt Bắc về Hà Nội (10/1954).

-     Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác trong bối cảnh chia tay với Việt Bắc đầy lưu luyến như thế. Bài thơ dài 150 câu thơ lục bát. Những lời đối đáp mình – t, ta – mình, kẻ ở - người đi, người dân căn cứ địa cách mạng – người kháng chiến trở về Hà Nội. Tình cảm chia tay ấy được diễn tả dưới hình thức đối đáp của đôi lứa nam nữ trong ca dao dân ca tình yêu, tạo nên chất trữ tình đằm thắm. Câu từ của bài thơ dựa trên sự đối đáp này cho thấy rõ một đặc trưng của thơ Tố Hữu – thơ trữ tình chính trị. Nhà thơ viết về một đề tài cách mạng khô khan, rát khó cho thơ nhưng đã chọn cách chyển tải bằng hình thức đối lập nam nữ nên tác phẩm trở nên hấp dẫn. Hình thức đối lập qua thể thơ lục bát nhuần nhuyễn, những cách nói của văn học dân gian tạo ấn tượng tính dân tộc sâu đậm của bài thơ.

II-   PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

1. Mạch cảm hứng thơ Việt Bắc

Đoạn trích của bài thơ dựa vào sách giáo khoa chủ yêu gợi lại những kỷ niệm, ân tình sâu nặng giữa người đi và kẻ ở. Việt Bắc 15 năm từng là thủ đô kháng chiến, là mảnh đất khai cơ lập nghiệp của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Những lời đưa tiễn cũng là những lời nhắc nhở về những kỉ niệm đẹp trong kháng chiến. Lời đáp lại là tiếng lòng cam kết son sắt thủy chung. Mở đầu bài thơ là hồi tưởng của người ở lại:

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sống nhớ nguồn?

Đừng quên tình cảm thiết tha mặn nồng của người Việt Bắc, cũng đừng quên đây là quê hương cách mạng, là cội nguồn của sự nghiệp lớn. Lời đáp diễn tả tình cảm tha thiết và lời hẹn ước của người về:

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Cũng nói đến sự trân trọng, uống nước nhớ nguồn của người về:

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…

          Hai câu đầu mang sắc thái quan hệ cá nhân, sắc thái tâm tình chia sẻ. Hai câu sau mang sắc thái cảm xúc của “cái ta” chung, là những tình cảm lớn. Chọn hình thức đối lập nam nữ truyền thống trong ca dao, dân ca, tác giả đã diễn tả khéo léo tâm trạng của người cách mạng với người dân Việt Bắc trong buổi chia tay. Câu chuyện của người cách mạng mang màu sắc tâm linh lãng mạn, hấp dẫn.

2. Nỗi nhớ về đất và người Việt Bắc

          Cảnh và người Việt Bắc đã để lại nỗi nhớ không thể quên trong tâm hồn người về. Không một nỗi nhớ nào về thiên nhiên Việt Bắc lại thiếu hình ảnh đẹp về người Việt Bắc và không một nỗi nhớ nào về con người Việt Bắc lại thiếu nỗi nhớ về vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc. Bởi lẽ đơn giản: con người Việt Bắc gắn bó với thiên nhiên, đến lượt mình, người chiến sĩ cách mạng, người kháng chiến sống chan hòa với người Việt Bắc, được che chở giữa đại ngàn rừng núi. Anh không đi ngoạn cảnh, đi du lịch mà đi kháng chiến, sống dựa vào dân, cùng chia sẻ với dân, đồng cam cộng khổ:

Ta đi ta nhớ những ngày

Minh đây ta đso, đắng cay ngọt bùi

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

          Cuộc sống gắn bó, cùng chia sẻ, hòa đồng là điểm tựa cho nỗi nhớ về đất và người Việt Bắc.

          Đáp lại, người Việt Bắc từ góc độ người dân đã từng giúp đỡ, chở che cho người cách mạng nhắc đến những kỷ niệm chia sẻ ân tình. Những món ăn quen thuộc của rừng núi được kể đến đã gợi nhắc những kỷ niêm không thể quên:

Mình về rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già.

Lời đáp lại của người cách mạng thật xốn xang xúc động: quên sao được bắp ngô chia sẻ mà bà mẹ lam lũ, vất vả “địu con lên rẫy” đem về, quên sao được những người lao động cần cù vì cách mạng. Hình ảnh người mẹ và em bé trên lưng mẹ cùng lên nương có sức gợi xúc cảm vô bờ:

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô.

Và nếu có nghĩ đến cảnh rừng tươi đẹp thì nhớ ngay đến những con người trong khung cảnh lao động vì kháng chiến:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Có thể đây là những câu thơ miêu tả thiên nhiên Việt Nam tuyệt đẹp: một bức tranh đủ màu sắc rực rỡ, có âm thanh của cả bốn mùa, cảnh và người giao hòa thân thiết. Mơ nở trắng, hoa chuối đỏ tươi, rừng phách vàng, tiếng ve kêu làm nền cho hình ảnh người em gái hái măng môt mình. Nhưng điều quan trọng là những hình ảnh này gợi nỗi nhớ về Việt Bắc, là để đáp lại lời dặn dò ân cần của người dân ở lại:

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng măng mai để già.

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Những con người Việt Bắc tuy nghèo khó nhưng tình nghĩa. Tấm lòng cao cả của con người Việt Bắc đẹp, trong sáng, lộng lẫy như cảnh Việt Bắc vậy. Người gài dao thắt lưng có thể là anh dân quân du kích mà cũng có thể là người lao động, cũng như cô gái hái măng hay người đan nón chuốt từng sợi giang. Họ đều đang làm những việc ân tình với kháng chiến hệt như bà mẹ địu con lên nương tần tảo kiếm từng bắp ngô để chia sẻ với người cách mạng. Có điều, lời thơ của tác giả thật kín đáo, gợi kỷ niệm riêng của hai người, phải dựa trên kết cấu đối đáp mới “giải mã” được. Sự gắn bó, chia sẻ, tình quân dân cá – nước là cảm hứng chủ đạo của cả đoạn thơ từ đầu cho tới câu “Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”. Không phải ngẫu nhiên mà mình, ta lại nhớ:

Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn va vang núi đèo

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nên cối đều đều suối xa…

Lớp học i tờ hay đêm liên hoan lửa trại ta nhớ về sinh hoạt gắn bó giữa cán bộ cách mạng với người dân trên núi rừng Việt Bắc. Tiếng mõ lốc cốc của đàn trâu trên đường về nhà khi chiều xuống hay tiếng chày giã gọi của cối gạo nương tả âm thanh, tả nhạc rừng (tiếng mõ trâu buổi chiều về nhà, tiếng chày giã gạo vọng từ phía suối xa) để hòa quyện vào nhạc của người “Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”. Không gian và con người được tả rất gợi, rất sinh động đầy xúc cảm.

3. Nỗi nhớ về căn cứ địa cách mạng

-     Việt Bắc là căn cứ địa cách mạng, là thủ đô kháng chiến. Ngày chia tay, người ở lại nhắc về những sự kiện nay đã thành kỷ niệm. Hồi tưởng là mạch cảm xúc chủ đạo, với những từ nhớ lặp đi lặp lại:

Mình về, có nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

-     Người về, như để cam đoan lòng mình sẽ chẳn bao giờ phia mờ những kỷ niệm, cũng nhớ, đắm mình vào mạch hồi tưởng về những tháng ngày chiến đấu gian khổ:

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.

Quên sao được những chiến công hiển hách của quan dân ta trên vùng rừng núi Việt Bắc: phủ Thông, đèo Giàng, phố Ràng… những địa danh biết nói. Việt Bắc che chở, Việt Bắc chứng kiến, Việt Bắc cùng ta đánh giặc:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nếu ở đoạn thơ nhớ về con người và cảnh vật Việt Bắc, âm điệu chủ đạo là trữ tình thì ở đoạn này, âm điệu sử thi anh hùng ca là chủ đạo. Hoạt động của con người được miêu tả có tầm kích vũ trụ: Bước chân làm rung chuyển đất, “Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”, bước chân làm nát đá, ánh đèn pha chọc thủng, rọi sáng “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày”.

-     Nói đến Việt Bắc, căn cứ địa kháng chiến, cũng là nói tới Đảng, Chính phủ và Bác Hồ. Từ Việt Bắc, như từ trái tim, đầu não, các chủ tưởng đường lối của trung ương Đảng và Chính phủ tỏa đi khắp nước, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng:

Điều quân chiến dịch Thu – Đông

Nông thôn phát động giao thông mở đường

Giữ đê, phòng hạn, thu lương

Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu…

Việc lãnh đạo đất nước ở buổi ban đầu lập nước đầy khó kahwn đã được bàn và quyết định ở Việt Bắc. Việt Bắc là niềm hy vọng, niềm mong đợi của cả dân tộc vì nơi đây Bác Hồ và Chính phủ cách mạng đã sống và làm việc:

Ở đâu u ám quân thù

Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đơn giống nòi

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

Nhờ có hình thức đối thoại mình- ta, ta –mình mà hàng loạt kỷ niệm đẹp về chiến khu Việt Bắc đã được tái hiện sinh động, đa dạng.

Những vấn đề chính trị, cách mạng tưởng khô khan đã được diễn đạt thật mềm mại, thiết tha, dễ thấm vào lòng người nhờ hình thước đối đáp của đôi nam nữ.

4. Thể thơ và ngôn ngữ

-     Về thể thơ: Bài thơ Việt Bắc  dài 150 dòng thơ lục bát. Giới nghiên cứu đều thừa nhận vẻ đẹp cổ điển của thơ lục bát ở bài thơ này. Tính chất cổ điển này trước hết thể hiện ở lối câu từ truyền thống của hát đối nam nữ trong ca dao dân ca. Mình – ta, ta – mình gắn bó quấn quýt gợi liên tưởng về những cuộc hát, đối đáp nam nữ truyền thống: Câu thơ lục bát thân thuộc, gần gũi với bất kỳ một người Việt Nam nào.

Hình thức thiểu đối trong câu thơ lục bát truyền thống được Tố Hữu vận dụng khá rộng rãi trong bài thơ Việt Bắc tạo nên cảm giác về sự cân đối, chặt chẽ: nhìn cây nhớ núi/ nhìn sông nhớ nguồn; Bâng khuâng trong dạ/ bồn chồn bước đi; Trám bùi để rụng / măng mai để già,… Nói như Xuân Diệu “khêu gợi nhiều hơn là diễn tả”, “chữ đúc lại với nhau”. Nhưng bản chất của đối xứng là tạo ra thế đối lập khiến cho hình tượng thơ phong phú, đa dang, câu thơ có vẻ cổ điển.

       + Đối lập không gian:

-   Nhìn cây nhớ núi / nhìn sông nhớ rừng

-   Trăng lên đầu núi / nắng chiều lưng nương

       + Đối lập thời gian:

Nhớ khi kháng Nhật / thuở còn Việt Minh

+ Đối lập nội tâm và hành động:

Bâng khuâng trong dạ / bồn chồn bước đi

+ Đối lập hai sự việc:

Địu con lên rẫy / bẻ từng bắp ngô.

+ Đối lập màu sắc:

Hắt hiu lau xám/ đậm đà lòng son

Có thể kể ra nhiều cặp đối lập tương tự.

Mặt khác, về mặt nhịp điêu câu thơ, hình thức tiểu đối đã góp phần thay đổi nhịp điệu của câu thơ lục bát. Trong số tác phẩm dài hơi (150 dòng thơ lục bát), điều này rất có ý nghĩa, làm cho bài thơ luôn luôn vận động, biến hóa, thay đổi từ ý, lợi, nhịp điệu, khiến cho toàn bài thơ hấp dẫn, tránh cảm giác đều đều, lặp đi lặp lại. Bài thơ Việt Bắc xứng đáng là một đỉnh cao của văn học cách mạng.

-   Về ngôn ngữ: Tác gải sử dụng từ ngữ hàng ngày, lời ăn tiếng nói dân gian, cách xưng hô mình – ta, ta – mình; sử dụng các dạng cấu trúc câu phổ biến của ca dao, dân ca trữ tình, hát đối đáp nam – nữ như bao nhiêu…bấy nhiêu (Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu; so sánh Qua đình ngả nón trông đình – đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu); sử dụng mô-típ về nỗi nhớ rất phổ biến trong ca dao, đặt câu hỏi có nhớ…, còn nhớ…; gọi tên các sự vật gợi liên tưởng không gian Việt Bắc: trám, măng mai, lau, hoa chuối, tiếng mõ, cối (cối gạo nương),… những hình ảnh đặc thù của con người Việt Bắc bản khói, áo chàm…

Trong thơ Tố Hữu, các địa danh thường xuyên xuất hiện, như là một biện pháp kỹ thuật khơi gợi tình yêu, niềm tự hào về đất nước. Trong bài viết Việt Bắc, ta gặp lại ngòi Thia, sông Đáy, phủ Thông, đèo Giàng, phố Ràng, đèo De, núi Hồng, mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào. Đó là chưa kể đến những địa danh với những đặc sản khác trong những đoạn thơ không được trích dẫn (như Vại Hương Canh, gạch Bát Tràng, chiếu Nga Sơn, lụa Hà Đông, vải Nam Định,…). Không có tình yêu đất nước chung chung, chỉ có đất nước qua những con người, những vùng đất, những sự vật cụ thể mà ta đang sống.

 

0
phiếu
0đáp án
994 lượt xem

TÂY TIẾN

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

-     Quang Dũng (1921 – 1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm. Quê ở làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) nhưng ông học trung học ở Hà Nội. Sau cách mạng tháng Tám, Quang Dũng tham gia quân đội. Từ sau năm 1954, ông là biên tập viên Nhà xuất bản Văn học.

Quang Dũng là người đa tài, giỏi “cầm, kỳ, thi, họa”. Ông sáng tác bài hát, vẽ tranh, làm thơ, viết văn và giỏi cả kiếm thuật. Bài thơ Tây Tiến thể hiện các tài năng này với chất nhac, chất thơ, chất tạo hình và chất tráng ca là điều tự nhiên.

-     Quang Dũng là người trực tiếp tham gia chiến đấu trong đoàn quân Tây Tiến từ năm 1947. Năm 1948, sau khi xa đơn vị một thời gian, nhà thơ đã sáng tác bài thơ này, lúc đầu cso tên là Nhớ Tây Tiến; năm 1957, khi in lại, ông đã bỏ chứ “nhớ”.

Tây Tiến đã từng có một số phận gian truân, có lúc người ta nghĩ nhà thờ vẫn còn tâm hồn tiểu tư sản, nhưng rồi bài thơ đã có được vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Bài thơ được khắc trên đài tưởng niệm các liệt sĩ Tây Tiến ở Hòa Bình.

2. Về đoàn quân Tây Tiến

          Trung đoàn Tây Tiến được thành lập đầu năm 1947, trong đó có sự tham gia của hai tiểu đoàn Hà Nội với khá nhiều học sinh, trí thức. Nhiệm vụ của trung đoàn Tây Tiến là phối hợp với lực lượng yêu nước Lào lập chính quyền cách mạng ở Sầm Nưa, đánh địch ở Tuần Giáo, Hòa Bình, Quỳnh Nhai, trên tuyến sông Đà, sông Mã, sang Sầm Nưa rồi trở về miền Tây Thanh Hóa… góp phần giữ vững địa bàn miền Tây. Những gian khổ, hi sinh được nhắc đến trong bài thơ là sự thật về cuộc chiến tranh ở rừng núi thời xưa được mệnh danh là “ma thiêng nước độc”. Bệnh sốt rét đã khiến cho nhiều chiến sĩ rụng tóc, hình ảnh “đoàn binh không mọc tóc” và “quân xanh màu lá” là tả thực những chiến sĩ thời gian khổ ấy.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.  Đặc điểm về nội dung

a) Bố cục của bài thơ

          Bài thơ viết theo thể hành, gồm 4 đoạn. Cảm xúc chủ đạo là nỗi nhớ thương da diết đồng đội trong đoàn quân Tây Tiến và núi rừng miền Tây, là niềm tự hào vô hạn về những đồng đội của nhà thơ. Nỗi niềm thương nhớ này trải rộng theo một không gian bao la với bao địa danh núi sông, làng bản miền Tây.

-     Đoạn 1 (từ đầu đến “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”): Một bức tranh toàn cảnh về núi rừng Tây Bắc.

-     Đoạn 2 (tiếp theo đến “Trôi dòng nước lũ hoa đung đưa”): Vẻ đẹp lãng mạn của miền Tây.

-     Đoạn 3 (tiếp theo đến “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”): Bức tượng đài tập thể về những người lính Tây Tiến.

-     Đoạn 4 (đoạn còn lại): Sự nghiệp của những người lính Tây Tiến vẫn được đồng đội tiếp tục.

b) Một bức tranh toàn cảnh về núi rừng Tây Bắc

-     Với một tâm hồn thơ tinh tế, một con mắt của nghệ sĩ tạo hình, nhà thơ khắc họa một bức tranh đặc sắc về hông gian hoạt động của những người lính Tây Tiến. Tuy vậy, phải chú ý rằng Quang Dũng không đơn thuần đứng ngắm nhìn từ xa hay tưởng tượng để tả mà tác giả chuyển tải cảm nhận từng trải về thế giới núi rừng đó, cảm giác của một người đã đắm mình trong không gian đó. Cái nhìn về Tây Bắc là cái nhìn của một người trong cuộc, đã từng tự mình thí nghiệm các cảm giác trèo đèo vượt suối:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

          Về cảnh trập trùng, khúc khuỷu của núi đồi xưa. Chinh phụ ngâm đã từng viết: “Hình khe thể núi gần xa – Đứt thôi lại nổi thấp đà lại cao”. Nhưng sự điệp trùng ấy có thể đứng từ xa nhìn cũng thấy. CÒn tả núi cao đến “heo hút”, “ngàn thước”, nơi súng có thể “ngửi trời” được thì đó là một lối tả đầy cảm giác. Hình ảnh “súng ngửi trời” chuyển tải một thông tin: tác giả là người chiến sĩ mang súng đã qua con dốc hiểm trở ấy. Muốn viết được như thế thì phải có con mắt vượt tầm đỉnh núi, đắm chìm vào trong mây mới cảm nhận được. Tả núi cao mà chủ yếu để nói về những cái vực sâu rợn người “dốc thăm thẳm”. Câu thơ như bị chặt đôi để diễn tả dáng núi cao vút và hạ thấp xuống rất đột ngột. Lên cao thì vất vả nhưng xuống núi thì nguy hiểm vô cùng.

-     Với thơ ca, rừng núi không phải là vô hồn, vô tri, vô giác. Dân gian có thành ngữ “ma thiêng nước độc”. Thế Lữ đã từng nói về “oai linh rừng thẳm” (Nhớ rừng). Nhưng cái mới của Quang Dũng là bằng cái tài thẩm âm tinh tế, và vẫn của người đã sống ở rừng, đã nghe và đã nhìn, ông ghi lại những lời chủ âm đặc thù của rừng già Tây Bắc là tiếng suối, tiếng hổ báo gầm gào, khiến người đọc cảm nhận được cái oai linh rờn rợn của núi rừng lúc chiều buông, đêm về:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đem Mương Hịch cọp trêu người

-     Bằng bút pháp lãng mạn, nhà thơ cực tả sự hiểm trở, dữ dội của thiên nhiên với dụng ý tạo sự đối lập rất rõ. Con người chỉ anh hùng khi vượt qua những thử thách khốc liệt. “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Trên cái nền thiên nhiên khốc liệt ấy, càng tháy rõ vẻ đẹp của sự hi sinh, vượt khó vượt khổ của đoàn quân Tây Tiến. Nhà thơ không mĩ lệ hóa rừng núi, tức không mĩ hóa cuộc chiến tranh; nhà thơ nhìn thẳng vào hiện thực của mất mát, hi sinh, điều mà có thể người này người khác né tránh khi viết về chiến tranh. Dẫu sao, chiến tranh không phải là cuộc dạo chơi. Đã có người đồng đội kiệt sức trên bước đường tiến quân:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

-     Nhưng Tây Bắc không chỉ có núi rừng oai linh, hiểm trở. Tây Bắc còn là con người. Trong bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng sử dụng thủ pháp đối lập tương phản rất thành công. Cứ cuối mỗi đoạn thơ tả cảnh núi rừng hiểm trở, Quang Dũng lại làm dịu cảm giác rùng rợn mỏi mệt bằng việc gợi nhớ đến lòng người Tây Bắc hồn hậu, chân tình. Cứ mỗi lần kiệt sức, mỏi mệt trên đường hành quân hiểm trở, tâm hồn người chiến binh lại được an ủi vỗ về bởi tình quân dân nơi bản Mương, bản Thái:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mương Lát hoa về trong đêm hơi

          “Hoa về trong đêm hơi” theo chúng tôi phải được hiểu là ánh đuốc (của dân bản hay các chiến sĩ ?) cháy sáng bập bùng trong đêm sương giá mịt mùng của rừng núi (đêm hơi)

          Đang rã rời thân thể khi vượt dốc cao ngàn thước và rợn người nhìn xuống vực sâu thầm thì lòng hân hoan, ấm lại vì đã thấy bản làng đang ẩn hiện phía trước:

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

          Câu thứ hai đều là thanh bằng như làm dịu nỗi niềm cơ cực của anh lính Tây Tiến, như một tiếng thở phào nhẹ nhõm vì sắp tới đích. Rừng núi hiểm trở nhưng có tấm lòng của người dân làm dịu đi tất cả những thử thách khốc liệt đó.

Một cặp đối lập nữa rất tiêu biểu cho thủ pháp đối lập trong tả tình, tả cảnh của Quang Dũng:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

          Giờ phút quây quần đầm ấm quanh nồi cơm nếp bốc khói thơm ngào ngạt đã làm ấm lòng người lính trải qua núi cao vực thẳm, những chiều tà thác đổ, những đêm sâu cọp gầm. Những cảnh tượng dữ dội đã ở sau lưng rồi. Hình ảnh cơm lên khói và mùi thơm của nếp xôi rất đặc biệt cũng ấn một thông báo về sự từng trải các cảnh huống khác nhau của “cái tôi” tác giả giữa núi rừng Tây Bắc. Không phải chỉ có những cuộc hành quân giữa núi rừng hiểm trở mà nơi đây còn đầm ấm tình quân dân: những người chiến sĩ cách mạng được nhân dân nồng hậu chào đón.

          Đoạn thơ đầu tuy khắc họa một bức tranh về miền Tây Bắc hùng vĩ nhưng nhà thơ không dừng lại ở cảnh. Tác giả muốn diễn đạt tâm hồn, cảm xúc của những người lính Tây Tiến trên chiến trường miền Tây Bắc, cũng nói đến cả tình quân dân ấm áp, mặn mà.

c) Vẻ đẹp lãng mạn của miền Tây Bắc

-     Đoạn thơ thứ hai với 8 câu thơ nối tiếp mạch cảm xúc của đoạn thơ đầu. Những gian truân, khốc liệt đối với tuổi trẻ hừng hực sức sống đã lùi xa. Giữa đại ngàn hoang vu, cổ sơ ấy bỗng xuất hiện một đêm liên hoan lửa trại. Những cô gái Thái, Lào duyên dáng, xinh đẹp, những tiếng khèn, điệu múa đọc đáo, mới lạ với những anh lính vùng xuôi (có thể là điệu Lăm vông, Lăm tơi mà khi ấy tác giả gọi là man điệu) làm nên màu sắc huyền ảo, lãng mạn. Tả vẻ đẹp lãng mạn của đêm lửa trại là để tả vẻ đẹp lãng mạn của tâm hồn chiến sĩ Tây Tiến. theo Vũ Quần Phương, câu thơ “Kìa em xiêm áo tự bao giờ” là kể chuyện nam bộ đội đóng vai nữ rất đẹp…gái. Nhưng ngữ cảnh toàn bài thơ tạo áp lực cho phép hiểu đay là các cô gái địa phương (Mai Châu mùa em thơn mếp xôi; Khèn lên man điệu nàng e ấp):

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

          Không phải là ánh lửa trại bình thường mà là hội đuốc hoa. Trong tâm thức người Việt, hội hè không thể thiếu trai gái thanh lịch. Khổ thơ mang theo cái rạo rực, bay bổng say người của hội hè. Các từ ngữ bùng lên, kìa em, e ấp diễn tả nỗi lòng, cảm hứng của lính Tây Tiến. Mọi gian khó với tâm hồn trai tráng của họ đã biến mất, còn lại sự yêu đời, lạc quan.

-     Nguyên tắc đối lập được tác giả vận dụng triệt để. Đường Tây Tiến không chỉ hùng vĩ, đầy thử thách bạo liệt mà còn có những cảnh núi sông thơ mộng, đẹp không ngờ:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bề

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

          Cây lau với dòng sông từ xưa đã là hai hình ảnh sóng đôi, gợi hứng cho thi ca, đó là “Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu” (Truyện Kiều) gợi nỗi niềm tương tư của Kim Trọng, đó là “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách – Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu” (Tì bà hành). HÌnh như thân lau nhẹ nhàng, bông hoa lau trắng xóa luôn phất phơ trong gió, sống động như có hồn, bên dòng nước chảy ở thời nào cũng gợi cảm cho nhà thơ. Câu thơ trên gợi vẻ trầm mặc, sương khói, huyền ảo của dòng sông khi chiều về sương xuống. Cảnh thiên nhiên gợi suy tư.

          Chiều sương hồn lau là những hình ảnh tĩnh. Những dáng người cầm lái con thuyền độc mộc lướt theo dòng nước chảy xiết làm những bông lau bên bờ đong đưa là những hình ảnh động. Hai hình ảnh tĩnh và động bổ sung cho nhau, tạo nên bức tranh hài hòa. Cách đặt câu hỏi có thấy… có nhớ… là lối đặt câu khẳng định “hẳn phải nhớ”. Không nhớ làm sao được vẻ đẹp ấy? Con mắt hội họa đã giúp nhà thơ tạo ra bức tranh đẹp như vậy. Có thể nói rừng núi hùng vĩ và con người miền Tây Bắc khỏe đẹp diễn tả tâm hồn đẹp, khỏe, lãng mạn của những người lính Tây Tiến trẻ trung, đầy sức sống.

d)Bức tượng đài tập thể về những người lính Tây Tiến

          Đoạn thơ thứ ba gồm 8 câu thơ tiếp theo. Nhà nghiên cứu văn học Phong Lan đã gọi bài thơ Tây Tiến  là “tượng đài bất tử về người lính vô danh”. Đây là một cách diễn đạt hình tượng rất thành công nội dung đoạn thứ ba.

-     Những gian khổ, hi sinh được nhắc đến trong đoạn thơ này là có thật. Sốt rét ác tính trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt kham khổ đãm là nguyên nhân tạo nên ngoại hình đặc biệt của anh lính Tây Tiến: “không mọc tóc”, “da xanh màu lá”. Nhiều nhà thơ kháng chiến có nói tới căn bệnh sốt rét ở người bộ đội vệ quốc như là một chứng tích của tinh thần hi sinh, vượt gian khổ. Còn Quang Dũng muốn nói đến thần thía của người lính Tây Tiến hơn là ngoại hình. Cái hùng toát lên từ hình tượng người chiến binh:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

          Tác giả không viết “rụng tóc” mà viết “không mọc tóc” vì viết như thế sẽ nói lên cái ý chí không bị động của người lính Tây Tiến, hình như anh chủ động để trọc đầu để dễ dánh giáp lá cà với địch. Từ màu da xanh xao như lá vẫn toát lên cái “oai hùm”. Kế thừ hình tượng truyền thống về những bậc trượng phu, tráng sĩ, những oai tướng hùm thiêng như Từ Hải, như “ông hùm Đề Thám”, câu thơ mang âm hưởng hào hùng, tráng ca.

          Khổ thơ tiếp theo tiếp tục được cấu trúc theo nguyên tắc đối lập. Từ ba câu thơ đầu toát lên khí phách, thần thái của chiến sĩ Tây Tiến. Vẻ oai phong lẫm liệt của chiến sĩ Tây Tiến được diễn tả chủ yếu qua đôi mắt: “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới”. Trong tâm thức người phương Đông, mắt là linh hồn của con người và sự vật. Ở Đông Nam Á, con thuyền khi hạ thủy được con người điểm nhãn để bắt đầu cho cuộc sống của nó. Người ta “khai quang, điểm nhân” cho môt bức tượng. Tả mắt là thủ pháp phổ biến trong văn học để truyền thần nhân vật. Ánh mắt giận dữ của chiến binh Tây Tiến đặc tả khí phách và ý chí chiến đấu của các anh.

          Tuy vậy, vẻ ngoài có vẻ dữ dằn không hề là bản chất của các anh. Họ là những thanh niên, học sinh của Hà Nội tạm “xếp bút nghiên thoe việc đao cung” lên đường kháng chiến. Họ có bao kỷ niệm và trong trái tim của họ vẫn dành trọn chỗ cho những cô gái đã quen và chưa quen của Hà Nội. Với bút pháp quen thuộc, nhà thơ đặt hai trạng thái như đối lập nhau để vẽ nên chân dung hoàn chỉnh của người lính Tây Tiến:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

          Chất men lãng mạn cũng là một động lực tinh thần quan trọng của người lính, giúp họ vượt lên mọi gian khổ, hi sinh. Có thể người nghiêm khắc cho đây là biểu hiện của tâm hồn lãng mạn, tiểu tư sản. Song chính hình ảnh “dáng kiều thơm” là nét vẽ cần thiết cuối cùng giúp cho hoàn chỉnh hình tượng chiến sĩ Tây Tiến.

Chính tinh thần lãng mạn đã là một điểm tựa giúp nhà thơ nói lên một vấn đề mà nhiều người lúc đó né tránh. Đã là chiến tranh thì phải có mất mát, hi sinh. Vấn đề là không rơi vào bi quan, là nhìn ra từ sự mất mát tầm vóc cao đẹp của sự hi sinh. Nhà thơ đã dùng những câu thơ sóng đôi, câu sau cắt nghĩa, lí giải cho câu trước:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

          Những nấm mồ là có thật, tinh thần tự nguyện xả thân cho Tổ quốc cũng là có thật. Đó là hào khí của một thời đại “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

          Cái chết nơi chiến trường thật đơn sơ, giản dị. Anh nằm xuống không có cả manh chiếu bọc thây. Anh về lại đất mẹ như cái chết của anh đã được dòng sông Mã oai hùng cúi chào vĩnh biệt bằng những tiếng gần đau đớn, uất hận. Tiếng gầm của dòng sông Mã ấy sẽ còn mãi mãi đến muôn đời.

Việc dùng các từ Hán Việt đã đem lại sắc thái trang trọng, tôn nghiêm, Biên cương mồ viễn xứ, áo bào, khúc độc hành tạo không khí cổ điển. Nhà thơ kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của những chiến sĩ Tây Tiến. Đoạn thơ mang âm hưởng bi tráng.

e) Sự nghiệp của những người lính Tây Tiến vẫn được đồng đội tiếp tục

Bốn câu thơ kết thúc bài Tây Tiến với nhịp thơ chậm, nhưng giọng thơ vẫn bi hùng. Vẻ đẹp của người lính chủ yếu là ở tinh thần chiến đấu, hi sinh vì Tổ quốc:

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồm về Sầm Nưa chẳng về về xuôi.

          Ra đi không hẹn ước ngày về. Chờ đợi họ ở phía trước vẫn là con đường thăm thẳm, gian nguy còn nhiều. Nhưng bất cứ ai lên với đoàn quân Tây Tiến, sống với hào khí oanh liệt, lãng mạn của những người lính Tây Tiến được thành lập và bắt đầu cuộc trường chinh gian khổ anh hùng – sẽ là cái mộc thời gian lịch sử của một thời không trở lại lần nữa, nhưng tinh thần Tây Tiến thì bất diệt.

2.  Đặc điểm về nghệ thuật

          Bài thơ sử dụng một số từ Hán Việt. Đây có thể là dấu vết của quan niệm truyền thống về người anh hùng, gắn liền với cái hùng, cái bi, cái cao cả, nhằm tạo nên ấn tượng con người vũ trụ.

Bài thơ khá đặc sắc về nhạc điệu do việc tác giả mo phỏng thể hành của thơ truyền thống. Sự thay đổi khá linh hoạt của vần, thanh điệu bằng trắc, nhịp câu thơ khiến cho bài thwo thoát khỏi sự gò bó có thể có của các khổ thơ có dáng vẻ thơ Đường luật.

0
phiếu
0đáp án
893 lượt xem

NGUYỄN ĐÌNH CHỂU, NGÔI SÁO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ CỦA DÂN TỘC

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả Phạm Văn Đồng

Phạm Văn Đồng (1906 – 2000) quê ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức tỉnh Quảng Ngãi. Ông tham gia cách mạng từ rất sớm (1925), từng dự lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu, Trung Quốc. Năm 1927, ông về nước hoạt động bị địch bắt, kết án tù và đày ra Côn Đảo (1929 – 1936). Ra tù, ông lại tiếp tục hoạt động cách mạng. Ông tham gia Ủy ban Dân tộc giải phóng, Chính phủ lâm thời tháng 8 năm 1945, và sau đó, liên tục giữ nhiều trọng trách trong bộ máy lãnh đạo Đảng và Nhà nước như Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (1951 – 1986), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1954), Thủ tướng Chính phủ (1955 – 1981), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1981 – 1987), đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII,…

Phạm Văn Đồng vừa là một nhà cách mạng lớn của nước ta trong thế kỷ XX, vừa là một nhà giáo dục tâm huyết và một nhà lý luận văn hóa, văn nghệ lớn. Ông đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực văn hóa, văn nghệ nước nhà, có nhiều ký kiến chỉ đạo đường lối phát triển của nền văn học nghệ thuật mới. Ống đã viết nhiều bài nghị luận độc đáo, đặc sắc về Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh,… và về tiếng Việt.

2. Về nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu

Đây là nhà thơ nổi tiếng đã được giới thiệu trong chương trình Ngữ văn lớp 11 (cần ôn lại) với các tác phẩm (đoạn trích) Lẽ ghét thương (trích Truyện Lục Vân Tiên) và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Truyện Lục Vân Tiên ra đời trước khi Pháp xâm lược, tức là trước Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nhưng có thể vì không trực tiếp phản ánh cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược nên dù là “một tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu”, nhưng trong bài viết này chỉ được nói đến sau bài văn tế và các áng văn thơ yêu nước chống Pháp. Trật tự ưu tiên trong bài viết cũng thể hiện hết sức rõ ràng quan niệm cách mạng về văn nghệ của Phạm Văn Đồng.


3. Quan điểm cách mạng về văn nghệ và thời điểm viết bài luận

Bài viết về Nguyễn Đình Chiểu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn thành năm 1963. Đây là giai đoạn nhân dân ta đang tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Là một nhà cách mạng, Phạm Văn Đồng đã đọc Nguyễn Đình Chiểu theo quan điểm cách mạng về văn học nghệ thuật. Một nhà văn quá khứ được đánh giá cao tất nhiên phải là một nhà văn yêu nước, thương dân, là một tấm gương sáng về sứ mệnh người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng; sáng tác của nhà văn đó phải có ý nghĩa khích lệ, cổ vũ nhân dân ta chiến đấu chống xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là lý do vì soa trong bài viết có những câu như: “Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ lớn của nước ta, đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ của dân tộc, nhất là trong lúc này” (chú ý: lúc này tức là thời điểm năm 1963); và “Nguyễn Đình Chiểu là một người chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta. Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng”. Tính thời điểm của bài viết và quan điểm cách mạng về chứng năng văn học là điều cần đặc biệt chú ý.


II. PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Bố cục của bài viết

Dễ dàng nhận thấy bài vết được chia làm ba phần, đánh dấu bằng dấu sao.

Phần thứ nhất khái quát về con người, cuộc đời và quan niệm thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu. Tác giả nhắc lại bối cảnh lịch sử khi đất nước bị lâm nguy, giữa lúc “vua nhà Nguyễn cam tâm bán nước để giữ ngai vàng” nhưng “nhân dân và sĩ phu anh dũng đứng lên đánh giặc cứu nước” để ghi nhận hoạt động văn nghệ của Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ yêu nước. “Vì mù cả hai mắt, hoạt động của người chiến sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu là thơ văn”, “Đời sống và hoạt động của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương anh dũng. Cảnh đất nước cũng như cảnh riêng càng long đong, đen tối, thì khí tiết của người chí sĩ yêu nước ngày càng cao cả, rạng rỡ”. Trong bối cảnh đó, “cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là một chiến sĩ hy sinh phấn đấu vì một nghĩa lớn. Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng. Từ đây tác giả khái quát quan điểm văn nghệ: “Đối với Nguyễn Đình Chiểu, cầm bút, viết văn là một thiên chức” (thiên chức – chức trách thiêng liêng).


Phần thứ hai: phần viết có dung lượng lớn nhất trong ba phần, dành cho các áng “thơ văn yêu nước” của Nguyễn Đình Chiểu. Giá trị của thơ văn yêu nước của ông trước hết là ở chỗ “làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trao kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ 1860 về sau, suốt hai mươi năm trời”. Tác giả dựng lại sống động không khí đánh Pháp xâm lược giữa lúc triều đình Tự Đức đầu hàng, một khí thế mà chính kẻ thù cũng phải khâm phục qua những áng văn thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu “không phải ngẫu nhiên mà thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, một phần lớn là những văn tế, ca ngợi những người anh hùng suốt đời tận trung với nước, và than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân”. Tác giả cũng đặt thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu trong truyền thống văn học yêu nước như một giá trị căn bản của truyền thống văn học Việt Nam, từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Đình Chiểu và các tác giả văn học yêu nước Nam Bộ cùng thời. Nguyễn Đình Chiểu kế thừa truyền thống văn học yêu nước của Nguyễn Trãi trong hoàn cảnh mới, ông cũng không đơn độc mà có nhiều nhà văn, nhà htow yêu nước xung quanh có điều ông là một tác giả yêu nước tiêu biểu, điển hình nhất lúc ấy.


Phần thứ ba nói về Truyện Lục Vân Tiên. Trước tiên tác giả viết về giá trị luân lý, đạo đức như một trong những giá trị hàng đầu của truyện thơ này; sau đó lý giải đặc trưng nghệ thuật  của tác phẩm. Để lý giải vì sao Truyện Lục Vân Tiên lại “rất phổ biến trong dân gian, nhất là ở miền Nam”, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Đây là một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa”, “các nhân vật của Lục Vân Tiên: Lục Vân Tiên, Nguyệt Nga, Tiểu đồng,… là những người đáng kính, đáng yêu, trọng nghĩa, khinh tài, trước sau một lòng, mặc dầu gian khổ cực, gian nguy, quyết phấn đấu vì nghĩa lớn […] Họ sống trong một xã hội cũng như biết bao xã hội từ xưa đến nay – có người tốt kẻ xấu, người ngay kẻ gian, có nhiều đau khổ, bất công – họ đã đấu tranh không khoan nhượng chống mọi gian dối, bất công và họ đã thắng. Họ là những tấm gương dũng cảm. Vì những lẽ đó họ gần gũi chúng ta và câu chuyện của họ làm chúng ta cảm xúc và thích thú”.


Về nghệ thuật, tác giả nhấn mạnh về nghệ thuật trình diễn tác phẩm, “đây là một chuyện “kể”, chuyện “nói”. Tác giả cố ý viết một lối văn “nôm na”, dễ hiểu, dễ nhớ, có thể truyền bá rộng rãi trong dân gian”. Đây là một nhấn mạnh rất cần thiết để hiểu đúng đặc điểm nghệ thuật của Truyện Lục Vân Tiên. Mặt khác, tác giả cũng ghi nhận tác phẩm này có nhiều câu thơ hay, dễ thuộc lòng chứ không phải là chỉ có sự nôm na, mộc mạc. Nhân dân say sưa nghe kể Truyện Lục Vân Tiên “không chỉ vì nội dung câu chuyện, còn vì văn hay”.


2. Tư tưởng văn nghệ cách mạng quy định cách đọc tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu

Qua kết cấu của bài viết, ta dễ dàng nhận thấy quan niệm văn nghệ cách mạng thấm sâu vào các luận điểm về Nguyễn Đình Chiểu. Tác giả có dụng ý dành phần đầu để nói về bối cảnh đấu tranh chống Pháp và những sáng tác Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi những nhân vật Nam Bộ yêu nước; trong phần thứ ba viết về Truyện Lục Vân Tiên, tác giả không chỉ nói về tấm gương đạo nghĩa của các nhân vật chính diện trong tác phẩm này mà còn lưu ý họ đã đấu tranh chống lại mọi giả dối, bất công và đã chiến thắng.

Toàn bộ các lập luận, phân tích nhằm đến kết luận

-     Nguyễn Đình Chiểu là nhà yêu nước, nhà thơ lớn của nước ta (nhà yêu nước đồng thời là nhà thơ lớn – nhấn mạnh nhân cách của nhà văn, nhà thơ).

-     Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, “nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng”. Nghĩa là qua trường hợp nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, ta học được tinh thần của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, tư tưởng. Tinh thần này phù hợp với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Văn học, nghệ thuật là một mặt trận mà văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy.


3. Hình tượng của tác giả qua bài viết

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng bộc lộ tình cảm yêu tuowng sâu sắc đối với những người dân yêu nước Nam Bộ. “Hồi tưởng cuộc chiến đấu anh dũng vô song của dân tộc Việt Nam ta ở Nam Bộ lúc bấy giờ, ruột gan chúng ta đau như cắt xé”. Tác giả như trầm ngâm suy nghĩ về nguyên nhân thất bại, về những bước đi của lịch sử dân tộc trong quá khứ và tỏ thái độ lên án gay gắt đối với vua chúa nhà Nguyễn bạc nhược cam tâm đầu hàng quân xâm lược. Giá như có những người lãnh đạo kế tục được khí phách, dũng khí của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, của người anh hùng Nguyễn Huệ thì chắc hẳn lịch sử chống ngoại xâm, bảo về độc lập của dân tộc ta đã có những bước đi khác.


Tác giả luôn có ý thức liên hệ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu với thời hiện đại (tức là với thời kỳ nhân dân ta đang chiến đáu chống Mĩ xâm lược và đang giành được nhiều thắng lợi to lớn): “Có lẽ dưới suối vàng, linh hồn của Nguyễn Đình Chiểu và những nghĩa quân lúc bấy giờ, ngày nay phần nào đã được hả dạ!”. Điều đó hàm nghĩa rằng chúng ta đang kế thừa sự nghiệp chính nghĩa của những người yêu nước chống Pháp xâm lược thời kỳ đó.

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đứng trên lập trường khách quan, khoa học khi đánh giá mọt tác giả, tác phẩm quá khứ. Chẳng hạn khi nói về quan niệm đạo đức của nhân vật chính diện trong Truyện Lục Vân Tiên, tác giả viết: “Những giá trị luân lý mà Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi, ở thời đại chúng ta, theo quan điểm của chúng ta thì có phần đã lỗi thời”. Phần lỗi thời nói đây chính là quan điểm “trung vua” hoặc quan niệm về “tiết hạnh” có phần khắt khe, nghiệt ngã của Nho giáo. Nhưng tác giả vẫn chú trọng khai thác giá trị tích cực của một tác giả quá khứ “Nguyễn Đình Chiểu cũng như nhiều bậc hiền triết ngày xưa ở phương Đông hoặc phương Tây, vẫn để lại cho đời sau những điều giáo huấn đáng quý trọng”. Chúng ta cần vận dụng chủ trương tiếp nhận di sản văn học quá khứ như vậy.


4. Đặc điểm về nghệ thuật

Đặc sắc nghệ thuật của bài văn nghị luận là sự kết hợp hài hòa giữa lý lẽ xác đáng và tình cảm nồng hậu của người viết đối với nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Trong khuôn khổ ngắn gọn, người viết đã vận dụng các thao tác phân tích sau:

-     Đặt sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu vào bối cảnh lịch sử - xã hội để thấy được những giá trị phản ánh hiện thực của sáng tác ấy. Đây là một bài học quan trọng trong phân tích tác phẩm văn học mà nếu thiếu nó, người phê bình hiện nay có thể sẽ không hiểu, không cảm nhận được giá trị của một tác giả quá khứ.

-     Gắn liện việc đánh giá tác phẩm với nhân cách của tác giả. Văn tức là người. Theo tác giả, một sự nghiệp sáng tác lớn phải gắn liền với nhân cách lớn của nhà văn.

-     Có lưu ý đến phần hạn chế của nhà văn nhưng trên hết là sự trân trọng những giá trị tích cực của nhà văn đó

-     Tác giả đã kết hợp nhuần nhuyễn tư duy phân tích sắc sảo với tình cảm nồng nhiệt.

0
phiếu
0đáp án
489 lượt xem

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ
1. Về bối cảnh lịch sử
Tuyên ngôn Độc lậpra đời trong một không khí cách mạng hết sức khẩn trương. Đây là thời thời điểm mà tình hình trong nước và quốc tế có rất nhiều thuận lợi cho nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Việt Minh giành chính quyền, giành lại nền độc lập dân tộc; đồng thời, nguy cơ thực dân Pháp trở lại đô hộ nước ta là một sự thật khi mà phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh. Bản Tuyên ngôn Độc lậptuyên bố trước nhân dân Việt Nam và toàn thể cộng đồng quốc tế về nền độc lập của nhân dân Việt Nam đã giành được từ tay phát xít Nhật để bác bỏ hoàn toàn âm mưu và tham vọng của thực dân Pháp đang lăm le quay lại đô hộ Việt Nam.
2. Về thể loại “tuyên ngôn”
Trong lịch sử văn học chính luận thế giới đã từng có bản Tuyên ngôn Độc lậpcủa nước Mĩ (Declaration of Independence) năm 1776. Đây là bản tuyên ngôn khẳng định nền độc lập của nước Mĩ đối với nền thống trị của nước Anh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc và tham khảo kinh nghiệm viếtTuyên ngôn Độc lập mà bằng chứng rõ rệt là việc Người dẫn lời Tuyên ngôn Độc lậpnày. Người đã dịch rất hay, rất thành công những câu quan trọng nhất trong lời mở đầu bằng bản Tuyên ngôn Độc lậpcủa Mĩ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã cho họ những quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (All men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness). Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (Declaration of Rights of Man and The Citizen) cũng được Người nghiên cứu và trích dẫn. NGười cũng đã dịch rất sáng tạo một tư tưởng quan trọng của bản Tuyên ngôn Độc lậpnày: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn tự do và bình đẳng về quyền lợi” (Men are born and remain free and equal in rights). Theo bình luận của một nhà nghiên cứu Mĩ, khái niệm all men trong bản Tuyên ngôn Độc lậpMĩ, vào thế kỷ XVIII, thời điểm viết bản tuyên ngôn đó, chỉ bao hàm những người đàn ông (người da trắng và có tài sản). Như thế thì all men trong bản dịch của Hồ Chí Minh là “Tất cả mọi người” là một sáng tạo và tiến bộ hơn. Nhưng tất nhiên, hoàn cảnh đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta có những điểm khác, nhân dân ta không chỉ đấu tranh chống chế độ quân chủ phong kiến mà còn lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân.
Đây là áng văn chính luận, cái đẹp của tác phẩm toát lên từ tính logic của lập luận, sự chính xác của tư liệu và sự kiện, cấu trúc chặt chẽ, câu văn ngắn gọn, sáng rõ và từ cảm xúc của tác giả - nghĩa là trên cơ sở kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm xúc và lý trí.
II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
1. Bố cục của bản Tuyên ngôn Độc lập
Bố cục của bản Tuyên ngôn Độc lậpphục vụ cho nhiệm vụ chung của toàn tác phẩm. Toàn văn bản có thể chia thành 3 đoạn:
- Đoạn 1 (từ đầu đến “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”): Trích dẫn hai bản tuyên ngôn nổi tiếng thế giới là Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776 và Tuyên ngônNhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 về quyền con người được hưởng tự do và độc lập để từ đó suy rộng ra quyền tự do, độc lập của các dân tộc. Đoạn này thể hiện nghệ thuật lập luận và sự uyên bác của tác giả. Để khẳng định tính chân lý của độc lập dân tộc, không gì tốt hơn là dựa vào những tuyên bố mang tính chân lý của các văn kiện nổi tiếng thế giới như hai bản tuyên ngôn đã được dẫn. Bởi lẽ chúng là tiếng nói chân lý khách quan, đã quen thuộc với nhiều người, nhất là đối với người phương Tây. Mặt khác, để có được nghệ thuật lập luận này, tác giả phải có học vấn uyên bác, đọc rộng, biết nhiều. Tác giả rõ ràng thể hiện không chỉ là một vị lãnh tụ có lòng yêu nước, thương dân mà còn có cả trí tuệ sắc sảo, học vấn uyên bác.
- Đoạn 2 (tiếp theo đến “lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”): Lên án tội ác nhiều mặt của thực dân Pháp xâm lược đã gây ra đối với nhân dân ta trong hơn 80 năm, tố cáo sự bất lực, vô trách nhiệm của Pháp trước đế quốc Nhật khi Nhật xâm chiếm Việt Nam năm 1940. Hai mạch lập luận này dẫn đến kết luận tất yếu là nhân dân ta đứng lên lấy lại đất nước từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp và tuyên bố “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”, nhân dân ta “đánh đỏ các xiềng xích thực dân gần 100 năm” (tức Pháp, Nhật) “đánh đổ chế độ quan chủ” nhiều thế kỷ. Bản Tuyên ngôn Độc lậpvừa khẳng định nền độc lập, tự do của dân tộc vừa nêu tính chất của cuộc cách mạng “Dân chủ Cộng hòa”.
- Đoạn 3 (phần còn lại): Tuyên bố độc lập hoàn toàn đối với thực dân Pháp và tinh thần quyết đấu tranh để chống lại mọi âm mưu của thực dân Pháp, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Tác giả đã khẳng định vấn đề độc lập của Việt Nam là phù hợp với nguyên tắc bình đẳng dân tộc mà cộng đồng thế giới đã khẳng định qua các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn – Xan Phran-xi-xcô
Nhìn chung, mỗi đoạn giải quyết một vấn đề riêng, nhưng đều khẳng định quyền tất yếu được hưởng tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và quyết tâm bảo vệ nền độc lập ấy của các dân tộc.
2. Nghệ thuật lập luận
Một văn kiện có ý nghĩa chính trị trọng đại được xây dựng trên cơ sở những lập luận vững chắc, đanh thép, có sức thuyết phục; thể hiện trí tuệ sâu sắc và tình cảm yêu nước nồng nàn của tác giả.
a) Kết tội thực dân Pháp
Chú ý sơ đồ hình cây của lập luận về tội ác của thực dân Pháp. Mô hình lập luận này nêu lên nhận định tổng quát sau đó phát triển những lý lẽ chứng minh. “Bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”. Nhận định buộc tội này được làm rõ ràng các phương diện chính trị, kinh tế. Trong các phương diện này, lại có những ý nhỏ, cụ thể hóa.
- Về chính trị: Tác giả vạch trần bản chất chính trị phản động của thực dân Pháp: “chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”, “luật pháp dã man”, “lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc” hòng ngăn cản việc thống nhất nước ta, “lập ra nhà tù nhiều hơn trường học”, “thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta”, “thi hành chính sách ngu dân”, “dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược”.
- Về kinh tế: “Chúng bóc lột dân ta đến xương tủy” khiến cho nước ta nghèo nàn, lạc hậu; “Chúng độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng”, “Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý” làm cho dân ta bần cùng; “Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên”.
Nhận xét: Điều đáng chú ý là người viết đã đề cập đến tội ác của thực dân Pháp đối với tất cả mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam: từ dân cày, dân buôn, các nhà tư sản, công nhân cho đến trí thức (khi viết “nhà tù nhiều hơn trường học”, “ràng buộc dư luận”, “chính sách ngu dân”).
Một tội ác khác của thực dân Pháp bị vạch trần: Chúng tuyên bố “bảo vệ nước ta nhưng đã đầu hàng phát xít Nhật, trong thời gian 5 năm, “chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”. Bản tuyên ngôn chỉ rõ, từ năm 1940, “nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa”.
Tóm lại, ba lý lẽ vạch tội chính: tội ác chính trị, kinh tế và tội bán nước cho Nhật đưa đến kết luận thuyết phục “dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Chúng ta có đầy đủ căn cứ “tuyên bố thoát hẳn quan hệ thực dân Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
b) Tuyên bố độc lập
Đoạn thứ ba khẳng định lại bản chất của cuộc đấu tranh giành độc lập này là giành độc lập từ thực dân Pháp. Lời tuyên bố độc lập được khẳng định từ nhiều chiều. Trước hết là từ ý chí của nhân dân Việt Nam: “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”. Rồi nhìn từ phía cộng đồng quốc tế: khẳng định sự công nhận tất yếu của cộng đồng quốc tế vì các tổ chức quốc tế đã công nhận các nguyên tắc bình đẳng dân tộc; tổng hợp lại, dân tộc Việt Nam đã đấu tranh suốt hơn 80 năm chống thực dân pháp (khẳng định lại quyết tâm giành độc lập của nhân dân Việt Nam, lại đã đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm (lấy lại ý Việt Nam đứng trong trào lưu tiến bộ của cộng đồng quốc tế), “dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”.
Câu kết của bản Tuyên ngôn Độc lậpcũng tổng hợp các lý lẽ khác nhau: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
3. Hình tượng tác giả
Chủ tịch Hồ Chí Minh bộ lộ tình yêu nước, thương dân nồng nàn trong những dòng văn kết tội thực dân Pháp, nhất quán với tinh thần Người đã viết trong Bản án chế độ thực dân Pháp. Các từ ngữ nhân dân ta, đồng bào ta, nước nhà của ta, những người yêu nước thương nòi của ta, nòi giống ta, đồng bào ta nói rõ tình yêu nhân dân, đất nước vô bờ của Người. Mặt khác, lòng căm thù thực dân Pháp xâm lược cũng là một tình cảm mạnh mẽ, dứt khoát của tác giả. Bản Tuyên ngôn Độc lậpđược viết không chỉ với trí tuệ sắc sảo mà còn với tình cảm mãnh liệt, chân thành.
4. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ
Phần lớn các câu văn trong bản Tuyên ngôn Độc lậpngắn gọn, chắc nịch, sáng thích hợp với tinh thần khẳng định. Có những câu văn tự sự ngắn mà gọi không khí lịch sử khẩn trương: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo đại thoái vị”. Những câu bình luận chọn lọc, gọn gàng mà đanh thép: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Bản Tuyên ngôn cũng sử dụng thủ pháp liệt kê tạo ra lời buộc tội đanh thép nhiều chiều, toàn diện: chúng không cho…, chúng lập ra…, chúng ràng buộc…, chúng dùng…, chúng giữ… Chủ tịch Hồ Chí Minh phần lớn dùng mẫu câu khẳng định trực tiếp như: “…dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Tuy nhiên, khi cần thay đổi để các mẫu câu đa dạng hóa, phù hợp với đối tượng như khi hướng tới các nước Đồng minh, tác giả có thể dùng cách khẳng định bằng hai lần phủ định: không thể không công nhận – một cách nói khá phổ biến của người phương Tây,… Từ ngữ được sử dụng cũng mang cảm hứng khẳng định kiên quyết như: lẽ phải, sự thật, tuyệt đối, thẳng tay, kiên quyết, quyết không thể không công nhận, phải,…
Bản Tuyên ngôn Độc lập là mẫu mực hoàn chỉnh của văn bản chính luận.

0
phiếu
0đáp án
526 lượt xem
0
phiếu
0đáp án
593 lượt xem

Bài làm
        Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình. Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu như “ Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến với bài thớ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.
       Những sáng tác thơ của Nguyễn Duy sâu lắng và thấn đẫm cái hồn của ca dao, dân ca Việt Nam . Thơ ông không cố tìm ra cái mới mà lại khai thác, đi sâu vào cái nghĩa tình muôn đời của người Việt. “Ánh trăng” là một bài thơ như vậy.Trăng đối với nhà thơ có ý nghĩa đặc biệt: đó là vầng trăng tri kỉ, vầng trăng tình nghĩa và vầng trăng thức tỉnh. Nó như một hồi chuông cảng tỉnh cho mỗi con người có lối sống quên đi quá khứ.
Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức thuổi thơ của nhà thơ và trong chiến tranh:
“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”
       Hình ảnh vầng trăng đang được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của thuổi thơ. Hai câu thơ với vỏn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả một cách khái quát về sự vận động cả cuộc sống con người. Mỗi con người sinh ra và lớn lên có nhiều thứ để gắn bó và liên kết. Cánh đồng, sông và bể là nhưng nơi chốn cất giữ bao kỉ niệm của một thời ấâu thơ mà khó có thể quên được. Cũng chính nới đó, ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng. Với cách gieo vần lưng “đồng”, “sông” và điệp từ “ với” đã diễn tả tuổi thơ được đi nhiều, tiếp xúc nhiều và được hưởng hạnh phúc ngắm những cảnh đẹp của bãi bồi thiên nhiên cũa tác giả.Tuổi thơ như thế không phải ai cũng có được ! Khi lớn lên, vầng trăng đã tho tác giả vào chiến trường để “chờ giặc tới’.Trăng luôn sát cách bên người lính, cùng họ trải nghiệm sương gió, vượt qua những đau thương và khốc liệt của bom đạn kẻ thù. Người lính hành quân dưới ánh trăng dát vàng con đường, ngủ dưới ánh trăng, và cũng dưới ánh trăng sáng đù, tâm sự của những người lính lại mở ra để vơi đi bớt nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà. Trăng đã thật sự trởø thành “tri kỉ” của người lính trong nhưng năm tháng máu lửa.
       Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở về những năm tháng đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước hiền hậu, bình dị. Vầng trăng đù, người bạn tri kỉ đó, ngỡ như sẽ không bao giờ quên được:
“Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”
Vần lưng một lần nữa lại xuất hiện: “trần trụi”, “hồn nhiên”, “thiên nhiên” làm cho âm điệu câu thơ thêm liền mạch, dường như nguồn cảm xúc cũa tác giả vẫng đang tràn đầy. Chính cái hình ảnh so sánh ẩn dụ đã tô đâm lên cái chất trần trụi, cái chất hồn nhiên của người lính trong nhữnh năm tháng ở rừng. Cái vầng trăng mộc mạc và giản dị đó là tâm hồn của những người nhà quê, của đồng, của sông. của bể và của những người lính hồn nhiên, chân chất ấy. Thế rồi cái tâm hồn - vầng trăng ấy sẽ phài làm quen với môt hoàn cảnh sống hoàn toàn mới mẻ:
“Từ hồi về thành phố
quen ánh điện, cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường”
       Thời gian trôi qua cuốn theo mọi thứ như một cơn lốc, chỉ có tình cảm là còn ở lại trong tâm hồn mỗi con người như một ánh dương chói loà. Thế nhưng con người không thể kháng cự lại sự thay đổi đó.Người lính năm xưa nay cũng làm quen dần với những thứ xa hoa nơi “ánh điện, cửa gương”. Và rồi trong chính sự xa hoa đó, người lính đã quên đi người bạn tri kỉ của mình, người bạn mà tưởng chừng chẳng thể quên được, “người tri kỉ ấy” đi qua ngõ nhà mình nhưng mình lại xem như không quen không biết. Phép nhân hoá vầng trăng trong câu thơ thật sự có cái gì đó làm rung động lòng người đoc bởi vì vầng trăng ấy chính là một con người. Cũng chính phép nhân hoá đó làm cho người đọc cảm thương cho một “người bạn” bị chính người bạn thân một thời của mình lãng quên. Sự ồn ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật chất thường nhật khác đã lôi kéo con gười ra khỏi những giá trị tinh thần ấy, một phần vô tâm của con người đã lấn át lí trí của người lính, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ. Con người khi được sống đầy đủ về mặt vật chất thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền tảng cơ bản củacuộc sống, đó chình là tình cảm con người. Nhưng rồi một tình huống bất ngờ xảy ra buộc người lính phải đối mặt:
“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn -đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”
       Khi đèn điện tắt, cũng là khi không còn được sống trong cái xa hoa, đầy đủ về vật chất, người lính bỗng phải đối diện với cái thực tại tối tăm. Trong cái “thình lình”, “đột ngột” ấy, người lính vôi bật tung cửa sổ và bất ngờ nhận ra một cái gì đó. Đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là người bạn tri kỉ năm xưa của mình đây hay sao? Con người ấy không hề biết được rằng cái người bạn tri kỉ, tình nghĩa, người bạn đã bị anh ta lãng quên luôn ở ngoài kia để chờ đợi anh ta. “Người bạn ấy” không bao giờ bỏ rơi con người, không bao giờ oán giận hay trách móc con người vì họ đã quên đi mình. Vầng trăng ấy vẫn rất vị tha và khoan dung, nó cũng sẵn sàng đón nhận tấm lòng của một con người biết sám hối, biết vươn lên hoàn thiện mình. Cuộc đời mỗi con người không ai có thể đóan biết trước được. Không ai mãi sống trong một cuộc sống yên bình mà không có khó khăn, thử thách. Cũng như một dòng sông, đời người là một chuỗi dài với những qunh co, uốn khúc . Và chính trong những khúc quanh ấy, những biến cố ấy, con người mới thật sự hiểu được cái gì là quan trọng, cái gì sẽ gắn bó với họ trong suốt hành trình dài và rộng của cuộc đới. Dường như người lính trong bài thơ đã hiểu được điều đó!
“Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng”
     Khi người đối mặt với trăng, có cái gì đókhiến cho người lính áy náydù cho không bị quở trách một lời nào. Hai từ “mặt” trong cùng một dòng thô: mặt trăng và mặt người đang cùng nhau trò chuyện . Người lính cảm thấy có cái gì “rưng rưng” tự trong tận đáy lòng và dường như nước mắt đang muốn trào ra vì xúc động trước lòng vị tha của người bạn “tri kỉ” của mình . Đối mặt với vầng trăng, bỗng người lính cảm thấy như đang xem một thước phim quay chậm về tuổi thơ của mình ngày nào, nới có “sông” và có “bể” .Chính những thước phim quay chậm ấy làm người lính trào dâng nhưng nỗi niềm và ngững giọt nước mắt tuôn ra tự nhiên, không chút gượng ép nào! Những giọt nước mắt ấy đã phần nào làm cho người lính trở nên thanh thản hơn, làm tâm hồn anh trong sáng lại. Một lần nữa những hình tượng trong tuổi thơ và chiến tranh được láy lại làm sáng tỏ những điều mà con người cảm nhận được. Cái tâm hồn ấy, cái vẻ đẹp mộc mạc ấy không bao giờ bị mất đi, nó luôn lặng lẽ sống trong tâm hồn mỗi con người và nó sẽ lên tiếng khi con người bị tổn thương. Đoạn thơ hay ở chất thơ mộc mạc, chân thành, ngôn ngữ bình dị mà thấm thía, những hình ảnh đi vào lòng người.
Vầng trăng trong khổ thớ thứ ba đã thực sự thức tỉnh con người:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kề chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”
       Khổ thơ cuối cùnh mang tính hàm súc độc đáo và đạt tới chiều sâu tư tưởng và triết lí. “Trăng tròn vành vạnh” là vẻ đẹp của trăng vẫn viên mãn, tròn đầy và không hề bị suy suyển dù cho trải qua biết bao thăng trầm. Trăng chỉ im lặng phăng phắc, trăng không nói gì cả, trăng chỉ nhìn, nhưng cái nhìn đó đủ khiến cho con người giật mình. Ánh trăng như một tấm gương để cho con người soi mình qua đó, để con người nhận ra mình để thức tỉnh lương tri. Con người có thể chối bỏ, có thể lãng quên bất cứ điều gì trong tâm hồn anh ta . Nhưng dù gì đi nũa thì những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc cũng luôn vậy bọc và che chởù cho con người.
        “Ánh trăng” đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ như một lời nhắc nhở đối với mỗi người: Nếu ai đã lỡ quên đi, đã lỡ đánh mất những giá trị tinh thần qúy giá thì hãy thức tỉnh và tìmlại những giá trị đó. còn ai chưa biết coi trọng những giá trị ấy thì hãy nâng niu những kí ức quý giá của mình ngay từ bây giờ, đừng để quá muộn. Bài thơ không chỉ hay về mắt nội dung mà cón có những nét đột phá trong nghệ thuật. Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, các chữ đầu dòng thơ không viết hoa thể hiện những cảm xúc liền mạch của nhà thơ. Nhịp thơ biến ảo rất nhanh, giọng điệu tâmtình đã gấy ấn tượng mạnh trong lòng người đọc.
Sưu tầm 

0
phiếu
0đáp án
2K lượt xem

       Trải qua bao năm tháng “Truyền Kiều” của Nguyễn Du vẫn l­u dấu trong tâm khảm bạn đọc không chỉ bởi ngôn ngữ trong sáng ,các biện pháp tu từ điêu luyện mà còn bởi tác phẩm có những câu thơ hay nhất,đẹp nhất,tiêu biểu cho bút pháp tả ng­ười của tác giả: 
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
                                                                     (Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”)
      Bốn câu thơ-28 chữ mà giống như 28 viên ngọc bằng ngôn ngữ toả sáng lấp lánh trong cả trang thơ.Vừa chiêm ngưỡng dáng hình mảnh dẻ thanh tao và tâm hồn trắng trong như tuyết của hai người con gái đầu lòng nhà ông bà Vương viên ngoại, người đọc chợt sững sờ tr­ước bức chân dung giai nhân được hé lộ bằng những đ­ường nét đầu tiên:
Vân xem trang trọng khác vời
       Dòng thơ giới thiệu khái quát đủ để người đọc cảm nhận vẻ đẹp cao sang, quí phái của Thuý Vân,để rồi liền sau đó,như một nhà nhiếp ảnh tài ba,Nguyễn Du hướng ống kính của mình vào từng đường nét cụ thể trên gương mặt của người con gái:
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

      Mỗi câu thơ là một nét vẽ tài hoa về bức chân dung giai nhân, từng đường nét dường như đều là một kì công của tạo hoá,gương mặt tròn đầy,tươi sáng dịu hiền như ánh trăng,đôi mày dài thanh thoát,miệng cười tươi thắm như hoa,tiếng nói trong như ngọc,mái tóc đen,mềm,óng ả hơn mây,làn da trắng mịn màng hơn tuyết…Tả về nàng, Nguyễn Du phải tìm đến hoa,lá,ngọc,vàng,mây,tuyết-những báu vật tinh khôi trong trẻo của đất trời mới lột tả hết vẻ yêu kiều của người con gái ấy.
Vẫn là bút pháp ước lệ với những hình t­ượng quen thuộc nhưng khi tả Vân ngòi bút Nguyễn Du lại có chiều hướng cụ thể hơn lúc tả Kiều.Cụ thể trong thủ pháp liệt kê:khuôn mặt,đôi mày,làn da,mái tóc…Cụ thể trong việc sử dụng từ ngữ để làm nổi bật vẻ đẹp riêng của đối t­ượng:“đoan trang”,“nở nang”,“đầy đặn”.Những biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ,nhân hoá đều nhằm thể hiện vẻ đẹp trung thực, phúc hậu mà quí phái của người thiếu nữ.Điều kì diệu ở đoạn thơ này là Nguyễn Du đã miêu tả chân dung Thuý Vân là chân dung mang tính cách,số phận.Vẻ đẹp của nàng hoà hợp,êm đềm với xung quanh,được thiên nhiên yêu thương,nhường nhịn:“mây thua”;“tuyết nh­ường”nên nàng sẽ có một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ, êm ấm và một tương lai tươi sáng đón chờ.
       Đoạn thơ khép lại sau khi đã hoàn thiện trong tâm khảm bạn đọc hình ảnh một nàng Thuý Vân sắc nước hương trời bằng ngôn ngữ thơ tinh luyện, những nét vẽ có thần,hàm xúc, gợi cảm,các biện pháp tu từ được vận dụng tài tình.Hàm ẩn đằng sau bức chân dung mĩ nhân là cả một tấm lòng quí mến trân trọng,ngợi ca con người mà đặc biệt là người phụ nữ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.
       Đọc đoạn thơ,tìm hiểu kĩ về đoạn thơ, càng kính phục Nguyễn Du em càng trân trọng sự tinh tế trong ngôn ngữ Tiếng Việt.Bất giác em mong muốn được thay vài chữ trong câu thơ lúc sinh thời của đại thi hào dân tộc để diễn tả những suy nghĩ của mình: 
“Nhiều trăm năm lẻ về sau nữa
Thiên hạ mãi còn nhớ Tố Như”
0
phiếu
0đáp án
984 lượt xem

     Nhà thơ Huy Cận đã từng gọi bài thơ Đoàn thuyền đánh cá (1958) của mình là "khúc tráng ca". Quả đúng như­ vậy, bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi vẻ đẹp khoẻ khoắn của con ngư­ời lao động trong sự hài hoà với vẻ đẹp tráng lệ của thiên nhiên kì vĩ. Không còn thấy dấu vết của một "nỗi buồn thế hệ" cô đơn, li tán đã từng dằng dặc, triền miên trong thơ ông hồi tr­ớc Cách mạng tháng Tám. Đây là cảnh sông nước trong Tràng giang - một trong những bài thơ tiêu biểu của Huy Cận giai đoạn ấy:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về n­ước lại, sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Còn đây:
Mặt trời xuống biển như­ hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng
Cá thu biển Đông nh­ư đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt l­ưới ta, đoàn cá ơi!

      Đó là sự khác nhau của hai nguồn sống, ở hai giai đoạn sống của một tâm hồn. Đoàn thuyền đánh cá là hình ảnh của cuộc sống mới, cuộc sống mà ngư­ời ta tìm thấy niềm tin vui bất diệt trong lao động.
      Bài thơ miêu tả trọn vẹn một đêm lao động trên biển của đoàn thuyền đánh cá. Hai khổ thơ đầu là cảnh ra khơi. Khung cảnh thiên nhiên được phác hoạ ít nét mà vẫn cho ta cảm nhận được vẻ chắc nịch, thấm đậm không khí khẩn trư­ơng của một buổi xuất bến ra khơi. Hai câu thơ đầu gợi tả sự vận động của thời gian, mặt trời xuống biển, những con sóng gợn những nét ngang luân chuyển qua lại như then cửa và mặt trời xuống đến đâu, cánh cửa đêm như đư­ợc kéo xuống đến đó. Khi những ánh sáng mặt trời tắt hẳn cũng là lúc "sóng đã cài then", "đêm sập cửa". Đúng thời điểm ấy, trong không gian của một đêm đã bắt đầu ấy, thênh thênh vút lên, bừng sáng tiếng hát của người­ dân. Không phải ánh sáng toát lên từ cánh buồm trắng trong một buổi mai nh­ ở Quê h­ương của Tế Hanh: 

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
(...)
Cánh buồm giương to nh­ư mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...

      Mà là ánh sáng của thanh âm, của khúc hát lãng mạn cất lên từ lòng tin, tình yêu lao động, của sắc cá bạc đan dệt thành. Những vần trắc trong khổ thơ đầu (lửa, cửa, khơi, khơi) hoà điệu cùng khúc hát, rất có giá trị trong việc gợi tả vẻ thoáng đạt, sáng láng ấy. Một cách tự nhiên, những vần thơ mở đầu hút ng­ười đọc vào không khí lao động của người­ dân lúc nào không hay.

      Bốn khổ thơ tiếp theo là cảnh lao động trên biển đêm. Những khổ thơ này tập trung nhiều hình ảnh tráng lệ, vẻ tráng lệ đã đ­ược gợi ra từ đầu bài thơ với hình ảnh "Mặt trời... như­ hòn lửa". Đến đây, cảnh đánh cá đêm trên biển đ­ợc miêu tả hết sức sinh động. Đó là những động từ mạnh mẽ (lái gió, lướt, dàn đan, quẫy, kéo xoăn tay,...), là những hình ảnh gợi tả cái kì vĩ, lớn lao (mây cao, biển bằng, dặm xa, bụng biển, thế trận, vây giăng, đêm thở), là những sắc màu lộng lẫy, rực rỡ như­ trẩy hội, và cả những nét thơ mộng, bay bổng (buồm trăng, lấp lánh đuốc đen hồng, trăng vàng choé, sao lùa, vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông, nắng hồng,...). Vẻ đẹp của biển trời hoà quyện với vẻ đẹp của con người lao động dệt lên bức tranh tráng lệ, rạo rực sức sống, rạng rỡ vẻ đẹp giàu say lòng ng­ời. Có lẽ không ở đâu lại có được cái nguồn sống bất tận diệu kì của biển Đông hơn ở những câu thơ này:

Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, 
Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé,
Đêm thở: sao lùa n­ớc Hạ Long.

Chỉ một hình ảnh "Đêm thở" mà ta như­ thấy cả màn đêm phập phồng, thấy cả gió, cả sóng nư­ớc. Theo nhịp thở của vũ trụ, ngàn con sóng dồn đuổi ánh lên những đợt vàng sáng lấp lánh của vẩy cá phản chiếu ánh trăng, của sao... Thật huyền diệu!
      Cá đã đầy khoang, lấp loá trong ánh rạng đông cũng là lúc đoàn thuyền kết thúc một đêm lao động. Buồm lại căng lên đón ánh nắng sớm. Khổ thơ cuối là cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá:

Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

     Lại một sự hoà quyện tuyệt vời giữa thiên nhiên và con ngư­ời. Vẻ đẹp của bài thơ bừng lên trong ánh sáng huy hoàng, ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của sức lao động đã thành thành quả, của niềm vui lao động chân chính.
      Nhìn lại toàn bộ bức tranh mà tác giả đã miêu tả trong bài thơ, ta càng thấy rõ hình ảnh con người vừa làm chủ tự nhiên (Ra đậu dặm xa dò bụng biển - Dàn đan thế trận l­ưới vây giăng), vừa phô vẻ đẹp hoà quyện cùng thiên nhiên (Thuyền ta lái gió với buồm trăng - L­ướt giữa mây cao với biển bằng; Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời). Trong sự hài hoà ấy, vũ trụ cũng đư­ợc cảm nhận với sự vận động theo nhịp sống của con ngư­ời: Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Đúng như­ nhà thơ Huy Cận đã bày tỏ:
      "Khung cảnh trên biển khi mặt trời tắt không nặng nề tăm tối mà mang vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật trong qui luật vận động tự nhiên của nó. ở đây, tôi đã miêu tả khung cảnh tạo vật với cảm hứng vũ trụ. Nếu trư­ớc cách mạng, Vũ trụ ca còn buồn thì bây giờ vui, trước là tách biệt, xa cách với cuộc đời thì hôm nay, lại gần gũi với con ngư­ời. Bài thơ của tôi là cuộc chạy đua giữa con người và thiên nhiên, và con ng­ười đã chiến thắng. Tôi coi đây là một khúc tráng ca, ca ngợi con người trong lao động với tinh thần làm chủ, với niềm vui".

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
441 lượt xem

BÀI LÀM

        Tiếng gọi nơi hoang dã (1903) là một trong những tác phẩm nổi tiếng của G. Lân-đân. Truyện là kết qủa của những chuyến đi cùng với cùng với các nhóm tìm vàng lên tận miền bắc Ca-na-đa gần Bắc cực. Tiếng gọi nơi hoang dã kể về số phận con chó Bấc. Bấc là một chú chó nhà khoẻ mạnh tinh khôn. Nó bị bắt cóc đưa lên vùng Bắc cực để kéo xe trượt tuyết cho những người đi tìm vàng. Bấc đã phải qua tay nhiều ông chủ tàn bạo, độc ác. Chỉ có Giôn Thoóc-tơn là ông chủ duy nhất thương yêu nó và cảm hoá được nó. Nhóm tìm vàng của Thoóc-tơn cùng lũ chó tiến sâu mãi vào núi rừng miền Bắc hoang vu, lạnh lẽo. Sống giữa thiên nhiên hoang dại, khắc nghiệt, tiếng gọi của rừng thẳm, của tổ tiên hoang dã cứ thức dậy trong lòng Bấc. Dần dần nó đã trở thành một con chó to lớn hung dữ, ranh ma, chỉ thờ phụng riêng mình Thoóc-tơn. Nhưng rồi Thoóc-tơn và cả nhóm chết thê thảm trong rừng. Không cò gì có thể níu giữ Bấc với con người, nó mãi mãi đi theo tiếng gọi hoang dã của bầy sói rừng và trở thành một con sói thần khủng khiếp. Truyện hấp dẫn người đọc bởi cảnh thiên nhiên miền Bắc hoang dã, khắc nghiệt, dữ dội, đầy bí ẩn, bởi "xã hội" những người đi tìm vận may ở vùng đất bốn mùa tuyết phủ. Một xã hội có cả người mạnh mẽ, tự tin, dũng mãnh và nhân từ như Thoóc-tơn, có cả những kẻ tham lam, ngu xuẩn và độc ác như Han. Nhưng truyện còn đặc biệt hấp dẫn bởi những trang miêu tả đời sống tình cảm loài chó vừa sát thực, vừa sinh động. Do đâu mà tác giả có được những trang miêu tả đời sống "tâm hồn" con chó Bấc như đoạn trích trong sách giáo khoa Ngữ văn 9 ? Chính là do khả năng quan sát tinh tế của nhà văn.
       G. Lân-đân không nhân cách hoá các con chó của ông. Ông chỉ miêu tả chúng một cách chính xác, tinh tế, tỉ mỉ. Những biểu hiện tình cảm của các con chó trong đoạn trích là của chung loài chó, nhưng nhà văn, với tài quan sát của mình vẫn thấy chúng khác nhau. Xơ-kít, Ních, Bấc đều yêu mến, trung thành với Thoóc-tơn, nhưng mỗi con có một biểu hiện riêng. Cô ả Xơ-kít thì thích được chủ vuốt ve, âu yếm. Nó "có thói quen thọc cái mũi của nó vào dưới bàn tay của Thoóc-tơn rồi hích, hích mãi cho đên khi được vỗ về". Còn con Ních biểu lộ tình cảm sôi nổi vụng về hơn "thường chồm lên, tì cái đầu to tướng của cu cậu lên đầu gối Thoóc-tơn. Đặc biệt, mọi hành động, mọi biểu hiện của Bấc được tác giả quan sát và miêu tả vô cùng tỉ mỉ, tinh tường. Dường như Bấc cũng có các cung bậc tình cảm như con người. Khi thì Bấc "bật dậy trên hai chân, miệng cười, mắt long lanh, họng rung lên những âm thanh không thốt nên lời...". Ấy là lúc chú ta sung sướng ngây ngất khi được Thoóc-tơn đùa với nó, mắng yêu nó. Cũng có khi Bấc bộc lộ tình cảm như một đứa trẻ con: "Nó thường hay há miệng ra cắn lấy bàn tay Thooc-tơn rồi ép răng xuống mạnh đến nỗi vết răng hằn vào da thịt một lúc lâu". Ấy là những lúc tình cảm của Bấc dành cho Thoóc-tơn phá bờ tràn ra mãnh liệt. Thật thú vị khi ta đọc những câu miêu tả sự tôn thờ của Bấc đối với Thoóc-tơn. Sự miêu tả ấy đúng hành động của loài chó mà chúng ta thường thấy, nhưng không nhận ra hết ý nghĩa của nó. Chỉ đến khi đọc đoạn trích Con chó Bấc chúng ta mới hiểu được "loài khuyển mã chí tình" này : "Nó thường nằm phục ở chân Thoóc- tơn hàng giờ, mắt háo hức tỉnh táo nhìn lên mặt anh, chăm chú xem xét, hết sức quan tâm theo dõi từng biểu hiện thoáng qua, mọi cử động hoặc thay đổi trên nét mặt.", và "tình cảm của Bấc ngời lên qua ánh mắt toả rạng ra ngoài". Đặc biệt, tác giả đã hết sức nhạy cảm, tinh tế khi nhận xét : "Bấc không muốn rời Thoóc-tơn một bước. Từ lúc anh ra khỏi lều cho đến lúc anh quay trở về" chính là xuất phát từ nỗi sợ hãi bản năng, như là một dự cảm mơ hồ của Bấc về những nỗi hiểm nguy, về cả cái chết có thể ập đến với ông chủ bất cứ lúc nào. 
      Đó là nỗi sợ hãi mất Thoóc-tơn (mà sau này là sự thật thê thảm) : "Việc thay thầy đổi chủ luôn xoành xoạch từ khi nó đến vùng đất phương bắc đã làm nảy sinh trong lòng nó nỗi lo sợ là không người chủ nào có thể gắn bó lâu dài. Nó sợ Thooc-tơn lại cũng biến khỏi cuộc đời nó như Pê-rôn và Phơ-răng-xoa và hai anh chàng người lai Ê-cốt dã đi qua rồi biến mất trước đây. Ngay cả ban đêm, trong các giấc mơ, nó cũng bị nỗi lo sợ này ám ảnh. Những lúc ấy, nó vội vùng dậy không ngủ nữa, trườn qua giá lạnh đến tận mép lều, đứng đấy, lắng nghe tiếng thở đều đều của chủ". 
      Đoạn trích Con chó Bấc thể hiện óc quan sát tinh tế, tài miêu tả loài vật của G. Lân-đơn. Nhưng sức hấp dẫn người đọc của đoạn trích, cũng như của toàn bộ tiểu thuyết Tiếng gọi nơi hoang dã không phải là ở đó mà là con chó Bấc kì lạ làm thức dậy trong lòng ta những tình cảm con người trong sáng vị tha. Ai có lòng thương yêu bao dung loài vật chân thành, người đó ít có khả năng làm điều ác, sẽ sống cao đẹp, lương thiện với con người.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
431 lượt xem

         Truyện ngắn Bến quê ( in trong tập truyện ngắn cùng tên, xuất bản năm 1985) được xây dựng trên một nghịch lí khác, nghịch lí trong đường đời và cuộc đời của Nhĩ, nhân vật chính. Nhĩ là người đã đi đến không sót một xó xỉnh nào trên trái đất nhưng chẳng may mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo buộc phải dán chặt tấm thân trên chiếc phản gỗ và một lần được vợ đỡ ngồi dậy anh chợt nhận ra rằng cái bãi bồi bên kia sông anh chưa đặt chân đến bao giờ. Một nỗi thèm khát kì lạ đã đến với anh: anh muốn chiếm lĩnh cái không gian liền kề này nên đã nhờ Tuấn– đứa con trai học đại học tại một thành phố phía Nam vừa mới nghỉ hè trở về– thay anh đặt bước chân- vật chất thám hiểm bến sông . Anh muốn tận hưởng cái cảm giác “ chậm rãi đặt từng bước chân lên cái mặt đất dấp dính phù sa” ấy. 
      Từ lúc đứa con trai lộp bộp đôi dép sa bô xuống thang gác, anh hồi hộp, gắng gom góp sức tàn để theo dõi con đò mỗi ngày một chuyến đang chống sào tách khỏi chân bãi bồi bên kia để sang bên này và anh cũng kịp nhận ra rằng , thằng Tuấn con anh đã chậm chân vì nách vẫn kè kè cuốn sách dịch và mải sa vào một đám người chơi phá cờ thế trên hè phố. Thời gian được anh tính từng cái tích tắc, thế mà thằng Tuấn có hiểu được anh đâu. Nhưng làm sao hiểu được khi nó chưa đối diện với sự ngắn ngủi nghiệt ngã của thời gian như anh. Anh ‘ nghĩ một cách buồn bã, con người ta trên đường đời thật khó tránh khỏi được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình, vả lại nó đã thấy có gì đáng gọi là hấp dẫn ở bên kia sông đâu? Hoạ chăng chỉ có anh là người từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết vẻ giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, bởi lẽ không bao giờ giải thích hết.”
       Đường đời của nhân vật Nhĩ quả là đã được đo bằng các đơn vị lớn lao bằng vùng , miền , quốc gia , châu lục, đại dương và nhiệm vụ anh phải đảm nhiệm hẳn là rất quan trọng mang tầm quốc gia , dân tộc. Vậy mà giờ đây, anh phát hiện ra cái không gian trước mắt không quá một tầm nhìn từ cửa sổ nhà anh – chứ không hề là cái không gian vũ trụ trong tư thế “đăng cao , vọng viễn” gì cả, anh cũng không phải là người li hương gần suốt cả cuộc đời như Hạ Tri Chương xưa kia tóc đã điểm sương mới về quê cũ – mà lại xa lạ với cái gần gũi đến mức tự trách sao mình chưa đặt chân đến đó bao giờ. Trong tâm lí nhân vật, đây không phải là trạng thái nặng nề của sự cắn rứt lương tâm vì không có một dòng nào trong truyện phủ nhận những gì anh đã trải qua, đã sống và hiến dâng cho sự nghiệp chung. Đây chỉ là một niềm hối tiếc pha chút ân hận: sao trong những năm tháng trải bước khắp mọi phương trời, ta lại không một lần ngoái về để nhìn ra được vẻ đẹp của những gì thân quen , gần gũi nhất, nơi đã sinh ra ta , nuôi ta lớn thành người và sẽ là nơi ta nằm xuống mãi mãi trong lòng đất mẹ. Đó là bước thức nhận của tâm hồn và trí tuệ trên lộ trình dài dặc quanh co của đường đời . 
       Con người ấy , giờ đây muốn nằm , muốn ngồi đều cần sự nâng đỡ của vợ, con và những người hàng xóm đầy cảm thông và tốt bụng. Nhân vật đã thực hiện những phép so sánh đầy nghịch lí : “ Vừa nghe Tuấn nện lộp bộp đôi dép sa bô xuống thang, Nhĩ đã thu hết tàn lực lết dần, lết dần trên chiếc phản gỗ. Nhấc mình ra được bên ngoài phiến nệm nằm, anh tưởng như mình vừa bay được nửa vòng trái đất– trong một chuyến đi công tác ở một nước bên Mĩ La tinh hai năm trước. Anh vẫn chưa nhích đến được bên bậu cửa sổ. Anh phải nhờ bọn trẻ con nhà tầng dưới để đi hết “ nửa vòng trái đất” còn lại– từ mép tấm nệm nằm ra mép tấm phản, khoảng cách ước chừng năm phục phân để dõi nhìn ‘cái mũ cói rộng vành và chiếc sơ mi màu trứng sáo” xem nó có kịp chuyến đò ngang duy nhất trong ngày không?
       Cuộc đời Nhĩ, chưa phải là dài nhưng tuyệt đối không quá ngắn . Bằng chứng là thằng Tuấn – đứa con thứ hai của anh đã vào đại học tròn năm nhưng đến bây giờ là lần đầu tiên Nhĩ mới để ý thấy vợ mình – Liên– đang mặc tấm áo vá. Cảm thức mỗi ngày trôi qua với anh thật dài dằng dặc :

“Hôm nay đã là ngày thứ mấy rồi em nhỉ?”
“Anh cứ yên tâm. Vất vả , tốn kém đến bao nhiêu em với các con cũng chăm lo cho anh được”
Trong cảm thức của anh, thời gian còn lại thật vô cùng ngắn ngủi: “ Không khéo rồi thằng con trai anh lại trễ mất chuyến đò trong ngày”. “ Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát– y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó. Giây phút ấy ở Nhĩ còn khẩn cấp hơn cả tiếng gọi đò trên bến vắng My Lăng tự thuở nào: “ Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách/ Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng” ( bến My Lăng – Yến Lan).
      Quá trình tâm lí tư tưởng ấy diễn biến trong cái không gian nhỏ hẹp của tấm phản, căn phòng, khung cửa sổ. Bến sông quê cạnh nhà gần gũi thế nhưng sao mà xa cách trong tâm thế phát hiện lần đầu với nỗi vô vọng bất lực của nhân vật. Nó là không gian vi mô hiện lên trước cái nhìn cận cảnh trong sự đối sánh đầy chất đối nghịch với không gian vĩ mô tạo bỡi cái nhìn xa vào những chân trời quá khứ:
“– Anh cứ tập tành và uống thuốc cho đều. Sang tháng mười nhất định anh đi lại được
– Vậy thì đầu hoặc giữa tháng mười một, anh sẽ đi Thành phố Hồ Chí Minh một chuyến
– Đi thành phố Hồ Chí Minh thì chắc chẳng được nhưng anh có thể chống gậy đi trong nhà. Hoặc tiến triển tốt hơn, em có thể đỡ anh men cầu thang bước xuống một bậc…hoặc giả anh lại khoẻ hơn, chúng mình có thể bước xuống hai bậc
– Ừ , tưởng gì…nhất định đầu tháng mười anh sẽ đi ra được đến đầu cầu thang”
     Cùng với không gian ấy là sự đối chứng của thời gian thực tại ngắn ngủi– đời thường với thời gian đời người mà Nhĩ đã trải qua. Cái Bến quê được đặt trong tương quan không – thời gian đó. Nó là tất cả những phát hiện ấm áp tình người, tình đời của nhân vật mà cũng là của tác giả trước những gì thân quen nhất , thân yêu nhất, những gì hồn nhiên, gần gũi nhất, những gì là giàu có, đẹp đẽ nhất, thuần phác nhất và cổ sơ nhất của mảnh đất sinh thành ra ta và sẽ nhận ta về khi nhắm mắt xuôi tay.
     Bến quê theo ý nghĩa đó là một nhận thức sáng ngời của nhân vật về đường đời và cuộc đời. Nhưng thật oái oăm chính khi anh thức nhận ra được chân lí ấy thì anh lại không còn khả năng để thực hiện. Đó là sự bất lực của thực tiễn trước khát vọng đẹp đẽ lành mạnh như một yêu cầu tất yếu. Người đọc trân trọng Bến quê, trân trọng những suy ngẫm, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người và cuộc đời, thức tỉnh ở mọi người hãy trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình của quê hương.

Sưu Tầm
0
phiếu
0đáp án
504 lượt xem

Từ "Đồng chí" của Chính Hữu đến "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật

BÀI LÀM
 
     Chính Hữu sinh năm 1926. Năm 1946 nhập ngũ, là lính trung đoàn Thủ đô. Đầu 1948, bài thơ Đồng chí ra đời, khi ông là chính trị viên đại đội. Phạm Tiến Duật sinh năm 1941, năm 1964 gia nhập quân đội, hoạt động trên tuyến đường Trường sơn Bài thơ về tiểu đội xe không kính sáng tác năm 1969.
Hai ông thuộc hai thế hệ thi nhân nối tiếp nhau trong cuộc trường chinh chống ngoại xâm của dân tộc. Hai thi phẩm mà chúng ta đề cập là hai trong những tác phẩm tiêu biểu của mỗi thời kì văn học chống Pháp và chống Mĩ thể hiện hình tượng Anh bộ đội cụ Hồ. Cùng với Cá nước của Tố Hữu, Tây Tiến của Quang Dũng, Năm anh em trên một chiếc xe tăng của Hữu Thỉnh, Bầu trời vuông của Nguyễn Duy ..., người lính trong Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính là những hình ảnh tiêu biểu của thơ Việt Nam 1945 - 1975, sẽ còn sống mãi trong lòng người đọc. 
Đọc Đồng chí, cảm nhận chung của chúng ta là : người lính cách mạng trong kháng chiến chống Pháp xuất thân từ nông dân. Hình ảnh họ được Chính Hữu dựng lên chân thực, giản dị, cao đẹp. Khác khuynh hướng cảm hứng lãng mạn anh hùng với những hình ảnh thơ mang dáng dấp tráng sĩ trượng phu của thơ ca đầu chống Pháp, cảm hứng của Chính Hữu trong Đồng chí hướng về chất thực của đời sống, khai thác cái đẹp và chất thơ trong cái bình dị, bình thường của cuộc chiến đấu và người chiến sĩ. Cái đẹp trong khó khăn, thiếu thốn và nhất là đẹp trong tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu nặng.

Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
.....
Súng bên súng đầu gối bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí ! 

Đoạn mở đầu này có bảy dòng, theo ba cặp và cuối cùng dồn lại ở một từ : Đồng chí ! Một sự lí giải tình đồng chí của người lính. Đó là xuất phát từ sự giống nhau ở cảnh ngộ, xuất thân nghèo khó. Là cùng chung mục đích, lí tưởng, nhiệm vụ, chia sẻ gian lao (Súng bên súng đầu gối bên đầu ; Đêm rét chung chăn ...). Một chữ chung khiến những người vốn xa lạ thành đôi tri kỉ và cao hơn thành Đồng chí. 

Người xưa đánh giá tình bạn cao nhất bằng tình tri kỉ. Chính Hữu nhìn thấy ở Anh bộ đội cụ Hồ một thứ tình cảm còn sâu sắc hơn, gắn bó hơn - Tình đồng chí. Tình cảm này không phải chỉ vì cái chung lớn lao, mà là sự cảm thông sâu xa tâm tư, nỗi lòng của nhau. Là những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời chiến đấu ... Tất cả diễn đạt bằng lời không đủ. Bao nhiêu lời thân thương, trìu mến nhất cũng trở thành sáo rỗng, không chuyên trở nổi sức nặng cảm động giữa những người lính, người đồng đội. Vì thế đoạn thơ thứ hai, có mười dòng vẫn theo từng cặp tương ứng để cuối cùng dồn lại một hành động thay cho muôn lời “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.
Tình Đồng chí giữa những người lính vệ quốc, nói như Hồng Nguyên, người cùng thời :

Lũ chúng tôi 
Bọn người tứ xứ 
Gặp nhau hồi chưa biết chữ 
Quen nhau từ buổi một hai 
Súng bắn chưa quen 
Quân sự mươi bài 
Lòng vẫn cười vui kháng chiến ...

Hay nói như Chính Hữu :

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày ...
Cũng là tình của cha ông thuở mới nổi dậy chống Pháp hồi giữa thế kỉ XIX truyền lại. Tình của những “dân ấp, dân lân”, “Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn làm quen ; Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó” ( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu ). Những con người ấy vốn dĩ không đi vào cuộc chiến cam go, thiếu thốn này bằng óc lãng mạn. Nhưng cuộc chiến đấu trên chiến hào bảo vệ Tổ quốc đã khiến họ thành oai hùng, lãng mạn.

Bức tượng đài cuối bài thơ là sự phát triển tất yếu từ Tình đồng chí.

Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
       Đó là cuộc đời thực của những người lính nông dân nghèo khổ nơi “đất mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”, “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày” được tình cảm cách mạng cao đẹp tạc thành dáng hình mới - Dáng đứng Việt Nam ở thế kỉ XX.
      Nếu Đồng chí là hình ảnh Anh bộ đội cụ Hồ nông dân chưa biết chữ, “Gian nhà không mặc kệ nó lung lay”, thì người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật là một hoá thân khác . Hình ảnh người lính của Phạm Tiến Duật có thể xuất thân từ nông dân, công nhân hay tiểu tư sản... nhưng họ không phải là những người chiến sĩ như của Chính Hữu hay Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng trước đây. Không “áo rách vai, quần vài mảnh vá, chân không giày”, cũng không “người ra đi đầu không ngoảnh lại ; Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” hay “Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm - Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa” hoặc “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới - Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm”.
Họ là những người thanh niên học sinh đã qua hai chục năm dưới mái trường miền Bắc xã hội chủ nghĩa đi chiến đấu, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Một cuộc chiến tiếp nối kháng chiến chống Pháp nhưng dài lâu, ác liệt hơn, phải đương đầu với một đế quốc giàu có bậc nhất thế giới - Đế quốc Mĩ.
Người chiến sĩ trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính mang đặc điểm như đã nói trên nên tuy vẫn cùng bốn phương tụ hội nhưng không có chất tráng sĩ hào hoa xưa, cũng không có chất nông dân thuần phác xa cũ. Hình ảnh chiến sĩ trong bài thơ là hình ảnh hồn nhiên, trong sáng, vô tư của thế hệ thanh niên trí thức mới trong cả đoàn quân “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước - Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu).
       Họ - người chiến sĩ lái xe. “Những chiếc xe từ trong bom rơi ; Đã về đây họp thành tiểu đội”. “Không có kính rồi xe không có đèn ; Không có mui xe ...” vì “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Nên phải chịu bao nhiêu gian khổ : gió tự do, bụi tự do, mưa xối xả tự do hành hạ. Song :

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Những người chiến sĩ này, không phải là những số ít như trong bài thơ Đồng chí. Một hình ảnh đẹp nhưng cho ta cảm giác nhỏ nhoi, đơn lẻ, thương mến bên nhau trong tình đồng chí giữa “anh với tôi” trong cảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. (Quê hương anh ... Làng tôi ; Anh với tôi đôi người xa lạ, Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh ; Áo anh rách vai, Quần tôi có vài mảnh vá ... ).
      Tình đồng đội, đồng chí ở bài thơ của Phạm Tiến Duật có cái tên chung là : ta - chúng ta. Tất cả đều là đồng chí, trẻ, khoẻ, dũng cảm, bất chấp nguy hiểm. Hiên ngang một cách ung dung, đến ngang tàng.
Bởi vì thế hệ cha anh họ thành đồng đội, thành đồng chí nhưng đằng sau là hệ lụy của những lí lịch giai cấp vừa thoát khỏi đêm trường nô lệ. Còn hình ảnh người chiến sĩ chống Mĩ đã cắt đứt vô tư với lí lịch đau buồn kia. Là chủ nhân ông của một đất nước, một dân tộc kiêu hãnh sánh vai với các cường quốc năm châu.
      Anh hùng là hành vi; hào sảng là giọng điệu của những người chiến sĩ - đồng chí, đồng đội trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính.

Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi.

Nhưng :

Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng
- Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa,phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
- Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.
- Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. 
     Họ không cần nhiều tìm hiểu, không cần phải đồng cảnh ngộ, đồng tâm tư, tình cảm riêng như cha anh mới thành đồng chí trên chiến hào. Với họ “từ trong bom rơi” “họp thành tiểu đội”. Và “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời, Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. Rồi có thể chia tay : “Lại đi, lại đi trời xanh thêm”.
Nếu hình ảnh Người chiến sĩ trong Đồng chí là một bức tượng đài :

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Thì hình tượng Người chiến sĩ ở Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một phù điêu tổ hợp của những khuôn mặt trai trẻ hồn nhiên đến ngang tàng trong đoàn quân trảy hội chiến trường.
Đồng chí (Chính Hữu) và Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật) là hai tiêu điểm trong các tiêu điểm của Hình tượng người lính - Anh bộ đội cụ Hồ mà thơ ca dựng nên trong 30 năm chiến đấu gian khổ hi sinh cho đến ngày toàn thắng - 1975. Mỗi một hình ảnh thơ là một điểm sáng thẩm mĩ lấy chất liệu, tiếng nói đời thường làm nguồn cảm hứng và ngôn ngữ nghệ thuật.
       Nếu ví nền thơ Việt Nam đương đại như một bầu trời sao thì mỗi khi nhìn bầu trời ấy, ta không thể không thấy hai vì sao lấp lánh Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính.


Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
512 lượt xem
0
phiếu
0đáp án
357 lượt xem

A- Mở bài:

- Từ thế kỉ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu khủng hoảng, vấn đề số phận cong người trở thành mối quan tâm của văn chương, tiếng nói nhân văn trong các tác phẩm văn chươngngày càng phát triển phong phú và sâu sắc.
- Truyền kì mạn lục cảu Nguyễn Dữ là một trong số đó. Trong 20 thiên truyện của tập truyền kì, “chuyện người con gái Nam Xương” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho cảm hứng nhân văn của Nguyễn Dữ.

B- Thân bài:

1. Tác giả hết lời ca ngợi vẻ đẹp của con người qua vẻ đẹp của Vũ Nương, một phụ nữ bình dân

- Vũ Nương là con nhà nghèo (“thiếp vốn con nhà khó”), đó là cái nhìn người khá đặc biệt của tư tưởng nhân văn Nguyễn Dữ.
- Nàng có đầy đủ vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: thuỳ mị, nết na. Đối với chồng rất mực dịu dàng, đằm thắm thuỷ chung; đối với mẹ chồng rất mực hiếu thảo, hết lòng phụ dưỡng; đói với con rất mực yêu thương.
- Đặc biệt, một biểu hiện rõ nhất về cảm hứng nhân văn, nàng là nhân vật để tác giả thể hiện khát vọng về con người, về hạnh phúc gia đình, tình yêu đôi lứa:
+ Nàng luôn vun vén cho hạnh phúc gia đình.
+ Khi chia tay chồng đi lính, không mong chồng lập công hiển hách để được “ấn phong hầu”, nàng chỉ mong chồng bình yên trở về.
+ Lời thanh minh với chồng khi bị nghi oan cũg thể hiện rõ khát vọng đó: “Thiếp sở dĩ nương tựa và chàng vì có cái thú vui nghi gai nghi thất”
Tóm lại : dưới ánh sáng của tư tưởng nhân vănđã xuất hiện nhiều trong văn chương, Nguyễn Dữ mới có thể xây dựng một nhân vật phụ nữ bình dân mang đầy đủ vẻ đẹp của con người. Nhân văn là đại diện cho tiếng nói nhân văn của tác giả.

2. Nguyễn Dữ trân trọng vẻ đẹp của Vũ Nương bao nhiêu thì càng đau đớn trước bi kịch cuộc đời của nàng bấy nhiêu.

- Đau đớn vì nàng có đầy đủ phẩm chất đáng quý và lòng tha thiết hạnh phúc gia đình, tận tuỵ vun đáp cho hạnh phúc đó lại chẳng được hưởng hạnh phúc cho xứng với sự hi sinh của nàng:
+ Chờ chồng đằng đẵng, chồng về chưa một ngày vui, sóng gió đã nổi lên từ một nguyên cớ rất vu vơ (Người chồng chỉ dựa vào câu nói ngây thơ của đứa trẻ đã khăng khăng kết tội vợ).
+ Nàng hết mực van xin chàng nói rõ mọi nguyên cớ để cởi tháo mọi nghi ngờ; hàng xóm rõ nỗi oan của nàng nên kêu xin giúp, tất cả đều vô ích. Đến cả lời than khóc xót xa tột cùng “Nay đã bình rơi trâm gãy,… sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió,… cái én lìa đàn,…” mà người chồng vẫn không động lòng.
+ Con người ttrong trắng bị xúc phạm nặng nề, bị dập vùi tàn nhẫn, bị đẩy đến cái chết oan khuất
Bi kịch đời nàng là tấn bi kịch cho cái đẹp bị chà đạp nát tan, phũ phàng.

3. Nhưng với tấm lòng yêu thương con người, tác giả không để cho con người trong sáng cao đẹp như nàng đã chết oan khuất.
- Mượn yếu tố kì ảo của thể loại truyền kì, diễn tả Vũ Nương trở về để được rửa sạch nỗi oan giữa thanh thiên bạch nhật, với vè đẹp còn lộng lẫy hơn xưa.
- Nhưng Vũ Nương được tái tạo khác với các nàng tiên siêu thực : nàng vẫn khát vọng hạnh phúc trần thế (ngậm ngùi, tiếc nuối, chua xót khi nói lời vĩnh biệt “thiếp chẳng thể về với nhân gian được nữa”.
- Hạnh phúc vẫn chỉ là ước mơ, hiện thực vẫn quá đau đớn (hạnh phúc gia đình tan vỡ, không gì hàn gắn được).

4. Với niềm xót thương sâu sắc đó, tác giả lên án những thế lkực tàn ác chà đạp lên khát vọng chính đáng của con người.

- XHPK với những hủ tục phi lí (trọng nam khinh nữ, đạo tòng phu,…) gây bao nhiêu bất công. Hiện thân của nó là nhân vật Trương Sinh, người chồng ghen tuông mù quáng, vũ phu.
- Thế lực đồg tiền bạc ác (Trương Sinh con nhà hào phú, một lúc bỏ ra 100 lạng vàng để cưới Vũ Nương). Thời này đạo lí đã suy vi, đồng tiền đã làm đen bạc tình nghĩa con người.
Nguyễn Dữ tái tạo truyện cổ Vợ chàng Trương, cho nó mạng dáng dấp của thời đại ông, XHPKVN thế kỉ XVI.

C- Kết bài:
- “Chuyện người con gái Nam Xương” là một thiên truyền kì giàu tính nhân văn. Truyện tiêu biểu cho sáng tạo của Nguyễn Dữ về số phận đầy tính bi kịch của người phị nữ trong chế độ phong kiến.
- Tác giả thấu hiểu nỗi đau thương của họ và có tài biểu hiện bi kịch đó khá sâu sắc.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
525 lượt xem

I - TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả:
Nhà văn Nguyễn Thành Long (1925-1991), quê ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, viết văn từ thời kì kháng chiến chống Pháp. Ông là cây bút chuyên về truyện ngắn.
"Tập trung nhiệt thành ngợi ca những con người lao động mới, dám nghĩ, dám làm, không sợ khó khăn gian khổ, say mê trong lao động sáng tạo, nhân hậu và tha thiết yêu cuộc sống... Truyện của Nguyễn Thành Long hấp dẫn người đọc bằng văn trong sáng, giàu chất thơ, nhẹ nhàng thoải mái, cốt truyện tưởng như giản đơn mà rất giàu ý nghĩa khái quát. Lặng lẽ Sa Pa là một truyện ngắn tiêu biểu như thế. Truyện viết về một thị xã nhỏ bé của tỉnh Lào Cai luôn chìm đắm trong sương mù: Sa Pa. Đến với nơi ấy là những con người thật đẹp: một anh thanh niên làm công tác khí tượng thuỷ văn trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét, một cô kỹ sư nông nghiệp mới ra trường, một bác lái xe già đã chạy suốt 30 năm trên tuyến đường Sa Pa, một hoạ sĩ đi thực tế chuyến đi cuối của cuộc đời công tác trước lúc nghỉ hưu, bốn gương mặt tiêu biểu, bốn tính cách khác nhau: anh thanh niên đầy nhiệt huyết bộc trực, chân thành, cô kỹ sư trẻ hồn nhiên nhưng kín đáo, tế nhị, ông hoạ sĩ trầm tĩnh, sâu lắng, còn bác lái xe thì sôi nổi, vui tính... Họ tình cờ gặp nhau trên đường tới Sa Pa mà bỗng trở nên gần gũi và thân thiết như trong một gia đình. Tuy tính cách và nghề nghiệp khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một tâm hồn trong sáng, tinh tế, một suy nghĩ lành mạnh, sâu sắc, và nhất là họ có chung một thái độ sống, lao động, làm việc và cống hiến hết mình cho tổ quốc một cách vô tư, hồn nhiên, âm thầm và lặng lẽ. Đó là một truyện ngắn hay và tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Thành Long: nhẹ nhàng kín đáo mà rất sâu sắc và thấm đẫm chất thơ" (Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường, Sđd).

2. Tác phẩm:
- Nhà văn đã cho xuất bản nhiều truyện ngắn, trong đó nổi bật là các tập: Bát cơm Cụ Hồ (1955); Chuyện nhà chuyện xưởng (1962); Những tiếng vỗ cánh (1967); Giữa trong xanh (1972); Nửa đêm về sáng (1978); Lí Sơn mùa tỏi (1980); Sáng mai nào, xế chiều nào (1984); Lặng lẽ Sa Pa (1990),...
Ông đã được Giải thưởng Phạm Văn Đồng với tập truyện ký Bát cơm Cụ Hồ (1953).
- Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa được nhà văn Nguyễn Thành Long viết năm 1970, sau chuyến đi Lào Cai của tác giả. 
Thông qua một tình huống gặp gỡ bất ngờ giữa ông hoạ sĩ già, cô kĩ sư trẻ với anh thanh niên làm công tác ở trạm khí tượng trên đỉnh Yên Sơn thuộc Sa Pa, tác giả khẳng định vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng.
3. Tóm tắt:
Lặng lẽ Sa Pa có một cốt truyện đơn giản. Chỉ là cuộc hội ngộ giữa bốn người: ông hoạ sĩ già, cô kĩ sư¬ mới tốt nghiệp, bác lái xe và anh thanh niên phụ trách trạm khí tượng trên núi Yên Sơn. Tác giả không hề cho biết tên của các nhân vật. Qua cuộc hội ngộ của những con ngư¬ời "không có tên" ấy, hiện ra chân dung con người lao động thầm lặng, trên cái nền lặng lẽ thơ mộng của Sa Pa. Câu chuyện về cuộc hội ngộ chỉ diễn ra trong vòng ba m¬ươi phút, người hoạ sĩ chỉ kịp phác thảo bức chân dung của mình như¬ng chân dung của chàng thanh niên, của những con người đang cống hiến tuổi xuân, ngày đêm lặng lẽ làm việc thì đã hiện ra rõ nét. Chân dung ấy hiện ra trước hết qua sự giới thiệu của bác lái xe vui tính, qua sự quan sát, cảm nhận, suy ngẫm nhà nghề của bác hoạ sĩ, qua sự cảm nhận của cô gái trẻ và qua sự tự hoạ của chàng trai.
II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM
Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long nhẹ nhàng mà sâu sắc, thẫm đẫm chất thơ. Nhẹ nhàng, kín đáo như Sa Pa thành phố trong sư¬ơng, và cũng giàu sức sống với hoa trái ngát hương bốn mùa. Lặng lẽ mà không buồn tẻ, những con ngư¬ời nơi đây đang từng ngày thầm lặng cống hiến sức lực của mình, thầm lặng đem lại hương sắc cho cuộc sống. Đọc truyện ngắn này, chúng ta chúng ta có thể đồng cảm với nhau:
"Sa Pa không chỉ là một sự yên tĩnh. Bên dư¬ới sự yên tĩnh ấy, ngư¬ời ta làm việc!"
Theo lời giới thiệu của bác lái xe, cái con ng¬ười "cô độc nhất thế gian" là một thanh niên hai mươi bảy tuổi, làm công tác khí tư¬ợng kiêm vật lí địa cầu. Trong câu chuyện phác thảo chân dung của bác lái xe, đáng chú ý là chuyện "thèm ngư¬ời" của anh chàng "cô độc nhất thế gian" kia. Không phải anh ta "sợ người" mà lên làm việc ở đây, trái lại, anh ta từng chặt cây ngáng đư¬ờng ngăn xe dừng lại để được gặp người "nhìn trông và nói chuyện một lát". 

Qua cái nhìn của ngư¬ời hoạ sĩ, anh thanh niên hiện ra với "tầm vóc nhỏ bé, nét mặt rạng rỡ". Anh ta sống trong "Một căn nhà ba gian, sạch sẽ, với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm. Cuộc đời riêng của anh thanh niên thu gọn lại một góc trái gian với chiếc giư¬ờng con, một chiếc bàn học, một giá sách.". Một cuộc sống giản dị, ngăn nắp của một ng¬ười yêu đời, say mê công việc và không có vẻ gì của sự buồn chán.
Trong sự cảm nhận của cô kĩ sư¬ mới ra trư¬ờng, cuộc sống của người thanh niên là "cuộc sống một mình dũng cảm tuyệt đẹp", anh mang lại cho cô "bó hoa của những háo hức và mơ mộng ngẫu nhiên".
Nếu như¬ người hoạ sĩ lão thành mới chỉ ghi đư¬ợc "lần đầu gư¬ơng mặt của ngư¬ời thanh niên" thì chính những lời tâm sự của một kẻ "thèm ngư¬ời" khi được gặp người đã là một bức chân dung tự hoạ khá hoàn chỉnh. Chân dung là gì nếu không phải là những nét vẽ tinh thần, những nét gợi tả phẩm chất? Những nét tự hoạ của anh thanh niên về cả những con ngư¬ời đang làm việc như¬ anh khiến người hoạ sĩ già, dù đã trải nhiều chuyện đời phải suy ngẫm rất nhiều:
"Ngư¬ời con trai ấy đáng yêu thật, như¬ng làm cho ông nhọc quá. Với những điều làm cho ngư¬ời ta suy nghĩ về anh. Và về những điều anh suy nghĩ trong cái vắng vẻ vòi vọi hai nghìn sáu trăm mét trên mặt biển, cuồn cuộn tuôn ra khi gặp ngư¬ời."
Vậy những điều gì ở chàng thanh niên đã làm cho ngư¬ời hoạ sĩ già suy nghĩ và thậm chí làm thay đổi cả cái quan niệm về mảnh đất Sa Pa vốn có trong ông? 
Nỗi "thèm ngư¬ời" ở anh thanh niên không phải nỗi nhớ cuộc sống đông đúc, tiện nghi, an nhàn, như anh nói: "Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô thị thì xoàng". Người thanh niên hiểu rất rõ công việc của mình, chấp nhận sống trong hoàn cảnh buồn tẻ, cô độc để làm công việc "đo gió, đo mư¬a, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trư¬ớc thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu". Như¬ng con ng¬ười ấy không hề thấy buồn tẻ, cô độc. Cái sự "thèm người" của chàng thanh niên là lẽ bình th¬ờng của con ng¬ười, nhất lại là tuổi trẻ. Anh sống với triết lí: "khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình đư¬ợc?". Đư¬ợc làm việc có ích đối với anh thế là niềm vui. Hơn nữa công việc của anh gắn liền với công việc của bao anh em đồng chí khác ở những điểm cao hơn hoặc thấp hơn. Ngư¬ời hoạ sĩ đã thấy bối rối khi bất ngờ đư¬ợc chiêm ng¬ưỡng một chân dung đẹp đẽ đến thế: "bắt gặp một con ng¬ười nh¬ư anh là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nh¬ng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài". Và chắc chắn ông sẽ còn bối rối khi muốn dựng lên chân dung của Sa Pa. Bởi vì, trong sự tự hoạ của chàng trai còn hiện ra những chân dung khác nữa, cũng quên mình, say mê với công việc nh¬ư anh kĩ s¬ư ở vườn rau d¬ưới Sa Pa "Ngày này sang ngày khác... ngồi im trong vư¬ờn su hào, rình xem cách ong lấy phấn, thụ phấn cho hoa su hào...", nhà nghiên cứu sét mười một năm không rời xa cơ quan một ngày vì sợ có sét lại vắng mặt. Cái lặng lẽ của cảnh sắc Sa Pa thì cây cọ trên tay ngư¬ời hoạ sĩ có thể lột tả không mấy khó khăn, như¬ng cái không lặng lẽ của Sa Pa như¬ ông đã thấy qua những con ngư¬ời kia thì vẽ thế nào đây? Ngư¬ời hoạ sĩ nhận thấy rất rõ "sự bất lực của nghệ thuật, của hội hoạ trong cuộc hành trình vĩ đại là cuộc đời".
Người đọc có thể dễ dàng nhận thấy trong Lặng lẽ Sa Pa, có hai nhân vật hầu như¬ chỉ lặng lẽ nghe và suy ngẫm. Đó là ngư¬ời hoạ sĩ và cô kĩ sư¬ trẻ. Trước chàng trai trẻ trung yêu đời, hiểu và yêu công việc thầm lặng của mình, ngư¬ời hoạ sĩ nhận ra rằng Sa Pa, cái tên mà chỉ nghe đến "người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi", có những con ngư¬ời làm việc và lo nghĩ cho đất nư¬ớc. Thoạt đầu, đáp lại lời bác lái xe, ngư¬ời hoạ sĩ nói: "Thích chứ, thích lắm. Thế nào tôi cũng về ở hẳn đấy. Tôi đã định thế. Như¬ng bây giờ chư¬a phải lúc". Sau khi gặp, đư¬ợc nghe chàng thanh niên nói, được chứng kiến và hiểu cuộc sống của những con người đang làm việc thực sự, cống hiến thực sự, quan niệm của ngư¬ời hoạ sĩ đã thay đổi. Lúc chia tay, ngư¬ời hoạ sĩ già còn chụp lấy tay ngư¬ời thanh niên lắc mạnh và nói: "Chắc chắn rồi tôi sẽ trở lại. Tôi ở với anh mấy hôm đư¬ợc chứ?" Đây không chỉ là sự thay đổi trong cái nhìn về Sa Pa mà còn là sự thay đổi trong quan niệm của một nghệ sĩ về cuộc sống, về cái đẹp. Còn cô gái? Khi từ biệt, "Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng, như ngư¬ời ta trao cho nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay". Cô đã hiểu đư¬ợc nhiều điều từ cuộc sống, công việc của chàng trai. Có lẽ trong cái bắt tay ấy là niềm tin, là ý nghĩa đích thực của lao động, là cả sự thầm lặng cống hiến cho đời,... Những điều đó sẽ giúp cô vững vàng hơn trong những bước đầu tiên vào đời.
Nguyễn Thành Long đã cho ngư¬ời đọc thấy cái không lặng lẽ của Sa Pa. Với những nét vẽ mộc mạc, bức chân dung về mảnh đất trên cao ấy có sức ấm toả ra từ những bàn tay, khối óc đang từng ngày bền bỉ, thầm lặng cống hiến.

(sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
549 lượt xem

1. Trong ý đồ thiết kế và thực hiện chương trình dạy học Ngữ văn ở cấp THCS, thể loại là một tiêu chí quan trọng. Một trong những yêu cầu quan trọng của chương trình Ngữ văn THCS là hình thành ở HS những hiểu biết về các kiểu văn bản và nắm được các phương thức biểu đạt chủ yếu (tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận). Hầu hết các văn bản được lựa chọn để học là các tác phẩm văn học (hoặc đoạn trích tác phẩm), vì thế mỗi kiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn lại thuộc về một thể loại văn học nhất định(...) Những hiểu biết về thể loại có một ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với việc tiếp nhận, phân tích các tác phẩm có trong chương trình, mà còn cần thiết cho HS để đọc hiểu được các tác phẩm khác ngoài chương trình [4 tr186]. Như thế là bởi vì: Thể loại văn học là sự thống nhất giữa một loại nội dung và một dạng hình thức văn bản và phương thức chiếm lĩnh đời sống, là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm [5 tr300,301). Đọc hiểu văn bản phải đi từ dạng hình thức văn bản để cảm thụ phương thức chiếm lĩnh đời sống, rồi từ đó hiểu được nội dung, ý nghĩa, các khía cạnh tư tưởng nghệ thuật mà tác giả thể hiện qua văn bản; phải đi từ việc nắm bắt và sử dụng những thông tin có ngay trong văn bản (có ý kiến cho rằng đây là hoạt động đọc hiểu cấu trúc văn bản) đến những thông tin có trong bài (đọc hiểu nội dung văn bản), rồi cao hơn là khái quát liên hệ giữa những cái mà học sinh đã đọc với thế giới bên ngoài (đọc hiểu ý nghĩa văn bản). Có thể đồng tình với quan niệm cho rằng: tính chất của hoạt động đọc hiểu văn bản sẽ được quy định theo nguyên tắc đọc hiểu văn bản phù hợp với đặc điểm thể loại của văn bản [1 tr26]. Bài viết này góp phần thảo luận về phương hướng, phương pháp dạy đọc hiểu trích đoạn văn bản truyện ngắn Bến quê của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong chương trình Ngữ văn lớp 9 (kỳ 2). Việc làm này vừa là một thể nghiệm cụ thể vừa góp phần cung cấp những kinh nghiệm, phương pháp, kỹ năng có thể tích hợp thực hiện hiệu quả hơn ý đồ của chương trình Ngữ văn THCS nói chung.
2. Trước khi vận dụng kiến thức về đặc điểm loại thể để tìm hiểu văn bản tác phẩm, cần chú ý kiến thức về các thể loại văn học, đối với HS (THCS) không phải ở dạng lý thuyết mà gắn liền với các văn bản cụ thể [3 tr186], nghĩa là khi bước vào hoạt động đọc hiểu, HS chỉ có những kiến thức còn chưa thật khái quát, minh định về đặc điểm thể loại văn bản. Vả chăng, trong thực tế văn học, nhất là ở văn học hiện đại, mỗi tác phẩm thường không sử dụng duy nhất một phương thức biểu đạt mà phối hợp nhiều phương thức. Chẳng hạn trong tác phẩm truyện luôn có cả tự sự, miêu tả, biểu cảm và đôi khi cả nghị luận. Tuy nhiên, ở mỗi tác phẩm, vẫn nổi lên một hay vài phương thức biểu đạt chủ yếu, làm căn cứ để xác định và gọi tên thể loại của tác phẩm ấy [4 tr187]

Giáo viên không thể chỉ xuất phát từ những tri thức của bản thân mình - ở trình độ giáo viên - về đặc điểm thể loại tác phẩm, mà phải căn cứ vào tri thức và kinh nghiệm của HS, căn cứ vào tài liệu giáo khoa và các phương tiện dạy học bổ trợ khác liên quan đến văn bản mà HS có được để tiến hành dạy học văn bản. 
Cần căn cứ vào SGK, từng bước xác định thể loại của văn bản, gợi nhớ những đặc điểm thể loại này đã có trong kinh nghiệm kiến thức của học sinh, xác định sự thể hiện các đặc điểm thể loại của văn bản, từ đó hướng dẫn HS tiến hành các bước đọc hiểu cho phù hợp với điều kiện và mục tiêu dạy học văn bản.
Theo SGK cung cấp, ta có thể xác định trích đoạn văn bản Bến quê thuộc thể loại truyện hiện đại. Cách xác định này được gợi ý ngay ở phần kết quả cần đạt của bài 27: “Cảm nhận được ý nghĩa của triết lý về cuộc đời con người mà tác giả gửi gắm trong truyện Bến quê. Thấy và phân tích được những đặc sắc nghệ thuật của truyện” [3 tr100; chúng tôi nhấn mạnh các từ gạch chân]. Đó dù sao cũng chỉ là một gợi ý. HS đọc văn bản có thể căn cứ vào đặc điểm của hiện tượng đời sống được miêu tả trong tác phẩm, phương thức chiếm lĩnh thực tại của tác giả, cách thức tổ chức tác phẩm và lời văn - tức là căn cứ vào những tiêu chí để phân chia, nhận dạng thể loại tác phẩm - để xác định Bến quê là văn bản truyện (nhận thức và thể hiện đời sống qua kể lại chuỗi các biến cố, sự kiện, hành động liên quan đến các nhân vật; lời văn xuôi bao gồm các yếu tố thuật kể). Tính chất hiện đại của văn bản truyện Bến quê có thể được nhận biết qua lời chú thích về tác giả tác phẩm [3 tr106,107]. Từ những nhận biết ban đầu này, có thể gợi HS nhớ lại các kiến thức sâu hơn, cụ thể hơn về đặc điểm thể loại biểu hiện thực tế trên văn bản. Trong thực tế văn học, nhất là ở văn học hiện đại, mỗi tác phẩm thường không sử dụng duy nhất một phương thức biểu đạt mà phối hợp nhiều phương thức. Chẳng hạn trong tác phẩm truyện chú ý tới điểm [4 tr187] nêu trên; “Các thể truyện (truyện ngắn, tiểu thuyết) tuy có sự tiếp nối các thể tương tự trong văn học trung đại, nhưng đã có sự đổi mới sâu sắc về mọi phương diện. Đề tài được mở rộng, hướng đến mọi mặt của đời sống xã hội và con người, không bị gò bó vào mục đích giáo huấn đạo lý. Nghệ thuật tự sự và miêu tả có những đổi mới rất cơ bản, từ sự đa dạng và có thể thay đổi điểm nhìn, vai kể, đến vai trò của người kể chuyện, từ việc sử dụng nhiều thủ pháp miêu tả đến sự đổi mới về ngôn ngữ, câu văn. Nhân vật trong truyện hiện đại được nhìn nhận và miêu tả trong tính cách cá thể, nghĩa là mang đặc điểm, tính cách, tâm trạng và số phận của từng cá nhân, cố nhiên vẫn phải có tính tiêu biểu, nhưng không bị quy vào một cách giản đơn chỉ những kiểu, loại như nhân vật trong truyện dân gian hay phần lớn truyện trung đại” [3 tr199]. Đó sẽ là những tiền đề hiểu biết về đặc điểm thể loại được sử dụng làm cơ sở để tiến hành đọc hiểu văn bản thuận lợi và hiệu quả hơn. Liên hệ đến truyện hiện đại Bến quê, cũng từ những gợi ý trong SGK, có thể thấy trong văn bản truyện ngắn này có cả “tình huống nghịch lý” [3 tr100], nhân vật Nhĩ “trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình, ở cảnh ngộ bị buộc chặt vào giường bệnh” [3 tr107], có cả những đoạn miêu tả (người, cảnh vật: dòng sông, con thuyền, bãi bồi), biểu cảm (dòng nội tâm nhân vật - tr100; niềm khao khát - của nhân vật [3 tr107], những suy ngẫm, trải nghiệm của nhà văn về cuộc đời và con người [3 tr108]; cả những bàn luận triết lý (qua ngôn ngữ và giọng điệu giàu chất suy tư, hình ảnh biểu tượng - [3 tr100]). Đề tài của Bến quê không chủ yếu hướng ra các hiện tượng của đời sống bên ngoài cuộc đời, mà quan tâm miêu tả thể hiện dòng nội tâm của nhân vật [3 tr100] - thế giới tâm hồn, thế giới tinh thần bên trong bề sâu con người, giúp người đọc quan sát, cảm nhận, từ đó mà suy ngẫm về cuộc đời con người, “thức tỉnh ở mọi người sự trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình, của quê hương” [3 tr108]. Nhân vật của Bến quê “được nhìn nhận và miêu tả trong tính cách cá thể, nghĩa là mang đặc điểm, tính cách, tâm trạng và số phận của từng cá nhân, cố nhiên vẫn phải có tính tiêu biểu” - Nhĩ vừa là một người đang trong cơn thập tử nhất sinh, một người chồng, một ông bố, một người bình thường trong khu phố bờ sông, vừa là hình tượng tiêu biểu cho những nghịch lý của loại người từng trải, “đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ”, “đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất”, nhưng lại “chưa hề bao giờ đi đến cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình” [3 tr101]. Và những kiến thức chung nhất về nhân vật trong truyện hiện đại có thể gợi ý HS cảm thụ và nhận xét về các nhân vật khác trong tác phẩm. Có thể với HS, những khái niệm điểm nhìn, vai kể không dễ hiểu và vận dụng, nhưng SGK cũng có gợi ý “Nhĩ đã nhìn thấy những gì qua khung cửa sổ” [3 tr107]; và nếu HS đọc kỹ văn bản, sẽ thấy điểm nhìn, vai kể (qua đó hình tượng của tác phẩm được miêu tả, kể lại, hiện lên) được chuyển đổi khá linh hoạt: từ nhân vật Nhĩ (là chủ yếu), rồi vợ anh - Liên; người kể chuyện; ông cụ giáo Khuyến, và nghệ thuật trần thuật như vậy làm cho hình tượng cuộc sống, con người trong văn bản trở nên sinh động gần gũi, trở nên “thật” hơn, gây ấn tượng hơn, thuyết phục hơn...
3. Sau khi đã có những định hướng - cảm nhận về thể loại văn bản tác phẩm, có thể từ những kiến thức chung về thể loại, từ các cấp độ ngôn từ của văn bản tái hiện cấu trúc tự sự, đi sâu cảm thụ, phân tích những giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản, chuẩn bị cơ sở cho bài dạy học đọc hiểu văn bản trên lớp.
Việc cảm nhận ranh giới và ý nghĩa của từng yếu tố và cấp độ yếu tố chỉnh thể văn bản, chỉnh thể thế giới nghệ thuật trích đoạn đòi hỏi người tiếp nhận phải đọc kỹ tác phẩm. Theo đặc điểm thể loại truyện, cần nắm vững, từ đó lý giải ý nghĩa và giá trị tư tưởng, nghệ thuật các sự việc, các chi tiết về cuộc sống, con người mà tác giả đã hư cấu và trình bày trong văn bản.
Mở đầu đoạn trích văn bản là cái nhìn và suy nghĩ của Nhĩ về cảnh vật xung quanh. Nhĩ đang trong hoàn cảnh ốm nặng, đang như một đứa trẻ, được vợ bón từng thìa thức ăn, rồi để cho con trai cầm chiếc khăn bông tẩm nước ấm khẽ lau miệng, cằm và hai bên má cho mình. Anh quan sát và suy nghĩ về những bông hoa bằng lăng cuối mùa còn sót lại trên cành; cảm nhận những thay đổi của thời tiết (không khí và ánh sáng nóng nắng của mùa hè đã dịu đi, không hầm hập và loa loá chói như trước); về mặt sông và màu nước sông Hồng, “về những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông, và cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông Hồng lúc này đang phô ra (...) một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non - những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ”. Cảnh vật hiện qua cái nhìn chính là cách để tác giả thể hiện dòng suy nghĩ của nhân vật - có cả những cảm nhận, cả những trăn trở, tự đối thoại, cả cụ thể và khái quát vừa gợi lên hình tượng Bến quê, vừa dẫn đến những dòng tự ý thức của nhân vật Nhĩ về nghịch lý đáng tiếc của đời mình, về trạng thái sức khoẻ bi đát của mình... (“Ngoài cửa sổ ... tím thẫm như bóng tối”). 
Những lời tiếp theo của người trần thuật kể về cuộc đối thoại của vợ chồng Nhĩ, vừa tiếp tục thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ bi đát của Nhĩ (hình ảnh bờ đất lở dốc đứng của bờ bên này “đêm đêm cùng với con lũ nguồn đã bắt đầu dồn về, những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ”, câu hỏi về thời gian - gợi biểu tượng về sự lo lắng...), những nhận biết ân hận của Nhĩ về người vợ suốt đời tần tảo, những tếu táo đùa cợt để an ủi vợ...; vừa khắc họa hình ảnh Liên - người phụ nữ nhạy cảm, nhân hậu, hết lòng chăm sóc, động viên chồng (“Chờ khi đứa con trai... bậc gỗ mòn lõm”).

Rồi tới chuyện người cha sắp từ giã cõi đời khẩn khoản nhờ con trai thực hiện điều ham muốn cuối cùng của mình, như là cố gắng mà Nhĩ có thể còn làm được để sửa chữa những khiếm khuyết mà anh vừa tự nhận ra: nhờ người con trai ngày càng có nhiều nét giống bố thay anh qua đò, đặt chân lên bờ bên kia; anh con trai miễn cưỡng thực hiện (“Chờ Liên xuống tầng dưới rồi ... giắt vào người mấy đồng bạc”).
Nửa cuối của văn bản tác phẩm là những cảm nhận, suy nghĩ của Nhĩ khi anh cố lết ra phía cửa sổ để nhìn xem đứa con trai thực hiện điều anh mong mỏi thế nào (Thằng bé vẫn cắp cuốn sách bên nách đang sà vào một đám người chơi phá cờ thế; Nhĩ buồn bã nghĩ về những giới hạn, thói tật mà con người trên đường đời thật khó tránh được; phức hợp tâm trạng mê say pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích nổi khi Nhĩ nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp hằng có của cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ; khi anh liên tưởng tới những nét tần tảo và chịu đựng hy sinh như có từ bao đời xưa nơi người vợ, nơi gia đình mà Nhĩ tìm thấy được nơi nương tựa sau nhiều ngày tháng bôn tẩu, tìm kiếm...). Phần này cũng có những chi tiết kể về tình cảm và sự giúp đỡ của những đứa trẻ, những người hàng xóm với Nhĩ... 
Như vậy, trong cấu trúc tự sự của văn bản có hai lớp sự việc, hiện tượng đan xen lẫn nhau: lớp sự việc, hiện tượng bề ngoài là những cảnh vật, đối thoại, hành động kể về Nhĩ và những người thân trong gia đình, những người hàng xóm - chuyện về một người ốm; và lớp sự việc, hiện tượng bên trong là những cảm nhận, suy tư của nhân vật Nhĩ - một người từng trải, người từng có nhiều kinh nghiệm sống - về quê hương, về bản thân và vợ con trong gia đình, về cuộc sống và con người. Trọng tâm của hình tượng nghệ thuật không phải ở lớp sự việc, hiện tượng bề ngoài. Lớp sự việc, hiện tượng bề ngoài chỉ đóng vai trò khêu gợi, dắt dẫn hay làm rõ cái nhìn và tâm trạng của nhân vật. Cả hai lớp sự việc, hiện tượng ấy đều nhằm làm rõ những nhận xét, suy nghĩ về cuộc sống, con người mà tác giả muốn chuyển đến bạn đọc. Hai lớp sự việc, hiện tượng ấy được tạo nên bởi sự lựa chọn, sáng tạo và kết hợp các chi tiết hư cấu, được tái hiện qua cái nhìn đan xen của các nhân vật (chủ yếu là của Nhĩ, ngoài ra còn có thể kể đến cái nhìn của Liên, cụ giáo Khuyến hàng xóm, của người kể chuyện). Dạy đọc hiểu văn bản thực chất là hướng dẫn hoạt động tiếp nhận của học sinh, từ văn bản ngôn từ mà tái hiện thế giới hình tượng nghệ thuật, nắm được cách thức tổ chức ngôn từ và hình tượng, từ đó khám phá ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.

4. Trên cơ sở những điều vừa trình bày, chúng tôi thử nêu lên tiến trình dạy học đọc hiểu văn bản, các nội dung, yêu cầu khi dạy - học đọc hiểu văn bản này.
1. Phần giới thiệu tác giả, tác phẩm: HS căn cứ vào SGK
2. Xác định thể loại văn bản tác phẩm: GV nêu câu hỏi, hướng dẫn để HS trả lời (Câu hỏi: Hãy xác định thể loại của văn bản Bến quê? Gợi ý trả lời: Dựa vào các thông tin đã có trong SGK; vào hình thức ngôn từ (văn xuôi); cách thức xây dựng và tổ chức hình tượng của tác phẩm (câu chuyện về nhân vật Nhĩ và các nhân vật khác...). Trả lời: đây là văn bản thuộc loại tác phẩm tự sự; do đó muốn hiểu tác phẩm, phải thông qua việc đọc văn bản, tái hiện và cảm nhận ý nghĩa, giá trị các chi tiết đời sống, con người được tác giả hư cấu, sáng tạo).
3. Văn bản trần thuật lại câu chuyện về nhân vật nào? Có thể tách câu chuyện ấy thành mấy sự việc? (Trả lời: Văn bản chủ yếu trần thuật lại câu chuyện về nhân vật Nhĩ. Có thể tách câu chuyện ấy thành 4 sự việc nối tiếp theo trật tự thời gian: suy nghĩ của Nhĩ khi ngồi để vợ con chăm sóc; câu chuyện của vợ chồng Nhĩ; chuyện Nhĩ nhờ con trai sang bên kia sông; những hành động và suy nghĩ của Nhĩ sau khi con trai anh rời khỏi nhà. Các nhân vật khác chỉ là nhân vật phụ).
- Sự việc 1: tâm trạng của Nhĩ khi ngồi để vợ con chăm sóc (ứng với câu hỏi 1 và 2 trong SGK). Gợi ý để HS tập hợp những chi tiết làm rõ hoàn cảnh và tình huống truyện: Nhĩ ốm nặng (ngồi để cho vợ bón từng thìa thức ăn, rồi ngửa mặt như một đứa trẻ để con trai lau miệng, cằm và hai bên má); hướng ra bên ngoài (nghiêng mặt ra ngoài cửa sổ, thấy những bông hoa bằng lăng cuối cùng còn sót lại, nhận ra sự thay đổi của thời tiết, cảm nhận “những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ” của “cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông H?ng” trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà anh); tự thấm thía một nghịch cảnh của bản thân “Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất, đây là một chân trời gần gũi, mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình”. Chú ý nghệ thuật trần thuật qua điểm nhìn nhân vật vừa dựng truyện, vừa có tác dụng miêu tả tâm trạng; hình ảnh giàu tính biểu tượng về những bông hoa, về vùng bãi bồi ven sông; nghệ thuật đối lập làm nổi bật tình huống truyện (nghịch cảnh mà Nhĩ tự cảm nhận, bộc lộ).
- Sự việc 2: câu chuyện của vợ chồng Nhĩ “sau khi đứa con trai đã bưng thau nước xuống nhà dưới”. GV hướng dẫn HS tìm hiểu những câu hỏi, lời nói, cái nhìn đầy tâm trạng của Nhĩ; thái độ và những câu trả lời của người vợ. Những chi tiết ấy làm rõ hơn trạng thái bi đát về sức khoẻ của Nhĩ, vốn đã được kể ở đoạn đầu văn bản (phiến lưng đã có nhiều mảng da thịt vừa chai cứng vừa lở loét của Nhĩ; bờ đất lở dốc đứng của bờ bên này, và đêm đêm cùng với con lũ nguồn đã bắt đầu dồn về, những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ gợi những vất vả, tốn kém mà vợ con Nhĩ đang cùng anh gánh chịu; thời điểm “tháng mười” trong những câu gượng đùa của Nhĩ); tiếp tục triển khai việc miêu tả tâm trạng Nhĩ (những cảm động, ân hận của Nhĩ trước tình cảm hết lòng chăm sóc của vợ con, khi lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá). Kể lại sự việc này, có lẽ tác giả chủ yếu muốn xây dựng một hình tượng nghệ thuật để người đọc cảm nhận về phẩm chất truyền thống, vẻ đẹp tiêu sơ, tần tảo, bình dị của những người vợ (những cảm nhận tinh tế, nhạy bén về tâm trạng của chồng, những ngón tay gầy guộc, tấm áo vá, những lời động viên an ủi chồng, dặn dò con, việc đi lại dọn dẹp, hãm thuốc, tiếng bước chân rón rén quen thuộc suốt cả một đời người đàn bà trên những bậc gỗ mòn lõm...). Những chi tiết này sẽ còn láy lại ở sự việc 4 như những nét tiêu biểu cho vẻ đẹp và giá trị của gia đình, quê hương.
- Sự việc 3: chuyện Nhĩ nhờ con trai sang bên kia sông, chủ yếu được trần thuật từ điểm nhìn người kể chuyện, qua ngôn từ đối thoại và một vài chi tiết miêu tả. Đây là sự việc chuyển tiếp để triển khai mạch tâm trạng của Nhĩ, tô đậm tư tưởng của tác phẩm. Tuy nhiên, GV có thể gợi ý để HS tìm hiểu ý nghĩa giàu chất triết lý của các chi tiết: Tuấn ham đọc sách (nhưng lại không hiểu được tâm trạng và mong muốn của cha, chưa hiểu được những uẩn khúc của cuộc đời); Nhĩ thấy con ngày càng giống mình (sự lặp lại giữa các thế hệ); lời yêu cầu khẩn khoản của Nhĩ (biết mình sắp từ giã cõi đời, muốn được nhờ con bù đắp một khiếm khuyết bao năm qua mà anh vừa thức nhận - đây cũng là một khao khát và hành động hợp lý, phản ánh một quy luật phổ biến của đời người); thái độ hờ hững, ngạc nhiên của Tuấn nghe và trả lời, rồi miễn cưỡng thực hiện mong muốn của người cha (thể hiện khoảng cách giữa hai thế hệ). 

- Sự việc 4: những hành động và suy nghĩ của Nhĩ sau khi con trai anh rời khỏi nhà. GV gợi ý để HS nhận ra trên văn bản và ý nghĩa của các chi tiết: Nhĩ thu hết sức lực, và nhờ sự giúp đỡ của lũ trẻ hàng xóm, ngồi gần cửa sổ để có thể quan sát đứa con trai sang bãi bồi bên kia sông (khát vọng thực hiện mong muốn sửa chữa những khiếm khuyết; sự vô tư giúp đỡ của lũ trẻ; thức nhận của Nhĩ về hoàn cảnh của mình...); cảnh con đò ngang sang sông, chuyện Tuấn không có mặt trong đám người chờ đò vì đang sà vào một đám người chơi phá cờ thế trên hè phố (gợi tương quan giữa cuộc đời và con người); suy nghĩ, tâm trạng của Nhĩ (nhớ lại những kỷ niệm cuộc đời mình, hiểu điều gì đang hấp dẫn thằng Tuấn, điều gì đang khiến Tuấn có thể lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày; những suy nghĩ buồn bã về thói thường của con người trên đường đời, niềm mê say pha lẫn nỗi ân hận đau đớn khi thức nhận vẻ đẹp và những giá trị giản dị mà giàu có, sâu sắc của quê hương và gia đình); Nhĩ tưởng tượng mình đang được đặt chân lên vùng bãi bồi và lời thăm hỏi của cụ giáo Khuyến kéo Nhĩ lại với những gì đang xảy ra trong thực tế (mâu thuẫn tưởng tượng với thực tế); hành động của Nhĩ đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại, khoát khoát tay y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó (vừa thể hiện nhân vật Nhĩ, vừa giàu ý nghĩa biểu tượng: “thức tỉnh mọi người về những cái vòng vèo, chùng chình mà chúng ta đang sa vào trên đường đời, để dứt ra khỏi nó, để hướng tới những giá trị đích thực, vốn rất giản dị, gần gũi và bền vững” [1 tr25]).
Các sự việc 1, 2, 3, 4 vừa tách rời, độc lập tương đối (để thể hiện những khía cạnh ý nghĩa; chẳng hạn sự việc 2 tạo cảm nhận về người vợ; sự việc 3 tạo cảm nhận về người con) vừa kế tiếp nhau, thống nhất với nhau (để tạo nên ấn tượng chung, làm nổi bật tư tưởng cơ bản của tác phẩm: thức nhận về những nghịch lý, những giá trị của cuộc đời). Văn bản chứa nhiều yếu tố miêu tả tâm trạng, cảm xúc của các nhân vật, đặc biệt là của Nhĩ, nhưng đó là cách kể lại, dựng lại nhân vật, rất khác với cách thể hiện trực tiếp tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong loại tác phẩm trữ tình. Các chi tiết, hình ảnh, hành động, lời nói, tâm trạng được trần thuật ở các sự việc nhằm tạo nên tính liên tục của truyện, nhưng chủ yếu được chọn lựa, kết hợp nhằm thể hiện nổi bật và ấn tượng cách nhìn và quan niệm của tác giả, khêu gợi cảm nhận, suy nghĩ của người đọc về ý nghĩa đời sống, con người, về Bến quê (Theo tôi, nhan đề tác phẩm cũng là một yếu tố rất đáng quan tâm tìm hiểu khi đọc hiểu văn bản. SGK chưa hướng HS chú ý đến yếu tố này). 
5. Đọc hiểu văn bản tự sự chính là qua văn bản để khám phá các chức năng nghệ thuật và ý nghĩa được hàm chứa trong các cấp độ chi tiết cũng như trong chỉnh thể câu chuyện được trần thuật trong văn bản, chính là “đọc để nắm bắt chuỗi các sự việc xung quanh nhân vật, từ đó đánh giá tính chất xã hội của sự việc và nhân vật” [1 tr26]. (Tuy nhiên, HS thường cảm thụ các chi tiết và câu chuyện trong tác phẩm như các chi tiết và câu chuyện ngoài cuộc đời, ít chú ý đến chức năng và ý nghĩa nghệ thuật như là cơ sở, mục đích đã khiến tác giả hư cấu, sáng tạo ra các chi tiết và câu chuyện như vậy). Có thể nói đây là một quá trình vô cùng phong phú, đa dạng, nếu như không muốn nói là vô tận. Đặc thù của đọc hiểu văn bản trong nhà trường là: trên cơ sở thực tế đối tượng HS, thời lượng của chương trình, GV có thể phân phối thời gian để HS tiến hành các hoạt động đọc hiểu khi soạn bài ở nhà; khi thảo luận trên lớp (Với văn bản Bến quê, HS tự tìm hiểu các mục 1, 2 khi soạn bài; trên lớp thảo luận về cấu trúc tự sự của văn bản, thảo luận các mục còn lại, chủ yếu là các mục 5, 6, 7). Mặt khác, GV có thể gợi ý và hướng HS nắm bắt những giá trị tư tưởng và nghệ thuật phù hợp với trình độ và lứa tuổi, chứ không phải là tất cả những gì mà tác phẩm hàm chứa, mà khả năng của GV có thể cảm nhận (chẳng hạn, cần giúp HS trước hết nắm bắt ý nghĩa các hình tượng Liên, Tuấn, lũ trẻ hàng xóm, từ đó hiểu được ý nghĩa của hình tượng nhân vật Nhĩ với những suy tư giàu chất triết lý về con người và cuộc đời...).
0
phiếu
0đáp án
284 lượt xem

I.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
1.Tác giả ( 1920 – 1989 )
- Chế Lan Viên tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan , quê ở Quảng Trị nhưng lớn lên ở Bình Định. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Chế Lan viên đã nổi tiếng với phong trào Thơ mới vớ tập thơ “ Điêu tàn”. Với hơn 50 năm sáng tác, có những tìm tòi sáng tạo ở những tập thơ gây được tiếng vang trong công chúng. Chế Lan Viên là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ hiện đại Việt Nam thế kỉ XX. Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
- Thơ Chế Lan Viên có phong cách nghệ thuật rõ nét và độc đáo. Đó là phong cách suy tưởng triết lí, đậm chất trí tuệ và tính hiện đại.
- Chế Lan Viên có nhiều sáng tạo trong nghệ thuật xây dựng hình ảnh thơ. Hình ảnh thơ của ông phong phú đa dạng, kết hợp giữa thực và ảo, thường được sáng tạo bằng sức mạnh của liên tưởng, tưởng tượng, nhiều bất ngờ kì thú.

- Tác phẩm chính: Điêu tàn ( 1938 ), Ánh sáng và phù sa ( 1960 ), Hoa ngày thường – Chim báo bão ( 1967 ), Hái theo mùa ( 1977 ), Hoa trên đá ( 1984 )…
2.Bài thơ Con cò được sáng tác năm 1962, in trong tập Hoa ngày thường – Chim báo bão ( 1967 ) của Chế Lan Viên. Từ hình tượng con cò trong ca dao, bài thơ đã thể hiện những cảm xúc và suy tưởng sâu xa về tình mẹ và ý nghĩ lời hát ru trong cuộc đời của mỗi con người.

II.Phân tích bài thơ
1.Một số điểm cần lưu ý
- Con cò là bài thơ thể hiện khá rõ một số nét của phong cách nghệ thuật Chế Lan Viên. Bài thơ khai thác và phát triển hình ảnh con cò trong những câu hát ru rất quen thuộc, để ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa của lời ru đối với cuộc đời của mỗi người. Tình mẫu tử là đề tài rất xa xưa nhưng không bao giờ cũ. Người ta cũng đã nói nhiều về ý nghĩa và vai trò của hát ru đối với tuổi thơ và cả cuộc đời con người. Hát ru vốn rất quen thuộc và tự nhiên với các bà mẹ trong mỗi gia đình. Nhưng ngày nay nó đã trở nên khó khăn với không ít những người mẹ trẻ, và điều đó là một thiệt thòi đáng kể đối với trẻ thơ.Bài thơ của Chế Lan Viên được viết khá lâu ( 1962 ), vẫn nhắc nhở một cách thấm thía về tình mẹ và vai trò của những lời hát ru.
- Hình tượng bao trùm cả bài thơ là hình tượng con cò được khai thác từ trong ca dao truyền thống. Trong ca dao, hình ảnh con cò xuất hiện rất phổ biến và được dùng với nhiều ý nghĩa, mà thông dụng nhất là ý nghĩa ẩn dụ. Con cò là hình ảnh người nông dân, người phụ nữ trong cuộc sống còn nhiều vất vả, nhọc nhằn nhưng giàu đức tính tốt đẹp và niềm vui sống.
2.Phân tích bài thơ
a.Đoạn 1: Hình ảnh con cò qua những lời ru bắt đầu đến với tuổi ấu thơ.
- Hình ảnh con cò được gợi ra trực tiếp từ những câu ca dao dùng làm lời hát ru. ở đây tác giả chỉ lấy lại vài chữ trong mỗi câu ca dao nhằm gợi nhớ những câu ấy. Những câu ca dao được gợi lại đã thể hiện ít nhiều sự phong phú trong ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh con cò trong ca dao. Con cò ở đây tượng trưng cho những con người, cụ thể là người mẹ, người phụ nữ nhọc nhằn vất vả, lặn lội kiếm sống.
- Qua những lời ru của mẹ, hình ảnh con cò đã đến với tâm hồn tuổi ấu thơ một cách vô thức. Đây chính là sự khởi đầu con đường đi vào thế giới tâm hồn con người của những lời ru, của ca dao dân ca, qua đó là cả điệu hồn dân tộc và nhân dân. Ở tuổi ấu thơ, đứa trẻ chưa hiểu và cũng chưa cần hiểu nội dung ý nghĩa của những lời ru này, chúng chỉ cần được vỗ về trong những âm điệu ngọt ngào, dịu dàng của lời ru để đón nhận bằng trực giác, vô thức tình yêu và sự che chở của người mẹ. Đoạn thơ khép lại bằng hình ảnh thanh bình của cuộc sống:
Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ!
Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân
b.Đoạn 2: Hình ảnh cánh cò từ trong lời ru đã đi vào trong tiềm thức của tuổi thơ, trở nên gần gũi thân thiết và sẽ theo cùng con người đến suốt cuộc đời.Ở đây, hình ảnh con cò trong ca dao đã tiếp tục sự sống của nó trong tâm thức con người. Hình ảnh con cò được xây dựng bằng sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú của nhà thơ, như được bay ra từ những câu ca dao để sống trong tâm hồn con người, theo cùng và nâng đỡ con người trong mỗi chặng đường đường. Như thế, hình ảnh con cò đã gợi ý nghĩa biểu tượng về lòng mẹ, về sự dìu dắt, nâng đỡ đầy dịu dàng và bền bỉ của người mẹ.
- Cánh cò đã trở thành bạn đồng hành của con người trên suốt chặng đường đời từ tuổi ấu thơ trong nôi:
Con ngủ yên thì cò cũng ngủ
Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi
- Tuổi tới trường:
Mai khôn lớn, con theo cò đi học
Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân
- Tuổi trưởng thành:
Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ
Trước hiên nhà
Và trong hơi mát câu văn

- Đến đoạn 3 thì ình ảnh con cò được nhấn mạnh ở ý nghĩa biểu tượng cho tấm lòng người mẹ, lúc nào cũng ở bên con đến suốt cuộc đời:
Dù ở gần con
Dù ở xa con
Lên rừng xuống bể 
Cò sẽ tìm con
Cò mãi yêu con

- Từ sự thấu hiểu tấm lòng người mẹ, nhà thơ đã khái quát một qui luật của tình cảm của ý nghĩa bền vững, rộng lớn và sâu sắc:

Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con 

- Phần cuối bài thơ trở lại với âm hưởng lời ru và đúc kết ý nghĩa phong phú của hình tượng con cò trong những lời ru ấy
Một con cò thôi
Con cò mẹ hát
Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi

3.Đặc điểm nghệ thuật của bài thơ 
- Thể thơ: Sử dụng thể thơ tự do, nhưng có nhiều câu mang dáng dấp thể tám chữ. Giọng điệu của bài thơ còn là giọng suy ngẫm, có cả triết lí. Nó làm cho bài thơ không lôi cuốn người ta vào hắn điệu ru ái, đều đặn, mà hướng tâm trí nhiều hơn vào sự suy ngẫm, phát hiện.
- Nghệ thuật sáng tạo hình ảnh: Hình ảnh trong ca dao chỉ là nơi xuất phát, là điểm tựa cho những liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo mở rộng của tác giả. Đặc điểm chung của hình ảnh trong bài thơ này là thiên về ý nghĩa biểu tưởng mà nghĩa biểu tượng không phải chỗ nào cũng thật rành mạch, rõ ràng. Nhưng những hình ảnh biểu tượng trong bài thơ lại gần gũi, rất quen thuộc mà vẫn có khả năng hàm chứa những ý nghĩa mới và có giá trị biểu cảm.

0
phiếu
0đáp án
537 lượt xem

Ả Lý - Nàng Oanh. 
Trích từ câu :

Dâng thư đã thẹn nàng Oanh 
Lại thua ả Lý bán mình hay sao ?

Nàng oanh

Đời nhà Hán có Thuần Vu Ý làm quan đất tề ; nhà không có con trai, chỉ sinh được 5 con gái, Đề Oanh là gái út. 

Thuần Vu Ý mắc tội lớn phải thọ hình. Khi bắt giải tử tội về kinh , Đề Oanh đi theo cha. Đến kinh thành, nàng dâng thư lên Hán Văn Đế tâu rằng, nếu cha chết đi, cũng không mảy may đền được chút tội; nay thân gái này khẩn thiết xin vua được cho vào cung làm cung nhân thô (người làm sạch sẽ cho vua sau mỗi lần vua đi vệ sinh), để chuộc tội một phần nào cho cha. Hán Văn Đế đọc thư của nàng Oanh, cảm động vì lòng hiếu hạnh của nàng nên tha tội cho Thuần Vu Ý.

Ả Lý

Thời Hán Vũ Đế, ở quận Mân Trung đất Đông Việt., trong một cái hang sâu có con rắn khổng lồ; dân chúng trong vùng rất kinh hãi, gọi là thần rắn. Hàng năm phải cung cho thần rắn một người con gái đồng trinh thì dân mới yên ổn làm ăn. Nhưng dần cũng hết, tìm đâu ra con gái\. 

Bấy giờ ở huyện Tương Lạc, có nàng Lý Ký, nhà nghèo xơ xác, cả cha mẹ đều bệnh năng không tiền thuốc thang. Nàng Lý đã trốn cha mẹ, đến cửa quan tự nguyện bán mình nộp mạng cho rắn, rồi nhờ chuyển tiền về cho cha mẹ. 

Nàng xin quan lệnh ban cho một cây gươm bén và một con chó dữ. Vào bên trong hang, nàng thả chó dữ ra chiến đấu với rắn, và dùng gươm chém rắn từng khúc.

Dư Thiện là cháu lâu đời của Việt Câu Tiễn được Hán Vũ Đế phong vương ở đất Đông Việt. Biết được chuyện người con gái hiếu thảo, can trường, Đông Việt vương đã đón ả Lý về làm vợ.



Ả Tạ- Nàng Ban 
Khen tài nhả ngọc phun châu
Nàng Ban, Ả Tạ cũng đâu thế này

Nàng Ban

Ban Chiêu tự là Huê Cơ là người đàn bà hay chữ đời Đông Hán. Năm mười lăm tuổi Ban Chiêu đã biết làm thơ và làu thông Tứ Thư, Ngũ kinh. Lấy chồng là Tào Thế Thức, một danh nho của Đông Hán. Sống chung được mười năm thì Tào Thế Thức qua đời vì bệnh; Ban Chiêu thủ tiết thờ chồng.

Đời vua Hoà Đế, Ban Chiêu được triệu vào cung để dạy học cho các hoàng tử và các phi tần. Lúc bấy giờ cha của bà là Ban Bưu đang tại chức Đông các đại học sĩ, chịu trách nhiệm soạn thảo bộ Hán Thư. Công việc đang còn dang dở thì ông qua đời. Anh của ban Chiêu là Ban Cố được nhà vua chỉ định tiếp tục công trình của cha. Nhưng chẳng bao lâu, Ban Cố cũng qua đời vì bạo bệnh, trong khi bộ Hán thư vẫn chưa xong. Ban Chiêu tâu với vua cho bà được tiếp nối công trình. Vua Hòa đế chấp thuận và bà được sung vào Đông các tàng thư tiếp tục soạn bộ Hán thư cho đến hoàn tất.

Trong thời gian ở Đông các tàng thư, Ban Chiêu đã trước tác tập Nữ Giới, gồm bảy thiên. Từ đó lẫy lững tài danh Ban Chiêu.

Ả Tạ

Ả Tạ là Tạ Đào Uẩn, con gái quan Thái úy Tạ Công đời nhà Tấn, có nhan sắc tuyệt trần lại thông minh nhất mực. thơ phú hay lừng tiếng. 
Trong cùng một vùng, có họ Vương cũng dòng giỏi gia phong, con cháu cũng thuộc vào bậc vọng tộc. Họ Tạ và họ Vương bắt thông gia với nhau, con trai con gái hai họ chỉ kết duyên vói nhau, không lấy người ngoài họ. 
Tạ Đạo Uẩn lúc nhỏ đã thông minh, học rộng lại có tài biện luận. Nhân một hôm về mùa đông, tuyết rơi lả tả, chú của Tạ Đạo Uẩn là Tạ An ngồi uống rượu nóng có cả hai cháu là Tạ Lãng và Đạo Uẩn ngồi hầu bên. Tạ An liền chỉ tuyết, hỏi: - Tuyết rơi giống cái gì nhỉ? 
Tạ Lãng đáp: - Muối trắng ném giữa trời. 
Tạ Đạo Uẩn bảo: - Thế mà chưa bằng "Gió thổi tung tơ liễu
Tạ An khen Tạ Đạo Uẩn là thông minh, nhiều ý hay, tư tưởng đẹp. Ông lại thường chỉ Đạo Uẩn mà bảo các con cháu rằng: - Nếu là trai, Tạ Đạo Uẩn sẽ là bực công khanh. 
Tạ Đạo Uẩn sau kết duyên với Vương Ngưng Chi, một nhà nho lỗi lạc đương thời. 
Làm vợ họ Vương, Tạ Đạo Uẩn thường thay chồng tiếp khách văn chương, đàm luận thi phú. Nàng tỏ ra là người hoạt bát, thông suốt nhiều vấn đề, lập luận vững chắc làm nhiều tay danh sĩ đương thời phải phục. 
Em chồng của Tạ Đạo Uẩn là Vương Thiếu Chi. Người học giỏi nhưng lập luận kém cỏi, thiếu hoạt bát nên trong khi biện luận thường bị khách áp đảo. Tạ Đạo Uẩn sợ em chồng mất giá trị nên bảo thị tỳ thưa với Thiếu Chi làm một cái màn che lại, nàng sẽ ngồi sau để nhắc Thiếu Chi trong khi biện luận với khách. 
Thiếu Chi nhờ đó mà khuất phục được khách và nổi danh, được nhiều người kính phục. 
Nàng Ban, ả Tạ là hai người phụ nữ có tài danh về thi phú văn chương. Về sau, các nhà văn học thường dùng tiếng "nàng Ban, ả Tạ" để chỉ người phụ nữ tài giỏi, có danh tiếng về văn chương thi phú.
0
phiếu
0đáp án
909 lượt xem

      Viết về người lính và chiến tranh là nguồn cảm hứng của rất nhiều nhà thơ, nhà văn.Với Phạm Tiến Duật,ta được đến với sự trẻ trung,ngang tàng của các chiến sĩ Trường Sơn qua “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”.Gặp “Khoảng trời hố bom” của Lâm Thị Mỹ Dạ,ta lại bắt gặp những cô gái mở đường không tiếc thân mình “đánh lạc hướng thù hứng lấy luồng bom”.Và đến với “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê ta lại không khỏi thán phục trước tinh thần dũng cảm, tình đồng đội nồng ấm, tâm hồn lạc quan trong sáng của ba nữ thanh niên xung phong mà đề lại ân tượng sâu sắc nhất trong em là Phương Định.
      Phương Định cùng Nho và Thao – những cô gái thanh niên xung phong sống trên cao điểm mênh mông khói bụi Trường Sơn và bom đạn hủy diệt của kẻ thù.Công việc của chị và đồng đội trong tổ chinh sát mặt đường là “đo khối lượng đất đá lấp hố bom,đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom” để bảo vệ con đường cho những đoàn xe băng về phía trước,góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.Công việc của chị thật vinh quang nhưng cũng đầy hi sinh gian khổ.Song chính hoàn cảnh gian khó hiểm nguy ấy đã làm cho chúng ta cảm nhận được những phẩm chất đáng quý của chị.
       Cảm nhận đầu tiên về nhân vật Phương Định là vẻ đẹp của tinh thần dũng cảm,thía độ bình tĩnh vượt lên mọi hiểm nguy.Hằng ngày,chị thường xuyên phải chạy trên cao điểm bị bom đạn cày nát mà còn ẩn dấu những quả bom chưa nổ.Điều đó cũng có nghĩa chị luôn phải đối mặt với thần chết.Mỗi ngày, chị phải phá từ 3-5 lần bom, nguy hiểm là vậy nhưng chị vẫn bình thản thậm chí còn thấy thú vị dù trên mình còn có vết thương chưa lành miệng.Cứ mỗi lần phá bom,đất rắn,tiếng xẻng va chạm vào cỏ quả bom nghe sắc lạnh đến ghê người.Ngay cả lúc ấy,chị vừa trách vừa nhắc nhở mình “phải nhanh hơn chút nữa”,nếu không vỏ quả bom nóng lên hoặc nóng từ bên trong quả bom hay nóng do mặt trời khi đó sẽ rất nguy hiểm”.Xác đinh được tính chất nguy hiểm ,song với tinh thần dũng cảm cùng tình yêu Tổ quốc,chị đã vượt qua tất cả.Thao tác,tư thế,thái độ bình tĩnh khi phá bom là vẻ đẹp đáng quý ở Phương Đinh nói riêng và những cô gái trẻ nói chung.Có những lúc,chị cũng nghĩ đến cái chết nhưng cái chết này mờ nhạt.Còn ý nghĩa cháy bỏng là “ Liệu mìn có nổ.bom có nổ không? LÀm thế nào để châm mìn lần thứ hai?”Mục đích hoàn thành nhiệm vụ luôn được chị đặt lên trên hết.
     Trong chị luôn thường trực tình đồng đội,đồng chí nồng ấm.Tấm long vị tha của chị luôn quan tâm tới đồng đội.Khi chị Nho và Thao ở trên cao điểm,phải ở nhà trực máy nhưng trong lòng Phương Đinh luôn lo lắng,sốt ruột,đứng ngồi không yên.Chị lo lắng đến mức chạy ra chạy vào lắng nghe cả tiếng súng hỗ trợ của các anh bộ đội pháo binh.sự lo lắng ấy khiến chị cáu với cả đội trưởng “Chinh sát chưa về”.Điều đó thể hiện lòng quan tâm,lo lắng của chị với đồng đội thật sâu sắc.Chị luôn trìu mến,yêu thương bạn bè,chẳng thế mà chị đã nhận xét về người đồng đội trẻ tuổi-Nho,chị phát hiện ra vẻ dễ thương của Nho “nhẹ,mát mẻ như một que kem trắng”,chị còn hiểu rất rõ sở thích của bạn,của đồng đội.Chị Thao thích ghi bài hát mặc dù chị hát toàn sai nhạc,chị ghi tới ba cuốn sổ dày bài hát,chị Thao còn thích tỉa đôi long mày nhỏ như que tăm,chị hiểu được sự cương quyết,tạo báo nhưng rất đáng gờm trong công việc của chị Thao.Tuy vậy chị Thao rất sợ máu và vắt.Chị hiểu được ở Nho thích thuê thùa,trên ngực áo của Nho luôn có một bông hoa.Chị còn hiểu được tâm trạng của đồng đội như khi Nho bị thương,chị Thao thì cuống quýt lên còn Nho lại bình tĩnh,gan dạ.Phương ĐỊnh băng bó,tiêm thuốc và pha sữa cho Nho.Tình cảm đồng đội,đồng chí là ngọn lửa sưởi ấm lòng,là niềm tin,là động lực,là nguồn động viên khích lệ các chị thêm vững lòng trên mặt trận đầy gian nguy này.Ngược lại,chị Phượng Đinhk cũng rất cần sự cổ vũ,động viên của đồng đội.Chị cảm thấy ấm lòng và tự tin hơn khi cảm thấy ánh mắt dõi theo,khích kệ của các anh chiến sĩ pháo binh.Chị được rất nhiều chiến sĩ cảm mến.Điều đó càng làm tình đồng đội,đồng chí trong chị thêm sâu đậm biết bao!
       Nét nổi bật và cũng là điểm hấp dẫn nhất của Phương ĐInh với người đọc chúng ta là tâm hồn trong sáng,giàu mơ mộng,là sự hồn nhiên như trẻ thơ của chị.Chị là cô gái Hà Nội vào chiến trường khói lửa,chị vẫn hay nhớ nhà,nhớ những kỉ niệm tuổi thơ.Chị hay hát,hay cười một mình,ngắm mình trong gương.Chị tự đánh giá mình là “một cô gái khá”.Chị có cái điệu đà của người Hà Nội nhưng là cái điệu thật đáng yêu vì nó hồn nhiên và vô cùng chân thực.
      Qua nhân vât Phương Định,ta càng hiểu thêm về những vẻ đẹp đáng quý của những cô giá thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn nói riêng và thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng hào hùng ấy.Âm vang của những câu hát sau sẽ luôn vang vọng trong con người Việt Nam với lòng tự hào đầy trân trọng:

“Cô gái mở đường ra đi cứu nước

Tiếng hát ai vang vọng núi rừng…..”

0
phiếu
0đáp án
530 lượt xem

Trong lớp có bạn cho rằng: “ Không nên kết bạn với những người học yếu”. Anh (chị) hãy viết một bài văn bác bỏ quan niệm đó?

Gợi ý:

A. Mở bài
- Ông cha ta từ xưa đã dạy con cháu: Chọn bạn mà chơi.
- Có ý kiến cho rằng: Không nên kết bạn với những người học yếu.
- Ý kiến đó đúng, sai ra sao? Chúng ta nên đối xử với các bạn học yếu trong lớp như thế nào?
B. Thân bài: Làm rõ những ý cơ bản sau
· Mặt đúng của ý kiến trên:
- Chơi với các bạn học yếu, chúng ta có thể bị ảnh hưởng tiêu cực nếu như không có bản lĩnh vững vàng. “ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
- Các bạn học yếu vì nhiều lí do, nhưng phần lớn là vì ham chơi, lười học.
- Thực tế cho thấy tốt lên thì khó, xấu đi thì dễ. Vì thế nếu ta chơi với các bạn yếu kém thì phải cân nhắc thận trọng.
· Mặt chưa đúng: 
- Nếu ta chỉ chơi với các bạn học giỏi, bạn tốt thì các bạn học yếu sẽ có mặc cảm tự ti, khó hòa hợp với tập thể.
- Điều đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập, tu dưỡng và phong trào thi đua của lớp.
· Nên đối xử với các bạn học yếu như thế nào cho đúng?
- Trước hết, chúng ta không nên xa lánh, hắt hủi mà cần động viên, khích lệ các bạn ấy bằng tình cảm chân thành.
- Đối với các bạn gặp khó khăn về hoàn cảnh kinh tế hoặc trình độ nhận thức thí chúng ta nên quan tâm giúp đỡ về vật chất, tinh thần, phương pháp học tập.
- Đối với các bạn ham chơi. Thích quậy phá thì kiên trì giải thích, phân tích để đưa bạn về với bổn phận của học sinh là học tập và tu dưỡng cho tốt.
- Khơi dậy tinh thần thi đua ở các bạn yếu kém. Phải tin tưởng vào sự cố gắng và tiến bộ của các bạn ấy.
C. Kết bài
- Cuộc sống hiện đại dặt ra nhiều cơ hội và thách thức cho thế hệ trẻ.
- Mỗi học sinh cần phải có nhận thức đúng đắn trong học tập và tu dưỡng.
- Các bạn yếu kém phải có nghị lực vượt lên chính mình để đáp lại niềm tin yêu của cbạn bè, thấy cô, cha mẹ.
0
phiếu
0đáp án
925 lượt xem

Bài làm

         Tục ngữ Việt Nam là một kho tàng quý giá cất giữ niềm tin, nhận thức, tư tưởng, phản ánh xã hội xưa và nay của nhân dân ta. Có thể nói tục ngữ là túi khôn, là tri thức bách khoa dân gian của dân tộc.
        Đề tài của tục ngữ vô cùng đa dạng và phong phú. Chúng nói về các hiện tượng tự nhiên, quan hệ giữa con người va thiện nhiên, nói về đời sống vật chất, tinh thần, về các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ và xã hội…nhưng nổi bật hơn cả là đề tài lao động với cặp chủ đề công lao - hưởng thụ trong câu tục ngữ sau:
“ Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”
      Có lẽ khi đọc câu tục ngữ này lên thì ai cũng biết nó có nghĩa là “ tay có làm thì hàm mới có nhai, tay không làm thì hàm không có cái để nhai” nhưng câu tục ngữ này không mang ý nghĩa đơn giản như thế mà nó còn mang một ý nghĩa khác – một ý nghĩa giáo dục con người.
       Trong câu tục ngữ xuất hiện nhiều hình ảnh “ tay làm, hàm nhai, tay quai, miệng trễ” tượng trưng cho sức lao động, thành quả đồng thời là sự công bằng trong xã hội. Hình ảnh “tay làm” thể hiện sức lao động của con người. Ngược với hình ảnh này là hình ảnh “tay quai” thể hiện sự lười biếng, không làm việc. Nếu như chăm chỉ, cần cù thì bản thân sẽ nhận được thành quả “hàm nhai” xứng đáng với công sức mà mình bỏ ra. Một ví dụ đơn giản trong môi trường học đường đó chính là những bạn học sinh giỏi. Có phải là tự nhiên mà họ học giỏi hay là họ phải cố gắng học tập ngày đêm ở nhà lẫn ở trường để được như thế? Trên đời đúng là có những người khi sinh ra đã rất thông minh nhưng nếu như họ không cố gắng tích lũy thêm kiến thức thì làm sao có thể trở thành giỏi được. 
        Những hình ảnh hoán dụ đơn giản, bình dị, gắn bó thân thiết với mỗi người nhưng thể hiện nhiềy ý nghĩa sâu sắc : “ Có lao động thì mới có thnàh quả; không lao động sẽ không có thành quả, không tạo ra được của cài vật chất. Nổi bật trong câu tục ngữ là nghệ thuật đối lập giữa vế một “tay làm hàm nhai” với vế hai “tay quai miệng trễ”, kèm theo đó là cặp từ đối nhau như tay làm đối với tay quai, miệng nhai đối với miệng trễ đã một phần nào đó nói lên nghệ thuật đặc trưng của tục ngữ Việt Nam.
       Nhờ những liên tưởng đồng thời gắn với những hình ảnh quen thuộc đã làm cho những triết lí khô khan, những tư tưởng đạo đức trở nên dễ hiểu, đơn giản nhưng chắt lọc, thấm nhuần vào tư tưởng người Việt Nam như câu tục ngữ “ Tay lam hàm nhai, tay quai miệng trể” đã nhắc nhở, giáo dục cho bản thân mỗi người nên siêng năng, cần cù lao động và sự công bằng trong việc phân phối thành quả lao động. Còn những kẻ lười nhát, không siêng làm việc thì sẽ chẳng bao giờ có của cải, vật chất, mãi mãi không thể giàu có.
        Để có được thành quả “hàm nhai” xứng đáng, bản thân mỗi người phải biết tự lao động, cố gắng, phải biết nắm bắt những cơ hội, điều kiện đến với mình. Điều kiện và cơ hội chỉ là một phần nhỏ trong thành quả, quan trọng là ở bản thân mỗi người phải làm thế nào. Người biết lao động thì sẽ thành công còn những người lười biếng thì sẽ bị gạt bỏ khỏi xã hội này. Trên mỗi bước đường thành công không bao giờ có dấu chân của kẻ lười biếng.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
437 lượt xem

       Trong cuộc sống của mỗi con người, ai cũng có một lí tưởng để sống, để làm việc, học hành. Có lí tưởng thì ta mới có được một sự quyết tâm để vươn tới những thành công sau này. Có lí tưởng đặt ra thì mọi ước mơ và cố gắng của chúng ta sẽ không bao giờ lãng phí. Nhà văn Nga Lép Tôn-xtoi đã nói rằng: “Lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”. Vậy chúng ta suy nghĩ thế nào về câu nói này của Tôn-xtoi khi mà ngày nay, xã hội ngày càng tiến bộ, đời sống và nhân dân đang ngày một vươn xa ?
       “Lí tưởng” là mục đích cao cả, là những gì tốt nhất mà chúng ta cần phải đạt đến. “Ngọn đèn” là một dụng cụ chiếu sáng, nhưng đó chỉ là nghĩa đen, ta còn có thể hiểu theo nghĩa bóng là một người dẫn đường, một người bạn đồng hành cùng chúng ta trên con đường đi tìm lý tưởng, soi rọi cho chúng ta thấy được những chướng ngại vật đang cản trở con đường, giúp ta tới đích một cách dễ dàng. “Phương hướng kiên định” là sự quyết định của con người về hướng đi của mình, là suy nghĩ của bản thân về việc phải làm và sẽ làm trong tương lai, thể hiện được nghị lực, quyết tâm của người đó để không lùi bước trước khó khăn thử thách. “Cuộc sống” là đời sống hiện tại với những quá trình sống cùng những hoạt động của xã hội. Câu nói của Tôn-xtoi muốn nêu cao tầm quan trọng của lí tưởng, là người dẫn đường đưa chúng ta đến thành công, nếu không xác định lí tưởng thì ta sẽ không có nghị lực mà không có nghị lực thì sẽ không phát triển được trong cuộc sống này.
      Câu nói của Tôn-xtoi rất đúng trong mọi thời đại. Sống có lý tưởng sống cao đẹp là sống luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện bản thân, giúp ích cho mình, gia đình xã hội và đất nước. Có lý tưởng đúng đắn thì ta sẽ vượt qua mọi thử thách, đương đầu với mọi thử thách trong cuộc sống đầy gian nguy. Chỉ cần có lý tưởng thì những gì ta muốn đều có thể đạt được rất dễ dáng, chỉ cần ta cố g8ang1 vươn lên, không quản ngại. Nhưng chỉ nói thôi thì không đủ, chúng ta cần phải thực hành. Và để thực hành được thì không phải ai cũng làm được.
       Trong cuộc sống, ta có thể bắt gặp được những lý tưởng cao đẹp thể hiện rõ nét và nhiều nhất là những người nghèo khổ. Tuy nghèo nhưng họ đã thể hiện được một lý tưởng cao đẹp có thể giúp họ vươn lên trong cuộc sống. Những chương trình truyền hình dành cho người nghèo điển hình như chương trình “Vượt lên chính mình”, những gia đình nghèo khổ khi tham gia chương trình này đều thể hiện được lí tưởng vươn lên để thoát khỏi nợ nần để phát triển kinh tế gia đình và hội nhập trong xã hội. Đó là những tấm gương điển hình cho chúng ta thấy được ý chí vượt lên, vượt qua mọi thử thách của con người và lí tưởng cao đẹp của họ. Nhưng trái với hình ảnh này lại có những người không định sẵn cho mình một lí tưởng, đặc biệt là lớp trẻ bây giờ, những nhà giàu có khá giả, chỉ biết nghĩ tới tiền, sử dụng tiền vào những việc vô ích, không màn đến tương lai của mình. Một số người lại cho rằng mọi thứ do ông trời sắp định sẵn nên cũng chẳng them quan tâm đến lí tưởng là gì. Đó là những người không thể chấp nhận trong xã hội, rồi đến một lúc nào đó họ sẽ không thể tồn tại được trong một xã hội như thế này nếu như không có lí tưởng đúng đắn.
       Bản thân mỗi chúng ta cần phải xác định rõ ràng mục đích lí tưởng ngay từ những lúc còn đang ở trong bậc sư phạm để khi ra đời chúng ta hãy lấy đó làm nền tảng để đưa chúng ta đến với thành công trong công việc cũng như những thứ khác trong xã hội này. Tuy vậy, nhiệm vụ trước mắt là phải học tập thật tốt, cần hình thành cho mình kĩ năng tự lập, không phụ thuộc vào người khác. Khi ra đường, cần phải có những hành vi tốt, không để lại hình ảnh xấu cho bản thân mình cũng như xã hội.
      Vậy mỗi người chúng ta cần phải thực hiện cho mình một lí tưởng cao đẹp để khi ra đời ta xem đó là nền tảng của một bước đường tiếp theo, bước đường đưa ta vào đời và dẫn ta tới ngưỡng cửa của thành công.
0
phiếu
0đáp án
2K lượt xem

     Đời người không khỏi có những lúc bước chân lang thang đưa ta đến những sông hồ, bờ bãi, biển cồn, núi cao, đèo dốc… những không gian trời nước mênh mông. Nghĩa là ta sẽ phải đối diện với cái vô cùng vô tận của không gian, cái vô thủy vô chung của thời gian. Khi ấy, ngay cả những người vô tâm nhất cũng không tránh khỏi cảm giác cô đơn. Bởi người ta thấy rõ hơn bao giờ hết rằng con người thật là nhỏ nhoi, kiếp người chỉ là thoáng chốc. Đời người sao quá phù du! Ta bỗng thấy mình như đang bơ vơ lưu lạc giữa cái mênh mông của đất trời, trôi nổi trong cái xa vắng, rợn ngợp của thời gian. Ta bỗng thấy cái chơi vơi giữa thế gian này! … Ấy là lúc có thể đọc thơ Huy Cận. Bởi đó là thế giới của Lửa thiêng, thế giới của Tràng giang. Thi sĩ đã cất lên giùm ta cái cảm xúc, cái nỗi niềm nhân thế đó. 
      Ngày trước, để bênh vực cho bài Tràng giang (cũng là bênh vực cho Thơ Mới), người ta đã phải viện ra cái kỉ niệm của một chiến sĩ nào đó mà rằng: một người cách mạng như thế cũng rất yêu hai câu đầu của bài Tràng giang, vậy bài thơ này là lành mạnh, nỗi buồn ở đấy là trong sáng, chứ không có hại gì! Rồi ngay cả Xuân Diệu cũng phải lập cả một hàng rào che quanh để bênh vực cho lòng yêu thiên nhiên của bài thơ. Không, lòng yêu thiên nhiên tạo vật tự nó là một giá trị, ngang hàng với những tình yêu khác. Lòng yêu thiên nhiên là một cảm xúc thuộc về nhân tính. Tự nó không cần bảo vệ! 
     Tràng giang không nhất thiết phải là sông Hồng, sông Cửu Long, đó cũng có thể là Hoàng Hà, Hằng Hà,Vonga, Dương Tử, … cũng được chứ sao. Tràng giang là một tạo vật thiên nhiên. Nó có thể được gợi Ý, gợi tứ từ sông Hồng, từ một chỗ đứng xác định là bến Chèm. Nhưng khi đã thành hình tượng “tràng giang” thì nó đã khước từ mọi địa danh, địa chỉ cụ thể để trở thành một tạo vật thiên nhiên phổ quát rồi. Lòng yêu của thi sĩ trong đó là một lòng yêu dành cho thiên nhiên, tạo vật, một lòng yêu có ở hết thảy con người! Và đó chính là tầm vóc đáng phải có của bài thơ này!
      Cảm hứng của bài thơ quả là cảm hứng không gian. Không gian được trải ra từ mặt sông lên tận chót vót đỉnh trời, không gian được mở ra từ thẳm sâu vũ trụ vào tận thăm thẳm tâm linh con người. Ấy là một thế giới vừa được nhìn bằng sự chiêm nghiệm cổ điển vừa được cảm nhận bằng tâm thế cô đơn của một cái tôi hiện đại, rất đặc trưng cho thơ Mới. Có lẽ vì thế chăng mà Tràng giang hiện ra như một bức tranh tạo vật trường cửu, lớn lao, vừa hoang sơ, vừa cổ kính, trong đó thi sĩ hiện lên như một lữ thứ đơn độc, lạc loài?
       Tràng giang là một không gian mênh mông vô biên. Ngay cái tên bài thơ đã như một cửa ngõ mở vào vô biên rồi. Tràng giang gợi ra hình tượng một con sông chảy mênh mang giữa trời và đất. Vầ câu đề từ như thêm một lần nữa vén lên bức rèm, bước qua một hành lang mở thông vào vô biên: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Nhưng dẫu sao những hình ảnh sống động của thế giới ấy có thể cảm nhận hoàn toàn trực quan chỉ thực sự mở ra với những câu đầu: 

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, 
Con thuyền xuôi mái nước song song. 
       Có lẽ cái chất thơ của sông nước đã nhập vào những câu thơ thế này để phô bày vẻ đẹp của nó. Câu thứ nhất tả sóng, câu thứ hai tả những dòng trôi, những luồng nước trên mặt sông. Nếu câu thứ nhất gợi được những vòng sóng đang loang ra, lan xa, gối lên nhau, xô đuổi nhau đến tận chân trời, thì câu thứ hai lại vẽ ra những luồng nước cứ song song, rong ruổi mãi về cuối trời. Không gian vừa mở ra bề rộng, vừa vươn theo chiều dài. ĐÚng là nó có thấp thoáng âm hưởng hai câu thơ cũng tả sông nước trong bài Đăng cao nổi tiếng của Đỗ Phủ: 
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
(Ngàn cây bát ngát, lá rụng xào xạc, 
Dòng sông dằng dặc, nước cuồn cuộn trôi)
      Cũng là đối xứng, nhưng Đỗ Phủ viết theo lối đối chọi, còn Huy Cận- có cải biên, chỉ dùng tương xứng thôi. Cũng dùng những từ láy nguyên để gợi tả, trong khi tác giả Đăng Cao đặt ở giữa câu, thì tác giả Tràng giang lại đẩy xuống cuối câu. Nhờ thế hai từ láy nguyên “điệp điệp”, “song song” tạo ra được dư ba. Nghĩa là lời thơ đã ngừng mà Ý hướng và âm hưởng vẫn còn vang vọng như dội mãi vào vô biên. Dòng sông lớn mang trong lòng một nỗi buồn lớn!
      Suốt dọc bài thơ, Huy Cận còn dày công khắc họa vẻ mênh mông vô biên bằng biết bao chi tiết giàu tính nghệ thuật nữa. Vừa dùng cái lớn lao để gợi sự mênh mông, vừa dùng cái hữu hạn để gợi sự vô cùng. Ấy là hàng trăm ngả sông, những cồn đất, những bờ xanh, bãi vàng, lớp lớp mây cao đùn núi bạc, ấy là một cành củi khô, một bóng chim nhỏ … Nhưng có lẽ bức tranh vô biên của Tràng giang đã đạt đến tận cùng là ở hai câu: 

Nắng xuống, trời lển, sâu chót vớt,
Sông dài, trời rộng, bên cô liêu. 

         Câu trên là sự vô biên được mở về chiều cao. Câu dưới là sự vô biên cả về bề rộng và chiều dài. Có một khoảng không gian đang giãn nở ra trong cụm từ: “Nắng xuống, trời lên”. Hai động từ ngược hướng “lên”, “xuống” đem lại một cảm giác chuyển động rất rõ rệt. Nắng xuống đến đâu, trời lên đến đó. Và nó được hoàn tất bởi cụm từ “sâu chót vót”. Có cái gì như phí lí. Có lẽ không chịu được vẻ phi lí mà nhiều người đã cố tình in và viết thành “sầu chót vót” để dễ hình dung hơn. Tiếc rằng, chính “sâu” mới là sự xuất thần của hồn thơ. Đây không phải là sự lạ hóa ngôn từ. Nếu có thì trước hết là sự lạ hoátrong cách nhìn, trong cảm giác. Ánh mắt tác giả không dừng lại ở đỉnh trời một cách thường tình để nhận biết về chiều cao mà nó như xuyên vào đáy vũ trụ để cảm nhận về chiều sâu. Song, dầu sao, đây vẫn là chiều sâu của cái nhìn ngước lên. Cho nên mới là “sâu chót vót”. Chót vót vốn là một từ láy độc quyền của chiều cao, bỗng phát huy một hiệu quả không ngờ. Nó còn gợi sắc thái chưa hoàn tất. Dường như cái nhìn thi sĩ vươn tới đâu thì trời sẽ sâu tới đó, mỗi lúc một chót vót hơn. Vừa tương xứng, vừa hô ứng với câu trên, câu thứ hai mở ra bát ngát, tít tắp. Câu thơ được viết giản dị, không chữ nào lạ, ngỡ như chỉ là sự sắp xếp các chiều kích của tràng giang, thế thôi. Vậy mà thấy động. Các trạng thái tĩnh, các tính từ dường như cựa quậy đòi động từ hóa. Trong áp lực của cái nhìn xa hút, cso cảm giác sông dài ra, trời rộng thêm, bến cô liêu đi vậy. 

Thế mới lạ, không có chữ nào lạ hóa, mà vẫn mới lạ. Thế mới biết, chính cảm xúc mới lạ làm nên cái mới lạ chân chính cho nghệ thuật. 

3. Là một người thuộc lớp tây học, nhưng tâm hôn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi, nên không gian Tràng giang cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả cái trạng thái tĩnh của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan niệm, tĩnh là gốc của động, tĩnh là cội nguồn của thế giới. Cùng với nó, tĩnh tại và thanh vắng cũng trở thành một tiêu chuẩn mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái tĩnh vắng mênh mông trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không, một hư không chứa đầy âm nhạc, chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của Tràng giang được cảm nhận bằng nỗi cô đơn bơ vơ. Có lẽ vì thế mà Tràng giang còn là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái Tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông của đồng loại. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng. 

         Đúng ra con người cso thoáng xuất hiện trong hình bóng chiệc thuyền ở đầu bài thơ. Một con thuyền “xuôi mái”, thụ động buông trôi trên dòng nước luân lạc. Và nó cũng chỉ hiện ra thoáng chốc, sau đó nép mình vào bờ bãi mà mất hút trên sông nước, trả lại không gian cho sự ngự trị của muôn ngả sông, nghìn luồng sóng: 

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả, 
Củi một cành khô lạc mấy dòng. 

Khát thèm âm thanh của cuộc sống người, thi sĩ lắng nghe, không dám mơ đến thứ âm thanh náo động, vui tươi, chỉ là âm thanh xoàng xĩnh nhất, buồn chán nhất của cuộc sống người, thế mà cũng không có: 

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Chứ “đâu” ở đầu câu có thể hiểu là từ chỉ nơi chốn với nghĩa là “đâu đó”. Cũng có thể hiểu là phủ định từ với nghĩa là “đâu có”. Dù theo nghĩa nào thì nó cũng nhằm nói tới cuộc sống tan rã, một đằng thì đã vắng bóng, một đằng thì đang vắng bóng mà thôi. Rồi cả đến những phương tienj giao lưu gợi sự có mặt của con người cũng không hề có: 

Mênh mông không một chuyến đò ngang,
Không cầu gợi chút niềm thân mật. 

Và sự phủ định cuối cùng: “Không khói hoàng hôn…”. Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng của “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén, Ngày xem hoa bợ cây” (Nguyễn Trãi), “Lác đác bên sông chợ mấy nhà” (Bà Huyện Thanh Quan) hay “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” (Nguyễn Khuyến) nữa. Tràng giang hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thủa khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế. Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi, cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh này, hơn nghìn năm trước, Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê: 

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai- Tản Đà dịch)

Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần khói sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên đâu. Nhớ nhà như là để vượt thoát, để trốn chạy nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:

Lòng quê dợn dợn với con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. 

Dòng sông chảy giữa mênh mang trời đất đến đây như bống dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê. Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất. 

Đứng trước những dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta, nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau khi ta tan biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng dưng không them biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn. Đứng bên dòng sông lớn, hãy lắng nghe nhịp triều miên viễn mênh mang. Nó là nhịp ca của vĩnh hằng, nhịp của vũ trụ. Và hình như, Huy Cận đã chuyển dược nhịp chảy trôi miên viễn ấy vaoaf trong bài thơ. Những từ láy, nhất là láy nguyên “điệp điệp”, “song song”, “lớp lớp”, “dợn dợn”, … ẩn hiện trong toàn bài không chỉ gợi được sự đường bệ mà còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp// Con thuyền xuôi mái nước song song”. Các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối liên tiếp như một chuỗi dài, tạo nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: “nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót – Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”, ‘hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, … cứ nối nối, tiếp tiếp, cứ song song trùng điệp không cùng … khi hiện thành câu chữ, khi chìm trong âm vang. Tất cả những yếu tố ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau tạo thành một âm hưởng cứ ngấm ngầm chảy đây đó trong lòng bài thơ: âm hưởng trôi xuôi bất tận. Nó khiến cho ta có một cảm tưởng thật rõ rệt mặt bằng chữ nghĩa của cả bài thơ cũng như đang xuôi dòng trôi dạt, những hình ảnh, những hình tượng cũng đang lặng lẽ xuoi dòng: dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian mà còn chảy trong thời gian … Từ thủa khai thiên lập địa, sông chảy miết qua các thời đại mà về đây. Phải chăng đây là chiều thứ tư đầy mơ hồ và hư ảo của không gian Tràng giang. 

Tôi đọc bài thơ bao lần và không sao xóa được khỏi lòng mình cái cảm giác bâng quơ này: mình là cái cành củi khô luân lạc trên dòng tràng giang kia hay mình là cánh chim nhỏ lạc lõng dưới lớp lớp mây cao đùn núi bạc đó… Nó là cảm tưởng của một đứa trẻ… Mà dường như cũng là của một người già… Bởi vì Tràng giang là dòng sông mà cũng là dòng đời chăng? 
Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
972 lượt xem

      Chi tiết nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng quyết định mật thiết đến sự thành công của tác phẩm. Nếu không có chi tiết nghệ thuật thì tác phẩm văn học dù ở thể loại nào đi chăng nữa thì cũng chỉ như cái vỏ âm thanh vô hồn không sức sống. Cũng vậy, Nam Cao cũng cần lắm những chi tiết nghệ thuật để “Chí Phèo” trở nên một kiệt tác hoàn hảo đạt đến sự chuẩn mực của nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa. Cùng với hình tượng nhân vật Chí Phèo, rất nhiều những chi tiết nghệ thuật khác đã góp phần vào thành công của truyện, mà ta không thể không kể đến một chi tiết dù bé nhỏ nhưng vô cùng giàu ý nghĩa và quan trọng góp phần bộc lộ tư tưởng của tác giả: “ những âm thanh mà Chí Phèo nghe được trong buổi sáng tỉnh dậy sau cơn say”.
      Chí Phèo là một đứa trẻ bị bỏ rơi, được một người đi thả ống lươn nhặt về. Từ bé đến năm hai mươi tuổi, Chí được nhân dân lao động cưu mang đùm bọc. Lớn lên trong sự lương thiện, đứa trẻ mồ côi Chí Phèo, dẫu cho phải làm thuê, cuốc mướn vẫn có một tấm lòng lương thiện và một cuộc sống tốt lành. Anh thanh niên hai mươi tuổi “hiền như đất” ấy còn có một ước mơ rất đỗi chính đáng: có một cuộc sống ổn định, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ ở nhà dệt vải, một ước mơ rất đỗi bình dị của người dân lao động. Thế nhưng phận đời đưa đẩy, Chí vào làm canh điền cho lí Kiến. Ở đây bánh xe cuộc đời Chí bắt đầu quay những vòng quay định mệnh, bắt đầu từ việc Chí mới hai mươi tuổi, phơi phới sức trai nên đã bị bà ba, một dạng phó đoan, bắt làm những việc bất chính. Bà ta cứ bắt Chí phải bóp chân, mà cứ bắt “bóp lên trên, lên trên nữa”. Chí thừa nhận, “hai mươi tuổi, người ta không là đá, nhưng cũng không toàn là xác thịt”, Chí ý thức được những việc mình đang làm, Chí không sa vào cám dỗ. Lòng tự trọng khiến Chí cảm thấy nhục nhã cho mình, nhưng lại sợ. Chính vì cơn ghen cuồng nộ của lí Kiến, Chí bị đẩy vào tù, cùng với một bài học cay đắng về cuộc sống: muốn tồn tại phải ác, phải mạnh.
      Trở về sau bảy, tám năm, Chí trở nên một tên gớm ghiếc, cái đầu trọc lốc, cái răng trắng hớn, cái mặt cơng cơng, hai mắt gườm gườm, trông Chí như một tên du côn, chẳng còn chút gì là anh thanh niên Chí Phèo ngày xưa nữa. Không những thế, những cử chỉ của Chí cũng khiến mọi người dè chừng khiếp sợ: uống rượu, chửi bới, lúc nào cũng sẵn sàng rạch mặt ăn vạ. Nhưng Chí chỉ thực sự trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại khi bị lí Kiến, giờ là bá Kiến, lợi dụng trở thành tay sai cho lão. Chí ngày càng hung hãn, ngang ngược trong những cơn say triền miên. Hắn đã chà đạp biết bao gia đình, đã làm khổ biết bao nhiêu máu và nước mắt của những người dân hiền lành, lương thiện. Chí làm tất cả những việc đó trong cơn say, và rồi cũng chính trong cơn say ấy, theo một cách bản năng, Chí gặp thị Nở - một người đàn bà xấu xí, ngẩn ngơ, ế chồng...
      Sáng hôm sau, Chí tỉnh dậy trong túp lều của mình. Lần đầu tiên sau mười mấy năm, Chí bắt đầu cảm nhận được thiên nhiên xung quanh mình. “Mặt trời chắc đã lên cao, và nắng bên ngoài bắt đầu rực rỡ”. Lần đầu tiên từ khi từ nhà tù trở về, Chí ý thức được cảnh vật đẹp đẽ đầy sức sống xung quanh mình. Tiếng chim hót ríu rít bên ngoài vọng vào tai Chí, âm thanh trong trẻo của tiếng chim khiến Chí chú ý đến những điều thường nhật vẫn diễn ra bên ngoài túp lều của mình. Những điều ấy thật đơn giản và ngày nào cũng có, thế nhưng tại sao maix cho đến tận giờ này Chí mới nhận ra sự có mặt của nó? Cũng như trong “Vợ chồng A Phủ”, khung cảnh thiên nhiên đầy sức sống vào độ xuân về Tết đến đã tác động vào tâm thức Mị giúp Mị bừng tỉnh trong cơn mê mất ý thức, thì trong “Chí phèo” Nam cao cũng sử dụng sức sống của thiên nhiên để đánh thức một kẻ đã bị cuốn vào dòng đời lầm lạc mà đánh mất bản thân mình. Từ khi trở về sau gần chục năm ở tù, lúc nào Chí cũng say, hắn tràn từ cơn say này đến cơn say khác, nhưng bây giờ hắn tỉnh. Hắn thực sự tỉnh táo để nhận ra được cuộc sống xung quanh mình, để cảm thấy bâng khuâng, thấy đắng miệng và đặc biệt là hắn thấy “lòng mơ hồ buồn”! Cuộc đời hắn có gì đáng buồn, nơi ở được bá Kiến chu cấp, không ai dám lên mặt với hắn, cái “nghề” của hắn cho hắn cái ăn mỗi ngày, vậy thì hắn có gì phải buồn? Nhưng cuộc đời đâu chỉ có thế, đâu chỉ quanh quẩn trong mỗi chuyện nơi ăn chốn ở, sự sống nó đòi hỏi nhiều thứ hơn, nhiều hơn những gì mà hắn đang có. Hắn nhận ra sự tương phản rõ ràng ngay trong chính căn lều của mình. Trong khi ngoài kia, chim chóc thi nhau hót ríu rít, ánh nắng rực rỡ tràn ngập mọi thứ thì trong cái lều ẩm thấp của hắn lại “mới chỉ hơi lờ mờ”. Trong cái lều chật hẹp ẩm thấp ấy, hắn đã quên hết mọi thứ xinh đẹp của cuộc sống, hắn lúc nào cũng chỉ thấy tù mù, như chính cuộc đời của hắn vậy, tối tăm đối lập với thế giới bên ngoài. “Ở đây, người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”. Điều đó khiến hắn “mơ hồ buồn”. Hắn buồn một nỗi buồn vô định, không rõ ràng, hắn lờ mờ nhận ra rằng cuộc đời mình thật đáng thương. Những cảm giác mơ hồ đến với hắn, thật nhẹ nhàng nhưng cũng đủ làm hắn phải suy nghĩ. Hắn đã tỉnh dậy sau một cơn say rượu, hay là một cơn say mất phương hướng.
       Hắn “bủn rủn, tay chân không buồn nhấc”, hắn hơi rùng mình khi nghĩ đến rượu. Hắn sợ rượu. Trong suốt ngần ấy năm đắm mình trong những cơn say không có bắt đầu và kết thúc, hắn đã uống quá nhiều rượu rồi. Hắn tìm đến rượu như một sự chạy trốn, để hắn khỏi phải đói mặt với cái thực tại tàn nhẫn bất công. Tiếng chim hót ngoài kia vẫn vẳng bên tai hắn. Cuộc sống ngoài ấy sao mà vui vẻ quá! Có tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, có tiếng cười nói của tiếng người đi chợ. Những âm thanh của cuộc sống lao động bình dị ấy đã xuyên qua thính giác của Chí, va đập vào tâm hồn của hắn, để rồi hắn thở dài một tiếng than: “Chao ôi là buồn!”. Nam cao đã thật tinh tế để có thể nhận ra nỗi buồn mơ hồ của Chí, nhưng lại càng sâu sắc hơn khi thấu hiểu tiếng than của Chí Phèo. Nỗi buồn mông lung ấy giờ đây đã dâng lên thành lời than, sự đối lập mà Chí nhìn thấy lại càng rõ ràng. Trong gần hai mươi năm sống kiếp quỷ dữ, Chí chỉ nghe thấy tiếng chửi bới, tiếng đánh đâp, tiếng khóc than, những âm thanh đó khác hẳn hoàn toàn với những gì Chí đang nghe thấy: tiếng cười nói của cuộc sống trong lành. Bản tính cốt yếu của sự sống chính là cảm giác và tư tưởng, cuộc sống của những con người bên ngoài kia mặc dù có lam lũ vất vả, nhưng ắt hẳn nó vẫn luôn lạc quan và ám áp vui tươi. Còn Chí, cuộc đời Chí chỉ có doạ nạt, đâm chém... Đó đâu phải là sống, đó là tồn tại vất vưởng bằng những chuỗi ngày đen tối nhất trong cuộc đời Chí. Anh thanh niên hai mưoi tuổi ngày nào đâu rồi, sao giờ chỉ còn lại kẻ mà ai cũng gớm ghiếc, ai cũng xem là quỷ dữ?! Chí không chỉ nghe bằng đôi tai cha sinh mẹ đẻ, mà Chí con nghe bằng đôi tai của một tâm hồn đã thức tỉnh.
     Nếu trong “Vợ chồng A Phủ”, tiếng sao đêm tình mùa xuân đưa Mị trở về với thời con gái hồn nhiên hạnh phúc, thì cũng với một tác động như vậy, Nam Cao đã để Chí Phèo nhớ về cái ước mơ một thời xa xăm của hắn qua tiếng những người đàn bà đi bán vải. Nam Cao đã đặc biệt chú ý miêu tả âm thanh này bằng một đoạn đối thoại, bởi điều này đặc biệt quan trọng đối với Chí Phèo. Hiện ra trong tâm trí hắn giờ đây là hình ảnh những người phụ nữ, tảo tần lam lũ vì gia đình, hết lòng lo cho chồng cho con. Cuộc sống của những người đàn bà ấy có thể vô cùng nhọc nhằn trong công việc mưu sinh, nhưng ấm áp vì hạnh phúc gia đình. Điều đó làm hắn cảm thấy “nao nao buồn”. Nỗi buồn không những dâng lên thành tiếng than mà giờ đây đã khiến hắn rưng rưng cảm động. Hắn tìm lại cái ước mơ hắn bỏ quên trong hai mươi năm qua: một gia đình nho nhỏ, đầm ấm. Hắn không cần những điều cao xa, hắn chỉ ao ước có một gia đình bình thường, “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”, nhưng cái ước mơ ấy dường như đã rất xa rồi. Cái ước mơ hạnh phúc ấy thật đơn xơ nhỏ bé đến tội nghiệp, nhưng Chí vẫn không thể với tới được nữa rồi. Hắn thấy mình thật cô độc. Hắn như cười buồn cho mình: “Buồn thay cho đời!”. Hắn thấy mình thật thảm hại, thấy mình “đã tới cái dốc bên kia của đời”. Nỗi buồn của hắn cũng vì thế mà mang tính triết lí của một người đã biết suy nghĩ. “Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Câu văn thật lạ, theo lẽ thường tình, chữ “và” không được phép xuất hiện sau dấu phẩy, nhưng ở đây Nam Cao lại để cả hai hiện diện cùng lúc nhằm mục đích nhấn mạnh sự đáng sợ của nỗi cô độc. Nam Cao luôn đề cao con người tư tưởng, ông đặc biệt chú ý đến những hoạt động bên trong con người và coi đó là nguyên nhân của những hành động bên ngoài, chính vì thế nỗi cô độc là một điều vô cùng đáng sợ, đáng sợ hơn tất thảy những thứ khác. Chí Phèo sợ điều ấy. Hắn khao khát muốn được giao tiếp với cuộc sống bằng phẳng lương thiện bên ngoài, và đúng lúc ấy thì chiếc cầu nối đưa hắn trở về với thế giới vốn dĩ của hắn – thị Nở bước vào. Thị, chính thị sẽ mở cánh cổng để hắn bước vào thế giới của thị, để hắn trở về với hình ảnh anh thanh niên hiền lành, chất phác ngày nào. Bằng sự thương cảm xót xa trước cảnh đời bất hạnh, nam Cao đã để thị Nở thay mặt mình giúp Chí Phèo nhận thức được cuộc sống, thay đổi quan niệm sống và thức tỉnh ý thức mình.
      Nếu như thị Nở là con đường để Chí Phèo làm lại cuộc đời thì những âm thanh Chí nghe được trong buối sáng sau cơn say đã tác động vào tâm thức Chí, giúp Chí nhận ra hiện tại và nhớ về quá khứ, đồng thời khơi dậy nơi Chí một khao khát sống. Nam cao đã nhờ vào những âm thanh ấy mà miêu tả tâm lí Chí Phèo một cách chân thực, logic với nỗi buồn rất riêng. Nỗi buồn của Chí được miêu tả nhiều lần, mỗi lần lại là một cung bậc, một sắc thái khác nhau, gắn với một nguyên cớ khác nhau. Nỗi buồn ấy cho dù được miêu tả ở nhiều góc cạnh, song cuối cùng cũng đưa đến một mục đích: đánh dấu sự thức tỉnh của Chí Phèo. Chí giờ đây không còn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa mà đã trở thành một con người với những sắc thái cảm xú rất nhân bản, những chi tiết âm thanh ấy cũng vì thế mà trở nên rất quan trọng. Tếng chim hót rất đỗi bình dị, nhưng Nam Cao đã chọn nó để miêu tả sức sống của thiên nhiên; tiếng anh chèo gõ mái đuổi cá kia ngày nào cũng có, nhưng hôm nay Nam Cao đặc biệt nhắc đến để Chí Phèo nhận ra những âm thanh quen thuộc của đời sống lao động bình thường; và đặc biệt giữa muôn vàn những âm thanh, có thể lẫn lộn đâu đó tiếng chửi bới của một phiên chợ, nhưng Nam Cao đã phát hiện và ưu ái chọn lọc tiếng cười nói của những người đàn bà đi bán vải để gợi Chí Phèo nhớ đến cái mơ ước của một thời xa xôi. 
      Cũng như trong “Vợ chồng A Phủ”, tiếng sáo đêm tình mùa xuân được Tô Hoài miêu tả một cách công phu thì những chi tiết âm thanh ấy cũng đã được Nam Cao chọn lọc và miêu tả một cách chi tiết để làm nổi bật lên chủ đề tư tưởng nhân đạo cao đẹp của tác phẩm. Nam Cao đã phát hiện ra phần tốt đẹp trong con người Chí Phèo, để rồi xót thương, cảm thông và tin tưởng vào niềm khao khát sống một cuộc sống lương thiện và khát vọng muốn hưởng hạnh phúc chính đáng của Chí. Chính điều đó đã tạo nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm, đưa tác phẩm tiến gần về đỉnh cao nghệ thuật của văn học Việt Nam.

Sưu tầm
1234Trang sau 153050mỗi trang
99

bài viết

Chat chit và chém gió
  • theoofman1093: q 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: u 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: v 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: ư 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: y 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: z 5/8/2020 9:25:29 PM
  • theoofman1093: tui bây ngu như pò 5/8/2020 9:25:38 PM
  • theoofman1093: è 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: sg 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: h 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: sdg 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: ggg 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:05 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:48:06 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:07 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:10 PM
  • theoofman1093: dfgfg 5/8/2020 9:48:11 PM
  • vingoc: hi mn 11/13/2020 9:28:11 PM
  • vingoc: em mới vào ạ 11/13/2020 9:28:24 PM
  • vingoc: ở đây có ai lớp 7 ko ạ? 11/13/2020 9:29:13 PM
  • duolingo: 9 3/28/2021 11:19:10 AM
  • huongmaixm01: văn lớp 9 7/2/2021 11:26:56 AM
  • minhmama357: hi 8/13/2021 4:22:39 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • vipof95962: me may beo vai 11/20/2022 11:53:17 AM
  • vipof95962: wanna watch hentai 11/20/2022 11:53:47 AM
  • vipof95962: laughing 11/20/2022 11:53:49 AM
  • vipof95962: sex is good for you 11/20/2022 11:53:56 AM
  • kkkkkkkk: free fire 11/27/2022 3:22:24 PM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely
  • nguyennhung9904
  • duolingo
  • duolingo