Nội dung theo thẻ

0
phiếu
0đáp án
441 lượt xem

BÀI LÀM

        Tiếng gọi nơi hoang dã (1903) là một trong những tác phẩm nổi tiếng của G. Lân-đân. Truyện là kết qủa của những chuyến đi cùng với cùng với các nhóm tìm vàng lên tận miền bắc Ca-na-đa gần Bắc cực. Tiếng gọi nơi hoang dã kể về số phận con chó Bấc. Bấc là một chú chó nhà khoẻ mạnh tinh khôn. Nó bị bắt cóc đưa lên vùng Bắc cực để kéo xe trượt tuyết cho những người đi tìm vàng. Bấc đã phải qua tay nhiều ông chủ tàn bạo, độc ác. Chỉ có Giôn Thoóc-tơn là ông chủ duy nhất thương yêu nó và cảm hoá được nó. Nhóm tìm vàng của Thoóc-tơn cùng lũ chó tiến sâu mãi vào núi rừng miền Bắc hoang vu, lạnh lẽo. Sống giữa thiên nhiên hoang dại, khắc nghiệt, tiếng gọi của rừng thẳm, của tổ tiên hoang dã cứ thức dậy trong lòng Bấc. Dần dần nó đã trở thành một con chó to lớn hung dữ, ranh ma, chỉ thờ phụng riêng mình Thoóc-tơn. Nhưng rồi Thoóc-tơn và cả nhóm chết thê thảm trong rừng. Không cò gì có thể níu giữ Bấc với con người, nó mãi mãi đi theo tiếng gọi hoang dã của bầy sói rừng và trở thành một con sói thần khủng khiếp. Truyện hấp dẫn người đọc bởi cảnh thiên nhiên miền Bắc hoang dã, khắc nghiệt, dữ dội, đầy bí ẩn, bởi "xã hội" những người đi tìm vận may ở vùng đất bốn mùa tuyết phủ. Một xã hội có cả người mạnh mẽ, tự tin, dũng mãnh và nhân từ như Thoóc-tơn, có cả những kẻ tham lam, ngu xuẩn và độc ác như Han. Nhưng truyện còn đặc biệt hấp dẫn bởi những trang miêu tả đời sống tình cảm loài chó vừa sát thực, vừa sinh động. Do đâu mà tác giả có được những trang miêu tả đời sống "tâm hồn" con chó Bấc như đoạn trích trong sách giáo khoa Ngữ văn 9 ? Chính là do khả năng quan sát tinh tế của nhà văn.
       G. Lân-đân không nhân cách hoá các con chó của ông. Ông chỉ miêu tả chúng một cách chính xác, tinh tế, tỉ mỉ. Những biểu hiện tình cảm của các con chó trong đoạn trích là của chung loài chó, nhưng nhà văn, với tài quan sát của mình vẫn thấy chúng khác nhau. Xơ-kít, Ních, Bấc đều yêu mến, trung thành với Thoóc-tơn, nhưng mỗi con có một biểu hiện riêng. Cô ả Xơ-kít thì thích được chủ vuốt ve, âu yếm. Nó "có thói quen thọc cái mũi của nó vào dưới bàn tay của Thoóc-tơn rồi hích, hích mãi cho đên khi được vỗ về". Còn con Ních biểu lộ tình cảm sôi nổi vụng về hơn "thường chồm lên, tì cái đầu to tướng của cu cậu lên đầu gối Thoóc-tơn. Đặc biệt, mọi hành động, mọi biểu hiện của Bấc được tác giả quan sát và miêu tả vô cùng tỉ mỉ, tinh tường. Dường như Bấc cũng có các cung bậc tình cảm như con người. Khi thì Bấc "bật dậy trên hai chân, miệng cười, mắt long lanh, họng rung lên những âm thanh không thốt nên lời...". Ấy là lúc chú ta sung sướng ngây ngất khi được Thoóc-tơn đùa với nó, mắng yêu nó. Cũng có khi Bấc bộc lộ tình cảm như một đứa trẻ con: "Nó thường hay há miệng ra cắn lấy bàn tay Thooc-tơn rồi ép răng xuống mạnh đến nỗi vết răng hằn vào da thịt một lúc lâu". Ấy là những lúc tình cảm của Bấc dành cho Thoóc-tơn phá bờ tràn ra mãnh liệt. Thật thú vị khi ta đọc những câu miêu tả sự tôn thờ của Bấc đối với Thoóc-tơn. Sự miêu tả ấy đúng hành động của loài chó mà chúng ta thường thấy, nhưng không nhận ra hết ý nghĩa của nó. Chỉ đến khi đọc đoạn trích Con chó Bấc chúng ta mới hiểu được "loài khuyển mã chí tình" này : "Nó thường nằm phục ở chân Thoóc- tơn hàng giờ, mắt háo hức tỉnh táo nhìn lên mặt anh, chăm chú xem xét, hết sức quan tâm theo dõi từng biểu hiện thoáng qua, mọi cử động hoặc thay đổi trên nét mặt.", và "tình cảm của Bấc ngời lên qua ánh mắt toả rạng ra ngoài". Đặc biệt, tác giả đã hết sức nhạy cảm, tinh tế khi nhận xét : "Bấc không muốn rời Thoóc-tơn một bước. Từ lúc anh ra khỏi lều cho đến lúc anh quay trở về" chính là xuất phát từ nỗi sợ hãi bản năng, như là một dự cảm mơ hồ của Bấc về những nỗi hiểm nguy, về cả cái chết có thể ập đến với ông chủ bất cứ lúc nào. 
      Đó là nỗi sợ hãi mất Thoóc-tơn (mà sau này là sự thật thê thảm) : "Việc thay thầy đổi chủ luôn xoành xoạch từ khi nó đến vùng đất phương bắc đã làm nảy sinh trong lòng nó nỗi lo sợ là không người chủ nào có thể gắn bó lâu dài. Nó sợ Thooc-tơn lại cũng biến khỏi cuộc đời nó như Pê-rôn và Phơ-răng-xoa và hai anh chàng người lai Ê-cốt dã đi qua rồi biến mất trước đây. Ngay cả ban đêm, trong các giấc mơ, nó cũng bị nỗi lo sợ này ám ảnh. Những lúc ấy, nó vội vùng dậy không ngủ nữa, trườn qua giá lạnh đến tận mép lều, đứng đấy, lắng nghe tiếng thở đều đều của chủ". 
      Đoạn trích Con chó Bấc thể hiện óc quan sát tinh tế, tài miêu tả loài vật của G. Lân-đơn. Nhưng sức hấp dẫn người đọc của đoạn trích, cũng như của toàn bộ tiểu thuyết Tiếng gọi nơi hoang dã không phải là ở đó mà là con chó Bấc kì lạ làm thức dậy trong lòng ta những tình cảm con người trong sáng vị tha. Ai có lòng thương yêu bao dung loài vật chân thành, người đó ít có khả năng làm điều ác, sẽ sống cao đẹp, lương thiện với con người.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
431 lượt xem

         Truyện ngắn Bến quê ( in trong tập truyện ngắn cùng tên, xuất bản năm 1985) được xây dựng trên một nghịch lí khác, nghịch lí trong đường đời và cuộc đời của Nhĩ, nhân vật chính. Nhĩ là người đã đi đến không sót một xó xỉnh nào trên trái đất nhưng chẳng may mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo buộc phải dán chặt tấm thân trên chiếc phản gỗ và một lần được vợ đỡ ngồi dậy anh chợt nhận ra rằng cái bãi bồi bên kia sông anh chưa đặt chân đến bao giờ. Một nỗi thèm khát kì lạ đã đến với anh: anh muốn chiếm lĩnh cái không gian liền kề này nên đã nhờ Tuấn– đứa con trai học đại học tại một thành phố phía Nam vừa mới nghỉ hè trở về– thay anh đặt bước chân- vật chất thám hiểm bến sông . Anh muốn tận hưởng cái cảm giác “ chậm rãi đặt từng bước chân lên cái mặt đất dấp dính phù sa” ấy. 
      Từ lúc đứa con trai lộp bộp đôi dép sa bô xuống thang gác, anh hồi hộp, gắng gom góp sức tàn để theo dõi con đò mỗi ngày một chuyến đang chống sào tách khỏi chân bãi bồi bên kia để sang bên này và anh cũng kịp nhận ra rằng , thằng Tuấn con anh đã chậm chân vì nách vẫn kè kè cuốn sách dịch và mải sa vào một đám người chơi phá cờ thế trên hè phố. Thời gian được anh tính từng cái tích tắc, thế mà thằng Tuấn có hiểu được anh đâu. Nhưng làm sao hiểu được khi nó chưa đối diện với sự ngắn ngủi nghiệt ngã của thời gian như anh. Anh ‘ nghĩ một cách buồn bã, con người ta trên đường đời thật khó tránh khỏi được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình, vả lại nó đã thấy có gì đáng gọi là hấp dẫn ở bên kia sông đâu? Hoạ chăng chỉ có anh là người từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết vẻ giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, bởi lẽ không bao giờ giải thích hết.”
       Đường đời của nhân vật Nhĩ quả là đã được đo bằng các đơn vị lớn lao bằng vùng , miền , quốc gia , châu lục, đại dương và nhiệm vụ anh phải đảm nhiệm hẳn là rất quan trọng mang tầm quốc gia , dân tộc. Vậy mà giờ đây, anh phát hiện ra cái không gian trước mắt không quá một tầm nhìn từ cửa sổ nhà anh – chứ không hề là cái không gian vũ trụ trong tư thế “đăng cao , vọng viễn” gì cả, anh cũng không phải là người li hương gần suốt cả cuộc đời như Hạ Tri Chương xưa kia tóc đã điểm sương mới về quê cũ – mà lại xa lạ với cái gần gũi đến mức tự trách sao mình chưa đặt chân đến đó bao giờ. Trong tâm lí nhân vật, đây không phải là trạng thái nặng nề của sự cắn rứt lương tâm vì không có một dòng nào trong truyện phủ nhận những gì anh đã trải qua, đã sống và hiến dâng cho sự nghiệp chung. Đây chỉ là một niềm hối tiếc pha chút ân hận: sao trong những năm tháng trải bước khắp mọi phương trời, ta lại không một lần ngoái về để nhìn ra được vẻ đẹp của những gì thân quen , gần gũi nhất, nơi đã sinh ra ta , nuôi ta lớn thành người và sẽ là nơi ta nằm xuống mãi mãi trong lòng đất mẹ. Đó là bước thức nhận của tâm hồn và trí tuệ trên lộ trình dài dặc quanh co của đường đời . 
       Con người ấy , giờ đây muốn nằm , muốn ngồi đều cần sự nâng đỡ của vợ, con và những người hàng xóm đầy cảm thông và tốt bụng. Nhân vật đã thực hiện những phép so sánh đầy nghịch lí : “ Vừa nghe Tuấn nện lộp bộp đôi dép sa bô xuống thang, Nhĩ đã thu hết tàn lực lết dần, lết dần trên chiếc phản gỗ. Nhấc mình ra được bên ngoài phiến nệm nằm, anh tưởng như mình vừa bay được nửa vòng trái đất– trong một chuyến đi công tác ở một nước bên Mĩ La tinh hai năm trước. Anh vẫn chưa nhích đến được bên bậu cửa sổ. Anh phải nhờ bọn trẻ con nhà tầng dưới để đi hết “ nửa vòng trái đất” còn lại– từ mép tấm nệm nằm ra mép tấm phản, khoảng cách ước chừng năm phục phân để dõi nhìn ‘cái mũ cói rộng vành và chiếc sơ mi màu trứng sáo” xem nó có kịp chuyến đò ngang duy nhất trong ngày không?
       Cuộc đời Nhĩ, chưa phải là dài nhưng tuyệt đối không quá ngắn . Bằng chứng là thằng Tuấn – đứa con thứ hai của anh đã vào đại học tròn năm nhưng đến bây giờ là lần đầu tiên Nhĩ mới để ý thấy vợ mình – Liên– đang mặc tấm áo vá. Cảm thức mỗi ngày trôi qua với anh thật dài dằng dặc :

“Hôm nay đã là ngày thứ mấy rồi em nhỉ?”
“Anh cứ yên tâm. Vất vả , tốn kém đến bao nhiêu em với các con cũng chăm lo cho anh được”
Trong cảm thức của anh, thời gian còn lại thật vô cùng ngắn ngủi: “ Không khéo rồi thằng con trai anh lại trễ mất chuyến đò trong ngày”. “ Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát– y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó. Giây phút ấy ở Nhĩ còn khẩn cấp hơn cả tiếng gọi đò trên bến vắng My Lăng tự thuở nào: “ Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách/ Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng” ( bến My Lăng – Yến Lan).
      Quá trình tâm lí tư tưởng ấy diễn biến trong cái không gian nhỏ hẹp của tấm phản, căn phòng, khung cửa sổ. Bến sông quê cạnh nhà gần gũi thế nhưng sao mà xa cách trong tâm thế phát hiện lần đầu với nỗi vô vọng bất lực của nhân vật. Nó là không gian vi mô hiện lên trước cái nhìn cận cảnh trong sự đối sánh đầy chất đối nghịch với không gian vĩ mô tạo bỡi cái nhìn xa vào những chân trời quá khứ:
“– Anh cứ tập tành và uống thuốc cho đều. Sang tháng mười nhất định anh đi lại được
– Vậy thì đầu hoặc giữa tháng mười một, anh sẽ đi Thành phố Hồ Chí Minh một chuyến
– Đi thành phố Hồ Chí Minh thì chắc chẳng được nhưng anh có thể chống gậy đi trong nhà. Hoặc tiến triển tốt hơn, em có thể đỡ anh men cầu thang bước xuống một bậc…hoặc giả anh lại khoẻ hơn, chúng mình có thể bước xuống hai bậc
– Ừ , tưởng gì…nhất định đầu tháng mười anh sẽ đi ra được đến đầu cầu thang”
     Cùng với không gian ấy là sự đối chứng của thời gian thực tại ngắn ngủi– đời thường với thời gian đời người mà Nhĩ đã trải qua. Cái Bến quê được đặt trong tương quan không – thời gian đó. Nó là tất cả những phát hiện ấm áp tình người, tình đời của nhân vật mà cũng là của tác giả trước những gì thân quen nhất , thân yêu nhất, những gì hồn nhiên, gần gũi nhất, những gì là giàu có, đẹp đẽ nhất, thuần phác nhất và cổ sơ nhất của mảnh đất sinh thành ra ta và sẽ nhận ta về khi nhắm mắt xuôi tay.
     Bến quê theo ý nghĩa đó là một nhận thức sáng ngời của nhân vật về đường đời và cuộc đời. Nhưng thật oái oăm chính khi anh thức nhận ra được chân lí ấy thì anh lại không còn khả năng để thực hiện. Đó là sự bất lực của thực tiễn trước khát vọng đẹp đẽ lành mạnh như một yêu cầu tất yếu. Người đọc trân trọng Bến quê, trân trọng những suy ngẫm, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người và cuộc đời, thức tỉnh ở mọi người hãy trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình của quê hương.

Sưu Tầm
0
phiếu
0đáp án
507 lượt xem

Từ "Đồng chí" của Chính Hữu đến "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật

BÀI LÀM
 
     Chính Hữu sinh năm 1926. Năm 1946 nhập ngũ, là lính trung đoàn Thủ đô. Đầu 1948, bài thơ Đồng chí ra đời, khi ông là chính trị viên đại đội. Phạm Tiến Duật sinh năm 1941, năm 1964 gia nhập quân đội, hoạt động trên tuyến đường Trường sơn Bài thơ về tiểu đội xe không kính sáng tác năm 1969.
Hai ông thuộc hai thế hệ thi nhân nối tiếp nhau trong cuộc trường chinh chống ngoại xâm của dân tộc. Hai thi phẩm mà chúng ta đề cập là hai trong những tác phẩm tiêu biểu của mỗi thời kì văn học chống Pháp và chống Mĩ thể hiện hình tượng Anh bộ đội cụ Hồ. Cùng với Cá nước của Tố Hữu, Tây Tiến của Quang Dũng, Năm anh em trên một chiếc xe tăng của Hữu Thỉnh, Bầu trời vuông của Nguyễn Duy ..., người lính trong Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính là những hình ảnh tiêu biểu của thơ Việt Nam 1945 - 1975, sẽ còn sống mãi trong lòng người đọc. 
Đọc Đồng chí, cảm nhận chung của chúng ta là : người lính cách mạng trong kháng chiến chống Pháp xuất thân từ nông dân. Hình ảnh họ được Chính Hữu dựng lên chân thực, giản dị, cao đẹp. Khác khuynh hướng cảm hứng lãng mạn anh hùng với những hình ảnh thơ mang dáng dấp tráng sĩ trượng phu của thơ ca đầu chống Pháp, cảm hứng của Chính Hữu trong Đồng chí hướng về chất thực của đời sống, khai thác cái đẹp và chất thơ trong cái bình dị, bình thường của cuộc chiến đấu và người chiến sĩ. Cái đẹp trong khó khăn, thiếu thốn và nhất là đẹp trong tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu nặng.

Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
.....
Súng bên súng đầu gối bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí ! 

Đoạn mở đầu này có bảy dòng, theo ba cặp và cuối cùng dồn lại ở một từ : Đồng chí ! Một sự lí giải tình đồng chí của người lính. Đó là xuất phát từ sự giống nhau ở cảnh ngộ, xuất thân nghèo khó. Là cùng chung mục đích, lí tưởng, nhiệm vụ, chia sẻ gian lao (Súng bên súng đầu gối bên đầu ; Đêm rét chung chăn ...). Một chữ chung khiến những người vốn xa lạ thành đôi tri kỉ và cao hơn thành Đồng chí. 

Người xưa đánh giá tình bạn cao nhất bằng tình tri kỉ. Chính Hữu nhìn thấy ở Anh bộ đội cụ Hồ một thứ tình cảm còn sâu sắc hơn, gắn bó hơn - Tình đồng chí. Tình cảm này không phải chỉ vì cái chung lớn lao, mà là sự cảm thông sâu xa tâm tư, nỗi lòng của nhau. Là những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời chiến đấu ... Tất cả diễn đạt bằng lời không đủ. Bao nhiêu lời thân thương, trìu mến nhất cũng trở thành sáo rỗng, không chuyên trở nổi sức nặng cảm động giữa những người lính, người đồng đội. Vì thế đoạn thơ thứ hai, có mười dòng vẫn theo từng cặp tương ứng để cuối cùng dồn lại một hành động thay cho muôn lời “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.
Tình Đồng chí giữa những người lính vệ quốc, nói như Hồng Nguyên, người cùng thời :

Lũ chúng tôi 
Bọn người tứ xứ 
Gặp nhau hồi chưa biết chữ 
Quen nhau từ buổi một hai 
Súng bắn chưa quen 
Quân sự mươi bài 
Lòng vẫn cười vui kháng chiến ...

Hay nói như Chính Hữu :

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày ...
Cũng là tình của cha ông thuở mới nổi dậy chống Pháp hồi giữa thế kỉ XIX truyền lại. Tình của những “dân ấp, dân lân”, “Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn làm quen ; Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó” ( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu ). Những con người ấy vốn dĩ không đi vào cuộc chiến cam go, thiếu thốn này bằng óc lãng mạn. Nhưng cuộc chiến đấu trên chiến hào bảo vệ Tổ quốc đã khiến họ thành oai hùng, lãng mạn.

Bức tượng đài cuối bài thơ là sự phát triển tất yếu từ Tình đồng chí.

Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
       Đó là cuộc đời thực của những người lính nông dân nghèo khổ nơi “đất mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”, “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày” được tình cảm cách mạng cao đẹp tạc thành dáng hình mới - Dáng đứng Việt Nam ở thế kỉ XX.
      Nếu Đồng chí là hình ảnh Anh bộ đội cụ Hồ nông dân chưa biết chữ, “Gian nhà không mặc kệ nó lung lay”, thì người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật là một hoá thân khác . Hình ảnh người lính của Phạm Tiến Duật có thể xuất thân từ nông dân, công nhân hay tiểu tư sản... nhưng họ không phải là những người chiến sĩ như của Chính Hữu hay Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng trước đây. Không “áo rách vai, quần vài mảnh vá, chân không giày”, cũng không “người ra đi đầu không ngoảnh lại ; Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” hay “Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm - Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa” hoặc “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới - Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm”.
Họ là những người thanh niên học sinh đã qua hai chục năm dưới mái trường miền Bắc xã hội chủ nghĩa đi chiến đấu, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Một cuộc chiến tiếp nối kháng chiến chống Pháp nhưng dài lâu, ác liệt hơn, phải đương đầu với một đế quốc giàu có bậc nhất thế giới - Đế quốc Mĩ.
Người chiến sĩ trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính mang đặc điểm như đã nói trên nên tuy vẫn cùng bốn phương tụ hội nhưng không có chất tráng sĩ hào hoa xưa, cũng không có chất nông dân thuần phác xa cũ. Hình ảnh chiến sĩ trong bài thơ là hình ảnh hồn nhiên, trong sáng, vô tư của thế hệ thanh niên trí thức mới trong cả đoàn quân “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước - Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu).
       Họ - người chiến sĩ lái xe. “Những chiếc xe từ trong bom rơi ; Đã về đây họp thành tiểu đội”. “Không có kính rồi xe không có đèn ; Không có mui xe ...” vì “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Nên phải chịu bao nhiêu gian khổ : gió tự do, bụi tự do, mưa xối xả tự do hành hạ. Song :

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Những người chiến sĩ này, không phải là những số ít như trong bài thơ Đồng chí. Một hình ảnh đẹp nhưng cho ta cảm giác nhỏ nhoi, đơn lẻ, thương mến bên nhau trong tình đồng chí giữa “anh với tôi” trong cảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. (Quê hương anh ... Làng tôi ; Anh với tôi đôi người xa lạ, Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh ; Áo anh rách vai, Quần tôi có vài mảnh vá ... ).
      Tình đồng đội, đồng chí ở bài thơ của Phạm Tiến Duật có cái tên chung là : ta - chúng ta. Tất cả đều là đồng chí, trẻ, khoẻ, dũng cảm, bất chấp nguy hiểm. Hiên ngang một cách ung dung, đến ngang tàng.
Bởi vì thế hệ cha anh họ thành đồng đội, thành đồng chí nhưng đằng sau là hệ lụy của những lí lịch giai cấp vừa thoát khỏi đêm trường nô lệ. Còn hình ảnh người chiến sĩ chống Mĩ đã cắt đứt vô tư với lí lịch đau buồn kia. Là chủ nhân ông của một đất nước, một dân tộc kiêu hãnh sánh vai với các cường quốc năm châu.
      Anh hùng là hành vi; hào sảng là giọng điệu của những người chiến sĩ - đồng chí, đồng đội trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính.

Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi.

Nhưng :

Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng
- Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa,phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
- Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.
- Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. 
     Họ không cần nhiều tìm hiểu, không cần phải đồng cảnh ngộ, đồng tâm tư, tình cảm riêng như cha anh mới thành đồng chí trên chiến hào. Với họ “từ trong bom rơi” “họp thành tiểu đội”. Và “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời, Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. Rồi có thể chia tay : “Lại đi, lại đi trời xanh thêm”.
Nếu hình ảnh Người chiến sĩ trong Đồng chí là một bức tượng đài :

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Thì hình tượng Người chiến sĩ ở Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một phù điêu tổ hợp của những khuôn mặt trai trẻ hồn nhiên đến ngang tàng trong đoàn quân trảy hội chiến trường.
Đồng chí (Chính Hữu) và Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật) là hai tiêu điểm trong các tiêu điểm của Hình tượng người lính - Anh bộ đội cụ Hồ mà thơ ca dựng nên trong 30 năm chiến đấu gian khổ hi sinh cho đến ngày toàn thắng - 1975. Mỗi một hình ảnh thơ là một điểm sáng thẩm mĩ lấy chất liệu, tiếng nói đời thường làm nguồn cảm hứng và ngôn ngữ nghệ thuật.
       Nếu ví nền thơ Việt Nam đương đại như một bầu trời sao thì mỗi khi nhìn bầu trời ấy, ta không thể không thấy hai vì sao lấp lánh Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính.


Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
512 lượt xem
0
phiếu
0đáp án
358 lượt xem

A- Mở bài:

- Từ thế kỉ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu khủng hoảng, vấn đề số phận cong người trở thành mối quan tâm của văn chương, tiếng nói nhân văn trong các tác phẩm văn chươngngày càng phát triển phong phú và sâu sắc.
- Truyền kì mạn lục cảu Nguyễn Dữ là một trong số đó. Trong 20 thiên truyện của tập truyền kì, “chuyện người con gái Nam Xương” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho cảm hứng nhân văn của Nguyễn Dữ.

B- Thân bài:

1. Tác giả hết lời ca ngợi vẻ đẹp của con người qua vẻ đẹp của Vũ Nương, một phụ nữ bình dân

- Vũ Nương là con nhà nghèo (“thiếp vốn con nhà khó”), đó là cái nhìn người khá đặc biệt của tư tưởng nhân văn Nguyễn Dữ.
- Nàng có đầy đủ vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: thuỳ mị, nết na. Đối với chồng rất mực dịu dàng, đằm thắm thuỷ chung; đối với mẹ chồng rất mực hiếu thảo, hết lòng phụ dưỡng; đói với con rất mực yêu thương.
- Đặc biệt, một biểu hiện rõ nhất về cảm hứng nhân văn, nàng là nhân vật để tác giả thể hiện khát vọng về con người, về hạnh phúc gia đình, tình yêu đôi lứa:
+ Nàng luôn vun vén cho hạnh phúc gia đình.
+ Khi chia tay chồng đi lính, không mong chồng lập công hiển hách để được “ấn phong hầu”, nàng chỉ mong chồng bình yên trở về.
+ Lời thanh minh với chồng khi bị nghi oan cũg thể hiện rõ khát vọng đó: “Thiếp sở dĩ nương tựa và chàng vì có cái thú vui nghi gai nghi thất”
Tóm lại : dưới ánh sáng của tư tưởng nhân vănđã xuất hiện nhiều trong văn chương, Nguyễn Dữ mới có thể xây dựng một nhân vật phụ nữ bình dân mang đầy đủ vẻ đẹp của con người. Nhân văn là đại diện cho tiếng nói nhân văn của tác giả.

2. Nguyễn Dữ trân trọng vẻ đẹp của Vũ Nương bao nhiêu thì càng đau đớn trước bi kịch cuộc đời của nàng bấy nhiêu.

- Đau đớn vì nàng có đầy đủ phẩm chất đáng quý và lòng tha thiết hạnh phúc gia đình, tận tuỵ vun đáp cho hạnh phúc đó lại chẳng được hưởng hạnh phúc cho xứng với sự hi sinh của nàng:
+ Chờ chồng đằng đẵng, chồng về chưa một ngày vui, sóng gió đã nổi lên từ một nguyên cớ rất vu vơ (Người chồng chỉ dựa vào câu nói ngây thơ của đứa trẻ đã khăng khăng kết tội vợ).
+ Nàng hết mực van xin chàng nói rõ mọi nguyên cớ để cởi tháo mọi nghi ngờ; hàng xóm rõ nỗi oan của nàng nên kêu xin giúp, tất cả đều vô ích. Đến cả lời than khóc xót xa tột cùng “Nay đã bình rơi trâm gãy,… sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió,… cái én lìa đàn,…” mà người chồng vẫn không động lòng.
+ Con người ttrong trắng bị xúc phạm nặng nề, bị dập vùi tàn nhẫn, bị đẩy đến cái chết oan khuất
Bi kịch đời nàng là tấn bi kịch cho cái đẹp bị chà đạp nát tan, phũ phàng.

3. Nhưng với tấm lòng yêu thương con người, tác giả không để cho con người trong sáng cao đẹp như nàng đã chết oan khuất.
- Mượn yếu tố kì ảo của thể loại truyền kì, diễn tả Vũ Nương trở về để được rửa sạch nỗi oan giữa thanh thiên bạch nhật, với vè đẹp còn lộng lẫy hơn xưa.
- Nhưng Vũ Nương được tái tạo khác với các nàng tiên siêu thực : nàng vẫn khát vọng hạnh phúc trần thế (ngậm ngùi, tiếc nuối, chua xót khi nói lời vĩnh biệt “thiếp chẳng thể về với nhân gian được nữa”.
- Hạnh phúc vẫn chỉ là ước mơ, hiện thực vẫn quá đau đớn (hạnh phúc gia đình tan vỡ, không gì hàn gắn được).

4. Với niềm xót thương sâu sắc đó, tác giả lên án những thế lkực tàn ác chà đạp lên khát vọng chính đáng của con người.

- XHPK với những hủ tục phi lí (trọng nam khinh nữ, đạo tòng phu,…) gây bao nhiêu bất công. Hiện thân của nó là nhân vật Trương Sinh, người chồng ghen tuông mù quáng, vũ phu.
- Thế lực đồg tiền bạc ác (Trương Sinh con nhà hào phú, một lúc bỏ ra 100 lạng vàng để cưới Vũ Nương). Thời này đạo lí đã suy vi, đồng tiền đã làm đen bạc tình nghĩa con người.
Nguyễn Dữ tái tạo truyện cổ Vợ chàng Trương, cho nó mạng dáng dấp của thời đại ông, XHPKVN thế kỉ XVI.

C- Kết bài:
- “Chuyện người con gái Nam Xương” là một thiên truyền kì giàu tính nhân văn. Truyện tiêu biểu cho sáng tạo của Nguyễn Dữ về số phận đầy tính bi kịch của người phị nữ trong chế độ phong kiến.
- Tác giả thấu hiểu nỗi đau thương của họ và có tài biểu hiện bi kịch đó khá sâu sắc.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
526 lượt xem

I - TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả:
Nhà văn Nguyễn Thành Long (1925-1991), quê ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, viết văn từ thời kì kháng chiến chống Pháp. Ông là cây bút chuyên về truyện ngắn.
"Tập trung nhiệt thành ngợi ca những con người lao động mới, dám nghĩ, dám làm, không sợ khó khăn gian khổ, say mê trong lao động sáng tạo, nhân hậu và tha thiết yêu cuộc sống... Truyện của Nguyễn Thành Long hấp dẫn người đọc bằng văn trong sáng, giàu chất thơ, nhẹ nhàng thoải mái, cốt truyện tưởng như giản đơn mà rất giàu ý nghĩa khái quát. Lặng lẽ Sa Pa là một truyện ngắn tiêu biểu như thế. Truyện viết về một thị xã nhỏ bé của tỉnh Lào Cai luôn chìm đắm trong sương mù: Sa Pa. Đến với nơi ấy là những con người thật đẹp: một anh thanh niên làm công tác khí tượng thuỷ văn trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét, một cô kỹ sư nông nghiệp mới ra trường, một bác lái xe già đã chạy suốt 30 năm trên tuyến đường Sa Pa, một hoạ sĩ đi thực tế chuyến đi cuối của cuộc đời công tác trước lúc nghỉ hưu, bốn gương mặt tiêu biểu, bốn tính cách khác nhau: anh thanh niên đầy nhiệt huyết bộc trực, chân thành, cô kỹ sư trẻ hồn nhiên nhưng kín đáo, tế nhị, ông hoạ sĩ trầm tĩnh, sâu lắng, còn bác lái xe thì sôi nổi, vui tính... Họ tình cờ gặp nhau trên đường tới Sa Pa mà bỗng trở nên gần gũi và thân thiết như trong một gia đình. Tuy tính cách và nghề nghiệp khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một tâm hồn trong sáng, tinh tế, một suy nghĩ lành mạnh, sâu sắc, và nhất là họ có chung một thái độ sống, lao động, làm việc và cống hiến hết mình cho tổ quốc một cách vô tư, hồn nhiên, âm thầm và lặng lẽ. Đó là một truyện ngắn hay và tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Thành Long: nhẹ nhàng kín đáo mà rất sâu sắc và thấm đẫm chất thơ" (Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường, Sđd).

2. Tác phẩm:
- Nhà văn đã cho xuất bản nhiều truyện ngắn, trong đó nổi bật là các tập: Bát cơm Cụ Hồ (1955); Chuyện nhà chuyện xưởng (1962); Những tiếng vỗ cánh (1967); Giữa trong xanh (1972); Nửa đêm về sáng (1978); Lí Sơn mùa tỏi (1980); Sáng mai nào, xế chiều nào (1984); Lặng lẽ Sa Pa (1990),...
Ông đã được Giải thưởng Phạm Văn Đồng với tập truyện ký Bát cơm Cụ Hồ (1953).
- Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa được nhà văn Nguyễn Thành Long viết năm 1970, sau chuyến đi Lào Cai của tác giả. 
Thông qua một tình huống gặp gỡ bất ngờ giữa ông hoạ sĩ già, cô kĩ sư trẻ với anh thanh niên làm công tác ở trạm khí tượng trên đỉnh Yên Sơn thuộc Sa Pa, tác giả khẳng định vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng.
3. Tóm tắt:
Lặng lẽ Sa Pa có một cốt truyện đơn giản. Chỉ là cuộc hội ngộ giữa bốn người: ông hoạ sĩ già, cô kĩ sư¬ mới tốt nghiệp, bác lái xe và anh thanh niên phụ trách trạm khí tượng trên núi Yên Sơn. Tác giả không hề cho biết tên của các nhân vật. Qua cuộc hội ngộ của những con ngư¬ời "không có tên" ấy, hiện ra chân dung con người lao động thầm lặng, trên cái nền lặng lẽ thơ mộng của Sa Pa. Câu chuyện về cuộc hội ngộ chỉ diễn ra trong vòng ba m¬ươi phút, người hoạ sĩ chỉ kịp phác thảo bức chân dung của mình như¬ng chân dung của chàng thanh niên, của những con người đang cống hiến tuổi xuân, ngày đêm lặng lẽ làm việc thì đã hiện ra rõ nét. Chân dung ấy hiện ra trước hết qua sự giới thiệu của bác lái xe vui tính, qua sự quan sát, cảm nhận, suy ngẫm nhà nghề của bác hoạ sĩ, qua sự cảm nhận của cô gái trẻ và qua sự tự hoạ của chàng trai.
II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM
Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long nhẹ nhàng mà sâu sắc, thẫm đẫm chất thơ. Nhẹ nhàng, kín đáo như Sa Pa thành phố trong sư¬ơng, và cũng giàu sức sống với hoa trái ngát hương bốn mùa. Lặng lẽ mà không buồn tẻ, những con ngư¬ời nơi đây đang từng ngày thầm lặng cống hiến sức lực của mình, thầm lặng đem lại hương sắc cho cuộc sống. Đọc truyện ngắn này, chúng ta chúng ta có thể đồng cảm với nhau:
"Sa Pa không chỉ là một sự yên tĩnh. Bên dư¬ới sự yên tĩnh ấy, ngư¬ời ta làm việc!"
Theo lời giới thiệu của bác lái xe, cái con ng¬ười "cô độc nhất thế gian" là một thanh niên hai mươi bảy tuổi, làm công tác khí tư¬ợng kiêm vật lí địa cầu. Trong câu chuyện phác thảo chân dung của bác lái xe, đáng chú ý là chuyện "thèm ngư¬ời" của anh chàng "cô độc nhất thế gian" kia. Không phải anh ta "sợ người" mà lên làm việc ở đây, trái lại, anh ta từng chặt cây ngáng đư¬ờng ngăn xe dừng lại để được gặp người "nhìn trông và nói chuyện một lát". 

Qua cái nhìn của ngư¬ời hoạ sĩ, anh thanh niên hiện ra với "tầm vóc nhỏ bé, nét mặt rạng rỡ". Anh ta sống trong "Một căn nhà ba gian, sạch sẽ, với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm. Cuộc đời riêng của anh thanh niên thu gọn lại một góc trái gian với chiếc giư¬ờng con, một chiếc bàn học, một giá sách.". Một cuộc sống giản dị, ngăn nắp của một ng¬ười yêu đời, say mê công việc và không có vẻ gì của sự buồn chán.
Trong sự cảm nhận của cô kĩ sư¬ mới ra trư¬ờng, cuộc sống của người thanh niên là "cuộc sống một mình dũng cảm tuyệt đẹp", anh mang lại cho cô "bó hoa của những háo hức và mơ mộng ngẫu nhiên".
Nếu như¬ người hoạ sĩ lão thành mới chỉ ghi đư¬ợc "lần đầu gư¬ơng mặt của ngư¬ời thanh niên" thì chính những lời tâm sự của một kẻ "thèm ngư¬ời" khi được gặp người đã là một bức chân dung tự hoạ khá hoàn chỉnh. Chân dung là gì nếu không phải là những nét vẽ tinh thần, những nét gợi tả phẩm chất? Những nét tự hoạ của anh thanh niên về cả những con ngư¬ời đang làm việc như¬ anh khiến người hoạ sĩ già, dù đã trải nhiều chuyện đời phải suy ngẫm rất nhiều:
"Ngư¬ời con trai ấy đáng yêu thật, như¬ng làm cho ông nhọc quá. Với những điều làm cho ngư¬ời ta suy nghĩ về anh. Và về những điều anh suy nghĩ trong cái vắng vẻ vòi vọi hai nghìn sáu trăm mét trên mặt biển, cuồn cuộn tuôn ra khi gặp ngư¬ời."
Vậy những điều gì ở chàng thanh niên đã làm cho ngư¬ời hoạ sĩ già suy nghĩ và thậm chí làm thay đổi cả cái quan niệm về mảnh đất Sa Pa vốn có trong ông? 
Nỗi "thèm ngư¬ời" ở anh thanh niên không phải nỗi nhớ cuộc sống đông đúc, tiện nghi, an nhàn, như anh nói: "Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô thị thì xoàng". Người thanh niên hiểu rất rõ công việc của mình, chấp nhận sống trong hoàn cảnh buồn tẻ, cô độc để làm công việc "đo gió, đo mư¬a, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trư¬ớc thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu". Như¬ng con ng¬ười ấy không hề thấy buồn tẻ, cô độc. Cái sự "thèm người" của chàng thanh niên là lẽ bình th¬ờng của con ng¬ười, nhất lại là tuổi trẻ. Anh sống với triết lí: "khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình đư¬ợc?". Đư¬ợc làm việc có ích đối với anh thế là niềm vui. Hơn nữa công việc của anh gắn liền với công việc của bao anh em đồng chí khác ở những điểm cao hơn hoặc thấp hơn. Ngư¬ời hoạ sĩ đã thấy bối rối khi bất ngờ đư¬ợc chiêm ng¬ưỡng một chân dung đẹp đẽ đến thế: "bắt gặp một con ng¬ười nh¬ư anh là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nh¬ng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài". Và chắc chắn ông sẽ còn bối rối khi muốn dựng lên chân dung của Sa Pa. Bởi vì, trong sự tự hoạ của chàng trai còn hiện ra những chân dung khác nữa, cũng quên mình, say mê với công việc nh¬ư anh kĩ s¬ư ở vườn rau d¬ưới Sa Pa "Ngày này sang ngày khác... ngồi im trong vư¬ờn su hào, rình xem cách ong lấy phấn, thụ phấn cho hoa su hào...", nhà nghiên cứu sét mười một năm không rời xa cơ quan một ngày vì sợ có sét lại vắng mặt. Cái lặng lẽ của cảnh sắc Sa Pa thì cây cọ trên tay ngư¬ời hoạ sĩ có thể lột tả không mấy khó khăn, như¬ng cái không lặng lẽ của Sa Pa như¬ ông đã thấy qua những con ngư¬ời kia thì vẽ thế nào đây? Ngư¬ời hoạ sĩ nhận thấy rất rõ "sự bất lực của nghệ thuật, của hội hoạ trong cuộc hành trình vĩ đại là cuộc đời".
Người đọc có thể dễ dàng nhận thấy trong Lặng lẽ Sa Pa, có hai nhân vật hầu như¬ chỉ lặng lẽ nghe và suy ngẫm. Đó là ngư¬ời hoạ sĩ và cô kĩ sư¬ trẻ. Trước chàng trai trẻ trung yêu đời, hiểu và yêu công việc thầm lặng của mình, ngư¬ời hoạ sĩ nhận ra rằng Sa Pa, cái tên mà chỉ nghe đến "người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi", có những con ngư¬ời làm việc và lo nghĩ cho đất nư¬ớc. Thoạt đầu, đáp lại lời bác lái xe, ngư¬ời hoạ sĩ nói: "Thích chứ, thích lắm. Thế nào tôi cũng về ở hẳn đấy. Tôi đã định thế. Như¬ng bây giờ chư¬a phải lúc". Sau khi gặp, đư¬ợc nghe chàng thanh niên nói, được chứng kiến và hiểu cuộc sống của những con người đang làm việc thực sự, cống hiến thực sự, quan niệm của ngư¬ời hoạ sĩ đã thay đổi. Lúc chia tay, ngư¬ời hoạ sĩ già còn chụp lấy tay ngư¬ời thanh niên lắc mạnh và nói: "Chắc chắn rồi tôi sẽ trở lại. Tôi ở với anh mấy hôm đư¬ợc chứ?" Đây không chỉ là sự thay đổi trong cái nhìn về Sa Pa mà còn là sự thay đổi trong quan niệm của một nghệ sĩ về cuộc sống, về cái đẹp. Còn cô gái? Khi từ biệt, "Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng, như ngư¬ời ta trao cho nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay". Cô đã hiểu đư¬ợc nhiều điều từ cuộc sống, công việc của chàng trai. Có lẽ trong cái bắt tay ấy là niềm tin, là ý nghĩa đích thực của lao động, là cả sự thầm lặng cống hiến cho đời,... Những điều đó sẽ giúp cô vững vàng hơn trong những bước đầu tiên vào đời.
Nguyễn Thành Long đã cho ngư¬ời đọc thấy cái không lặng lẽ của Sa Pa. Với những nét vẽ mộc mạc, bức chân dung về mảnh đất trên cao ấy có sức ấm toả ra từ những bàn tay, khối óc đang từng ngày bền bỉ, thầm lặng cống hiến.

(sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
549 lượt xem

1. Trong ý đồ thiết kế và thực hiện chương trình dạy học Ngữ văn ở cấp THCS, thể loại là một tiêu chí quan trọng. Một trong những yêu cầu quan trọng của chương trình Ngữ văn THCS là hình thành ở HS những hiểu biết về các kiểu văn bản và nắm được các phương thức biểu đạt chủ yếu (tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận). Hầu hết các văn bản được lựa chọn để học là các tác phẩm văn học (hoặc đoạn trích tác phẩm), vì thế mỗi kiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn lại thuộc về một thể loại văn học nhất định(...) Những hiểu biết về thể loại có một ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với việc tiếp nhận, phân tích các tác phẩm có trong chương trình, mà còn cần thiết cho HS để đọc hiểu được các tác phẩm khác ngoài chương trình [4 tr186]. Như thế là bởi vì: Thể loại văn học là sự thống nhất giữa một loại nội dung và một dạng hình thức văn bản và phương thức chiếm lĩnh đời sống, là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm [5 tr300,301). Đọc hiểu văn bản phải đi từ dạng hình thức văn bản để cảm thụ phương thức chiếm lĩnh đời sống, rồi từ đó hiểu được nội dung, ý nghĩa, các khía cạnh tư tưởng nghệ thuật mà tác giả thể hiện qua văn bản; phải đi từ việc nắm bắt và sử dụng những thông tin có ngay trong văn bản (có ý kiến cho rằng đây là hoạt động đọc hiểu cấu trúc văn bản) đến những thông tin có trong bài (đọc hiểu nội dung văn bản), rồi cao hơn là khái quát liên hệ giữa những cái mà học sinh đã đọc với thế giới bên ngoài (đọc hiểu ý nghĩa văn bản). Có thể đồng tình với quan niệm cho rằng: tính chất của hoạt động đọc hiểu văn bản sẽ được quy định theo nguyên tắc đọc hiểu văn bản phù hợp với đặc điểm thể loại của văn bản [1 tr26]. Bài viết này góp phần thảo luận về phương hướng, phương pháp dạy đọc hiểu trích đoạn văn bản truyện ngắn Bến quê của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong chương trình Ngữ văn lớp 9 (kỳ 2). Việc làm này vừa là một thể nghiệm cụ thể vừa góp phần cung cấp những kinh nghiệm, phương pháp, kỹ năng có thể tích hợp thực hiện hiệu quả hơn ý đồ của chương trình Ngữ văn THCS nói chung.
2. Trước khi vận dụng kiến thức về đặc điểm loại thể để tìm hiểu văn bản tác phẩm, cần chú ý kiến thức về các thể loại văn học, đối với HS (THCS) không phải ở dạng lý thuyết mà gắn liền với các văn bản cụ thể [3 tr186], nghĩa là khi bước vào hoạt động đọc hiểu, HS chỉ có những kiến thức còn chưa thật khái quát, minh định về đặc điểm thể loại văn bản. Vả chăng, trong thực tế văn học, nhất là ở văn học hiện đại, mỗi tác phẩm thường không sử dụng duy nhất một phương thức biểu đạt mà phối hợp nhiều phương thức. Chẳng hạn trong tác phẩm truyện luôn có cả tự sự, miêu tả, biểu cảm và đôi khi cả nghị luận. Tuy nhiên, ở mỗi tác phẩm, vẫn nổi lên một hay vài phương thức biểu đạt chủ yếu, làm căn cứ để xác định và gọi tên thể loại của tác phẩm ấy [4 tr187]

Giáo viên không thể chỉ xuất phát từ những tri thức của bản thân mình - ở trình độ giáo viên - về đặc điểm thể loại tác phẩm, mà phải căn cứ vào tri thức và kinh nghiệm của HS, căn cứ vào tài liệu giáo khoa và các phương tiện dạy học bổ trợ khác liên quan đến văn bản mà HS có được để tiến hành dạy học văn bản. 
Cần căn cứ vào SGK, từng bước xác định thể loại của văn bản, gợi nhớ những đặc điểm thể loại này đã có trong kinh nghiệm kiến thức của học sinh, xác định sự thể hiện các đặc điểm thể loại của văn bản, từ đó hướng dẫn HS tiến hành các bước đọc hiểu cho phù hợp với điều kiện và mục tiêu dạy học văn bản.
Theo SGK cung cấp, ta có thể xác định trích đoạn văn bản Bến quê thuộc thể loại truyện hiện đại. Cách xác định này được gợi ý ngay ở phần kết quả cần đạt của bài 27: “Cảm nhận được ý nghĩa của triết lý về cuộc đời con người mà tác giả gửi gắm trong truyện Bến quê. Thấy và phân tích được những đặc sắc nghệ thuật của truyện” [3 tr100; chúng tôi nhấn mạnh các từ gạch chân]. Đó dù sao cũng chỉ là một gợi ý. HS đọc văn bản có thể căn cứ vào đặc điểm của hiện tượng đời sống được miêu tả trong tác phẩm, phương thức chiếm lĩnh thực tại của tác giả, cách thức tổ chức tác phẩm và lời văn - tức là căn cứ vào những tiêu chí để phân chia, nhận dạng thể loại tác phẩm - để xác định Bến quê là văn bản truyện (nhận thức và thể hiện đời sống qua kể lại chuỗi các biến cố, sự kiện, hành động liên quan đến các nhân vật; lời văn xuôi bao gồm các yếu tố thuật kể). Tính chất hiện đại của văn bản truyện Bến quê có thể được nhận biết qua lời chú thích về tác giả tác phẩm [3 tr106,107]. Từ những nhận biết ban đầu này, có thể gợi HS nhớ lại các kiến thức sâu hơn, cụ thể hơn về đặc điểm thể loại biểu hiện thực tế trên văn bản. Trong thực tế văn học, nhất là ở văn học hiện đại, mỗi tác phẩm thường không sử dụng duy nhất một phương thức biểu đạt mà phối hợp nhiều phương thức. Chẳng hạn trong tác phẩm truyện chú ý tới điểm [4 tr187] nêu trên; “Các thể truyện (truyện ngắn, tiểu thuyết) tuy có sự tiếp nối các thể tương tự trong văn học trung đại, nhưng đã có sự đổi mới sâu sắc về mọi phương diện. Đề tài được mở rộng, hướng đến mọi mặt của đời sống xã hội và con người, không bị gò bó vào mục đích giáo huấn đạo lý. Nghệ thuật tự sự và miêu tả có những đổi mới rất cơ bản, từ sự đa dạng và có thể thay đổi điểm nhìn, vai kể, đến vai trò của người kể chuyện, từ việc sử dụng nhiều thủ pháp miêu tả đến sự đổi mới về ngôn ngữ, câu văn. Nhân vật trong truyện hiện đại được nhìn nhận và miêu tả trong tính cách cá thể, nghĩa là mang đặc điểm, tính cách, tâm trạng và số phận của từng cá nhân, cố nhiên vẫn phải có tính tiêu biểu, nhưng không bị quy vào một cách giản đơn chỉ những kiểu, loại như nhân vật trong truyện dân gian hay phần lớn truyện trung đại” [3 tr199]. Đó sẽ là những tiền đề hiểu biết về đặc điểm thể loại được sử dụng làm cơ sở để tiến hành đọc hiểu văn bản thuận lợi và hiệu quả hơn. Liên hệ đến truyện hiện đại Bến quê, cũng từ những gợi ý trong SGK, có thể thấy trong văn bản truyện ngắn này có cả “tình huống nghịch lý” [3 tr100], nhân vật Nhĩ “trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình, ở cảnh ngộ bị buộc chặt vào giường bệnh” [3 tr107], có cả những đoạn miêu tả (người, cảnh vật: dòng sông, con thuyền, bãi bồi), biểu cảm (dòng nội tâm nhân vật - tr100; niềm khao khát - của nhân vật [3 tr107], những suy ngẫm, trải nghiệm của nhà văn về cuộc đời và con người [3 tr108]; cả những bàn luận triết lý (qua ngôn ngữ và giọng điệu giàu chất suy tư, hình ảnh biểu tượng - [3 tr100]). Đề tài của Bến quê không chủ yếu hướng ra các hiện tượng của đời sống bên ngoài cuộc đời, mà quan tâm miêu tả thể hiện dòng nội tâm của nhân vật [3 tr100] - thế giới tâm hồn, thế giới tinh thần bên trong bề sâu con người, giúp người đọc quan sát, cảm nhận, từ đó mà suy ngẫm về cuộc đời con người, “thức tỉnh ở mọi người sự trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình, của quê hương” [3 tr108]. Nhân vật của Bến quê “được nhìn nhận và miêu tả trong tính cách cá thể, nghĩa là mang đặc điểm, tính cách, tâm trạng và số phận của từng cá nhân, cố nhiên vẫn phải có tính tiêu biểu” - Nhĩ vừa là một người đang trong cơn thập tử nhất sinh, một người chồng, một ông bố, một người bình thường trong khu phố bờ sông, vừa là hình tượng tiêu biểu cho những nghịch lý của loại người từng trải, “đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ”, “đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất”, nhưng lại “chưa hề bao giờ đi đến cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình” [3 tr101]. Và những kiến thức chung nhất về nhân vật trong truyện hiện đại có thể gợi ý HS cảm thụ và nhận xét về các nhân vật khác trong tác phẩm. Có thể với HS, những khái niệm điểm nhìn, vai kể không dễ hiểu và vận dụng, nhưng SGK cũng có gợi ý “Nhĩ đã nhìn thấy những gì qua khung cửa sổ” [3 tr107]; và nếu HS đọc kỹ văn bản, sẽ thấy điểm nhìn, vai kể (qua đó hình tượng của tác phẩm được miêu tả, kể lại, hiện lên) được chuyển đổi khá linh hoạt: từ nhân vật Nhĩ (là chủ yếu), rồi vợ anh - Liên; người kể chuyện; ông cụ giáo Khuyến, và nghệ thuật trần thuật như vậy làm cho hình tượng cuộc sống, con người trong văn bản trở nên sinh động gần gũi, trở nên “thật” hơn, gây ấn tượng hơn, thuyết phục hơn...
3. Sau khi đã có những định hướng - cảm nhận về thể loại văn bản tác phẩm, có thể từ những kiến thức chung về thể loại, từ các cấp độ ngôn từ của văn bản tái hiện cấu trúc tự sự, đi sâu cảm thụ, phân tích những giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản, chuẩn bị cơ sở cho bài dạy học đọc hiểu văn bản trên lớp.
Việc cảm nhận ranh giới và ý nghĩa của từng yếu tố và cấp độ yếu tố chỉnh thể văn bản, chỉnh thể thế giới nghệ thuật trích đoạn đòi hỏi người tiếp nhận phải đọc kỹ tác phẩm. Theo đặc điểm thể loại truyện, cần nắm vững, từ đó lý giải ý nghĩa và giá trị tư tưởng, nghệ thuật các sự việc, các chi tiết về cuộc sống, con người mà tác giả đã hư cấu và trình bày trong văn bản.
Mở đầu đoạn trích văn bản là cái nhìn và suy nghĩ của Nhĩ về cảnh vật xung quanh. Nhĩ đang trong hoàn cảnh ốm nặng, đang như một đứa trẻ, được vợ bón từng thìa thức ăn, rồi để cho con trai cầm chiếc khăn bông tẩm nước ấm khẽ lau miệng, cằm và hai bên má cho mình. Anh quan sát và suy nghĩ về những bông hoa bằng lăng cuối mùa còn sót lại trên cành; cảm nhận những thay đổi của thời tiết (không khí và ánh sáng nóng nắng của mùa hè đã dịu đi, không hầm hập và loa loá chói như trước); về mặt sông và màu nước sông Hồng, “về những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông, và cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông Hồng lúc này đang phô ra (...) một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non - những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ”. Cảnh vật hiện qua cái nhìn chính là cách để tác giả thể hiện dòng suy nghĩ của nhân vật - có cả những cảm nhận, cả những trăn trở, tự đối thoại, cả cụ thể và khái quát vừa gợi lên hình tượng Bến quê, vừa dẫn đến những dòng tự ý thức của nhân vật Nhĩ về nghịch lý đáng tiếc của đời mình, về trạng thái sức khoẻ bi đát của mình... (“Ngoài cửa sổ ... tím thẫm như bóng tối”). 
Những lời tiếp theo của người trần thuật kể về cuộc đối thoại của vợ chồng Nhĩ, vừa tiếp tục thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ bi đát của Nhĩ (hình ảnh bờ đất lở dốc đứng của bờ bên này “đêm đêm cùng với con lũ nguồn đã bắt đầu dồn về, những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ”, câu hỏi về thời gian - gợi biểu tượng về sự lo lắng...), những nhận biết ân hận của Nhĩ về người vợ suốt đời tần tảo, những tếu táo đùa cợt để an ủi vợ...; vừa khắc họa hình ảnh Liên - người phụ nữ nhạy cảm, nhân hậu, hết lòng chăm sóc, động viên chồng (“Chờ khi đứa con trai... bậc gỗ mòn lõm”).

Rồi tới chuyện người cha sắp từ giã cõi đời khẩn khoản nhờ con trai thực hiện điều ham muốn cuối cùng của mình, như là cố gắng mà Nhĩ có thể còn làm được để sửa chữa những khiếm khuyết mà anh vừa tự nhận ra: nhờ người con trai ngày càng có nhiều nét giống bố thay anh qua đò, đặt chân lên bờ bên kia; anh con trai miễn cưỡng thực hiện (“Chờ Liên xuống tầng dưới rồi ... giắt vào người mấy đồng bạc”).
Nửa cuối của văn bản tác phẩm là những cảm nhận, suy nghĩ của Nhĩ khi anh cố lết ra phía cửa sổ để nhìn xem đứa con trai thực hiện điều anh mong mỏi thế nào (Thằng bé vẫn cắp cuốn sách bên nách đang sà vào một đám người chơi phá cờ thế; Nhĩ buồn bã nghĩ về những giới hạn, thói tật mà con người trên đường đời thật khó tránh được; phức hợp tâm trạng mê say pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích nổi khi Nhĩ nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp hằng có của cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ; khi anh liên tưởng tới những nét tần tảo và chịu đựng hy sinh như có từ bao đời xưa nơi người vợ, nơi gia đình mà Nhĩ tìm thấy được nơi nương tựa sau nhiều ngày tháng bôn tẩu, tìm kiếm...). Phần này cũng có những chi tiết kể về tình cảm và sự giúp đỡ của những đứa trẻ, những người hàng xóm với Nhĩ... 
Như vậy, trong cấu trúc tự sự của văn bản có hai lớp sự việc, hiện tượng đan xen lẫn nhau: lớp sự việc, hiện tượng bề ngoài là những cảnh vật, đối thoại, hành động kể về Nhĩ và những người thân trong gia đình, những người hàng xóm - chuyện về một người ốm; và lớp sự việc, hiện tượng bên trong là những cảm nhận, suy tư của nhân vật Nhĩ - một người từng trải, người từng có nhiều kinh nghiệm sống - về quê hương, về bản thân và vợ con trong gia đình, về cuộc sống và con người. Trọng tâm của hình tượng nghệ thuật không phải ở lớp sự việc, hiện tượng bề ngoài. Lớp sự việc, hiện tượng bề ngoài chỉ đóng vai trò khêu gợi, dắt dẫn hay làm rõ cái nhìn và tâm trạng của nhân vật. Cả hai lớp sự việc, hiện tượng ấy đều nhằm làm rõ những nhận xét, suy nghĩ về cuộc sống, con người mà tác giả muốn chuyển đến bạn đọc. Hai lớp sự việc, hiện tượng ấy được tạo nên bởi sự lựa chọn, sáng tạo và kết hợp các chi tiết hư cấu, được tái hiện qua cái nhìn đan xen của các nhân vật (chủ yếu là của Nhĩ, ngoài ra còn có thể kể đến cái nhìn của Liên, cụ giáo Khuyến hàng xóm, của người kể chuyện). Dạy đọc hiểu văn bản thực chất là hướng dẫn hoạt động tiếp nhận của học sinh, từ văn bản ngôn từ mà tái hiện thế giới hình tượng nghệ thuật, nắm được cách thức tổ chức ngôn từ và hình tượng, từ đó khám phá ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.

4. Trên cơ sở những điều vừa trình bày, chúng tôi thử nêu lên tiến trình dạy học đọc hiểu văn bản, các nội dung, yêu cầu khi dạy - học đọc hiểu văn bản này.
1. Phần giới thiệu tác giả, tác phẩm: HS căn cứ vào SGK
2. Xác định thể loại văn bản tác phẩm: GV nêu câu hỏi, hướng dẫn để HS trả lời (Câu hỏi: Hãy xác định thể loại của văn bản Bến quê? Gợi ý trả lời: Dựa vào các thông tin đã có trong SGK; vào hình thức ngôn từ (văn xuôi); cách thức xây dựng và tổ chức hình tượng của tác phẩm (câu chuyện về nhân vật Nhĩ và các nhân vật khác...). Trả lời: đây là văn bản thuộc loại tác phẩm tự sự; do đó muốn hiểu tác phẩm, phải thông qua việc đọc văn bản, tái hiện và cảm nhận ý nghĩa, giá trị các chi tiết đời sống, con người được tác giả hư cấu, sáng tạo).
3. Văn bản trần thuật lại câu chuyện về nhân vật nào? Có thể tách câu chuyện ấy thành mấy sự việc? (Trả lời: Văn bản chủ yếu trần thuật lại câu chuyện về nhân vật Nhĩ. Có thể tách câu chuyện ấy thành 4 sự việc nối tiếp theo trật tự thời gian: suy nghĩ của Nhĩ khi ngồi để vợ con chăm sóc; câu chuyện của vợ chồng Nhĩ; chuyện Nhĩ nhờ con trai sang bên kia sông; những hành động và suy nghĩ của Nhĩ sau khi con trai anh rời khỏi nhà. Các nhân vật khác chỉ là nhân vật phụ).
- Sự việc 1: tâm trạng của Nhĩ khi ngồi để vợ con chăm sóc (ứng với câu hỏi 1 và 2 trong SGK). Gợi ý để HS tập hợp những chi tiết làm rõ hoàn cảnh và tình huống truyện: Nhĩ ốm nặng (ngồi để cho vợ bón từng thìa thức ăn, rồi ngửa mặt như một đứa trẻ để con trai lau miệng, cằm và hai bên má); hướng ra bên ngoài (nghiêng mặt ra ngoài cửa sổ, thấy những bông hoa bằng lăng cuối cùng còn sót lại, nhận ra sự thay đổi của thời tiết, cảm nhận “những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ” của “cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông H?ng” trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà anh); tự thấm thía một nghịch cảnh của bản thân “Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất, đây là một chân trời gần gũi, mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình”. Chú ý nghệ thuật trần thuật qua điểm nhìn nhân vật vừa dựng truyện, vừa có tác dụng miêu tả tâm trạng; hình ảnh giàu tính biểu tượng về những bông hoa, về vùng bãi bồi ven sông; nghệ thuật đối lập làm nổi bật tình huống truyện (nghịch cảnh mà Nhĩ tự cảm nhận, bộc lộ).
- Sự việc 2: câu chuyện của vợ chồng Nhĩ “sau khi đứa con trai đã bưng thau nước xuống nhà dưới”. GV hướng dẫn HS tìm hiểu những câu hỏi, lời nói, cái nhìn đầy tâm trạng của Nhĩ; thái độ và những câu trả lời của người vợ. Những chi tiết ấy làm rõ hơn trạng thái bi đát về sức khoẻ của Nhĩ, vốn đã được kể ở đoạn đầu văn bản (phiến lưng đã có nhiều mảng da thịt vừa chai cứng vừa lở loét của Nhĩ; bờ đất lở dốc đứng của bờ bên này, và đêm đêm cùng với con lũ nguồn đã bắt đầu dồn về, những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ gợi những vất vả, tốn kém mà vợ con Nhĩ đang cùng anh gánh chịu; thời điểm “tháng mười” trong những câu gượng đùa của Nhĩ); tiếp tục triển khai việc miêu tả tâm trạng Nhĩ (những cảm động, ân hận của Nhĩ trước tình cảm hết lòng chăm sóc của vợ con, khi lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá). Kể lại sự việc này, có lẽ tác giả chủ yếu muốn xây dựng một hình tượng nghệ thuật để người đọc cảm nhận về phẩm chất truyền thống, vẻ đẹp tiêu sơ, tần tảo, bình dị của những người vợ (những cảm nhận tinh tế, nhạy bén về tâm trạng của chồng, những ngón tay gầy guộc, tấm áo vá, những lời động viên an ủi chồng, dặn dò con, việc đi lại dọn dẹp, hãm thuốc, tiếng bước chân rón rén quen thuộc suốt cả một đời người đàn bà trên những bậc gỗ mòn lõm...). Những chi tiết này sẽ còn láy lại ở sự việc 4 như những nét tiêu biểu cho vẻ đẹp và giá trị của gia đình, quê hương.
- Sự việc 3: chuyện Nhĩ nhờ con trai sang bên kia sông, chủ yếu được trần thuật từ điểm nhìn người kể chuyện, qua ngôn từ đối thoại và một vài chi tiết miêu tả. Đây là sự việc chuyển tiếp để triển khai mạch tâm trạng của Nhĩ, tô đậm tư tưởng của tác phẩm. Tuy nhiên, GV có thể gợi ý để HS tìm hiểu ý nghĩa giàu chất triết lý của các chi tiết: Tuấn ham đọc sách (nhưng lại không hiểu được tâm trạng và mong muốn của cha, chưa hiểu được những uẩn khúc của cuộc đời); Nhĩ thấy con ngày càng giống mình (sự lặp lại giữa các thế hệ); lời yêu cầu khẩn khoản của Nhĩ (biết mình sắp từ giã cõi đời, muốn được nhờ con bù đắp một khiếm khuyết bao năm qua mà anh vừa thức nhận - đây cũng là một khao khát và hành động hợp lý, phản ánh một quy luật phổ biến của đời người); thái độ hờ hững, ngạc nhiên của Tuấn nghe và trả lời, rồi miễn cưỡng thực hiện mong muốn của người cha (thể hiện khoảng cách giữa hai thế hệ). 

- Sự việc 4: những hành động và suy nghĩ của Nhĩ sau khi con trai anh rời khỏi nhà. GV gợi ý để HS nhận ra trên văn bản và ý nghĩa của các chi tiết: Nhĩ thu hết sức lực, và nhờ sự giúp đỡ của lũ trẻ hàng xóm, ngồi gần cửa sổ để có thể quan sát đứa con trai sang bãi bồi bên kia sông (khát vọng thực hiện mong muốn sửa chữa những khiếm khuyết; sự vô tư giúp đỡ của lũ trẻ; thức nhận của Nhĩ về hoàn cảnh của mình...); cảnh con đò ngang sang sông, chuyện Tuấn không có mặt trong đám người chờ đò vì đang sà vào một đám người chơi phá cờ thế trên hè phố (gợi tương quan giữa cuộc đời và con người); suy nghĩ, tâm trạng của Nhĩ (nhớ lại những kỷ niệm cuộc đời mình, hiểu điều gì đang hấp dẫn thằng Tuấn, điều gì đang khiến Tuấn có thể lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày; những suy nghĩ buồn bã về thói thường của con người trên đường đời, niềm mê say pha lẫn nỗi ân hận đau đớn khi thức nhận vẻ đẹp và những giá trị giản dị mà giàu có, sâu sắc của quê hương và gia đình); Nhĩ tưởng tượng mình đang được đặt chân lên vùng bãi bồi và lời thăm hỏi của cụ giáo Khuyến kéo Nhĩ lại với những gì đang xảy ra trong thực tế (mâu thuẫn tưởng tượng với thực tế); hành động của Nhĩ đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại, khoát khoát tay y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó (vừa thể hiện nhân vật Nhĩ, vừa giàu ý nghĩa biểu tượng: “thức tỉnh mọi người về những cái vòng vèo, chùng chình mà chúng ta đang sa vào trên đường đời, để dứt ra khỏi nó, để hướng tới những giá trị đích thực, vốn rất giản dị, gần gũi và bền vững” [1 tr25]).
Các sự việc 1, 2, 3, 4 vừa tách rời, độc lập tương đối (để thể hiện những khía cạnh ý nghĩa; chẳng hạn sự việc 2 tạo cảm nhận về người vợ; sự việc 3 tạo cảm nhận về người con) vừa kế tiếp nhau, thống nhất với nhau (để tạo nên ấn tượng chung, làm nổi bật tư tưởng cơ bản của tác phẩm: thức nhận về những nghịch lý, những giá trị của cuộc đời). Văn bản chứa nhiều yếu tố miêu tả tâm trạng, cảm xúc của các nhân vật, đặc biệt là của Nhĩ, nhưng đó là cách kể lại, dựng lại nhân vật, rất khác với cách thể hiện trực tiếp tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong loại tác phẩm trữ tình. Các chi tiết, hình ảnh, hành động, lời nói, tâm trạng được trần thuật ở các sự việc nhằm tạo nên tính liên tục của truyện, nhưng chủ yếu được chọn lựa, kết hợp nhằm thể hiện nổi bật và ấn tượng cách nhìn và quan niệm của tác giả, khêu gợi cảm nhận, suy nghĩ của người đọc về ý nghĩa đời sống, con người, về Bến quê (Theo tôi, nhan đề tác phẩm cũng là một yếu tố rất đáng quan tâm tìm hiểu khi đọc hiểu văn bản. SGK chưa hướng HS chú ý đến yếu tố này). 
5. Đọc hiểu văn bản tự sự chính là qua văn bản để khám phá các chức năng nghệ thuật và ý nghĩa được hàm chứa trong các cấp độ chi tiết cũng như trong chỉnh thể câu chuyện được trần thuật trong văn bản, chính là “đọc để nắm bắt chuỗi các sự việc xung quanh nhân vật, từ đó đánh giá tính chất xã hội của sự việc và nhân vật” [1 tr26]. (Tuy nhiên, HS thường cảm thụ các chi tiết và câu chuyện trong tác phẩm như các chi tiết và câu chuyện ngoài cuộc đời, ít chú ý đến chức năng và ý nghĩa nghệ thuật như là cơ sở, mục đích đã khiến tác giả hư cấu, sáng tạo ra các chi tiết và câu chuyện như vậy). Có thể nói đây là một quá trình vô cùng phong phú, đa dạng, nếu như không muốn nói là vô tận. Đặc thù của đọc hiểu văn bản trong nhà trường là: trên cơ sở thực tế đối tượng HS, thời lượng của chương trình, GV có thể phân phối thời gian để HS tiến hành các hoạt động đọc hiểu khi soạn bài ở nhà; khi thảo luận trên lớp (Với văn bản Bến quê, HS tự tìm hiểu các mục 1, 2 khi soạn bài; trên lớp thảo luận về cấu trúc tự sự của văn bản, thảo luận các mục còn lại, chủ yếu là các mục 5, 6, 7). Mặt khác, GV có thể gợi ý và hướng HS nắm bắt những giá trị tư tưởng và nghệ thuật phù hợp với trình độ và lứa tuổi, chứ không phải là tất cả những gì mà tác phẩm hàm chứa, mà khả năng của GV có thể cảm nhận (chẳng hạn, cần giúp HS trước hết nắm bắt ý nghĩa các hình tượng Liên, Tuấn, lũ trẻ hàng xóm, từ đó hiểu được ý nghĩa của hình tượng nhân vật Nhĩ với những suy tư giàu chất triết lý về con người và cuộc đời...).
0
phiếu
0đáp án
285 lượt xem

I.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
1.Tác giả ( 1920 – 1989 )
- Chế Lan Viên tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan , quê ở Quảng Trị nhưng lớn lên ở Bình Định. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Chế Lan viên đã nổi tiếng với phong trào Thơ mới vớ tập thơ “ Điêu tàn”. Với hơn 50 năm sáng tác, có những tìm tòi sáng tạo ở những tập thơ gây được tiếng vang trong công chúng. Chế Lan Viên là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ hiện đại Việt Nam thế kỉ XX. Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
- Thơ Chế Lan Viên có phong cách nghệ thuật rõ nét và độc đáo. Đó là phong cách suy tưởng triết lí, đậm chất trí tuệ và tính hiện đại.
- Chế Lan Viên có nhiều sáng tạo trong nghệ thuật xây dựng hình ảnh thơ. Hình ảnh thơ của ông phong phú đa dạng, kết hợp giữa thực và ảo, thường được sáng tạo bằng sức mạnh của liên tưởng, tưởng tượng, nhiều bất ngờ kì thú.

- Tác phẩm chính: Điêu tàn ( 1938 ), Ánh sáng và phù sa ( 1960 ), Hoa ngày thường – Chim báo bão ( 1967 ), Hái theo mùa ( 1977 ), Hoa trên đá ( 1984 )…
2.Bài thơ Con cò được sáng tác năm 1962, in trong tập Hoa ngày thường – Chim báo bão ( 1967 ) của Chế Lan Viên. Từ hình tượng con cò trong ca dao, bài thơ đã thể hiện những cảm xúc và suy tưởng sâu xa về tình mẹ và ý nghĩ lời hát ru trong cuộc đời của mỗi con người.

II.Phân tích bài thơ
1.Một số điểm cần lưu ý
- Con cò là bài thơ thể hiện khá rõ một số nét của phong cách nghệ thuật Chế Lan Viên. Bài thơ khai thác và phát triển hình ảnh con cò trong những câu hát ru rất quen thuộc, để ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa của lời ru đối với cuộc đời của mỗi người. Tình mẫu tử là đề tài rất xa xưa nhưng không bao giờ cũ. Người ta cũng đã nói nhiều về ý nghĩa và vai trò của hát ru đối với tuổi thơ và cả cuộc đời con người. Hát ru vốn rất quen thuộc và tự nhiên với các bà mẹ trong mỗi gia đình. Nhưng ngày nay nó đã trở nên khó khăn với không ít những người mẹ trẻ, và điều đó là một thiệt thòi đáng kể đối với trẻ thơ.Bài thơ của Chế Lan Viên được viết khá lâu ( 1962 ), vẫn nhắc nhở một cách thấm thía về tình mẹ và vai trò của những lời hát ru.
- Hình tượng bao trùm cả bài thơ là hình tượng con cò được khai thác từ trong ca dao truyền thống. Trong ca dao, hình ảnh con cò xuất hiện rất phổ biến và được dùng với nhiều ý nghĩa, mà thông dụng nhất là ý nghĩa ẩn dụ. Con cò là hình ảnh người nông dân, người phụ nữ trong cuộc sống còn nhiều vất vả, nhọc nhằn nhưng giàu đức tính tốt đẹp và niềm vui sống.
2.Phân tích bài thơ
a.Đoạn 1: Hình ảnh con cò qua những lời ru bắt đầu đến với tuổi ấu thơ.
- Hình ảnh con cò được gợi ra trực tiếp từ những câu ca dao dùng làm lời hát ru. ở đây tác giả chỉ lấy lại vài chữ trong mỗi câu ca dao nhằm gợi nhớ những câu ấy. Những câu ca dao được gợi lại đã thể hiện ít nhiều sự phong phú trong ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh con cò trong ca dao. Con cò ở đây tượng trưng cho những con người, cụ thể là người mẹ, người phụ nữ nhọc nhằn vất vả, lặn lội kiếm sống.
- Qua những lời ru của mẹ, hình ảnh con cò đã đến với tâm hồn tuổi ấu thơ một cách vô thức. Đây chính là sự khởi đầu con đường đi vào thế giới tâm hồn con người của những lời ru, của ca dao dân ca, qua đó là cả điệu hồn dân tộc và nhân dân. Ở tuổi ấu thơ, đứa trẻ chưa hiểu và cũng chưa cần hiểu nội dung ý nghĩa của những lời ru này, chúng chỉ cần được vỗ về trong những âm điệu ngọt ngào, dịu dàng của lời ru để đón nhận bằng trực giác, vô thức tình yêu và sự che chở của người mẹ. Đoạn thơ khép lại bằng hình ảnh thanh bình của cuộc sống:
Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ!
Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân
b.Đoạn 2: Hình ảnh cánh cò từ trong lời ru đã đi vào trong tiềm thức của tuổi thơ, trở nên gần gũi thân thiết và sẽ theo cùng con người đến suốt cuộc đời.Ở đây, hình ảnh con cò trong ca dao đã tiếp tục sự sống của nó trong tâm thức con người. Hình ảnh con cò được xây dựng bằng sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú của nhà thơ, như được bay ra từ những câu ca dao để sống trong tâm hồn con người, theo cùng và nâng đỡ con người trong mỗi chặng đường đường. Như thế, hình ảnh con cò đã gợi ý nghĩa biểu tượng về lòng mẹ, về sự dìu dắt, nâng đỡ đầy dịu dàng và bền bỉ của người mẹ.
- Cánh cò đã trở thành bạn đồng hành của con người trên suốt chặng đường đời từ tuổi ấu thơ trong nôi:
Con ngủ yên thì cò cũng ngủ
Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi
- Tuổi tới trường:
Mai khôn lớn, con theo cò đi học
Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân
- Tuổi trưởng thành:
Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ
Trước hiên nhà
Và trong hơi mát câu văn

- Đến đoạn 3 thì ình ảnh con cò được nhấn mạnh ở ý nghĩa biểu tượng cho tấm lòng người mẹ, lúc nào cũng ở bên con đến suốt cuộc đời:
Dù ở gần con
Dù ở xa con
Lên rừng xuống bể 
Cò sẽ tìm con
Cò mãi yêu con

- Từ sự thấu hiểu tấm lòng người mẹ, nhà thơ đã khái quát một qui luật của tình cảm của ý nghĩa bền vững, rộng lớn và sâu sắc:

Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con 

- Phần cuối bài thơ trở lại với âm hưởng lời ru và đúc kết ý nghĩa phong phú của hình tượng con cò trong những lời ru ấy
Một con cò thôi
Con cò mẹ hát
Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi

3.Đặc điểm nghệ thuật của bài thơ 
- Thể thơ: Sử dụng thể thơ tự do, nhưng có nhiều câu mang dáng dấp thể tám chữ. Giọng điệu của bài thơ còn là giọng suy ngẫm, có cả triết lí. Nó làm cho bài thơ không lôi cuốn người ta vào hắn điệu ru ái, đều đặn, mà hướng tâm trí nhiều hơn vào sự suy ngẫm, phát hiện.
- Nghệ thuật sáng tạo hình ảnh: Hình ảnh trong ca dao chỉ là nơi xuất phát, là điểm tựa cho những liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo mở rộng của tác giả. Đặc điểm chung của hình ảnh trong bài thơ này là thiên về ý nghĩa biểu tưởng mà nghĩa biểu tượng không phải chỗ nào cũng thật rành mạch, rõ ràng. Nhưng những hình ảnh biểu tượng trong bài thơ lại gần gũi, rất quen thuộc mà vẫn có khả năng hàm chứa những ý nghĩa mới và có giá trị biểu cảm.

0
phiếu
0đáp án
537 lượt xem

Ả Lý - Nàng Oanh. 
Trích từ câu :

Dâng thư đã thẹn nàng Oanh 
Lại thua ả Lý bán mình hay sao ?

Nàng oanh

Đời nhà Hán có Thuần Vu Ý làm quan đất tề ; nhà không có con trai, chỉ sinh được 5 con gái, Đề Oanh là gái út. 

Thuần Vu Ý mắc tội lớn phải thọ hình. Khi bắt giải tử tội về kinh , Đề Oanh đi theo cha. Đến kinh thành, nàng dâng thư lên Hán Văn Đế tâu rằng, nếu cha chết đi, cũng không mảy may đền được chút tội; nay thân gái này khẩn thiết xin vua được cho vào cung làm cung nhân thô (người làm sạch sẽ cho vua sau mỗi lần vua đi vệ sinh), để chuộc tội một phần nào cho cha. Hán Văn Đế đọc thư của nàng Oanh, cảm động vì lòng hiếu hạnh của nàng nên tha tội cho Thuần Vu Ý.

Ả Lý

Thời Hán Vũ Đế, ở quận Mân Trung đất Đông Việt., trong một cái hang sâu có con rắn khổng lồ; dân chúng trong vùng rất kinh hãi, gọi là thần rắn. Hàng năm phải cung cho thần rắn một người con gái đồng trinh thì dân mới yên ổn làm ăn. Nhưng dần cũng hết, tìm đâu ra con gái\. 

Bấy giờ ở huyện Tương Lạc, có nàng Lý Ký, nhà nghèo xơ xác, cả cha mẹ đều bệnh năng không tiền thuốc thang. Nàng Lý đã trốn cha mẹ, đến cửa quan tự nguyện bán mình nộp mạng cho rắn, rồi nhờ chuyển tiền về cho cha mẹ. 

Nàng xin quan lệnh ban cho một cây gươm bén và một con chó dữ. Vào bên trong hang, nàng thả chó dữ ra chiến đấu với rắn, và dùng gươm chém rắn từng khúc.

Dư Thiện là cháu lâu đời của Việt Câu Tiễn được Hán Vũ Đế phong vương ở đất Đông Việt. Biết được chuyện người con gái hiếu thảo, can trường, Đông Việt vương đã đón ả Lý về làm vợ.



Ả Tạ- Nàng Ban 
Khen tài nhả ngọc phun châu
Nàng Ban, Ả Tạ cũng đâu thế này

Nàng Ban

Ban Chiêu tự là Huê Cơ là người đàn bà hay chữ đời Đông Hán. Năm mười lăm tuổi Ban Chiêu đã biết làm thơ và làu thông Tứ Thư, Ngũ kinh. Lấy chồng là Tào Thế Thức, một danh nho của Đông Hán. Sống chung được mười năm thì Tào Thế Thức qua đời vì bệnh; Ban Chiêu thủ tiết thờ chồng.

Đời vua Hoà Đế, Ban Chiêu được triệu vào cung để dạy học cho các hoàng tử và các phi tần. Lúc bấy giờ cha của bà là Ban Bưu đang tại chức Đông các đại học sĩ, chịu trách nhiệm soạn thảo bộ Hán Thư. Công việc đang còn dang dở thì ông qua đời. Anh của ban Chiêu là Ban Cố được nhà vua chỉ định tiếp tục công trình của cha. Nhưng chẳng bao lâu, Ban Cố cũng qua đời vì bạo bệnh, trong khi bộ Hán thư vẫn chưa xong. Ban Chiêu tâu với vua cho bà được tiếp nối công trình. Vua Hòa đế chấp thuận và bà được sung vào Đông các tàng thư tiếp tục soạn bộ Hán thư cho đến hoàn tất.

Trong thời gian ở Đông các tàng thư, Ban Chiêu đã trước tác tập Nữ Giới, gồm bảy thiên. Từ đó lẫy lững tài danh Ban Chiêu.

Ả Tạ

Ả Tạ là Tạ Đào Uẩn, con gái quan Thái úy Tạ Công đời nhà Tấn, có nhan sắc tuyệt trần lại thông minh nhất mực. thơ phú hay lừng tiếng. 
Trong cùng một vùng, có họ Vương cũng dòng giỏi gia phong, con cháu cũng thuộc vào bậc vọng tộc. Họ Tạ và họ Vương bắt thông gia với nhau, con trai con gái hai họ chỉ kết duyên vói nhau, không lấy người ngoài họ. 
Tạ Đạo Uẩn lúc nhỏ đã thông minh, học rộng lại có tài biện luận. Nhân một hôm về mùa đông, tuyết rơi lả tả, chú của Tạ Đạo Uẩn là Tạ An ngồi uống rượu nóng có cả hai cháu là Tạ Lãng và Đạo Uẩn ngồi hầu bên. Tạ An liền chỉ tuyết, hỏi: - Tuyết rơi giống cái gì nhỉ? 
Tạ Lãng đáp: - Muối trắng ném giữa trời. 
Tạ Đạo Uẩn bảo: - Thế mà chưa bằng "Gió thổi tung tơ liễu
Tạ An khen Tạ Đạo Uẩn là thông minh, nhiều ý hay, tư tưởng đẹp. Ông lại thường chỉ Đạo Uẩn mà bảo các con cháu rằng: - Nếu là trai, Tạ Đạo Uẩn sẽ là bực công khanh. 
Tạ Đạo Uẩn sau kết duyên với Vương Ngưng Chi, một nhà nho lỗi lạc đương thời. 
Làm vợ họ Vương, Tạ Đạo Uẩn thường thay chồng tiếp khách văn chương, đàm luận thi phú. Nàng tỏ ra là người hoạt bát, thông suốt nhiều vấn đề, lập luận vững chắc làm nhiều tay danh sĩ đương thời phải phục. 
Em chồng của Tạ Đạo Uẩn là Vương Thiếu Chi. Người học giỏi nhưng lập luận kém cỏi, thiếu hoạt bát nên trong khi biện luận thường bị khách áp đảo. Tạ Đạo Uẩn sợ em chồng mất giá trị nên bảo thị tỳ thưa với Thiếu Chi làm một cái màn che lại, nàng sẽ ngồi sau để nhắc Thiếu Chi trong khi biện luận với khách. 
Thiếu Chi nhờ đó mà khuất phục được khách và nổi danh, được nhiều người kính phục. 
Nàng Ban, ả Tạ là hai người phụ nữ có tài danh về thi phú văn chương. Về sau, các nhà văn học thường dùng tiếng "nàng Ban, ả Tạ" để chỉ người phụ nữ tài giỏi, có danh tiếng về văn chương thi phú.
0
phiếu
0đáp án
909 lượt xem

      Viết về người lính và chiến tranh là nguồn cảm hứng của rất nhiều nhà thơ, nhà văn.Với Phạm Tiến Duật,ta được đến với sự trẻ trung,ngang tàng của các chiến sĩ Trường Sơn qua “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”.Gặp “Khoảng trời hố bom” của Lâm Thị Mỹ Dạ,ta lại bắt gặp những cô gái mở đường không tiếc thân mình “đánh lạc hướng thù hứng lấy luồng bom”.Và đến với “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê ta lại không khỏi thán phục trước tinh thần dũng cảm, tình đồng đội nồng ấm, tâm hồn lạc quan trong sáng của ba nữ thanh niên xung phong mà đề lại ân tượng sâu sắc nhất trong em là Phương Định.
      Phương Định cùng Nho và Thao – những cô gái thanh niên xung phong sống trên cao điểm mênh mông khói bụi Trường Sơn và bom đạn hủy diệt của kẻ thù.Công việc của chị và đồng đội trong tổ chinh sát mặt đường là “đo khối lượng đất đá lấp hố bom,đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom” để bảo vệ con đường cho những đoàn xe băng về phía trước,góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.Công việc của chị thật vinh quang nhưng cũng đầy hi sinh gian khổ.Song chính hoàn cảnh gian khó hiểm nguy ấy đã làm cho chúng ta cảm nhận được những phẩm chất đáng quý của chị.
       Cảm nhận đầu tiên về nhân vật Phương Định là vẻ đẹp của tinh thần dũng cảm,thía độ bình tĩnh vượt lên mọi hiểm nguy.Hằng ngày,chị thường xuyên phải chạy trên cao điểm bị bom đạn cày nát mà còn ẩn dấu những quả bom chưa nổ.Điều đó cũng có nghĩa chị luôn phải đối mặt với thần chết.Mỗi ngày, chị phải phá từ 3-5 lần bom, nguy hiểm là vậy nhưng chị vẫn bình thản thậm chí còn thấy thú vị dù trên mình còn có vết thương chưa lành miệng.Cứ mỗi lần phá bom,đất rắn,tiếng xẻng va chạm vào cỏ quả bom nghe sắc lạnh đến ghê người.Ngay cả lúc ấy,chị vừa trách vừa nhắc nhở mình “phải nhanh hơn chút nữa”,nếu không vỏ quả bom nóng lên hoặc nóng từ bên trong quả bom hay nóng do mặt trời khi đó sẽ rất nguy hiểm”.Xác đinh được tính chất nguy hiểm ,song với tinh thần dũng cảm cùng tình yêu Tổ quốc,chị đã vượt qua tất cả.Thao tác,tư thế,thái độ bình tĩnh khi phá bom là vẻ đẹp đáng quý ở Phương Đinh nói riêng và những cô gái trẻ nói chung.Có những lúc,chị cũng nghĩ đến cái chết nhưng cái chết này mờ nhạt.Còn ý nghĩa cháy bỏng là “ Liệu mìn có nổ.bom có nổ không? LÀm thế nào để châm mìn lần thứ hai?”Mục đích hoàn thành nhiệm vụ luôn được chị đặt lên trên hết.
     Trong chị luôn thường trực tình đồng đội,đồng chí nồng ấm.Tấm long vị tha của chị luôn quan tâm tới đồng đội.Khi chị Nho và Thao ở trên cao điểm,phải ở nhà trực máy nhưng trong lòng Phương Đinh luôn lo lắng,sốt ruột,đứng ngồi không yên.Chị lo lắng đến mức chạy ra chạy vào lắng nghe cả tiếng súng hỗ trợ của các anh bộ đội pháo binh.sự lo lắng ấy khiến chị cáu với cả đội trưởng “Chinh sát chưa về”.Điều đó thể hiện lòng quan tâm,lo lắng của chị với đồng đội thật sâu sắc.Chị luôn trìu mến,yêu thương bạn bè,chẳng thế mà chị đã nhận xét về người đồng đội trẻ tuổi-Nho,chị phát hiện ra vẻ dễ thương của Nho “nhẹ,mát mẻ như một que kem trắng”,chị còn hiểu rất rõ sở thích của bạn,của đồng đội.Chị Thao thích ghi bài hát mặc dù chị hát toàn sai nhạc,chị ghi tới ba cuốn sổ dày bài hát,chị Thao còn thích tỉa đôi long mày nhỏ như que tăm,chị hiểu được sự cương quyết,tạo báo nhưng rất đáng gờm trong công việc của chị Thao.Tuy vậy chị Thao rất sợ máu và vắt.Chị hiểu được ở Nho thích thuê thùa,trên ngực áo của Nho luôn có một bông hoa.Chị còn hiểu được tâm trạng của đồng đội như khi Nho bị thương,chị Thao thì cuống quýt lên còn Nho lại bình tĩnh,gan dạ.Phương ĐỊnh băng bó,tiêm thuốc và pha sữa cho Nho.Tình cảm đồng đội,đồng chí là ngọn lửa sưởi ấm lòng,là niềm tin,là động lực,là nguồn động viên khích lệ các chị thêm vững lòng trên mặt trận đầy gian nguy này.Ngược lại,chị Phượng Đinhk cũng rất cần sự cổ vũ,động viên của đồng đội.Chị cảm thấy ấm lòng và tự tin hơn khi cảm thấy ánh mắt dõi theo,khích kệ của các anh chiến sĩ pháo binh.Chị được rất nhiều chiến sĩ cảm mến.Điều đó càng làm tình đồng đội,đồng chí trong chị thêm sâu đậm biết bao!
       Nét nổi bật và cũng là điểm hấp dẫn nhất của Phương ĐInh với người đọc chúng ta là tâm hồn trong sáng,giàu mơ mộng,là sự hồn nhiên như trẻ thơ của chị.Chị là cô gái Hà Nội vào chiến trường khói lửa,chị vẫn hay nhớ nhà,nhớ những kỉ niệm tuổi thơ.Chị hay hát,hay cười một mình,ngắm mình trong gương.Chị tự đánh giá mình là “một cô gái khá”.Chị có cái điệu đà của người Hà Nội nhưng là cái điệu thật đáng yêu vì nó hồn nhiên và vô cùng chân thực.
      Qua nhân vât Phương Định,ta càng hiểu thêm về những vẻ đẹp đáng quý của những cô giá thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn nói riêng và thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng hào hùng ấy.Âm vang của những câu hát sau sẽ luôn vang vọng trong con người Việt Nam với lòng tự hào đầy trân trọng:

“Cô gái mở đường ra đi cứu nước

Tiếng hát ai vang vọng núi rừng…..”

0
phiếu
0đáp án
530 lượt xem

Trong lớp có bạn cho rằng: “ Không nên kết bạn với những người học yếu”. Anh (chị) hãy viết một bài văn bác bỏ quan niệm đó?

Gợi ý:

A. Mở bài
- Ông cha ta từ xưa đã dạy con cháu: Chọn bạn mà chơi.
- Có ý kiến cho rằng: Không nên kết bạn với những người học yếu.
- Ý kiến đó đúng, sai ra sao? Chúng ta nên đối xử với các bạn học yếu trong lớp như thế nào?
B. Thân bài: Làm rõ những ý cơ bản sau
· Mặt đúng của ý kiến trên:
- Chơi với các bạn học yếu, chúng ta có thể bị ảnh hưởng tiêu cực nếu như không có bản lĩnh vững vàng. “ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
- Các bạn học yếu vì nhiều lí do, nhưng phần lớn là vì ham chơi, lười học.
- Thực tế cho thấy tốt lên thì khó, xấu đi thì dễ. Vì thế nếu ta chơi với các bạn yếu kém thì phải cân nhắc thận trọng.
· Mặt chưa đúng: 
- Nếu ta chỉ chơi với các bạn học giỏi, bạn tốt thì các bạn học yếu sẽ có mặc cảm tự ti, khó hòa hợp với tập thể.
- Điều đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập, tu dưỡng và phong trào thi đua của lớp.
· Nên đối xử với các bạn học yếu như thế nào cho đúng?
- Trước hết, chúng ta không nên xa lánh, hắt hủi mà cần động viên, khích lệ các bạn ấy bằng tình cảm chân thành.
- Đối với các bạn gặp khó khăn về hoàn cảnh kinh tế hoặc trình độ nhận thức thí chúng ta nên quan tâm giúp đỡ về vật chất, tinh thần, phương pháp học tập.
- Đối với các bạn ham chơi. Thích quậy phá thì kiên trì giải thích, phân tích để đưa bạn về với bổn phận của học sinh là học tập và tu dưỡng cho tốt.
- Khơi dậy tinh thần thi đua ở các bạn yếu kém. Phải tin tưởng vào sự cố gắng và tiến bộ của các bạn ấy.
C. Kết bài
- Cuộc sống hiện đại dặt ra nhiều cơ hội và thách thức cho thế hệ trẻ.
- Mỗi học sinh cần phải có nhận thức đúng đắn trong học tập và tu dưỡng.
- Các bạn yếu kém phải có nghị lực vượt lên chính mình để đáp lại niềm tin yêu của cbạn bè, thấy cô, cha mẹ.
0
phiếu
0đáp án
925 lượt xem

Bài làm

         Tục ngữ Việt Nam là một kho tàng quý giá cất giữ niềm tin, nhận thức, tư tưởng, phản ánh xã hội xưa và nay của nhân dân ta. Có thể nói tục ngữ là túi khôn, là tri thức bách khoa dân gian của dân tộc.
        Đề tài của tục ngữ vô cùng đa dạng và phong phú. Chúng nói về các hiện tượng tự nhiên, quan hệ giữa con người va thiện nhiên, nói về đời sống vật chất, tinh thần, về các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ và xã hội…nhưng nổi bật hơn cả là đề tài lao động với cặp chủ đề công lao - hưởng thụ trong câu tục ngữ sau:
“ Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”
      Có lẽ khi đọc câu tục ngữ này lên thì ai cũng biết nó có nghĩa là “ tay có làm thì hàm mới có nhai, tay không làm thì hàm không có cái để nhai” nhưng câu tục ngữ này không mang ý nghĩa đơn giản như thế mà nó còn mang một ý nghĩa khác – một ý nghĩa giáo dục con người.
       Trong câu tục ngữ xuất hiện nhiều hình ảnh “ tay làm, hàm nhai, tay quai, miệng trễ” tượng trưng cho sức lao động, thành quả đồng thời là sự công bằng trong xã hội. Hình ảnh “tay làm” thể hiện sức lao động của con người. Ngược với hình ảnh này là hình ảnh “tay quai” thể hiện sự lười biếng, không làm việc. Nếu như chăm chỉ, cần cù thì bản thân sẽ nhận được thành quả “hàm nhai” xứng đáng với công sức mà mình bỏ ra. Một ví dụ đơn giản trong môi trường học đường đó chính là những bạn học sinh giỏi. Có phải là tự nhiên mà họ học giỏi hay là họ phải cố gắng học tập ngày đêm ở nhà lẫn ở trường để được như thế? Trên đời đúng là có những người khi sinh ra đã rất thông minh nhưng nếu như họ không cố gắng tích lũy thêm kiến thức thì làm sao có thể trở thành giỏi được. 
        Những hình ảnh hoán dụ đơn giản, bình dị, gắn bó thân thiết với mỗi người nhưng thể hiện nhiềy ý nghĩa sâu sắc : “ Có lao động thì mới có thnàh quả; không lao động sẽ không có thành quả, không tạo ra được của cài vật chất. Nổi bật trong câu tục ngữ là nghệ thuật đối lập giữa vế một “tay làm hàm nhai” với vế hai “tay quai miệng trễ”, kèm theo đó là cặp từ đối nhau như tay làm đối với tay quai, miệng nhai đối với miệng trễ đã một phần nào đó nói lên nghệ thuật đặc trưng của tục ngữ Việt Nam.
       Nhờ những liên tưởng đồng thời gắn với những hình ảnh quen thuộc đã làm cho những triết lí khô khan, những tư tưởng đạo đức trở nên dễ hiểu, đơn giản nhưng chắt lọc, thấm nhuần vào tư tưởng người Việt Nam như câu tục ngữ “ Tay lam hàm nhai, tay quai miệng trể” đã nhắc nhở, giáo dục cho bản thân mỗi người nên siêng năng, cần cù lao động và sự công bằng trong việc phân phối thành quả lao động. Còn những kẻ lười nhát, không siêng làm việc thì sẽ chẳng bao giờ có của cải, vật chất, mãi mãi không thể giàu có.
        Để có được thành quả “hàm nhai” xứng đáng, bản thân mỗi người phải biết tự lao động, cố gắng, phải biết nắm bắt những cơ hội, điều kiện đến với mình. Điều kiện và cơ hội chỉ là một phần nhỏ trong thành quả, quan trọng là ở bản thân mỗi người phải làm thế nào. Người biết lao động thì sẽ thành công còn những người lười biếng thì sẽ bị gạt bỏ khỏi xã hội này. Trên mỗi bước đường thành công không bao giờ có dấu chân của kẻ lười biếng.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
437 lượt xem

       Trong cuộc sống của mỗi con người, ai cũng có một lí tưởng để sống, để làm việc, học hành. Có lí tưởng thì ta mới có được một sự quyết tâm để vươn tới những thành công sau này. Có lí tưởng đặt ra thì mọi ước mơ và cố gắng của chúng ta sẽ không bao giờ lãng phí. Nhà văn Nga Lép Tôn-xtoi đã nói rằng: “Lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”. Vậy chúng ta suy nghĩ thế nào về câu nói này của Tôn-xtoi khi mà ngày nay, xã hội ngày càng tiến bộ, đời sống và nhân dân đang ngày một vươn xa ?
       “Lí tưởng” là mục đích cao cả, là những gì tốt nhất mà chúng ta cần phải đạt đến. “Ngọn đèn” là một dụng cụ chiếu sáng, nhưng đó chỉ là nghĩa đen, ta còn có thể hiểu theo nghĩa bóng là một người dẫn đường, một người bạn đồng hành cùng chúng ta trên con đường đi tìm lý tưởng, soi rọi cho chúng ta thấy được những chướng ngại vật đang cản trở con đường, giúp ta tới đích một cách dễ dàng. “Phương hướng kiên định” là sự quyết định của con người về hướng đi của mình, là suy nghĩ của bản thân về việc phải làm và sẽ làm trong tương lai, thể hiện được nghị lực, quyết tâm của người đó để không lùi bước trước khó khăn thử thách. “Cuộc sống” là đời sống hiện tại với những quá trình sống cùng những hoạt động của xã hội. Câu nói của Tôn-xtoi muốn nêu cao tầm quan trọng của lí tưởng, là người dẫn đường đưa chúng ta đến thành công, nếu không xác định lí tưởng thì ta sẽ không có nghị lực mà không có nghị lực thì sẽ không phát triển được trong cuộc sống này.
      Câu nói của Tôn-xtoi rất đúng trong mọi thời đại. Sống có lý tưởng sống cao đẹp là sống luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện bản thân, giúp ích cho mình, gia đình xã hội và đất nước. Có lý tưởng đúng đắn thì ta sẽ vượt qua mọi thử thách, đương đầu với mọi thử thách trong cuộc sống đầy gian nguy. Chỉ cần có lý tưởng thì những gì ta muốn đều có thể đạt được rất dễ dáng, chỉ cần ta cố g8ang1 vươn lên, không quản ngại. Nhưng chỉ nói thôi thì không đủ, chúng ta cần phải thực hành. Và để thực hành được thì không phải ai cũng làm được.
       Trong cuộc sống, ta có thể bắt gặp được những lý tưởng cao đẹp thể hiện rõ nét và nhiều nhất là những người nghèo khổ. Tuy nghèo nhưng họ đã thể hiện được một lý tưởng cao đẹp có thể giúp họ vươn lên trong cuộc sống. Những chương trình truyền hình dành cho người nghèo điển hình như chương trình “Vượt lên chính mình”, những gia đình nghèo khổ khi tham gia chương trình này đều thể hiện được lí tưởng vươn lên để thoát khỏi nợ nần để phát triển kinh tế gia đình và hội nhập trong xã hội. Đó là những tấm gương điển hình cho chúng ta thấy được ý chí vượt lên, vượt qua mọi thử thách của con người và lí tưởng cao đẹp của họ. Nhưng trái với hình ảnh này lại có những người không định sẵn cho mình một lí tưởng, đặc biệt là lớp trẻ bây giờ, những nhà giàu có khá giả, chỉ biết nghĩ tới tiền, sử dụng tiền vào những việc vô ích, không màn đến tương lai của mình. Một số người lại cho rằng mọi thứ do ông trời sắp định sẵn nên cũng chẳng them quan tâm đến lí tưởng là gì. Đó là những người không thể chấp nhận trong xã hội, rồi đến một lúc nào đó họ sẽ không thể tồn tại được trong một xã hội như thế này nếu như không có lí tưởng đúng đắn.
       Bản thân mỗi chúng ta cần phải xác định rõ ràng mục đích lí tưởng ngay từ những lúc còn đang ở trong bậc sư phạm để khi ra đời chúng ta hãy lấy đó làm nền tảng để đưa chúng ta đến với thành công trong công việc cũng như những thứ khác trong xã hội này. Tuy vậy, nhiệm vụ trước mắt là phải học tập thật tốt, cần hình thành cho mình kĩ năng tự lập, không phụ thuộc vào người khác. Khi ra đường, cần phải có những hành vi tốt, không để lại hình ảnh xấu cho bản thân mình cũng như xã hội.
      Vậy mỗi người chúng ta cần phải thực hiện cho mình một lí tưởng cao đẹp để khi ra đời ta xem đó là nền tảng của một bước đường tiếp theo, bước đường đưa ta vào đời và dẫn ta tới ngưỡng cửa của thành công.
0
phiếu
0đáp án
2K lượt xem

     Đời người không khỏi có những lúc bước chân lang thang đưa ta đến những sông hồ, bờ bãi, biển cồn, núi cao, đèo dốc… những không gian trời nước mênh mông. Nghĩa là ta sẽ phải đối diện với cái vô cùng vô tận của không gian, cái vô thủy vô chung của thời gian. Khi ấy, ngay cả những người vô tâm nhất cũng không tránh khỏi cảm giác cô đơn. Bởi người ta thấy rõ hơn bao giờ hết rằng con người thật là nhỏ nhoi, kiếp người chỉ là thoáng chốc. Đời người sao quá phù du! Ta bỗng thấy mình như đang bơ vơ lưu lạc giữa cái mênh mông của đất trời, trôi nổi trong cái xa vắng, rợn ngợp của thời gian. Ta bỗng thấy cái chơi vơi giữa thế gian này! … Ấy là lúc có thể đọc thơ Huy Cận. Bởi đó là thế giới của Lửa thiêng, thế giới của Tràng giang. Thi sĩ đã cất lên giùm ta cái cảm xúc, cái nỗi niềm nhân thế đó. 
      Ngày trước, để bênh vực cho bài Tràng giang (cũng là bênh vực cho Thơ Mới), người ta đã phải viện ra cái kỉ niệm của một chiến sĩ nào đó mà rằng: một người cách mạng như thế cũng rất yêu hai câu đầu của bài Tràng giang, vậy bài thơ này là lành mạnh, nỗi buồn ở đấy là trong sáng, chứ không có hại gì! Rồi ngay cả Xuân Diệu cũng phải lập cả một hàng rào che quanh để bênh vực cho lòng yêu thiên nhiên của bài thơ. Không, lòng yêu thiên nhiên tạo vật tự nó là một giá trị, ngang hàng với những tình yêu khác. Lòng yêu thiên nhiên là một cảm xúc thuộc về nhân tính. Tự nó không cần bảo vệ! 
     Tràng giang không nhất thiết phải là sông Hồng, sông Cửu Long, đó cũng có thể là Hoàng Hà, Hằng Hà,Vonga, Dương Tử, … cũng được chứ sao. Tràng giang là một tạo vật thiên nhiên. Nó có thể được gợi Ý, gợi tứ từ sông Hồng, từ một chỗ đứng xác định là bến Chèm. Nhưng khi đã thành hình tượng “tràng giang” thì nó đã khước từ mọi địa danh, địa chỉ cụ thể để trở thành một tạo vật thiên nhiên phổ quát rồi. Lòng yêu của thi sĩ trong đó là một lòng yêu dành cho thiên nhiên, tạo vật, một lòng yêu có ở hết thảy con người! Và đó chính là tầm vóc đáng phải có của bài thơ này!
      Cảm hứng của bài thơ quả là cảm hứng không gian. Không gian được trải ra từ mặt sông lên tận chót vót đỉnh trời, không gian được mở ra từ thẳm sâu vũ trụ vào tận thăm thẳm tâm linh con người. Ấy là một thế giới vừa được nhìn bằng sự chiêm nghiệm cổ điển vừa được cảm nhận bằng tâm thế cô đơn của một cái tôi hiện đại, rất đặc trưng cho thơ Mới. Có lẽ vì thế chăng mà Tràng giang hiện ra như một bức tranh tạo vật trường cửu, lớn lao, vừa hoang sơ, vừa cổ kính, trong đó thi sĩ hiện lên như một lữ thứ đơn độc, lạc loài?
       Tràng giang là một không gian mênh mông vô biên. Ngay cái tên bài thơ đã như một cửa ngõ mở vào vô biên rồi. Tràng giang gợi ra hình tượng một con sông chảy mênh mang giữa trời và đất. Vầ câu đề từ như thêm một lần nữa vén lên bức rèm, bước qua một hành lang mở thông vào vô biên: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Nhưng dẫu sao những hình ảnh sống động của thế giới ấy có thể cảm nhận hoàn toàn trực quan chỉ thực sự mở ra với những câu đầu: 

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, 
Con thuyền xuôi mái nước song song. 
       Có lẽ cái chất thơ của sông nước đã nhập vào những câu thơ thế này để phô bày vẻ đẹp của nó. Câu thứ nhất tả sóng, câu thứ hai tả những dòng trôi, những luồng nước trên mặt sông. Nếu câu thứ nhất gợi được những vòng sóng đang loang ra, lan xa, gối lên nhau, xô đuổi nhau đến tận chân trời, thì câu thứ hai lại vẽ ra những luồng nước cứ song song, rong ruổi mãi về cuối trời. Không gian vừa mở ra bề rộng, vừa vươn theo chiều dài. ĐÚng là nó có thấp thoáng âm hưởng hai câu thơ cũng tả sông nước trong bài Đăng cao nổi tiếng của Đỗ Phủ: 
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
(Ngàn cây bát ngát, lá rụng xào xạc, 
Dòng sông dằng dặc, nước cuồn cuộn trôi)
      Cũng là đối xứng, nhưng Đỗ Phủ viết theo lối đối chọi, còn Huy Cận- có cải biên, chỉ dùng tương xứng thôi. Cũng dùng những từ láy nguyên để gợi tả, trong khi tác giả Đăng Cao đặt ở giữa câu, thì tác giả Tràng giang lại đẩy xuống cuối câu. Nhờ thế hai từ láy nguyên “điệp điệp”, “song song” tạo ra được dư ba. Nghĩa là lời thơ đã ngừng mà Ý hướng và âm hưởng vẫn còn vang vọng như dội mãi vào vô biên. Dòng sông lớn mang trong lòng một nỗi buồn lớn!
      Suốt dọc bài thơ, Huy Cận còn dày công khắc họa vẻ mênh mông vô biên bằng biết bao chi tiết giàu tính nghệ thuật nữa. Vừa dùng cái lớn lao để gợi sự mênh mông, vừa dùng cái hữu hạn để gợi sự vô cùng. Ấy là hàng trăm ngả sông, những cồn đất, những bờ xanh, bãi vàng, lớp lớp mây cao đùn núi bạc, ấy là một cành củi khô, một bóng chim nhỏ … Nhưng có lẽ bức tranh vô biên của Tràng giang đã đạt đến tận cùng là ở hai câu: 

Nắng xuống, trời lển, sâu chót vớt,
Sông dài, trời rộng, bên cô liêu. 

         Câu trên là sự vô biên được mở về chiều cao. Câu dưới là sự vô biên cả về bề rộng và chiều dài. Có một khoảng không gian đang giãn nở ra trong cụm từ: “Nắng xuống, trời lên”. Hai động từ ngược hướng “lên”, “xuống” đem lại một cảm giác chuyển động rất rõ rệt. Nắng xuống đến đâu, trời lên đến đó. Và nó được hoàn tất bởi cụm từ “sâu chót vót”. Có cái gì như phí lí. Có lẽ không chịu được vẻ phi lí mà nhiều người đã cố tình in và viết thành “sầu chót vót” để dễ hình dung hơn. Tiếc rằng, chính “sâu” mới là sự xuất thần của hồn thơ. Đây không phải là sự lạ hóa ngôn từ. Nếu có thì trước hết là sự lạ hoátrong cách nhìn, trong cảm giác. Ánh mắt tác giả không dừng lại ở đỉnh trời một cách thường tình để nhận biết về chiều cao mà nó như xuyên vào đáy vũ trụ để cảm nhận về chiều sâu. Song, dầu sao, đây vẫn là chiều sâu của cái nhìn ngước lên. Cho nên mới là “sâu chót vót”. Chót vót vốn là một từ láy độc quyền của chiều cao, bỗng phát huy một hiệu quả không ngờ. Nó còn gợi sắc thái chưa hoàn tất. Dường như cái nhìn thi sĩ vươn tới đâu thì trời sẽ sâu tới đó, mỗi lúc một chót vót hơn. Vừa tương xứng, vừa hô ứng với câu trên, câu thứ hai mở ra bát ngát, tít tắp. Câu thơ được viết giản dị, không chữ nào lạ, ngỡ như chỉ là sự sắp xếp các chiều kích của tràng giang, thế thôi. Vậy mà thấy động. Các trạng thái tĩnh, các tính từ dường như cựa quậy đòi động từ hóa. Trong áp lực của cái nhìn xa hút, cso cảm giác sông dài ra, trời rộng thêm, bến cô liêu đi vậy. 

Thế mới lạ, không có chữ nào lạ hóa, mà vẫn mới lạ. Thế mới biết, chính cảm xúc mới lạ làm nên cái mới lạ chân chính cho nghệ thuật. 

3. Là một người thuộc lớp tây học, nhưng tâm hôn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi, nên không gian Tràng giang cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả cái trạng thái tĩnh của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan niệm, tĩnh là gốc của động, tĩnh là cội nguồn của thế giới. Cùng với nó, tĩnh tại và thanh vắng cũng trở thành một tiêu chuẩn mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái tĩnh vắng mênh mông trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không, một hư không chứa đầy âm nhạc, chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của Tràng giang được cảm nhận bằng nỗi cô đơn bơ vơ. Có lẽ vì thế mà Tràng giang còn là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái Tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông của đồng loại. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng. 

         Đúng ra con người cso thoáng xuất hiện trong hình bóng chiệc thuyền ở đầu bài thơ. Một con thuyền “xuôi mái”, thụ động buông trôi trên dòng nước luân lạc. Và nó cũng chỉ hiện ra thoáng chốc, sau đó nép mình vào bờ bãi mà mất hút trên sông nước, trả lại không gian cho sự ngự trị của muôn ngả sông, nghìn luồng sóng: 

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả, 
Củi một cành khô lạc mấy dòng. 

Khát thèm âm thanh của cuộc sống người, thi sĩ lắng nghe, không dám mơ đến thứ âm thanh náo động, vui tươi, chỉ là âm thanh xoàng xĩnh nhất, buồn chán nhất của cuộc sống người, thế mà cũng không có: 

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Chứ “đâu” ở đầu câu có thể hiểu là từ chỉ nơi chốn với nghĩa là “đâu đó”. Cũng có thể hiểu là phủ định từ với nghĩa là “đâu có”. Dù theo nghĩa nào thì nó cũng nhằm nói tới cuộc sống tan rã, một đằng thì đã vắng bóng, một đằng thì đang vắng bóng mà thôi. Rồi cả đến những phương tienj giao lưu gợi sự có mặt của con người cũng không hề có: 

Mênh mông không một chuyến đò ngang,
Không cầu gợi chút niềm thân mật. 

Và sự phủ định cuối cùng: “Không khói hoàng hôn…”. Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng của “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén, Ngày xem hoa bợ cây” (Nguyễn Trãi), “Lác đác bên sông chợ mấy nhà” (Bà Huyện Thanh Quan) hay “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” (Nguyễn Khuyến) nữa. Tràng giang hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thủa khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế. Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi, cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh này, hơn nghìn năm trước, Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê: 

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai- Tản Đà dịch)

Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần khói sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên đâu. Nhớ nhà như là để vượt thoát, để trốn chạy nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:

Lòng quê dợn dợn với con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. 

Dòng sông chảy giữa mênh mang trời đất đến đây như bống dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê. Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất. 

Đứng trước những dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta, nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau khi ta tan biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng dưng không them biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn. Đứng bên dòng sông lớn, hãy lắng nghe nhịp triều miên viễn mênh mang. Nó là nhịp ca của vĩnh hằng, nhịp của vũ trụ. Và hình như, Huy Cận đã chuyển dược nhịp chảy trôi miên viễn ấy vaoaf trong bài thơ. Những từ láy, nhất là láy nguyên “điệp điệp”, “song song”, “lớp lớp”, “dợn dợn”, … ẩn hiện trong toàn bài không chỉ gợi được sự đường bệ mà còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp// Con thuyền xuôi mái nước song song”. Các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối liên tiếp như một chuỗi dài, tạo nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: “nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót – Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”, ‘hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, … cứ nối nối, tiếp tiếp, cứ song song trùng điệp không cùng … khi hiện thành câu chữ, khi chìm trong âm vang. Tất cả những yếu tố ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau tạo thành một âm hưởng cứ ngấm ngầm chảy đây đó trong lòng bài thơ: âm hưởng trôi xuôi bất tận. Nó khiến cho ta có một cảm tưởng thật rõ rệt mặt bằng chữ nghĩa của cả bài thơ cũng như đang xuôi dòng trôi dạt, những hình ảnh, những hình tượng cũng đang lặng lẽ xuoi dòng: dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian mà còn chảy trong thời gian … Từ thủa khai thiên lập địa, sông chảy miết qua các thời đại mà về đây. Phải chăng đây là chiều thứ tư đầy mơ hồ và hư ảo của không gian Tràng giang. 

Tôi đọc bài thơ bao lần và không sao xóa được khỏi lòng mình cái cảm giác bâng quơ này: mình là cái cành củi khô luân lạc trên dòng tràng giang kia hay mình là cánh chim nhỏ lạc lõng dưới lớp lớp mây cao đùn núi bạc đó… Nó là cảm tưởng của một đứa trẻ… Mà dường như cũng là của một người già… Bởi vì Tràng giang là dòng sông mà cũng là dòng đời chăng? 
Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
972 lượt xem

      Chi tiết nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng quyết định mật thiết đến sự thành công của tác phẩm. Nếu không có chi tiết nghệ thuật thì tác phẩm văn học dù ở thể loại nào đi chăng nữa thì cũng chỉ như cái vỏ âm thanh vô hồn không sức sống. Cũng vậy, Nam Cao cũng cần lắm những chi tiết nghệ thuật để “Chí Phèo” trở nên một kiệt tác hoàn hảo đạt đến sự chuẩn mực của nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa. Cùng với hình tượng nhân vật Chí Phèo, rất nhiều những chi tiết nghệ thuật khác đã góp phần vào thành công của truyện, mà ta không thể không kể đến một chi tiết dù bé nhỏ nhưng vô cùng giàu ý nghĩa và quan trọng góp phần bộc lộ tư tưởng của tác giả: “ những âm thanh mà Chí Phèo nghe được trong buổi sáng tỉnh dậy sau cơn say”.
      Chí Phèo là một đứa trẻ bị bỏ rơi, được một người đi thả ống lươn nhặt về. Từ bé đến năm hai mươi tuổi, Chí được nhân dân lao động cưu mang đùm bọc. Lớn lên trong sự lương thiện, đứa trẻ mồ côi Chí Phèo, dẫu cho phải làm thuê, cuốc mướn vẫn có một tấm lòng lương thiện và một cuộc sống tốt lành. Anh thanh niên hai mươi tuổi “hiền như đất” ấy còn có một ước mơ rất đỗi chính đáng: có một cuộc sống ổn định, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ ở nhà dệt vải, một ước mơ rất đỗi bình dị của người dân lao động. Thế nhưng phận đời đưa đẩy, Chí vào làm canh điền cho lí Kiến. Ở đây bánh xe cuộc đời Chí bắt đầu quay những vòng quay định mệnh, bắt đầu từ việc Chí mới hai mươi tuổi, phơi phới sức trai nên đã bị bà ba, một dạng phó đoan, bắt làm những việc bất chính. Bà ta cứ bắt Chí phải bóp chân, mà cứ bắt “bóp lên trên, lên trên nữa”. Chí thừa nhận, “hai mươi tuổi, người ta không là đá, nhưng cũng không toàn là xác thịt”, Chí ý thức được những việc mình đang làm, Chí không sa vào cám dỗ. Lòng tự trọng khiến Chí cảm thấy nhục nhã cho mình, nhưng lại sợ. Chính vì cơn ghen cuồng nộ của lí Kiến, Chí bị đẩy vào tù, cùng với một bài học cay đắng về cuộc sống: muốn tồn tại phải ác, phải mạnh.
      Trở về sau bảy, tám năm, Chí trở nên một tên gớm ghiếc, cái đầu trọc lốc, cái răng trắng hớn, cái mặt cơng cơng, hai mắt gườm gườm, trông Chí như một tên du côn, chẳng còn chút gì là anh thanh niên Chí Phèo ngày xưa nữa. Không những thế, những cử chỉ của Chí cũng khiến mọi người dè chừng khiếp sợ: uống rượu, chửi bới, lúc nào cũng sẵn sàng rạch mặt ăn vạ. Nhưng Chí chỉ thực sự trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại khi bị lí Kiến, giờ là bá Kiến, lợi dụng trở thành tay sai cho lão. Chí ngày càng hung hãn, ngang ngược trong những cơn say triền miên. Hắn đã chà đạp biết bao gia đình, đã làm khổ biết bao nhiêu máu và nước mắt của những người dân hiền lành, lương thiện. Chí làm tất cả những việc đó trong cơn say, và rồi cũng chính trong cơn say ấy, theo một cách bản năng, Chí gặp thị Nở - một người đàn bà xấu xí, ngẩn ngơ, ế chồng...
      Sáng hôm sau, Chí tỉnh dậy trong túp lều của mình. Lần đầu tiên sau mười mấy năm, Chí bắt đầu cảm nhận được thiên nhiên xung quanh mình. “Mặt trời chắc đã lên cao, và nắng bên ngoài bắt đầu rực rỡ”. Lần đầu tiên từ khi từ nhà tù trở về, Chí ý thức được cảnh vật đẹp đẽ đầy sức sống xung quanh mình. Tiếng chim hót ríu rít bên ngoài vọng vào tai Chí, âm thanh trong trẻo của tiếng chim khiến Chí chú ý đến những điều thường nhật vẫn diễn ra bên ngoài túp lều của mình. Những điều ấy thật đơn giản và ngày nào cũng có, thế nhưng tại sao maix cho đến tận giờ này Chí mới nhận ra sự có mặt của nó? Cũng như trong “Vợ chồng A Phủ”, khung cảnh thiên nhiên đầy sức sống vào độ xuân về Tết đến đã tác động vào tâm thức Mị giúp Mị bừng tỉnh trong cơn mê mất ý thức, thì trong “Chí phèo” Nam cao cũng sử dụng sức sống của thiên nhiên để đánh thức một kẻ đã bị cuốn vào dòng đời lầm lạc mà đánh mất bản thân mình. Từ khi trở về sau gần chục năm ở tù, lúc nào Chí cũng say, hắn tràn từ cơn say này đến cơn say khác, nhưng bây giờ hắn tỉnh. Hắn thực sự tỉnh táo để nhận ra được cuộc sống xung quanh mình, để cảm thấy bâng khuâng, thấy đắng miệng và đặc biệt là hắn thấy “lòng mơ hồ buồn”! Cuộc đời hắn có gì đáng buồn, nơi ở được bá Kiến chu cấp, không ai dám lên mặt với hắn, cái “nghề” của hắn cho hắn cái ăn mỗi ngày, vậy thì hắn có gì phải buồn? Nhưng cuộc đời đâu chỉ có thế, đâu chỉ quanh quẩn trong mỗi chuyện nơi ăn chốn ở, sự sống nó đòi hỏi nhiều thứ hơn, nhiều hơn những gì mà hắn đang có. Hắn nhận ra sự tương phản rõ ràng ngay trong chính căn lều của mình. Trong khi ngoài kia, chim chóc thi nhau hót ríu rít, ánh nắng rực rỡ tràn ngập mọi thứ thì trong cái lều ẩm thấp của hắn lại “mới chỉ hơi lờ mờ”. Trong cái lều chật hẹp ẩm thấp ấy, hắn đã quên hết mọi thứ xinh đẹp của cuộc sống, hắn lúc nào cũng chỉ thấy tù mù, như chính cuộc đời của hắn vậy, tối tăm đối lập với thế giới bên ngoài. “Ở đây, người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”. Điều đó khiến hắn “mơ hồ buồn”. Hắn buồn một nỗi buồn vô định, không rõ ràng, hắn lờ mờ nhận ra rằng cuộc đời mình thật đáng thương. Những cảm giác mơ hồ đến với hắn, thật nhẹ nhàng nhưng cũng đủ làm hắn phải suy nghĩ. Hắn đã tỉnh dậy sau một cơn say rượu, hay là một cơn say mất phương hướng.
       Hắn “bủn rủn, tay chân không buồn nhấc”, hắn hơi rùng mình khi nghĩ đến rượu. Hắn sợ rượu. Trong suốt ngần ấy năm đắm mình trong những cơn say không có bắt đầu và kết thúc, hắn đã uống quá nhiều rượu rồi. Hắn tìm đến rượu như một sự chạy trốn, để hắn khỏi phải đói mặt với cái thực tại tàn nhẫn bất công. Tiếng chim hót ngoài kia vẫn vẳng bên tai hắn. Cuộc sống ngoài ấy sao mà vui vẻ quá! Có tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, có tiếng cười nói của tiếng người đi chợ. Những âm thanh của cuộc sống lao động bình dị ấy đã xuyên qua thính giác của Chí, va đập vào tâm hồn của hắn, để rồi hắn thở dài một tiếng than: “Chao ôi là buồn!”. Nam cao đã thật tinh tế để có thể nhận ra nỗi buồn mơ hồ của Chí, nhưng lại càng sâu sắc hơn khi thấu hiểu tiếng than của Chí Phèo. Nỗi buồn mông lung ấy giờ đây đã dâng lên thành lời than, sự đối lập mà Chí nhìn thấy lại càng rõ ràng. Trong gần hai mươi năm sống kiếp quỷ dữ, Chí chỉ nghe thấy tiếng chửi bới, tiếng đánh đâp, tiếng khóc than, những âm thanh đó khác hẳn hoàn toàn với những gì Chí đang nghe thấy: tiếng cười nói của cuộc sống trong lành. Bản tính cốt yếu của sự sống chính là cảm giác và tư tưởng, cuộc sống của những con người bên ngoài kia mặc dù có lam lũ vất vả, nhưng ắt hẳn nó vẫn luôn lạc quan và ám áp vui tươi. Còn Chí, cuộc đời Chí chỉ có doạ nạt, đâm chém... Đó đâu phải là sống, đó là tồn tại vất vưởng bằng những chuỗi ngày đen tối nhất trong cuộc đời Chí. Anh thanh niên hai mưoi tuổi ngày nào đâu rồi, sao giờ chỉ còn lại kẻ mà ai cũng gớm ghiếc, ai cũng xem là quỷ dữ?! Chí không chỉ nghe bằng đôi tai cha sinh mẹ đẻ, mà Chí con nghe bằng đôi tai của một tâm hồn đã thức tỉnh.
     Nếu trong “Vợ chồng A Phủ”, tiếng sao đêm tình mùa xuân đưa Mị trở về với thời con gái hồn nhiên hạnh phúc, thì cũng với một tác động như vậy, Nam Cao đã để Chí Phèo nhớ về cái ước mơ một thời xa xăm của hắn qua tiếng những người đàn bà đi bán vải. Nam Cao đã đặc biệt chú ý miêu tả âm thanh này bằng một đoạn đối thoại, bởi điều này đặc biệt quan trọng đối với Chí Phèo. Hiện ra trong tâm trí hắn giờ đây là hình ảnh những người phụ nữ, tảo tần lam lũ vì gia đình, hết lòng lo cho chồng cho con. Cuộc sống của những người đàn bà ấy có thể vô cùng nhọc nhằn trong công việc mưu sinh, nhưng ấm áp vì hạnh phúc gia đình. Điều đó làm hắn cảm thấy “nao nao buồn”. Nỗi buồn không những dâng lên thành tiếng than mà giờ đây đã khiến hắn rưng rưng cảm động. Hắn tìm lại cái ước mơ hắn bỏ quên trong hai mươi năm qua: một gia đình nho nhỏ, đầm ấm. Hắn không cần những điều cao xa, hắn chỉ ao ước có một gia đình bình thường, “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”, nhưng cái ước mơ ấy dường như đã rất xa rồi. Cái ước mơ hạnh phúc ấy thật đơn xơ nhỏ bé đến tội nghiệp, nhưng Chí vẫn không thể với tới được nữa rồi. Hắn thấy mình thật cô độc. Hắn như cười buồn cho mình: “Buồn thay cho đời!”. Hắn thấy mình thật thảm hại, thấy mình “đã tới cái dốc bên kia của đời”. Nỗi buồn của hắn cũng vì thế mà mang tính triết lí của một người đã biết suy nghĩ. “Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Câu văn thật lạ, theo lẽ thường tình, chữ “và” không được phép xuất hiện sau dấu phẩy, nhưng ở đây Nam Cao lại để cả hai hiện diện cùng lúc nhằm mục đích nhấn mạnh sự đáng sợ của nỗi cô độc. Nam Cao luôn đề cao con người tư tưởng, ông đặc biệt chú ý đến những hoạt động bên trong con người và coi đó là nguyên nhân của những hành động bên ngoài, chính vì thế nỗi cô độc là một điều vô cùng đáng sợ, đáng sợ hơn tất thảy những thứ khác. Chí Phèo sợ điều ấy. Hắn khao khát muốn được giao tiếp với cuộc sống bằng phẳng lương thiện bên ngoài, và đúng lúc ấy thì chiếc cầu nối đưa hắn trở về với thế giới vốn dĩ của hắn – thị Nở bước vào. Thị, chính thị sẽ mở cánh cổng để hắn bước vào thế giới của thị, để hắn trở về với hình ảnh anh thanh niên hiền lành, chất phác ngày nào. Bằng sự thương cảm xót xa trước cảnh đời bất hạnh, nam Cao đã để thị Nở thay mặt mình giúp Chí Phèo nhận thức được cuộc sống, thay đổi quan niệm sống và thức tỉnh ý thức mình.
      Nếu như thị Nở là con đường để Chí Phèo làm lại cuộc đời thì những âm thanh Chí nghe được trong buối sáng sau cơn say đã tác động vào tâm thức Chí, giúp Chí nhận ra hiện tại và nhớ về quá khứ, đồng thời khơi dậy nơi Chí một khao khát sống. Nam cao đã nhờ vào những âm thanh ấy mà miêu tả tâm lí Chí Phèo một cách chân thực, logic với nỗi buồn rất riêng. Nỗi buồn của Chí được miêu tả nhiều lần, mỗi lần lại là một cung bậc, một sắc thái khác nhau, gắn với một nguyên cớ khác nhau. Nỗi buồn ấy cho dù được miêu tả ở nhiều góc cạnh, song cuối cùng cũng đưa đến một mục đích: đánh dấu sự thức tỉnh của Chí Phèo. Chí giờ đây không còn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa mà đã trở thành một con người với những sắc thái cảm xú rất nhân bản, những chi tiết âm thanh ấy cũng vì thế mà trở nên rất quan trọng. Tếng chim hót rất đỗi bình dị, nhưng Nam Cao đã chọn nó để miêu tả sức sống của thiên nhiên; tiếng anh chèo gõ mái đuổi cá kia ngày nào cũng có, nhưng hôm nay Nam Cao đặc biệt nhắc đến để Chí Phèo nhận ra những âm thanh quen thuộc của đời sống lao động bình thường; và đặc biệt giữa muôn vàn những âm thanh, có thể lẫn lộn đâu đó tiếng chửi bới của một phiên chợ, nhưng Nam Cao đã phát hiện và ưu ái chọn lọc tiếng cười nói của những người đàn bà đi bán vải để gợi Chí Phèo nhớ đến cái mơ ước của một thời xa xôi. 
      Cũng như trong “Vợ chồng A Phủ”, tiếng sáo đêm tình mùa xuân được Tô Hoài miêu tả một cách công phu thì những chi tiết âm thanh ấy cũng đã được Nam Cao chọn lọc và miêu tả một cách chi tiết để làm nổi bật lên chủ đề tư tưởng nhân đạo cao đẹp của tác phẩm. Nam Cao đã phát hiện ra phần tốt đẹp trong con người Chí Phèo, để rồi xót thương, cảm thông và tin tưởng vào niềm khao khát sống một cuộc sống lương thiện và khát vọng muốn hưởng hạnh phúc chính đáng của Chí. Chính điều đó đã tạo nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm, đưa tác phẩm tiến gần về đỉnh cao nghệ thuật của văn học Việt Nam.

Sưu tầm
99

bài viết

Chat chit và chém gió
  • theoofman1093: q 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: u 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: v 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: ư 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: y 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: z 5/8/2020 9:25:29 PM
  • theoofman1093: tui bây ngu như pò 5/8/2020 9:25:38 PM
  • theoofman1093: è 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: sg 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: h 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: sdg 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: ggg 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:05 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:48:06 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:07 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:10 PM
  • theoofman1093: dfgfg 5/8/2020 9:48:11 PM
  • vingoc: hi mn 11/13/2020 9:28:11 PM
  • vingoc: em mới vào ạ 11/13/2020 9:28:24 PM
  • vingoc: ở đây có ai lớp 7 ko ạ? 11/13/2020 9:29:13 PM
  • duolingo: 9 3/28/2021 11:19:10 AM
  • huongmaixm01: văn lớp 9 7/2/2021 11:26:56 AM
  • minhmama357: hi 8/13/2021 4:22:39 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • vipof95962: me may beo vai 11/20/2022 11:53:17 AM
  • vipof95962: wanna watch hentai 11/20/2022 11:53:47 AM
  • vipof95962: laughing 11/20/2022 11:53:49 AM
  • vipof95962: sex is good for you 11/20/2022 11:53:56 AM
  • kkkkkkkk: free fire 11/27/2022 3:22:24 PM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely
  • nguyennhung9904
  • duolingo
  • duolingo