0
phiếu
0đáp án
963 lượt xem

Mặt trời lặn đã lâu. Màn đêm dịu dàng buông xuống. Bầu trơì thăm thẳm, lấp lánh muôn vạn vì sao. Xa xa, phía cuối làng, vầng trăng đang từ từ nhô lên khỏi luỹ tre tím mờ trong làn sương mỏng. Tiếng trống ếch khuấy động không khí vỗn tĩnh lặng chốn thôn quê. Hôm nay là rằm tháng Tám, chúng em náo nức chuẩn bị đón Tết Trung thu.

Trước sân mỗi nhà đều có mâm cỗ đón trăng. Trái bưởi vàng rám nắng, cuống lá tươi xanh đặt ở giữa, xug quanh là những trái hồng đỏ tươi, chín mọng. Nải chuối tiêu lốm đốm trứng cuốc cùng với cốm Vòng nnõn nà màu ngọc đựng trong lá sen tươi. Chiếc bánh nướng hình mẹ con đàn lợn nằm quây quần bên nhau trông mới ngộ nghĩnh làm sao ! Một mùi hương dịu ngọt lan toả trong không gian rộn ràng tiếng cười nói của trẻ thơ.

Trăng đang lên cao, tròn vành vạnh như một chiếc đĩa bạc, nổi bật trên nền trời đêm. Ánh trăng ngời ngời toả sáng, soi rõ từng cảnh vật trên mặt đất. Dòng sông uốn khúc quanh làng như dải lụa mềm, mặt nước lấp lánh trắng. Đồng lúa mênh mông trải dài, nhấp nhô gợn sóng như đang rì rào ca ngợi vẻ đẹp của trăng rằm.

Trên đường làng, từng đoàn trẻ tung tăng nối đuôi nhau rước đen. Hàng tră, ngọn nến lung linh. Đèn hình ông sao, hình con thỏ, con gà, con bướm, con chim, hình máy bay, tàu thuỷ... Rồi đèn xếp, đèn kéo quân... đủ kiểu đủ màu, trông thật vui mắt. Tiếng hát xen lẫn tiếng trống ếch, trống cơm náo nức 

Thùng thình, thùng thình trống rộn ràng ngoài đình,
Có con sư tử đang múa quanh vòng quanh.
Trung thu liên hoan trăng sáng ngập đường làng, 
Dưới ánh trăng vàng đàn em hát vang vang...

Ngay tại sân đình, chúng em được dự liên hoan văn nghệ và nghệ và phá cỗ Trung thu: được nghe kể về sự tích tại sao chú Cuội lại phải mãi mãi ngồi dưới gốc cây đa trên cung Quảng. Bánh dẻo, bánh nướng, chuối, bưởi... nhà nào cũng có, nhưng chúng em thích phá cỗ cùng nhau hơn vì rất vui.

Cuộc vui đã tàn, tiếng bước chân rậm rịch toả về kháp các ngả. Khung cảnh làng em vốn đẹp, trong đêm trăng rằm lại càng đẹp, giống như một bức tranh thiên nhiên thơ mộng, gợi cảm giác về một cuộc sống no đủ, thanh bình.
0
phiếu
0đáp án
735 lượt xem

       Vấn đề giáo dục luôn được chú trọng hàng đầu đối với mọi quốc gia trên thế giới không chỉ ở trong thời kì phát triển như ngày nay mà nó đã được áp dụng từ xa xưa thời phong kiến. Việc giáo dục rất cần thiết để tạo ra nhiều người công dân có ích cho xã hội. Giáo dục ở đây ngoài việc bồi dưỡng về mặt kiến thức mà còn giáo dục việc làm người, đây là điều cốt yếu. 
        Để trở thành một người công dân có ích thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải là một học sinh chân chính. Ông bà ta có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về” cho thấy việc giáo dục con người phải bắt đầu khi còn là một đứa trẻ. “Tre già, măng mọc”, trẻ em hôm nay là những mầm non của tương lai đất nước sau này vì thế những mầm non ấy cần được giáo dục kỹ càng ngay khi còn là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường. Người xưa có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn”, việc giáo dục đạo đức con người là quan trọng hàng đầu, cần phải thực hiện đầu tiên, sau đó mới tới việc dạy chữ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Người có tài mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó” vì thế để trở thành một người có ích thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải là một học chân chính, siêng năng học tốt.
        Người công dân có ích là người có đạo đức tốt, không tham gia các tệ nạn xã hội, biết cống hiến hết mình năng lực của bản thân cho đất nước và xã hội. Để trồng một cây con lớn lên, chúng ta phải tốn thời gian khá lâu, nhưng chúng ta phải tốn gấp nhiều lần thời gian ấy để “trồng” một con người có ích. Để có được một phẩm chất đạo đức tốt thì cần phải rèn luyện một thời gian dài, ngay từ khi còn bé chứ không thể vài ngày, vài năm như trồng một cây con. 
        Học sinh chân chính là một học sinh có đạo đức tốt,hiếu thảo với cha mẹ, ngoan ngoãn vâng lời thầy cô, siêng năng học tốt. Từ nhỏ, ở nhà cha mẹ đã dạy và tập cho chúng ta nhiều điều hay như gặp người lớn hơn mình phải cuối đầu chào, nhặt được của rơi không được lấy nhà phải trả cho những người bị mất, không được nói tục, chửi thề,…. Và đến khi vào lớp, thầy cô cũng dạy cho chúng ta như thế, phải học thuộc và làm theo những điều trong sách Đạo đức-sách giáo dục công dân, nghiêm cấm không tham gia vào các tệ nạn xã hội. Đạo đức là cái gốc của con người và những việc làm tốt thường xuyên thực hiện dần dần chúng thấm nhuần vào ta tạo thành đức tính và thói quen mà nó sẽ theo ta đến khi trưởng thành, và thế là chúng ta đã, đang và sẽ trở thành những con người có ích.
        Bên cạnh đó là những học sinh thiếu ý thức, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học, cứ long nhong chơi bời, thậm chí còn bị tham gia các tệ nạn xã hội, bài bạc, rượu bia, hút chích,… trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Họ thành ra như vậy một phần là do thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục từ gia đình. Do cha mẹ quá bận rộn làm ăn kiếm tiền hoặc những nguyên nhân chủ quan khác mà bỏ bê con cái, việc này làm ảnh hưởng rất lớn đến tâm lí của chúng và phần còn lại là do những học sinh đó thiếu ý thức, suy nghĩ còn non trẻ, ham chơi, đua đòi,… rồi tất cả đã vô tình bước vào một con đường đen tối, trở thành gánh nặng cho cộng đồng và xã hội.
          Có những mảnh đời bất hạnh, từ khi sinh ra đã thiếu đi tình cảm gia đình, sự thương yêu của cha mẹ và cũng không được hưởng thụ về mặt vật chất. Đó là những trẻ em đường phố, cuộc đời em như những nhánh lục bình trôi lênh đênh trên mặt nước, vô bến bờ. Thiếu tình thương, không có điều kiện để sống tốt và được giáo dục đàng hoàng nên một số đã khờ dại vướn vào các tệ nạn xã hội. Một nguyên nhân nữa là do sự thờ ơ của cộng đồng, một vài người không những không biết thương cho số phận của họ, mà còn tỏ ra kinh tởm và khinh bỉ, họ miệt thị những đứa trẻ đó. Khiến chúng tự kỉ và rồi một số thiếu ý thức đã rơi vào hố sâu của tệ nạn, làm xã hội có thêm một gánh nặng.
        Nhưng chúng ta thấy, để trở thành một người có ích không phải khó mà cũng không phải dễ dàng gì. Điều cốt lõi ở đây là việc giáo dục, nhất là giáo dục đạo đức của học sinh. Vì thế để tất cả những mầm non tương lai của đất nước đều trở thành những công dân có ích thì nhà nước ta phải càng chú trọng đầu tư vào việc giáo dục hơn nữa và cần thiết nhất là phải có thêm nhiều chính sách xã hội cho những trẻ em đường phố, vì chúng cũng là những mầm non của đất nước sau này. Bên cạnh đó, tình cảm và sự quan tâm của gia đình cũng rất quan trọng. Nó quyết định tương lai, đức tính của một con người và cả đất nước, xã hội.
Nước ta là một nước đang phát triển, nhà nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì thế xã hội đang rất cần nhiều công dân có ích để chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước giàu mạnh, do vậy nên mỗi học sinh chúng ta cần phải ý thức thật tốt, là một học sinh chân chính để trở thành những người có ích cho đất nước mai sau.
Sưu tầm 
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

DÀN Ý

1/ Mở bài 
     - Trên thế giới , từ xưa đến nay , hầu như bất kì ai cũng có một người bạn , một tình bạn . Ở VN từng có tình bạn đẹp như : Lưu Bình – Dương Lễ …
     - Ý nghĩa của tình bạn đối với con người như thế nào ? Ngoài sự khôn nhoan điều quý nhất mà thượng đế ban cho con người là tình bằng hữu ( La Rơ – sơ- phu -cô – nhà tư tưởng pháp thế kỉ XVII).

2/ Thân bài 
a/ La Rơ –sơ – phu – cô muốn khẳng định điều gì qua lời phát ngôn ấy ? 
       - Tình bạn là một trong những điều quý giá nhất trên đời , một ân huệ thiêng liêng mà thượng đế ban cho con người , một quà tặng của sự sống. 
        - Con người ta không thể sống mà không có tình bạn , thiếu tình bạn là một thiệt thòi không gì bù đắp được.

b/ Đem tình bạn gắn liền với sự khôn ngoan , nhà tư tưởng pháp có ý nhấn mạnh điều gì?
        - Con người cần có sự khôn ngoan , nhưng con người cần có bạn , có tình bạn.
       - Không thể đem sự khôn ngoan thay thế cho tình bạn. có những trường hợp sự khôn ngoan phải nhường chổ cho tình bạn. 
       - Không thể đem tính toán hơn thiệt làm chuẩn mực cho tình bạn . nếu sự khôn ngoan là lí trí giúp con người có lí lẻ , sự nhạy bén để tính toán việc đời , thì tình bạn xuất phát từ tình cảm vô tư và chân thành. 

c/ Bày tỏ ý kiến của bản thân 
       - La Rô – sơ –phu-cô đã có một quan niệm rất chính xác về tình bạn . Đó là một ân huệ mà cuộc sống đã ban cho , một thứ tình cảm thiêng liêng chỉ con người mới có. 
        - không có tình bạn cuộc sống sẽ buồn tẻ vô cùng con người sẽ chỉ đơn độc như con thú. 
        - Tình bạn là một nguồn chia sẻ , động viên đã giúp cho con người vượt lên bao khó khăn có thể cả những lúc bế tắc tưởng chưng như không thể nào vượt qua nổi. 
         - Một tình bạn chân thành , một người bạn tốt có thể giúp cho con người trở nên tốt hơn. 
        - Một tình bạn tốt phải là một tình bạn vô tư , vượt lên những tính toán thiệt hơn , những cân nhắc lạnh lùng của trí tuệ. 
        - Một tình bạn tốt nhiều khi đòi hỏi sự hi sinh . Không phải ngẫu nhiên mà người VN ngày xưa và cả ngày nay coi câu chuyện của Lưu Bình – Dương Lễ là câu chuyện đẹp đẽ nhất của tình bạn . Người đọc thơ cũng quý trọng Nguyễn Khuyến với những câu thơ thể hiện một cách nghĩ vô tư về tình bạn :
“ Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác
Tôi lại đau trước bac mấy ngày
Làm sao bác vội về ngay
Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời !

3/ Kết bài 

       - Sống trên đời , phải có bạn , phải xây dựng cho mình một tình bạn tốt .
       - Chỉ thực sự có bạn tốt khi chính mình cũng tốt trong tình bạn , phải biết vô tư , phải biết quên mình trong tình bạn 

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
945 lượt xem

BÀI LÀM
      “ Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu, mà ở chỗ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”. Câu nói của Let-xinh gợi cho ta nhiều suy nghĩ về những thành công và thất bại trong hành trình tìm kiếm những giá trị cao đẹp của đời sống con người.
       Trong cuộc sống, con người luôn khao khát khám phá những giá trị của bản thân mình: Mình đang đứng ở đâu? Mình là ai trong mắt mọi người, trong đời sống xã hội? Xác định được vị trí, hiểu được vị trí bản thân là nhu cầu tất yếu, chính đáng của mỗi con người. Song, không phải ai cũng có được nhận thức đúng đắn về điều đó. Có những kẻ luôn ngộ nhận về khả năng của mình, họ cho rằng mình là số một, là chân lí của cuộc sống. Đó là tư tưởng của những kẻ độc tài, tự kiêu và tự phụ. Lại có người nhút nhát, sợ sệt mọi thứ, không bao giờ nghĩ rằng mình có thể làm được điều gì có ích. Đó lại là những người tự ti. Rõ ràng “ Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu”, tức là giá trị của con người không nằm ở những gì tốt đẹp, đúng đắn mà bản thân họ có hay họ nghĩ rằng mình có. Vậy giá trị ấy nằm ở đâu? Nó nằm ở những “ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí” . Vậy là điều được ghi nhận trong giá trị của con người là những nỗ lực, những cố gắng trong hành trình đi tìm và vươn tới cái đẹp , cái thiện ở đời.
        Cuộc sống là hành trình con người đi tìm mình và tự khẳng định mình. Ai cũng khao khát vươn tới cái hoàn mĩ của sự sống. Nếu con người đạt được một điều nào đó, một chân lí trong cuộc sống thì chân lí đó đã được con người chiếm lĩnh. Nhưng thật bất hạnh nằm ở việc chân lí cũng có tính tương đối, nó có thể đúng trong nhiều trường hợp nhưng lại sai trong một số trường hợp. Vậy nếu con người bằng lòng chân lí mình có, dừng lại cuộc hành trình tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống thì khi ấy con người thất bại. Vậy kết quả của mọi công việc chưa phải là điều lớn nhất mà chúng ta đòi hỏi ở một con người. Quan trọng là con người ấy đã vượt khó, vượt khổ để đi tới thành công. Chính trong quá trình vượt qua những gian khó mà con người nhận lãnh trên đường đi tìm chân lí đã giúp họ bộc lộ nhiều phẩm chất, đức tính của mình. Đó có thể là sự chăm chỉ cũng có thể là lười nhác. Đó có thể là can đảm cũng có thể là hèn nhát. Đó có thể là sáng tạo, năng động nhưng cũng có thể là thụ động, máy móc. Đó có thể là sự chân thành nhưng cũng có thể là sự dối trá. Hành trình đi tìm cái đẹp là hành trình chạy đua trong một đường hầm kín. Kẻ về đích sớm nhất , ló dạng ra khỏi đường hầm sớm nhất chưa chắc là kẻ nhanh nhất, giỏi nhất, tốt nhất. Chính bởi những điều ấy, giá trị đích thực của một con người phải là: “ những gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”.
      Qua quá trình vượt qua những điều khó khăn ấy, con người bộc lộ những phẩm chất, giá trị của mình. Trong cuộc đời này, mọi người đang cùng đứng trên một quả đất nhưng mặt đất chúng ta đứng không bằng phẳng mà chỗ cao, chỗ thấp bởi mỗi người một hoàn cảnh, một điều kiện khác nhau. Còn chân lí lại là một độ cao nhất định mà tất cả chúng ta phải vươn tới mới đạt được. Vậy thì, giá trị của mỗi người không nằm ở việc ai chạm tay vào chân lí sớm hơn mà nằm ở việc đã bước đi như thế nào từ vị trí của mình để đến được với chân lí.
Theo Sách Chuyên đề Văn nghị luận XH*
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Bài viết
          Học tập là mục tiêu suốt đời của mỗi người. Chúng ta hiện nay đang phấn đấu xây dựng một xã hội học tập, nhằm phát huy tối đa khả năng cũng như quyền được được học tập của mỗi người. Có một câu ngạn ngữ của người Gruzia “Học tập là hạt giống của kiến thức, kiến thức là hạt giống của hạnh phúc”.
        Thật vậy! Kiến thức không phải tự nhiên mà có. Đó là tích lũy hiểu biết của nhân loại, của cộng đồng, của nhiều thế hệ thông qua quá trình học tập mà thành. Học tập chính là quá trình tích lũy kiến thức! Câu ngạn ngữ trên đã có một ví von rất hay khi đưa ra hình ảnh “hạt giống” để nhấn mạnh tầm quan trọng của học tập. Hạt giống sẽ nảy nở phát triển thành cây. Quá trình học tập cũng như gieo hạt giống cho trí não và tâm hồn. Kiến thức nhiều cũng là kết quả tích lũy hãt giống để hứa hẹn một mùa bội thu. Kiến thức tốt, đầy đủ, phong phú sẽ gieo những hạt giống cho tương lai của mỗi con người. Tuy nhiên cần phải hiểu thấu đáo hơn câu ngạn ngữ này ở nghĩa bao quát của nó. Hạt giống chuẩn bị không tốt, cây sẽ phát triển èo uột, kiến thức nông cạn ít ỏi khiến chúng ta gặp vô vàn khó khăn, lúng túng và bế tắc trong công việc. Và một người học tập được điều hay lẽ phải thì cũng chính là tích lũy hạt giống tốt, còn kiến thức lệcj lạc, sai lầm thì như hạt giống xấu làm hủy hoại tư duy và tâm hồn, sẽ không tránh khỏi gây tác hại cho đời sống. Cũng như vậy, chỉ trên nền tảng một kiến thức đầy đủ mới có tương lai hạnh phúc. Bởi vậy, trong đời sống, ta gặp không ít những tấm gương đổi đời nhờ kiến thức.
        Tuy nhiên mối quan hệ học tập – kiến thức – hạnh phúc không chỉ được hiểu đơn giản một chiều mà cần phải thấy rõ mối quan hệ biện chứng nhân quả của nó. Ông bà ta cũng thường nói “gieo nhân nào, gặt quả ấy” như một cảnh tỉnh. Xét mối quan hệ trong ba yếu tố học tập – kiến thức – hạnh phúc cũng cần được nhìn nhận từ nhiều phía. Học tập đúng đắn, có phương pháp, có chọn lọc thì mới có kiến thức tốt, đa dạng, phong phú. Kiến thức tốt cần gắn với thức đem kiến thức ấy phục vụ cho xã hội và cho bản thân, không chỉ là những kiến thức thu lượm được theo kiểu thực dụng ích kỷ, vì nếu hạnh phúc của ta lại đem bất hạnh cho người khác thì cũng là chứng tỏ ta đã tích lũy hạt giống xấu cho chính ta, gieo mầm bất hạnh cho kẻ khác.         
       Vì vậy. mỗi chúng ta phải xác định động cơ học tập đúng đắn, thu lượm kiến thức bổ ích, hướng tới hạnh phúc của cộng đồng hài hòa với hạnh phúc cá nhân. Có như vậy mới thật sự trở thành con người có ích cho xã hội.

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

BÀI LÀM
        Cuộc sống đầy những chông gai thử thách, bạn đừng bao giờ đầu hàng trước số phận mà hãy tự vươn lên đối đầu với mọi chông gai. Với ý nghĩa đó, câu nói "Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố" (Đặng Thuỳ Trâm) thực sự đã mang lại cho chúng ta nhiều ý nghĩa.
        Giông tố ở đây dùng để chỉ cảnh gian nan đầy thử thách hoặc việc xảy ra dữ dội đến vợi chúng ta trong cuộc sống. Đó có thể là một căn bệnh hiểm nghèo, một đổ vỡ trong kế hoạch làm ăn, một thất bại trong học tập, một phá sản trong kinh doanh...Câu nói khẳng định: cuộc đời có thể trải qua nhiều gian nan nhưng chớ cúi đầu trước khó khăn, chớ đầu hàng thử thách, gian nan. 
        Bạn thấy đấy, xung quanh chúng ta, cuộc sống nhiều gian nan, thử thách nhưng con người không khuất phục. Khi gặp khó khăn trở ngại, bạn hãy tự vươn lên bằng chính niềm tin của mình. Thất bại là mẹ thành công, thất bại là môi trường tôi luyện ý chí của con người như Bác Hồ đã từng nói "Gian nan rèn luyện mới thành công" hoặc "không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên". 
         Cuộc đời của con người thường có nhiều khó khăn, thử thách, nhiều thăng trầm trong cuộc sống, chúng ta phải biết vươn lên, vượt qua mọi thử thách của cuộc đời, đừng vì khó khăn, trắc trở ngay trước mắt mà vội vàng từ bỏ. Đừng bao giờ “ngại núi, e sông” hoặc “Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố”. Giông tố, gian nan thử thách trong đời chính là môi trường tôi luyện cho ý chí ta thêm vững bền.
          Cuộc đời vốn nhiều thử thách, chông gai, chúng ta phải luôn tìm cách vượt qua, chứ đừng thấy cái khó khăn trước mắt thì bỏ cuộc. Câu răn đầu tiên của Đức Phật trong 14 điều răn: “Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình”, con người có thể làm được tất cả, chỉ cần lòng người có ý chí quyết tâm, có nghị lực kiên cường thì không gì có thể ngăn cản được họ. Những khó khăn, gian khổ mà con người cần vượt qua có thành công hay không là do chính bản thân họ, cho dù có khó đến đâu nhưng lòng người có ý chí vững vàng, niềm tin vào bản thân và cố gắng hết sức vượt qua thì cũng sẽ thành công, còn ngược lại, không có lòng quyết tâm, ý chí tin vào chính mình, không cố gắng hết sức thì cũng sẽ không làm được gì.
         Xung quanh ta đã có rất nhiều người vượt qua được những khó khăn trong cuộc đời tưởng chừng như là không thể vượt qua được như thầy Nguyễn Ngọc Ký, “vẽ cuộc đời từ chính đôi chân”, cho dù đã bị liệt hai tay nhưng thầy đã dùng chân của mình để viết và giờ thầy đã là một người thầy giáo được nhiều người biết đến và khâm phục. Bill Gates từng bỏ dở giấc mơ đại học và thành lập công ty, nhiều lần thất bại nhưng không nản, cuối cùng trở thành ông chủ của tập đoàn Microsoft. Chung Ju Yung, trước khi là chủ tịch tập đoàn Huyn Đai Hàn Quốc từng là một nông dân, rồi công nhân của một kho gạo ở Seoul. Đó chính là những tấm gương vượt khó thành tài đáng khâm phục.
        Ngược lại, lại có những con người chỉ vì cái nghèo khó mà đã làm những việc trái với pháp luật đạo lý con người, họ đi cướp bóc, trấn lột để kiếm cái ăn cho mình mà không nghĩ gì đến sự mất mát của người khác. Vì vậy, ngay từ trong ghế nhà trường, chúng ta cần phải rèn luyện ý chí bền bỉ, phải noi theo những gương sáng trong cuộc sống, trong học tập, cần học thật tốt để vững vàng cho mình hành trang vào đời thêm vững bước. Trong xã hội, chúng ta nên san sẻ với những người còn khó khăn, thiếu thốn để giúp họ vượt lên chính mình.
        Câu nói trên là tiếng nói của một lớp trẻ sinh ra và lớn lên trong thời đại đầy bão táp, sống thật đẹp và hào hùng. Câu nói thể hiện một quan niệm nhân sinh tích cực : sống không sợ gian nan , thử thách , phải có nghị lực và bản lĩnh. Câu nói gợi cho bản thân nhiều suy nghĩ: trong học tập, cuộc sống bản thân phải luôn có ý thức phấn đấu vươn lên. Bởi cuộc đời không phải con đường bằng phẳng mà đầy chông gai, mỗi lần vấp ngã không được chán nản bi quan mà phải biết đứng dậy vươn lên.

0
phiếu
0đáp án
444 lượt xem

DÀN Ý
1. MB
         Hiện nay, trong nền giáo dục nước ta xuất hiện 1 hiện tượng xấu, đó là: Học để thi. Nó đã và đang tồn tại khiến chất lượng nền Giáo dục nước nhà giảm sút nghiêm trọng. Nếu không có những biện pháp khắc phục thì nó sẽ còn trở thành 1 căn bệnh mãn tính.

2. TB
       Học để thi là như thế nào? Đó là cách học không nhằm để lấy kiến thức mà để lấy thành tích, điểm số.
Bệnh chạy đua thành tích đang trở nên nhức nhối hơn bất cứ lúc nào. Người người, nhà nhà đều lấy điểm số, bằng đẹp làm tiêu chí mà không quan tâm rằng kiến thức mà học sinh tiếp thu được bao nhiêu.
       Học để thi lấy mục đích thi làm mục tiêu, vốn kiến thức tiếp thu trong quá trình học không quan trọng, cái quan trọng là điểm thi. Cái sĩ diện hão, hám hư danh ảo, ham thành tích khiến bất cứ học sinh, bậc phụ huynh nào cũng không chấp nhận việc con mình mang tiếng học dốt, điểm kém. Thi cử được tạo ra nhằm đánh giá đúng chất lượng học sinh, kiểm tra kiến thức trong kì học, năm học mà các em đã tiếp thu được. Điểm thi của học sinh cao, chứng tỏ thầy dạy giỏi, cuối năm đạt danh hiệu Giáo viên dạy giỏi; còn nhà trường có nhiều em học sinh đạt khá giỏi thì danh tiếng của trường cũng tăng theo, phụ huynh thấy con em mình đạt thành tích cao thì nở mày nở mặt, khoe khắp nơi có con thông minh, học giỏi. Do vậy, phụ huynh, học sinh tìm mọi cách để có được điểm; giáo viên thì không ngại cho học sinh điểm cao; nhà trường thì ra chỉ thị “nơi lỏng” khi chấm bài tới giáo viên. Nếu lỡ chấm chéo thì Hội đồng thi sẽ được biếu xén quà cáp, đãi ngộ đặc biệt để coi lỏng. Học sinh không cần học nhiều, sẽ có người nhắc bài, ném phao thi tận nơi. Dù không biết gì vẫn có điểm cao chót. Thì đành rằng biểu hiện như vậy chứng tỏ nước ta coi trọng giáo dục (nên mới lấy giáo dục ra mà khoe, mà phân hơn cao thấp) , nhưng là để đào tạo ra được những nhân tài cho đất nước. Các em chính là thế hệ tương lai của đất nước này , chứ không phải để người ta tìm mọi cách để khiến điểm thi của các em cao vượt với năng lực thật.
         Luôn có câu nói rằng : học mà thi, thi mà học; học hành và thi cử là 2 chuyện gắn bó với nhau không thể tách rời. Nhưng hãy nên lấy việc Thi để học chứ đừng học để thi. Hãy lấy việc thi cử trở thành động lực cố gắng của học sinh chứ không phải thi là tất cả. Thi không phải là tất cả, nó chỉ là 1 khâu trọng yếu của quá trình giáo dục để kiểm tra trình độ học sinh có đồng đều , tương xứng, các em đã tiếp thu được những gì để có điều chỉnh hợp lí cải thiện kiến thức cho các em.
        Khi đi học, khi thi, bất cứ em học sinh nào và phụ huynh đều mong muốn bản thân họ, con em họ đạt được kết quả học tập tốt. Sẽ đáng tự hào hơn khi đó là kết quả do chính bản thân mình nỗ lực đạt được. Để có được điểm thi cao, tấm bằng đẹp mà sẵn sàng “chạy”, “đi tiền”, quay bài, … thì điểm thi dù có cao cũng chỉ là bằng chứng của việc làm đáng xấu hổ, là thứ hư ảo không có thật. Con số cao chót vót có là gì so với cái đầu rỗng tuếch. Hơn nữa, những việc làm đó còn khiến cho học sinh nhầm tưởng về khả năng của mình, đã nghĩ mình giỏi giang rồi mà u trệ trong việc tự học, tự nghiên cứu, tính ngạo mạn tăng cao rõ rệt. Nó làm băng hoại đội ngũ giáo viên, thui chột những giáo viên có tâm huyết với nghề, có lương tâm nghề nghiệp, khiến cho học sinh chỉ biết dựa dẫm, ỷ lại.
(Dẫn chứng: Thư của Tổng thống A.Lincol gửi thầy hiệu trưởng cho bài viết thêm sinh động)
         Hiện tượng Học để thi, ngoài những hậu quả xấu nó đem lại thì không có thấy một điều tốt gì nó mang lại, Sẽ thật đáng báo động khẩn cấp cho nền Giáo dục Việt Nam nếu tình trạng này vẫn còn tiếp tục. Cần có những biện pháp mạnh tay hơn để ngăn chặn tình trạng này, lấy lại sự ham học của học sinh, ham dạy của giáo viên, và lòng tin tưởng từ phụ huynh học sinh.

3. KB:
        Xung quanh chúng ta vẫn bắt gặp hiện trạng của vấn nạn học để thi, của chứng bệnh thành tích. Tuy nhiên không phải ở đâu cũng xuất hiện hiện trạng đó, và cũng không chắc rằng nó sẽ không lan tràn đến đó. Do vậy, mỗi chúng ta hãy cùng chung tay để xóa bỏ vấn nạn đó. Tuổi trẻ là tương lai đất nước – hãy khiến cho điều đó luôn đúng. 
0
phiếu
0đáp án
503 lượt xem

DÀN Ý
1/Mở bài 

"Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan"
         Sinh thời, Bác Hồ của chúng ta rất yêu thương và quan tâm đến thanh thiếu niên đặc biệt là các em nhi đồng. Các em luôn được tạo mọi điều kiện để vui chơi và học tập, vô tư hồn nhiên như chính tuổi thơ của mình vậy. Ngày nay, trường lớp được đầu tư xây dựng khang trang nhiều hơn, trẻ em được đến trường học tập vui chơi cùng bạn bè, thầy cô. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta không khỏi xót xa thương cảm khi bắt gặp những em bé phải lao động để lo chén cơm, manh áo từng ngày cùng với những sấp vé số trên tay hay những tờ báo đi khắp phố phường bán rong, và thấp thoáng ở đâu đó những hình ảnh nhỏ nhắn của các em trong những bãi rác để tìm phế liệu bán kiếm tiền. Chúng ta sẽ suy nghĩ gì khi chính chúng ta chứng kiến những cảnh tượng cảm động ấy?

2/Thân bài 
        Vâng hình ảnh trẻ em lang thang, cơ nhở, mồ côi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, kiếm sống ở các thành phố, thị trấn đã và đang được các cơ quan ban ngành chú trọng và quan tâm nhiều hơn với những trung tâm bão trợ trẻ em, hay làng SOS.... đã được đầu tư xây dựng với quy mô ngầy càng mở rộng. Chính những nơi đây đã trở thành mái ấm tình thương là "một đại gia đình" cho các em có thể vui chơi, học tập, rèn luyện để trở thành những công dân tốt, sống lành mạnh và không là gánh nặng cho xã hội.
             "Trong đêm một bàn chân đứa bé xiếu lang thang trên đường, ánh mắt buồn nghẹn ngào của em, em rất buồn vì không biết đi, đi về đâu. Cuộc sống mưu sinh chỉ làm em qua cơn đói từng ngày, vì em không cha vì em đã mất mẹ đau thương vẫn là đau thương". Xa xa đâu đó vẫn còn văng vẵng lời bài hát "đứa bé" của nhạc sĩ Minh Khang làm cho chúng ta không khỏi xúc động, lòng người không khỏi da diết với nỗi lòng đau nhói, quặng thắt từng cơn khi những hình ảnh đứa bé lang thang trong đêm tối để rồi không định hướng được tương lai cũng như không biết đi về đâu tron đêm tối lạnh giá. Gia đình ư? Người thân ư? không. Em không có gia đình và chẳng có người thân, ba mẹ đã bỏ em ra đi mà không trở về nữa. Biết trách ai đây! có lẽ các em đã cố nén đi nỗi bất hạnh để đau thương đêm ngày thành thương đau. Thử hỏi cộc đời này còn có trái tim nào sắt đá hơn nữa, khi nghe giọng nói cảm động nhưng trong sáng và ấm áp của các em cất lên:"Bác ơi! mua giúp con vài tấm vé số đi chú" hay "chú ơi! đánh giầy phụ con đi chú"... Thật khó có lời nào lẽ nào để diễn tả hết những cảm xúc rung động trong trái tim mọi người dù "em có một ước mơ một vì sao sáng dẫn lối em trong cuộc đời, đã lâu rồi em đã không có tình thương".
         Những mái ấm tình thương luôn mở rộng cánh cửa đón chào các em và ngày càng có nhiều cá nhân, gia đình, các mạnh thường quân tổ chức nhận nuôi dạy các em, kể từ đây khôn còn phải lo miếng cơm manh áo nữa. Những ước mơ những ước mơ được vui chơi, được học tập của em không còn là mơ ước. Các em sẽ được đến trường, vui chơi, nô đùa cùng chúng bạn hoà nhập với thế giới hồn nhiên của trẻ thơ.
         Các em sẽ không còn 'co ro trong manh chiếu rách", sẽ không ngủ đầu đường xoá chợ, lang thang khắp phố phường nữa mà thay vào đó là một tương lai tươi sáng đang đón chào các em, các em không phải mặc cảm, tự ti và cũng chẳng còn những tháng ngày mưa nắng cùng với mãnh bánh mì trên tay lót dạ để quên đi cơn đói từng ngày hành hạ thân xác nhỏ nhắn, ốm yếu của em.
           Thật vậy, lòng nhân ái của con người không có gì có thể sánh được, mọi người hãy mở rộng trái tim giúp đỡ và yêu thương các em, để các em có đủ tự tin và nghị lực vượt qua những khó khăn để trở thành mầm non, một nền tảng tương lai của đất nước. Dân tộc Việt Nam chúng ta chú trọng nhất truyền thống nhân đạo nên vậy giờ đây chúng ta hãy mở rộng vòng tay nhân ái bằng cách giúp đỡ các em nhiều và nhiều hơn nữa để ngày mai tương lai các em được tươi đẹp hơn. Niềm vui của mọi người sẽ được nhân lên. Có khi nào bạn nghĩ phía sau của những căn nhà sang trọng, có những đứa trẻ được nương chiều sống buông thả, tron khi sau đó có biết bao các em bé khác khát khao khát một phần hạnh phúc nhỏ là có nơi che mưa, che nắng, bố mẹ nâng niu nương chiều hay được nhẹ nhàng đặt lên má những nụ hôn trước những buổi đến lớp.
         Vậy chúng ta còn chờ gì nữa? mà "hãy lau khô cuộc đời em bằng tình thương, lòng nhân ái của con người mà hãy lau khô giọt nước mắt trong lòng em bằng tất cả trái tim con người Việt Nam".

3/ Kết bài 
         Một xã hội văn minh tươi đẹp khi xung quanh bạn không còn phải thấy những đứa bé lang thang, vất vả kiếm sống và chúng ta phải biết sẽ chia tình cảm thân thương chan hoà với mọi người bằng tất cả những gì mà bạn đang có.

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
468 lượt xem

BÀI LÀM

         Lối sống của một quốc gia, một dân tộc luôn bị ảnh hưởng bởi một vài giá trị vật chất. Đồng tiền và những giá trị thực hay giá trị ẩn của nó đều được xem như có sức ảnh hưởng rất lớn đối với lối sống. Không có quyền đổ lỗi cho đồng tiền nhưng khống chế được nó quả không phải là đơn giản.
         Cách đây không lâu, trong một diễn đàn giáo dục con cái xài tiền như thế nào và có nên cho tiền con trẻ khi đi học, nhiều phụ huynh đã làm cho chúng tôi thật sự bất ngờ. Nguyễn Thị X, luật sư, tuyên bố một cách chắc nịch: Không cho tiền con trẻ, nếu cho tiền chỉ tổ làm cho chúng hư…Trao đổi danh thiếp để có cơ hồi trò chuyện, nhưng có ai ngờ đâu đúng hơn năm sau, chị gọi lại cho tôi và báo rằng con chị ăn cắp tiền của gia đình để xài vặt…Nỗi đau này quả là một bài học quý. Nhiều quốc gia trên thế giới đã giáo dục con cái sử dụng đồng tiền và hiểu được giá trị đồng tiền ngay từ thuở bé. Dù rằng không phải quy gán tội cho các bậc phụ huynh nhưng rõ ràng đây là một trong những yếu tố có thể được xem là căn nguyên của vấn đề. Nhân cách con người thế nào thì những hành vi tương ứng sẽ như thế ấy và hành vi sử dụng đồng tiền hay để đồng tiền khống chế ngược là một ví dụ. Thực tế cho thấy những diễn biến tâm lí và những dấu ấn của ký ức căng thẳng xoay quanh việc xài tiền đã trở thành những động lực để con người phấn đấu, nhưng cũng chính vì vậy đôi lúc nhiều cá nhân đã phấn đấu có tiền bằng mọi cách mà không kể đến lương tâm , sĩ diện và nhân cách. Khi bị một áp lực căng kéo về đồng tiền trong quá khứ, nhu cầu trỗi dậy để làm chủ nó, để khống chế nó lại bùng phát mạnh mẽ nhưng khi cá nhân chưa đủ nội lực thì những chuyện kinh khủng đã xảy ra. Tiền chỉ là phương tiện. Có ai lại sống không cần tiền? Câu hỏi thật đơn giản lại được trả lời một cách quá khó khăn dành cho những người thật bình thường trong cuộc đời. Giá trị đồng tiền đã rõ nhưng không phải ai cũng hiểu đồng tiền chỉ là phương tiện.
         Hãy giáo dục cho con trẻ sự thấu cảm của cuộc sống ngay từ khi trẻ còn nhỏ. Sự thấu cảm này tưởng chừng thật đơn giản nhưng lại có giá trị rất đặc biệt. Đã qua rồi thời giáo dục chung chung và khái quát. Hãy bắt đầu từ những việc rất đơn giản như: “Ăn quả tào này con cảm ơn ai/”. Cảm ơn người trồng cây vẫn chưa đủ, cảm ơn người bán táo vẫn chưa đủ mà trước hết phải cảm ơn bố mẹ- người đã lao động cực nhọc để mua táo cho con. Hãy thẳng thắn nhưng thật nhẹ nhàng và tinh tế giáo dục cho con cái hiểu rằng việc tìm ra đồng tiền là quan trọng nhưng chính tình cảm bố mẹ dành cho con mới là quan trọng nhất.
         Theo thời gian và năm tháng, hãy giúp trẻ nhận ra với 500.000 đồng có được từ hai nguồn khác nhau, một là trúng số, hai là có được từ tháng lương đầu tiên, con sẽ làm gì… Chính lúc này trẻ sẽ hiểu hơn về những giá trị của đồng tiền trong cuộc sống. 
         Không có quyền phán xét và không có quyền chỉ trích nhưng quá nhiều bậc cha mẹ ngày nay đã ép con mình sống theo thước đo của đồng tiền từ những tình huống rất thường nhật: “Chú Ba mày keo quá, lì xì cho tui có 5.000 thì bo hơn cái bánh xèo miền Trung”; “Con cứ thi vào kinh tế cho mẹ mới có nhiều tiền, vào chi ba cái xã hội, học chi cho mệt thân…” là những câu nói cửa miệng của khá nhiều gia đình! Nhiều người thân, nhiều gia đình đã thật sự sai lầm khi cứ tạo áp lực chồng mình, vợ mình tìm nhiều tiền hơn nữa để xây nhà, đi du lịch. Nhiều bậc bố mẹ hay những bạn đời thấy người thân của mình đem về nhà nhiều tiền thì sung sướng hỉ hả trên đống tiền có được mà thiếu hẳn sự quan tâm, hỏi han…Chính sự vô tâm, chính sự thờ ơ vô cảm này đã làm cho nhiều người thân của chính mình trượt đi trên con dốc số phận theo vòng xoáy của đồng tiền mà không thể hãm phanh. Buồn, xót… giờ đã muộn!
         Bài học giản đơn mà sâu sắc nhất vẫn là giáo dục giá trị làm người của một con người. Biết tự trọng, biết cân nhắc, có sĩ diện, biết điểm dừng khi cần… trong cuộc sống sẽ làm cho mỗi người vững vành hơn trước áp lực của đồng tiền.
Theo Sách Chuyên đề Văn nghị luận XH*
0
phiếu
0đáp án
654 lượt xem

          Trong xã hội, người thầy mang một vai trò rất quan trọng trong việc tu dưỡng, rèn luyện, hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách của lứa tuổi học sinh. Điều đó cũng được ông cha ta quan niệm, khẳng định từ hàng nghìn đời nay. Chính vì vậy trong kho tàng tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam có câu: “Không thầy đố mày làm nên” để bộc lộ rõ nét điều đó.
           Câu tục ngữ trên mang hình thức thách đố nhưng bản chất lại là câu khẳng định, nó còn mang cấu trúc kiểu phủ định, thuộc loại câu hỏi tu từ. Hai từ: “thầy” – “mày”, từ “mày” không có ý nghĩa hạ thấp giá trị học sinh mà để đi liền với chữ “thầy” cho vần và dễ nhớ. Câu tục ngữ này nêu lên vai trò quan trọng của người thầy đối với nền giáo dục và học sinh, đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta phải biết ơn, kính trọng thầy cô giáo. Không chỉ vậy, câu tục ngữ này còn mang giá trị truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam từ rất lâu đời.
          Thầy không chỉ là người dạy dỗ chúng ta về kiến thức mà còn là người dạy ta đạo đức, phẩm chất, giá trị mỗi con người. Học chữ, học làm việc, tất cả mọi cái học đều phải có thầy. Có thể nói thầy như thế hệ đi trước, trải qua biết bao kinh nghiệm trong cuộc sống, nay truyền thụ lại kiến thức cho học sinh, mở đường chỉ lối, giúp ta có con đường đúng đắn nhất để đi. Công lao đó không gì sánh nổi. Những ngày đầu tiên bước vào lớp, thầy đã dìu dắt, dạy dỗ, chỉ bảo. Thầy dạy học đếm, học viết, học đánh vần. Lên lớp cao, thầy dạy cho chúng ta những điều sâu sắc. Suốt quá trình học tập thì thầy là người luôn sát cánh bên ta, trợ giúp, nâng đỡ , chắp cánh cho ta bay vào tương lai. Không một người học sinh nào có thể thành đạt vào đời mà không có sự kèm cặp của thầy. Tất nhiên là nếu thầy dạy cho chúng ta mà chúng ta không biết tiếp nhận, không biết vận dụng thì công sức của thầy cũng chỉ là không. Chính vì vậy chúng ta cần phải biết rằng tâm huyết của thầy dành cho chúng ta là hết mình nên chúng ta cũng phải nỗ lực, cố gắng, chịu khó để không phụ lòng những công ơn đó. Công lao của thầy đối với sự nghiệp sau này của học sinh là vô cùng lớn, nó chính là mầm mống của sự thành đạt. Khi một người thầy hết lòng vì học sinh thì đó chính là niềm đam mê yêu nghề của thầy và cũng là tư tưởng lớn trong nền giáo dục.
           Chúng ta có được ngày hôm nay cũng chính là do sự dìu dắt của thầy. Thầy đã truyền thụ kiến thức, rèn giũa những phẩm chất cao quý tốt đẹp trong mỗi con người chúng ta để chúng ta trở thành những viên kim cương sắc bén, đã được gọt giũa, luôn toả sáng trong đường đời, và cũng chính điều đó nhắc nhở chúng ta hãy biết kính trọng người thầy ở mọi lúc mọi nơi, hình ảnh của người thầy phải đi vào sự tôn kính trong mỗi chúng ta. Hãy biết vận dụng vốn kiến thức của thầy đã truyền thụ kết hợp với khả năng vốn có của bản thân để tạo nên một sự thành đạt rực rỡ trong cuộc đời của mình. Đó chính là những gì thầy mong muốn, gửi gắm niềm tin ở ta. Và nó cũng thể hiện lòng tôn kính một cách sắc nét nhất đối với thầy. Câu tục ngữ này mang giá trị trường tồn cùng thời gian và trong bất kì hoàn cảnh nào thì nghĩa của nó cũng luôn được chấp nhận, khẳng định. Không chỉ vậy, câu tục ngữ còn mang hình thức giản dị, âm điệu vui nhộn, nhưng ẩn chứa trong đó là biết bao nỗi niềm, tâm sự của ông cha ta.
         Nói tóm lại câu tục ngữ này muốn nói với chúng ta một điều sâu sắc nhất. Đó chính là hãy hiểu được vai trò giá trị của người thầy, hãy biết suy nghĩ một cách toàn diện nhất để có những thái độ bộc lộ sự kính trọng đối với thầy, không chỉ là lời nói, mà còn bằng hành động. Hãy thể hiện rằng, chúng ta là những con người văn minh, biết đạo lí làm người và xứng đáng là người con đất Việt.
0
phiếu
0đáp án
546 lượt xem

BÀI LÀM

        Trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều cố gắng đạt được một thành quả nào đó, cố gắng thực hiện ước mơ của mình, đều muốn được thành công trong những việc mình làm. Tuy nhiên, không phải ai cũng thành công trong mọi việc. Nhà văn nữ người Pháp Ursula K. Le Guin đã từng nói: “ Thành công của người này là thất bại của người khác”. Câu nói này cho rằng thành công và thất bại của mọi người thường hoán đổi cho nhau và không thể có tình trạng tất cả mọi người đều thành công cùng một lúc. Không phải câu nói này sai, tuy nhiên, nó chỉ đúng trong một phạm vi nào đó, không phải lúc nào cũng chính xác.

       Có những trường hợp trong khi một người thành công thì một người khác lại thất bại. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này trong đời sống hằng ngày. Thất bại của một người là khi người đó không đạt được mục đích đã đặt ra. Trong trường hợp trên, người hạng nhì cũng có thể coi là thất bại nếu như mục đích của họ là đạt một thứ hạng cao hơn.

         Người thành công biết chính xác những gì mình muốn, tin tưởng vào khả năng của mình và sẵn sàng cống hiến hết thời gian của cuộc đời để đạt được điều đó, có khả năng ảnh hưởng đến những người xung quanh và hợp tác với họ trong thái độ thân thiện, chỉ bày tỏ ý kiến về những điều mình biết và họ hoàn toàn có thể thực hiện điều đó một cách rất khôn khéo. Người thành công luôn biết cách dung hòa quan hệ với tất cả mọi người mà không quan tâm đến lợi ích đạt được, luôn trau dồi kiến thức và mở rộng lòng khoan dung. Họ sống hướng đến quyền lợi chung của cộng đồng, theo kịp thời đại và xem đây là một trách nhiệm quan trọng để biết được điều gì đang diễn ra.

         Người thất bại thường là người không có mục đích cụ thể cho cuộc sống, luôn tin rằng mọi thành công hay thất bại đều là kết quả của sự may rủi. Họ chỉ thật sự bắt tay vào việc khi có sự tác động từ bên ngoài hay tìm thấy khuyết điểm ở người khác. Họ luôn có cái nhìn vị kỉ, thiết lập mối quan hệ dựa trên những lợi ích cá nhân.

        Hai khái niệm đó cho thấy rằng giữa thành công và thất bại có khoảng cách rất mong manh, thành công của người này có thể là thất bại của người khác. Tuy nhiên cần phải hiểu rõ câu nói của nhà văn Pháp Ursula K.Le Guin: “ Thành công của người này là thất bại của người khác” có hoàn toàn đúng hay không. Trong kì Asiancup 2007 tổ chức tại Việt Nam, Malaysia,Indonesia và Thái Lan, trong bốn nước đồng chủ nhà chỉ có Việt Nam lọt vào vòng tứ kết và cuối cùng đã để thất bại 0 – 2 trước Irắc, tuy thất bại nhưng đối với nhiều người đó được coi là một sự thành công cho đội tuyển để ngày càng phát triển sau này. Nhắc đến vấn đề thành công hay thất bại, chúng ta không thể quên nhắc đến Bill Gates, một trong những người giàu nhất thế giới,ông đã từng thi rớt đại học và đối với ông đó có thể là một thất bại, nhưng ông biết vượt qua thất bại để đứng lên tạo lập và xây dựng Microsoft phát triển thành một trong những tập đoàn hàng đầu thế giới. Như vậy, câu nói của nhà văn nữ người Pháp Ursual K.Le Guin có thể đúng khi định nghĩa thành công và thất bại một cách tuyệt đối: người thành công là người đạt được mục tiêu mà những người thất bại không đạt được hoặc khi người thất bại không biết nắm lấy cơ hội để thành công mà để tuột mất vào tay người khác. Ngoài ra thành công và thất bại cũng chỉ là khái niệm nhất thời, có thể chỉ thành công trong một thời điểm nào đó nhưng sau đó lại gặp thất bại.

         Câu nói “ Thành công của người này là thất bại của người khác” của nhà văn nữ người Pháp chỉ mang tính chất tương đối, đúng hay sai tùy thuộc vào cách nhìn nhận thành công hay thất bại của từng người và trong hoàn cảnh cụ thể chứ không thể tùy thuộc vào lời đánh giá chủ quan của một cá nhân.

Theo Sách Chuyên đề Văn nghị luận XH*
0
phiếu
0đáp án
579 lượt xem

DÀN BÀI GỢI Ý:

Mở bài:

Giới thiệu vấn đề: Tự ái là liều thuốc độc giết chết tình bạn. 

Thân bài:

1. Giải thích

- “ Tự ái ” được hiểu như thế nào ?
+ Đặt “ cái tôi ” của bản thân mình lên trên hết.
+ Thường hay giận hờn người khác, bạn bè khi họ góp ý chân thành về bản thân mình .
- Thế nào là “ liều thuốc độc ”? Đó là hậu quả do “ tự ái ” gây ra :
+ Không nhìn mặt bạn, không giao tiếp với bạn ( Ví dụ minh họa )
+ Làm ảnh hưởng xấu, làm tan vỡ tình bạn 

- “ Tình bạn ” là gì ? 
+ Là tình cảm đẹp đẽ, trong sáng giữa mình và bạn cùng lớp, cùng trang lứa
+ Là tình cảm thân thiết giữa mình và bạn ( bạn thân )
+ Đặc điểm của tình bạn : chân thành, cao đẹp …

2.Bình luận: Phân tích các mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch:

- Mặt đúng của câu nói : 
+ Trong tình bạn, lòng tự ái không được phép tồn tại
+ “ Tự ái ” càng cao thì tình bạn càng dễ bị tổn thương, dễ bị đánh mất ( Ví dụ minh họa )
+ Tình bạn chỉ tồn tại khi biết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau một cách chân thành
- Phê phán những biểu hiện “ tự ái ” trong tình bạn :
+ Xem thường bạn bè, xem bạn là người xấu khi bạn đóng góp ý kiến xây dựng cho mình 
+ Bao giờ bạn cũng sai, chỉ có bản thân mình đúng
+ Giận hờn, không chơi và cắt đứt mọi quan hệ với bạn,…

3. Bàn bạc mở rộng:

- Xây dựng phương hướng, biện pháp khắc phục để giữ gìn tình bạn :
+ Thân ái, cởi mở với bạn bè.
+ Sẵn sàng đón nhận những ý kiến đóng góp xây dựng của bạn, của những người xung quanh .

Kết bài: 
- Khẳng định mức độ nghiêm trọng của tự ái.
- Liên hệ bản thân

SƯU TẦM
0
phiếu
0đáp án
630 lượt xem

       Đất nước! Hai tiếng quen thuộc và thiêng liêng. Không một ai từ khi sinh ra đến khi lớn lên mà không được nghe cả. Đất nước là gia đình, là mái ấm, là bè bạn, là tri kỷ, là nơi chắp cánh cho chúng ta bay đi và cũng là nơi đón ta trở lại..Do đó, trong mỗi con người chúng ta phải có trách nhiệm đối với đất nước dấu yêu.
       Trách nhiệm là điều cần phải làm, cần phải hoàn thành, cần phải gánh vác và nhận lấy về mình. Trách nhiệm đối với đất nước là một nghĩa vụ thiêng liêng, là điều cần phải có, là mục đích sống tốt đẹp của một người công dân thực thụ. Trách nhiệm đối với đất nước còn xuất phát từ tình yêu gia đình, yêu đồng bào, tinh thần phấn đấu không ngừng nghỉ cho một lý tưởng tốt đẹp.
      Vậy, tại sao chúng ta lại phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với Tổ quốc? Điều đó có thật sự cần thiết hay không? Nó sẽ là hành động thiết thực hay chỉ là lý thuyết suông mà người ta thường hay rêu rao?
Trách nhiệm đối với Tổ quốc đã tồn tại từ lâu đời và nó xuyên suốt chiều dài lịch sử hào hùng của dân tộc. Nó đã thành truyền thống lịch sử lâu đời.Từ ngàn đời trước, cha ông ta đã có tinh thần yêu nước sâu sắc, chống giặc ngoại xâm thời chiến đến tinh thần xây dựng đất nước độc lập tự cường, từ buổi sơ khai Văn Lang đến Đại Việt hùng mạnh thời bình.Nếu không có trách nhiệm, không có tinh thần vì Tổ quốc thì ngày nay chúng ta sẽ không có Vua Hùng, Trần Hưng Đạo, Hồ Chí Minh..những vị anh hùng dân tộc, sống hết lòng vì dân, vì nước.Những lý tưởng của những con người ấy, đều được sinh ra từ ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc. Nếu một ai trong chúng ta mà không yêu nước tức là không yêu gia đình,yêu mọi người, người đó sẽ mãi không trọn chữ “nhân”, chữ “nghĩa”.
      Bạn tôi ơi, bạn có bao giờ ngồi lại và suy nghĩ “mình đang làm vì cái gì”?. Nhiều người sẽ bối rối. Và cũng sẽ có người trả lời rằng tôi sống để làm việc, tôi sống để cống hiến, tôi sống cho gia đình và bản thân tôi… Lý do thì đầy ắp, là vô hạn nhưng chúng đều quy về một mối là tôi sống vì đất nước cần tôi, vì tôi nợ đất nước. Mà nếu chúng ta sống mà chẳng có mục đích, thì chúng ta là những con người vô giá trị, là máy móc dưới hình dạng của một con người. Lấy ví dụ, công ty X nếu không vạch ra được một kế hoạch và không phấn đấu vì kế hoạch đó thì công ty đó sẽ có ngày đứng trên bờ vực phá sản. Nếu không có mục đích, chúng ta sẽ chẳng có gì đề mà vươn tới, đề mà phấn đấu, đề mà sống. Sống vì đất nước là lý tưởng sống cao đẹp nhất.
       Chúng ta phải có nghĩa vụ vì đất nước đã cho ta tất cả: mái ấm gia đình, bạn bè, của cải vật chất lẫn tinh thần, đất nước sinh ra ta, nuôi lớn ta và là người mẹ vĩ đại của cả dân tộc. Ta phải làm sao để xứng đáng với sự hy sinh đó.
      Trách nhiệm đối với đất nước còn được thể hiện qua sự chấp hành nghiêm túc luật pháp, sự phấn đấu vươn tới không mệt mỏi. Mỗi người chúng ta phải xác định đúng đắn trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc, với đồng bào để có những hành động thiết thực, đúng đắn, nhằm đưa nước ta “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Các công nhân thì làm sao để sản xuất được nâng cao, các bác nông dân thì tăng năng suất , cố gắng trở thành dân giàu nước mạnh. Thanh niên cống hiến sức trẻ vào công cuộc xây dựng đất nước.Còn học sinh chúng ta, trách nhiệm đó được thực hiện bằng cách học tập thật tốt, trở thành con ngoan trò giỏi…
        Bên cạnh đó còn có những cá nhân không nhận thức được trách nhiệm của bản thân mình, họ chỉ biết sống hưởng thụ trên những thành quả lao động của người khác. Rồi đâu đó vẫn còn tồn tại những con người được đất nước nuôi dạy, lớn lên lại cấu kết với nước ngoài oanh tạc Nhà nước ta, như luật sư Lê Công Định đã thảo ra bản luật mới nhảm nhí nhằm chống phá đất nước...“Cõng rắn cắn gà nhà”. Đó là những con sâu làm rầu nồi canh, những con người đó không sớm thì muộn cũng sẽ bị phê phán, trừng phạt một cách thích đáng…
       Tóm lại, chúng ta cần phải xác định và thực hiện trách nhiệm mình đối với đất nước. Đó không phải là nhiệm vụ của một hay vài người, đó là công việc của toàn dân tộc, cùng nhau tạo nên mái nhà chung Việt Nam ngày càng vững bền.
Sưu tầm 
0
phiếu
0đáp án
884 lượt xem

Trải qua bao năm tháng “Truyền Kiều” của Nguyễn Du vẫn l­u dấu trong tâm khảm bạn đọc không chỉ bởi ngôn ngữ trong sáng ,các biện pháp tu từ điêu luyện mà còn bởi tác phẩm có những câu thơ hay nhất,đẹp nhất,tiêu biểu cho bút pháp tả ng­ười của tác giả: 
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
(Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”)

Bốn câu thơ-28 chữ mà giống như 28 viên ngọc bằng ngôn ngữ toả sáng lấp lánh trong cả trang thơ.Vừa chiêm ngưỡng dáng hình mảnh dẻ thanh tao và tâm hồn trắng trong như tuyết của hai người con gái đầu lòng nhà ông bà Vương viên ngoại, người đọc chợt sững sờ tr­ước bức chân dung giai nhân được hé lộ bằng những đ­ường nét đầu tiên:
Vân xem trang trọng khác vời

Dòng thơ giới thiệu khái quát đủ để người đọc cảm nhận vẻ đẹp cao sang, quí phái của Thuý Vân,để rồi liền sau đó,như một nhà nhiếp ảnh tài ba,Nguyễn Du hướng ống kính của mình vào từng đường nét cụ thể trên gương mặt của người con gái:

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Mỗi câu thơ là một nét vẽ tài hoa về bức chân dung giai nhân, từng đường nét dường như đều là một kì công của tạo hoá,gương mặt tròn đầy,tươi sáng dịu hiền như ánh trăng,đôi mày dài thanh thoát,miệng cười tươi thắm như hoa,tiếng nói trong như ngọc,mái tóc đen,mềm,óng ả hơn mây,làn da trắng mịn màng hơn tuyết…Tả về nàng, Nguyễn Du phải tìm đến hoa,lá,ngọc,vàng,mây,tuyết-những báu vật tinh khôi trong trẻo của đất trời mới lột tả hết vẻ yêu kiều của người con gái ấy.
Vẫn là bút pháp ước lệ với những hình t­ượng quen thuộc nhưng khi tả Vân ngòi bút Nguyễn Du lại có chiều hướng cụ thể hơn lúc tả Kiều.Cụ thể trong thủ pháp liệt kê:khuôn mặt,đôi mày,làn da,mái tóc…Cụ thể trong việc sử dụng từ ngữ để làm nổi bật vẻ đẹp riêng của đối t­ượng:“đoan trang”,“nở nang”,“đầy đặn”.Những biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ,nhân hoá đều nhằm thể hiện vẻ đẹp trung thực, phúc hậu mà quí phái của người thiếu nữ.Điều kì diệu ở đoạn thơ này là Nguyễn Du đã miêu tả chân dung Thuý Vân là chân dung mang tính cách,số phận.Vẻ đẹp của nàng hoà hợp,êm đềm với xung quanh,được thiên nhiên yêu thương,nhường nhịn:“mây thua”;“tuyết nh­ường”nên nàng sẽ có một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ, êm ấm và một tương lai tươi sáng đón chờ.

Đoạn thơ khép lại sau khi đã hoàn thiện trong tâm khảm bạn đọc hình ảnh một nàng Thuý Vân sắc nước hương trời bằng ngôn ngữ thơ tinh luyện, những nét vẽ có thần,hàm xúc, gợi cảm,các biện pháp tu từ được vận dụng tài tình.Hàm ẩn đằng sau bức chân dung mĩ nhân là cả một tấm lòng quí mến trân trọng,ngợi ca con người mà đặc biệt là người phụ nữ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.

Đọc đoạn thơ,tìm hiểu kĩ về đoạn thơ, càng kính phục Nguyễn Du em càng trân trọng sự tinh tế trong ngôn ngữ Tiếng Việt.Bất giác em mong muốn được thay vài chữ trong câu thơ lúc sinh thời của đại thi hào dân tộc để diễn tả những suy nghĩ của mình: 
“Nhiều trăm năm lẻ về sau nữa
Thiên hạ mãi còn nhớ Tố Như”
0
phiếu
0đáp án
603 lượt xem

Sinh thời, Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến miền Nam, ngày đêm thương nhớ miền Nam. Với Bác, miền Nam là niềm vui, là hạnh phúc, là nỗi đau không lúc nào nguôi: “Miền Nam trong trái tim tôi”. Niềm mong mỏi thiết tha của Bác là miền Nam mau được giải phóng. Miền Nam cũng ngày đêm thương nhớ Bác, mong ngày giải phóng để được gặp Bác kính yêu. Nhưng tiếc thay, khi Bắc Nam sum họp một nhà thì Bác không còn nữa. Lòng thương nhớ, nỗi niềm đau đớn của đồng bào và chiến sĩ miền Nam dồn nén bao nhiêu năm đã được nhà thơ Viễn Phương thể hiện trong bài Viếng lăng Bác. Bài thơ không những chỉ thể hiện dòng cảm xúc trào dâng của nhà thơ mà còn thể hiện hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng những hình ảnh vừa quen thuộc, vừa giàu sức khái quát, vừa lung linh gợi cảm. Bằng cảm xúc chân thực và ngôn ngữ thơ gợi cảm, Viễn Phương đã nói hộ chúng ta một chân lý: Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong lòng nhân dân ta.

Bài thơ ra đời năm 1976, khi lần đầu tiên sau giải phóng miền Nam, Viễn phương ra thăm Lăng Bác. Bài thơ rất ngắn gọn, súc tích nhưng có sức gợi tạo nên sự xúc động cho người đọc. Ngôn ngữ thơ tuôn trào theo theo dòng cảm xúc chân thành, tha thiết. 

Mở đầu bài thơ, Viễn Phương đã bày tỏ ngay tình cảm sâu nặng, ruột thịt của mình bằng câu thơ giản dị: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác.

Tình cảm giữa miền Nam và Bác Hồ luôn luôn là tình cảm ruột thịt “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà” (Tố Hữu) và tình cảm của miền Nam đối với Bác cũng là tình cảm nhớ mong da diết “Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” (Tố Hữu). Tự đáy lòng của người con đến thăm cha, Viễn Phương nói với Bác: Con ở miền Nam…. Câu thơ giản dị nhưng bao hàm một ý nghĩa lớn. Trong tim Bác và trong tim miền Bắc, Miền Nam luôn luôn là nỗi đau chia cắt, nỗi nhớ thương, là niềm tự hào, là biểu tượng anh hùng, bất khuất, dũng cảm, kiên cường, là thành đồng Tổ Quốc… Giờ đây, nhà thơ mang theo cả niềm tự hào đó của đồng bào miền Nam để đến với Bác. 

Hình ảnh đầu tiên trong lăng làm nhà thơ xúc động là hình ảnh hàng tre:

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng 

Hàng tre bát ngát cuốn hút cảm xúc của nhà thơ. Qua hình ảnh hàng tre quen thuộc tác giả gửi gắm một ý nghĩa tượng trưng nhằm ca ngợi Bác, ca ngợi dân tộc. Chắc rằng, cũng như mọi người Việt Nam, trong tâm khảm nhà thơ, cây tre là hình ảnh giản dị, thân thuộc, đời đời gắn bó với quê hương làng xóm. Hàng tre xanh xanh trong vườn Bác gợi cho người đọc nhiều liên tưởng. Hàng tre gợi hình ảnh mọi miền quê hương đất nước, nhất là hình ảnh miền Nam yêu thương. Tre kiên cường trong bão táp mưa sa như dân tộc ta vững vàng qua phong ba bão tố, như Bác Hồ suốt đời sống giản dị nhưng kiên cường tranh đấu vì độc lập tự do của dân tộc. 

Hoà vào dòng người thăm lăng, nhà thơ tiếp tục dòng suy tưởng. Lời thơ bỗng dạt dào một cảm xúc tự hào, thành kính, thương nhớ Bác:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng 
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân 

Ai đã từng một lần đi viếng lăng Bác mới hiểu hết hàm ý trong câu thơ của Viễn Phương. Ngày ngày, mặt trời - chúa tể của thiên nhiên - thán phục một mặt trời trong lăng rất đỏ. Mặt trời rất đỏ, hình ảnh tượng trưng cho Bác Hồ - là mặt trời cách mạng, là nguồn ánh sáng rực rỡ không bao giờ tắt, mãi mãi chiếu rọi con đường đi tới của dân tộc Việt Nam. Nhiều nhà thơ đã sử dụng hình ảnh mặt trời để thể hiện ánh sáng của lý tưởng cách mạng, nhưng đối sánh hai hình ảnh mặt trời của Viễn Phương quả là rất độc đáo. Đây là một sáng tạo nghệ thuật có tác dụng bộc lộ nội dung rất hiệu quả. Không nhiều lời, chỉ một hình ảnh mặt trời rất đỏ, nhà thơ đã khái quát được hình ảnh Bác Hồ vĩ đại. Nhà thơ đã nói hộ chúng rằng: Bác Hồ là mặt trời cách mạng đẹp nhất, rực rỡ nhất, chói lọi nhất luôn luôn toả sáng trong tâm hồn người Việt Nam. 

Cùng với mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là dòng người đi trong thương nhớ. Nhịp thơ chầm chậm như bước chân của dòng người lặng lẽ đi trong suy tưởng, bao trùm một một không khí thương nhớ Bác không nguôi, thành kính kết tràng hoa tình yêu dâng bảy mươi chín mùa xuân của Người. “Người ta là hoa của đất”, nhà thơ thật sâu sắc và tinh tế khi tôn quí nhân dân. Mỗi người dân là một bông hoa và dòng người đi trong thương nhớ chính là tràng hoa dâng lên Bác. 

Ngày ngày… ngày ngày …, thời gian không ngừng trôi và lòng người Việt Nam không bao giờ nguôi tình cảm nhớ thương, yêu quí, kính trọng đối với Bác.

Đặc biệt xúc động là khi vào trong lăng, thấy Bác nằm nghỉ, nhà thơ sững sờ, nghẹn ngào, đau đớn:

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền,
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi ,
Mà sao nghe nhói ở trong tim 

Bác nằm đó như đang trong giấc ngủ bình yên sau bảy mươi chín mùa xuân không hề nghỉ. Từ ánh điện mờ ở trong lăng, nhà thơ liên tưởng đến một hình ảnh rất đẹp: vầng trăng sáng dịu hiền. Hình ảnh đó đã đưa người đọc vào một thế giới huyền diệu, trong sáng và thanh khiết; càng gợi ta nghĩ đến tình yêu thiên nhiên, yêu trăng nồng nàn của Bác. Vầng trăng kia đã bao lần sáng lên trong thơ Người. Cả khi trong ngục: “Người ngắm trăng soi qua cửa sổ, trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. Cả những khi bận rộn việc nước việc quân, Bác vẫn thấy “trung thu trăng sáng như gương”, “rằm xuân lồng lộng trăng soi”, “trăng ngân đầy thuyền”, “trăng vào cửa sổ đòi thơ”, “trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa…” Giờ đây, Bác nằm đó, trong giấc ngủ bình yên, giữa vầng trăng sáng dịu hiền. Vẫn biết rằng Bác như trời xanh, mãi mãi sống trong sự nghiệp của chúng ta. Nhưng con tim nhà thơ đau đớn vô cùng khi đứng trước Người. Mà sao nghe nhói ở trong tim, chỉ một chữ nhói cũng đủ nói lên nỗi quặn đau, thương nhớ không gì bù đắp được vì mất Bác, vì nỗi thiếu vắng Bác. 

Và nỗi đau không còn kìm ném được nữa, nó trào lên dữ dội khi nhà thơ chia tay với Bác:

Mai về miền Nam, thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng
Muốn làm bông hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. 

Thương Bác, thương đến trào nước mắt, một tình cảm yêu quý mãnh liệt, trọn vẹn như tình cảm của người con đối với người cha ruột thịt. Nhà thơ chia tay Bác trong tiếng khóc nấc nở nghẹn ngào. Làm sao ngăn được dòng nước mắt thương nhớ Bác-một con người vừa vĩ đại, thanh cao, vừa gần gũi thân thiết với chúng ta, một con người suốt đời hy sinh, cống hiến cho dân tộc nay vĩnh viễn nằm lại trong lăng? Nhà thơ lưu luyến không muốn rời xa Bác, chỉ ước muốn biến thành con chim, bông hoa, cây tre, góp tiếng hót, làn hương quanh nơi Bác nghỉ cho trọn niềm trung hiếu với Người. Đoạn thơ dạt dào tình cảm, nhịp điệu thiết tha, cùng với hình ảnh cây tre trung hiếu một lần nữa truyền đến người đọc sự xúc động nghẹn ngào. 

Bài thơ ngắn, nhưng tác giả đã thành công khi sử dụng hàng loạt hình ảnh ẩn dụ mang tính tượng trưng sâu sắc. Các hình ảnh hàng tre xanh xanh, giữa bão táp mưa sa, đến các hình ảnh mặt trời rất đỏ, tràng hoa, bảy mươi chín mùa xuân, vầng trăng sáng dịu hiền, trời xanh là mãi mãi đã gợi cho người đọc thấy trọn vẹn hình tượng Bác Hồ gần gũi, cao quý, thanh khiết, vĩ đại biết bao. Ngoài ra, nó còn gợi đến hình ảnh quê hương, đất nước, nhân dân. Nhà thơ đã có nhiều dụng ý khi sử dụng các hình ảnh rất đẹp, rất lớn lao của vũ trụ: mặt trời, vầng trăng, trời xanh. Những hình ảnh đó tượng trưng cho cái vĩ đại, lớn lao của Bác Hồ. Bác như vầng mặt trời rực rỡ, như vầng trăng sáng dịu hiền, như bầu trời xanh. Ở Bác toả ra ánh sáng của trí tuệ thiên tài và lấp lánh ánh sáng của một tâm hồn cao đẹp. Còn hình ảnh hàng tre xanh xanh lại tượng trưng cho cái bình dị, gần gũi của Người. Và hơn thế nữa, tất cả các hình ảnh ấy đều gợi cho ta thấy sự bất tử của Bác Hồ. Người sống mãi trong lòng nhân dân ta, trong sự nghiệp của chúng ta. Mãi mãi là vị cha già thân thiết, yêu quý của chúng ta. 

Viếng lăng Bác không những là tiếng khóc đau đớn, nghẹn ngào trước sự ra đi của Bác, là lòng thương nhớ không nguôi, lòng kính phục vô hạn của nhà thơ Viễn Phương và của nhân dân ta đối với Bác Hồ mà bài thơ còn diễn tả thành công hình tượng Bác Hồ vĩ đại bằng những hình ảnh đẹp, nhịp điệu tha thiết, cảm xúc nồng nàn chân thực. Âm hưởng của bài thơ ngân vang mãi trong lòng người đọc. Bài thơ được phổ nhạc càng trở nên truyền cảm sâu xa, làm xúc động hàng triệu trái tim Việt Nam từ 1976 đến nay.

(sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
442 lượt xem

Quê hương - hai chữ thiêng liêng mà trong tim mỗi người ai cũng dành một tình cảm riêng. Những tình cảm ấy thật cao đẹp và đáng trân trọng. Ai đi xa nơi đất khách quê người vẫn luôn hướng về quê hương - nơi chôn rau cắt rốn. Trong tâm khảm mỗi người, ai cũng lưu giữ những âm thanh, cảnh sắc quê nhà, những kỉ niệm cảm động và nhất là tiếng ru ầu ơ, dịu ngọt của mẹ, mái tóc bạc phơ của bà - người đã tần tảo chăm chút, nuôi ta khôn lớn.

Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt đã thổi một nguồn sống mới thức tỉnh những năm tháng tuổi thơ vào lòng triệu con người. Những tình cảm đẹp ấy được diễn tả rất thơ...

Bếp lửa là tiếng thơ của một tấm lòng có cội nguồn của một tâm hồn nhạy cảm và tinh tế, phong phú và mới mẻ. Trong nỗi nhớ của nhà thơ, hình ảnh người bà bao giờ cũng hiện lên cùng bếp lửa. Vì hoàn cảnh gia đình, bố mẹ đi kháng chiến, tuổi thơ Bằng Việt sống cùng bà. Mỗi ngày của tuổi thơ lận đận đều bắt đầu từ ngọn lửa bà nhen. Sự sống của cháu đã được nhen lên và giữ gìn cùng ngọn lửa ấy. Ở đất nào, ngọn lửa cũng là cội nguồn của sự sống, bếp lửa nào cũng nhọc nhằn, tần tảo, bếp lửa nào cũng nồng đượm, ấp iu.

Trong tâm thức của tác giả, “một bếp lửa ấp iu nồng đượm” luôn túc trực, lắng đọng; hình ảnh bà sóng đôi với hình ảnh bếp lửa, gắn với sự chăm chút cho đứa cháu luôn xa cha mẹ.

“Một bếp lửa” là động đến cõi cao sâu trong kí ức của mỗi người về hơi ấm gia đình nhất là khi xa nhà sống ở nơi xa lạ và điệp ngữ ngày dùng để diễn tả cảm xúc đang dâng lên cùng với kí ức, hồi tưởng. Bếp lửa hiện lên nồng nàn trong tình cảm, dạt dào trong cảm xúc.

Toàn bài giọng cảm thương, nhớ nhung da diết như muốn trào dâng lấn át tất cả.

Mỗi kỉ niệm thức dậy là biết bao tâm tình sống dậy. Mỗi kỉ niệm được bao bọc trong nỗi nhớ thương vừa trào dâng vừa sâu lắng. Cả bài thơ là một dòng tâm trạng, một dòng hồi ức. Ngần ất sự việc suốt mấy chục năm trời chỉ xuay quanh hình ảnh bếp lửa của bà. Lửa là ánh sáng, lửa là hơi ấm. Bếp lửa lặng thâm nuôi dưỡng mọi gia đình, nuôi dưỡng cả sự sống này. Nép mình trong bếp có gì mộc mạc, khiêm nhường hơn bếp lửa? những cũng có gì cao quý thiêng liêng hơn? Cho nên nhớ về bếp lửa là nhớ về bà.

Bằng Việt đã thổi bừng lên hết thảy những bếp lửa “ấp iu nồng đượm” trong ký ức của mỗi chúng ta. Và cả mối tình bà cháu đẹp như trong truyện cổ tích của nhà thơ cũng như riêng của tuổi thơ chùng mình. Trong thơ ca còn có mối tình bà cháu nào cảm động hơn? Mối tình bà cháu đẹp như một dòng sông, dòng sông êm đềm và trong vắt, mặt dòng sông chở đầy kỉ niệm. Một bếp lửa và một làn sương sớm. Những kỉ niệm trôi qua theo một nhạc điệu tâm tình âm ĩ thầm thì triền miên như nỗi nhớ chất thơ lan toả trong từng con chữ có cả sắc màu, hương vị, ký ức và hồn người, tình người lan toả vào cảnh, ấp ủ thành tình yêu quê hương.

Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!

Đó là lời thốt lên từ niềm trân trọng, biết ơn cũng là lời thốt lên khi chợt nhận ra trong một vật đơn sơ, lại ẩn náu bao điều kì diệu. Hình ảnh bếp lửa cứ cháy, trong những kỉ niệm của tình bà cháu. Cháu bắt đầu biết đến mùi khói từ khi lên bốn, thì đó cũng là những năm đói khổ, chiến tranh ác liệt. Bởi thế mùi khói từ những năm đầu đời đến tận bây giờ vẫn cứ còn nguyên trong kí ức, chẳng thể tiêu tan. “Lên bốn tuổi cháu đã quen múi khói”… Đoạn thơ thật cảm động, dù cho ngọn lửa hung tàn của giặc đang thiêu huỷ làng xóm thì chính bếp lửa ấm cùng, ân cần của bà đang nhen lên sự sống. Bà đã chịu đựng tất cả vất vả, khó khăn, hy sinh, mất mát. Vì vậy những gì bị thiêu cháy trong ngọn lửa dã man, kỳ lạ thay đang hồi sinh trong ngọn lửa của lòng bà. Ngọn lửa ấy, bếp lửa ấy đã sưởi ấm tâm hồn đứa cháu ngây thơ từ những tháng năm lên bốn. Kì lạ và thiêng liêng nhất là tình yêu quê hương, xứ sở bắt đầu từ sự gắn bó với những gì đơn sơ, bình dị và gần gũi nhất. Tình bà cháu gắn bó với lòng yêu nước thật thiêng liêng, cao cả. Cháu lớn khôn trưởng thành trong đôi bàn tay nâng niu trong tấm lòng yêu thương vo hạn của bà. Ngọn lửa mà bà đã nhóm lên từ “bếp lửa” ấy đã sưởi ấm và soi sáng cuộc đời đi lên phía trước của cháu.

Và đứa cháu hiếu thảo ấy đã lớn, đã đi rất xa nơi bếp lửa của bà, đã biết đến ngọn khói trăm miền, đã vui với ngọn lửa trăm nhà. Nhưng trong lòng cháu chỉ nhớ về ngọn khói đã làm nhèm mắt cháu, chì nhớ về ngọn lửa tảo tần nắng mưa nơi góc bếp của bà. Cháu chẳng bao giờ quên “bếp lửa”, bởi đó là cội nguồn, bởi cuộc đời cháu đã được nhen lên từ ngọn lửa ấy. Ngọn lửa của bà đã cháy trong lòng cháu, một bếp lửa mới của cuộc đời đã nhen lên ngọn lửa của sự sống truyền đời, bất diệt!

“Bếp lửa” là bài thơ cảm động, tình cảm dạt dào trong lòng đã tìm đến một giọng điệu, một nhịp điệu thật phù hợp. Ấy là giọng nồng đượm của lửa, ấy là nhịp bập bồng của lửa, giọng kể lể cứ tràn ra, dâng lên một ngày một nồng nàn, ấm nóng…

Bằng Việt đã khéo lựa chọn và sắp xếp để hình ảnh người và bà bếp lửa luôn đi đôi với nhau. Đọc “Bếp lửa” chẳng những thấy được một dòng tâm sự sâu nặng, dạt dào mà nhà thơ còn muốn đề cao một điều rất đỗi giản dị: “Tình yêu quê hương đất nước bắt nguồn từ những cái cụ thể gần gũi, thân thương với mỗi con người”.
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

DÀN BÀI CHI TIẾT

A- Mở bài:

- Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Ông gắn bó với thôn quê, từ lâu đã am hiểu người nông dân. Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân.

- Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948, trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc, tình yêu nước, thông qua một con người cụ thể, người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

B- Thân bài

1. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc, tình cảm quê hương đất nước. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước, tinh thần kháng chiến. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới.

2. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm, tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người, nhân vật ông Hai. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng, in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có.

a. Tình yêu làng, một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai.

- Ông hay khoe làng, đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê.

- Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần.

b. Sau cách mạng, đi theo kháng chiến, ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm.

- Được cách mạng giải phóng, ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương, vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. Phải xa làng, ông nhớ quá cái khong khí “đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…”; rồi ông lo “cái chòi gác,… những đường hầm bí mật,…” đã xong chưa?

- Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến, thích bìh luận, náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế, chỗ này giết một tí, chỗ kia giết một tí, cả súng cũng vậy, hôm nay dăm khẩu, ngày mai dăm khẩu, tích tiểu thành đại, làm gì mà thằng Tây không bước sớm”.

c. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc.

- Khi mới nghe tin xấu đó, ông sững sờ, chưa tin. Nhưng khi người ta kể rành rọt, không tin không được, ông xấu hổ lảng ra về. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi.

- Về đến nhà, nhìn thấy các con, càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi”. Ông giận những người ở lại làng, nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”, lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân.

- Ba bốn ngày sau, ông không dám ra ngoài. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. Ông luôn hoảng hốt giật mình. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà.

- Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá, vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. Nhưng tình yêu nước, lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt.

- Tình cảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ, với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này:

+ Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông, bố của nó.

+ Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”.

+ Qua đó, ta thấy rõ:

• Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc).
• Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc, chân thành. Tình cảm đó sâu nặng, bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai.

d. Khi cái tin kia được cải chính, gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ, ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu.

- Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường.

- Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông.

3. Nhân vật ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân.

- Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng.

- Miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ đối thoại và độc thoại.

Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động.

C- Kết bài:

- Qua nhân vật ông Hai, người đọc thấm thía tình yêu làng, yêu nước rất mộc mạc, chân thành mà vô cùng sâu nặng, cao quý trong những người nông dân lao động bình thường.

- Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý.

0
phiếu
0đáp án
399 lượt xem

Có thể nói Nguyễn Duy và Nguyễn Minh Châu là hai cây bút tiêu biểu cho văn học Việt Nam từ năm 1954 đến nay. Mỗi tác phẩm của họ đều để lại những dấu ấn sâu sắc, những âm vang dậy lên trong ta sự xúc động chân thành.

Trong văn học thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Nguyễn Duy và Nguyễn Minh Châu đã rất thành công trong cảm hứng ngợi ca đất nước và nhân dân anh hùng. Từ sau năm 1975 đến nay, đất nước từng bước chuyển mình để đi đến sự đổi mới toàn diện.

Trên cái nền hiện thực ấy, Nguyễn Duy và Nguyễn Minh Châu đã hướng ngòi bút của mình vào các vấn đề có tính chân thực cao về đời sống xã hội. Một trong những đề tài được quan tâm là sự tự thức tỉnh, tự giáo dục để hoàn thiện vẻ đẹp nhân cách.

Đọc tác phẩm “Ánh Trăng” của Nguyễn Duy và “Bến Quê” của Nguyễn Minh Châu, ta cảm nhận sâu sắc bài học làm người mà mỗi tác giả đã gửi gắm trong hành trình tìm về nguồn cội và cuộc đấu tranh tự vấn lương tâm để thức tỉnh chính mình.

Đôi khi giữa cuộc sống phồn hoa đô hội, con người với đầy đủ những tiện nghi sinh hoạt hiện đại, sang trọng, bị cuốn hút bởi nhiều thú vui mới lạ, hấp dẫn dễ đánh mất đi những gì đẹp đẽ thân thương của quá khứ mà đáng lẽ phải trân trọng nâng niu, yêu quý. Ta đã bắt gặp điều ấy qua “Ánh Trăng”. Bài thơ đã đạt giải A trong cuộc thi thơ do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. “Ánh Trăng” là lời nhắc nhủ về những tháng năm gian lao mà anh dũng, nghèo khổ mà nồng ấm tình thương cuả cuộc đời người chiến sĩ gắn bó với thiên nhiên, với con người bình dị, hiền hậu, Nguyễn Duy đã gợi nhớ một miền ký ức thẳm sâu:

  “Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”

Dù sống ở “đồng”, ở “sông” hay ở “bể” ở “rừng” thì đi đâu nhân vật trử tình “Ta” cũng có “Trăng” bầu bạn. Quan hệ giữa Vầng Trăng – Ta là quan hệ tri kỉ. Không gian “Đồng” “Sông” “Biển” “Rừng” gợi nhớ quá khứ gian khổ. Ở đó Vầng Trăng đã trở thành máu thịt của Ta:

“Ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”

Từ Vầng Trăng Tri kỉ đến Vầng Trăng Tình nghĩa là quá trình gắn bó sâu nặng khẳng định một tình cảm vững bền tưởng như không bao giờ thay đổi. Thế nhưng, “người ta định rồi chẳng bao giờ người ta làm được” (lão Hạc – Nam Cao).

Nhân vật trữ tình trong Ánh Trăng đã như thế!

“Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
Vầng Trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường”

Từ Vầng Trăng Tri kỉ, Vầng Trăng Tình nghĩa nay đã biến thành Vầng Trăng người dưng! Qủa là một sự thay đổi không thể lường trước. Một sự phản bội?

Điều gì đã làm nên sự phản bội đáng xấu hổ ấy? Phải chăng là sự đổi thay về môi trường sống: Từ miền gian khổ thiếu thốn, khó khăn về nơi đầy đủ, sung sướng? từ giữa thiên nhiên mộc mạc chân chất.

“Trần trụi với thiên nhiên 
hồn nhiên như cây ảo”

Về với “Ánh điện cửa gương:…? phải chăng “có mới, nới cũ”? Lối sống mới, cuộc sống mới với bao nhiêu cái mới đã làm cho Ta quên đi Ánh Trăng quá khứ, đúng là sự tự cắt bỏ đi một phần máu thịt của chính mình! Thế nhưng, “cuộc đời vốn đa sự, con người vốn đa đoan” chỉ đến khi trong cuộc sống gặp trắc trở khó khăn thì Ta mới có dịp để nhìn lại chính mình:

“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn – đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”

Chính trong lúc khó khăn ấy của cuộc sống, Vầng Trăng, lại đột ngột xuất hiện trọn vẹn, thủy chung. Đối diện với “trăng tròn vành vạnh” là sự đối diện với sự vẹn tròn chân thật, yêu thương và ấm áp. Đối diện với lòng độ lượng, khoan dung của quá khứ ân tình, ân nghĩa Ta chợt thấy giật mình:

“Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”

Nhân vât trữ tình trong bài thơ “giật mình” hay chính Ta cũng phải giật mình. Hãy cảnh tỉnh mình khi chưa quá muộn!

Bài thơ như một lời tự sự của chính tác giả, như một lời tự sự của chính mỗi chúng ta, nhắc nhở ta về thái độ sống “uống nước, nhớ nguồn”, thủy chung cùng quá khứ.

Cũng là một bài học làm người, Nguyễn Minh Châu qua tác phẩm “Bến Quê” để lại trong ta những trăn trở, những suy ngẫm sâu xa mang tính triết lý.

“Bến Quê” được đánh giá là một trong những tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn đổi mới nền văn học. Có nhà văn cho rằng, ông là người mở đường tinh anh và tài năng đã đi được xa nhất.
Bài học làm người ta bắt gặp trong “Bến Quê” được gởi gắm qua nhân vật trữ tình – tư tưởng: nhân vật Nhĩ với nhiều nghịch lí trong cuộc đời.
Nhĩ là con người từng trải, có địa vị, đi rộng, biết nhiều. Bao cảnh đẹp chốn gần xa, của ngon vật lạ trên thế giới anh đều được thưởng thức: “Suốt cả đời Nhĩ đã từng đi không sót một xó xỉnh nào trên trái đất”. Thế mà những cảnh vật gần gũi nơi bến quê: “Cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông Hồng đang phô ra trước khuôn cửa sổ gian gác nhà Nhĩ như một thứ vàng thau xen lẫn màu xanh non. Những màu sắc thân thuộc quá như da thịt như hơi thở của đất mỡ màu” thì mãi cuối cuộc đời khi bị cột chặt trên giường bệnh Nhĩ mới nhận ra! Cũng như lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên – vợ anh mặc tấm áo vá! Hình ảnh người vợ tảo tần giàu đức hy sinh làm Nhĩ thật sự cảm động. Đó là tiếng lòng, tiếng đau thương mà không phải lúc nào anh cũng nghe cũng cảm được. Đến bây giờ Nhĩ mới khám phá ra vẻ đẹp của bến quê ư! Đến bây giờ Nhĩ mới thấy Liên mặt áo vá ư! Tại sao vậy? Phải chăng vì quá mãi mê khám phá những gì xa xôi mới mẻ mà anh đã bỏ quên đi điều gần gũi thân thương và rất đỗi thiêng liêng!

Khát vọng cuối cùng của Nhĩ lúc biết mình sắp từ giả cõi đời là muốn đặt chân lên mảnh đất ở bãi bồi bên kia sông, nơi ấy có bến quê của anh Nhĩ… Anh không thể tự mình làm được điều đó. Bởi vì “nhấc mình ra được bên ngoài phiến nệm nằm, anh tưởng mình như vừa bay được nửa vòng trái đất”. Anh đã phải cậy nhờ Tuấn – con trai anh làm điều ấy. Tuấn là sinh viên học tại một trường đại học ở tận một thành phố phía Nam đã miễn cưỡng nhận lời cha. Thế nhưng, lời cầu xin tha thiết và thái độ khẩn khoản của người cha ốm đau tội nghiệp đã bị anh bỏ quên ngay sau đó. Anh đã rơi vào trận chơi phá cờ thế trên vỉa hè và để lỡ mất chuyến đò duy nhất trong ngày về bãi bồi phía bên kia, để lỡ mất cơ hội duy nhất thực hiện ước nguyện của người cha đáng kính!

“Suốt đời Nhĩ cũng từng chơi phá cờ thế trên nhiều hè phố, thật không dứt ra được. Không khéo rồi thằng con trai anh lại trễ mất chuyến đò trong ngày. Nhĩ nghĩ một cách buồn bã, con người ta trên đường đời thật khó tránh khỏi được những cái điều vòng vèo hoặc chùng mình, vả lại, nó đã thấy có gì hấp dẫn ở bên kia sông đâu? Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều kiện riêng anh khám phá thấy như một niềm say mê pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích hết”. Những suy nghĩ mang tính trải nghiệm của Nhĩ làm cho ta cảm thấy day dứt trăn trở! Làm sao để thoát khỏi “cái điều vòng vèo chùng chình” trong cuộc sống? Trong cuộc đời? Bởi vì chính cái điều vòng vèo chùng chình ấy mà Nhĩ đã đau đớn ân hận vào giờ phút cuối cuộc đời! Và Tuấn – con trai anh rồi sẽ đau đớn ân hận bên linh cữu của cha! Và cả chúng ta nữa, chúng ta cũng có thể như thế!

Bài học làm người mà Nguyễn Minh Châu gửi gắm trong “Bến Quê” thật là sâu sắc!

“Ánh Trăng” và “Bến Quê” – hai tác phẩm với hai thể loại khác nhau nhưng cả hai là bài học quý giá cho mỗi chúng ta. Mắc-xim-gor-ki đã từng nói: “Văn học là nhân học”. Học văn là học về con người, học cách làm người!

Cám ơn Nguyễn Duy, cám ơn Nguyễn Minh Châu bằng văn học nghệ thuật đã cho ta bài học đạo lý làm người. Đó là hành trang sống của mỗi chúng ta để ta vững bước trên đường đời. Đúng là: “Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẻ cho ta đường đi mà nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng ta, khiến ta phải tự bước lên con đường ấy (Nguyễn Đình Thi, Tuyển tập, Tập II – Nhà Xuất bản Văn học)
Sưu tầm 
0
phiếu
0đáp án
457 lượt xem

Bài làm

Phạm Tiến Duật là một nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Nhà thơ đã từng cầm súng chiến đấu và công tác trong đội ngũ những chiến sĩ vận tải chở vũ khí ra tiền tuyến:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai.

Niềm vui hăm hở của tuổi trẻ như cuộc sống chói chang chiếu sáng tâm hồn của người chiến sĩ, thi sĩ khiến thơ ông có giọng điệu khỏe khoắn, tự nhiên, tràn trề sức sống, rất tinh nghịch vui tươi đầy chất lính. Điều này đã được Phạm Tiến Duật thể hiện và nâng cao hơn trong tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính . Bài thơ đã ca ngợi những người chiến sĩ lái xe có tư thế hiên ngang dũng cảm, bất chấp gian khổ, sống lạc quan yêu đời, quyết tâm chiến đấu vì miền Nam yêu thương.

Trước hết đọc tác phẩm điều mà mỗi chúng ta cảm thấy khâm phục, tự hào và cũng là nét bao trùm nổi bật của người chiến sĩ lái xe trong bài là sự ung dung, thanh thản tuyệt vời trong một tư thế hiên ngang, bất khuất, bất chấp mọi khó khăn, thử thách. Mặc dù:

Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi…
…Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe thùng xe có xước…

Những người lính lái xe phải lái những chiếc xe trần trụi, xấu xí là vì bom đạn của đế quốc Mĩ đã làm cho những chiếc xe biến dạng, làm cho đồng chí đồng đội của các anh ngã xuống. Chiến tranh quả là khốc liệt thế nhưng các anh vẫn lái những chiếc xe ấy băng ra ngoài mặt trận, chở vũ khí, lương thực từ hậu phương lớn ra tiền tuyến lớn bởi các anh có những trái tim yêu nước cháy bỏng. Đế quốc Mĩ đã gây bao tội ác cho đồng bào miền Nam, bắt đoàn xe phải ngừng hoạt động, gây biết bao khó khăn cho kháng chiến. Song những người lính vẫn vững vàng tay lái bất chấp bom đạn của kẻ thù với tâm hồn lạc quan như niềm tin chắc chắn vào chiến thắng:

Ung dung buồng lái ta ngồi…
Nhìn đất , nhìn trời, nhìn thẳng…

Đoạn thơ hay cả về âm điệu, hình ảnh, cách nói. Những câu thơ nhanh, gấp mà vẫn nhịp nhàng như bánh xe đang lăn đều đặn trên đường. Những câu thơ như bật ra từ trái tim người lái xe đang ngồi sau tay lái. Hiện thực đầy ắp chính xác đến từng chi tiết, nhưng đằng sau hiện thực ấy là một tâm trạng, một tư thế, một bản lĩnh chiến sĩ. Xe không có kính mà họ vẫn ung dung, thanh thản, vẫn tập trung cao độ, vẫn bình tĩnh tự tin để đưa hàng xe ra tiền tuyến với một cái nhìn đầy ngạo mạn của lòng dũng cảm. Có lẽ, tác giả phải là người trong cuộc mới sáng tác được những câu thơ hay và chính xác như thế. Tâm hồn các chiến sĩ lái xe thật lãng mạn, nhờ không có kính mà nhìn thấy sao trời, cánh chim sa, gió cứ ùa vào buồng lái và trở thành người bạn đường của họ. Thiên nhiên con người như hòa vào làm một câu thơ rất thực lại mang chút nghệ sĩ đáng yêu của người lính. Cả đoạn thơ như ào ra từ cuộc sống thực để nói lên tinh thần cao đẹp của người chiến sĩ đường ra trận mùa này đẹp lắm. Đây phải chăng là con đường cách mạng, con đường hàng vạn, hàng triệu con người Việt Nam đang xây đắp chờ ngày “khai trương”. Bằng lời thơ giản dị mà chân thành tác giả lại viết tiếp:

Không có kính ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Những câu thơ ngồn ngộn chất sống hiện thực ở chiến trường, tác giả như nhìn thấy bụi trắng, bộ mặt lấm lem của người lính và nghe rõ tiếng cười sảng khoái của người lính. Nhưng đằng sau những dòng buông đùa đáng yêu này cũng là một bản lĩnh chiến đấu rất vững vàng của họ, bởi không vững vàng thì không thể đùa vui như vậy. Điều đó càng làm cho chúng ta thấm thía hơn sự đối lập giữa người già ở câu trên với tiếng cười ha hả hồn nhiên, yêu đời và trẻ trung đến lạ lùng ở câu dưới. Điệp từ ừ thì như một sự chấp nhận những khó khăn đã được nhà thơ miêu tả khá rõ nét. Mặc dù bụi đường phun tóc trắng nhưng người lính vẫn không hề nao núng, vẫn bình tĩnh coi thường khó khăn, gian khổ. Mặc dù Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời song người lính vẫn chưa cần. Vậy đó,dù trong khó khăn các anh vẫn cười tươi để động viên nhau cố gắng.

Dường như khó khăn, thử thách không chỉ giúp con người ta tôi rèn ý chí mà còn giúp cho tình bạn thêm gắn bó keo sơn. Phạm Tiến Duật đã phát hiện và ghi lại điều đó về vẻ đẹp của những người lính lái xe và những hình ảnh thơ độc đáo:

Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Những cỗ xe đã chiến thắng với những vũ khí tối tân của Mĩ và hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, họ đã gặp nhau, động viên nhau bằng một cái bắt tay thân thiện, cái bắt tay ấy đâu chỉ là một cái bắt tay đơn thuần mà là cả một niềm tin vào chiến thắng. Nó giúp cho con người xích lại gần nhau, nó như một sợi dây nối liền tâm hồn tình cảm của những người lính. Phạm Tiến Duật đã dành cho tình đồng đội của người lính một khổ thơ chân thật và xúc động.

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi lại đi trời xanh thêm

Đời người lính là đi, nhất là người lính lái xe. Nhưng trong cái giây phút dừng chân ngắn ngủi ấy, ta càng cảm thấy rõ sự gắn bó tự nhiên mà cao đẹp của tình đồng đội. Chỉ là bếp Hoàng Cầm , là võng mắc chông chênh mà chung bát đũa nghĩa là gia đình ấy, câu thơ đẹp cả về tính cách, cách nhìn, cách nghĩ của người chiến sĩ. Có khác gì câu thơ nói về tình đồng chí của Chính Hữu hơn hai mươi năm trước đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ và có phải tình đồng đội đã ngân lên câu hát nâng bước chân người lính đi tiếp những chặng đường mới lại đi, lại đi trời xanh thêm.

Dường như chính vì tình yêu thương đùm bọc mà người lính đã quyết chiến đấu với giặc. Phạm Tiến Duật đã kết thúc bài thơ bằng một sự nhận thức sâu sắc của người lính lái xe cho dù các anh có phải đối mặt với bao khó khăn của cuộc chiến đấu nhưng các anh vẫn chạy vì miền Nam phía trước. Và đoàn xe của các anh đã chiến thắng, các anh đã ra tiền tuyến bằng một tình cảm thiêng liêng vì miền Nam thân yêu, vì chiến đấu giành lại độc lập tự do và thống nhất đất nước. Điều này đã được các anh thực hiện bằng trái tim của mình: chỉ cần trong xe có một trái tim. Đó là một hình ảnh tỏa sáng chói ngời đã đúc kết lại phong cách của người lính gan góc, kiên cường, giàu bản lĩnh chứa chan tình yêu thương với đồng đội, đất nước. Chính lí do này đã khích lệ người lính vượt qua mọi thử thách. Dường như quyết định chiến thắng không phải là vũ khí, công cụ mà là con người – con người mang trái tim, nồng nàn yêu thương, ý chí, lòng dũng cảm và có niềm tin vững chắc.

Bài thơ mang chất lính rất đượm, là tiếng nói hồn nhiên thường ngày của người lính đã đi vào trong thơ ca. Nhưng đấy là tính cách lính trẻ của thời kháng chiến chống Mĩ, họ có học thức, có bản lĩnh chiến đấu, có cuộc sống nội tâm hết sức phong phú. Qua bài thơ ta càng khâm phục và học tập ở các anh nét hồn nhiên và tình yêu đời, yêu đất nước tha thiết.

Theo 100 bài văn hay lớp 9*
0
phiếu
0đáp án
831 lượt xem

BÀI LÀM

Hoạt động cách mạng bị bắt giam, ngồi trong nhà lao,Tố Hữu, người chiến sĩ mười chín tuổi vừa giác ngộ lí tưởng cộng sản cao đẹp, ôm ấp bao dự định xông pha trong trường tranh đấu, xả thân vì nghĩa lớn, nghe tiếng chim tu hú báo hiệu mùa hè đến đã làm bài thơ này.

Mùa hè sống động, náo nức, đầy gợi mở, nhưng người trẻ tuổi say mê hoạt động như ông lại bị cầm tù giữa bốn bức tường kín mít, ngột ngạt, cách biệt với cuộc đời. Tiếng chim tu hú kia đã đánh thức nỗi niềm, bản tính sôi nổi ở người thanh niên cộng sản. Từ tiếng chim tu hú, Tố Hữu tưởng nghĩ đến cuộc sống phóng khoáng, nóng bỏng của mùa hè ở bên ngoài.

Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiêng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng dào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không.

Có người cho rằng khổ thơ dẫn trên là một bức tranh phong cảnh, với những câu tả cảnh vào loại đẹp và hay trong tập thơ Từ ấy, trong cả thơ Tố Hữu.

Quả thật ở đây cảnh mùa hè được tả có hồn, sống động. Tất cả dường như đang nảy nở, phát triển. Lúa chiêm “đương” chín, không phải “đã” chín ; trái cây “đang” ngọt dần, không phải “đã” ngọt. Và đều bộc lộ hết sức mình trong cái mùa hè rộn rã kia. Tiếng ve “dậy”, nắng vàng “đầy” sân. Chiều rộng, chiều cao của không gian, của sự vật thật phóng khoáng, tự do. Trời xanh cao rộng, diều sáo “lộn nhào tầng không”.

Tiếng chim tu hú như là khúc dạo đầu. Từ khúc mở màn này, cả mùa hè bừng lên, náo nức, say mê... Nhưng cho rằng đây là một bức tranh thì không đúng. Với con mắt hoạ sĩ, đây không phải là một bức tranh mùa hè với bấy nhiêu thứ dồn vào một cái khung như thế. Hình như hai câu đầu là một bức, câu thứ ba, thứ tư và hai câu năm, sáu đều là những bức tranh độc lập với nhau. Nếu gọi là tranh thì đây là tranh liên hoàn mới đúng. Tại sao lại như thế? Vì đây là “tranh” không được vẽ bằng mắt nhìn, mà vẽ bằng tưởng tượng, hình dung ra theo tâm trạng của con người. Nhân vật trữ tình trong bài thơ này, ở lúc này không định vẽ tranh mà cảnh trí náo nức, sinh động, sinh sôi của cảnh vật từ tiếng ve kêu đã hiện thành hình, đứt nối thành mùa hè trong con người. Cảnh rồi lại cảnh theo đó mà hiện ra, toàn những cảnh phóng khoáng tự do như mong tưởng.

Về mặt kết cấu doạn một, 6 câu thơ đầu và đoạn hai, 4 câu thơ cuối có thể xem là hai bài thơ riêng biệt. Bài trước được đặt tên là “mùa hè”, bài sau đặt tên là “tiếng chim tu hú”. Thì ra tuy ngay bài đầu câu đầu của bài đã là “Khi con tu hú gọi bầy” nhưng thực ra cái hồn của cả bài thơ này, bài Khi con tu hú lại nằm ở 4 câu sau, ở câu sau cùng :

Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu.

Thì ra tiếng chim tu hú ấy tạo “nghịch trạng” trong lòng người thanh niên này. Mùa hè sôi động, rực rỡ, khoáng đạt đã đến rồi mà mình lại bị giam hãm tù túng. Ngoại cảnh (do tưởng tượng vì đã dược nếm trải) tác động vào con người gây một xung động ở con người, khiến con người bức bối, ngột ngạt muốn vùng vẫy, tung phá.

Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi !

Nhưng thực tế không thể làm được, nên phải buột ra thành lời than. Ấy chính là biểu hiện của lòng khao khát tự do, khao khát hoạt động bị thôi thúc ngày càng mãnh liệt ở con người trẻ tuổi giàu tâm huyết chưa được thoả mãn, đáp ứng. Câu thơ cuối cùng : “Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu” như tiếng đời cứ lăn náo nức mà con người thì đang đành chịu tù túng. Tiếng chim tu hú ngoài trời kia lại như giục giã đốt nóng tâm can dữ dội.

Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu
Tiếng chim tu hú chính là tiếng đời, là cuộc sống hoạt động cách mạng. Và tâm trạng, tinh thần kia là tâm trạng, tinh thần của một người chiến sĩ trẻ tuổi “say mùi hương chân lí”.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là một "bài thơ cuộc đời". Bài thơ được sáng tác năm 1958 nhân một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả. Thông qua một đêm đánh cá của đoàn thuyền lớn trên biển, tác giả ca ngợi kiểu lao động mới mẻ của người lao động tràn đầy lạc quan tin tưởng, làm chủ thiên nhiên, biển cả bao la. Qua bài thơ ta cảm nhận được không khí lao động khẩn trương, hăng say, nhộn nhịp của miền Bắc thời kì xây dựng CNXH.

Bài thơ mở đầu bằng khung cảnh :

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Giới thiệu một ngày sắp kết thúc, sự vật bắt đầu nghỉ ngơi sau hành trình 12 giờ mệt mỏi. Thế nhưng với con người làm nghề đánh cá thì lại khác, dấu hiệu mặt trời xuống biển mở ra một sự bắt đầu với Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi. Đánh cá trên biển là công việc nặng nhọc, đầy nguy hiểm. Vậy mà những người đánh cá "lại" ra khơi với một tinh thần sảng khoái, tràn trề niềm vui, phấn chấn : 

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Tiếng hát được nhắc đi nhắc lại nhiều lần như một điệp khúc và nó trở thành âm thanh chủ đạo trong bài thơ :

- Hát rằng : cá bạc biển Đông lặng

- Ta hát bài ca gọi cá vào

Tác giả miêu tả những con cá, những đàn cá gợi nên bức tranh sinh động về biển cả. Hình ảnh đàn cá lóng lánh màu sắc như một bức tranh sơn mài.

Giữa khung cảnh mênh mông, rộng lớn, hình ảnh người lao động xuất hiện với tư thế làm chủ thiên nhiên, biển cả, làm chủ công việc của mình. Hình ảnh thật khỏe khoắn, rắn chắc :

Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng 
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

Bằng cảm hứng lãng mạn, Huy Cận đã tô đậm lên hình ảnh những người lao động mới với tầm vóc ngang tầm vũ trụ và hòa nhập với khung cảnh trời nước bao la :

Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng

Trên cái không gian bát ngát ấy của trăng, gió, trời, biển, hình ảnh con người mới hiện lên với chiều kích của không gian, đó chính là niềm vui hăng say lao động, làm giàu cho Tổ quốc bằng sức lực, trí tuệ của mình.

Công việc nặng nhọc của người lao động đánh cá đã trở thành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên : 

Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao

Tiếng hát làm cho họ đỡ mệt nhọc. Còn trăng làm công việc đỡ vất vả hơn, vì ánh trăng in mặt nước, sóng nhịp nhàng xô bóng trăng dưới nước như gõ vào mạn thuyền. Cái hiện thực đã được bút pháp lãng mạn chắp cánh làm đẹp thêm công việc đánh cá của người lao động. Như vậy con người lao động đã chinh phục được tự nhiên. Bài thơ kết thúc với cảnh rạng đông khi đoàn thuyền quay trở về : 

Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

Cuối câu thơ là một hình ảnh tô đậm bức tranh sống động, hấp dẫn về thành quả của người lao động. Sau một đêm làm việc vất vả, mệt nhọc, khẩn trương nay họ đã về bến với hình ảnh mắt cá huy hoàng cá phơi dài muôn dặm.

Đoàn thuyền đánh cá là khung cảnh lao động đầy khí thế của những con người mới, của cuộc sống mới những tháng ngày hăng say xây dựng CNXH. Bài thơ đã nói về lòng yêu nghề, yêu đời, yêu cuộc sống, yêu sự nghiệp xây dựng đất nước của những người lao động. Bút pháp lãng mạn, cảm hứng không gian bất tận, Đoàn thuyền đánh cá là một bài thơ hay của thơ ca hiện đại sau cách mạng Tháng Tám.

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
917 lượt xem

BÀI LÀM

I- Bố cục

Cố hương là một trong những truyện ngắn tiêu biểu nhất trong tập Gào thét của Lỗ Tấn. Truyện có bố cục theo trình tự thời gian. Có thể chia thành 3 đoạn và đặt tên như sau :

Đoạn 1 (từ "Tôi không quản..." đến"...đang làm ăn sinh sống" ) : Anh Tấn trên đường về quê.

Đoạn 2 (từ "Tinh mơ sáng hôm sau..." đến "... sạch trơn như quét" : Những ngày anh Tấn ở quê.

Đoạn 3 (từ "Thuyền chúng tôi thẳng tiến..." đến"...thành đường thôi") : Anh Tấn trên đường xa quê. 

Đoạn 2 có thể chia thành các đoạn nhỏ :
+ "Tinh mơ sáng hôm sau..." đến "....sắp đến thôi" : Tấn gặp mẹ và nghe nhắc đến Nhuận Thổ.
+ "Lúc bấy giờ..." đến "...ra xem xem sao" : Kí ức của Tấn về Nhuận Thổ.
+ "Mẹ tôi đứng dậy..." đến "...mất ba bốn ngày" : Tấn gặp lại thím Hai Dương - mụ "com-pa".
+ "Một hôm..." đến "...sạch trơn như quét" : Tấn gặp lại Nhuận Thổ. 

II- Nhân xét về bố cục 

Đây là kiểu bố cục "đầu cuối tương ứng". Đoạn đầu là những cảm giác buồn thương quê hương tàn tạ, buồn vì sắp phải vĩnh biệt quê hương.

Đoạn cuối, khi thực sự rời xa quê lại vẫn là cảm giác buồn thương nhưng bây giờ nặng nề hơn, "vô cùng lẻ loi, ngột ngạt, ảo não" và vẫn là một tâm trạng ưu tư suy nghĩ. Tuy nhiên, đây không phải là sự lặp lại như kiểu đèn cù. Mà là sự lặp lại phát triển . Nhân vật tôi mang theo nỗi buồn về sự điêu tàn của quê hương và sự tàn tạ, nghèo khổ, yếu hèn của những con người trên mảnh đất ấy. Nhưng đồng thời "tôi" lại mang trong mình một niềm hy vọng lớn lao. Hy vọng về một con đường sáng sủa cho con cháu mai sau. Nhân vật "tôi", trở về quê lúc trời đông u ám, tối tăm. Đoạn cuối ra đi trong hoàng hôn, trời đang tối dần. Sự tương ứng về thời gian đã phản ánh cái không khí ảm đạm ngột ngạt của xã hội lúc bấy giờ.
Tác giả sắp xếp cho quá khứ, hiện tại xen kẽ nhau. Nhân vật "tôi", xuất hiện như nhân vật trung tâm, được đan xen nhiều đoạn hồi ức, nhiều đoạn độc thoại nội tâm. "Tôi"có dáng dấp như một nhân vật trữ tình, khiến cho câu chuyện giàu chất biểu cảm. Tuy nhiên cốt truyện vẫn giữ theo trình tự thời gian.

Ở đoạn 2, tác giả sử dụng nghệ thuật hãm chậm. Mẹ nhắc đến Nhuận Thổ. Bao nhiêu ký ức đẹp đẽ về người bạn hiện ra, cho thấy "tôi" khao khát gặp bạn xiết bao. Ta tưởng sau đó là Nhuận Thổ. Nhưng tiếp theo, "tôi" lại gặp mụ com-pa. Và bốn ngày sau, Nhuận Thổ mới xuất hiện. Nhưng lại là một Nhuận Thổ hoàn toàn khác. Nhờ sắp xếp kiểu này mà nhân vật "tôi" cũng như người đọc càng sốt ruột chờ đợi. Để rồi khi gặp được Nhuận Thổ, nỗi xót xa bỗng trào dâng bóp nghẹt con tim. 

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
949 lượt xem

      Ý nghĩa nhan đề truyện ngắn "Bến quê"m sắc với những cánh hoa có màu tím sẫm, là cái bờ dốc đứng, có chuyến đò ngang chạy qua mỗi ngày, là bãi bồi bên kia sông Hồng có: "màu vàng thau xen lẫn màu xanh non như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ"...

       Không chỉ có thế, "bến quê" còn là người vợ tần tảo, chăm chút anh từng li từng tí khi anh đau ốm,là bầy trẻ với những:"bàn tay chua lòng mùi nước dưa"; là ông lão láng giềng sẵn sàng giúp đỡ, hỏi han, động viên anh mỗi ngày. Như vậy, Nguyễn Minh Châu không dựng lên một bến quê chung nào đó,đây là "Bến Quê" như đầu đề tác phẩm. Nó là sự phát hiện tình đời, tình người của nhân vật (cũng như của tác giả) trước những gì thân quen nhất: hoa bằng lăng, cái bờ dốc đứng,bãi bồi bên kia sông ; thứ thương yêu nhất:người vợ; những gì hồn nhiên, gần gũi nhất: bầy trẻ, ông lão láng giềng. Tất cả là những gì giàu có, đẹp đẽ, thuần phát, cổ sơ nhất của mảnh đất đã sinh thành ra anh và sẽ nhận anh về khi nhắm mắt xuôi tay. Nhưng thật đau đớn, khi anh nhận ra giá trị bình dị, bền vững của bến quê thì cũng là lúc anh sắp từ giã cõi đời.

        Những nhận thức đau đớn đó của Nhĩ có giá trị nhắc nhở chúng ta: hãy biết giữ gìn, trân trọng "bến quê" của mỗi người. Đó là ý nghĩa mà tác giả gửi gắm đến người đọc được cô đúc qua nhan đề truyện ngắn "Bến Quê".

ST

0
phiếu
0đáp án
4K lượt xem

BÀI LÀM 

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bên cạnh những chiến sĩ Trường Sơn cầm sung “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” còn có những cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ mở đường. Tuy âm thầm, lặng lẽ song họ cũng góp công lớn trong vinh quang nước nhà. Từ tấm long yêu thương, trân trọng tính cách của những cô gái kiên cường ấy, Lâm Thị Mỹ Dạ đã viết Khoảng trời – hố bom. Bài thơ là lời tưởng niệm đầy xúc động về sự hy sinh cao cả của các cô gái mở đừơng trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Thuở nhỏ, bà hay đưa tôi vào giấc ngủ bằng những câu truyện cổ tích: “ngày xửa ngày xưa …”. Những câu truyện cổ tích có lẽ chỉ là những câu chuyện tưởng tượng, không có thật. Thế nhưng ở đây, Lâm Thị Mỹ Dạ mở đầu bài thơ của mình với: “Chuyện kể rằng …”. Không xa xôi, ảo tưởng mà câu chuyện lại nằm giữa đường Trường Sơn huyền thoại. Đó là câu chuyện về “cô gái mở đường”. Bằng sự gan dạ, quên mình:

Em đã lấy tình yêu tổ quốc của mình thắm lên ngọn lửa
Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương
Cho đoàn xe kịp giờ ra trận

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Trừơng Sơn đã trờ thành con đừơng huyết mạch nối hai miền Nam-Bắc. Cô gái trong bài thơ đã “ đánh lạc hướng thù” để các chiến sĩ thẳng tiến hành quân, tải lương, chuyển đạn … an toàn. “Ngọn lửa” mà cô đã thắp lên lúc ấy tràn đầy sức sống và niềm tin mãnh liệt vào nền độc lập mai sau của nước nhà. Nhưng đối với kẻ thù, đó là ngọn lửa đốt cháy, thiêu rụi những tham vọng điên cuồng, tàn ác của chúng, những trận “mưa” bom xối xả rơi hòng dập tắt ngọn lửa nhỏ nhoi nhưng mạnh mẽ.

Khi bình yên quay về với Trường Sơn, cũng là lúc người con gái trung kiên đã ra đi vĩnh viễn:

Em nằm dưới đất sâu
Như khoảng trời đã nằm yên trong đất
Đêm đêm tâm hồn em toả sáng
Những vì sao ngời sáng lung linh

Dẫu biết rằng chết là hết, là chấm dứt cuộc sống vật chất trên đời, song với cô gái mở đường trong bài thơ này, cái chết chưa đặt dấu chấm hết cho cuộc đời cô. Cô vẫn sống, vẫn tồn tại trong từng “hố bom”, từng “khoảng trời”. Để rồi, những lúc ấy, tâm hồn cô rực sáng, lại cháy bỏng niềm hy vọng cho tương lai. Có lẽ ở đây, Lâm Thị Mỹ Dạ đã có một cảm nhận sâu sắc, tinh tế. Niềm tin ấy cũng góp phần mang lại vẻ sáng ngời lung linh, huyền diệư của những vì sao trên bầu trời xa xăm kia.

Phép so sánh được các nhà thơ Việt Nam sử dụng khá nhiều. Tuy nhiên, trong bài thơ này, tôi lại thấy Lâm Thị Mỹ Dạ sử dụng thật huyền diệu:

Có phải thịt da em mềm mại trắng trong
Đã hoá thành những vầng mây trắng

Âm thầm, lặng lẽ cống hiến cuộc sống của mình cho Tổ quốc, cho nên khi hy sinh ít người còn nhớ đến cô. Trong những lúc ấy, nhà thơ đã cảm nhận được sự hoá than của cô vào “mây trắng”, màu của hoà bình, của sự vĩnh hằng. “Vầng dương thao thức đi qua “khoảng trời” bé nhỏ torng tâm hồn cô. Nó thao thức điều gì? Có phải ánh sáng hằng ngày mà nó mang đếin cho con người vẫn không sáng bằng lòng yêu nước của cô gái? Hay nó than phục cái nét đẹp trong tâm hồn dũng mãnh của cô? Ngay đến cả nhà thơ cũng phải thốt lên thán phục:

Hỡi mặt trời hay chính trái tim em trong ngực
Soi cho tôi
Ngày hôm nay bước tiếp quãng đừơng đời

“Trái tim” nồng nàn lòng yêu nứơc, cộng với bầu khí huyết chảy cuồn cuộn trong tâm hồn cô giờ đang rực sáng, gọi mời sự dũng cảm, gan dạ của mỗi chúng ta. “Mặt trời” ấy đã “soi” cho tôi, nhà thơ và các bạn đi tiếp quãng đừơng dài trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. Lâm Thị Mỹ Dạ có lẽ đã cảm thấy tâm hồn mình quá bé nhỏ, phân vân trứơc lời mời gọi của nhịp đập đất nước. Bởi thế tâm hồn – trái tim của cô gái mở đừơng hôm nào nay lại dẫn dắt nhà thơ đi tiếp.

Đường Trường Sơn năm ấy mang tên vị lãnh tụ dân tộc vĩ đại: Hồ Chí Minh. Nhưng với tác giả: “tên con đường là tên em gởi lại”. Con đừơng ấy gắn với cuộc sống của cô gái. Nó với cô dường như hai sự vật được tạo hoá gắn chặt với nhau. “Con đừơng đêm ấy khỏi bị thương” là nhờ phần lớn công của cô – người con gái mở đừơng.

Có thể nhà thơ, tôi và các bạn sẽ chẳng bao giờ hình dung ra đựơc gương mặt của người con gái anh hùng ấy. Dẫu “mỗi ngừơi có khuôn mặt riêng”, nhưng chúng ta hãy thử nhắm mắt lại và nghĩ về cô … Tôi chắc rằng tất cả mọi người sẽ gặp nhau tại một điểm khi hình dung về cô: sự gan dạ, anh hùng, quên mình vì sự nghiệp lớn của đất nứơc.

Khoảng trời – hố bom như đúng với tên gọi của nó, là “khoảng trời” tự do mà ngày hôm nay chúng ta có được đã phải đánh đổi với những “hố bom” chôn vùi, chấm dứt cuộc sống của một con ngừơi. Hãy sống sao cho xứng đáng với giá trị của từng “khoảng trời” ấy, bạn nhé!

Toàn bài thơ nói lên sự hy sinh cao cả của cô gái mở đừơng trong kháng chiến chống Mỹ. Điều đó đã đựơc nhà thơ cảm nhận như là sự hoá thân vào quê hương, đất nước, trong sự vĩnh hằng của thiên nhiên và trong cuộc đời của những con người. Các hình ảnh của bài thơ đựơc xây dựng theo mối liên tưởng về sự chuyển hoá, hoá thân của sự sống con người vào trong thế giới thiên nhiên, gợi ra sự hài hoà và ý niệm về sự bất tử. Trong cái nhìn thấm đầy cảm xúc, mọi sự vật, hình ảnh của thiên nhiên đều chất chứa sự sống của con ngừơi, trở nên sâu thẳm thiêng liêng và sức ám ảnh. Đọc xong bài thơ, ta cảm thấy cô gái ấy dường như vẫn còn ở đâu đó quanh ta. Xin cảm ơn Lâm Thị Mỹ Dạ - 

người con của đất Quảng Bình anh hùng. Dẫu chỉ một lần đọc qua Khoảng trời – hố bom, song ta dễ nhận ra đựơc cô gái thanh niên xung phong ngày ấy là một tấm gương tiêu biểu cho câu tục ngữ “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh…”.

0
phiếu
0đáp án
418 lượt xem

A- Mở bài

- Giới thiệu về tác giả và hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

- Nêu nhận xét chung về bài thơ (như đề bài đã nêu)

B- Thân bài

* Cơ sở hình thành tình đồng chí:

- Xuất thân nghèo khổ: Nước mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá

- Chung lí tưởng chiến đấu: Súng bên súng, đầu sát bên đầu

- Chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, họ nhập lại trong một đội ngũ gắn bó keo sơn: nước mặn, đất sỏi đá (người vùng biển, kẻ vùng trung du), đôi người xa lạ, chẳng hẹn quen nhau, rồi đến đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

- Kết thúc đoạn là dòng thơ chỉ có một từ : Đồng chí!
(một nốt nhấn, một sự kết tinh cảm xúc).

* Biểu hiện của tình đồng chí:

- Họ cảm thông chia sẻ tâm tư, nỗi nhớ quê: nhớ ruộng nương, lo cảnh nhà gieo neo (ruộng nương… gửi bạn, gian nhà không … lung lay), từ “mặc kệ” chỉ là cách nói có vẻ phớt đời, về tình cảm phải hiểu ngược lại), giọng điệu, hình ảnh của ca dao (bến nước, gốc đa) làm cho lời thơ càng thêm thắm thiết.

- Cùng chia sẻ những gian lao thiếu thốn, những cơn sốt rét rừng nguy hiểm: những chi tiết đời thường trở thành thơ (tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh,…) ; từng cặp chi tiết thơ sóng đôi như hai đồng chí bên nhau : áo anh rách vai / quần tôi có vài mảnh vá ; miệng cười buốt giá / chân không giày ; tay nắm / bàn tay.

- Kết đoạn cũng quy tụ cảm xúc vào một câu : Thương nhau tay nắm lấy bàn tay (tình đồng chí truyền hơi ấm cho đồng đội, vượt qua bao gian lao)

* Biểu tượng của tình đồng chí:

- Cảnh chờ giặc căng thẳng, rét buốt : đêm, rừng hoang, sương muối.

- Họ càng sát bên nhau vì chung chiến hào, chung nhiệm vụ chiến đấu : chờ giặc.

- Cuối đoạn mà cũng là cuối bài cảm xúc lại được kết tinh trong câu thơ rất đẹp : Đầu súng trăng treo (như bức tượng đài người lính, hình ảnh đẹp nhất, cao quý nhất của tình đồng chí, cách biểu hiện thật độc đáo, vừa lãng mạn vừa hiện thực, vừa là tinh thần chiến sĩ vừa là tâm hồn thi sĩ).

C- Kết bài 

- Đề tài về người lính của Chính Hữu được biểu hiện một cách cảm động, sâu lắng nhờ sự khai thác chất thơ từ những cái bình dị của đời thường. Đây là một sự cách tân so với thơ thời đó viết về người lính.

- Viết về bộ đội mà không tiếng súng nhưng tình cảm của người lính, sự hi sinh của người lính vẫn cao cả, hào hùng.

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

      Burke từng nói: “Không bao giờ có thể hoạch định cho tương lai bằng quá khứ”; quả không sai. Người Việt Nam xưa vẫn có câu:
“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng”

Đó là truyền thống được nhắc đến trong các tác phẩm văn học từ bao đời nay và “Ánh trăng” cũng là tâm sự thầm kín của Nguyễn Duy nằm trong mạch cảm xúc ấy. Qua bài thơ, tác giả đã kín đáo bộc lộ những suy nghĩ, chime nghiệm về một lối sống ân nghĩa thủy chung cao quý trong cuộc đời mỗi con người.

Bài thơ “Ánh trăng” ra đời vào năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc được ba năm. Trong suốt ba năm ấy không phải ai cũng còn nhớ những nghĩa tình trong quá khứ. Tác giả Nguyễn Duy viết bài thơ này như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình với chính mình và với mọi người về lẽ sống nghĩa tình thủy chung:
Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ

Khổ thơ đầu mở ra như những lời tự sự ghi lại những dòng hồi ức của tác giả về quá khứ. Bằng sự vận động của thời gian gắn bó với sự trưởng thành của nhà thơ, người đọc như thấy thấp thoáng đâu đây bóng dáng một cậu bé hồn nhiên gắn liền với những người bạn khổng lồ: “đồng”; “bể”; “sông”; “rừng” trong quá khứ. Tuổi thơ chúng ta mấy ai có được những người bạn tri âm, những khoảnh khắc giao hòa diệu vợi với thiên nhiên thôn quê như thế? Thuở bé, nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng đã có lần được “chơi” với trăng, được tắm mình trong thế giới thiên nhiên bao la nơi chính sân nhà mình:
Ông trăng tròn sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em

Tuổi thơ tác giả được nô đùa với ánh trăng, với thiên nhiên, chan hòa đến mức “trần trụi” không còn khoảng cách:
Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ

Đó là tình cảm gắn chặt keo sơn, để rồi đến khi tham gia kháng chiến, vầng trăng trở thành tri kỉ của người lính:
Hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ

Ánh trăng từ giã “đồng”; “bể”; “sông”; “rừng” để cùng người lính vào chiến trường, làm một người bạn tinh thần trong kháng chiến. Trăng với người lính, với nhà thơ trong những năm ở rừng thời chiến tranh đã trở thành “đôi bạn tri kỉ”. Ta bắt gặp những giây phút ấm nồng của sự gắn chặt keo sơn ấy trong thơ người lính lái xe Phạm Tiến Duật:
Cái vết thương xoàng mà đưa viện
Hàng còn chờ đó tiếng xe reo
Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến
Nôn nao ngồi đợi nhớ lưng đèo

hay giữa rừng khuya sương muối, người chiến sĩ đứng chờ giặc tới với tư thế bồng súng:
đầu súng trăng treo
(Đồng chí_Chính Hữu)

và ngay cả trong thơ Hồ Chí Minh, vầng trăng đã trở nên quá đỗi quen thuộc với người lính:
“Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm”

Trăng đã chia ngọt sẻ bùi suốt chặng đường hành quân, suốt những thời khắc nhuốm màu rực lửa bom đạn, trăng cùng người lính đánh phá, chống trả mưa bom quân thù:
Và vầng trăng, vầng trăng đất nước
Vượt qua quầng lửa mọc lên cao
(Phạm Tiến Duật)

…Trong giây phút khăng khít ấy, người lính đã tự hứa với bản thân mình
Ngỡ không bao giờ quên
Cái vầng trăng tình nghĩa

Vậy mà cuối cùng, cái “lời hứa” ấy đành chôn vùi vào quên lãng với dòng chảy bộn bề của thời gian. Lời hứa năm xưa nay chỉ được nhớ lại bằng từng chữ “hồi” như một điệp khúc. “Hồi” – chỉ là “hồi ấy” thôi, còn bây giờ, nghĩa tình năm xưa bị vứt bỏ. Chữ “hồi” như một điểm dừng chân giữa ranh giới ngày ấy và hôm nay để bây giờ đưa người đọc lần về quá khứ. Lời thơ mỗi lúc một nhẹ nhàng, như lời thủ thỉ tâm tình kéo độc giả cuốn vào mẩu chuyện nhỏ. Điều “ngỡ không bao giờ quên ấy” nay đã không còn nữa
Từ hồi về thành phố
Quen ánh điện cửa gương
Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường

Vầng trăng là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung. Hình ảnh ánh trăng đang dần được nhân hóa lên: lặng lẽ “đi qua ngõ”… Ba năm sau kháng chiến, hòa bình được lập lại trên đất nước phồn hoa, trên thành phố hoa lệ. Cái thiên nhiên vĩ đại nguyên sơ ngày xưa: “đồng”; “bể”; “sông”; “rừng” biến mất, thay vào đó là một kích cỡ nhân tạo, cũng đồ sộ nhưng lộng lẫy hơn, uy nghi hơn, chói lòa hơn. Cuộc đời đổi thay, con người thay đổi, người ta bon chen hơn, ích kỉ hơn, vật chất hơn, gác lại cuộc sống tâm hồn vào góc quá khứ. Cũng như con đường lúc thẳng lúc vòng, lúc ngoặt, cuộc đời cũng có những lúc như thế! Trở lại cuộc sống thị thành của những con người vừa về thành phố, ta bắt gặp người lính năm xưa nay đang sống trong bủa vây tiện nghi sang trọng “ánh điện cửa gương” và những phòng “buyn-đinh” cao chót vót. Cuộc sống quá sung túc, đầy đủ đã khiến cho “cái vầng trăng tình nghĩa” ngày nào dẫn vùi vào quên lãng. Những no đủ của cuộc sống hấp dẫn hơn cái tình nghĩa năm xưa hay sao? Hấp dẫn hơn cả quá khứ gian lao nơi chiến trường thắm tình đồng chí, đồng đội. Trăng nay thành “người dưng”, người xa lạ không quen không biết, tác giả không còn nhận ra người bạn tri kỉ hôm nào. Với kết cấu đối lập, “ánh điện cửa gương” sáng lòa lộng lẫy và “ánh trăng” dịu nhẹ thanh cao, tác giả như đang muốn bộc lộ một lời tự thú chân thành từ tận đáy sâu tấm lòng tác giả:
Thình lình đèn điện tắt
Phòng buyn-đinh tối om
Vội bật tung cửa sổ
Đột ngột vầng trăng tròn

“Thình lình” và “đột ngột” không khỏi làm người đọc giật mình trước sự cố “mất điện” tại thành phố phồn hoa. Lúc ấy, mọi tầm cỡ tiện nghi bỗng trở về với nấc thanh số không tròn trĩnh. Cử chỉ “vội bật tung cửa sổ” như một phản xạ tự nhiên trong bóng tối con người hướng ra ánh sáng, chứ thực sự đó không phải là chủ ý đi tìm lại người bạn năm xưa của người lính. Và rồi không chỉ bạn đọc, mà ngay cả tác giả cũng phải giật mình khi “đột ngột vầng trăng tròn”. Ánh trăng năm xưa nay đang đứng im trước mặt người lính. Ánh trăng ấy vẫn đẹp, vẫn tròn, vẫn nồng diệu một thứ ánh sáng huyền ảo, lung linh. Nhưng vầng trăng kia xuất hiện đâu phải chỉ “cứu giúp” nguồn ánh sáng cho người lính mà nó còn mang lại sự xáo trộn trong tâm hồn người thi sĩ:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng

Hai khuôn mặt tri âm tri kỉ ngày nào giờ đang đối diện nhau. Nguyễn Duy gặp lại người bạn năm xưa, kéo theo cả một vùng trời thôn quê quá khứ. Hai bên chẳng nói chẳng rằng, vầng trăng chỉ đứng yên vậy mà người lính lại thấy “có cái gì rưng rưng”. Kỉ niệm tuổi thơ ngày nào giờ lại ùa về đánh thức tâm hồn người chung cuộc
như là đồng là bể
như là sông là rừng

Cảm xúc dâng trào mạnh mẽ với nhịp thơ gấp gáp dồn dập “như là”. Phải chăng đó chính là xúc cảm trong nỗi niềm xót xa ân hận vừa chợt nhớ lại quá khứ? Hóa ra kí ức chỉ tạm lắng xuống do con người quá mải mê tìm những thứ vật chất vô danh trước cuộc sống bộn bề bởi khi có tác động, nó lại sống dậy mạnh mẽ như chưa từng quên đi.
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình

Hình ảnh ánh trăng “tròn vành vạnh” cho thấy quá khứ ngày đó nay vẫn vẹn nguyên, vẫn đẹp viên mãn, vẫn đầy đủ không khiếm khuyết dù ai kia vô tình, đổi thay. Và để rồi bởi chính trăng vô ngôn, không một lời trách móc đã khiến cho “người vô tình” nay bỗng “giật mình” tỉnh ngộ. Cái “im phăng phắc” của trăng vừa biểu thị sự bao dung độ lượng, vừa gây nỗi ám ảnh, dằn vặt bởi im lặng chính là sự trừng phạt đích đáng nhất dành cho những người lãng quên quá khứ, lãng quên lời hứa năm xưa của mình. Chính cái im lặng của ánh trăng đã gây xáo trộn những mơ mộng “ánh điện cửa gương” của con người, khiến con người phải dày xé tâm can, phải dằn vặt đau đớn.

Ánh trăng cũng chính là một biểu tượng thức tỉnh con người trở về với lối sống ân nghĩa thủy chung, “uống nước nhớ nguồn”. “Tòa án lương tâm” của con người ngay lập tức mở ra khi đối diện với quá khứ nghĩa tình, để con người nhận ra mình đang đứng ở đâu khi đã quên đi quá khứ. Người lính “giật mình” để nhìn lại chính mình, “giật mình” để thức tỉnh lương tam, “giật mình” để trân trọng lại quá khứ và “giật mình” để trở về với những giá trị cao đẹp vĩnh gằng. Cũng giống như Lí Bạch khi xa quê:
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương
(ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương)

Giữa miền đất xa lạ, Lí Bạch nhìn vầng trăng để nhớ về quê hương mình, như níu lấy chút gì đó để sưởi ấm tam hồn người lữ khách. Còn với Nguyễn Duy, vầng trăng trên bầu trời kia còn gợi lại cả quá khứ đặc biệt làm cho tâm hồn thi sĩ và bạn đọc trở về với chính mình. 

Bằng hình tượng “ánh trăng” thấm đượm ý nghĩa nhân văn, Nguyễn Duy đã gửi tới bạn đọc một lời nhắn gửi, một bức thông điệp thiết tha: “Hãy lắng lại một chút cái bận bịu cuộc sống để nhìn lại bản thân mình”. Qua thể thơ ngũ ngôn với giọng thơ chân thành, nhỏ nhẹ mà thấm sâu, hình ảnh giàu biểu tượng với ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, tác giả đã bộc lộ những suy nghĩ về một lẽ sống ân nghĩa, thủy chung cao quý trong cuộc sống. Ngoài ra với chữ cái đầu câu thơ không viết hoa, tác giả đã thành công khi để cho mạch cảm xúc trôi theo dòng chảy thời gian, theo mạch tự sự để bạn đọc có thể giao cảm với một tâm hồn đang hướng tới cái đẹp đáng trân trọng. Như Anatole Francel đã nói: “Đừng đánh mất quá khứ vì với quá khứ, người ta xây dựng tương lai”.
ST 
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Tham khảo

I – MB

“Bến quê” là một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Minh Châu ( trong tập truyện “Bến quê”, xuất bản 1985) , chứa đựng nghững chiêm nghiệm, triết lí về đời người cùng những cảm xúc tinh nhạy, được thể hiện bằng một lời văn tinh tế, có nhiều hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng.

II – TB

*Trong truyện “Bến quê” hầu như mọi hình ảnh đều mang hai lớp nghĩa: nghĩa thực và nghĩa biểu tượng. Hai lớp nghĩa này gắn bó thống nhất .

1 - Hình ảnh bãi bồi bên kia sông trong truyện mật thiết với nhan đề tác phẩm “ Bến quê”. Cái “Bến quê” trong truyện được dùng một cách chung chung có vẻ mơ hồ bỡi tác giả không nhằm dẫn dắt người đọc đến một bến sông, một bến đò, ...cụ thể nào. Cái bến đò ngang nói trong truyện cũng là một sự tưởng tượng mà thôi. “Bến quê” chỉ là một sự ám chỉ... Bến quê chính là điểm xuất phát đồng thời cũng là chỗ neo đậu cuối cùng của cuộc đời mỗi con người. Cho nên bất cứ ai đang trên cuộc hành trình của đời mình, dẫu thuận buồm xuôi gió, hoặc bao táp phong ba, dẫu còn hưng hái xông pha hay đã sức tàn, lực kiệt cũng phải nhớ về nơi mình đã xuất phát. Bến quê là cái gì đó cụ thể thiêng liêng, thế nhưng không phải lúc nào ta cũng có ý thức được như vậy...Tất cả những cách hiểu, cách nghĩ ấy được gợi ra bởi tính ám chỉ của tên truyện này. Và quả chỉ một cái tên truyện đã cần có một con mắt tinh đời mới phát hiện được cái ẩn ý nói trên.

2 -Hình ảnh bãi bồi, bến sông và toàn bộ khung cảnh thiên nhiên được dựng lên trong truyện thực ra cũng mang ý nghĩa khái quát, biểu tượng. Đó là vẻ đẹp của đời sống trong những cái gần gũi, bình dị , thân thuộc, như một bến sông quê, một bãi bồi,...rộng ra là quê hương ,xứ sở.

3 -Cảnh vật thiên nhiên trong một buổi sáng đầu thu, qua cái nhìn của nhân vật Nhĩ hiện ra với vẻ đẹp riêng. Những chùm hoa bằng lăng cuối mùa thưa thớt nhưng lại đậm sắc hơn ; con sông Hồng màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra; vòm trời như cao hơn. Không gian và những cảnh sắc vốn quen thuộc, gần gũi, nhưng lại như rất mới với tất cả vẻ đẹp và sự giàu có của nó.

4 - Những chùm hoa bằng lăng cuối mùa thưa thớt nhưng lại đậm sắc hơn ;tiếng những tảng đất lở ở bờ sông bên này, khi cơn lũ đầu nguồn dồn về, đổ ụp vào trong giấc ngủ của Nhĩ lúc gần sáng . Hai chi tiết này gợi ra cho biết sự sống của nhân vật Nhĩ đã ở vào những ngày cuối cùng.

5 - Điều khát khao nhưng vô vọng của Nhĩ lúc này là được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Đây chính là những khát khao muốn tìm kiếm những giá trị gần gũi nhưng đích thực và sâu xa trong cuộc sống nơi quê hương mà con người vì những bồng bột và những ham muốn xa vời lúc còn trẻ đã bỏ qua nó.

6 -Giờ đây anh phải nhờ đứa con trai thay mình sang bờ bên kia sông đặt chân lên bãi phù sa màu mỡ ấy bỡi anh không thể nào thực hiện được niềm khao khát ấy. Người con trai không hiểu ý muốn của cha nên làm việc một cách miễn cưỡng bị hút vào trò chơi hấp dẫn bên đường và có thể lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày, giúp anh nhận ra một qui luật của cuộc đời: “ Khó tránh khỏi những điều vòng vèo, chùng chình trong cuộc sống” và những vẻ đẹp, những giá trị bền vững, giản dị, gần gũi của cuộc sống, của quê hương thì chỉ những người từng trải như anh mới hiểu được.

7 -Hành động cuối cùng của Nhĩ ở cuối truyện khi anh thu hết tàn lực “giơ một cánh tay gầy guộc ra ngoài cửa sổ khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó” vừa có ý nghĩa là anh đang thúc giục cậu con trai đừng để lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày vừa có ý nghĩa khái quát tượng trưng. Đó là muốn thức tỉnh mọi người hãy thoát ra khỏi cái vòng vèo , chùng chình trong cuộc sống mà chúng ta đang sa vào để hướng tới giá trị đích thực, bền vững mà gần gũi trong cuộc sống đời thường.

III-KL

“ Bến quê” quả thực là một tác phẩm đã sáng tạo được nhièu hình ảnh vừa có ý nghĩa thực vừa có ý nghĩa biểu tượng. “Mặt sông”, “vòm trời”, “bãi bồi” , là những hình ảnh cụ thể biểu tượng cho quê hương xứ sở. Những bông hoa bằng lăng cuối mùa, tiếng những tảng đất lở bên bờ sông...là biểu tượng cho sự sống của Nhĩ đang ở vào những ngày cuối cùng. Đứa con trai của Nhĩ với sự “chùng chình” của nó gợi cho ta hình ảnh của Nhĩ trước đây cũng luôn chùng chình và vòng vèo...Đặt nhân vật vào những tình huống nghịch lí để khám phá, phát hiện ra những điều có tính qui luật trong cuộc đời, Nguyễn Minh Châu đã thức tỉnh mọi người: những giá trị và vẻ đẹp đích thực của đời sống chính là những cái gần gũi, bình dị quanh ta.

0
phiếu
0đáp án
354 lượt xem

BÀI LÀM

Trong những tháng ngày kháng chiến trừơng kỳ chống ngoại xâm của dân tộc, biết bao người đã hăng hái lên đường. Chiến trừơng là nơi hội tụ của hàng triệu tấm lòng yêu nứơc. Họ ra đi bỏ lại sau lưng một vòm trời thân thuộc, một giếng nứơc, gốc đa, mái đình cổ kính… để dấn thân vào cuộc sống gian lao đầy thử thách. Dần dần tình cảm giữa người và người càng trở nên sâu sắc, nó đan kết thành mối tình đồng chí. Nửa thế kỷ đã chắp cánh bay đi nhưng bài thơ Đồng chí của Chính Hữu vẫn còn đó, đọng mãi trong tâm hồn mỗi người, giúp ta hiểu rõ hơn cuộc kháng chiến chống Pháp của ông cha mình. 

Quê hương anh nứơc mặn đồng chua

Đầu súng trăng treo.

Quê hương mỗi ngừơi mỗi khác, cũng như quê hương của những người trai hùng đều có nét đặc biệt riêng của nó.

Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Tôi với anh đôi ngừơi xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.

Họ là những người xuất thân từ nhân dân lao động, chỉ quen với việc cấy cày, xem con trâu là bạn. Họ đến từ nời “nước mặn đồng chua” hay “đất cày lên sỏi đá” và chẳng ai quen ai, họ chỉ là đôi ngừơi xa lạ ở hai phương trời. Câu thơ gợi lên sự cảm thông suy nghĩ đồng điệu của những con người cùng cảnh ngộ. Thành ngữ “nứơc mặn đồng chua” đi vào thơ thật tự nhiên, giản dị như cuộc sống lam lũ gian nan của họ và họ đã:

Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

“Súng bên súng” và “đầu bên đầu”, họ đã thật sự cùng chung hành động, chung chí hướng rồi đây! Trong đêm lạnh giá, gian khổ, họ chia sẻ cho nhau chiếc chăn đơn và suy nghĩ về những gì tươi sáng của cuộc đời. Đọc đến đây, ta không khỏi nhớ đến hai câu thơ của Tố Hữu:

Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng

Mong manh quá phải không? Chiếc chăn đơn làm sao sưởi ấm đêm trừơng! Thế nhưng nó đã ấp ủ tình đồng chí từ rất lâu.

Tiếng thơ da diết phút chốc bỗng ngắt riêng ra thành hai tiếng hay đúng hơn là một câu thơ: “Đồng chí”, buộc độc giả phải dừng lại ngẫm nghĩ điều mà hai tiếng ấy đã gợi lên. Phải chăng tình đồng đội của họ đầy ắp đến không còn gì để tả xiết hay nó quá thân thương? Họ cùng chung con đường, chung lý tưởng và tình bạn được nâng cao mãi thành mối tình “đồng chí”. Hai tiếng “đồng chí” nghe sao quen thuộc, giản dị được đúc nên do quá trình bồi đăp của tình cảm con ngừơi! Và dấu chấm than đi sau hai tiếng ấy bỗng chứa chất và ngân rung mãi sợi dây tình cảm. Hai tíêng, hai tiếng htôi mà nói được rất nhiều…

Đọc tiếp bài thơ, ta càng thấy tình đồng chí sâu sắc đến dường nào.

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nứơc gốc đa nhớ ngừơi ra lính

Quả thực, họ đã gác bỏ mọi thứ vốn đã ấp ủ và gắn chặt họ với xóm làng thân thuộc. Họ ra đi để tìm một lý tưởng cao hơn nữa, đó là tình yêu đất nứơc, yêu quê hương. Đến đây, ta liên tưởng đến hai câu thơ của Nguyễn Đình Thi:

Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

Người lính ra đi còn biết làm gì khác ngoài giải phóng cho chính quê hương mình. Đồng ruộng và gian nhà kia đang bị nỗi hoang vắng bao trùm. Ruộng thì gửi bạn thân cày, gian nhà thì “mặc kệ” gió lung lay. Dường như tất cả đều vô tư lự, cứ để cho nó tự nhiên đến. “Mặc kệ” hay “đầu không ngoảnh lại” buộc thốt lên chẳng qua để chế ngự những tình cảm bên trong vốn thắm thiết đang dằn vặt họ.

Nhưng không, hãy nhìn giếng nứơc và gốc đa kia đi! Chúng cũng có tâm hồn đấy chứ! Chúng cũng nhớ ngừơi trai ra đi vì nghĩa cả. Từ “nhớ” như xoáy vào lòng người ra đi bởi những cái tưởng như không là gì mà biết nhớ nhung, chời đợi. Đó là những lúc tựa gối bên nhau, họ lại kể cho nhau nghe chuyện quê nhà. Chỉ với ba câu thơ thôi mà đã diễn tả đựơc cái xác xơ, tiêu điều của quê hương anh thời lửa đạn. Họ phải ra đi, ra đi để giải phóng cho quê hương mình, có gì đâu để mà tiếc mà thương.

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ứơt mồ hôi

Những đêm trời trở rét, họ đã và phải hứng chịu tất cả. Còn gì đáng sợ bằng những cơn sốt rét hành hạ bản thân anh, chúng như con ma rừng ám ảnh chiến sĩ Trường Sơn heo hút. Dẫu cho vầng trán có đẫm mồ hôi vì cơn sốt rét, dẫu cho:

Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá.

Thì anh vẫn: 

Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau, tay nắm lấy bàn tay.

Đêm nay gió rét lại về và đêm nay các anh lại phải đứng chờ giặc. Cảm động làm sao khi giữa trời khuya lộng gió có những con người đứng gác trên núi đá cheo leo hay giữa đồng không mông quạnh. Sương muối rót vào lòng khác chi ướp một tảng băng vào người. Thế nhưng các anh vẫn đứng đó vàe các anh mãi đứng đó, đứng để chờ giặc hay đứng để chờ một ngày mai rực rỡ!
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo!

Từ “đứng” chung hành động và từ “chờ” cũng lại chung cùng một hành động. Ý thơ thật hiên nganhg mà cũng thật thầm kín.

Hình ảnh “đầu súng trăng treo” quả là sinh động. Hai hình ảnh súng và trăng sao gần gũi đến lạ. Chúng dường như đã sẵn là xa nhau đến vời vợi mà giờ đây lại kề cận bên nhau. Súng – hình ảnh chiến sĩ; trăng – hình ảnh thi sĩ. Súng – chiến trường ác liệt, trăng – hình ảnh thanh bình. Không phải ngẫu nhiên thơ Chính Hữu lại có hình ảnh súng và trăng lãng mạn. Dường như nó đã được đặt sẵn lúc nào không hay bởi người chiến sĩ đôi lúc cũng phải thả hồn mình để bay bổng lên cao, hay bị chị Hằng làm say bởi ánh sáng tựa như mơ hồ của trăng mây và gió. Thơ Chính Hữu trữ tình và lãng mạn, nó thấm đượm tinh thần đồng đội và cao hơn nữa là tình “đồng chí”. Hình ảnh trăng và súng là một bởi nó đã gắn bó với ông trong suốt trừơng kỳ cách mạng.

Đọc thơ Chính Hữu, chắc ai cũng ít nhiều hiểu được tâm tư tình cảm của người chiến sĩ. Những con người đã quên mình vì sự nghiệp giải phóng cho quê hương, đất nước.
ST 
1234Trang sau 153050mỗi trang
112

bài tập

Chat chit và chém gió
  • theoofman1093: q 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: u 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: v 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: ư 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: y 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: z 5/8/2020 9:25:29 PM
  • theoofman1093: tui bây ngu như pò 5/8/2020 9:25:38 PM
  • theoofman1093: è 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: sg 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: h 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: sdg 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: ggg 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:05 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:48:06 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:07 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:10 PM
  • theoofman1093: dfgfg 5/8/2020 9:48:11 PM
  • vingoc: hi mn 11/13/2020 9:28:11 PM
  • vingoc: em mới vào ạ 11/13/2020 9:28:24 PM
  • vingoc: ở đây có ai lớp 7 ko ạ? 11/13/2020 9:29:13 PM
  • duolingo: 9 3/28/2021 11:19:10 AM
  • huongmaixm01: văn lớp 9 7/2/2021 11:26:56 AM
  • minhmama357: hi 8/13/2021 4:22:39 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • vipof95962: me may beo vai 11/20/2022 11:53:17 AM
  • vipof95962: wanna watch hentai 11/20/2022 11:53:47 AM
  • vipof95962: laughing 11/20/2022 11:53:49 AM
  • vipof95962: sex is good for you 11/20/2022 11:53:56 AM
  • kkkkkkkk: free fire 11/27/2022 3:22:24 PM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely
  • nguyennhung9904
  • duolingo
  • duolingo