Các ý chính:
1. Giới thiệu chung về bài thơ và vị trí của đoạn trích
Tràng giang được in trong tập "Lửa thiêng" $(1940)$, là bài thơ thuộc loại nổi tiếng nhất của Huy Cận đồng thời cũng là kiệt tác của thơ Việt Nam hiện đại. Trong bài thơ, tác giả đã thể hiện tâm trạng cô đơn của mình trước cuộc đời, trước vũ trụ bằng một bút pháp nghệ thuật vừa cổ kính vừa hiện đại. Khổ thơ bình giảng là khổ thứ hai của bài thơ. So với các khổ thơ khác, ở đây, nỗi buồn có những sắc điệu riêng và đối tượng miêu tả cụ thể cũng có những nét khác biệt.
2. Bình giảng hai câu đầu
a) Hai câu thơ chứa đựng những nét chấm phá về các bãi cồn trên dòng sông. Không gian hầu như vắng lặng, cảnh vật nhốm vẻ đìu hiu, tàn tạ, thể hiện sâu sắc cõi lòng nhân vật trữ tình: buồn sầu, cô đơn, khát khao được nghe những tiếng vọng thân thiết của cuộc đời.
b) Các từ láy "lơ thơ" và "đìu hiu" được dùng rất đắt, vừa có giá trị tạo hình vừa giàu khả năng biểu đạt tâm trạng. Riêng từ đìu hiu gợi nhớ đến một câu thơ trong Chinh phụ ngâm ("Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò"). Trong câu thứ hai, sự xuất hiện của "tiếng làng xa vãn chợ chiều" chỉ làm cảnh buồn hơn, bởi đây là "âm thanh" vọng lên từ tâm tưởng, từ niềm khao khát của nhà thơ. (Chú ý: việc cắt nghĩa câu thứ hai phụ thuộc phần lớn vào cách hiểu từ "đâu"; hiểu "đâu" là không có hay đâu đây có những căn cứ nhất định, vì vậy, ở đây để chừa một "khoảng trống" cho sự phát biểu cảm nhận riêng của người viết).
3. Bình giảng hai câu cuối
a) Hai câu thơ mở rộng không gian miêu tả ra nhiều chiều với hình ảnh của nắng xuống, trời lên, sông dài, bến vắng. Theo hướng mở rộng đó của không gian, nỗi sầu của nhân vật trữ tình như cũng được lan ra đến vô cùng, không có cách gì xoa dịu được.
b) Hình thức đối của cổ thi được sử dụng khá linh hoạt trong hai câu thơ, tạo nên sự hài hòa về hình ảnh và nhịp điệu. Cùng với việc vẽ ra những chuyển động ngược hướng (nắng xuống, trời lên) ở câu ba, tác giả đã dùng dấu phẩy ngắt câu thơ thứ tư thành ba phần, biểu thị ba hình ảnh độc lập (sông dài, trời rộng, bến cô liêu). Nhờ lối diễn tả này, tính chất phân ly của cuộc đời tô đậm thêm. Cách kết hợp từ trong câu ba cũng hết sức đáng chú ý. Khi viết "sâu chót vót", tác giả không chỉ muốn diễn tả độ cao của bầu trời mà còn muốn biểu hiện cảm giác chới với, rợn ngợp của con người khi đối diện với cái hun hút, thăm thẳm của vũ trụ (rất có thể từ sâu chợt đến trong liên tưởng thơ của thi sĩ khi ông nhìn thấy ánh phản chiếu vời vợi của bầu trời xuống mặt nước).