0
phiếu
0đáp án
737 lượt xem

       Vấn đề giáo dục luôn được chú trọng hàng đầu đối với mọi quốc gia trên thế giới không chỉ ở trong thời kì phát triển như ngày nay mà nó đã được áp dụng từ xa xưa thời phong kiến. Việc giáo dục rất cần thiết để tạo ra nhiều người công dân có ích cho xã hội. Giáo dục ở đây ngoài việc bồi dưỡng về mặt kiến thức mà còn giáo dục việc làm người, đây là điều cốt yếu. 
        Để trở thành một người công dân có ích thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải là một học sinh chân chính. Ông bà ta có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về” cho thấy việc giáo dục con người phải bắt đầu khi còn là một đứa trẻ. “Tre già, măng mọc”, trẻ em hôm nay là những mầm non của tương lai đất nước sau này vì thế những mầm non ấy cần được giáo dục kỹ càng ngay khi còn là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường. Người xưa có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn”, việc giáo dục đạo đức con người là quan trọng hàng đầu, cần phải thực hiện đầu tiên, sau đó mới tới việc dạy chữ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Người có tài mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó” vì thế để trở thành một người có ích thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải là một học chân chính, siêng năng học tốt.
        Người công dân có ích là người có đạo đức tốt, không tham gia các tệ nạn xã hội, biết cống hiến hết mình năng lực của bản thân cho đất nước và xã hội. Để trồng một cây con lớn lên, chúng ta phải tốn thời gian khá lâu, nhưng chúng ta phải tốn gấp nhiều lần thời gian ấy để “trồng” một con người có ích. Để có được một phẩm chất đạo đức tốt thì cần phải rèn luyện một thời gian dài, ngay từ khi còn bé chứ không thể vài ngày, vài năm như trồng một cây con. 
        Học sinh chân chính là một học sinh có đạo đức tốt,hiếu thảo với cha mẹ, ngoan ngoãn vâng lời thầy cô, siêng năng học tốt. Từ nhỏ, ở nhà cha mẹ đã dạy và tập cho chúng ta nhiều điều hay như gặp người lớn hơn mình phải cuối đầu chào, nhặt được của rơi không được lấy nhà phải trả cho những người bị mất, không được nói tục, chửi thề,…. Và đến khi vào lớp, thầy cô cũng dạy cho chúng ta như thế, phải học thuộc và làm theo những điều trong sách Đạo đức-sách giáo dục công dân, nghiêm cấm không tham gia vào các tệ nạn xã hội. Đạo đức là cái gốc của con người và những việc làm tốt thường xuyên thực hiện dần dần chúng thấm nhuần vào ta tạo thành đức tính và thói quen mà nó sẽ theo ta đến khi trưởng thành, và thế là chúng ta đã, đang và sẽ trở thành những con người có ích.
        Bên cạnh đó là những học sinh thiếu ý thức, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học, cứ long nhong chơi bời, thậm chí còn bị tham gia các tệ nạn xã hội, bài bạc, rượu bia, hút chích,… trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Họ thành ra như vậy một phần là do thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục từ gia đình. Do cha mẹ quá bận rộn làm ăn kiếm tiền hoặc những nguyên nhân chủ quan khác mà bỏ bê con cái, việc này làm ảnh hưởng rất lớn đến tâm lí của chúng và phần còn lại là do những học sinh đó thiếu ý thức, suy nghĩ còn non trẻ, ham chơi, đua đòi,… rồi tất cả đã vô tình bước vào một con đường đen tối, trở thành gánh nặng cho cộng đồng và xã hội.
          Có những mảnh đời bất hạnh, từ khi sinh ra đã thiếu đi tình cảm gia đình, sự thương yêu của cha mẹ và cũng không được hưởng thụ về mặt vật chất. Đó là những trẻ em đường phố, cuộc đời em như những nhánh lục bình trôi lênh đênh trên mặt nước, vô bến bờ. Thiếu tình thương, không có điều kiện để sống tốt và được giáo dục đàng hoàng nên một số đã khờ dại vướn vào các tệ nạn xã hội. Một nguyên nhân nữa là do sự thờ ơ của cộng đồng, một vài người không những không biết thương cho số phận của họ, mà còn tỏ ra kinh tởm và khinh bỉ, họ miệt thị những đứa trẻ đó. Khiến chúng tự kỉ và rồi một số thiếu ý thức đã rơi vào hố sâu của tệ nạn, làm xã hội có thêm một gánh nặng.
        Nhưng chúng ta thấy, để trở thành một người có ích không phải khó mà cũng không phải dễ dàng gì. Điều cốt lõi ở đây là việc giáo dục, nhất là giáo dục đạo đức của học sinh. Vì thế để tất cả những mầm non tương lai của đất nước đều trở thành những công dân có ích thì nhà nước ta phải càng chú trọng đầu tư vào việc giáo dục hơn nữa và cần thiết nhất là phải có thêm nhiều chính sách xã hội cho những trẻ em đường phố, vì chúng cũng là những mầm non của đất nước sau này. Bên cạnh đó, tình cảm và sự quan tâm của gia đình cũng rất quan trọng. Nó quyết định tương lai, đức tính của một con người và cả đất nước, xã hội.
Nước ta là một nước đang phát triển, nhà nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì thế xã hội đang rất cần nhiều công dân có ích để chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước giàu mạnh, do vậy nên mỗi học sinh chúng ta cần phải ý thức thật tốt, là một học sinh chân chính để trở thành những người có ích cho đất nước mai sau.
Sưu tầm 
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

DÀN Ý

1/ Mở bài 
     - Trên thế giới , từ xưa đến nay , hầu như bất kì ai cũng có một người bạn , một tình bạn . Ở VN từng có tình bạn đẹp như : Lưu Bình – Dương Lễ …
     - Ý nghĩa của tình bạn đối với con người như thế nào ? Ngoài sự khôn nhoan điều quý nhất mà thượng đế ban cho con người là tình bằng hữu ( La Rơ – sơ- phu -cô – nhà tư tưởng pháp thế kỉ XVII).

2/ Thân bài 
a/ La Rơ –sơ – phu – cô muốn khẳng định điều gì qua lời phát ngôn ấy ? 
       - Tình bạn là một trong những điều quý giá nhất trên đời , một ân huệ thiêng liêng mà thượng đế ban cho con người , một quà tặng của sự sống. 
        - Con người ta không thể sống mà không có tình bạn , thiếu tình bạn là một thiệt thòi không gì bù đắp được.

b/ Đem tình bạn gắn liền với sự khôn ngoan , nhà tư tưởng pháp có ý nhấn mạnh điều gì?
        - Con người cần có sự khôn ngoan , nhưng con người cần có bạn , có tình bạn.
       - Không thể đem sự khôn ngoan thay thế cho tình bạn. có những trường hợp sự khôn ngoan phải nhường chổ cho tình bạn. 
       - Không thể đem tính toán hơn thiệt làm chuẩn mực cho tình bạn . nếu sự khôn ngoan là lí trí giúp con người có lí lẻ , sự nhạy bén để tính toán việc đời , thì tình bạn xuất phát từ tình cảm vô tư và chân thành. 

c/ Bày tỏ ý kiến của bản thân 
       - La Rô – sơ –phu-cô đã có một quan niệm rất chính xác về tình bạn . Đó là một ân huệ mà cuộc sống đã ban cho , một thứ tình cảm thiêng liêng chỉ con người mới có. 
        - không có tình bạn cuộc sống sẽ buồn tẻ vô cùng con người sẽ chỉ đơn độc như con thú. 
        - Tình bạn là một nguồn chia sẻ , động viên đã giúp cho con người vượt lên bao khó khăn có thể cả những lúc bế tắc tưởng chưng như không thể nào vượt qua nổi. 
         - Một tình bạn chân thành , một người bạn tốt có thể giúp cho con người trở nên tốt hơn. 
        - Một tình bạn tốt phải là một tình bạn vô tư , vượt lên những tính toán thiệt hơn , những cân nhắc lạnh lùng của trí tuệ. 
        - Một tình bạn tốt nhiều khi đòi hỏi sự hi sinh . Không phải ngẫu nhiên mà người VN ngày xưa và cả ngày nay coi câu chuyện của Lưu Bình – Dương Lễ là câu chuyện đẹp đẽ nhất của tình bạn . Người đọc thơ cũng quý trọng Nguyễn Khuyến với những câu thơ thể hiện một cách nghĩ vô tư về tình bạn :
“ Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác
Tôi lại đau trước bac mấy ngày
Làm sao bác vội về ngay
Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời !

3/ Kết bài 

       - Sống trên đời , phải có bạn , phải xây dựng cho mình một tình bạn tốt .
       - Chỉ thực sự có bạn tốt khi chính mình cũng tốt trong tình bạn , phải biết vô tư , phải biết quên mình trong tình bạn 

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
946 lượt xem

BÀI LÀM
      “ Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu, mà ở chỗ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”. Câu nói của Let-xinh gợi cho ta nhiều suy nghĩ về những thành công và thất bại trong hành trình tìm kiếm những giá trị cao đẹp của đời sống con người.
       Trong cuộc sống, con người luôn khao khát khám phá những giá trị của bản thân mình: Mình đang đứng ở đâu? Mình là ai trong mắt mọi người, trong đời sống xã hội? Xác định được vị trí, hiểu được vị trí bản thân là nhu cầu tất yếu, chính đáng của mỗi con người. Song, không phải ai cũng có được nhận thức đúng đắn về điều đó. Có những kẻ luôn ngộ nhận về khả năng của mình, họ cho rằng mình là số một, là chân lí của cuộc sống. Đó là tư tưởng của những kẻ độc tài, tự kiêu và tự phụ. Lại có người nhút nhát, sợ sệt mọi thứ, không bao giờ nghĩ rằng mình có thể làm được điều gì có ích. Đó lại là những người tự ti. Rõ ràng “ Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu”, tức là giá trị của con người không nằm ở những gì tốt đẹp, đúng đắn mà bản thân họ có hay họ nghĩ rằng mình có. Vậy giá trị ấy nằm ở đâu? Nó nằm ở những “ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí” . Vậy là điều được ghi nhận trong giá trị của con người là những nỗ lực, những cố gắng trong hành trình đi tìm và vươn tới cái đẹp , cái thiện ở đời.
        Cuộc sống là hành trình con người đi tìm mình và tự khẳng định mình. Ai cũng khao khát vươn tới cái hoàn mĩ của sự sống. Nếu con người đạt được một điều nào đó, một chân lí trong cuộc sống thì chân lí đó đã được con người chiếm lĩnh. Nhưng thật bất hạnh nằm ở việc chân lí cũng có tính tương đối, nó có thể đúng trong nhiều trường hợp nhưng lại sai trong một số trường hợp. Vậy nếu con người bằng lòng chân lí mình có, dừng lại cuộc hành trình tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống thì khi ấy con người thất bại. Vậy kết quả của mọi công việc chưa phải là điều lớn nhất mà chúng ta đòi hỏi ở một con người. Quan trọng là con người ấy đã vượt khó, vượt khổ để đi tới thành công. Chính trong quá trình vượt qua những gian khó mà con người nhận lãnh trên đường đi tìm chân lí đã giúp họ bộc lộ nhiều phẩm chất, đức tính của mình. Đó có thể là sự chăm chỉ cũng có thể là lười nhác. Đó có thể là can đảm cũng có thể là hèn nhát. Đó có thể là sáng tạo, năng động nhưng cũng có thể là thụ động, máy móc. Đó có thể là sự chân thành nhưng cũng có thể là sự dối trá. Hành trình đi tìm cái đẹp là hành trình chạy đua trong một đường hầm kín. Kẻ về đích sớm nhất , ló dạng ra khỏi đường hầm sớm nhất chưa chắc là kẻ nhanh nhất, giỏi nhất, tốt nhất. Chính bởi những điều ấy, giá trị đích thực của một con người phải là: “ những gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”.
      Qua quá trình vượt qua những điều khó khăn ấy, con người bộc lộ những phẩm chất, giá trị của mình. Trong cuộc đời này, mọi người đang cùng đứng trên một quả đất nhưng mặt đất chúng ta đứng không bằng phẳng mà chỗ cao, chỗ thấp bởi mỗi người một hoàn cảnh, một điều kiện khác nhau. Còn chân lí lại là một độ cao nhất định mà tất cả chúng ta phải vươn tới mới đạt được. Vậy thì, giá trị của mỗi người không nằm ở việc ai chạm tay vào chân lí sớm hơn mà nằm ở việc đã bước đi như thế nào từ vị trí của mình để đến được với chân lí.
Theo Sách Chuyên đề Văn nghị luận XH*
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Bài viết
          Học tập là mục tiêu suốt đời của mỗi người. Chúng ta hiện nay đang phấn đấu xây dựng một xã hội học tập, nhằm phát huy tối đa khả năng cũng như quyền được được học tập của mỗi người. Có một câu ngạn ngữ của người Gruzia “Học tập là hạt giống của kiến thức, kiến thức là hạt giống của hạnh phúc”.
        Thật vậy! Kiến thức không phải tự nhiên mà có. Đó là tích lũy hiểu biết của nhân loại, của cộng đồng, của nhiều thế hệ thông qua quá trình học tập mà thành. Học tập chính là quá trình tích lũy kiến thức! Câu ngạn ngữ trên đã có một ví von rất hay khi đưa ra hình ảnh “hạt giống” để nhấn mạnh tầm quan trọng của học tập. Hạt giống sẽ nảy nở phát triển thành cây. Quá trình học tập cũng như gieo hạt giống cho trí não và tâm hồn. Kiến thức nhiều cũng là kết quả tích lũy hãt giống để hứa hẹn một mùa bội thu. Kiến thức tốt, đầy đủ, phong phú sẽ gieo những hạt giống cho tương lai của mỗi con người. Tuy nhiên cần phải hiểu thấu đáo hơn câu ngạn ngữ này ở nghĩa bao quát của nó. Hạt giống chuẩn bị không tốt, cây sẽ phát triển èo uột, kiến thức nông cạn ít ỏi khiến chúng ta gặp vô vàn khó khăn, lúng túng và bế tắc trong công việc. Và một người học tập được điều hay lẽ phải thì cũng chính là tích lũy hạt giống tốt, còn kiến thức lệcj lạc, sai lầm thì như hạt giống xấu làm hủy hoại tư duy và tâm hồn, sẽ không tránh khỏi gây tác hại cho đời sống. Cũng như vậy, chỉ trên nền tảng một kiến thức đầy đủ mới có tương lai hạnh phúc. Bởi vậy, trong đời sống, ta gặp không ít những tấm gương đổi đời nhờ kiến thức.
        Tuy nhiên mối quan hệ học tập – kiến thức – hạnh phúc không chỉ được hiểu đơn giản một chiều mà cần phải thấy rõ mối quan hệ biện chứng nhân quả của nó. Ông bà ta cũng thường nói “gieo nhân nào, gặt quả ấy” như một cảnh tỉnh. Xét mối quan hệ trong ba yếu tố học tập – kiến thức – hạnh phúc cũng cần được nhìn nhận từ nhiều phía. Học tập đúng đắn, có phương pháp, có chọn lọc thì mới có kiến thức tốt, đa dạng, phong phú. Kiến thức tốt cần gắn với thức đem kiến thức ấy phục vụ cho xã hội và cho bản thân, không chỉ là những kiến thức thu lượm được theo kiểu thực dụng ích kỷ, vì nếu hạnh phúc của ta lại đem bất hạnh cho người khác thì cũng là chứng tỏ ta đã tích lũy hạt giống xấu cho chính ta, gieo mầm bất hạnh cho kẻ khác.         
       Vì vậy. mỗi chúng ta phải xác định động cơ học tập đúng đắn, thu lượm kiến thức bổ ích, hướng tới hạnh phúc của cộng đồng hài hòa với hạnh phúc cá nhân. Có như vậy mới thật sự trở thành con người có ích cho xã hội.

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

BÀI LÀM
        Cuộc sống đầy những chông gai thử thách, bạn đừng bao giờ đầu hàng trước số phận mà hãy tự vươn lên đối đầu với mọi chông gai. Với ý nghĩa đó, câu nói "Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố" (Đặng Thuỳ Trâm) thực sự đã mang lại cho chúng ta nhiều ý nghĩa.
        Giông tố ở đây dùng để chỉ cảnh gian nan đầy thử thách hoặc việc xảy ra dữ dội đến vợi chúng ta trong cuộc sống. Đó có thể là một căn bệnh hiểm nghèo, một đổ vỡ trong kế hoạch làm ăn, một thất bại trong học tập, một phá sản trong kinh doanh...Câu nói khẳng định: cuộc đời có thể trải qua nhiều gian nan nhưng chớ cúi đầu trước khó khăn, chớ đầu hàng thử thách, gian nan. 
        Bạn thấy đấy, xung quanh chúng ta, cuộc sống nhiều gian nan, thử thách nhưng con người không khuất phục. Khi gặp khó khăn trở ngại, bạn hãy tự vươn lên bằng chính niềm tin của mình. Thất bại là mẹ thành công, thất bại là môi trường tôi luyện ý chí của con người như Bác Hồ đã từng nói "Gian nan rèn luyện mới thành công" hoặc "không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên". 
         Cuộc đời của con người thường có nhiều khó khăn, thử thách, nhiều thăng trầm trong cuộc sống, chúng ta phải biết vươn lên, vượt qua mọi thử thách của cuộc đời, đừng vì khó khăn, trắc trở ngay trước mắt mà vội vàng từ bỏ. Đừng bao giờ “ngại núi, e sông” hoặc “Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố”. Giông tố, gian nan thử thách trong đời chính là môi trường tôi luyện cho ý chí ta thêm vững bền.
          Cuộc đời vốn nhiều thử thách, chông gai, chúng ta phải luôn tìm cách vượt qua, chứ đừng thấy cái khó khăn trước mắt thì bỏ cuộc. Câu răn đầu tiên của Đức Phật trong 14 điều răn: “Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình”, con người có thể làm được tất cả, chỉ cần lòng người có ý chí quyết tâm, có nghị lực kiên cường thì không gì có thể ngăn cản được họ. Những khó khăn, gian khổ mà con người cần vượt qua có thành công hay không là do chính bản thân họ, cho dù có khó đến đâu nhưng lòng người có ý chí vững vàng, niềm tin vào bản thân và cố gắng hết sức vượt qua thì cũng sẽ thành công, còn ngược lại, không có lòng quyết tâm, ý chí tin vào chính mình, không cố gắng hết sức thì cũng sẽ không làm được gì.
         Xung quanh ta đã có rất nhiều người vượt qua được những khó khăn trong cuộc đời tưởng chừng như là không thể vượt qua được như thầy Nguyễn Ngọc Ký, “vẽ cuộc đời từ chính đôi chân”, cho dù đã bị liệt hai tay nhưng thầy đã dùng chân của mình để viết và giờ thầy đã là một người thầy giáo được nhiều người biết đến và khâm phục. Bill Gates từng bỏ dở giấc mơ đại học và thành lập công ty, nhiều lần thất bại nhưng không nản, cuối cùng trở thành ông chủ của tập đoàn Microsoft. Chung Ju Yung, trước khi là chủ tịch tập đoàn Huyn Đai Hàn Quốc từng là một nông dân, rồi công nhân của một kho gạo ở Seoul. Đó chính là những tấm gương vượt khó thành tài đáng khâm phục.
        Ngược lại, lại có những con người chỉ vì cái nghèo khó mà đã làm những việc trái với pháp luật đạo lý con người, họ đi cướp bóc, trấn lột để kiếm cái ăn cho mình mà không nghĩ gì đến sự mất mát của người khác. Vì vậy, ngay từ trong ghế nhà trường, chúng ta cần phải rèn luyện ý chí bền bỉ, phải noi theo những gương sáng trong cuộc sống, trong học tập, cần học thật tốt để vững vàng cho mình hành trang vào đời thêm vững bước. Trong xã hội, chúng ta nên san sẻ với những người còn khó khăn, thiếu thốn để giúp họ vượt lên chính mình.
        Câu nói trên là tiếng nói của một lớp trẻ sinh ra và lớn lên trong thời đại đầy bão táp, sống thật đẹp và hào hùng. Câu nói thể hiện một quan niệm nhân sinh tích cực : sống không sợ gian nan , thử thách , phải có nghị lực và bản lĩnh. Câu nói gợi cho bản thân nhiều suy nghĩ: trong học tập, cuộc sống bản thân phải luôn có ý thức phấn đấu vươn lên. Bởi cuộc đời không phải con đường bằng phẳng mà đầy chông gai, mỗi lần vấp ngã không được chán nản bi quan mà phải biết đứng dậy vươn lên.

0
phiếu
0đáp án
444 lượt xem

DÀN Ý
1. MB
         Hiện nay, trong nền giáo dục nước ta xuất hiện 1 hiện tượng xấu, đó là: Học để thi. Nó đã và đang tồn tại khiến chất lượng nền Giáo dục nước nhà giảm sút nghiêm trọng. Nếu không có những biện pháp khắc phục thì nó sẽ còn trở thành 1 căn bệnh mãn tính.

2. TB
       Học để thi là như thế nào? Đó là cách học không nhằm để lấy kiến thức mà để lấy thành tích, điểm số.
Bệnh chạy đua thành tích đang trở nên nhức nhối hơn bất cứ lúc nào. Người người, nhà nhà đều lấy điểm số, bằng đẹp làm tiêu chí mà không quan tâm rằng kiến thức mà học sinh tiếp thu được bao nhiêu.
       Học để thi lấy mục đích thi làm mục tiêu, vốn kiến thức tiếp thu trong quá trình học không quan trọng, cái quan trọng là điểm thi. Cái sĩ diện hão, hám hư danh ảo, ham thành tích khiến bất cứ học sinh, bậc phụ huynh nào cũng không chấp nhận việc con mình mang tiếng học dốt, điểm kém. Thi cử được tạo ra nhằm đánh giá đúng chất lượng học sinh, kiểm tra kiến thức trong kì học, năm học mà các em đã tiếp thu được. Điểm thi của học sinh cao, chứng tỏ thầy dạy giỏi, cuối năm đạt danh hiệu Giáo viên dạy giỏi; còn nhà trường có nhiều em học sinh đạt khá giỏi thì danh tiếng của trường cũng tăng theo, phụ huynh thấy con em mình đạt thành tích cao thì nở mày nở mặt, khoe khắp nơi có con thông minh, học giỏi. Do vậy, phụ huynh, học sinh tìm mọi cách để có được điểm; giáo viên thì không ngại cho học sinh điểm cao; nhà trường thì ra chỉ thị “nơi lỏng” khi chấm bài tới giáo viên. Nếu lỡ chấm chéo thì Hội đồng thi sẽ được biếu xén quà cáp, đãi ngộ đặc biệt để coi lỏng. Học sinh không cần học nhiều, sẽ có người nhắc bài, ném phao thi tận nơi. Dù không biết gì vẫn có điểm cao chót. Thì đành rằng biểu hiện như vậy chứng tỏ nước ta coi trọng giáo dục (nên mới lấy giáo dục ra mà khoe, mà phân hơn cao thấp) , nhưng là để đào tạo ra được những nhân tài cho đất nước. Các em chính là thế hệ tương lai của đất nước này , chứ không phải để người ta tìm mọi cách để khiến điểm thi của các em cao vượt với năng lực thật.
         Luôn có câu nói rằng : học mà thi, thi mà học; học hành và thi cử là 2 chuyện gắn bó với nhau không thể tách rời. Nhưng hãy nên lấy việc Thi để học chứ đừng học để thi. Hãy lấy việc thi cử trở thành động lực cố gắng của học sinh chứ không phải thi là tất cả. Thi không phải là tất cả, nó chỉ là 1 khâu trọng yếu của quá trình giáo dục để kiểm tra trình độ học sinh có đồng đều , tương xứng, các em đã tiếp thu được những gì để có điều chỉnh hợp lí cải thiện kiến thức cho các em.
        Khi đi học, khi thi, bất cứ em học sinh nào và phụ huynh đều mong muốn bản thân họ, con em họ đạt được kết quả học tập tốt. Sẽ đáng tự hào hơn khi đó là kết quả do chính bản thân mình nỗ lực đạt được. Để có được điểm thi cao, tấm bằng đẹp mà sẵn sàng “chạy”, “đi tiền”, quay bài, … thì điểm thi dù có cao cũng chỉ là bằng chứng của việc làm đáng xấu hổ, là thứ hư ảo không có thật. Con số cao chót vót có là gì so với cái đầu rỗng tuếch. Hơn nữa, những việc làm đó còn khiến cho học sinh nhầm tưởng về khả năng của mình, đã nghĩ mình giỏi giang rồi mà u trệ trong việc tự học, tự nghiên cứu, tính ngạo mạn tăng cao rõ rệt. Nó làm băng hoại đội ngũ giáo viên, thui chột những giáo viên có tâm huyết với nghề, có lương tâm nghề nghiệp, khiến cho học sinh chỉ biết dựa dẫm, ỷ lại.
(Dẫn chứng: Thư của Tổng thống A.Lincol gửi thầy hiệu trưởng cho bài viết thêm sinh động)
         Hiện tượng Học để thi, ngoài những hậu quả xấu nó đem lại thì không có thấy một điều tốt gì nó mang lại, Sẽ thật đáng báo động khẩn cấp cho nền Giáo dục Việt Nam nếu tình trạng này vẫn còn tiếp tục. Cần có những biện pháp mạnh tay hơn để ngăn chặn tình trạng này, lấy lại sự ham học của học sinh, ham dạy của giáo viên, và lòng tin tưởng từ phụ huynh học sinh.

3. KB:
        Xung quanh chúng ta vẫn bắt gặp hiện trạng của vấn nạn học để thi, của chứng bệnh thành tích. Tuy nhiên không phải ở đâu cũng xuất hiện hiện trạng đó, và cũng không chắc rằng nó sẽ không lan tràn đến đó. Do vậy, mỗi chúng ta hãy cùng chung tay để xóa bỏ vấn nạn đó. Tuổi trẻ là tương lai đất nước – hãy khiến cho điều đó luôn đúng. 
0
phiếu
0đáp án
503 lượt xem

DÀN Ý
1/Mở bài 

"Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan"
         Sinh thời, Bác Hồ của chúng ta rất yêu thương và quan tâm đến thanh thiếu niên đặc biệt là các em nhi đồng. Các em luôn được tạo mọi điều kiện để vui chơi và học tập, vô tư hồn nhiên như chính tuổi thơ của mình vậy. Ngày nay, trường lớp được đầu tư xây dựng khang trang nhiều hơn, trẻ em được đến trường học tập vui chơi cùng bạn bè, thầy cô. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta không khỏi xót xa thương cảm khi bắt gặp những em bé phải lao động để lo chén cơm, manh áo từng ngày cùng với những sấp vé số trên tay hay những tờ báo đi khắp phố phường bán rong, và thấp thoáng ở đâu đó những hình ảnh nhỏ nhắn của các em trong những bãi rác để tìm phế liệu bán kiếm tiền. Chúng ta sẽ suy nghĩ gì khi chính chúng ta chứng kiến những cảnh tượng cảm động ấy?

2/Thân bài 
        Vâng hình ảnh trẻ em lang thang, cơ nhở, mồ côi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, kiếm sống ở các thành phố, thị trấn đã và đang được các cơ quan ban ngành chú trọng và quan tâm nhiều hơn với những trung tâm bão trợ trẻ em, hay làng SOS.... đã được đầu tư xây dựng với quy mô ngầy càng mở rộng. Chính những nơi đây đã trở thành mái ấm tình thương là "một đại gia đình" cho các em có thể vui chơi, học tập, rèn luyện để trở thành những công dân tốt, sống lành mạnh và không là gánh nặng cho xã hội.
             "Trong đêm một bàn chân đứa bé xiếu lang thang trên đường, ánh mắt buồn nghẹn ngào của em, em rất buồn vì không biết đi, đi về đâu. Cuộc sống mưu sinh chỉ làm em qua cơn đói từng ngày, vì em không cha vì em đã mất mẹ đau thương vẫn là đau thương". Xa xa đâu đó vẫn còn văng vẵng lời bài hát "đứa bé" của nhạc sĩ Minh Khang làm cho chúng ta không khỏi xúc động, lòng người không khỏi da diết với nỗi lòng đau nhói, quặng thắt từng cơn khi những hình ảnh đứa bé lang thang trong đêm tối để rồi không định hướng được tương lai cũng như không biết đi về đâu tron đêm tối lạnh giá. Gia đình ư? Người thân ư? không. Em không có gia đình và chẳng có người thân, ba mẹ đã bỏ em ra đi mà không trở về nữa. Biết trách ai đây! có lẽ các em đã cố nén đi nỗi bất hạnh để đau thương đêm ngày thành thương đau. Thử hỏi cộc đời này còn có trái tim nào sắt đá hơn nữa, khi nghe giọng nói cảm động nhưng trong sáng và ấm áp của các em cất lên:"Bác ơi! mua giúp con vài tấm vé số đi chú" hay "chú ơi! đánh giầy phụ con đi chú"... Thật khó có lời nào lẽ nào để diễn tả hết những cảm xúc rung động trong trái tim mọi người dù "em có một ước mơ một vì sao sáng dẫn lối em trong cuộc đời, đã lâu rồi em đã không có tình thương".
         Những mái ấm tình thương luôn mở rộng cánh cửa đón chào các em và ngày càng có nhiều cá nhân, gia đình, các mạnh thường quân tổ chức nhận nuôi dạy các em, kể từ đây khôn còn phải lo miếng cơm manh áo nữa. Những ước mơ những ước mơ được vui chơi, được học tập của em không còn là mơ ước. Các em sẽ được đến trường, vui chơi, nô đùa cùng chúng bạn hoà nhập với thế giới hồn nhiên của trẻ thơ.
         Các em sẽ không còn 'co ro trong manh chiếu rách", sẽ không ngủ đầu đường xoá chợ, lang thang khắp phố phường nữa mà thay vào đó là một tương lai tươi sáng đang đón chào các em, các em không phải mặc cảm, tự ti và cũng chẳng còn những tháng ngày mưa nắng cùng với mãnh bánh mì trên tay lót dạ để quên đi cơn đói từng ngày hành hạ thân xác nhỏ nhắn, ốm yếu của em.
           Thật vậy, lòng nhân ái của con người không có gì có thể sánh được, mọi người hãy mở rộng trái tim giúp đỡ và yêu thương các em, để các em có đủ tự tin và nghị lực vượt qua những khó khăn để trở thành mầm non, một nền tảng tương lai của đất nước. Dân tộc Việt Nam chúng ta chú trọng nhất truyền thống nhân đạo nên vậy giờ đây chúng ta hãy mở rộng vòng tay nhân ái bằng cách giúp đỡ các em nhiều và nhiều hơn nữa để ngày mai tương lai các em được tươi đẹp hơn. Niềm vui của mọi người sẽ được nhân lên. Có khi nào bạn nghĩ phía sau của những căn nhà sang trọng, có những đứa trẻ được nương chiều sống buông thả, tron khi sau đó có biết bao các em bé khác khát khao khát một phần hạnh phúc nhỏ là có nơi che mưa, che nắng, bố mẹ nâng niu nương chiều hay được nhẹ nhàng đặt lên má những nụ hôn trước những buổi đến lớp.
         Vậy chúng ta còn chờ gì nữa? mà "hãy lau khô cuộc đời em bằng tình thương, lòng nhân ái của con người mà hãy lau khô giọt nước mắt trong lòng em bằng tất cả trái tim con người Việt Nam".

3/ Kết bài 
         Một xã hội văn minh tươi đẹp khi xung quanh bạn không còn phải thấy những đứa bé lang thang, vất vả kiếm sống và chúng ta phải biết sẽ chia tình cảm thân thương chan hoà với mọi người bằng tất cả những gì mà bạn đang có.

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
469 lượt xem

BÀI LÀM

         Lối sống của một quốc gia, một dân tộc luôn bị ảnh hưởng bởi một vài giá trị vật chất. Đồng tiền và những giá trị thực hay giá trị ẩn của nó đều được xem như có sức ảnh hưởng rất lớn đối với lối sống. Không có quyền đổ lỗi cho đồng tiền nhưng khống chế được nó quả không phải là đơn giản.
         Cách đây không lâu, trong một diễn đàn giáo dục con cái xài tiền như thế nào và có nên cho tiền con trẻ khi đi học, nhiều phụ huynh đã làm cho chúng tôi thật sự bất ngờ. Nguyễn Thị X, luật sư, tuyên bố một cách chắc nịch: Không cho tiền con trẻ, nếu cho tiền chỉ tổ làm cho chúng hư…Trao đổi danh thiếp để có cơ hồi trò chuyện, nhưng có ai ngờ đâu đúng hơn năm sau, chị gọi lại cho tôi và báo rằng con chị ăn cắp tiền của gia đình để xài vặt…Nỗi đau này quả là một bài học quý. Nhiều quốc gia trên thế giới đã giáo dục con cái sử dụng đồng tiền và hiểu được giá trị đồng tiền ngay từ thuở bé. Dù rằng không phải quy gán tội cho các bậc phụ huynh nhưng rõ ràng đây là một trong những yếu tố có thể được xem là căn nguyên của vấn đề. Nhân cách con người thế nào thì những hành vi tương ứng sẽ như thế ấy và hành vi sử dụng đồng tiền hay để đồng tiền khống chế ngược là một ví dụ. Thực tế cho thấy những diễn biến tâm lí và những dấu ấn của ký ức căng thẳng xoay quanh việc xài tiền đã trở thành những động lực để con người phấn đấu, nhưng cũng chính vì vậy đôi lúc nhiều cá nhân đã phấn đấu có tiền bằng mọi cách mà không kể đến lương tâm , sĩ diện và nhân cách. Khi bị một áp lực căng kéo về đồng tiền trong quá khứ, nhu cầu trỗi dậy để làm chủ nó, để khống chế nó lại bùng phát mạnh mẽ nhưng khi cá nhân chưa đủ nội lực thì những chuyện kinh khủng đã xảy ra. Tiền chỉ là phương tiện. Có ai lại sống không cần tiền? Câu hỏi thật đơn giản lại được trả lời một cách quá khó khăn dành cho những người thật bình thường trong cuộc đời. Giá trị đồng tiền đã rõ nhưng không phải ai cũng hiểu đồng tiền chỉ là phương tiện.
         Hãy giáo dục cho con trẻ sự thấu cảm của cuộc sống ngay từ khi trẻ còn nhỏ. Sự thấu cảm này tưởng chừng thật đơn giản nhưng lại có giá trị rất đặc biệt. Đã qua rồi thời giáo dục chung chung và khái quát. Hãy bắt đầu từ những việc rất đơn giản như: “Ăn quả tào này con cảm ơn ai/”. Cảm ơn người trồng cây vẫn chưa đủ, cảm ơn người bán táo vẫn chưa đủ mà trước hết phải cảm ơn bố mẹ- người đã lao động cực nhọc để mua táo cho con. Hãy thẳng thắn nhưng thật nhẹ nhàng và tinh tế giáo dục cho con cái hiểu rằng việc tìm ra đồng tiền là quan trọng nhưng chính tình cảm bố mẹ dành cho con mới là quan trọng nhất.
         Theo thời gian và năm tháng, hãy giúp trẻ nhận ra với 500.000 đồng có được từ hai nguồn khác nhau, một là trúng số, hai là có được từ tháng lương đầu tiên, con sẽ làm gì… Chính lúc này trẻ sẽ hiểu hơn về những giá trị của đồng tiền trong cuộc sống. 
         Không có quyền phán xét và không có quyền chỉ trích nhưng quá nhiều bậc cha mẹ ngày nay đã ép con mình sống theo thước đo của đồng tiền từ những tình huống rất thường nhật: “Chú Ba mày keo quá, lì xì cho tui có 5.000 thì bo hơn cái bánh xèo miền Trung”; “Con cứ thi vào kinh tế cho mẹ mới có nhiều tiền, vào chi ba cái xã hội, học chi cho mệt thân…” là những câu nói cửa miệng của khá nhiều gia đình! Nhiều người thân, nhiều gia đình đã thật sự sai lầm khi cứ tạo áp lực chồng mình, vợ mình tìm nhiều tiền hơn nữa để xây nhà, đi du lịch. Nhiều bậc bố mẹ hay những bạn đời thấy người thân của mình đem về nhà nhiều tiền thì sung sướng hỉ hả trên đống tiền có được mà thiếu hẳn sự quan tâm, hỏi han…Chính sự vô tâm, chính sự thờ ơ vô cảm này đã làm cho nhiều người thân của chính mình trượt đi trên con dốc số phận theo vòng xoáy của đồng tiền mà không thể hãm phanh. Buồn, xót… giờ đã muộn!
         Bài học giản đơn mà sâu sắc nhất vẫn là giáo dục giá trị làm người của một con người. Biết tự trọng, biết cân nhắc, có sĩ diện, biết điểm dừng khi cần… trong cuộc sống sẽ làm cho mỗi người vững vành hơn trước áp lực của đồng tiền.
Theo Sách Chuyên đề Văn nghị luận XH*
0
phiếu
0đáp án
654 lượt xem

          Trong xã hội, người thầy mang một vai trò rất quan trọng trong việc tu dưỡng, rèn luyện, hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách của lứa tuổi học sinh. Điều đó cũng được ông cha ta quan niệm, khẳng định từ hàng nghìn đời nay. Chính vì vậy trong kho tàng tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam có câu: “Không thầy đố mày làm nên” để bộc lộ rõ nét điều đó.
           Câu tục ngữ trên mang hình thức thách đố nhưng bản chất lại là câu khẳng định, nó còn mang cấu trúc kiểu phủ định, thuộc loại câu hỏi tu từ. Hai từ: “thầy” – “mày”, từ “mày” không có ý nghĩa hạ thấp giá trị học sinh mà để đi liền với chữ “thầy” cho vần và dễ nhớ. Câu tục ngữ này nêu lên vai trò quan trọng của người thầy đối với nền giáo dục và học sinh, đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta phải biết ơn, kính trọng thầy cô giáo. Không chỉ vậy, câu tục ngữ này còn mang giá trị truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam từ rất lâu đời.
          Thầy không chỉ là người dạy dỗ chúng ta về kiến thức mà còn là người dạy ta đạo đức, phẩm chất, giá trị mỗi con người. Học chữ, học làm việc, tất cả mọi cái học đều phải có thầy. Có thể nói thầy như thế hệ đi trước, trải qua biết bao kinh nghiệm trong cuộc sống, nay truyền thụ lại kiến thức cho học sinh, mở đường chỉ lối, giúp ta có con đường đúng đắn nhất để đi. Công lao đó không gì sánh nổi. Những ngày đầu tiên bước vào lớp, thầy đã dìu dắt, dạy dỗ, chỉ bảo. Thầy dạy học đếm, học viết, học đánh vần. Lên lớp cao, thầy dạy cho chúng ta những điều sâu sắc. Suốt quá trình học tập thì thầy là người luôn sát cánh bên ta, trợ giúp, nâng đỡ , chắp cánh cho ta bay vào tương lai. Không một người học sinh nào có thể thành đạt vào đời mà không có sự kèm cặp của thầy. Tất nhiên là nếu thầy dạy cho chúng ta mà chúng ta không biết tiếp nhận, không biết vận dụng thì công sức của thầy cũng chỉ là không. Chính vì vậy chúng ta cần phải biết rằng tâm huyết của thầy dành cho chúng ta là hết mình nên chúng ta cũng phải nỗ lực, cố gắng, chịu khó để không phụ lòng những công ơn đó. Công lao của thầy đối với sự nghiệp sau này của học sinh là vô cùng lớn, nó chính là mầm mống của sự thành đạt. Khi một người thầy hết lòng vì học sinh thì đó chính là niềm đam mê yêu nghề của thầy và cũng là tư tưởng lớn trong nền giáo dục.
           Chúng ta có được ngày hôm nay cũng chính là do sự dìu dắt của thầy. Thầy đã truyền thụ kiến thức, rèn giũa những phẩm chất cao quý tốt đẹp trong mỗi con người chúng ta để chúng ta trở thành những viên kim cương sắc bén, đã được gọt giũa, luôn toả sáng trong đường đời, và cũng chính điều đó nhắc nhở chúng ta hãy biết kính trọng người thầy ở mọi lúc mọi nơi, hình ảnh của người thầy phải đi vào sự tôn kính trong mỗi chúng ta. Hãy biết vận dụng vốn kiến thức của thầy đã truyền thụ kết hợp với khả năng vốn có của bản thân để tạo nên một sự thành đạt rực rỡ trong cuộc đời của mình. Đó chính là những gì thầy mong muốn, gửi gắm niềm tin ở ta. Và nó cũng thể hiện lòng tôn kính một cách sắc nét nhất đối với thầy. Câu tục ngữ này mang giá trị trường tồn cùng thời gian và trong bất kì hoàn cảnh nào thì nghĩa của nó cũng luôn được chấp nhận, khẳng định. Không chỉ vậy, câu tục ngữ còn mang hình thức giản dị, âm điệu vui nhộn, nhưng ẩn chứa trong đó là biết bao nỗi niềm, tâm sự của ông cha ta.
         Nói tóm lại câu tục ngữ này muốn nói với chúng ta một điều sâu sắc nhất. Đó chính là hãy hiểu được vai trò giá trị của người thầy, hãy biết suy nghĩ một cách toàn diện nhất để có những thái độ bộc lộ sự kính trọng đối với thầy, không chỉ là lời nói, mà còn bằng hành động. Hãy thể hiện rằng, chúng ta là những con người văn minh, biết đạo lí làm người và xứng đáng là người con đất Việt.
0
phiếu
0đáp án
546 lượt xem

BÀI LÀM

        Trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều cố gắng đạt được một thành quả nào đó, cố gắng thực hiện ước mơ của mình, đều muốn được thành công trong những việc mình làm. Tuy nhiên, không phải ai cũng thành công trong mọi việc. Nhà văn nữ người Pháp Ursula K. Le Guin đã từng nói: “ Thành công của người này là thất bại của người khác”. Câu nói này cho rằng thành công và thất bại của mọi người thường hoán đổi cho nhau và không thể có tình trạng tất cả mọi người đều thành công cùng một lúc. Không phải câu nói này sai, tuy nhiên, nó chỉ đúng trong một phạm vi nào đó, không phải lúc nào cũng chính xác.

       Có những trường hợp trong khi một người thành công thì một người khác lại thất bại. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này trong đời sống hằng ngày. Thất bại của một người là khi người đó không đạt được mục đích đã đặt ra. Trong trường hợp trên, người hạng nhì cũng có thể coi là thất bại nếu như mục đích của họ là đạt một thứ hạng cao hơn.

         Người thành công biết chính xác những gì mình muốn, tin tưởng vào khả năng của mình và sẵn sàng cống hiến hết thời gian của cuộc đời để đạt được điều đó, có khả năng ảnh hưởng đến những người xung quanh và hợp tác với họ trong thái độ thân thiện, chỉ bày tỏ ý kiến về những điều mình biết và họ hoàn toàn có thể thực hiện điều đó một cách rất khôn khéo. Người thành công luôn biết cách dung hòa quan hệ với tất cả mọi người mà không quan tâm đến lợi ích đạt được, luôn trau dồi kiến thức và mở rộng lòng khoan dung. Họ sống hướng đến quyền lợi chung của cộng đồng, theo kịp thời đại và xem đây là một trách nhiệm quan trọng để biết được điều gì đang diễn ra.

         Người thất bại thường là người không có mục đích cụ thể cho cuộc sống, luôn tin rằng mọi thành công hay thất bại đều là kết quả của sự may rủi. Họ chỉ thật sự bắt tay vào việc khi có sự tác động từ bên ngoài hay tìm thấy khuyết điểm ở người khác. Họ luôn có cái nhìn vị kỉ, thiết lập mối quan hệ dựa trên những lợi ích cá nhân.

        Hai khái niệm đó cho thấy rằng giữa thành công và thất bại có khoảng cách rất mong manh, thành công của người này có thể là thất bại của người khác. Tuy nhiên cần phải hiểu rõ câu nói của nhà văn Pháp Ursula K.Le Guin: “ Thành công của người này là thất bại của người khác” có hoàn toàn đúng hay không. Trong kì Asiancup 2007 tổ chức tại Việt Nam, Malaysia,Indonesia và Thái Lan, trong bốn nước đồng chủ nhà chỉ có Việt Nam lọt vào vòng tứ kết và cuối cùng đã để thất bại 0 – 2 trước Irắc, tuy thất bại nhưng đối với nhiều người đó được coi là một sự thành công cho đội tuyển để ngày càng phát triển sau này. Nhắc đến vấn đề thành công hay thất bại, chúng ta không thể quên nhắc đến Bill Gates, một trong những người giàu nhất thế giới,ông đã từng thi rớt đại học và đối với ông đó có thể là một thất bại, nhưng ông biết vượt qua thất bại để đứng lên tạo lập và xây dựng Microsoft phát triển thành một trong những tập đoàn hàng đầu thế giới. Như vậy, câu nói của nhà văn nữ người Pháp Ursual K.Le Guin có thể đúng khi định nghĩa thành công và thất bại một cách tuyệt đối: người thành công là người đạt được mục tiêu mà những người thất bại không đạt được hoặc khi người thất bại không biết nắm lấy cơ hội để thành công mà để tuột mất vào tay người khác. Ngoài ra thành công và thất bại cũng chỉ là khái niệm nhất thời, có thể chỉ thành công trong một thời điểm nào đó nhưng sau đó lại gặp thất bại.

         Câu nói “ Thành công của người này là thất bại của người khác” của nhà văn nữ người Pháp chỉ mang tính chất tương đối, đúng hay sai tùy thuộc vào cách nhìn nhận thành công hay thất bại của từng người và trong hoàn cảnh cụ thể chứ không thể tùy thuộc vào lời đánh giá chủ quan của một cá nhân.

Theo Sách Chuyên đề Văn nghị luận XH*
0
phiếu
0đáp án
579 lượt xem

DÀN BÀI GỢI Ý:

Mở bài:

Giới thiệu vấn đề: Tự ái là liều thuốc độc giết chết tình bạn. 

Thân bài:

1. Giải thích

- “ Tự ái ” được hiểu như thế nào ?
+ Đặt “ cái tôi ” của bản thân mình lên trên hết.
+ Thường hay giận hờn người khác, bạn bè khi họ góp ý chân thành về bản thân mình .
- Thế nào là “ liều thuốc độc ”? Đó là hậu quả do “ tự ái ” gây ra :
+ Không nhìn mặt bạn, không giao tiếp với bạn ( Ví dụ minh họa )
+ Làm ảnh hưởng xấu, làm tan vỡ tình bạn 

- “ Tình bạn ” là gì ? 
+ Là tình cảm đẹp đẽ, trong sáng giữa mình và bạn cùng lớp, cùng trang lứa
+ Là tình cảm thân thiết giữa mình và bạn ( bạn thân )
+ Đặc điểm của tình bạn : chân thành, cao đẹp …

2.Bình luận: Phân tích các mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch:

- Mặt đúng của câu nói : 
+ Trong tình bạn, lòng tự ái không được phép tồn tại
+ “ Tự ái ” càng cao thì tình bạn càng dễ bị tổn thương, dễ bị đánh mất ( Ví dụ minh họa )
+ Tình bạn chỉ tồn tại khi biết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau một cách chân thành
- Phê phán những biểu hiện “ tự ái ” trong tình bạn :
+ Xem thường bạn bè, xem bạn là người xấu khi bạn đóng góp ý kiến xây dựng cho mình 
+ Bao giờ bạn cũng sai, chỉ có bản thân mình đúng
+ Giận hờn, không chơi và cắt đứt mọi quan hệ với bạn,…

3. Bàn bạc mở rộng:

- Xây dựng phương hướng, biện pháp khắc phục để giữ gìn tình bạn :
+ Thân ái, cởi mở với bạn bè.
+ Sẵn sàng đón nhận những ý kiến đóng góp xây dựng của bạn, của những người xung quanh .

Kết bài: 
- Khẳng định mức độ nghiêm trọng của tự ái.
- Liên hệ bản thân

SƯU TẦM
0
phiếu
0đáp án
630 lượt xem

       Đất nước! Hai tiếng quen thuộc và thiêng liêng. Không một ai từ khi sinh ra đến khi lớn lên mà không được nghe cả. Đất nước là gia đình, là mái ấm, là bè bạn, là tri kỷ, là nơi chắp cánh cho chúng ta bay đi và cũng là nơi đón ta trở lại..Do đó, trong mỗi con người chúng ta phải có trách nhiệm đối với đất nước dấu yêu.
       Trách nhiệm là điều cần phải làm, cần phải hoàn thành, cần phải gánh vác và nhận lấy về mình. Trách nhiệm đối với đất nước là một nghĩa vụ thiêng liêng, là điều cần phải có, là mục đích sống tốt đẹp của một người công dân thực thụ. Trách nhiệm đối với đất nước còn xuất phát từ tình yêu gia đình, yêu đồng bào, tinh thần phấn đấu không ngừng nghỉ cho một lý tưởng tốt đẹp.
      Vậy, tại sao chúng ta lại phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với Tổ quốc? Điều đó có thật sự cần thiết hay không? Nó sẽ là hành động thiết thực hay chỉ là lý thuyết suông mà người ta thường hay rêu rao?
Trách nhiệm đối với Tổ quốc đã tồn tại từ lâu đời và nó xuyên suốt chiều dài lịch sử hào hùng của dân tộc. Nó đã thành truyền thống lịch sử lâu đời.Từ ngàn đời trước, cha ông ta đã có tinh thần yêu nước sâu sắc, chống giặc ngoại xâm thời chiến đến tinh thần xây dựng đất nước độc lập tự cường, từ buổi sơ khai Văn Lang đến Đại Việt hùng mạnh thời bình.Nếu không có trách nhiệm, không có tinh thần vì Tổ quốc thì ngày nay chúng ta sẽ không có Vua Hùng, Trần Hưng Đạo, Hồ Chí Minh..những vị anh hùng dân tộc, sống hết lòng vì dân, vì nước.Những lý tưởng của những con người ấy, đều được sinh ra từ ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc. Nếu một ai trong chúng ta mà không yêu nước tức là không yêu gia đình,yêu mọi người, người đó sẽ mãi không trọn chữ “nhân”, chữ “nghĩa”.
      Bạn tôi ơi, bạn có bao giờ ngồi lại và suy nghĩ “mình đang làm vì cái gì”?. Nhiều người sẽ bối rối. Và cũng sẽ có người trả lời rằng tôi sống để làm việc, tôi sống để cống hiến, tôi sống cho gia đình và bản thân tôi… Lý do thì đầy ắp, là vô hạn nhưng chúng đều quy về một mối là tôi sống vì đất nước cần tôi, vì tôi nợ đất nước. Mà nếu chúng ta sống mà chẳng có mục đích, thì chúng ta là những con người vô giá trị, là máy móc dưới hình dạng của một con người. Lấy ví dụ, công ty X nếu không vạch ra được một kế hoạch và không phấn đấu vì kế hoạch đó thì công ty đó sẽ có ngày đứng trên bờ vực phá sản. Nếu không có mục đích, chúng ta sẽ chẳng có gì đề mà vươn tới, đề mà phấn đấu, đề mà sống. Sống vì đất nước là lý tưởng sống cao đẹp nhất.
       Chúng ta phải có nghĩa vụ vì đất nước đã cho ta tất cả: mái ấm gia đình, bạn bè, của cải vật chất lẫn tinh thần, đất nước sinh ra ta, nuôi lớn ta và là người mẹ vĩ đại của cả dân tộc. Ta phải làm sao để xứng đáng với sự hy sinh đó.
      Trách nhiệm đối với đất nước còn được thể hiện qua sự chấp hành nghiêm túc luật pháp, sự phấn đấu vươn tới không mệt mỏi. Mỗi người chúng ta phải xác định đúng đắn trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc, với đồng bào để có những hành động thiết thực, đúng đắn, nhằm đưa nước ta “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Các công nhân thì làm sao để sản xuất được nâng cao, các bác nông dân thì tăng năng suất , cố gắng trở thành dân giàu nước mạnh. Thanh niên cống hiến sức trẻ vào công cuộc xây dựng đất nước.Còn học sinh chúng ta, trách nhiệm đó được thực hiện bằng cách học tập thật tốt, trở thành con ngoan trò giỏi…
        Bên cạnh đó còn có những cá nhân không nhận thức được trách nhiệm của bản thân mình, họ chỉ biết sống hưởng thụ trên những thành quả lao động của người khác. Rồi đâu đó vẫn còn tồn tại những con người được đất nước nuôi dạy, lớn lên lại cấu kết với nước ngoài oanh tạc Nhà nước ta, như luật sư Lê Công Định đã thảo ra bản luật mới nhảm nhí nhằm chống phá đất nước...“Cõng rắn cắn gà nhà”. Đó là những con sâu làm rầu nồi canh, những con người đó không sớm thì muộn cũng sẽ bị phê phán, trừng phạt một cách thích đáng…
       Tóm lại, chúng ta cần phải xác định và thực hiện trách nhiệm mình đối với đất nước. Đó không phải là nhiệm vụ của một hay vài người, đó là công việc của toàn dân tộc, cùng nhau tạo nên mái nhà chung Việt Nam ngày càng vững bền.
Sưu tầm 
0
phiếu
0đáp án
429 lượt xem

I- Tầm quan trọng của phương pháp thuyết minh

- Phải hiểu biết rõ ràng, chính xác, đầy đủ về sự vật, hiện tượng cần được thuyết minh.
- Phải thực lòng mong muốn truyền đạt những tri thức ấy cho người đọc (người nghe).
- Phương pháp truyền đạt cho người đọc người nghe cần dễ hiểu, rõ ràng, chính xác, khoa học và trong sáng.

II- Một số phương pháp thuyết minh 

1. Ôn tập các phương pháp thuyết minh đã học 

a. Những phương pháp thuyết minh đã học: nêu định nghĩa, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân loại, phân tích

* Tìm hiểu ví dụ: 

- Nêu nhận định về nhân vật lịch sử Trần Quốc Tuấn, rồi liệt kê bằng số liệu cụ thể để giải thích.
- Dùng bút pháp phân tích, giải thích.
- Dùng số liệu để so sánh rồi phân loại và nêu ví dụ phân tích đưa ra kết luận.
- Đưa ra nhận định về nhạc cụ của một điệu hát, phân loại rồi phân tích âm thanh các nhạc cụ.

b. Tác dụng: lời văn thêm truyền cảm, sinh động, hấp dẫn, chuẩn xác.

2.Tìm hiểu thêm một số phương pháp thuyết minh 

- Thuyết minh bằng cách chú thích.
- Thuyết minh bằng cách giảng giải nguyên
nhân- kết quả.

III.Yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp thuyết minh

1. Muốn làm bài văn thuyết minh có kết quả, người làm bài phải nắm được phương pháp thuyết minh.

2. Những phương pháp thuyết minh thường gặp: định nghĩa, chú thích, phân tích, phân loại, liệt kê, giảng giải nguyên nhân-kết quả, nêu ví dụ, so sánh, dùng số liệu,…

3. Việc lựa chọn, vận dụng và phối hợp các phương pháp thuyết minh cần tuân theo các nguyên tắc:
- Không xa rời mục đích thuyết minh;
- Làm nổi bật bản chất và đặc trưng của sự vật, hiện tượng;
- Làm cho người đọc (người nghe) tiếp nhận dễ dàng và hứng thú.

IV.Luyện tập 

1. Bài tập1 

- Phương pháp chú thích, phân loại, liệt kê, nêu ví dụ điển hình.
=> Tác giả cung cấp những tri thức về một loài hoa được cả phương Đông và phương Tây tôn quý.
+ Tác giả hiểu biết thật sự khoa học, chính xác, khách quan về loài hoa lan ở Việt Nam.

2. Bài tập 2 (Về nhà).

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem




Ai đã từng đọc Cô bé bán diêm của nhà văn Đan Mạch An-đéc-xen hẳn sẽ không thể nào quên những ánh lửa diêm nhỏ nhoi bùng lên giữa đêm giao thừa giá rét gắn với một thế giới mộng tưởng thật đẹp của cô bé nghèo khổ. Kết cục câu chuyện thật buồn nhưng sức ám ảnh của những giấc mơ tuyệt đẹp vẫn ắp đầy tâm trí người đọc, người nghe qua những lời kể và sự miêu tả rất cuốn hút của An-đéc-xen.

Trong bóng tối và cái rét cắt thịt da của xứ sở Đan Mạch, ta như nhìn thấy rõ một cô bé đôi môi tím tái, bụng đói cồn cào đang lần từng bước chân trần trên hè phố. Một cô bé mồ côi khốn khổ, không dám về nhà vì chưa bán được bao diêm nào thì sẽ bị cha đánh. Nhà văn đã tạo ra cảm giác thật sống động khi ông nhập vào những khoảnh khắc tâm trạng của cô bé. 

Ấn tượng đậm nét đầu tiên khơi lên mối cảm thương chính là hình ảnh cô bé như lọt thỏm giữa cái mênh mông của bóng đêm vào thời khắc sắp giao thừa. Khi “mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay”, cô bé đã hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp khi bà nội hiền hậu còn sống. Ngôi nhà xinh xắn với những dây trường xuân trong những ngày đầm ấm tương phản với thực tại cuộc sống của hai cha con trong một xó tối tăm, sự nghèo khổ kéo theo những lời mắng nhiếc chửi rủa của người cha khi gia sản đã tiêu tán. Để nguôi cảm giác lạnh, em đã “ngồi nép trong một góc tường”, “thu đôi chân vào người” nhưng có lẽ chính nỗi sợ hãi còn mạnh hơn giá rét đã khiến em “càng thấy rét buốt hơn”. Em không thể về vì biết “nhất định cha em sẽ đánh em”. “Ở nhà cũng rét thế thôi”, điều đáng sợ nhất đối với cô bé không phải là thiếu hơi ấm mà là thiếu tình thương. Thật đáng thương khi thân hình bé nhỏ của em phải chống chọi vô vọng với cảm giác giá buốt bên ngoài và cái lạnh từ trong trái tim khiến “đôi bàn tay em đã cứng đờ ra”.

Lúc ấy, em chỉ ao ước một điều thật nhỏ nhoi: “Chà! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ?” nhưng dường như em cũng không đủ can đảm vì làm như vậy em sẽ làm hỏng một bao diêm không bán được. Nhưng rồi cô bé ấy cũng “đánh liều quẹt một que”, để bắt đầu cho một hành trình mộng tưởng vượt lên thực tại khắc nghiệt. Giấc mơ của em bắt đầu từ lúc nhìn vào ngọn lửa: “lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt”. Ánh sáng ấy đã lấn át đi cảm giác của bóng tối mênh mông, để hiện lên hình ảnh “một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng”. Niềm vui thích của em đến trong ảo giác “lửa cháy nom đến vui mắt và toả ra hơi nóng dịu dàng”. Đó là ước mơ thật đơn giản trong khi thực tế lại phũ phàng “tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút… trong đêm đông rét buốt”. Ước ao được ngồi hàng giờ “trước một lò sưởi” cũng biến tan khi “lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất”. Khoảnh khắc em “bần thần cả người” khi hình dung ra những lời mắng chửi của cha khiến ta phải nao lòng. Bóng tối lại phủ lên màu u ám trong tâm hồn em.

Có lẽ vì vậy, nhà văn đã để em tiếp tục thắp lên que diêm thứ hai, thắp lên niềm vui nhỏ nhoi dù chỉ là trong mộng tưởng. Không chỉ phải chống chọi với cái rét, cô bé còn phải cầm cự với cơn đói khi cả ngày chưa có miếng nào vào bụng. Bởi thế, ánh sáng rực lên của ngọn lửa diêm đã biến bức tường xám xịt thành “tấm rèm bằng vải màu”. Cái hạnh phúc trong những ngôi nhà ấm áp đã đến với em, khi em nhìn thấy : “Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay”. Giá như tất cả những hình ảnh tưởng tượng biến thành hiện thực thì em sẽ vui sướng biết bao, khi “ngỗng nhảy ra khỏi đĩa” sẽ mang đến cho em bữa ăn thịnh soạn để vượt lên phút đói lả người. Nhưng một lần nữa, ảo ảnh lại vụt biến, em lại phải đối mặt với “phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xoá, gió bấc vi vu”. Không những thế, em còn chứng kiến sự thờ ơ ghẻ lạnh của những người qua đường, hình ảnh tương phản được nhà văn khắc họa làm ta nhói đau trước em bé bất hạnh.

Và một lần nữa, que diêm tiếp theo lại sáng bừng lên, để em được sống trong những giấc mơ đẹp nhất của một em bé. Trong một cuộc sống phải từng phút từng giây vật lộn mưu sinh, em đã phải từ giã những niềm vui được đùa chơi của con trẻ. Ánh sáng từ que diêm đã toả ra vầng hào quang lộng lẫy, cho em “một cây thông Nô-en”, như đem đến cho em một thiên đường của tuổi thơ: “Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong tủ hàng”. Điều trớ trêu nghiệt ngã là tất cả những hình ảnh tươi đẹp ấy em chỉ kịp nhìn nhưng không thể chạm tay vào, bởi lẽ tất cả chỉ là ảo ảnh, như những ngôi sao trên trời mà em không thể với tới. Trái tim ta như nghẹn lại cùng lời kể của nhà văn, bởi lẽ em bé đang dần kiệt sức và sắp phải gục ngã trước cái lạnh chết người của xứ sở bà chúa Tuyết.

Trong giây phút cuối cùng của đời em, có lẽ nhà văn không muốn người đọc phải chứng kiến một cái chết thảm thương vì rét, vì đói, vì thiếu tình thương và niềm vui trong cuộc đời khốn khổ của cô bé, nên đã cho em rất nhiều ánh lửa và niềm vui được gặp lại bà nội hiền hậu mà em rất mực kính yêu. Hình ảnh bà hiện lên trong những phút cuối cùng của em bé không hẳn là ảo ảnh mà chính là sự thực đã được nhìn qua tâm hồn thánh thiện của em. Bà em hiện ra với nụ cười như ban cho em diễm phúc được sống lại quãng đời ấm áp đầy tình thương thuở trước. Tiếng reo của em khi gặp lại bà cũng những lời cầu xin ngây thơ là tiếng nói cuối cùng của một người sắp giã từ trần thế. Em được sống với niềm vui trọn vẹn của riêng mình nhưng chúng ta có lẽ khó ai cầm được dòng nước mắt: “Dạo ấy, bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà, bà ơi! Cháu van bà, bà xin Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.”. Trong lời tâm sự ấy, ta hiểu được sự thực về cuộc đời nghiệt ngã và bất công mà em đang hứng chịu. Điều em cần chính là tình thương thật sự trong một thế giới bao dung và nhân hậu. Bởi thế, cái chết đối với em không còn là một điều đáng sợ. Em được về với bà, đến một thế giới khác “chẳng còn đói rét, buồn đau nào đe doạ”. Nhà văn đã để chính đôi tay bé nhỏ của em thắp lên Ánh sáng – “diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày” – để em được thấy bà em “to lớn và đẹp lão” đến đón em cùng bay vào thế giới ước mơ trong ánh sáng huy hoàng xua hết tối tăm đè nặng cuộc đời em.

Câu chuyện kết thúc. Ngày mới lại bắt đầu, “mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt”. Sự sống vẫn tiếp diễn, mọi người đón “ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể em bé ngồi giữa những bao diêm”, nhìn em để buông ra lời nhận xét thờ ơ: “chắc nó muốn sưởi cho ấm”. Không ai được biết những cái kỳ diệu em đã trông thấy, chỉ duy nhất một người chứng kiến được “cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm”, đó chính là nhà văn. Ông đã cúi xuống nỗi đau của một em bé bất hạnh, kể cho ta nghe câu chuyện cảm động này bằng tất cả tình yêu thương vô bờ bến đối với trẻ thơ và những con người nghèo khổ. An-đéc-xen đã cất lên tiếng nói cảnh tỉnh những trái tim đông cứng như băng giá, gửi bức thông điệp của tình thương đến với mọi người. 

0
phiếu
0đáp án
4K lượt xem

I. GTVĐ.
    Kho tri thức về tự nhiên, xã hội của con người ngày nay là một đại dương bao la. Nhưng những gì mà con người chưa khám phá ra còn nhiều hơn gấp ngàn lần những điều ta biết. Cho dù chúng ta học trong nhà trường và ngoài xã hội có nhiều đến đâu thì những điều ta biết vẫn là bé nhỏ so với biển trời kiến thức mà nhân loại đã có được và chưa có được. Chính vì thế mà nhà bác học nổi tiếng I.Newton đã phát biểu thật đúng rằng: “Các điều chúng ta biết chỉ là một giọt nước. Các điều chúng ta không biết là cả một đại dương”.
II. GQVĐ.
1. Giải thích câu nói.
     - “Các điều chúng ta biết chỉ là một giọt nước”: có nghĩa là, muốn nhấn mạnh đến những hiểu biết của chúng ta về những gì nhân loại đã khám phá, tìm hiểu về vũ trụ, tự nhiên, xã hội loài người cũng chỉ bằng một giọt nước trong đại dương bao la. Một giọt nước là quá nhỏ bé so với cả đại dương mênh mông bao la. Vậy những điều mà chúng ta biết là vô cùng hạn chế, ít ỏi so với những điều ta chưa biết.
- “Các điều chúng ta không biết là cả một đại dương”: có nghĩa là, muốn nhấn mạnh đến những gì mà chúng ta chưa biết, không biết về vũ trụ, trái đất, tự nhiên và xã hội còn rất nhiều như là cả một đại dương mênh mông bao la. So với một giọt nước thì đại dương là quá to lớn. Vậy những điều mà chúng ta chưa biết, không biết còn rất nhiều so với những gì mà chúng ta đã biết.

- Sự đối lập giữa điều đã biết chỉ là 1 giọt nước còn những điều chưa biết là cả một đại dương bao la đã là một động lực rất lớn để thôi thúc chúng ta khám phá, tìm hiểu về vũ trụ, tự nhiên và xã hội. Đây là một vấn đề lớn mà chúng ta cần phải nhìn nhận thật rõ ràng và để có những hành động cụ thể như học tập, nghiên cứu, tìm hiểu trong các ngành khoa học tự nhiên cũng như xã hội.

2. Phân tích, chứng minh, bình luận.
a. Phân tích
- Bằng thực tiễn trong học tập, nghiên cứu và công tác của chúng ta. Khi ta càng học tập, khám phá ra những điều mới mẻ trong đại dương bao la kiến thức của nhân loại thì ta lại càng thấy những điều ấy còn quá nhỏ bé, ít ỏi và hạn chế biết chừng nào,...

- Dẫn chứng: trong khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, những vấn đề văn hoá xã hội khác,...

- Tác động của câu nói đó với việc học tập của học sinh, sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường, giảng đường đại học là rất tích cực, nó giúp cho mọi người nhìn nhận lại chính mình, về những hiểu biết của mình còn hạn chế. Để từ đó có hành động cụ thể để luôn luôn nâng cao những hiểu biết của mình và những người khác.
b. Chứng minh
- Bằng chính bản thân mình trong quá trình học tập, nghiên cứu...
- Bằng kinh nghiệm của những người lớn tuổi,...

c. Bình luận.

- Khi ta học càng cao thì ta càng phải khiêm tốn vì cho dù những hiểu biết của ta có nhiều đến đâu cũng là quá bé nhỏ so với những điều mà chúng ta chưa biết.
- Để từ đó tránh thái độ tự mãn, tự kiêu tự đại cho rằng mình đã hiểu biết nhiều, đã giỏi rồi mà không học tập, nghiên cứu, tìm hiểu nữa...
- Vì thế V.Lênin cũng có phát biểu rằng: Học, học nữa, học mãi!
3. Mở rộng
III. KTVĐ
- Khẳng định sự đúng đắn lời phát biểu của I.Newton. ý nghĩa, tác dụng giáo dục đối với chúng ta – đặc biệt là thế hệ trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường, giảng đường đại học,...
- Bài học cho bản thân, bạn bè,...

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
937 lượt xem

DÀN Ý
- Phân tích nghĩa đen: một giọt nước nếu ở riêng rẽ thì nó sẽ nhanh chóng cạn khô, nhanh chóng biến thành hơi bay vào khoảng ko và sẽ ko mang lại lợi ích gì cả. Nhưng nếu như giọt nước đó được hoà vào biển cả thì nó sẽ khác. Sự tồn tại của giọt nước ấy song hành với sự sống của biển. Mà biển cả bao la thì có bao giờ cạn nước đâu!

- Nghĩa bóng: Với con người cũng vậy! Nếu sống một mình thì sẽ có thể bị gục ngã trước những khó khăn, thử thách. Sống cô đơn một mình thì sẽ ko có ai chung vai giúp sức, sẽ dễ dàng bị quật đổ. Nếu như sống mà biết đồng lòng, đoàn kết thì mọi thứ sẽ trở nên dễ dàng và cuộc sống sẽ ko bao giờ kết thúc.

Câu này sử dụng biện pháp ẩn dụ. Nó có ý khuyên răn con người ta hãy biết sống hòa mình vào tập thể, vào xã hội...Đại ý là như vậy, nếu viết thành bài văn bình luận thì sẽ dài hơn và lấy được nhiều ví dụ để phân tích làm rõ.


BÀI THAM KHẢO

Có một lần, trên một chương trình truyền hình, tôi đã nhìn thấy hình ảnh những con linh cẩu sống thành bầy đàn hợp tác, hộ trợ nhau để săn bắt được những con mồi to lớn hơn. Khi đấy, tôi đã tự hỏi “Điều gì sẽ xảy ra, nếu một con linh cẩu ko sống với bầy đàn mà chỉ sống riêng lẻ”. Và để rồi một lần khác, tôi đã tự tìm ra câu trả lời cho câu hỏi đó khi nghe thấy một lời dạy bảo của Đức Phật “Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạn mà thôi”.

Lời dạy ấy của ngày thật giản dị mà sâu sắc bằng những hình ảnh rất cụ thể là “giọt nước” và “biển cả”. Giọt nước nhỏ bé và sẽ trở nên khô cạn đi nhanh chống nếu chỉ lẻ loi một mình nó, nhưng khi nó hòa vào biển lớn mênh mông, hòa vào hàng triệu, hàng tỉ giọt nước khác thì nó không bao giờ biến mất.

Và trong cuộc sống cũng thế, con người không thể nào chỉ sống mỗi một mình mà có thể sống được, tồn tại được.

Khi sống chỉ biết đến mình, không quan tâm đến mọi người, không có trách nhiệm với cộng đồng, vô tâm với xã hội,…thì tất nhiên, ta sẽ ko phải nhận dc những phiền toái do người khác, do cộng đồng, xã hội mang lại. Nhưng khi đó, ta cũng đã tự đánh mất những cơ hội nhận được sự giúp đỡ, quan tâm từ người khác. Và cũng có thể, ta đang tự làm hại chính bản thân ta một cách gián tiếp, vì ta là một phần trong cộng đồng, trong xã hội đó.

Hơn tất cả, “Con người là động vật có tinh thần” và cái “tinh thần” ấy bao gồm cả tính cộng đồng, đoàn kết bởi nhờ cái đoàn kết ấy mà từ thời xa xưa đến nay, con người mới có thể chống chọi lại với thiên nhiên khắc nghiệt mà tồn tại, phát triển. Nếu ta sống một lối sống “không cộng đồng, không xã hội”, tức là ta đã tự vứt bỏ đi phần “người” trong “con người” mình.

Ngược lại, nếu sống một cuộc sống hòa nhập, có trách nhiệm với cộng đồng, gắn kết với xã hội thì có thể ta sẽ phải cho đi rất nhiều, nhưng những thứ mà ta nhận được lại càng nhiều hơn. “Đoàn kết là sức mạnh”, chỉ có sự đoàn kết, sự gắn kết với nhau với cho ta sức mạnh để ta tồn tại, để ta phát triển trong thế giới này. Có những thứ một mình ta sẽ không làm được, nhưng một cộng đồng, một xã hội sẽ làm được.

Xã hội, cộng đồng là những cái mà ta không thể tách rời được cũng như “giọt nước” nếu tách rời “biển cả” thì sẽ nhanh chóng bị cạn khô. Thế nên khi ta sống, thì ta phải biết đến cộng đồng, phải có trách nhiệm với xã hội, phải biết hòa nhập với mọi người.

Lời dạy “Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạn mà thôi” của Đức Phật là một lời dạy thật đơn giản những lại cho ta một bài học có giá trị suốt cả cuộc đời. Để học được bài học ấy không phải là điều dễ dàng, nhưng tôi tin tất cả chúng ta sẽ làm được, bởi vì chúng ta là con người.

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
618 lượt xem


DÀN Ý

I. Mở bài

- Trong cuộc sống, ai cũng đều có tham vọng trở nên thành công trong cuộc sống. Nhưng để có được sự thành đạt không phải là một điều dễ dàng. Nó phải đi liền với sự thông minh, có hiểu biết. Tuy nhiên, những người thiếu kiến thức mà lại có lòng tham không đáy thì chỉ rước họa mà thôi.

- Giới thiệu câu chuyện “Ngọc trong đá”.

II. Thân bài:

1. Giải thích ý nghĩa của câu chuyện

- Người thợ đá sở dĩ thất bại bởi anh ta quá tham lam, muốn trở nên giàu có như người thợ ngọc trong khi anh lại thiếu hiểu biết về ngọc nên kết quả việc tìm ngọc của anh bị thất bại, chẳng những không tìm thấy ngọc mà còn hại cả bao nhiêu đá, tài sản của anh đến độ phá sản, đau buồn rồi chết.

- Câu chuyện cho thấy bài học lớn về bệnh tham lam và thiếu hiểu biết: tham thì thâm, thiếu kiến thức thì khó có thể thành công. Đăc biệt cùng một lúc mắc cả hai căn bệnh này thì càng nguy hại hơn.

2. Biểu hiện của căn bệnh này.

- Người mắc bệnh tham lam hay chạy theo lợi ích, dục vong cá nhân. Vì ham muốn của mình mà sẵn sàng bất chấp mọi thứ: khó khăn,mạo hiểm… hoặc có thể dùng mọi thủ đoạn để đạt được tham vọng. 

- Người mắc bệnh thiếu hiểu biết là những kẻ thiếu hiểu biết về cuộc sống xung quanh mình nên khi đi vào thực tế thường hay gặp thất bại.

- Lòng tham có thể che mờ lí trí khiến con người không còn suy xét đúng, sai, lợi, hại… dẫn đến những việc lam gây hậu quả nghiêm trọng.

-> Đây là hai căn bệnh nguy hiểm có thể gặp trong xã hội, làm mất đi vẻ đẹp của con người và cản trở sự phát triển của xã hội, thậm chí còn có thể gây ra những hậu quả khôn lường cho cá nhân và cho cả cộng đồng.

- Nếu cùng một lúc cùng mắc cả hai căn bệnh này thì rất nguy hiểm và khó chữa. Người tham lam mà không có hiểu biết về khoa học, về nguyên tắc sống…thì hậu quả do họ gây ra thật khôn lường.

3. Bình luận

- Trong cuộc sống con người nên có ước mơ, khát vọng và cái đích phấn đấu nhưng đừng để lòng tham vô đáy chi phối bản thân dẫn đến những việc làm sai lầm.

- Cần trang bị cho mình đày đủ kiến thức trước khi muốn thực hiện một công việc nào đó. Có như thế chúng ta mới gặt hái được thành công. Tri thức sẽ là kim chỉ nam cho hành động, suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của mình, giúp ta có được lí tưởng và việc làm đúng đắn.

III. Kết bài:

- Rút ra bài học cho bản thân.

- Cần có một thái độ sống đúng đắn và nó phải đi liền với sự thông thái, hiểu biết. Có được như vậy, mới mong có được thành công, hạnh phúc trong cuộc sống.

0
phiếu
0đáp án
537 lượt xem

Trong lớp có bạn cho rằng: “ Không nên kết bạn với những người học yếu”. Anh (chị) hãy viết một bài văn bác bỏ quan niệm đó?

Gợi ý:

A. Mở bài
- Ông cha ta từ xưa đã dạy con cháu: Chọn bạn mà chơi.
- Có ý kiến cho rằng: Không nên kết bạn với những người học yếu.
- Ý kiến đó đúng, sai ra sao? Chúng ta nên đối xử với các bạn học yếu trong lớp như thế nào?
B. Thân bài: Làm rõ những ý cơ bản sau
· Mặt đúng của ý kiến trên:
- Chơi với các bạn học yếu, chúng ta có thể bị ảnh hưởng tiêu cực nếu như không có bản lĩnh vững vàng. “ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
- Các bạn học yếu vì nhiều lí do, nhưng phần lớn là vì ham chơi, lười học.
- Thực tế cho thấy tốt lên thì khó, xấu đi thì dễ. Vì thế nếu ta chơi với các bạn yếu kém thì phải cân nhắc thận trọng.
· Mặt chưa đúng: 
- Nếu ta chỉ chơi với các bạn học giỏi, bạn tốt thì các bạn học yếu sẽ có mặc cảm tự ti, khó hòa hợp với tập thể.
- Điều đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập, tu dưỡng và phong trào thi đua của lớp.
· Nên đối xử với các bạn học yếu như thế nào cho đúng?
- Trước hết, chúng ta không nên xa lánh, hắt hủi mà cần động viên, khích lệ các bạn ấy bằng tình cảm chân thành.
- Đối với các bạn gặp khó khăn về hoàn cảnh kinh tế hoặc trình độ nhận thức thí chúng ta nên quan tâm giúp đỡ về vật chất, tinh thần, phương pháp học tập.
- Đối với các bạn ham chơi. Thích quậy phá thì kiên trì giải thích, phân tích để đưa bạn về với bổn phận của học sinh là học tập và tu dưỡng cho tốt.
- Khơi dậy tinh thần thi đua ở các bạn yếu kém. Phải tin tưởng vào sự cố gắng và tiến bộ của các bạn ấy.
C. Kết bài
- Cuộc sống hiện đại dặt ra nhiều cơ hội và thách thức cho thế hệ trẻ.
- Mỗi học sinh cần phải có nhận thức đúng đắn trong học tập và tu dưỡng.
- Các bạn yếu kém phải có nghị lực vượt lên chính mình để đáp lại niềm tin yêu của cbạn bè, thấy cô, cha mẹ.
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

    Ăng-ghen nói: “hành trang quan trong nhất của con người là khiêm tốn và giản dị”. Câu nói rất đúng trong xã hội hiện nay. Nếu lòng chân thành giúp ta có một thế đứng vững chắc trong quan hệ giao tiếp thì tính giản dị giúp con người tránh xa những thất bại tầm thường, tính khiêm tốn cho ta những thành công trong cuộc sống. vậy bây giờ ta đặt câu hỏi:

Khiêm tốn là gì?

Lòng khiêm tốn cho những con người đứng đắn, biết nhìn xa. Người khiêm tốn là người nhã nhặn, không tính tự cao tự đại, hướng thiện, nêu cao óc học hỏi, không đề cao cá nhân với người khác....người khiêm tốn luôn cho mình là kém cõi cần phải học hỏi thêm.
    Tại sao phải khiêm tốn?
    Cuộc sống là một cuộc chiến, nếu chúng ta dừng lại với thành công của mình ở hiện tại tức là đã chấp nhận thất bại ở tương lai, ở lại quá khứ làm kẻ thua cuộc. con người có tài cán bao nhiêu đi chăng nữa thì cái khôn ngoan hiện hữu ấy cũng không thể được quả quyết là không ai hơn được. đương nhiên ta nhìn xuống thì có nhiều người kém cõi ta, nhưng nếu ta đem so sánh như vậy thì là điều vô lí vô cùng. Hãy nhìn lên phía trên kia kìa! Bạn là người tài giỏi ư? Tôi tin ngoài xã hội còn hàng vạn người hơn bạn. bạn là một doanh nhân thành đạt ư? Ngoài đời còn hành tá tỉ phú mà bạn không thể dếm nổi số thứ tự của mình đâu. Nếu trong lòng bạn muốn nuôi dưỡng một tư tưởng tuyệt đối hơn người thì không có lợi ích nào cho bạn ngoài cái “hạnh phúc” vô lí!

Trong khiêm tốn người ta tự cho mình là kém và cân học nữa, họ coi thành công như sự an ủi. các nhà bác học càng lớn càng thấy mình cần phải khiêm tốn là lẽ đương nhiên. Nhà vật lí học Niuton đã so sánh mình như một đứa trẻ dạo chơi trên bài biển may mắn nhặt được hòn sỏi đẹp và trước mắt là bể chân lí bao la. Ông còn nói: sở dĩ tôi nhìn xa là vì tôi ngồi trên vai người khổng lồ. Lê-nin có lời khuyên với thanh niên về cách nghĩ và hành động khiêm tốn: nếu tôi biết tôi biết ít tôi sẽ tìm cách để hiểu biết hơn, nhưng nếu anh tuyên bố là người cộng sản không cần biết điều cơ bản thì ở anh không có chút gì công sạn hết.Điều ta nên nhớ là Le-nin có tói 9000 sách của 15 thứ tiếng và 9 ngoại ngữ Anh,Pháp, Đức,...tính khiêm tốn không cho phép mình nghĩ ngơi trên những thành công đã đạt được và còn nhiều minh chứng cho tính chất đó ví dụ như ở Anhxtanh, Sodrat, Alecxander,..
     Ở một khía cạnh nào đó, khiêm tốn phải đi đôi với gỉan dị. vậy giản dị là dị? Giản dị là cách sống hòa nhập, tự nhiên hóa cuộc sống, sống phù hợp với hoàn cảnh, không cầu kì xa hoa. Giản dị thể hiện ở nhiều khía cạnh: cách ăn nói cẩn thận, không khoa trương, lời nói đơn giản, ngắn gọn dễ hiểu, không quan trọng hóa vấn đề, xem xét vấn đề dưới cái nhìn khoa học...Tại sao phải giản dị? tại vì đó cách sống khoa học. Thử hỏi cái đích của cuộc sống có phải là chân thiện mĩ? Con người vứt bỏ phiền toái ở xã hội và từ trong tâm trí họ sống hòa nhập với thiên nhiên, thân thiện với mọi người. tính giản dị rất cần trong cuộc sống, nó giúp ta tiết kiệm thời gian, khiến mọi người xung quanh tôn trọng ta, ta trở thành người biết cách ứng xử, gấn gũi chan hòa với mọi người.

Bác Hồ cảu chúng ta là một mẫu mực về tính giản dị và cả khiêm tốn được cả thế giới công nhận. Bác là chủ tịch nước nhưng lại ở nhà sàn, trồng rau, đi dép cao su,.. trong chiến dịch việt-bắc Bác ở hang Pác Pó, dùng đá làm bàn, ăn chao bẹ rau măng, uống nước sông suối,..Bác nói chuyện thân mật cởi mở như gia đình. Gs.Ngô Bảo Châu người vừa nhận giải Field toán học ăn mặc cũng bình thường, nhà khá nhưng đi học bằng dép cao su. Ông ăn nói giản dị khi khao bạn bè thì nói : “chẳng mấy khi tao giàu hơn chúng mày”.Noí đến giản dị phải kể đến người Nhật, họ giàu có nhưng ra đường thì cho dù là quan chức hay học sinh, là doanh nhân hay trí thức cũng trang phục bình dị như nhau, căn nhà họ sống không trang trí bằng những món đồ công nghệ đắt giá, mà trái lại là những thứ mang dậm tính bản sắc dân tộc.

Vậy là ta đã định nghĩa được khiêm tốn và giản dị trong câu nói của Ăng-ghen. Hai đức tính này nếu dược phát huy tốt sẽ tạo nên những hiệu ứng dặc biệt. Nhưng thật buồn vì những giá trị này không được chú ý. Có người tự mãn với số vốn kiến thức sẵn có, có người học đến một học vị nào đó rồi cho là “công thành danh toại” không cần nghiên cứu nữa. có người giàu có và tự cho là đủ nên chỉ lo ăn chơi tiêu xài, không lo phát triển, đến khi trắng tay rồi mới hối hận. có hiện tượng tương tự là thói khiêm tốn giả tạo-là thói khiêm tốn quá mức hóa ra là thói tự cao tự đại, nấp dưới bóng dáng của khiêm tốn thật sự. những hiện tượng trên mau chóng xóa bỏ sự tồn tại của đức tính khiêm tốn. bên cạnh đó thói đua đòi xa xỉ, chi xài của cải thời gian vào việc vô bổ cũng thật sai lầm. ăn mặc lòe loẹt chi vậy? nó không tạo cho ta cái đẹp thâm chí làm trò “lố bịch” cho thiên hạ. “Mốt thời trang đã khiến ta mất dần cái tính giản dị, do đó phải ăn mặc cho phù hợp với hoàn cảnh.
    Khiêm tốn giản dị chúng ta phải làm gì? Chúng ta phải biết đánh giá không thiên vị thực tài, không được coi thường thế hệ nhỏ tuổi, nêu cao ý thức học tập, phát triển không ngừng tư duy sáng tạo; sống cho phù hợp với hoàn cành và các giá trị chân-thiện-mĩ.
    Nói tóm lại, chỉ có khiêm tốn chúng ta mới có thể tiến bộ, chỉ có giản dị chúng ta mới có thể hòa nhập tự nhiên. Ăng- ghen đã nói đúng. Khiêm tốn và giản dị là công cụ đắt lực phục vụ ta trên đường đời. Có khiêm tốn và giản dị cùng với lòng chân thành thành công tự nhiên sẽ đến với bạn.

0
phiếu
0đáp án
488 lượt xem

      Mỗi con người ta khi sinh ra đều có những ước mơ, hoài bão cho riêng mình. Những ước mơ đó là những khát khao, hi vọng mà chúng ta vươn tới. Để thực hiện ước mơ đó, trước tiên chúng ta cần phải lao động, suy nghĩ và làm viẹc hết mình để góp phần nâng cánh những ước mơ trỏ thành hiện thực. M Goorki đa nói: Lao động là đoi cánh của ươc mơ, la cội nguồn của niềm vi và sáng tạo”
       Lao động là những hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra những của cải vật chất và tinh thần cho bản thân và cho xã hội. Những hoạt đọng đó đã góp phần nâng cánh những ước mơ, những mong ước thiết tha về những điều tốt đẹp trong tương lai. Như vậy, lao động là đôi cánh những ước mơ bay cao, bay xa, đưa con người đến những thành công mới, khám phá những điều bất ngờ, thú vị. M Gooriki đã khẳng định sâu sắc vai trò của lao động đối với mỗi người, đối với toàn xã hội. Lao động là một cách để chúnh ta khẳng định mình, vươn tới những đỉnh cao của trí tuệ, tri thức. Mỗi chúng ta đều có những ước mơ lớn lao hay những gì thân thuộc đều là cả một quá tình phấn đấu, vươn lên. Không ngừng suy nghĩ và làm việc, chúng ta mới có thể góp hần xây dựng và phất hiện nó. Thự tế, trong lao đọng nhiều người đã thấy khó khăn, mệt mỏi. mong muốn giản đơn của họ à sáng tạo ra một cái gì đó giúp họ đỡ vất vả. Nhứng ước mơ đó được xây dựng từ trong lao đọng và cúng được chính lao động nâng cánh cho ước mơ bay cao, bay xa. Phải lao động, nổ lực hết mình chúng ta mới có thể thực hiện được ước mơ đó. Đó là hình ảnh của bạn học sinh Đỗ Bằng Định- Học sinh trương THPT Phạm Ngũ Lão- Đông Anh- Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình làm nông với hai vụ lúa chính và một vụ màu, phải thương xuyên lao đọng giúp gia đình, nhận ra sự khó khăn trong việc tách vỏ hạt đậu của bà con nông dân, Định đã nuôi ước moe ché tạo thành công chiếc máy tách vỏ hạt để giúp bà con nông dân đỡ vất vả. Sau một thời gian dài nghiên cứu và tìm tòi. Định đã chế tạo thành công chiếc máy tách vỏ hạt đậu, Tuy chỉ mới ở dạng mô hình nhưng cậu học sinh này tin rằng trong tương lai, cậu có thể nhân rộng ra chiếc máy để giúp đỡ mọi người. Không chỉ Định mà hiện nay ở nước ta có rất nhiều người đã nuôi ước mơ và nâng cánh ước mơ từ lao động mà đặc biệt là thế hệ trẻ- những chủ nhân tương lai của đất nước với những sự sáng tạo và cống hiến hết mình. Những sự sáng tạo cua thế hệ trẻ đó, có lẽ, dều bắt nguồn từ lao động. Phải hiểu được những gì mình và mọi người cần trong xã hội thì chúng ta mới có thể chủ động sáng tạo, phát huy được khả năng của mình. Và trong những lúc lao động ấy, được cống hiến là niềm vui của mỗi người. Lao động không mệt mỏi còn giúp chúng ta vơi đi những nổi buồn, nỗu đau trong cuộc sống. làm việc hết mìnhm suy nghĩ hết mình, sáng tạo làm cho chúng ta vui hơn khi mình có thể sáng chế, tìm tòi ra những cái mới. Chính từ lao động, chăm chỉ làm việc mà cuộc sống của chúng ta dần được cải thiện. Những thành quả lao động góp phần rất lớn vào cuộc sống vật chất va tinh thần của mỗi người. Va khi mà cuộc sống của chúng ta phát triển thì xã hội cung đi lên, phát triển mạnh mẽ, hội nhập ra toàn thế giới.
      Như vậy, ý kiến của M Goocki là hoàn toàn đúng. Mỗi chúng ta đều phải tích cực lao động, lao động không ngừng, phát huy những khả năng sẵn có của bản thân. Đồng thời chúng ta cần phải tích cực học tập, tìm tòi và phát triển cái mới. Cần tích cực nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo ra những phương thức mới, kĩ thuật mới. Bên cạnh đó, mõi người chúng ta phải có thai đọ tích cực, tự giác nghiên cức, ứng dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật. có tính tự giác, kỉ luật cao trong lao động để có được những thành quả lớn nhất. Tuy nhiên, thực tế hiẹn nay có rất nhiều người không chịu lao động, chỉ biết ỉ lại, sống dựa dẵm vào sức lao dộng của người khác: suốt ngày chỉ biết chơi bời, không chịu làm việc. Hay là hiện nay có rất nhiều bạn trẻ tuy lao động nhưng lại không biết cách sáng tạo ra những phương pháp mới, chỉ biết làm theo những cái cũ không còn thích hợp với điều kiện và yêu cầu lao động hiện nay. Mỗi người chúng ta, trước hết là phải lao động và sáng tạo và tìm tòi những cái mới, đồng thời cũng nhắc nhở, động viên những người xung quanh lao động sáng tạo để có kết quả tốt nhất.
      Như vậy, có lao động chúng ta mới có điều kiện phát huy khả năng của bản thân, nâng cánh cho những ước mơ bay cao, bay xa. Lao động còn giúp cho cuộc sống và xã hội thêm phát triển, vì vạy mà chúng ta cần phải tích cực hơn trong lao động để có điều kiện vươn cao, bay xa hơn, đi đến những tầm cao mới.

0
phiếu
0đáp án
887 lượt xem

Gợi ý bài làm

I. GTVĐ

Khi bàn về niềm tin trong cuộc sống, nhiều người trong chúng ta sẽ nhớ đến một câu chuyện mang nội dung giáo dục sâu sắc – vai trò của niềm tin và hậu quả của mất niềm tin - đó là câu chuyện về một vị tướng quân khi xuất trận, vị vua của đã hỏi vị tướng quân ấy như sau: nếu phải chọn đánh mất trong các điều sau thì tướng quân chọn đánh mất cái gì trước, cái gì sau: quân đội, đất nước, niềm tin? Vị tướng quân ấy đã trả lời rằng: tôi sẽ chấp nhận đánh mất quân đội trước, vì nếu mất quân đội thì còn đất nước và niềm tin tôi sẽ gây dựng lại quân đội; nếu phải đánh mất nhiều hơn thế thì tôi chấp nhận mất quân đội và đất nước mà giữ lại niềm tin, vì nếu còn niềm tin thì tôi sẽ tập hợp quân đội mà lấy lại đất nước. Nhưng nếu đánh mất niềm tin mà còn quân đội và đất nước thì không sớm thì muộn cũng đánh mất tất cả. Đó là sự lựa chọn khôn ngoan nhất! Chính vì thế sách Dám thành công dạy rằng: “Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa”. 

II. GQVĐ

1. Giải thích

- Về nội dung trực tiếp: lời phát biểu trên nói về hậu quả của việc đánh mất niềm tin vào bản thân. Nếu con người đánh mất niềm tin thì hệ quả tất yếu là sẽ đánh mất nhiều thứ quý giá nữa.

- Về thực chất: ý kiến này đề cập đến vai trò quyết định của lòng tự tin. Nếu có niềm tin là có tất cả, nếu đánh mất niềm tin là đánh mất tất cả.

2. Bàn luận về tự tin và mất tự tin

- Người có lòng tự tin luôn luôn khẳng định năng lực và phẩm chất của mình, coi đó là nguồn sức mạnh chân chính, có ý nghĩa quyết định, giúp con người vững vàng, lạc quan và thành công trong cuộc sống. Do đó tự tin là đức tính quý báu của con người!

- Khi mất tự tin: 

+ Con người không còn tin vào năng lực và phẩm chất của bản thân nên sẽ đánh mất những điều kiện cơ bản và cần thiết giúp đạt đến những giá trị quý báu: nghị lực và ý chí, hy vọng và lạc quan...

+ Con người không còn khả năng đương đầu với những khó khăn, thử thách nên dễ dàng buông xuôi, bỏ mất những cơ hội tốt trong cuộc sống...

3. Bài học nhận thức và hành động.

- Trong mọi hoàn cảnh sống, đặc biệt khi gặp những khó khăn, thử thách cần nêu cao bản lĩnh, không đánh mất niềm tin vào chính mình.

- Luôn sống tự tin nhưng tránh chủ quan. Phải cảnh giác với những việc tự tin mù quáng. Phải tỉnh táo để biết lắng nghe, biết học hỏi, hợp tác; biết tu dưỡng phẩm chất và trau dồi năng lực của bản thân vì đó là cơ sở của lòng tự tin.

III. KTVĐ

- Khẳng định ý nghĩa, giá trị giáo dục, tác động tích cực đến xã hội nhất là thế hệ trẻ của ý kiến trên

- Bài học bản thân.

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
932 lượt xem

Bài làm

         Tục ngữ Việt Nam là một kho tàng quý giá cất giữ niềm tin, nhận thức, tư tưởng, phản ánh xã hội xưa và nay của nhân dân ta. Có thể nói tục ngữ là túi khôn, là tri thức bách khoa dân gian của dân tộc.
        Đề tài của tục ngữ vô cùng đa dạng và phong phú. Chúng nói về các hiện tượng tự nhiên, quan hệ giữa con người va thiện nhiên, nói về đời sống vật chất, tinh thần, về các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ và xã hội…nhưng nổi bật hơn cả là đề tài lao động với cặp chủ đề công lao - hưởng thụ trong câu tục ngữ sau:
“ Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”
      Có lẽ khi đọc câu tục ngữ này lên thì ai cũng biết nó có nghĩa là “ tay có làm thì hàm mới có nhai, tay không làm thì hàm không có cái để nhai” nhưng câu tục ngữ này không mang ý nghĩa đơn giản như thế mà nó còn mang một ý nghĩa khác – một ý nghĩa giáo dục con người.
       Trong câu tục ngữ xuất hiện nhiều hình ảnh “ tay làm, hàm nhai, tay quai, miệng trễ” tượng trưng cho sức lao động, thành quả đồng thời là sự công bằng trong xã hội. Hình ảnh “tay làm” thể hiện sức lao động của con người. Ngược với hình ảnh này là hình ảnh “tay quai” thể hiện sự lười biếng, không làm việc. Nếu như chăm chỉ, cần cù thì bản thân sẽ nhận được thành quả “hàm nhai” xứng đáng với công sức mà mình bỏ ra. Một ví dụ đơn giản trong môi trường học đường đó chính là những bạn học sinh giỏi. Có phải là tự nhiên mà họ học giỏi hay là họ phải cố gắng học tập ngày đêm ở nhà lẫn ở trường để được như thế? Trên đời đúng là có những người khi sinh ra đã rất thông minh nhưng nếu như họ không cố gắng tích lũy thêm kiến thức thì làm sao có thể trở thành giỏi được. 
        Những hình ảnh hoán dụ đơn giản, bình dị, gắn bó thân thiết với mỗi người nhưng thể hiện nhiềy ý nghĩa sâu sắc : “ Có lao động thì mới có thnàh quả; không lao động sẽ không có thành quả, không tạo ra được của cài vật chất. Nổi bật trong câu tục ngữ là nghệ thuật đối lập giữa vế một “tay làm hàm nhai” với vế hai “tay quai miệng trễ”, kèm theo đó là cặp từ đối nhau như tay làm đối với tay quai, miệng nhai đối với miệng trễ đã một phần nào đó nói lên nghệ thuật đặc trưng của tục ngữ Việt Nam.
       Nhờ những liên tưởng đồng thời gắn với những hình ảnh quen thuộc đã làm cho những triết lí khô khan, những tư tưởng đạo đức trở nên dễ hiểu, đơn giản nhưng chắt lọc, thấm nhuần vào tư tưởng người Việt Nam như câu tục ngữ “ Tay lam hàm nhai, tay quai miệng trể” đã nhắc nhở, giáo dục cho bản thân mỗi người nên siêng năng, cần cù lao động và sự công bằng trong việc phân phối thành quả lao động. Còn những kẻ lười nhát, không siêng làm việc thì sẽ chẳng bao giờ có của cải, vật chất, mãi mãi không thể giàu có.
        Để có được thành quả “hàm nhai” xứng đáng, bản thân mỗi người phải biết tự lao động, cố gắng, phải biết nắm bắt những cơ hội, điều kiện đến với mình. Điều kiện và cơ hội chỉ là một phần nhỏ trong thành quả, quan trọng là ở bản thân mỗi người phải làm thế nào. Người biết lao động thì sẽ thành công còn những người lười biếng thì sẽ bị gạt bỏ khỏi xã hội này. Trên mỗi bước đường thành công không bao giờ có dấu chân của kẻ lười biếng.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
443 lượt xem

       Trong cuộc sống của mỗi con người, ai cũng có một lí tưởng để sống, để làm việc, học hành. Có lí tưởng thì ta mới có được một sự quyết tâm để vươn tới những thành công sau này. Có lí tưởng đặt ra thì mọi ước mơ và cố gắng của chúng ta sẽ không bao giờ lãng phí. Nhà văn Nga Lép Tôn-xtoi đã nói rằng: “Lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”. Vậy chúng ta suy nghĩ thế nào về câu nói này của Tôn-xtoi khi mà ngày nay, xã hội ngày càng tiến bộ, đời sống và nhân dân đang ngày một vươn xa ?
       “Lí tưởng” là mục đích cao cả, là những gì tốt nhất mà chúng ta cần phải đạt đến. “Ngọn đèn” là một dụng cụ chiếu sáng, nhưng đó chỉ là nghĩa đen, ta còn có thể hiểu theo nghĩa bóng là một người dẫn đường, một người bạn đồng hành cùng chúng ta trên con đường đi tìm lý tưởng, soi rọi cho chúng ta thấy được những chướng ngại vật đang cản trở con đường, giúp ta tới đích một cách dễ dàng. “Phương hướng kiên định” là sự quyết định của con người về hướng đi của mình, là suy nghĩ của bản thân về việc phải làm và sẽ làm trong tương lai, thể hiện được nghị lực, quyết tâm của người đó để không lùi bước trước khó khăn thử thách. “Cuộc sống” là đời sống hiện tại với những quá trình sống cùng những hoạt động của xã hội. Câu nói của Tôn-xtoi muốn nêu cao tầm quan trọng của lí tưởng, là người dẫn đường đưa chúng ta đến thành công, nếu không xác định lí tưởng thì ta sẽ không có nghị lực mà không có nghị lực thì sẽ không phát triển được trong cuộc sống này.
      Câu nói của Tôn-xtoi rất đúng trong mọi thời đại. Sống có lý tưởng sống cao đẹp là sống luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện bản thân, giúp ích cho mình, gia đình xã hội và đất nước. Có lý tưởng đúng đắn thì ta sẽ vượt qua mọi thử thách, đương đầu với mọi thử thách trong cuộc sống đầy gian nguy. Chỉ cần có lý tưởng thì những gì ta muốn đều có thể đạt được rất dễ dáng, chỉ cần ta cố g8ang1 vươn lên, không quản ngại. Nhưng chỉ nói thôi thì không đủ, chúng ta cần phải thực hành. Và để thực hành được thì không phải ai cũng làm được.
       Trong cuộc sống, ta có thể bắt gặp được những lý tưởng cao đẹp thể hiện rõ nét và nhiều nhất là những người nghèo khổ. Tuy nghèo nhưng họ đã thể hiện được một lý tưởng cao đẹp có thể giúp họ vươn lên trong cuộc sống. Những chương trình truyền hình dành cho người nghèo điển hình như chương trình “Vượt lên chính mình”, những gia đình nghèo khổ khi tham gia chương trình này đều thể hiện được lí tưởng vươn lên để thoát khỏi nợ nần để phát triển kinh tế gia đình và hội nhập trong xã hội. Đó là những tấm gương điển hình cho chúng ta thấy được ý chí vượt lên, vượt qua mọi thử thách của con người và lí tưởng cao đẹp của họ. Nhưng trái với hình ảnh này lại có những người không định sẵn cho mình một lí tưởng, đặc biệt là lớp trẻ bây giờ, những nhà giàu có khá giả, chỉ biết nghĩ tới tiền, sử dụng tiền vào những việc vô ích, không màn đến tương lai của mình. Một số người lại cho rằng mọi thứ do ông trời sắp định sẵn nên cũng chẳng them quan tâm đến lí tưởng là gì. Đó là những người không thể chấp nhận trong xã hội, rồi đến một lúc nào đó họ sẽ không thể tồn tại được trong một xã hội như thế này nếu như không có lí tưởng đúng đắn.
       Bản thân mỗi chúng ta cần phải xác định rõ ràng mục đích lí tưởng ngay từ những lúc còn đang ở trong bậc sư phạm để khi ra đời chúng ta hãy lấy đó làm nền tảng để đưa chúng ta đến với thành công trong công việc cũng như những thứ khác trong xã hội này. Tuy vậy, nhiệm vụ trước mắt là phải học tập thật tốt, cần hình thành cho mình kĩ năng tự lập, không phụ thuộc vào người khác. Khi ra đường, cần phải có những hành vi tốt, không để lại hình ảnh xấu cho bản thân mình cũng như xã hội.
      Vậy mỗi người chúng ta cần phải thực hiện cho mình một lí tưởng cao đẹp để khi ra đời ta xem đó là nền tảng của một bước đường tiếp theo, bước đường đưa ta vào đời và dẫn ta tới ngưỡng cửa của thành công.
0
phiếu
0đáp án
548 lượt xem

         Người bạn thân mến, tớ tự hỏi k bíêt cậu có còn nhớ ng bạn phương xa này k.Chúng ta dù chỉ quen nhau qua thư từ nhưng tớ nhận thấy chúng ta thực sự là những ng bn tri kỉ với nhau,đặc biệt là trong những quan điểm và nhận định về nhìêu vấn đề xã hội.Thực ra muốn tìm một người như thế k phải dễ đâu bạn à.Hôm nay tớ víêt lá thư này là để chia sẽ với bạn một vài quan điểm về cái mà chúng ta đang làm tất cả để có đc đó là điều kiện lao động,liệu điều kiện lao động tốt có khả năng giúp chúng ta đạt đc nhìêu thành công k?
      Để đánh giá đc vấn đề này trước tiên ta cần nhận định đc khái niệm của nó,vẫn như trước đây chúng ta vẫn thường làm thôi.Cụ thể trong trường hợp này, điều kiện lao động tốt nghĩa là bạn sẽ đc làm việc trong 1 môi trường tốt, đc đánh giá và sắp xếp đúng công việc mà bạn đã đc đào tạo và cũng là niềm say mê suốt trong những năm tháng qua.Dĩ nhiên chúng ta ai cũng muốn có cơ hội có đc công việc tốt nhất và đúng với chuyên ngành.Bạn đã nghiên cứu,học tập,phấn đấu,dành thời gian cho ngành nghề đó trog suốt bao nhiêu năm qua và bn rành về nó hơn bất kì ai hết,đó là lợi thế mà tớ nghĩ ai cũng có khả năng phát huy đc,một sở trường tạo lợi thế mạnh mẽ trên con đường tạo lập sự nghiệp.Sự nghịêp tốt cũng có nghĩa cuộc sống của bạn,gia đình bạn và mọi ng xung quanh bn đều sẽ suôn sẻ hơn.
       Điều thứ hai là bạn có một môi trường làm việc tốt,k khí,ánh sáng ,điều kịên vệ sinh và an tòan lao động luôn đc bảo đảm tốt nhất.Môi trường tốt đảm bảo sức khỏe tốt, sức khỏe tốt thì k còn trở ngại nào đáng lo để làm bạn chùn bước trong công việc,mặt khác đó là động lực mạnh mẽ để bạn tiến lên vì lúc nào bạn cũng hiểu rõ sức khỏe của mình,biết rằng mình luôn đc chăm sóc tốt nhất mà k phải lo gì cả, đó là đìêu kiện về tâm lí có ảnh hưởng tích cực đến thành quả lao động của mỗi chúng ta.
      Hịên nay pháp luật nc ta cũng đã có quy định về số giờ làm việc trong ngày,những phúc lợi và chế độ hợp lí về vật chất và tinh thần cho nhân viên,đặc biệt là những ng làm việc chân tay khá nặng nhọc,hơn ai hết họ cần đc quan tâm và đãi ngộ với những chế độ đặc biệt.Muốn đc làm việc tốt phải có sức mạnh về thể chất và tinh thần,sức khỏe,tiền lương,sự nghỉ ngơi và thư giãn sẽ là những điều kiện tốt củng cố niềm tin trong công việc, một động lực khá vững vàng và là nền tảng vững chắc trong công việc khó có thể lung lay đc.
Có lẽ bạn cũng phải thừa nhận với mình một khi công việc của bạn hòan thiện,bạn có thu nhập ổn định và với bạn mọi thứ ở nơi bạn đang làm việc thật tuyệt vời khó có thể chê vào đâu đc thì tớ tin rằng cuộc sống hẳn cũng sẽ k quá tệ đâu.Bạn có lương cao,làm việc vừa sức,tiền bạc,sức khỏe,niềm vui ,bạn bè,gia đình…với bạn mọi thứ đều cân bằng thì thực sự cuộc sống của bạn đã đạt đến sự lí tưởng tuyệt vời k thể chê vào đâu đc.
Chúng ta đang sống mà sống là để ngày càng hòan thiện bản thân,vươn tới những điều bạn luôn cho là khó xảy ra với sự hỗ trợ mạnh mẽ về bên trong lẫn bên ngòai.Cuộc sống của chúng ta sẽ thực sự có ý nghĩa nếu có sự phấn đấu vững vàng cộng thêm những yếu tốt ngọai cảnh thuận lợi.Chúng ta đều đã đi làm và đều biết giá trị cũng như ý nghĩa của những đìêu kiện thuận lợi sẽ tác động thế nào tới hiệu quả làm việc và sau cùng là cụôc sống.Một cuộc sống k phải của riêng ta mà của gia đình,bè bạ, nói rộng ra là cả thế giới đó bạn thân mến ạ.Chính điều kịên lao động là cái ảnh hưởng gián tiếp đến cuộc sống và chất lượng cuộc sống của chúng ta,mình tin bạn cũng chấp thuận điều đó.Như bạn biết đó,thế giới đang lâm vào tình trạng khủng hỏang và một trong những nguyên nhân đó là nhữn ng làm công,một trong số họ cũng làm việc như chúng ta nhưng có vẻ k đc đối xử đúng mực,cuộc sống k cao hơn mà ngày càng tệ,đó chính là lời giải đáp vì sao thế giới đang bước vào tình hình khủng hỏang trầm trọg,cũng khá dễ hiểu đó k phải là nguyên nhân duy nhất nhưng cũng có ảnh hưởng đó bạn.
       Chà,có vẻ mình nói hơi nhiều rồi,và mình nghĩ giờ là lúc hỏi thăm sức khỏe,gia đình và công việc của bạn,mình hi vọng mọi việc đều tốt,cháu Vi chắc cũng bập bẹ đc rồi.Dạo này tớ có phần rảnh rỗi hơn, đó là nhờ tớ có ng bạn tốt như bạn đó,những phương pháp thư giãn thật hiệu quả và tớ k còn stress nữa.Mình hi vọng lá thư sau mà mình nhận đc từ bạn sẽ có những dòng tâm sự về cuộc sống gia đình bạn hiện giờ cũng như những nhận định,đánh giá và suy nghĩ của bạn về vấn đề mà mình nêu ở trên.K phải tình cờ tớ nói đến việc đó đâu,vì tớ nghĩ nếu có nhận định đúng về vai trò của điều kịên lao động thì một số ng làm việc như chúng ta sẽ k còn lo ngại gì nữa.Chào bạn thân mến,chúc bạn năm mới tốt lành,may mắn,chúc cho tình bạn của chúng ta mãi vững bền và thắm thiết hơn,chúc cho những quan điểm đúng đắn về cuộc sống.
Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
545 lượt xem

       “Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu, mà ở chỗ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí” (Let-xinh)
      “Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu, mà ở chỗ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”. Câu nói của Let-xinh gợi cho ta nhiều suy nghĩ về những thành công và thất bại trong hành trình tìm kiếm những giá trị cao đẹp của đời sống con người.
      Trong cuộc sống, con người luôn khao khát khám phá những giá trị của bản thân mình : mình đang đứng ở đâu? Mình là ai trong mắt mọi người, trong đời sống xã hội? Xác định được vị trí, hiểu được vị trí bản thân là nhu cầu tất yếu, chính đáng của mỗi con người. Song, không phải ai cũng có được nhận thức đúng đắn về điều đó. Có những kẻ luôn ngộ nhận về khả năng của mình, họ cho rằng mình là số một, là chân lí của cuộc sống. Đó là tư tưởng của những kẻ độc tài, tự kiêu và tự phụ. Lại có người nhút nhát, sợ sệt mọi thứ, không bao giờ nghĩ rằng mình có thể làm được điều gì có ích. Đó lại là những người tự ti. Rõ ràng“Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu”, tức là giá trị của con người không nằm ở những gì tốt đẹp, đúng đắn mà bản thân họ có hay họ nghĩ rằng mình có. Vậy giá trị ấy nằm ở đâu? Nó nằm ở những “gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”.
      Vậy là, điều được ghi nhận trong giá trị của con người là những nỗ lực, những cố gắng trong hành trình đi tìm, vươn tới cái đẹp, cái thiện ở đời.
Tại sao vậy?
        Cuộc sống là hành trình con người đi tìm mình và tự khẳng định mình. Ai cũng khao khát vươn tới cái hoàn mĩ của sự sống. Nếu con người đạt được một điều nào đó, một chân lí trong cuộc sống thì chân lí đó đã được con người chiếm lĩnh. Nhưng bất hạnh nằm ở việc chân lí cũng có tính tương đối, nó có thể đúng trong nhiều trường hợp nưhng lại sai trong một số trường hợp. Vậy nếu con người bằng lòng với chân lí mình có, dừng lại cuộc hành trình tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống thì khi ấy con người thất bại. Vậy kết quả của mọi công việc chưa phải là điều lớn nhất mà chúng ta đòi hỏi ở một con người. Quan trong là con người ấy đã vượt khó, vượt khổ để đi tới thành công. Chính trong quá trình vượt qua những gian khó mà con người nhận lãnh trên đường đi tìm chân lí đã giúp con người bộc lộ nhiều phẩm chất, đức tính của mình. Đó có thể là sự chăm chỉ cũng có thể là lười nhác. Đó có thể là can đảm cũng có thể là hèn nhát. Đó có thể là sáng tạo, năng động nhưng cũng có thể là thụ động, máy móc. Đó có thể là sự chân thành nhưng cũng có thể là sự dối trá,.. Hành trình đi tìm cái đẹp là hành trình chạy đua trong một đường hầm kín. Kẻ về đích sớm nhất, ló dạng ra khỏi đường hầm sớm nhất chưa chắc là kẻ nhanh nhất, giỏi nhất, tốt nhất,.. Chính bởi những điều ấy, giá trị đích thực của một con người phải là những “những gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”.Qua quá trình vượt qua những điều khó khăn ấy, con người bộc lộ những phẩm chất, giá trị của mình.
       Trong cuộc đời này, mọi người đang cùng đứng trên một quả đất nhưng mặt đất ta đứng không bằng phẳng mà chỗ cao, chỗ thấp. Ấy bởi mỗi người một hoàn cảnh, một đêìu kiện khác nhau. Còn chân lí lại là một độ cao nhất định mà tất cả chúng ta phải vươn tới mới đạt được. Vậy thì, giá trị của mỗi người không nằm ở việc ai chạm tay vào chân lí sớm hơn mà nằm ở việc đã nhảy như thế nào từ vị trí của mình để đến được với chân lí.

0
phiếu
0đáp án
403 lượt xem

Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam ta luôn gắn liền với quá trình giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện bản lĩnh vững vàng trước sự du nhập của những trào lưu văn hóa ngoại lai. Hiện nay, xu thế mở cửa, giao lưu, hội nhập văn hóa ngày càng trở nên sâu rộng, bản lĩnh văn hóa Việt Nam đang phải đối mặt trực tiếp với những thách thức lớn, liên quan đến sự sống còn của dân tộc. Trước những yêu cầu của dân tộc và thời đại, đặc biệt là trong xu thế giao lưu, hội nhập hiện nay, việc xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam có ý nghĩa to lớn đối với việc phát huy sức mạnh văn hóa, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Bản lĩnh của một nền văn hóa là tổng hợp toàn bộ những nhân tố thể hiện cốt cách, khí phách, tư chất và sức mạnh khẳng định bản sắc dân tộc trước tác động của các nền văn hóa khác trong giao lưu, hội nhập. Một nền văn hóa thiếu bản lĩnh thì dễ bị đánh mất bản sắc dân tộc. Bản sắc văn hóa là hồn dân tộc và do vậy, mất bản sắc văn hóa chẳng khác nào một người không còn thần sắc. Phát huy bản lĩnh văn hóa Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa, chính là việc nuôi dưỡng và bồi đắp sức sống cho những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, trước sự tác động đa chiều của thời đại.

Việt Nam có lịch sử phát triển văn hóa lâu đời. Lịch sử đó thống nhất với lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước. Với đặc thù tự nhiên, với vị trí địa lý là trung tâm giao lưu bắc nam, đông tây, Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp thu và đã tiếp thu được nhiều giá trị văn hóa bên ngoài để làm giàu văn hóa dân tộc. Có thể nói, đầu vào của văn hóa Việt Nam rất đa dạng, nhưng đầu ra lại rất đặc sắc Việt Nam. Nền văn hóa Việt Nam có nhiều dấu ấn, giá trị văn hóa đặc sắc của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, thậm chí cả của phương Tây. Các giá trị văn hóa bên ngoài rất đa dạng, phong phú, nhưng khi vào Việt Nam đều được Việt Nam hóa. Chẳng hạn, từ bi của Phật giáo khi xâm nhập vào Việt Nam đã trở thành đại từ, đại bi của Việt Nam; cái hùng, cái nhân của Nho giáo đã trở thành cái đại hùng, đại nhân của Việt Nam.
Cái đặc sắc và bản lĩnh văn hóa Việt Nam luôn dựa trên sự lựa chọn lối ứng xử hài hòa của chủ thể văn hóa. Hài hòa với thiên nhiên, hài hòa trong xã hội được biểu hiện ở tất cả các mặt, các lĩnh vực của cuộc sống và trên tất cả các cấp độ, từ cách đối nhân xử thế hàng ngày đến nếp sống, lối tư duy, quan niệm về đạo lý làm người. Do ứng xử hài hòa, văn hóa Việt Nam không cự tuyệt các giá trị văn hóa bên ngoài theo lối cực đoan, mà sẵn sàng tiếp thu một cách có nguyên tắc, không đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc.

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ văn hóa Việt Nam có cơ hội tiếp thu những giá trị từ nhiều nền văn hóa, song cũng chứa đựng nhiều nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc của văn hóa như hiện nay. Để phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bản lĩnh văn hóa Việt Nam phải được củng cố vững vàng trong tình hình mới. Nội dung quan trọng nhất để xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam là tuân thủ quy luật một cách linh hoạt và sáng tạo. Do vậy, xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam hiện nay, chúng ta cần phải có chiến lược phát triển văn hóa một cách khoa học, kết hợp và thể hiện được sự thống nhất giữa tính nguyên tắc với tính linh hoạt, sáng tạo trong vận dụng. Đây là hai mặt của một vấn đề. Nếu vận dụng một cách khoa học, chúng sẽ trở thành tiền đề, động lực phát triển cho nhau; còn nếu vận dụng một cách thiếu khoa học, chúng sẽ cản trở sự phát triển của nhau. Sự thống nhất đó còn phải được thẩm thấu vào tiềm thức của mỗi chủ thể ở các cấp độ khác nhau để tạo ra sự thống nhất, đồng bộ từ trên xuống dưới, thậm chí ở mỗi con người cụ thể.

Bản lĩnh của một nền văn hóa dựa trên sức đề kháng với những tác động từ bên ngoài trong quá trình phát triển và trong quan hệ giao lưu, hội nhập. Trong lịch sử, văn hóa Việt Nam luôn có sức đề kháng to lớn. Nhờ đó, văn hóa Việt Nam đã tạo dựng được bản lĩnh vững vàng trong giữ gìn bản sắc dân tộc. Trước sức mạnh xâm nhập của các giá trị văn hóa bên ngoài, văn hóa Việt Nam đã không bị đồng hóa, không đánh mất bản sắc của mình. Sức đề kháng đó của văn hóa Việt Nam còn có cội nguồn từ tầng sâu của tâm hồn, trí tuệ, lòng tự tôn dân tộc, không chịu khuất phục trong mỗi con người Việt Nam. Cội nguồn sức đề kháng của văn hóa Việt Nam là như vậy, nên chính sách đồng hóa về văn hóa trong suốt thời gian đô hộ cả ngàn năm của phong kiến phương Bắc, thậm chí cả của chủ nghĩa thực dân cũ và mới hơn một trăm năm vẫn không làm phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc.

Hiện nay, sức đề kháng trong bản lĩnh văn hóa Việt Nam lại một lần nữa đứng trước thử thách của sự xâm nhập với quy mô lớn của các giá trị văn hóa bên ngoài. Sự xâm nhập đó không chỉ giới hạn ở quy luật giao lưu, hội nhập văn hóa, mà còn ở chính sách xâm lược về chính trị, quân sự của các thế lực thù địch. Do vậy, giờ đây, hơn lúc nào hết, chúng ta phải có chiến lược nâng cao sức đề kháng của văn hóa Việt Nam, làm cho cơ thể văn hóa Việt Nam được miễn dịch với mọi tác động của các phản giá trị đang làm băng hoại văn hóa. Sức đề kháng đó chỉ có thể có được khi các yếu tố bên trong cấu thành nền văn hóa Việt Nam cùng phát triển và tác động đồng thuận theo định hướng của Đảng ta. Như vậy, Đảng phải tự đổi mới ngang tầm nhiệm vụ để thật sự là đạo đức, là văn minh, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, đủ sức lãnh đạo xây dựng sức đề kháng cho văn hóa Việt Nam trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập hiện nay. Mặt khác, mỗi con người Việt Nam phải thật sự là một chủ thể kiên cường trước sự lôi kéo, mua chuộc của những phản văn hóa. Quá trình nâng cao sức đề kháng cho văn hóa Việt Nam cần trang bị cho mỗi người khả năng nhận thức và tự hào về lịch sử phát triển văn hóa dân tộc với tất cả những giá trị của truyền thống oai hùng trong dựng nước đi đôi với giữ nước. Đồng thời, cần phải tạo ra tâm lý biết hổ thẹn với non sông đất nước khi tổ quốc bị xâm lăng. Trong hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, tội lớn nhất là phản bội dân tộc, rước voi về giày mả tổ, cõng rắn cắn gà nhà. Hiện nay, tệ sùng bái văn hóa phương Tây, quay lưng lại quá khứ, thiếu trách nhiệm với hiện tại và mơ hồ về tương lai dân tộc cần phải được lên án mạnh mẽ và đào thải ra khỏi đời sống xã hội.

Để bản sắc văn hóa dân tộc trở thành bộ lọc tốt, phải xác định rõ ranh giới giữa tinh hoa văn hóa và các yếu tố lạc hậu trong văn hóa truyền thống. Tinh hoa văn hóa có tính bền vững truyền từ đời này sang đời khác, sống mãi với một dân tộc. Nhưng do sự hạn chế có tính lịch sử, văn hóa quá khứ chứa đựng những yếu tố lạc hậu, trở thành vật cản của sự phát triển xã hội. Thực tế cho thấy, một khi buông lỏng quản lý văn hóa trong cơ chế thị trường, thì lập tức mặt trái của cơ chế thị trường tạo điều kiện cho những mặt trái của văn hóa quá khứ (như hủ tục, lệ làng, mê tín dị đoan, tư duy tiểu nông, lối sống lạc hậu…) phát triển nhanh chóng. Cùng nằm trong khuôn khổ của văn hóa quá khứ, nên việc tìm ra ranh giới này không phải đơn giản, dễ nhầm lẫn hoặc rơi vào máy móc, làm tổn hại đến giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Vì thế, việc xác định ranh giới đó là rất cần thiết, nhằm góp phần làm sáng rõ giá trị đích thực của bản sắc văn hóa Việt Nam trong mọi thời đại.

Nâng cao sức đề kháng cho văn hóa Việt Nam, chúng ta còn phải đào thải những phản giá trị nảy sinh từ chính mặt trái của kinh tế thị trường để xây dựng cơ thể văn hóa Việt Nam không còn những nhân tố làm băng hoại đạo đức, lối sống, suy đồi về văn hóa. Một cơ thể văn hóa cường tráng sẽ không còn những vi rút gây bệnh từ bên trong. Sự xâm nhập những phản giá trị từ bên ngoài bao giờ cũng thông qua những phản giá trị nảy sinh từ bên trong. Do vậy, sự thống nhất giữa phòng ngừa, đào thải những phản giá trị ở bên trong với đẩy lùi sự xâm nhập những phản giá trị từ bên ngoài cần được coi là giải pháp hữu hiệu trong xây dựng sức đề kháng cho văn hóa Việt Nam hiện nay.

Một dân tộc chỉ biết mỗi làm giàu là dân tộc thiếu chiều sâu. Mục tiêu mà Đảng ta đề ra là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó là sự kết hợp các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Không thể xây dựng một xã hội văn minh với nền kinh tế lạc hậu, thấp kém; ngược lại, có một nền kinh tế phát triển nhưng thiếu văn minh thì không phải là một xã hội tiến bộ. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để kinh tế và văn hóa phát triển hài hòa trong sự phát triển của xã hội, để kinh tế không phá hoại văn hóa và văn hóa không cản trở sự phát triển kinh tế.

Xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam hiện nay, chúng ta không thể không phát triển tư chất, khí phách, cốt cách của chủ thể văn hóa trong tư thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập. Bởi lẽ, bản lĩnh của một nền văn hóa bao giờ cũng biểu hiện tập trung, sâu sắc ở tư chất, cốt cách và khí phách của chủ thể văn hóa. Mỗi dân tộc đều có tư chất, khí phách riêng trong quan hệ, giao lưu với văn hóa nước ngoài. Văn hóa Việt Nam luôn thể hiện tư chất, cốt cách, khí phách đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Mặc dù là một nước nhỏ bên cạnh nước lớn, trong thế liên tục phải chống lại sự đồng hóa văn hóa, nhưng dân tộc Việt Nam đã hình thành cho mình tư thế hiên ngang, khí phách anh hùng, không chịu khuất phục. Trước sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Hán, nhiều dân tộc xung quanh, mặc dù chiến thắng về quân sự, nhưng lại thất bại về văn hóa, bị đồng hóa về văn hóa và trở thành bản sao của văn hóa Hán. Thế nhưng, cũng trong bối cảnh đó, văn hóa Việt Nam vẫn luôn khẳng định được bản sắc của mình, vẫn giữ được cốt cách, tư chất và khí phách của dân tộc Việt Nam.

Trong bối cảnh quốc tế đầy biến động như hiện nay, dân tộc Việt Nam với tư cách một chủ thể văn hóa càng phải thể hiện rõ cốt cách, tư chất, khí phách của mình để bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam trước những khó khăn, phức tạp mới trong xu thế giao lưu, hội nhập toàn cầu. Để thực hiện điều này, chúng ta cần đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử, truyền thống yêu nước, lòng tự tôn, tự hào dân tộc… để hun đúc khí phách, cốt cách và tư chất con người Việt Nam trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập ngày càng sâu rộng. Đồng thời, nêu cao tính chủ động để sẵn sàng giao lưu, hội nhập, tiếp thu những giá trị văn hóa nhân loại với tư thế, tư chất và khí phách con người Việt Nam.

Xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập hiện nay, chúng ta cũng cần phải gia tăng hàm lượng trí tuệ trong bản sắc văn hóa Việt Nam. Văn hóa và văn minh không đồng nhất, nhưng giữa chúng luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Hiện nay, sự phát triển với tốc độ vũ bão của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là kinh tế tri thức đang mở ra một môi trường cạnh tranh và chạy đua về trí tuệ gay go, phức tạp giữa các quốc gia, dân tộc và tác động sâu sắc đến các nền văn hóa. Trong bối cảnh đó, sự biểu đạt, tiếp thu và lan tỏa những giá trị của một nền văn hóa thể hiện bản lĩnh vững vàng của chủ thể văn hóa một dân tộc cũng cần phải chứa đựng hàm lượng trí tuệ cao. Trong thế ứng xử hiện nay, bản lĩnh của một nền văn hóa không thể có thế mạnh, nếu không có sự gia tăng về hàm lượng trí tuệ.

Để bản lĩnh văn hóa Việt Nam mang tầm thời đại, chúng ta không thể không nâng cao hàm lượng trí tuệ cho nó, bắt đầu từ giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí. Chất lượng và hiệu quả của việc nâng cao dân trí sẽ đem lại cho con người Việt Nam khả năng phân biệt được cái giá trị, cái phản giá trị; cái cần tiếp thu, cái không cần tiếp thu của văn hóa ngoại lai. Trên cơ sở nâng cao trình độ khoa học về mọi mặt, họ sẽ tự khẳng định được tính chủ thể và bản lĩnh của một chủ thể văn hóa tích cực, nhờ đó bản lĩnh văn hóa Việt Nam trở nên thực sự vững vàng trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập toàn cầu hiện nay.

Xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam trong thế ứng xử hiện nay phải tạo thế chủ động trong phát triển văn hóa và trong giao lưu, hội nhập. Xu thế giao lưu, hội nhập có tính chất toàn cầu hiện nay là quy luật phát triển của nhân loại và của từng dân tộc. Một nền văn hóa có bản lĩnh không thể ở thế bị động trong xu thế giao lưu, hội nhập với các nền văn hóa khác. Tạo thế chủ động trong xây dựng bản lĩnh nền văn hóa Việt Nam có ý nghĩa to lớn đối với việc bảo vệ bản sắc dân tộc và sự phát triển của văn hóa Việt Nam. Yêu cầu đó đòi hỏi phải có sự kết hợp một cách hợp lý giữa chiến lược phát triển lâu dài với chủ trương, biện pháp trước mắt; bảo đảm sự hài hòa giữa giữ vững nguyên tắc với phát huy tính chủ động, sáng tạo của mỗi chủ thể ở các cấp độ khác nhau. Tính nguyên tắc trong việc giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc để không trở thành bản sao văn hóa của dân tộc khác là quán triệt quan điểm giai cấp của Đảng, tạo thế chủ động và tích cực tham gia vào xu thế chung, đồng thời cần khắc phục tâm lý lo ngại hoặc tham gia giao lưu, hội nhập một cách vô nguyên tắc.

Trước những yêu cầu ngày càng cao của dân tộc và thời đại, mà trực tiếp là trong xu thế giao lưu, hội nhập hiện nay, xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam vững vàng là vấn đề có tính sống còn trong việc bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Ý thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng ta xác định, phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội. Tư tưởng chỉ đạo này cần được quán triệt sâu rộng và đi vào phong trào quần chúng để mỗi con người, mỗi tổ chức và cả dân tộc ta luôn là chủ thể văn hóa có bản lĩnh vững vàng trong xu thế giao lưu, hội nhập toàn cầu hiện nay.

Nguồn sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
389 lượt xem

      Vấn đề giáo dục luôn được chú trọng hàng đầu đối với mọi quốc gia trên thế giới không chỉ ở trong thời kì phát triển như ngày nay mà nó đã được áp dụng từ xa xưa thời phong kiến. Việc giáo dục rất cần thiết để tạo ra nhiều người công dân có ích cho xã hội. Giáo dục ở đây ngoài việc bồi dưỡng về mặt kiến thức mà còn giáo dục việc làm người, đây là điều cốt yếu. 
      Để trở thành một người công dân có ích thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải là một học sinh chân chính. Ông bà ta có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về” cho thấy việc giáo dục con người phải bắt đầu khi còn là một đứa trẻ. “Tre già, măng mọc”, trẻ em hôm nay là những mầm non của tương lai đất nước sau này vì thế những mầm non ấy cần được giáo dục kỹ càng ngay khi còn là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường. Người xưa có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn”, việc giáo dục đạo đức con người là quan trọng hàng đầu, cần phải thực hiện đầu tiên, sau đó mới tới việc dạy chữ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Người có tài mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó” vì thế để trở thành một người có ích thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải là một học chân chính, siêng năng học tốt.

Người công dân có ích là người có đạo đức tốt, không tham gia các tệ nạn xã hội, biết cống hiến hết mình năng lực của bản thân cho đất nước và xã hội. Để trồng một cây con lớn lên, chúng ta phải tốn thời gian khá lâu, nhưng chúng ta phải tốn gấp nhiều lần thời gian ấy để “trồng” một con người có ích. Để có được một phẩm chất đạo đức tốt thì cần phải rèn luyện một thời gian dài, ngay từ khi còn bé chứ không thể vài ngày, vài năm như trồng một cây con. 

Học sinh chân chính là một học sinh có đạo đức tốt,hiếu thảo với cha mẹ, ngoan ngoãn vâng lời thầy cô, siêng năng học tốt. Từ nhỏ, ở nhà cha mẹ đã dạy và tập cho chúng ta nhiều điều hay như gặp người lớn hơn mình phải cuối đầu chào, nhặt được của rơi không được lấy nhà phải trả cho những người bị mất, không được nói tục, chửi thề,…. Và đến khi vào lớp, thầy cô cũng dạy cho chúng ta như thế, phải học thuộc và làm theo những điều trong sách Đạo đức-sách giáo dục công dân, nghiêm cấm không tham gia vào các tệ nạn xã hội. Đạo đức là cái gốc của con người và những việc làm tốt thường xuyên thực hiện dần dần chúng thấm nhuần vào ta tạo thành đức tính và thói quen mà nó sẽ theo ta đến khi trưởng thành, và thế là chúng ta đã, đang và sẽ trở thành những con người có ích.
      Bên cạnh đó là những học sinh thiếu ý thức, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học, cứ long nhong chơi bời, thậm chí còn bị tham gia các tệ nạn xã hội, bài bạc, rượu bia, hút chích,… trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Họ thành ra như vậy một phần là do thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục từ gia đình. Do cha mẹ quá bận rộn làm ăn kiếm tiền hoặc những nguyên nhân chủ quan khác mà bỏ bê con cái, việc này làm ảnh hưởng rất lớn đến tâm lí của chúng và phần còn lại là do những học sinh đó thiếu ý thức, suy nghĩ còn non trẻ, ham chơi, đua đòi,… rồi tất cả đã vô tình bước vào một con đường đen tối, trở thành gánh nặng cho cộng đồng và xã hội.

Có những mảnh đời bất hạnh, từ khi sinh ra đã thiếu đi tình cảm gia đình, sự thương yêu của cha mẹ và cũng không được hưởng thụ về mặt vật chất. Đó là những trẻ em đường phố, cuộc đời em như những nhánh lục bình trôi lênh đênh trên mặt nước, vô bến bờ. Thiếu tình thương, không có điều kiện để sống tốt và được giáo dục đàng hoàng nên một số đã khờ dại vướn vào các tệ nạn xã hội. Một nguyên nhân nữa là do sự thờ ơ của cộng đồng, một vài người không những không biết thương cho số phận của họ, mà còn tỏ ra kinh tởm và khinh bỉ, họ miệt thị những đứa trẻ đó. Khiến chúng tự kỉ và rồi một số thiếu ý thức đã rơi vào hố sâu của tệ nạn, làm xã hội có thêm một gánh nặng.
      Nhưng chúng ta thấy, để trở thành một người có ích không phải khó mà cũng không phải dễ dàng gì. Điều cốt lõi ở đây là việc giáo dục, nhất là giáo dục đạo đức của học sinh. Vì thế để tất cả những mầm non tương lai của đất nước đều trở thành những công dân có ích thì nhà nước ta phải càng chú trọng đầu tư vào việc giáo dục hơn nữa và cần thiết nhất là phải có thêm nhiều chính sách xã hội cho những trẻ em đường phố, vì chúng cũng là những mầm non của đất nước sau này. Bên cạnh đó, tình cảm và sự quan tâm của gia đình cũng rất quan trọng. Nó quyết định tương lai, đức tính của một con người và cả đất nước, xã hội.
       Nước ta là một nước đang phát triển, nhà nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì thế xã hội đang rất cần nhiều công dân có ích để chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước giàu mạnh, do vậy nên mỗi học sinh chúng ta cần phải ý thức thật tốt, là một học sinh chân chính để trở thành những người có ích cho đất nước mai sau.
0
phiếu
0đáp án
725 lượt xem

DÀN Ý
Vai trò, ý nghĩa của môn Ngữ văn trong nhà trường và trong xã hội:
- Giúp con người nhận thức được cái hay , cái đẹp chuẩn mực trong cuộc sống. Vì văn học, khoa học nhân văn là những kết tinh tinh hoa văn hóa nhân loại, lưu truyền những giá trị tốt đẹp của con người qua các thời đại. Giúp con người có bản lĩnh, có suy nghĩ, ứng xử, lối sống đúng đắn , lành mạnh .
- Nếu thiếu văn học, con người sẽ rơi vào bi kịch, như một nhà văn Mê hi cô đã nói: Bi kịch của thời đại chúng ta là thừa trí tueetj, thiếu tâm hồn.
- Môn Ngữ văn là môn học thuộc nhóm công cụ, học tốt Ngữ văn sẽ có tác động tích cực đến các môn học khác
Nguyên nhân hiện tượng học sinh, sinh viên không thích học văn:
- Do lối sống, suy nghĩ thực dụng của học sinh, phụ huynh.

- Do đội ngũ giáo viên dạy văn tâm huyết với nghề ngày càng ít. Nhiều giáo viên bị gánh nặng cuộc sống nhọc nhằn làm mất niềm say mê văn học vốn có.
- Nhiều trường học chưa quan tâm đến đặc thù môn học, chưa có đầu tư, bồi dưỡng giáo viên, chưa có những hoạt động ngoại khóa văn chương để thu hút học sinh…
Một vài phương hướng tháo gỡ:
- Cần có sự quan tâm, hợp sức của toàn xã hội: gia đình, nhà trường, cơ quan nhà nước hướng học sinh chú ý đến vai trò của việc học văn.
- Cần có những giải thưởng tôn vinh tài năng văn học một cách xứng đáng.
- Mở rộng ngành nghề cho các khối thi các môn xã hội…
0
phiếu
0đáp án
710 lượt xem

       Cuộc đời chính là bức tranh vô giá mà Thượng đế đã ban tặng cho con người. Trong cuộc đời, con người phải trải qua những hạnh phúc, đắng cay, những thành công, thất bại… Thượng đế muốn con người cảm nhận được những mùi vị của cuộc đời, hiểu được ý nghĩa của nó và mang đến cho nó những điều tốt đẹp. Đôi khi con người không thể nói suông những cảm xúc mà phải thông qua lăng kính của văn học mới có thể bộc lộ được hết ý nghĩa của nó. Vì thế, nhà thơ Tố Hữu đã nhận định: “ Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học”. Văn học chính là người bạn đồng hành của con người qua mọi thời đại.
       “Văn học là nhân học”. Văn học gắn bó với con người từ thuở xa xưa. Từ khi còn nhỏ ta đã được nghe những bài vè, những câu ca dao ấm tình dân tộc rồi đến những bài thơ, bài văn tuổi học trò…Văn học vô hình nhưng hữu hình. Có thể nói con người làm nên văn học nghĩa là đã tạo nên cuộc sống của chính mình.
       Cuộc đời là nơi xuất phát của văn học. Văn học-hai chữ tuy giản đơn nhưng ý nghĩa của nó thật sự to lớn. Từ cuộc đời, từ những suy nghĩ, cảm xúc, văn học được hình thành. Nó thổi vào văn học sự sống, sức cuốn hút cả nhân loại. Cuộc đời giúp văn học được sống và đến với trái tim, khối óc của mỗi con người và giữ cho mình một góc riêng ở đấy. Từ cuộc đời, văn học mới có thể thể hiện mình. Văn học bắt đầu là viết về con người, về cuộc sống. Trong suốt thời gian tồn tại, văn học đi sâu vào những tâm tư tình cảm của con người. Văn học viết nên những điều mà con người không thể diễn đạt được bằng chính lời nói của họ, viết về những khía cạnh trong cuộc sống, về những suy nghĩ của con người trong từng hoàn cảnh mà họ trải qua, đưa ra những nhận định, sự đồng cảm và khát vọng sống của con người. Dần về sau, văn học đi sâu vào cuộc đời của con người. Nó tìm hiểu sâu sắc hơn về cái nhìn của con người đối với sự việc. Nó thấu hiểu hơn về những suy nghĩ của con người…Rồi đến một ngày, văn học đạt đến đỉnh cao: cuộc sống không thể thiếu đi những câu ca dao, những câu thơ, những câu chuyện đồng cảm…Văn học ngày càng khẳng định mạnh mẽ hơn vị trí của mình trong cuộc sống. Thế là đích đến cuối cùng của văn học cũng chính là cuộc đời-nơi mà văn học muốn chinh phục.
       Khi có văn học, cuộc sống mới thật sự có ý nghĩa. Văn học là đại diện cho suy nghĩ, cho tinh thần của con người đối với cuộc đời. Nhà văn Leptonxtoi đã nói: “Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu. Tình yêu con người, ước mơ cháy bỏng vì một xã hội công bằng, bình đẳng bái ái luôn luôn thôi thúc các nhà văn sống và viết, vắt cạn kiệt những dòng suy nghĩ, hiến dâng bầu máu nóng của mình cho nhân loại." Văn học truyền cho con người ngọn lửa để nói lên những đồng cảm, những bất mãn mà con người phải chịu đựng. Văn học lên tiếng thay con người: mang tình yêu đến với cái đẹp và phản ánh những cái xấu xa, đê hèn. Cuộc sống được nói lên qua cái nhìn của văn học để làm nên những tuyệt tác. Như Truyện Kiều của Nguyễn Du, một người con gái tài sắc vẹn toàn như Kiều lại phải chịu một cuộc sống éo le, cảm động lòng người. Văn học làm nên Truyện Kiều để rồi từ đó làm nên văn học. Đọc Kiều, Tố Hữu đã viết:

“Trải qua một cuộc bể dâu
Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình
Nổi chìm kiếp sống lênh đênh
Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều!”

Không có văn học thì làm sao Tố Hữu có thể viết nên những nỗi xót thương cho thân phận con người như thế?
Nhờ có văn học, tình yêu thương giữa người với người được thể hiện với nhau. Từ những đâu ca dao, dân ca, những đôi trai gái yêu nhau có thể nói lên tiếng lòng :
“ Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”. 

Hay nhưng câu nói về tình cảm gia đình:

“Nước biển mênh mông không đông đầy tình mẹ
Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha.”…

      Văn học thể hiện phong phú, đa dạng cuộc sống của con người. Văn học viết về người. Văn học viết về loài vật, cỏ cây. Văn học viết về phong cảnh…Đến với cánh cửa của văn học là đến với đại dương bao la rộng lớn mà chẳng nhà khoa học nào có thể đo đạt được. Nhắc đến tuyệt tác của văn học, không ai không nhớ đến câu chuyện tình Romeo và Juliet của William Shakespeare, một câu chuyện tình cảm động lòng người và sống mãi cùng thời gian. Văn học sánh cùng với thời đại. Cuộc sống ngày một thay đổi, văn học vẫn theo đuổi, vẫn nắm bắt những đổi mới về suy nghĩ của con người, cuộc sống. Thời phong kiến, dưới bức tường của lễ giáo, những quy chế hà khắc, nhiều nhà thơ đã viết nên những câu thơ, vài văn đáp ứng với thời đại ấy. Ngày nay, cuộc sống thoải mái hơn, phong cách các nhà văn lại khác. Tư duy về một vấn đề trong hai khoảng thời gian là hoàn toàn khác nhau. Chính văn học đã giúp ta nhận ra điều ấy. Con người thay đổi thì văn học thay đổi.

Văn học là minh chứng cụ thể của sự phát triển xã hội qua các thời kì. Văn học là nơi lưu trữ của kí ức và tương lai. Nhờ có văn học, ta có thể trờ về với quá khứ, khi ông cha ta xây dựng đất nước qua Bình Ngô Đại Cáo, Hịch Tướng Sĩ…rồi đến chiến tranh chống Pháp, Mỹ qua bài thơ Bên kia sông Đuống, Khoảng trời hố bom,…Thời gian chênh lệch nhưng nhận thức về cuộc sống vẫn thế. Con người vẫn mong muốn một cuộc sống ấm no, hoà bình, đầy tình yêu thương. Văn học thể hiện khát vọng, ước mơ đối với cuộc sống, đối với tương lai. Từ văn học, con người có thể có nhiều sự đồng cảm, chia sẻ thay vì cứ ôm khư khư cái suy nghĩ ấy cho riêng mình.

       Lepmontop đã nói “ Có những đêm không ngủ, mắt rực cháy và thổn thức, lòng tràn ngập nhớ nhung…Khi đó tôi viết”. Cùng ý nghĩa ấy, Nekratxtop nói: “ Nếu những nỗi đau khổ từ lâu bị kiềm chế, nay sôi sục dâng lên trong lòng thì tôi viết”. Qua đó, ta có thể thấy rằng văn học đã đi sâu vào máu thịt của con người. Văn học thể hiện con người. Có những niềm vui, nỗi buồn ta không thể nói ra thì ta phải viết. Viết cho nó thoát ra khỏi sự ức chế, sự kiềm nén trong lòng. Khi ta viết, ta có thể nói lên hết những suy nghĩ của mình, thể hiện chính mình qua từng câu chữ. Nếu không có văn học, con người sẽ ra sao? Chỉ biết giữ những điều ấy trong lòng để rồi một ngày bật khóc khi nó vỡ oà mà chẳng ai chia sẻ? Văn học là sự đồng cảm.

       Văn học còn đặt ra vấn đề cho người đọc suy ngẫm và tìm hiểu. Nó đòi hỏi người đọc phải cảm nhận ý nghĩa mà nó muốn nói đến một cách thấu đáo. Văn học khiến người đọc phải chạy theo, phải hồi hộp chờ đợi, căng thẳng và bất ngờ cùng tác giả và tình tiết câu chuyện rồi từ đó đoán được suy nghĩ của tác giả. Từ việc lấy cảm hứng từ cuộc sống, con người, văn học bước đi để đến một ngày chính văn học lại là một phần không thể thiếu của cuộc sống. Không có văn học, cuộc sống chỉ đơn thuần là sống mà không có bất cứ bất kì ý nghĩa nào ẩn bên trong nó.

       Thời đại mới, con người với những suy nghĩ tiêu cực đã làm văn chương càng bị mai một đi khi chế lại các lời thơ, lời văn một cách hàm hồ. Có những con người đem văn chương ra làm một trò đùa. Họ viết nên những lời thơ thô tục, thiếu thẩm mĩ. Họ dùng những từ ngữ thay vì để viết nên những lời hoa mĩ để phục vụ cho mục đích xấu của họ. Thật đáng buồn thay cho những người không trân trọng cuộc sống của chính mình.

       Văn học như một bộ mặt phản ánh thời đại và phong cách của một đất nước. Văn học chứng tỏ lịch sử và tinh thần của dân tộc. Vì thế, xã hội ngày càng phát triển thì con người phải càng biết trân trọng nét văn hoá của mình. Văn học chính là sự sống, là ngọn lửa của cuộc đời. Hãy thắp sáng thêm ngọn lửa ấy để nó có thể mãi mãi trường tồn, soi sáng cho con người, hướng con người đến những chân-thiện-mĩ.

       Cuộc đời làm nên văn học và cũng chính văn học làm nên cuộc đời. Những khía cạnh của cuộc đời với những cảm xúc đã tạo nên một nền văn học. Văn học đi vào lòng người, chia sẻ, cảm thông rồi lại chinh phục trái tim ấy. Văn học khiến con người phải cảm phục trước những lời nói mà nó đưa đến với cuộc đời. Văn học sống khi có con người và con người chỉ sống khi có văn học. “Cuộc đời là nơi xuất phất cũng là nơi đi tới của văn học”-Tố Hữu nói quả không sai tí nào.
Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Hiện nay, học sinh muốn trở thành con ngoan trò giỏi đối với gia đình và xã hội thì ta phải bắt đầu học tập chăm chỉ ngay từ bây giờ, cùng với học tập chúng ta nếu muốn nâng cao thêm về tri thức thì sách chính là một người bạn thông minh giúp ta có nhiều kiến thức hơn vì vậy chúng ta sẽ tìm hiểu tại sao L.Tôn-xtôi lại nói rằng:" Đọc một cuốn sách hay cũng như được trò chuyện với một người bạn thông minh."

Ở đây, L.Tôn-xtôi đã ví đọc sách như trò chuyện với một người bạn thông minh vì trong một cuốn sách thì luôn có vô vàng những kiến thức hay góp thêm vào kho tri thức của chúng ta để chúng thêm phong phú hơn và sách còn giúp cho chúng ta có những kiến thức để ứng dụng trong thực tế. Ngoài ra, khi đọc sách chúng ta sẽ trở thành một người uyên bác, có hiểu biết nhiều, sách chính là một người bạn tốt và thông minh vì sách không hại ta mà còn giúp ta trở nên thông minh hơn.

Đúng như vậy, sách không hại ta nhưng con người thì lại khác. Có những người biết sử dụng sách nên khi đó sách có giá trị rất lớn và mang đến cho người đọc những điều mới mẻ và đưa con người đến một thế giới khác vì vậy L.Tôn-xtôi mới nói rằng:" Đọc một cuốn sách hay cũng như được trò chuyện với một người bạn thông minh".

Nhưng ngoài ra còn có những người lợi dụng sách như một phương tiện để làm mai mọt đầu óc con người bằng cách sử dụng sách như một công cụ tiêm nhiễm vào đó những tư tưởng không đúng với một chuẩn mực của đạo đức do đó khi chọn sách cũng như chọn bạn, chúng ta phải chọn những cuốn sách mang nội dung lành mạnh, tốt vì khi làm như vậy thì cũng giống như ta đã chọn đúng một ngườu bạn tốt thật sự cho nên sách sẽ như một người bạn thông minh giúp ta đi lên bằng sự hiểu biết, uyên bác và thông minh thật sự.

Do đó, chúng ta nên đọc sách thường xuyên vì sách sẽ giúp chúng ta nhận thức được nhiều hơn về sự phát triển của thế giới đang diễn ra từng ngày và nâng cao hơn tầm mắt của chúng ta. Và từ bây giờ chúng ta hãy chung tay góp sức đẩy lùi những người xấu cũng như những cuốn sách mang nội dung không lành mạnh đó vì nếu tồn tại thì chúng sẽ tiêm nhiễm vào tâm thức ta những điều không đúng, không hay.


Từ đó, ta phải biết rằng sách có vai trò rất to lớn trong xã hội. Do đó, ngay bây giờ chúng ta hay học thật tốt cũng như là hãy nâng cao thêm tri thức bằng những cuốn sách hay để khi lớn lên chúng ta sẽ trở thành những trụ cột vững chắc cho nước nhà cũng như đưa nước ta đi lên cao hơn ở mọi mặt, mọi lĩnh vực.

0
phiếu
0đáp án
464 lượt xem

DÀN Ý

1/ Mở bài : 

- Trên thế giới , từ xưa đến nay , hầu như bất kì ai cũng có một người bạn , một tình bạn . Ở VN từng có tình bạn đẹp như : Lưu Bình – Dương Lễ …

- Ý nghĩa của tình bạn đối với con người như thế nào ? Ngoài sự khôn nhoan điều quý nhất mà thượng đế ban cho con người là tình bằng hữu ( La Rơ – sơ- phu -cô – nhà tư tưởng pháp thế kỉ XVII).

2/ Thân bài : 

a/ La Rơ –sơ – phu – cô muốn khẳng định điều gì qua lời phát ngôn ấy ? 

- Tình bạn là một trong những điều quý giá nhất trên đời , một ân huệ thiêng liêng mà thượng đế ban cho con người , một quà tặng của sự sống. 

- Con người ta không thể sống mà không có tình bạn , thiếu tình bạn là một thiệt thòi không gì bù đắp được.

b/ Đem tình bạn gắn liền với sự khôn ngoan , nhà tư tưởng pháp có ý nhấn mạnh điều gì?

- Con người cần có sự khôn ngoan , nhưng con người cần có bạn , có tình bạn.

- Không thể đem sự khôn ngoan thay thế cho tình bạn. có những trường hợp sự khôn ngoan phải nhường chổ cho tình bạn. 

- Không thể đem tính toán hơn thiệt làm chuẩn mực cho tình bạn . nếu sự khôn ngoan là lí trí giúp con người có lí lẻ , sự nhạy bén để tính toán việc đời , thì tình bạn xuất phát từ tình cảm vô tư và chân thành. 

c/ Bày tỏ ý kiến của bản thân 

- La Rô – sơ –phu-cô đã có một quan niệm rất chính xác về tình bạn . Đó là một ân huệ mà cuộc sống đã ban cho , một thứ tình cảm thiêng liêng chỉ con người mới có. 

- không có tình bạn cuộc sống sẽ buồn tẻ vô cùng con người sẽ chỉ đơn độc như con thú. 

- Tình bạn là một nguồn chia sẻ , động viên đã giúp cho con người vượt lên bao khó khăn có thể cả những lúc bế tắc tưởng chưng như không thể nào vượt qua nổi. 
- Một tình bạn chân thành , một người bạn tốt có thể giúp cho con người trở nên tốt hơn. 

- Một tình bạn tốt phải là một tình bạn vô tư , vượt lên những tính toán thiệt hơn , những cân nhắc lạnh lùng của trí tuệ. 

- Một tình bạn tốt nhiều khi đòi hỏi sự hi sinh . Không phải ngẫu nhiên mà người VN ngày xưa và cả ngày nay coi câu chuyện của Lưu Bình – Dương Lễ là câu chuyện đẹp đẽ nhất của tình bạn . Người đọc thơ cũng quý trọng Nguyễn Khuyến với những câu thơ thể hiện một cách nghĩ vô tư về tình bạn :

“ Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác
Tôi lại đau trước bac mấy ngày
Làm sao bác vội về ngay
Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời !

3/ Kết bài : 

- Sống trên đời , phải có bạn , phải xây dựng cho mình một tình bạn tốt .

- Chỉ thực sự có bạn tốt khi chính mình cũng tốt trong tình bạn , phải biết vô tư , phải biết quên mình trong tình bạn 

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
918 lượt xem

Trong cuốn “TRỊNH CÔNG SƠN RƠI LỆ RU NGƯỜI” (2003). Cố nhạc sĩ TRỊNH CÔNG SƠN đã viết:
“Càng sống nhiều càng thấy cái chết dễ dàng đến với bất kì ai, sống thì quá khó mà chết thì quá dễ. Sống thì có hẹn hò hôm nay, hôm mai mà chết chết thì chẳng có một cái hẹn hò báo trước nào cả”.

Vậy phải sống sao cho có ý nghĩa, cho tốt đẹp. Một thế giới ấm áp là 1 thế giới có tình yêu thương giữa người với người, dù chỉ là những quan tâm, động viên nhỏ thôi nhưng nó lại có sức mạnh to lớn, thổi bay những gian nan vất vả, xóa sạch mọi nỗi đau tâm hồn, thể xác,…

Có ý kiến cho rằng: “Sống có đạo lý là cần thiết nhưng biết yêu thương còn quan trọng hơn”.

Ta hiểu rằng trí óc giàu bởi những gì nó nhận vào và trái tim giàu bởi những gì nó cho đi, ấy chính là tình thương, là tấm lòng. Tình thương là mặt trời, là thi ca của cuộc sống. Nó bắt nguồn từ sâu thẳm trong tâm hồn mỗi người. Yêu thương là tìm thấy hạnh phúc của mình trong hạnh phúc của người khác. Tình cảm yêu thương, lòng nhân hậu của con người dành cho con người nó được biểu hiện bằng sự cảm thông, chia sẻ, hi sinh, mà cội nguồn của nó là lòng chắc ẩn yêu thương. 

“Nếu là con chim, chiếc lá

Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh

Lẽ nào vay mà không trả

Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”

Con người là mối tổng hòa của mọi quan hệ xã hội, không ai có thể sống riêng rẽ, cô đơn, bởi nếu tự tách mình ra khỏi cộng đồng, đứng bên lề cuộc đời, con người trở thành 1 ốc đảo hoàn toàn tách biệt. Yêu thương là đoàn kết, đùm bọc nhau, là dành trọn cho nhau những gì tốt đẹp nhất. Gia đình, bạn bè,... là những người nhận lấy yêu thương, còn bạn trao cho họ tình yêu thương để thắp lên niềm tin, xua tan nỗi buồn. tình thương là thứ tình cảm mà con người cần phải trao và nhận, tình thương yêu cần cho bạn, cần cho tôi, cần cho tất cả mọi người.

Tình yêu thương như dòng suối , như ánh sáng và khí trời trong lành , tươi mát , là dưỡng chất cho con người vượt qua những chông gai cuộc đời.tình thương làm lóe lên những đốm lửa hồng giữa những góc khuất trong tâm hồn bạn. Khi những ngày bình yên phẳng lặng trôi đi, cũng là lúc những song gió ập đến với niềm dữ dội sẽ cuốn trôi và nhấn chìm bạn xuống địa ngục tối tăm , lạnh lẽo của cuộc đời. Chính khi bạn cảm thấy tuyệt vọng, khó chăn nhất thì tình thương của ai đó lại là một cánh tay nhẹ nhàng vực bạn đứng lên. Lúc ấy bạn mới thực sự hiểu tình thương có giá trị đến nhường nào.
Từ ngàn xưa , người Việt ta đã có truyền thống quý báu : 
“tương thân tương ái”.

Hay                                                             “Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng ”


Vì thế mà những câu chuyện cảm động khiến ta phải xúc động trong cuộc sống và trong văn chương luôn bắt đầu từ tình thương. 

Tôi kể, bạn nghe về một bong hoa trên mảnh đất khô cần đầy sương gió mà vẫn thắm hương sắc: Sinh ra trên dải đất miền Trung đầy nắng bỏng và gió rát. Những con người nới đây thật lam lũ và nghèo khổ - TRẦN KIM HUỆ đã lớn lên bằng nghị lực và bằng tấm long thương cảm, sự đùm bọc của những người dan lao động tuy cuộc sống vất vả , nghèo nàn nhưng giàu tình yêu thương. Cô gái ấy mồ côi cha, mẹ từ một vụ tai nạn giao thong, cuộc sống của Huệ vẫn tiếp diễn trên chiếc xe lăn. Ngày ngày, trong những cơn cuồng phong dữ dội của miền Trung và biển cả, Huệ với chiếc giỏ vẫn mò cua , bắt ốc dọc bờ biển. Tối về, Huệ học dưới ngọn đèn dầu leo lét, vừa đói vừa mệt vì mỗi bữa ăn của Huệ chỉ là nửa gói mì tôm hay một chiếc bành rán không đáng bao nhiêu tiền. Nhìn hoàn cảnh đáng thương, đơn độc của Huệ, những người dan vô cùng thương cảm. Mỗi người đều góp một chút của cải với tấm lòng của mình để nuôi Huệ từng bữa cơm. Với cảnh đòi đau thương ấy , ai có ngờ. Trong sự đùm bọc, yêu thương và cả ý chí nghị lực phi thường của mình, Huệ đã thi đỗ ba trường ĐẠI HỌC… thật là một câu chuyện quá đỗi cảm động về tình người. 

Ấy là trong cuộc sống, còn trong văn học thì tình thương được thể hiện ra sao? Đó là Chí Phèo- con quỷ dữ của lang Vũ Đại, bị hoàn cảnh xô đẩy, sống giữa một xã hội đầy sự áp bức bất công, sự tàn nhẫn, lạnh lung của những người dân nơi ấy. Nhưng chỉ là một bát cháo hành được nấu dưới bàn tay Thị Nở-“người phụ nữ xấu đến ma chê, quỷ hờn” mà gia vị là tình yêu thương, là sự đồng cảm giữa những con người đau khổ, bị coi là cặn bã của mã hội. Thế mà đã đánh thức được tấm long lương thiện nơi Chí Phèo.Bát cháo hành được nấu bởi muôn vàn tình thương của Thị Nở đã cho Chí Phèo nhận ra xung quanh hắn còn có tiếng chim. Còn có ảnh sáng mặt trời,…

Qua những câu chuyện về tình thương, khiến nụ cười ta run lên trên bờ môi và ứa lệ dưới hàng mi. Ta thấy được tình thương như chất keo gắn kết những mảnh vỡ tâm hồn, vực dậy những con người lầm lỗi. Có lẽ tình thương là điều không thể thiếu trong mỗi trái tim con người, để trái tim xích lại gần nhau hơn.

Nếu cuộc sống không có tình thương thì tất cả sẽ ra sao? Khi ấy “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực Mà là nơi không có tình thương”.
Lúc đó, ánh nằng cũng tắt, tình người sẽ đóng băng, giá lanh. Mỗi người sẽ chỉ còn là một cái xác vô hồn, trái tim họ chứa đày những hờn căm, ghét bỏ,… Ngày trái đất không còn hơi ấm của tình thương sẽ là ngày nhân loại chìm trong bong tối, lạnh lẽo của giá băng. Cong người sẽ bị vùi dập trong số phận bất hạnh, dẫn đến cái chết về tinh thần, cũng có thể là cái chết về thể xác. Thật đau đớn khi: “Cái chết không phải là điều mát mát lớn nhất trong cuộc đời mà đáng sợ nhất là dể cho tâm hồn tần lụi ngay khi còn sống”.

Ai sinh ra sẽ sống cuộc đời ấy, số phận ấy, nhưng cần cái gì đó cho nhau thì đó là tình thương. Dù điều đó có thể chẳng giúp ích được gì nhiều nhưng con người trong cuộc sống vẫn rất cần sự liên kết, cảm thông, chia sẻ lẫn nhau để có thể sống đẹp trong cuộc đời. Những người có tình thương dù nhiều, dù ít rồi cũng sẽ trở thành hư vô:

“Thân cát bụi lại trở về với cát bụi”

Nhưng cái để lại trong cõi đời này chính là tấm long yêu thương cao cả.

“Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”

Hay “Trước tài năng tôi cúi đầu, trước tấm long tôi quì gối”

Đối với cuộc sống và con người, tình thương thật có sức mạnh lớn lao. Nó xoay chuyển số phận con người. Nhưng lại chỉ là những hành đông, cử chỉ bé nhỏ. Tình yêu thương luôn gắn liền với sự vị tha và lòng nhân hậu. Cần tránh xa sự cám dỗ của những vụ lợi, toan tính đời thường. Hãy cho đi sự cảm thong, yêu thương, bạn sẽ nhận lại được một tấm lòng, cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn biết bao nhiêu. Ngày nào ta còn sống, tức là ta còn có cơ hội để cảm nhận hạnh phúc của cuộc đời. Vì vậy, chúng ta hãy chia sẻ lòng tốt và lòng nhiệt tình đối với người khác. Một câu ngạn ngữ của Scotland nói rằng:'' Hãy sống thật hạnh phúc khi bạn còn đang sống - Bởi vì bạn chỉ có 1 lần sống duy nhất mà thôi!'' 

'' Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy 
Ta có thêm ngày nữa để yêu thương '' 
(Trịnh công Sơn )

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Ăng-ghen nói: “hành trang quan trong nhất của con người là khiêm tốn và giản dị”. Câu nói rất đúng trong xã hội hiện nay. Nếu lòng chân thành giúp ta có một thế đứng vững chắc trong quan hệ giao tiếp thì tính giản dị giúp con người tránh xa những thất bại tầm thường, tính khiêm tốn cho ta những thành công trong cuộc sống. vậy bây giờ ta đặt câu hỏi:

Khiêm tốn là gì?

Lòng khiêm tốn cho những con người đứng đắn, biết nhìn xa. Người khiêm tốn là người nhã nhặn, không tính tự cao tự đại, hướng thiện, nêu cao óc học hỏi, không đề cao cá nhân với người khác....người khiêm tốn luôn cho mình là kém cõi cần phải học hỏi thêm.

Tại sao phải khiêm tốn?

Cuộc sống là một cuộc chiến, nếu chúng ta dừng lại với thành công của mình ở hiện tại tức là đã chấp nhận thất bại ở tương lai, ở lại quá khứ làm kẻ thua cuộc. con người có tài cán bao nhiêu đi chăng nữa thì cái khôn ngoan hiện hữu ấy cũng không thể được quả quyết là không ai hơn được. đương nhiên ta nhìn xuống thì có nhiều người kém cõi ta, nhưng nếu ta đem so sánh như vậy thì là điều vô lí vô cùng. Hãy nhìn lên phía trên kia kìa! Bạn là người tài giỏi ư? Tôi tin ngoài xã hội còn hàng vạn người hơn bạn. bạn là một doanh nhân thành đạt ư? Ngoài đời còn hành tá tỉ phú mà bạn không thể dếm nổi số thứ tự của mình đâu. Nếu trong lòng bạn muốn nuôi dưỡng một tư tưởng tuyệt đối hơn người thì không có lợi ích nào cho bạn ngoài cái “hạnh phúc” vô lí!

Trong khiêm tốn người ta tự cho mình là kém và cân học nữa, họ coi thành công như sự an ủi. các nhà bác học càng lớn càng thấy mình cần phải khiêm tốn là lẽ đương nhiên. Nhà vật lí học Niuton đã so sánh mình như một đứa trẻ dạo chơi trên bài biển may mắn nhặt được hòn sỏi đẹp và trước mắt là bể chân lí bao la. Ông còn nói: sở dĩ tôi nhìn xa là vì tôi ngồi trên vai người khổng lồ. Lê-nin có lời khuyên với thanh niên về cách nghĩ và hành động khiêm tốn: nếu tôi biết tôi biết ít tôi sẽ tìm cách để hiểu biết hơn, nhưng nếu anh tuyên bố là người cộng sản không cần biết điều cơ bản thì ở anh không có chút gì công sạn hết.Điều ta nên nhớ là Le-nin có tói 9000 sách của 15 thứ tiếng và 9 ngoại ngữ Anh,Pháp, Đức,...tính khiêm tốn không cho phép mình nghĩ ngơi trên những thành công đã đạt được và còn nhiều minh chứng cho tính chất đó ví dụ như ở Anhxtanh, Sodrat, Alecxander,..

ở một khía cạnh nào đó, khiêm tốn phải đi đôi với gỉan dị. vậy giản dị là dị? Giản dị là cách sống hòa nhập, tự nhiên hóa cuộc sống, sống phù hợp với hoàn cảnh, không cầu kì xa hoa. Giản dị thể hiện ở nhiều khía cạnh: cách ăn nói cẩn thận, không khoa trương, lời nói đơn giản, ngắn gọn dễ hiểu, không quan trọng hóa vấn đề, xem xét vấn đề dưới cái nhìn khoa học...Tại sao phải giản dị? tại vì đó cách sống khoa học. Thử hỏi cái đích của cuộc sống có phải là chân thiện mĩ? Con người vứt bỏ phiền toái ở xã hội và từ trong tâm trí họ sống hòa nhập với thiên nhiên, thân thiện với mọi người. tính giản dị rất cần trong cuộc sống, nó giúp ta tiết kiệm thời gian, khiến mọi người xung quanh tôn trọng ta, ta trở thành người biết cách ứng xử, gấn gũi chan hòa với mọi người.

Bác Hồ cảu chúng ta là một mẫu mực về tính giản dị và cả khiêm tốn được cả thế giới công nhận. Bác là chủ tịch nước nhưng lại ở nhà sàn, trồng rau, đi dép cao su,.. trong chiến dịch việt-bắc Bác ở hang Pác Pó, dùng đá làm bàn, ăn chao bẹ rau măng, uống nước sông suối,..Bác nói chuyện thân mật cởi mở như gia đình. Gs.Ngô Bảo Châu người vừa nhận giải Field toán học ăn mặc cũng bình thường, nhà khá nhưng đi học bằng dép cao su. Ông ăn nói giản dị khi khao bạn bè thì nói : “chẳng mấy khi tao giàu hơn chúng mày”.Noí đến giản dị phải kể đến người Nhật, họ giàu có nhưng ra đường thì cho dù là quan chức hay học sinh, là doanh nhân hay trí thức cũng trang phục bình dị như nhau, căn nhà họ sống không trang trí bằng những món đồ công nghệ đắt giá, mà trái lại là những thứ mang dậm tính bản sắc dân tộc.

Vậy là ta đã định nghĩa được khiêm tốn và giản dị trong câu nói của Ăng-ghen. Hai đức tính này nếu dược phát huy tốt sẽ tạo nên những hiệu ứng dặc biệt. Nhưng thật buồn vì những giá trị này không được chú ý. Có người tự mãn với số vốn kiến thức sẵn có, có người học đến một học vị nào đó rồi cho là “công thành danh toại” không cần nghiên cứu nữa. có người giàu có và tự cho là đủ nên chỉ lo ăn chơi tiêu xài, không lo phát triển, đến khi trắng tay rồi mới hối hận. có hiện tượng tương tự là thói khiêm tốn giả tạo-là thói khiêm tốn quá mức hóa ra là thói tự cao tự đại, nấp dưới bóng dáng của khiêm tốn thật sự. những hiện tượng trên mau chóng xóa bỏ sự tồn tại của đức tính khiêm tốn. bên cạnh đó thói đua đòi xa xỉ, chi xài của cải thời gian vào việc vô bổ cũng thật sai lầm. ăn mặc lòe loẹt chi vậy? nó không tạo cho ta cái đẹp thâm chí làm trò “lố bịch” cho thiên hạ. “Mốt thời trang đã khiến ta mất dần cái tính giản dị, do đó phải ăn mặc cho phù hợp với hoàn cảnh.

Khiêm tốn giản dị chúng ta phải làm gì? Chúng ta phải biết đánh giá không thiên vị thực tài, không được coi thường thế hệ nhỏ tuổi, nêu cao ý thức học tập, phát triển không ngừng tư duy sáng tạo; sống cho phù hợp với hoàn cành và các giá trị chân-thiện-mĩ.

Nói tóm lại, chỉ có khiêm tốn chúng ta mới có thể tiến bộ, chỉ có giản dị chúng ta mới có thể hòa nhập tự nhiên. Ăng- ghen đã nói đúng. Khiêm tốn và giản dị là công cụ đắt lực phục vụ ta trên đường đời. Có khiêm tốn và giản dị cùng với lòng chân thành thành công tự nhiên sẽ đến với bạn.

0
phiếu
0đáp án
826 lượt xem

Cũng như bao đứa trẻ khác cùng làng, tôi lớn lên với hương lúa chín của làng quê nhỏ bé miền trung du.

Tuổi thơ của tôi là bà nội, là những bông hoa gạo rực lửa đốt cháy cả dòng sông lạnh ngắt. Những đêm đông, tôi thiếp đi trong hương trầu thơm nồng, trong câu chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa bà kể.

Những tối hè nằm trên chiếc chõng tre, tiếng ru của bà cùng tiếng gió từ chiếc quạt nan đưa tôi vào giấc ngủ. Tất cả cứ thế bình lặng và yên ả trôi theo tiếng thở của thời gian. Và cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi trong trí óc non nớt của tôi, bà là tất cả.

Tôi không có mẹ - hay nói đúng hơn - mẹ đã ra khỏi cuộc đời tôi từ khi tôi mới là đứa bé hai tuổi. Còn cha – tôi chỉ nhớ đó là người đàn ông dong dỏng cao. Mỗi khi tết đến, người đàn ông đó lại về thăm bà và tôi, đi cùng một người đàn bà và hai đứa trẻ.

Mọi người bảo đấy là cha và dì của tôi. Nhưng thường thì tôi chẳng quan tâm lắm đến họ, tôi chỉ thích chơi với hai đứa bé thôi. Đứa bé gái mặc chiếc váy trắng viền đăng ten - chiếc váy mà cả trong giấc mơ, tôi cũng chưa bao giờ mơ được mặc. Thằng con trai mặc áo trắng bỏ thùng.

Lúc ấy trong đôi mắt của tôi, chúng là thiên thần, còn tôi chỉ là một con nhóc xấu xí. Hơn thế chúng lại có rất nhiều kẹo. Những chiếc kẹo xanh đỏ thật hấp dẫn khác hẳn với thanh chè lam bà thường cho tôi ăn.

Thế nhưng tôi chỉ dám đứng nhìn mà thôi. Tôi không dám xin vì chúng như hoàng tử với công chúa, còn tôi chỉ là người hầu hạ mà người hầu thì chẳng bao giờ được ăn kẹo cùng hoàng tử, công chúa cả.

Những lúc ấy, bà thường gọi tôi vào bếp, dúi cho một thứ gì đó như nắm xôi hay quả ổi rồi bà bảo: "Ăn kẹo vào là đau bụng đấy". Chỉ cần bà nói thế là tôi đã chẳng còn thích những chiếc kẹo ấy nữa, nhưng tôi vẫn luôn có những câu thắc mắc "chẳng hiểu sao hai đứa kia ăn nhiều kẹo thế mà không đau bụng".

Và cuối cùng thì tôi cũng tìm được câu trả lời và cứ thế ngốc nghếch tin rằng mình đúng, "chắc ông thần kẹo chẳng thích mình".

Theo thời gian trôi, tôi không còn là đứa bé chỉ biết quẩn quanh bên chân bà nữa. Tôi đã đến tuổi đi học. Ngày đầu tiên được cắp sách đến trường quả là một ngày vô cùng trọng đại đối với tôi.

Sáng hôm ấy, bà gọi tôi dậy từ sớm, mặc cho tôi bộ quần áo đẹp nhất rồi bà đưa tôi đến trường. Có lẽ lúc ấy tôi đã nín thở để chặn sự hồi hộp đang òa vỡ trong lòng. Tôi se sẽ nắm lấy tay bà – bàn tay nhỏ bé nằm gọn trong bàn tay với những đường gân xanh nổi lên làn da nhăn nheo - khẽ khàng từng bước đi theo bà.

Đến trước cổng trường tôi ngơ ngác trước sự tưng bừng, náo nhiệt mà tôi chỉ thấy vào những ngày lễ hội. Bọn bạn tôi đứa nào cũng được bố mẹ dắt đến, chúng ăn mặc đẹp và vui cười hớn hở.

Tự nhiên tôi cảm thấy mình buồn lạ lùng khi hôm nay bố không đi cùng tôi. Tôi lặng lẽ nấp sau lưng bà - chẳng hiểu sao tôi muốn bỏ về quá. Và hình như bà cũng nhận thấy sự thay đổi của tôi nên bà cúi xuống cài lại cúc áo cho tôi, rồi bà bảo:

- Bà biết cháu buồn nhưng cháu không thích bà đi cùng hay sao?

- Không, cháu thích đi với bà lắm nhưng nhìn thấy bố mẹ chúng nó thì cháu nhớ bố cháu thôi.

Bà cười rồi bà đẩy tôi lên phía trước:

- Hãy dũng cảm lên cháu của bà.

Tan học, tôi là người chạy ra khỏi lớp đầu tiên. Tôi muốn viết cho bà xem chữ "O" đi liền với câu nói quen thuộc của bà "O tròn như quả trứng gà" và thật ngạc nhiên khi tôi thấy bà đang ngồi dưới gốc cây đa, tay bà cầm chiếc nón phe phẩy quạt. Bà đến đón tôi.

Tôi nhón chân nhẹ nhàng vòng ra sau lưng bà rồi ghé mặt thơm môi một cái rõ to. Bà giật mình nhìn tôi rồi bà cười:

- Cha cô, định trêu bà hả?

Nhanh thật là nhanh, thế là đã 9 năm trôi qua từ sau buổi học đầu tiên đáng ghi nhớ ấy. Bây giờ tôi đã là nữ sinh lớp 9 – tôi đã lớn – không còn buồn vì không có bố đưa đi học như ngày xưa. Thế nhưng với bà, tôi vẫn luôn là con bé chíp hôi như ngày nào.

Còn với tôi, bà là tất cả những gì mà tôi có. Bà là bà tiên ban phép lành trong câu chuyện cổ tích. Cha mẹ và dì chỉ còn là những cái bóng rất mờ nhạt trong tiềm thức tôi. Cũng có đôi lần bà hỏi: "Cháu có nhớ mẹ không?". Lần nào tôi cũng dựa vào lưng bà rồi khẽ lắc đầu: "Cháu có bà rồi, cháu chẳng cần mẹ nữa, nhưng mẹ cháu là ai hả bà?".

Bà ôm tôi vào lòng, bà cười nhưng giọng nói của bà lại nghẹn ngào. Dường như chúng vương cả vị mặn của nước mắt: "Cháu tôi tội quá!", và bà chỉ nói một câu duy nhất ấy thôi, chẳng bao giờ bà trả lời câu hỏi của tôi cả. Tôi cũng chẳng thắc mắc nhiều về mẹ. Đối với tôi, từ "mẹ" sao quá mơ hồ, như một điều không có thực trên đời, lại cao xa.

Tôi luôn luôn được nghe người khác gọi mẹ, nhưng có lẽ cả cuộc đời không bao giờ tôi được thốt ra lời gọi mẹ ngọt ngào âu yếm ấy. Vì thế, tôi bằng lòng với tất cả những gì tôi hiện có. Tôi cần bà và tôi đã có bà, vậy là đủ.

...Cầm sắc đỏ hoa gạo, tôi đặt lên mộ bà. Hôm nay tôi đến chào tạm biệt bà vì ngày mai tôi sẽ ra thành phố ở cùng bố và dì. Thế là bà xa tôi gần hai tháng rồi, nhưng tôi vẫn không thể nào quen được với sự thật. Tôi luôn nghĩ rằng bà đi đâu đấy rồi một lát nữa bà sẽ về.

Những lần đi học chẳng ai nhắc tôi đội mũ, mang áo mưa và đi học cùng tôi, bởi thật đơn giản: bà đã mãi mãi đi xa chỉ vì một căn bệnh rất đỗi kỳ quặc - bệnh tuổi già. Ngày bà mất, tôi chẳng còn biết mình đã nghĩ gì, làm những gì, nhưng duy nhất một điều mà tôi biết là tâm hồn tôi trống vắng, hoang vu. Mất bà cũng gần như tôi đã mất tất cả.

Tôi lặng lẽ ngồi bên mộ bà mặc cho làn gió khẽ mơn trớn làm tung bay mái tóc rối. Mái tóc mà ngày trước mỗi lần gội xong, bà lại chải cho tôi, "Tóc cháu bà đẹp lắm, nhưng phải chăm gội bồ kết đấy nhé".

Thế mà ngày mai tôi đã phải xa bà rồi, phải xa miền quê nhỏ bé mà tôi đã gắn bó, miền quê đã ban tặng cho tôi một người bà, tôi đã qua những tháng năm ngây thơ chạy nhảy chẳng biết gì, sắp phải chịu đựng những ánh mắt không mấy thiện cảm của dì và tiếng thở dài của cha, nhưng chắc chắn tôi sẽ vượt qua được tất cả vì bà luôn ở bên tôi. Bà sẽ giúp đỡ tôi, bà sẽ truyền cho tôi nghị lực để tôi vững bước bởi vì trong trái tim tôi – bà là tất cả.

Mặt trời đang từ từ xuống sau dãy núi phía xa. Từng ánh nắng vàng đục vương lên mộ bà cứ nhạt dần, nhạt dần rồi mất hẳn. Mùi nhang thoảng bay trong gió làm sống mũi tôi cay cay. Hoàng hôn bao trùm mọi cảnh vật, tất cả thật yên ắng, chỉ còn lại khúc đồng ca xào xạc của rừng lau.
0
phiếu
0đáp án
754 lượt xem

Hồ Chí Minh là nhân vật lịch sử lỗi lạc của dân tộc ta, là nhà thơ lớn, danh nhân văn hóa thế giới. Cuộc đời thơ ca của Người luôn song hành với cuộc đời chính trị. Người đã để lại cho đất nước một sự nghiệp văn chương đồ sộ và phong phú. Trong đó, hay nhất là bài thơ "Tức cảnh Pác Bó" (ra đời tháng 7- 1941), thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời, "thú lâm tuyền" khoáng đạt, tươi sáng của Bác.
Bài thơ được ra đời trong khi nước ta đang cùng đấu tranh chống thực dân Pháp vô cùng khó khăn, gian khổ. Bác sống và làm việc trong hoàn cảnh hết sức thiếu thốn: ở trong hang Pác Bó; ăn cháo ngô thay cơm, ăn măng rừng thay rau; bàn làm việc là phiến đá bên bờ suối Lê- nin cạnh hang. Bài thơ đã diễn tả được một tinh thần ung dung, lạc quan của Bác.
''Sáng ra bờ suối, tối vào hang"
Câu "khai" mở đầu bài như dòng nhật kí tâm tình của Người với một người bạn kể về hoạt động đều đặn, nhịp nhàng của mình. Với nghệ thuật đối: "sáng- tối", "ra- vào", "bờ suối- hang", Bác đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên động với độ sáng- tối tương phản thật hài hòa, hợp lí.
"Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng"
Câu "thừa" ở đây mang hai lớp nghĩa. Lớp nghĩa thứ nhất: khi làm việc cách mạng, dù là một nguyên thủ quốc gia, phải ăn uống kham khổ (cháo bẹ, rau măng) nhưng Bác vẫn sẵn sàng đón nhận. Lớp nghĩa thứ hai: vì Bác làm việc ở vùng núi nên cháo bẹ, rau măng- những thức ăn thanh đạm luôn có sẵn.
"Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng"
Câu "chuyển" là câu thơ làm nổi bật vẻ đẹp của người chiến sỹ cách mạng. Bên bờ Lê- nin nước chảy róc rách, cạnh đó là chiếc bàn đá và quyển sách, hình ảnh Bác Hồ hiện lên như một yếu tố quan trọng đưa bức tranh thiên nhiên tươi đẹp ấy từ tĩnh sang động. "Thú lâm tuyền" của Bác được thể hiện rõ nhất ở câu này. Hoàn cảnh thực tại (bàn đá chông chênh) dường như không thể cản việc lớn (dịch sử Đảng), ta càng thấy rõ một tinh thần lạc quan, một phong thái ung dung, một tình yêu thiên nhiên luôn tiềm tàng trong con người của Bác.
"Cuộc đời cách mạng thật là sang"
Câu "hợp" cuối cùng gợi trong lòng người đọc nhiều suy nghĩ. Tuy làm cách mạng gian khổ là vậy nhưng đối với một vị lãnh tụ lại thật là "sang". Cái "sang" này không phải là "sang" về mặt vật chất mà là "sang" về tinh thần. Được hoạt động cách mạng để cứu nước là một niềm vui đối với Bác, niềm vui này không thể mua được. Nó là vô giá!
Có thể nói, bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt,nghệ thuật đối, cùng giọng văn hóm hỉnh, bài thơ "Tức cảnh Pác Bó" đã cho chúng ta thấy "thú lâm tuyền" của Bác thật khoáng đạt, qua đó còn cho thấy tinh thần lạc quan, tình yêu đất nước sâu nặng luôn tiềm tàng trong con người đáng kính này.
0
phiếu
0đáp án
656 lượt xem

Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đã sinh ra những tác giả và tác phẩm để đời.Riêng mảng đề tài về người nông dân,chúng ta phải xếp lên nhóm đầu Lão Hạc của Nam Cao và Tắt đèn của Ngô Tất Tố.Hai tác phẩm tuy chỉ là những truyện ngắn nhưng sức khái quát của chúng không hề nhỏ.Đọc tác phẩm,người ta thấy cả không khí ngột ngạt mà người nông dân Việt Nam trước Cách Mạng tháng Tám phải chịu đựng.Và ở giữa cái guồng quay tàn nhẫn ấy,có những con người,những thân phận đang cố chới với thoát khỏi dòng đời một cách đầy tuyệt vọng.

Với Tắt đèn và Lão hạc,cả Ngô Tất Tố và Nam Cao đều trở về với nông thôn.Nhưng nếu như người ta cứ tưởng nông thôn Việt Nam từ xưa đến nay yên bình sau những lũy tre lành thì hình ảnh cái vùng quê kiểu ấy biến mất hoàn toàn trên những trang văn của Ngô Tất Tố lẫn Nam Cao.Ở Tắt đèn và Lão Hạc,sau cái cổng làng đầy rêu mốc là một nông thôn dữ dội như một bãi chiến trường và kỳ thực ở đó người nông dân dù muốn hay không cũng đang bị biến thành những “chiến binh số phận”.
Chỉ với mấy chục trang văn,hai tác giả đã cho bạn đọc một hình dung khá trọn vẹn về người nông dân Việt Nam trước Cách Mạng.Đó là những con người đang dần nghẹn thở vì sự bóc lột của thực dân và phong kiến theo mọi cách khác nhau.Cuộc sống của họ tủi nhục,đau buồn khiến họ lúc nào cũng có thể nghĩ cái chết có khi còn dễ chịu hơn nhiều.

Ta hãy sống với cuộc đời của Lão Hạc.Một lão nông dân nghèo,chỉ cần nghe qua tiểu sử cũng đủ thấy bao điều bất hạnh.Vợ lão chết sớm để lại cho lão một cậu con trai với mấy sào vườn-thành quả bòn mót suốt cuộc đời của người đàn bà xấu số.Nhưng có vẻ như nhà lão Hạc còn khá khẩm hơn nhiều gia đình khacd.Mọi chuyện chỉ nảy sinh khi con lão đến tuổi lập gia đình.Nhà gái thách cưới cao,nhà lão thì nghèo quá.Kết quả là thằng con lão đành nhìn cô người yêu lấy chồng sang cửa giàu hơn.Nó quẫn chí,ngay mấy hôm sau xin đi đồn điền.Lão Hạc đau lòng lắm nhưng tất cả cũng vì nghèo nên đành ngậm đắng nuốt cay.Con lão bỏ đi lão con chó với mảnh vườn nhưng cái vườn của lão lúc nào cũng bị người ta dòm ngó đòi cướp mất.Lại thêm làng mất vê sợi,lão lại ốm đau luôn.Trăm cái bất hạnh,trăm cái lo lắng đổ xuống cái túi đang dần nhẵn thín của lão nông nghèo.lão không thể nào chống lại,lão đành chấp nhận “chết mòn” rồi “chết hẳn” trong đau đớn,xót xa.Một cái chết đầy bi kịch.

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
497 lượt xem

Tôi thấy mình đã khôn lớn.

Có lẽ, theo năm tháng, suy nghĩ của con ngưới cũng có phần thay đổi. Tôi không cón thích những nơi quá ồn ào, đông đúc; không còn thích những game điện tử mà tôi từng nghĩ sau này lớn sẽ dảnh hết thời gian để luyện tập; không còn thích những cuốn truyện tranh vớ vẩn hay sưu tầm đĩa của những bộ phim hoạt hình... Tôi thích những gì trầm lắng hơn, sâu sắc hơn. Tôi bắt đầu viết nhật kí, vẽ tranh khi vui cũng như khi buồn; tôi sẵn sàng vắt sạch nước mắt khi xem một bộ phim hoặc một cuốn sách cảm độnghay dành hàng giờ ngồi ngắm một cơn mưa buồn về chiều quen thuộc trên mảnh đất cao nguyên Đà Lạt. Chỉ vài năm trước thôi, tôi sẽ sẵn sàng làm bất cứ việc gì đơn giàn là vì tôi muốn mà không cần biết hậu quả sẽ ra sao. Nhưng bây giờ, mỗi lời nói, mỗi việc làm đều được tôi suy nghĩ, chọn lọc kỹ càng. Lẽ nào, tôi đạ lớn rồi sao?

Tôi thấy mình đã khôn lớn.

Trước đây, tôi đã từng làm ba mẹ phải buồn, rất buồn và vô cùng thất vọng, lúc đó tôi không hề có ý thức về việc tôi làm tổn thương họ ra sao. Còn lúc này đây, nếu cho tôi một đề văn " Nếu có một điều ước bạn sẽ ước gì?" tôi sẽ đặt bút mà viết không cần suy nghĩ, tôi ước có thể làm thời gian quay trở lại để tôi sửa chữa mọi lỗi lầm ngốc nghếch tôi đã gây ra, tôi thực sự ý thức được việc tôi làm gây tổn thương những người yêu thương tôi đến nhường nào.

Tôi thấy mình đã khôn lớn.

Có ai đó đã hỏi tôi:" Bạn nghĩ gì vế tương lai của mình?" nếu là trước đây, tôi sẽ sẵn sàng trả lơì: việc tương lai thì cứ để sau này hãy tính, suy nghĩ nhiều chỉ thêm nhức đầu. Nhưng giờ đây, tôi biết, tất cả những gì tôi học được, làm được hôm nay có ảnh hưởng rất lớn, nó là nền móng vững chắc, là chiếc chìa khoá để tôi mở cánh cửa tương lai của chính tôi. Phài chăng, tôi đã lớn?

Tôi thấy mình đã khôn lớn không chỉ về thể chất mà là trong cả tâm hồn. Tôi thấy mình khôn lớn trong từng suy nghĩ, từng lời ăn, tiếng nói, cả trong cách cảm nhận cuộc sống. Ai cũng từng mắc lỗi, nhưng người chiến thắng là người không chạy trốn mà sẵn sàng đối diện, sẵn sàng sửa đổi. Tôi đã lớn lên từ sự nghiêm khắc có phần độc đoán của ba, tình yêu thương dịu dàng của mẹ. Có lẽ, tôi đã lớn thật rồi.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
4K lượt xem

Bài làm mẫu

Khi nhắc đến cảm hứng chủ đạo trong những áng thiên cổ hùng văn của mọi thời đại từ thế kỉ XV thì ta không thể không nhắc đến cảm hứng yêu nước. Trải qua những trang sử dài lâu, vẻ vang, “tuy từng lúc mạnh yếu khác nhau”, nhưng vẫn luôn hiện hữu niềm tin tự hào trong mỗi người dân Việt Nam về những con người mang đậm “tình yêu nước, nghĩa thương dân”. Trong số đó, ta không thể không nhắc đến những vị anh hùng như Lý Công Uẩn trong “Chiếu dời đô”, Trần Quốc Tuấn trong “Hịch tướng sĩ” và Nguyễn Trãi trong “Nước Đại Việt ta”.

Đọc ba áng văn chương kiệt tác này, ta mới cảm nhận được tấm lòng sâu sắc của những con người luôn luôn suy nghĩ, lo lắng cho nước, cho dân. Đối với họ, nỗi niềm đất nước là nỗi niềm trăn trở, canh cánh không nguôi. Chính khát vọng độc lập và khí phách Đại Việt đã làm nên vẻ đẹp “thần hiếm” trong các vị vua, chủ tướng này.

Buổi đầu, mới giành được độc lập, đất nước ta còn chưa cường thịnh. Trong mấy chục năm mà đã thay đổi trị vì đến ba vương triều. Các triều đại Đinh, Tiền Lê số phận ngắn ngủi thực là đau xót! Có lẽ, sự suy vong của các triều đại như “tiếng chuông cảnh báo” cho giang sơn, bờ cõi Đại Việt. Làm thế nào để Đại Việt phát triển thành một quốc gia phồn thịnh? Đó là nguồn vọng của một vị hoàng đề và cũng là ý muốn của muôn dân trăm họ. Ý nguyện của dân chúng là đã thôi thúc hoàng đế Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) dời đô từ Hoa Lư về Đại La.

Kinh đô là trung tâm chính trị, hành chính, là điểm tụ của quốc gia. Khi dời kinh đô đi nơi khác, người đứng đầu cuộc “hành trình” phải có những hiểu biết sâu rộng về địa hình, có cẻ sự nhạy bén và can đảm để đi đến quyết định cuối cùng. Qua đó, ta thấy rõ được tài năng “xuất chúng” của Lý Công Uẩn - vị vua anh minh và tài giỏi. Ông nắm giữ được tình hình, thời vận của đất nước, ông muốn mọi thứ dưới quyền hành của mình phải thực sự tốt đẹp - dân ấm no, nước hưng thịnh. Chính vì vậy, Người quyết định dời đo - một quyết định không có gì trái với luân lí, trái với quy luật tự nhiên cả. Muốn vậy, việc dời đô là phải tìm một nơi “trung tâm của đất trời”, địa thế “rồng cuộn hổ ngồi” - và ông đã chọn Đại La. “Đại La là nơi trung tâm của đất trời, mở ra bốn hướng Nam - Bắc, Đông - Tây; có núi lại có sông, đất rộng mà bằng phẳng, cao mà thoáng, tránh được nạn lụt lội, còn là kinh đô cũ của Cao Vương, muôn vật tốt tươi, xem khắt Đại Việt cỉ có nơi đây là thắng địa”. Nhìn sâu vào khát vọng của vị vua anh minh này, chúng ta mới thực sự cảm nhận được tình yêu mãnh liệt hằn ẩn trong con người ông. Lý Công Uẩn chính là một trong những con người bước lên và đã có công khiến cho “con thuyền “ Đại Việt băng băng lướt sóng trên con đường xấy dựng và phát triển đất nươc.

Nếu lòng yêu nước, thương dân của Lý Công Uẩn đã được bộc lộ trong “Chiếu dời đô” với nguyện vọng đất nước phồn thịnh muôn đời thì với Trần Quốc Tuấn - một vị chủ tướng tài ba đã chứng minh lòng yêu nước của mình qua lòng căm thù giặc sâu sắc và ý niệm sẵn sàng hi sinh vì đất nước qua tác phẩm “Hịch tướng sĩ”. 

Là một chủ tướng có lòng yêu nước hào hùng, ông không thể “mặt lấp tai ngơ” trước những hành động bạo tàn của kẻ thù, ông căm thù chúng làm ông không tiếc những lời cay xé để lên án hành động như “nghênh ngang đi lại ngoài đường” như một đất nước không vua, “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình” hay “vơ vét vàng bạc, ngọc lụa để vung đầy túi tham của chúng”. Từ lòng căm thì giặc, ta lại càng cảm thương cho vị chủ tướng khi quên ăn, mất ngủ, đau đớn đến “tim gan thắt ruột”, “nước mắt đầu đìa” vì uất ức chưa trả được mối thù nợ nước. Từ đó, tấm lòng xả thân vì nước, nguyện hi sinh “trăm thân” cho quê hương làm nổi bật hẳn một vị anh hùng đáng cảm phục. Có lẽ vi thế, ông đã nghiêm khắc thức tỉnh các tướng sĩ đang sống trongc ảnh “xa hoa”, sung sướng. Ông muốn họ thực sự kiên quyết chống giặc đồng tthời cũng muốn đất nước, hưng thịnh đến muôn đời. Qua đó, ta mới hiểu rõ tấm lòng cao cả, anh minh, yêu nước, thương dẫn của cị tướng Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn.

Đối với “Chiếu dời đô” đã toát lên niềm tự hào cao độ về bản lĩnh, khí phách của Đại Việt, còn “Hịch tướng sĩ” lại khẳng định một nền độc lập - tự do bền vững. Còn đối với Nguyễn Trãi trong “Nước Đại Việt ta” lại khác, lòng yêu nước, thương dân, khát vọng tự do đã được đúc kết thành chân lí ôm ấp trong trái tim người dân đất Việt.

Bài cáo của Nguyễn Trãi như bản tuyên ngôn độc lập thứ hai mang ý nghĩa lịch sử của cả một đất nước, thể hiện ý thức tự chủ, quyền dân tộc. Tư tưởng nhân - nghĩa vốn là khái niệm đạo đức của Nho Giáo, được hiểu là “lòng thương người chính là việc cần làm”. “Yên dân” là làm cho dân được hưởng thái bình những muốn “yên dân” thì phải đi đôi với việc “trừ bạo”. Có bảo vệ được dân thì mới thực hiện được mục đích “yên dân”. Nguyễn Trãi đã khẳng định mạnh mẽ chủ quyền của một đất nước, đồng thời khơi gợi cho chúng ta một niềm tự hào dân tộc cao cả. Chân lí của Nguyễn Trãi như sức mạnh trong tâm hồn yêu nước, thương dân có trong trái tim mãnh liệt của ông. Điều đó như tiềm thức khắc sâu trong tim mỗi độc giả chúng ta:

“... Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông, bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc - Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nên độc lập
....
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch đằng giết tươi Ô Mã ...”

Ra đời trong hào khí chiến thắng, cả dân tộc đang ca khúc khải hoàn, cả ba áng văn thiên cổ hùng văn đã khẳng định quyền và tính độc lập dân tộc. Đồng thời, thấy rõ những phẩm chất ằn hẩn chứa trong các vị vua, vị chủ tướng nghiêm khắc mà có trái tim nồng ấm.

Kết quả của sự lãnh đạo anh minh của các vị “tướng tài, vua giỏi” Lý Công Uẩn, Trần Quốc Tuần, Nguyễn Trãi là niềm tin vững chắc về một tương lai tốt đẹp của nhân dân ta từ xưa đến nay. Một lần nữa, khúc khải hoàn kia lại khẳng định cao hơn, chi tiết hơn tầm quan trọng cả họ vô cùng to lớn đến giang sơn đất nước. Những vị ấy đã cố gắng giữ gìn và gây dựng đất nước thì con cháu chúng ta lại càng phải cùng nhau gây dựng và bảo vệ đất nước vững mạnh hơn.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
636 lượt xem

Chó là một loài động vật rất có ích cho con người. Nó trung thành, dễ gần và là bạn của con người. Cũng có thể vì thế mà người ta gọi nó là "linh cẩu".

Chó có rất nhiều loại và từ đó người ta đặt tên cho chúng. Chó là một trong số những loài động vật được thuần dưỡng sớm nhất. Trung bình chó có trọng lượng là từ một đến tám mươi ki-lô-gam. 

Chó là loài động vật có bốn chân, mỗi bàn chân đều có móng vuốt sắc nhưng khi đi thì cụp vào. Chó có bộ não rất phát triển, xương quai hàm cứng. Đặc biệt, tai và mắt chó rất thính và tinh vào ban đêm. Chó vẫy đuôi để biểu hiện tình cảm. Chó là loài động vật có bộ phận tiêu hóa rất tốt. 

Chó có đặc tính là chạy rất nhanh bằng bốn chân, tốc độ lao về phía trước khoảng từ bảy mươi đến tám mươi km một giờ. Hơn nữa, chó cũng có khả năng đánh hơi rất tài. Hiện nay chó hoang dã vẫn còn tồn tại, nhưng chó được thuần dưỡng như chó nhà, chó cảnh thì phổ biến hơn. Chó thuần dưỡng có nhiệm vụ trông, giữ nhà và thường nặng từ mười lăm đến hai mươi ki-lô-gam, có tuổi thọ trung bình từ mười sáu đến mười tám năm. Loại chó bắt được tội phạm được gọi là chó nghiệp vụ, trinh thám, và thường rất to, cao, tai vểnh, hoạt động nhanh nhẹn, linh hoạt và thông minh. Chúng được nuôi rất công phu. Một số loại chó khác như chó săn thường rất khôn. Chó cứu hộ được dùng trong việc cứu nước ở các bến cảng, sân bay,... nơi xảy ra sự cố. Ở một số nước trên thế giới, chó còn chuyên để kéo xe. 

Nhưng không hẳn là chỉ có ích, nó còn rất dễ bị bệnh, đó là bệnh "dại". Thường là thời gian đầu chó rất bình thường, ít người phát hiện ra để đề phòng. Khi bị chó dại cắn, lúc bấy giờ mới thấy rõ việc nguy hiểm đến tính mạng con người. Vì vậy cần phải tiêm phòng cho chó thường xuyên theo định kì để tránh bị mắc bệnh.

Chó là loài động vật rất có ích trong mọi lĩnh vực. Chó còn là bạn của con người bởi sự thông minh, lanh lợi, trung thành và nhiều tác dụng của nó. Chó được coi là loài động vật rất quan trọng và giúp việc đắc lực cho con người.
0
phiếu
0đáp án
487 lượt xem

Nguyên Hồng viết nhiều về phụ nữ,những người cùng khổ gần gũi quanh ông,những người mà ông yêu thương với trái tim đằm thăm chân thành.Người phụ nữ trong văn của Nguyên Hồng dù là nhân vật chính diện hay phản diện đều được thể hiện khá tinh tế và giàu cá tính.Không ít trong số họ đã trở thành những điển hình văn học thật thụ.Một trong số đó là nhân vật bà cô trong đoạn Trong lòng mẹ trích từ tập hồi ký Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng.

Nhân vật bà cô xuất hiện trong đoạn trích không đầy hai trang giấy mà ấn tượng để lại trong lòng người đọc thật khó phai mờ.Đọc xong đoạn trích ta nghiệm lại mới thấy câu nói “giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng” của các cụ ta xưa sâu sắc biết bao.Dẫu cùng chung “giọt máu đào” nhưng cái lòng đố kỵ và tàn nhẫn của bà cô đã khiến chú bé Hồng cứ phải chiến đấu liên tục với những đợt sóng trào để bảo vệ tình yêu thương với mẹ.

Đợt sóng ấy bắt đầu nổi lên tưởng rất hiền hòa.Bà cô đến bên Hồng tươi cười và ân cần lắm:

-Hồng!Mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không?

Oâi!Câu nói ấy trong lúc này cần với chú bé biết bao.Giá như đó là một lời chia sẻ thật lòng.Nhưng Hồng ngay lập tức nhận ra “những ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch của cô”.Vậy là cái sự giả dối của người cô chẳng thể giấu nổi một đôi mắt ngây thơ.ĐÓ là sự giả dối đã thành quen,bởi “nhắc đến mẹ tôi,cô tôi chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ”.Vậy ra bà cô là hiện thân của lòng đố kị,của sự thành kiến tàn ác.

Bà cô tiếp,vẫn giọng ngọt ngào đầy giả tạo: “Sai lại không vào?Mợ mày phát tài lắm,có như dạo trước đâu!”.Toàn bộ câu nói bị khựng lại và dằn mặt lên trong hai chữ “phát tài”.Bà cô thừa biết mẹ Hồng đang phải sống lay lắt ở que người.Một người đàn bà góa chồng,nợ nần nhiều quá phải bỏ cả con cái đi tha hương cầu thực.Ngần ấy lý do đã đủ để ta hinh dung ra một cuộc đời phiêu bạc.Thế mà người cô lại nhấn vào hai chữ “phát tài”.Câu nói có khác gì lưỡi dao cứa vào vết thương đang rỉ máu của bé Hồng.Tình thương mẹ của con đang bị bà cô cố tính chia cắt.Nhưng sự tàn nhẫn của nhân vật bà cô không dừng ở đó.Biết Hồng rất thương yêu và cũng khát khao tình thương của mẹ,người cô chọn một lời cay độc khác: “Vào mà bắt mợ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ”.Lần này Hồng thấy đau nhói,chẳng lẽ mẹ mình lại đổ đốn ư?Mẹ còn chưa đoạn tang thầy mà?Tôi tin chắc lúc này nếu nhìn mặt bà cô,ta sẽ thấy một cười mãn nguyện.Nụ cươi của một người phụ nữ không có một chút tình thương.Nụ cười được xây lên từ nỗi đau của cậu cháu mình.

Đến đây tưởng như trò đùa quái ác của bà cô đã quá đà.Nhưng không!Người cô tàn ác vẫn cho như thế là chưa đủ,chưa thỏa mãn.Vẫn thấy cần phải đưa thêm nhiều nguyên do nữa để cái thông tin của mình thuyết phục hơn.Từ đó mà làm cho cậu cháu đau đớn hơn: “Có một bà họ nội xa vào trong ấy cân gạo về bán.Bà ta một hôm đi chợ thấy mẹ tôi…thì mẹ tôi quay đi,lấy nón che”.Câu nói vô tình cay nghiệt của bà cô khiến bé Hồng “nghẹn ứ khóc không ra tiếng”.Nhưng cái bà cô vô hồn đến tàn nhẫn kia vẫn cứ thản nhiên tiếp tục khoét vào nỗi đau của một tâm hồn non nớt và thơ bé.Sự dồn nén đến nghẹn thở của bà cô khiến bé Hồng chỉ còn biết nghẹn ngào câm lặng.

Chỉ bằng vài nét bút,không đặc tả,chỉ thiên về đối thoại thế nhưng tác giả đã xây dựng được một nhân vật rất điển hình,người cô lạnh lùng và tàn nhẫn.Đó cũng là hiện thân của cái nhìn đầy thành kiến đối với người phụ nữ góa chồng nhưng luôn khát khao tình yêu thương và hạnh phúc ngày xưa.

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
640 lượt xem


Bài làm

Trong những áng văn nghị luận trung đại, Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn có một vị trí quan trọng. nó là áng văn khởi đầu cho nền văn học thời Lí – Trần. Hơn nữa, nó là áng văn đầu tiên thể hiện khát vọng về một đất nước độc lập, thống nhất, hung cường và khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh.

Chiếu dời đô ra đời trong hoàn cảnh lịch sử khá đặc biệt. Tuy không phải là hoàn cảnh giặc thù đang lăm le ngoài biên ải, vận mệnh Tổ quốc lâm nguy như hoàn cảnh ra đời của Hịch tướng sĩ. Cũng không phải không khí tưng bừng rộn rã của cả dân tộc đang ca khúc khải hoàn như hoàn cảnh ra đời của Bình ngô đại cáo. Đây là hoàn cảnh đất nước đã thái bình. Nhưng nền thái bình ấy còn mong manh, nguy cơ giặc giã thôn tính Đại Việt chưa phải là hết. Đây là thời điểm dân tộc ta đã giành được chủ quyền, có núi sông riêng, chế độ riêng, nhưng các triều đại Đinh- Tiền Lê nối tiếp nhau ra đời rồi cũng nhanh chóng tiêu vong. Nhà Lí thành lập. Một trọng trách nặng nề đè nặng trên đôi vai vương triều họ Lí. Làm thế nào để giữ yên giang sơn bờ cõi, bảo tồn được thành quả của cha ông đã giành được? làm thế nào để phát triển đất nước ngày càng hùng cường? Niềm trăn trở ấy đã biến thành quyết định dời đô của Lí Thái Tổ(Lí Công Uẩn), và bài Chiếu đã ra đời. Hơn ai hết, Lí Công Uẩn hiểu rõ lí do phải dời đô cũng như lợi ích của việc dời đô.

Trong lịch sử nhân loại , đã có không ít những lần dời đô. Không xét đâu xa lạ, chỉ riêng một quốc gia cận kề với Đại Việt là Trung Hoa, chỉ ở hai triều đại thôi cũng đã có tới vài lần phải thay đổi kinh đô: Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Việc dời đô của các vị đế vương Thương, Chu ấy phải đâu là những việc làm tùy tiện, theo ý riêng của mình. Đó là những việc làm có suy tính đến sự thiệt hơn, đến sự hưng thịnh, tồn vong của giang sơn, xã tắc, đến hạnh phúc lâu dài của trăm họ, muôn dân. Thật là một việc làm trên theo mệnh trời, dưới theo ý dân, đáng là tấm gương để đời sau noi theo.

Từ bài học của các đế vương Trung Hoa, đi sâu vào thực tế của Đại Việt, Lí Thái Tổ càng thấy bức xúc, trăn trở: Kinh Đô của Đại Việt đóng ở Hoa Lư, nơi đất hẹp hè thưa, địa thế tuy có hiểm trở nhưng đâu phải là nơi thuận tiện cho việc giao lưu phát triển, làm sao vận nước có thể lâu dài, phong tục có thể phồn vinh như các triều đại Thương, Chu bên Trung Quốc? Và thực tế là số vận của hai nhà Đinh, Lê không được lâu bền, số vận ngắn ngủi và trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi há chẳng phải là điều đang diễn ra đó sao?

Không chỉ bức xúc, trăn trở, nhà vua còn cảm thấy rất đau xót về việc đó. Tình cảm chân thành của ông là khát vọng về đất nước độc lập, thống nhất, hùng cường. Khát vọng ấy biến thành ý chí hành động không thể chuyển dời.
Bắt nguồn từ một khát vọng lớn lao, cao cả, với một vị trí mẫn tiệp, với tầm nhìn xa, trông rộng của một bặc thiên tài kiệt xuất, vị đế vương nhà Lí đã tìm được cho dân tộc ta một địa danh lí tưởng để định đô lâu dài. Đó là thành Đại La.( Hà Nội ngay nay). Nhà vua chỉ rõ các bá quan văn võ, cho thần dân cả nước thấy được những lợi thế vô cùng lớn của thành Đại La mà không nơi nào trên quốc gia Đại Việt có được.

Thứ nhất, về vị trí địa lí ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuốn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi phải chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú, tốt tươi.

Thứ hai, vế chính trị, văn hóa thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.

Đóng đô ở một nơi như thế hỏi làm sao vận nước có thể ngắn ngủi, trăm họ có thể hao tổn, muôn vật có thể không được thích nghi? Chắc chắn là vận nước sẽ được lâu dài, phong tục sẽ được phồn vinh, trăm dân muôn họ sẽ được an hưởng thái bình hạnh phúc. Hỏi có còn mong ước gì hơn? Một khát vọng thật đẹp. Khát vọng của Lí Thái Tổ cũng là khát vọng của những người dân Đại Việt lúc ấy và cả sau này.

Chiếu dời đô đã đánh trúng vào niềm khao khát xây dựng một đất nước độc lập, thống nhất, hùng cườngcuar cả dân tộc nên nó được mọi người nồng nhiệt hưởng ứng. Một kinh đô mới đã ra đời và tồn tại vĩnh viễn.
Chiếu dời đô không chỉ thể hiện một khát vọng lớn, nó còn thể hiện được khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh.
Do thế và lực còn yếu, chưa đủ sức để đối phó với nạn ngoại xâm nếu định đô ở đồng bằng, nên hai nhà Đinh, Lê phải chọn Hoa Lư làm kinh đô mong dựa vào địa thế hiểm trở để bảo tồn vương triều, giữ vững chủ quyền. Bởi chưa lớn mạnh nên số vận ngắn ngủi, trăm họk phải hao tổn là lẽ đương nhiên.

Nhưng nay, nhà Lí là sự kế tục sự nghiệp của các triều đại cha anh,có thế đã lớn mạnh hơn. Nhưng dù có lớn mạnh hơnhay chưa thực sự lớn mạnh thì quyết định dời đô của vị Thái Tổ họ Lí cũng đã khẳng định được khí phách anh hùng, dám đương đầu với mọi thử thách, vững tin vào khả năng của mình. Khí phách của vị đế vương đầu tiên của nhà Lí cũng là khí phách của cả một vương triều, của cả một dân tộc đang trên đà lớn mạnh.

Ngày nay, càng đọc kĩ Chiếu dời đô, càng suy ngẫm kĩ về tư tưởng bài Chiếu, ta càng thấy thấm thía sự sang suốt và quyết định đúng đắn của một bậc đế vương hào kiệt, càng thêm biết ơn ông đã đặt nền móng cho sự bền vững, hưng thịnh lâu dài của đất nước, càng thêm cảm phục và quý mến ông.

0
phiếu
0đáp án
3K lượt xem

Bài làm mẫu

Từ xa xưa, con người đã biết phản ánh tâm tư, tình cảm của mình qua văn học truyền miệng hay trên những tấm tre, mảnh giấy. Văn học đã trở thành người bạn thân thiết, gắn bó với con người. Nó là sợi dây liên kết vô hình khiến con người “xích” lại gần nhau hơn. Văn học giúp con người sống với nhau bằng tình cảm đẹp đẽ, biết sống bằng sự chia sẻ, cảm thông. Vì thế, ngay từ khi sinh ra, khi được truyền hơi thở ấm áp của bà, của mẹ qua những câu hát ru thì ta đã cảm nhận được rằng: “Văn học luôn ca ngợi tình yêu thương giữa người và người”.

Văn học là một bộ môn Nghệ thuận quan trọng trong cuộc sống tinh thần mỗi con người. Là công cụ để bày tỏ cảm xúc hay tình cảm của mình bằng ngôn ngữ, giúp con người thể hiện rõ từng khung bậc cảm xúc của mình. Những tác phẩm văn học được làm nên từ chất liệu cuộc sống, thể hiện rõ tình cảm của cuộc sống hiện thực. Vì thế, văn học còn là chiếc chìa khóa vàng mở ra lâu đài nhân ái và tình thương, hướng chúng ta đến “chân - thiện - mĩ”. Tình yêu thương con người làm nên sự hấp dẫn của văn chương, ngược lại, văn chương có nhiệm vụ bồi đắp tình yêu thương giữa người với người.

Nhà phê bình văn học Nguyễn Văn Siêu đã từng nói: “Văn chương có loại đáng thờ và loại không đáng thờ. Loại đáng thờ là loại chuyên chú đến con người. Còn loại không đáng thờ chỉ chuyên chú ở văn chương”. Thật vậy, “văn học là nhân học” (Maksim Gorky), nó dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho con người, “làm thay đổi cả một thế giới giả dối và tàn ác, ca ngợi sự công bình, làm người gần người hơn” (Thạch Lam). Tóm lại, nó biểu hiện cho tất cả những gì gọi là tình cảm nhân loại, sự xót xa, đồng cảm hay lòng nhân ái, mang cái dư vị của cuộc sống thực tại.

Trong văn học chân chính - thứ được gọi là “loại văn chương đáng thờ” kia được chia ra làm nhiều cung bậc cảm xúc. Nó bộc lộ sự thương cảm xót xa, sâu sắc đối với những mảnh đời, thân phận bất hạnh, vẻ đẹp nhân cách con người, ... Nhưng nổi bật trong đó vẫn là tình cảm gia đình, làng xóm ; tình yêu thiên nhận, quê hương, đất nước hay sự đồng cảm, xót xa trước mảnh đời đau xót.

Tiên phong đi đầu vẫn là tình cảm gia đình, làng xóm. Tình mẫu tử, phụ tử là cao quý hơn cả. Ta vẫn còn nhớ mãi hình ảnh người mẹ nhân hậu, âu yếm đưa con đến trường qua tác phẩm “Tôi đi học” (Thanh Tịnh), đã cho ta thấy sự hồn nhiên, ngây thơ của người con và tình yêu thương con hết mực của người mẹ. Và rồi hình ảnh cậu bé Hồng trong hồi kí “Những ngày thơ ấu” (Nguyên Hồng” thì sao? Hoàn cảnh đáng thương của gia đình bé Hồng những xen lẫn vào đó là niềm khao khát cháy bỏng, dữ dội. Dường như, thứ tình cảm cao quý ấy cứ “gắn chặt” với nhau, như thứ keo rắn chắc, không thế nào gỡ bỏ được. Cũng gần như vậy, tình phụ tử thiêng liêng của lão Hạc trong tác phẩm cùng tên cũng được thể hiện rõ. Nam Cao đã nhìn thấu rõ trái tim nồng ấm mà lão Hạc dành tặng cho con, hi sinh vì con để giữ đạo làm cha. Hay tình cảm vợ chồng chị Dậu thì sao? Chị luôn ân cần, chăm sóc chồng chu đáo, quên mình bảo vệ chồng trước bọn quan lại gian trá. Hình tượng người phụ nữ đẹp đẽ đã được thể hiện qua ngòi bút của Ngô Tất Tố. Tóm lại, văn học đã làm nên một thứ tình cảm thiêng liêng qua nét vẽ tài tình của các nhà văn. Nó đã làm sáng tỏ thế nào là “thứ khí giới thang tao” của văn chương. Nhà thơ Chế Lan Viên đã có câu thơ về tình cảm gia đình rất hay đã phần nào khẳng định được điều đó:

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con”

Hay: 

“Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn”

Không chỉ trong gia đình mà ngay cả giữ những con người không có máu mủ, những văn học vẫn đề cập đến, đó là tình yêu thương, đùm bọc lẫn nhau giữa người với người trong xã hội. Và trong văn học truyền miệng đã có câu:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tùy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

Dân gian đã đề cao con người, mượn đề tài “bầu - bí” để nhắc nhở chúng ta về mối quan hệ trong xã hội. Cũng như bà lão hàng xóm cạnh gia đình chị Dậu, đã “ái ngại” mạng bát gạo sang giúp đỡ gia đình chị trong hoàn cảnh khó khăn. Hay nhân vật ông Giáo - hàng xóm lão Hạc - là tầng lớp tri thức nghèo nhưng lại mang một trái tim đồng cảm vô bờ bến. Chính ông Giáo đã xoa dịu nỗi đau của Lão Hạc, giúp đỡ về mặt tinh thần trong mọi hoàn cảnh. Và chính trong những tác phẩm văn học nước ngoài, cụ Bơ-men (“Chiếc là cuối cùng” - O’Hen ri) đã cứu Giôn-xi từ cõi chết trở về. Đâu chỉ có văn học Việt Nam mà toán thế giới hay nói cách khác, mọi nơi, mọi thời điểm, nơi nào có văn học là có tình thương, thắp sáng trong bóng tối, sưởi ấm trong lạnh giá. Và đó chính là phương châm tồn tại mãi mãi của văn học chân chính.

Văn học không chỉ ca ngợi tình thương sâu đậm trong lòng mỗi người, không chỉ khêu gợi tình cảm thực tại mà còn khích lệ tình cảm tiềm tàng ẩn chưa trong mỗi con người, phê phán những tấm lòng vô cảm rồi chính cái vô cảm đó sẽ phần nào biểu lộ ra thứ tình cảm chân chính:

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy trí nhân để thay cường bạo”
(“Nước Đại Việt Ta” - Nguyễn Trãi)

Bên cạnh những thứ tình cảm khích lệ về mặt tinh thần đó thì tình yêu quê hương, đất nước là thứ tình cảm chân chính thể hiện bằng hành động thực tế. Lòng yêu quê hương, đất nước đã thể hiện sâu sắc qua “Hịch tướng sĩ” (Trần Quốc Tuấn). Ông đã thể hiện tình yêu mãnh liệt của mình đồng thời khích lệ tướng sĩ tấm lòng yêu nước “mà bản thân họ đã có sẵn”. Cũng vậy, “Nước Đại Việt ta” (Nguyễn Trãi) là “bước nhảy vọt thời gian” khẳng định những yếu tố độc lập đề cao sức mạnh dân tộc, đề cao, ca ngợi đi đôi với lên án, phê phán. Đó là những bằng chứng phê phán hành động sai trái nhưng trong “Cô bé bán diêm” (An-đéc-xen) lại phê phán chính trái tim được coi là “nồng ấm: của con người. Nhà văn An-đéc-xen đã lên án gay gắt thái độ sống thờ ơ của những con người trong cùng một xã hội. Phải chăng, sau cái chết của em bé bán diêm, những người dân nơi đây lại có cách nhìn khác về bản thân. Tóm lại, văn chương ra đời không chỉ có vậy àm còn với mục đích “khơi gợi những gì chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa ai có” (Nam Cao), thắp sáng lên tia sáng hi vọng, sưởi ấm trái tim băng giá của những con người chưa biết vẻ đẹp nhân cách tâm hồn tiềm tàng của mình.

Văn học trau dồi tình yêu con người, gợi cho con người cảm xúc. “Cảm xúc con người như viên kim cương” thô thiển nhưng được mài giũa, viên kim cương thô thiển ấy sẽ trở thành dá quý “đắt giá”. Cũng như trái tim con người vậy, hãy tự biết “tan chảy” lớp băng lạng giá kia để trở thành những con người biết đồng cảm, chia sẻ. Như văn hào M.Gorki đã nói: “Xét đến cùng, ý nghĩa thực sự của văn học là nhân đạo hóa con người”. Thật vậy, quả là “loại văn chương đáng thờ”, “đáng trưng bày” cho cả nhân loại chiêm ngưỡng.

Qua những tác phẩm văn học trên, ta mới cỏm nhận được rằng, văn học luôn luôn cả ngợi những tình yêu thương cao cả, làm người gần người hơn. Chúng hòa quện vào nhau tạo nện một bức tranh tươi sáng, giúp con người phát triển theo một định hướng chung để ngày một hoàn thiện như mục đích của văn học: “luôn hướng con người tới chân - thiện - mĩ”. Và đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người yêu người sống để yêu nhau”



0
phiếu
0đáp án
739 lượt xem

Nói đến cây chuối, đã là người Việt Nam thì không ai là không biết. Cây chuối đã tồn tại cùng con người như một người bạn thân thiết.Có thể nói, cây chuối đã trở thành một thứ không thể thiếu trong đời sống người Việt Nam xưa và nay.

Chuối có tới năm bảy loại, nào là hương chuối, chuối ngự, chuối mường, chuối tiêu... Mỗi loại chuối đều có hương vị thơm ngon riêng, tạo ra nét đặc biệt không thể lẫn với những loại khác. Thế nhưng các loại chuối lại mang một vẻ bề ngoài giống nhau. Thân cây tròn, thấp, trơn bóng, và có cây còn to bằng cả cái cột đình. Lá cây xanh non, to, dài và các gân đối xứng nhau. Thế nhưng lá chuối khô lại có màu nâu, giòn là cứng. Bắp chuối có màu đỏ, thuôn dài, còn gọi là hoa chuối. Nõn chuối xanh non, mịn và mỏng. Mỗi cây chuối trưởng thành đều có thể cho ta một buồn chuối. Tùy theo từng loại, có loại cho ta hàng trăm quả một buồng, có cả loại mỗi buồng cho ta hàng nghìn quả. Nhiều cây còn trĩu trịt quả từ ngọn xuống gốc.

ĐỂ có được vai trò quan trọng như hiện nay trong đời sống con người Việt Nam, chuối đã "cống hiến" cho đời sống vật chất không biết bao nhiêu. Thân cây thái nhỏ ra có thể làm thức ăn cho lợn hoặc hươu nhà, trâu bò rất tốt. Còn lá cây thì giúp ta trong các việc như là để gói xôi, gói bành rất tiện lợi và dễ kiếm. Lá chuối khô có thể làm chất đốt, để quấn bánh gai hoặc ở nông thôn ta còn thấy là chuối khô còn có thể quấn làm nút chai rượu. Không chỉ thế, hoa chuối còn dùng để làm rau. Món nộm hoa chuối được rất nhiều người ưa thích, đặc biệt sinh viên vì nó vừa ngon lại vừa rẻ. Thái một ít nõn chuối ra cho vào đĩa rau muống xanh mướt là ta đã cso được một đãi rau vừa ngon vừa đẹp mắt. Quả chuối có lẽ là nhiều công dụng nhất. Các chị, các cô, các bà hay ăn chuối vì chủ yếu chuối thường chứa rất nhiều vitamin rất tốt cho một làn da mịn màng. Và chủ yếu chuối thường dùng để ăn nhiều hơn vì nó rất ngon. Người ta còn dùng chuối thắp hương như một lễ vật dâng cho thần linh để thể hiện lòng tôn kính. Chính vì vậy, chuối là một loại cây khá quan trọng, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế còn nhiều eo hẹp. Ở nông thôn, mỗi khi chuối chín, người ta thường cắt thành từng nải đem đi bán, những nải chuối đó đều rất rẻ nên nhiều người mua. Còn trong đời sống văn hóa của người Việt, cây chuối cũng như bưởi hay hồng, nóc ũng là một trong năm loại quả dâng lên tổ tiên, nhất là các dịp lễ Tết. Trong tâm thức mỗi người, cây chuối là một loại cây tượng trưng cho sự thanh bình của làng quê, nhất là thời thơ ấu.

Cây chuối từ lâu đã chiếm một phần to lớn trong cộc sống của người Vệt Nam. Đối với mỗi người, cây chuối đã trở thành một loại cây vô cùng gần gũi, thân thiết.

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Bài làm

Mỗi một nhà văn đều có cảm hứng sáng tác riêng của mình. Nam Cao cũng vậy, ông là một nhà văn chuyên viết truyện ngắn lấy cảm hứng sáng tác từ những người nông dân trong xã hội cũ, ca ngợi vẻ đẹp nội tâm tiềm tàng của họ. Truyện ngắn Lão Hạc là một tiêu biểu trong số đó. 

Vẻ đẹp của những người nông dân nghèo khổ được nhà văn thể hiện một cách khách qua, sâu sắc và truyền cảm qua bức chân dung của Lão Hạc. Trước hết vẻ đẹp ấy bộc lộ ở lối sống tình nghĩa. Lão rất thương “cậu vàng” - tên thân mật lão đặt cho con chó vàng. Đó là kỉ niệm về đứa con trai. Một trận ốm đã khiến cho cuộc sống của lão càng túng bấn, cơm lão ăn mỗi bữa cũng chẳng đủ no nói gì tới việc nuôi thêm con vàng. Cuối cùng lão phải quyết định bán, mặc dù con vàng đã gắn bó với lão trong những ngày lão cô đơn nhất. Có điều lão đã băn khoăn day dứt nhiều lần. Khi sang nhà ông giáo kể về việc bán chó, lão cố tỏ rõ sự vui vẻ, nhưng lão "cười mà như mếu, đôi mắt ầng ậng nước, mặt lão đột nhiên co rúm lại, những nếp nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra, cái đầu lão nghẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít, lão hu hu khóc". Lão tự trách mình bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó. 

Cách một con người, nhất là người nghèo khổ đối xử với một con vật là sự thể hiện nhân cách rõ ràng nhất, bản chất nhất. Chỉ ai sống bằng tình nghĩa, mới biết gắn bó, tri ân dẫu là với một con vật. Chỉ ai cao thượng mới biết xấu hổ, ân hận trước hành vi mà mình coi là phản trắc trước một con vật.

Vẻ đẹp có sức mạnh nhất trong con người là tình thương yêu, đức hi sinh cao cả. Bao trùm tính cách lão Hạc chính là tấm lòng, đứ tính này. Thương con, lão cố gắng dành dụm tiền cho con cưới vợ, cố giữ lấy mảnh vườn cho con, dù cuộc sống có khó khăn, khổ sở thế nào. Lão cố gắng thu vén sao cho không phiền đến người khác. Lão gửi ông giáo ba mươi đồng bạc phòng khi lão chết có tiền làm ma. Lòng tự trọng đã không cho phép lão nhận sự giúp đỡ giấu giếm của ông giáo. Đó là phẩm chất kiên cường của người nông dân nghèo khổ.

Nhưng đau đớn thay, chính những phẩm chất lớn lao này đã dẫn lão đến với cái chết. Lão Hạc chủ động chọn cái chết, nghĩa là lão đã hành động quyết liệt nhất, xả thân để bảo vệ vẻ đẹp con người, vẻ đẹp làm người.

Trong truyện ngắn Lão Hạc, hình ảnh ông giáo cũng ngời sáng. Ông giáo đại diện tiêu biểu cho tình yêu thương, chia xẻ, sự đồng cảm, niềm tin ở vẻ đẹp con người và cũng chính là một vẻ đẹp. Nhất là trong một xã hội mà vì nghèo khổ quá người ta nghi ngờ nhau, không thể đến được với nhau, không tin vào sự tốt đẹp của nhau.

Vẻ đẹp con người trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao được xây dựng trên cảnh nghèo khó của người nông dân trong xã hội cũ. Nhưng đó là vẻ đẹp của con người Việt Nam, nên dẫu thời "đói nghèo trong rơm rạ, văn chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi" (Chế Lan Viên) này đã qua đi lâu rồi, vẻ đẹp ấy vẫn lung linh ánh sáng và đầy sức lay động. 

0
phiếu
0đáp án
957 lượt xem

Dàn bài:

1.Mở bài:
- Văn xuôi có nhiều thể loại: văn tự sự
- Tự sự: truyện, kí, truyện-kí
- Trung Quốc: truyện được gọi là tiểu thuyết:
+ Trường thiên tiểu thuyết
+ Trung thiên tiểu thuyết
+ Đoản thiên tiểu thuyết
-Việt Nam: truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, truyện mini ( gần đây) 

2.Thân bài:
- Trường thiên tiểu thuyết: 
+ Tam quốc chí: kể về trận đánh giữa Ngụy, Thục, Ngô….
+ Thủy Hử: 108 anh hùng Lương Sơn Bạc
+ Hồng lâu mộng: nhà người họ Giả
+ Chiến tranh và hòa bình: 559 nhân vật…
- Truyện ngắn: Bỉ vỏ…
- Truyện vừa: Những ngày thơ ấu, Tắt đèn….

* Thế nào là truyện ngắn?

-Truyện của một mảnh đời: cốt truyện đơn giản, ít nhân vật, không gian hạn hẹp, thời gain ngắn…phản ảnh cuộc sống, mảnh đời, một sự kiện tầm tầm…

* Nguồn đọc:

- Trang văn mạng
- Sách giáo khoa, tuyển tập truyện ngắn…Sống chết mặc bay, Tôi đi học, Lão Hạc…
* Truyện ngắn Việt Nam hiện nay:
- Đang đổi mới về cấu trúc
- Cách kể, xây dựng nhân vật
- Chất văn, tầm khái quát, tính triết lý, đa nghĩa…còn hạn chế.
- Truyện hay, chưa hấp dẫn….

3. Kết bài:
- Đọc truyện, tóm tắt được cốt truyện
- Nắm tình tiết, diễn biến truyện
- Phân tích được nhân vật
- Đánh giá được chất văn, cấu trúc, chủ đề truyện

0
phiếu
0đáp án
729 lượt xem

Lão Hạc là một truyện ngắn đã đặt ra được khá nhiều vấn đề bức xúc của xã hội Việt Nam ở thời điểm ấy.Truyện là tiếng gào thét dữ dội cầu cứu lấy con người.Nhưng bên cạnh cái vấn đề to lớn nhằm thẳng vào bọn thực dân phong kiến ấy.Nam Cao khi còn muốn gửi gắm những bài học nhân sinh rất nhẹ nhàng mà thấm thía: “Chao ôi…ích kỉ che lấp mất”.
Lời triết lý trên nay là moat đoạn văn nằm ở phần cuối truyện,cũng là nhân vật dùng để bình giá chính người vợ của mình.Nó hàm chứ một cách sống,một triết lý nhân sinh.
Quả thực như vậy!Không biết đã bao giờ chúng ta tự hỏi:ta đang sống ở đâu?Nơi ta sống có những ai?Những câu hỏi tưởng chừng rất dễ trả lời nhưng thực tế thì ngược lại.Với những người ở quanh ta,chẳng làm điều gì ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình ta chắc chẳng mấy khi ta “cố tìm mà hiểu họ”,giống như người vợ tảo tần của ông giáo.Và bởi thế cho nên phải chăng ta chỉ nhìn thấy họ “gàn dở,ngu ngốc,bần tiện,xấu xa,bỉ ổi…”.Đúng!Điều này thường gặp lắm!Có thể ta “không cố tìm”nên chẳng bao giờ ta “hiểu họ”.Những gì ta nhìn thấy và ta đang đánh giá kia hầu hết chỉ là những yếu tố bề ngoài mà những người nghèo khổ thì làm sao có điều kiện mà chăm chút cái bề ngoài.Hoặc giả ta cũng có thể chẳng có thì giờ và công súc để quan tâm tới họ.Và thế là vô tình hay hữu ý họ trở thành những người “tàn nhẫn” trong mắt của chúng ta.Vợ ông giáo là một người như vậy.Chị không ác với ai nhưng chị quá khổ mà người ta khổ quá thì “còn nghĩ gì đến ai được nữa”.Đến nay ta thấy nhân vật “tôi” sâu sắc lắm.Đúng là nếu chưa nghĩ đến mình thì có đâu lại lo cho người khác.Muốn nghĩ cho người khác trong khi mình chẳng hơn họ điều gì hẳn phải “cố” rất nhiều,phải vượt qua không biết bao nhiêu rào cản về vật chất và tình thần.Ông giáo chính là người đã vượt qua những rào cản ấy để mà khóc,mà cảm thông cho lão Hạc trong khi cuộc sống của gia đình mình cũng chẳng hơn gì.

Ông giáo không giống vợ mình,chỉ nhìn lão Hạc bằng một chiều thôi.Ông vượt lên tất cả để mà thong cho lão Hạc,thương cho một kiếp người sống nhục nhằn,tủi cực.Lão Hạc đáng thương và đáng được thương lắm chứ.Lão cũng tốt vô cùng.Chỉ có điều cái tốt đẹp của lão không có mảnh đất để được sống lâu dài.Nó loáng qua nhanh với tất cả những người hàng xóm thờ ơ.Cuộc đời của lão là chuỗi dài những lo lắng,buồn đau và thậm chí đôi lúc là ích kỉ.Tất cả cái đó là át hết đi cái tình yêu thương con rất mực,cái long vị tha,lòng tự trọng….của lão nông dân nghèo khổ ấy.Cái tốt,cái đẹp đã bi những lo lắng lặt vặt hàng ngày che lấp hẳn đi khiến những người sống gần lão nếu không căng ra để hiểu thì sẽ chỉ thấy lão toàn là xấu xa tàn nhẫn mà thôi.Cái triết lý của Nam Cao quả là một bài học nhân sinh sâu sắc.Nó dạy ta cái lẽ sống tốt đẹp ở đời.
Suy nghĩ của người dẫn truyện là một đoạn văn giàu triết lý.Nó được lặp lại trong moat thực tế ở phần cuối truyện.Khi ông giáo nghe Binh Tư kể,ông cứ nghĩ những ý nghĩ tốt đẹp mình về lão Hạc đã lâm và cuộc đời đáng buồn biết mấy.Nhưng ngay sau đó khi đã hiểu ra lão Hạc xin bả chó của Binh Tư về là để chết thì ông giáo mới giật mình.Đó!Nếu ta sống với những người ở quanh ta mà không “cố tìm hiểu họ” thì ta đâu dễ dàng biết được họ cũng chỉ vì những lo lắng buồn rầu mà cái bản tính tốt bị giấu đi.Họ cũng tủi khổ và bất hạnh biết nhường nào.

(Sưu tầm)

0
phiếu
0đáp án
903 lượt xem

      Trong bài thơ Bài thơ đan nón, Nguyễn Khoa Điềm đã có những lời mời thật đáng yêu:
Sao anh không về thăm quê em,
Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên.
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón,
Mười sáu vành mười sáu trăng lên.
Những câu thơ thật đẹp, gợi nhắc đến một nét văn hoá độc đáo của Việt Nam: Chiếc nón lá.
Nón lá có từ rất lâu đời. Hình ảnh tiền thân của chiếc nón được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500 năm đến 3500 năm về trước.

Từ xưa, nghề làm nón đã rất phổ biến ở Việt Nam. Những cái tên như nón Gò Găng, nón Tây Hồ, nón Truồi, nón Phú Cam, nón La Sơn, nón làng Chuông... đã trở nên khá thân thiết trong lòng người Việt Nam.

Chiếc nón lá cũng có nhiều kiểu, nhiều vẻ như: nón quai thao, nón dấu, nón bài thơ, nón cời, nón gõ, nón lá sen...Vật liệu dùng làm nón lấy từ nguồn sản phẩm của núi rừng như tre, trúc, lá nón. Việt Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên, U Minh... là nguồn vô tận về lá nón. Lá cọ, lá kè cũng dùng để làm nón.
Nghề chằm nón không chỉ dành riêng cho phụ nữ mà cả những người đàn ông trong gia đình cũng có thể giúp chuốt vành, lên khung nón. Với cây mác sắc, họ chuốt từng sợi tre cho thật tròn và óng chuốt rồi uốn thành 16 nan vành một cách công phu, sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy. Người phụ nữ thì nức vành và ủi lá. 16 vòng nan tre xếp tròn đường kính từ nhỏ xíu trên đỉnh nón rồi lớn dần theo vành nón. Nói về lá, để có được lá đẹp, người thợ thường phải chọn lá có màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng. Khi xây và lớp lá, người thợ phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có dáng thanh, nhẹ. Sau đó, họ dùng những sợi cước mảnh để may những lá nón lại. Thao tác này đòi hỏi sự công phu, tỉ mỉ thì nón mới không bị thô.
Chiếc nón đem đến cái duyên dáng, dịu dàng cho người phụ nữ. Bởi vậy mà yêu cầu về tính thẩm mĩ của chiếc nón lá ngày một cao hơn. Vành nón chuốt nhỏ hơn, lá non được sấy trắng hơn, những sợi cước trắng được dùng làm chỉ khâu thay cho những sợi móc đen ngày trước. Khi nón chằm hoàn tất, người thợ không quên đính thêm vào chóp nón một cái "xoài" bằng chỉ bóng láng để tạo thêm một nét duyên rồi quét thêm nhiều lớp dầu rái bên ngoài, đem phơi nắng để nón có độ bền đẹp.

Vào những thập niên 60 của thế kỉ trước, ông Bùi Quang Bặc - một nghệ nhân làm nón ở Tây Hồ và cũng là một người yêu thơ phú - đã nghĩa ra cách lồng các câu thơ vào giữa hai lớp lá để tăng thêm giá trị tinh thần và vẻ đẹp của nón. Cũng từ đó tên gọi "Nón bài thơ xứ Huế" ra đời. Trên vành nón mỏng, người thợ tạc những bức tranh như chùa Thiên Mụ, cầu Tràng Tiên, những con đò trên dòng sông Hương Giang cùng với những nét chữ mềm mại, thật thơ...!
Nét đẹp và nét duyên của chiếc nón lá không thể không nói đến sự góp phần của quai nón. Rất nhiều chất liệu, sắc màu, người dùng có thể tuỳ theo lứa tuổi mà chọn lựa. Nón cho các thiếu nữ thì quai lụa thanh tao; nón cho các bà, các mẹ thì bằng vải hoa, vải nhung. Nón mảnh mai, quai êm dịu, cái duyên của người phụ nữ càng thêm đằm thắm.
Chiếc nón đã có mặt và song hành trong đời sống thường nhật của người Việt Nam. Nón là người bạn thuỷ chung của người nông dân chân lấm tay bùn trên ruộng cạn, ruộng sâu. Nón quai thao cùng các cô gái Kinh Bắc góp vui trong các lễ hội: hội Lim, hội chùa Dâu... Các cô thôn nữ làm duyên sau vành nón. Chiếc nón thanh nhẹ còn che chở cho đôi má các cô thêm xinh, thêm giòn. Hình ảnh các cô gái miền sông Hương núi Ngự trong chiếc áo dài thướt tha, dịu dàng, e lệ sau vành nón đã làm bao cậu khoá ngẩn ngơ:
Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không đành.
Nón còn đi vào đời sống văn hoá nghệ thuật. Chiếc nón của thơ ca, nhạc, họa đẹp lên nhiều lần dưới cái nhìn của các nghệ sĩ. Đặc biệt, trong nghệ thuật múa, chiếc nón tạo nên một điểm nhấn rất ấn tượng. Có phải vậy không mà những bạn bè quốc tế cũng rất yêu chiếc nón lá Việt Nam. Khi đến đất nước này, không ai mà không muốn có một chiếc nón lá để làm quà lưu niệm.
Ngày nay, ở các đô thị, không thấy học sinh đội nón đến trường mà chỉ thấy những chiếc mũ đủ màu sắc. Nhưng ở trên những đường làng, trong các chợ quê, chiếc nón trắng vẫn nhiều và thấy ưa nhìn, dễ mến. Các bà, các mẹ, các cô thôn nữ... làm sao rời được chiếc nón quê hương.


0
phiếu
0đáp án
686 lượt xem

      Tắt đèn là một “đoản thiên tiểu thuyết” xuất sắc về đề tài người nông dân trước Cách mạng tháng Tám.Cùng viết về nỗi khổ cực của người nông dân nhưng Ngô Tất Tố lại chọn một lối đi riêng.Oâng muốn lột trần bộ mặt tàn ác của bọn thực dân thông qua chính sách thuế khóa hà khắc ở nông thôn.Tắt đèn sừng sững một tượng đài nông dân-chị Dậu.Đó là một con người quyết chống lại cường quyền gian ác để giữ lấy chính cuộc sống của mình.Đoạn trích Tức nước vỡ bờ chính là một lần chị phải đấu tranh như thế.
    Chị Dậu chạy đôn,chạy đáo bán bòn đủ thức mới đủ suất sưu cho chồn.Vất vả nhưng được tai qua nạn khỏi nghĩ cũng mừng.Vậy mà ngờ dâu suất của chồng vừa mới lo xong lại sinh thêm suất sưu của người chết.Thế là trăm dâu đổ đầu tằm,biết là oan ức mà chẳng thể nào giải được.Lo một suất sưu chị đã “khuynh gia bại sản” nay lại thêm suất nữa,chị Dậu bị đẩy đến đường cùng.Đoạn trích Tức nước vỡ bờ mở đầu bằng vài thở phào của chị.Anh Dậu sau khi bị đánh liên hồi kỳ trận được bọn chúng thả về.May thay bà láng giềng cho nắm gạo,thế là chị Dậu tất tả nấu cho chồng bát cháo mong cứu cho chồng ra khỏi cơn nguy khốn.Nhưng đáng thương thay,bát cháo vừa mới kịp đưa lên miệng thì bọn cai lệ ầm ầm xô tới với roi với thước.Trước sự hách dịch và hung ác,chị Dậu nhất nhất chỉ còn biết kêu oan “Hai ông làm phúc nói với ông lý cho cháu khất”.Nhưng cái câu nói ấy của chị Dậu có nghĩa gì đâu.Cai lệ trừng trợn trút một hai câu tai ngược “Mày định nói cho mày nghe đấy à?Sưu của Nhà nước mà dám mở mồm xin khất”.
      Đúng là “tức nước” sẽ đến “vỡ bờ”.Ở trong một hoàn cảnh khác,chị Dậu hẳn đã phải có vài câu đáp lại cái thói cư xử coi người như rác của bọn cai lệ nhà ông Lý.Nhưng chị Dậu vẫn kiên nhẫn van nài.Chỉ hẳn đã hiểu quá rõ cái thân phận hèn mọn của mình và lại càng hiểu hơn cái thói hung ác của bọn tay sai.Chị vẫn tha thiết “Khốn nạn!Nhà cháu đã không có,dẫu ông chửi mắng cũng thế thôi.Xin ông trông lại”.Rõ ràng là ở đấy,câu nói của chị Dậu đã cứng cỏi hơn,đã có những dấu hiệu “không chịu được”.Lời xin của chị Dậu tỏ vẻ bất cần và không còn ngại ngùng nể sợ hoàn toàn như trước nữa.
      Đến đây kịch tính của tình huống bắt đầu được đẩy lên cao.Cai lệ hầm hề “Nếu không có tiền nộp sưu cho ông bây giờ,thì ông sẽ dở cả nhà mày đi,chửi mắng thôi à?”.Câu nói vẫn đầy hách dịch của những kẻ bề trên quen coi người lao động là con trâu,con ngựa.Vừa nói hắn vừa lao sầm sầm vào anh Dậu.Thế là “chị Dậu xám mặt”,vội vàng chạy đến kêu xin.Chị vẫn năm ông mười ông mong khơi gợi một chút lòng thương hại từ tên cai lệ.Nhưng những lời khẩn khoản của chị ác thay lại được đáp lại bằng những hậu quả đấm chắc nịch từ tay cai lệ.Như lửa đã được đổ thêm dầu,chị Dậu “không thể chịu được”đành “liều cự lại”.Tâm lý chị Dậu rõ ràng đã có những biến đổi nhưng chưa phải là hành động hoàn toàn chủ động.Sự tàn ác của tên cai lệ đã đảy chị vào tình thế phải “liều mình”.
      Song kịch tính của đoạn trích thực sự được đẩy đến cao trào khi cai lệ mạnh tay “tát ngang vào mặt chị Dậu”.Tức nước vỡ bờ,người đàn bà lực điền nghiến hai hàm răng “Mày trói ngay chồng bà đi,bà cho mày xem”.Rồi chị túm cổ tên cai lệ ấn dúi ra phía cửa.Sức của anh chàng nghiện không chịu nổi một cái lẳng của người đàn bà.Đoạn văn là một sự thay thế “ngôi vị”.Từ lời xưng hô hèn mọn “cháu-ông”,chị Dậu bực mình đưa mình lên “bà” và hạ hắn xuống thành “mày”.Còn nữa,từ thế bị động chị Dậu đã không thể chịu được sự đè nén,quyết đứng ra bảo vệ chồng mình.
       Tức nước vỡ bờ miêu rả một quá trình tâm lý.Ngô Tất Tố đã tạo ra một tình huống giàu kịch tính để rồi cứ thế nhân vật chính va chạm với những tính cách khác từ đó bộc lộ phẩm chất của mình.Quá trình diễn biến tâm lý của chị Dậu diễn ra nhanh chóng nhưng tinh tế.Đặc biệt nó rất phù hợp với quy luật phát triển tính cách cũng như hoàn toàn phù hợp với phẩm chất con người nhân vật.Đó là một sự thể hiện có tính toán và rất sắc săor của nhà văn.


0
phiếu
0đáp án
954 lượt xem

        Trong bóng tối mịt mờ chốn lao tù, dường như sự sống đã chấm dứt hẳn, bởi lạnh giá, bởi cô độc. Vậy mà, giữa những âm thanh khô khốc, chói tai của tiếng xiềng xích, vẫn vang lên nhịp tim thổn thức, rạo rực của một hồn thơ trẻ tha thiết yêu đời, yêu người. Tố Hữu, bằng cảm xúc chân thật của mình, đã cất lên tiếng nói tâm tình tha thiết của người chiến sĩ cộng sản suốt đời chiến đấu cho lí tưởng và tâm hồn khát khao tự do đến cháy bỏng trong bài thơ “Khi con tu hú”.
      Nhan đề bài thơ là một sự diễn đạt chưa trọn ý một cách kì lạ. Kì lạ bởi chính chỗ chưa trọn vẹn đó đã mở ra bao nhiêu liên tưởng. Giờ đây, người ta không còn thấy bóng dáng cô đơn, nặng nề của người tù Tố Hữu mà chỉ nghe tiếng lòng nhà thơ đang rộn ràng, ngân vang khi đón nhận lấy tiếng chim tu hú từ xa rộn về. Tu hú gọi bầy là âm thanh hết sức quen thuộc ở chốn làng quê Việt Nam, báo hiệu cho sự chuyển mình của sự sống - mùa hè về. Lúc này, khi con tu hú gọi bầy, trong hoàn cảnh tách biệt với cuộc sống bên ngoài, người chiến sĩ cách mạng càng cảm thấy ngột ngạt hơn, tù túng hơn, vì vậy mà càng thêm khát khao cháy bỏng hướng đến cuộc sống tự do tươi đẹp bên ngoài:

“Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào tầng không.”
        Mười chín tuổi, còn trẻ trung, bồng bột, người thanh niên Tố Hữu đã tìm thấy cho mình lí tưởng cao đẹp cuộc đời. Những bước đi không mỏi mệt trên chặng đường chông gai, phút chốc phải dừng đột ngột, bị bó buộc tù hãm khiến cho Tố Hữu không khỏi có lúc thốt lên chua xót: “Cô đơn thay là cảnh thân tù”. Nhưng rồi phút giây ấy cũng nhanh chóng đi qua, nhường chỗ cho không gian cảnh vật tràn trề nhựa sống: những bông luá chín, hạt bắp vàng, ánh nắng đào, trời xanh rộng, đôi sáo diều, tiếng ve ngân... Phải có một sự tưởng tượng lãng mạn, bay bổng và một tâm hồn mến yêu sự sống sâu sắc mới có thể vẽ lại toàn bộ bức tranh phong cảnh mùa hè sống động đến vậy. Thiên nhiên hiện lên tuyệt đẹp kia không phải là hiện thực, tất cả chỉ là sự tưởng tượng của một tâm hồn mơ mộng khi căng tất cả các giác quan để nghe, để nhìn, để ngửi, để cảm nhận không khí hè qua tiếng gọi bầy của tu hú. Chỉ bằng vài đường nét, màu sắc, âm thanh, nhà thơ đã phơi bày một bức tranh đầy nhựa sống với cánh đồng lúa chiêm quen thuộc của quê hương đã bao lần đi vào thơ Tố Hữu:
“Đây từng ô mạ xanh mơn mởn
(...)
Ôi ruộng đồng quê hương thương nhớ ơi!”
       Giờ đây lại hiện về trong trạng thái căng đầy nhất, viên mãn nhất, lúa ngả vàng, ngả sang màu niềm vui, là màu vàng rực rỡ của mùa hè, của mồ hôi kết tinh thành hạt thóc.
Với một tâm hồn lãng mạn tinh tế, Tố Hữu đã cảm nhận sự thay đối của màu nắng với nhiều góc độ: từ ánh nắng của “đôi ánh lạt ban chiều” (Tâm tư trong tù), ánh nắng yếu ớt dễ bóp nghẹt bởi bóng tối tới một “ánh nắng đào” giữa mùa hè, lấp đi dấu ấn của “vườn râm”. Câu thơ là một không gian thoải mái với sắc hồng kì lạ. Đó là thứ ánh sáng êm dịu, hiền hậu, vỗ về cho con người trước những mất mát, đau khổ trong cuộc đời. Có lẽ từ chính sự gặp gỡ tuyệt diệu của chàng thanh niên trẻ tuổi:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim”
đã khiến cho ánh nắng mùa hè có sự thay đổi tinh tế đến vậy. Và sự xuất hiện của bầu trời trong vắt như mặt nước yên bình nâng tầm bay cho các cánh diều đã đẩy tầm nhìn, tầm nhận thức của nhà thơ lên đến độ sâu nhất, xa nhất, cao nhất:
“Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”
       Thấp thoáng trong ánh nhìn người tù, là một không gian mở rộng đến vô cùng vô tận. Mặc dù có thể lúc ấy ánh nhìn của nhà thơ - chiến sĩ có phần bị che khuất đi bởi chấn song nhà tù chật hẹp. Trên bầu trời lúc này không phải là một mình lẻ loi, con sáo diều cũng có đôi, có cặp, có được sự tự do bay lượn trong vùng trời riêng kia. Huống chi là con người. Vậy mà, thực tế thì sao? Con người cô đơn, cô đơn hơn bao giờ hết, và mất tự do.
       Không ngẫu nhiên mà bài thơ có sự bổ đôi của hai câu thơ lục bát. Nhà thơ diễn tả bức tranh mùa hè sống động đối lập với cảnh mùa đông trong ngục tối đã làm nổi bật lên khát vọng cháy bỏng của người chiến sĩ trên con đường tìm đến tự do. bốn câu thơ kết đã lắng lại cho tiếng lòng náo nức bật lên:
“Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi! 
Ngột làm sao, chết mất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu”
      Khổ thơ là lời bộc lộ trực tiếp cho tâm tư con người. Bốn câu cảm thán là sự dồn nén những cảm xúc mãnh liệt của một trái tim đau khổ, uất hận vì mất tự do. Nhà thơ nghe hè, cảm nhận hè chỉ qua tiếng chim tu hú gọi bầy. Hè đã đến, ba tháng trong ngục tối cũng đã trôi qua, lòng người thanh niên đầy nhiệt huyết càng trỗi dậy mạnh mẽ hơn tiếng gọi lên đường, tiếng gọi của tự do. Từ trong sâu thẳm tâm tư mình, người tù đã nhận ra tất cả cuộc sống náo nức, vui tươi bên ngoài lúc chỉ là tưởng tượng, bởi đó là tất cả những hình ảnh tồn tại trong trí nhớ của nhà thơ. Đó là những cánh đồng, những vườn cây trái, những vườn râm. Còn hiện tại, kẻ thù đang giày xéo quê hương, đã biến bao đồng quê thành hoang mạc và thực chất không gian tự do mà nhà thơ khát khao bên ngoài kia cũng chỉ là một không gian tù hãm, một cái lồng to giam chí lớn, như chụp lên cuộc sống con người, lên quê hương. Cho nên, khổ thơ là sự bừng tỉnh của lí trí, là tâm trạng uất ức, ngột ngạt muốn đạp bỏ tất cả, tìm đến không gian tự do, tự tại thật sự. Bằng cách ngắt nhịp mạnh kết hợp với những từ ngữ mạnh mẽ: “đạp tan”, “chết uất”, câu thơ đã tập trung cao độ tinh thần yêu đời, yêu người cháy bỏng.
       Tiếng kêu tu hú cứ day đi day lại cả bài thơ, như thúc giục, như lời thôi thúc người tù vượt thoát cảnh giam cầm, tìm về với tự do. Có lẽ vì vậy mà ba năm sau, Tố Hữu đã vượt ngục và quay về đội ngũ, để làm tròn ước nguyện cống hiến tất cả cuộc đời cho cách mạng.
      “Khi con tu hú” là một bài thơ kết hợp hài hoà của cảnh và tình. Cảnh mở ra rạo rực, tha thiết, tình lắng đọng da diết, trầm buồn. Với tâm hồn dân tộc, ngòi bút linh hoạt, mềm mại, Tố Hữu xứng đáng với danh hiệu con chim đầu đàn trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam.



12Trang sau 153050mỗi trang
57

bài tập

Chat chit và chém gió
  • theoofman1093: q 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: u 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: v 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: ư 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: y 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: z 5/8/2020 9:25:29 PM
  • theoofman1093: tui bây ngu như pò 5/8/2020 9:25:38 PM
  • theoofman1093: è 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: sg 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: h 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: sdg 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: ggg 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:05 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:48:06 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:07 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:10 PM
  • theoofman1093: dfgfg 5/8/2020 9:48:11 PM
  • vingoc: hi mn 11/13/2020 9:28:11 PM
  • vingoc: em mới vào ạ 11/13/2020 9:28:24 PM
  • vingoc: ở đây có ai lớp 7 ko ạ? 11/13/2020 9:29:13 PM
  • duolingo: 9 3/28/2021 11:19:10 AM
  • huongmaixm01: văn lớp 9 7/2/2021 11:26:56 AM
  • minhmama357: hi 8/13/2021 4:22:39 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • vipof95962: me may beo vai 11/20/2022 11:53:17 AM
  • vipof95962: wanna watch hentai 11/20/2022 11:53:47 AM
  • vipof95962: laughing 11/20/2022 11:53:49 AM
  • vipof95962: sex is good for you 11/20/2022 11:53:56 AM
  • kkkkkkkk: free fire 11/27/2022 3:22:24 PM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely
  • nguyennhung9904
  • duolingo
  • duolingo