A- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN
1. Vị trí đoạn trích
- Đoạn trích gồm 22 câu (từ câu 1033 đến câu 1054), nằm ở phần hai của Truyện Kiều (Gia biến và lưu lạc).
Gặp Tú Bà, biết rõ mình bị mắc lừa đưa vào lầu xanh, Kiều đã tự sát. Tú Bà sợ mất món hàng béo bở, mụ dỗ dành Kiều, đưa nàng ra ở lầu Ngưng Bích nói là chăm lo thuốc thang rồi xẽ timd nơi xứng đáng gả chồng cho nàng, kì thực là giam lỏng nàng, đợi thực hiện mưu ma chước quỷ, buộc nàng phải tiếp khách ở lầu xanh kiếm lời cho mụ.
2. Kết cấu đoạn thơ
- Sáu câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều
- Tám câu tiếp: Nỗi nhớ thương Kim Trọng và cha mẹ
- Tám câu cuối: Tâm trạng đau buồn, lo âu của Kiều qua cách nhìn cảnh vật.
3. Đặc điểm nội dung, nghệ thuật
- Đoạn thơ diễn tả tâm trạng cô đơn, buồn tủi và nỗi niềm thương nhớ của Kiều, qua đó bộc lộ tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của nàng.
- Đoạn thơ thành công về nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật, với ba phương thức:
+ Lời tự sự (lời kể của tác giả
+ Ngôn ngữ độc thoại nội tâm
+ Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
Ngòi bút Nguyễn Du hết sức tinh tế khi tả cảnh cũng như khi tả tình, đặc biệt là ở bút pháp tả cảnh ngụ tình. Ngôn ngữ văn học được sử dụng sáng tạo chọn lọc, trau chuốt.
B - ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN BẢN
1. Hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều
- Thực chất Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích như một thiếu nữ bị cấm cung. Hai chữ "khóa xuân" nói lên điều đó. Quá khứ của nàng là bao nỗi đau đớn, tủi nhục. Hiện tại tha hương và cô đơn. Còn tương lai thì mờ mịt, hiểm nguy, chưa biết sẽ ra sao. Nguyễn Du đã đặt Kiều trong cảnh ngộ ấy để tự bộc lộ tâm trạng của mình. Đó là một tâm trạng cô đơn, trơ trọi giữa một khung cảnh thiên nhiên mênh mông, vắng lặng "bốn bề bát ngát". Từ lầu cao Ngưng Bích, ngước mắt xa trông, nàng chỉ thấy "vẻ non xa" và "tấm trăng gần" ở chung. Nhìn xuống mặt đất thì cảnh vật, bên là cồn cát nhấp nhô như sóng lượn, bên là bụi hồng trải khắp dặm xa. Cảnh thoáng đãng nhưng lầu Ngưng Bích dường như trơ trọi, nơi ấy giam một thân phận trơ trọi, xung quanh không một bóng giáng thân quen, không một tâm hồn bầu bạn. Đây có thể là cảnh thực mà cũng amng tính chất ước lệ, gợi sự mênh mông, rợn ngợp để diễn tả tâm trạng cô đơn.
- Cụm từ "mây sớm đèn khuya" gợi nhớ thời gian tuần hoàn, khép kin. Không gian, thời gian ấy như giam hãm con người, khắc sâu thêm nỗi cô đơn, khiến Kiều càng bẽ bàng, buồn tủi và dồn tới lớp lớp những nỗi niềm chua xót, đau thương, nhớ nhung khiến tấm lòng Kiều như bị chia xé: "Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng".
2. Nỗi nhớ thương Kiều
- Trong cảnh ngộ một mình bơ vơ "Chân trời góc bể", cô đơn tuyệt đối, Kiều càng nhớ tới những người thân yêu. Nỗi nhớ đầu là nhớ chàng Kim:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Đặt nỗi nhớ người yêu lên đầu, Kiều đã không giấu giếm nỗi nhớ thương da diết, mãnh liệt của mình với Kim Trọng. Hơn nữa, điều này phù hợp với quy luật tâm lí và thể hiện sự tinh tế của ngòi bút nhân đạo Nguyễn Du. Kiều đã bị Mã Giám Sinh làm nhục và đang bị ép tiếp khách làng chơi, nên nỗi đau đớn nhất của Kiều lúc này là "tấm son gột rửa bao giờ cho phai". Vì vậy người mà nàng thương và nhớ đầu tiên là Kim Trọng. Nàng nhớ lời hẹn ước hôm nào, "Vầng trăng vằng vặc giữa trời", hai người đã cùng uống chén rượu thề nguyền son sắt một lòng cùng nhau đến trọn đời, vậy mà giờ đây mỗi người một ngả, cách biệt, chia xa. Kiều xót xa, ân hận như một kẻ phụ tình. Nàng tưởng tượng Kim Trọng vẫn không hay biết gì, vẫn đêm ngày hướng về mình, đau đáu chờ tin mà uổng công vô ích. Câu thơ "Tấm son gột rửa bao giờ cho phai"có thể hiểu là tấm lòng son sắt, nỗi nhớ Kim Trọng không bao giờ nguôi quên, hoặc là tấm lòng son của Kiều đã bị vùi dập, hoen ố, biết bao giờ mới gột rửa cho hết được. Hiểu cách nào cũng thấy lòng chung thủy, vị tha của Kiều. Càng nhớ người yêu, Kiều càng thấm thía cảnh bơ vơ, trống trải của mình, càng nuối tiếc những kỉ niệm đẹp đẽ của mối tình đầu thơ ngây, trong sáng, càng ý thức sâu sắc, chẳng bao giờ có thể gột rửa được tấm lòng thủy chung, son sắt với chàng.
- Tiếp đó, Kiều xót xa nhớ thương cha mẹ. Nàng hình dung cha mẹ vẫn sớm hôm tựa cửa ngóng tin tức cảu nàng. Nàng xót thương da diết và day dứt khôn nguôi về nỗi ai sẽ chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ trong những ngày này: "Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ". Thành ngữ "quạt nồng ấp lạnh", điển cố "sân Lai", "gốc tử" đều nói lên tấm lòng hiếu thảo của Kiều. Nàng tưởng tượng ở nơi quê nhà, tất cả đã đổi thay, "gốc tử đã vừa người ôm", cha mẹ ngày một già yếu. Cụm từ "cách mấy nắng mưa" vừa nói được sứ xa cách bao mùa mưa nắng , vừa gợi sự tàn phá của thời gian , của nắng mưa, đối với cảnh vật và con người. Nhớ cha mẹ, Kiều luôn ân hận, day dứt vì mình đã phụ công sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ.
- Hoàn cảnh của Kiều lúc này thật đau buồn, bất hạnh, nhưng trái tim Kiều đầy yêu thương, nhân hậu, vị tha. Nàng là người tình chung thủy, người con hiếu thảo, người có lòng vị tha đáng kính trọng.
- Nỗi nhớ của người thân của Kiều diễn tả qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm nên càng chân thực, cảm động. Qua ngôn ngữ, nỗi nhớ thương như tự lên tiếng.
3. Nỗi buồn của Kiều qua cái nhìn cảnh vật
- Nỗi nhớ thương cồn lên da diết rồi Kiều lại dọn lòng mình trở về với thực tại của mình, cái nhìn của Kiều trải ra khắp cảnh vật xung quanh. Tám câu cuối là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Là thực cảnh mà cũng là tâm cảnh. Mỗi cảnh khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn khác nhau, với những lí do buồn khác nhau, để rồi tình buồn tác động lại cảnh khiến cảnh mỗi lúc một buồn hơn và nỗi buồn nàng càng ghê gớm, mãnh liệt hơn. Tám câu thơ tạo thành một bộ tứ bình cảnh sắc - tâm trạng đặc sắc, mỗi cặp lục bát làm thành một cảnh.
- Cảnh đầu tiên:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Đây là bức tranh chiều hôm nhớ nhà. Cảnh chiều hôm muôn thuở đã gợi buồn nhớ, lại giữa không gian mênh mông nơi cửa biển chỉ có một cánh buồm thấp thoáng xa xa như một ảo ảnh. Cảnh ấy gợi trong lòng người lưu lạc tha hương nỗi cô đơn, nỗi buồn nhớ da diết về cah mẹ, quê nhà xa cách, gợi nỗi nhớ khát khao được gặp người thân. Đại từ "ai" phiếm chỉ mang âm điều sầu thương. Câu thơ là một câu hỏi tu từ ngân lên như một niềm khát khao, hoài vọng, ngóng trông.
- Cảnh thứ hai:
Buồn trông ngọn nước mới xa.
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Cái nhìn của Kiều hướng về không gian gần hơn. Nhìn cánh hoa trôi man mác giữa dòng nước, Kiều lại buồn cho thân phận trôi giạt, bị vùi dập ra sao, lại xót sa cho duyên phận, số phận mình. Hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dụ gợi nỗi nhớ thương da diết. Câu hỏi tu từ ở đây là một nỗi băn khoăn, thắc thỏm, một niềm tự thương, một tiếng than.
- Cảnh thứ ba:
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xang xanh
Đây là cảnh khá ấn tượng, dễ gợi liên tưởng đến cảnh xuân hôm nào trong tiết Thanh minh. Không phải là cỏ non xanh tân chân trời đầy sức sống mà là nội cỏ rầu rầu, héo úa, buồn bã, cùng màu xanh nhàn nhạt trải dài từ mặt đất tới chân mây càng khiến Kiều thêm chán ngán, vô vọng vì cuộc sống vô vị, tẻ nhạt, cô quạnh này không biết kéo dài tới bao giờ. Cảnh mở mịt, tương lai mờ mịt.
- Cảnh cuối:
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Chiều đã muộn, màu sắc như tối lại, cảnh không hiện rõ nữa, âm thanh dội lên mạnh hơn. Một cơn gió cuôn trên mặt duềnh làm cho tiếng sóng bỗng nổi lên "ầm ầm" như bủa vây quanh ghế Kiều ngồi. Tiếng sóng "kêu" như báo trước sóng gió dữ dằn của cuộc đời, hay cũng là tiếng kêu đau đớn của Kiều đồng vọng với thiên nhiên. Kiều không thể buồn mà lo sợ kinh hãi như đang đứng trước sóng gió bão táp của cuộc đời sắp dội xuống đầu nàng. Sóng gió ở đây là những từ ngữ ẩn dụ chỉ những tai ương đang dồn daahp truy đuổi và đã tới rất gần.
- Thiên nhiên hiện lên chân thực, sinh động những cũng rất ảo. Đó là cảnh được nhìn qua tâm trạng theo quy luật: "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu - Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Cảnh được nhìn từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động để diễn tả nỗi buồn man mác, mông lung đến âu lo, kinh sợ, dồn đến bão táp nội tâm, cực điểm cảu cảm xúc trong lòng Kiều. Toàn là hình ảnh về sự vô định, mong manh, vô vọng, sự dạt trôi, bế tắc, sự chao đảo, nghiêng đổ, dữ dội. Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất, vì thế nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời : "Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần".
- Bốn cặp lục bát được liên kết bởi điệp ngữ "Buồn trông". "Buồn trông" nghĩa là buồn mà nhìn xa, mà trông ngóng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm thay đổi hiện tại, nhưng trông mà vô vọng. Nó có cái thảng thốt, lo âu, có cái xa lạ cuốn hút tầm nhìn của người con gái ngây thơ lần đầu lạc giữa cuộc đời trái ngang, có cả dự cảm hãi hùng. Điệp ngữ này kết hợp với các hình ảnh đứng sau nó đã diễn tả nỗi buồn ngày một tăng và với nhiều sắc độ khác nhau. Điệp ngữ kết hợp với các từ láy (thấp thoáng, xa xa, nan mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm) tạo nên điệp nhịp, diễn tả nỗi buồn ngày một tăng, dâng lên lớp lớp như những cơn sóng lòng không sao chịu nổi, một nỗi buồn vô vọng, vô tận. Điệp ngữ "buồn trông tạo âm hưởng tầm buồn, trở thành điệp khúc của đoạn thơ, cũng là điệp khúc của tâm trạng, của khác ca buồn thảm của lòng Kiều.
- Để thể hiên một tâm trạng phức tạp, một nỗi buồn ôm trọn ba nỗi buồn (buồn nhớ người yêu, buồn nhớ cha mẹ, buồn cho chính mình) của Kiều, Nguyễn Du đã chọn cách thể hiện "tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này", tạo nên một đoạn thơ tuyệt bút, khắc hạo hình tượng Thúy Kiều với thế giới nội tâm sâu thẳm và đầy bi kịch trên một chặng đường của số phận nafg, qua đó bộc lộ vẻ đjep tâm hồn đáng quí của Kiều. Đoạn thơ thể hiện cảm hứng nhân văn sâu sắc của tác giả.
C - TÁC PHẨM - TỪ NHIỀU GÓC NHÌN
1. "Buồn bã xót xa và thắc thỏm lo sợ, đó là hai mạch chính của nỗi niềm buồn trông.
Với gam màu lạnh, nhà thơ - họa sĩ Nguyễn Du đã vẽ và treo liên tiếp bốn bức tứ bình liên hoàn tâm trạng (cứ mỗi cặp lục bát là một bức họa): Từ mong đợi đến băn khoăn, day dứt, tiếp tới chán nản, thất vọng và cuối cùng là bàng hoàng ghê sợ.
Đồng thời, dùng giai điệu trầm, nhà thơ - nhã sĩ Nguyễn Du đã tấu lên tiếng tơ lòng nhân vật. Cho đến từng âm tiết cũng rung động nỗi buồn. Kết đoạn thơ, hòa tấu phức điệu sóng biển - sóng lòng, sóng đời không chỉ vang lên tiếng gõ cửa của định mệnh mà rung chuyển tiếng gầm gào cảu hiểm họa muốn hất tung người con gái đơn côi, yếu ớt trên điểm tựa chiếc ghế đời mỏng manh.
(Trần Đồng Minh, Buồn trông . . . trong Tiếng nói tri âm, NXB Trẻ. TP. HCM. 1994)
2. Một bức tranh phong phú và sinh động về ngoại cảnh và tâm cảnh, với bút pháp phác hạo có chọn lọc về cảnh vật thiên nhiên, với ngôn ngữ độc thoại phù hop logic nội tâm, và logic hoàn cảnh, với hệ thống ngôn ngữ dân tộc là chủ yếu, Nguyễn Du đã khắc họa hình tượng Thúy Kiều trong một chặng đường "yên tĩnh trước cơn bão tố". Hoàn cảnh tha hương và cô đơn, tâm trạng đau khổ vì mối tình đầu tan vỡ, đau buồn vì cách biệt với cha mẹ và cuối cùng là dự cảm về một tương lai mờ mịt, hãi hùng, là trực giác về một tai họa sắp ập tới đời nàng.
Một tâm hồn cảm nhận được sự diễm lệ phong phú của thiên nhiên, một mối đồng cảm với số phận và tâm tư con người, đó là những yếu tố nhân văn kết hợp với bút lực tài hoa đã sáng tạo nên một trong những đoạn thơ nổi tiếng nhất trong Truyện Kiều.
(Đặng Thanh Lê, " Buồn trông cửa bể chiều hôm . . ." Trong Giảng văn "Truyện Kiều", NXB Giáo dục, Sđd)