ÔN THI VÀO LỚP 10

0
phiếu
0đáp án
342 lượt xem

0
phiếu
0đáp án
286 lượt xem

Câu 10: Thế nào là từ đơn, từ phức?

1) Từ đơn là từ chỉ có một tiếng.
2) Từ phức là từ gồm hai hoặc nhiều tiếng.
Từ phức có hai loại: Từ ghép và từ láy
a) Từ ghép là một từ phức được tạo ra bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa .
- Từ ghép có hai loại: Từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập.
+ Từ ghép chính phụ có tiếng chính và tiếng phụ bổ sung nghĩa cho tiếng chính. Tiếng chính đứng trước, tiếng phụ đứng sau.
+ Từ ghép đẳng lập có các tiếng bình đẳng về mặt ngữ pháp (không phân ra tiếng chính, tiếng phụ)
- Nghĩa của từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập.
+ Từ ghép chính phụ có tính chất phân nghĩa. Nghĩa của từ ghép chính phụ hẹp hơn nghĩa của tiếng chính.
+ Từ ghép đẳng lập có tính chất hợp nghĩa. Nghĩa của từ ghép đẳng lập khái quát hơn nghĩa của các tiếng tạo nên nó.
b) Từ láy là một loại từ phức, có quan hệ láy âm giữa các tiếng.
- Từ láy có hai loại: Từ láy toàn bộ và từ láy bộ phận.
+ Ở từ láy toàn bộ, các tiếng lặp lại nhau hoàn toàn; nhưng cũng có một số trường hợp tiếng đứng trước biến đổi thanh điệu hoặc phụ âm cuối (để tạo ra một sự hài hòa về âm thanh) 
+ Ở từ láy bộ phận, giữa các tiếng có sự giống nhau về phụ âm đầu hoặc phần vần.
- Nghĩa của từ láy được tạo thành nhờ đặc điểm âm thanh của tiếng và sự hòa phối âm thanh giữa các tiếng. Trong trường hợp từ láy có tiếng có nghĩa làm gốc (tiếng gốc) thì nghĩa của từ láy có thể có những sắc thái riêng so với tiếng gốc như sắc thái biểu cảm, sắc thái giảm nhẹ hoặc nhấn mạnh,…
0
phiếu
0đáp án
674 lượt xem

A. Mở bài.

- Có thể nói trong thực tế cũng như trong văn học nhân loại, hiếm có người phụ nữ nào chịu nhiều bất hạnh như Thúy Kiều trong “ Đoạn trường Tân Thanh của ND”
- Cuộc đời nàng chỉ thoáng qua những tháng ngày êm đềm của tuổi thơ.
- Cuộc đời nàng chỉ thoáng qua những giây phút nồng nàn, tươi đẹp bên người yêu. Còn chuỗi đời còn lại là những chuỗi ngày bất hạnh với những đau đớn ê chề.
- Khởi đầu cho những chuỗi ngày bất hạnh là nàng trở thành món hàng cho bọn “buôn thịt bán người” trong đoạn trích “ Mã Giám sinh mua Kiều”
Đoạn bi thảm trong truyện Kiều của Nguyễn Du.

B. Thân Bài.
1. Vị trí – Tóm tắt đọan trích.

- Từ câu 619 đến 652 gồm 34 câu.
- Mối tình Kim- Kiều đang độ nồng nàn- Trọng đột ngột phải về Liễu Dương hộ tang chú.
- Gia đình Kiều bị vu oan giá hạo.
- Trước cảnh tan nát của gia đình – Kiều can đảm gánh chịu.
- Trao duyên lại cho em- Kiều bán mình chuộc cha và em.

2. Phân tích 2 câu đầu - Đức hi sinh của Kiều
- Mở đàu cho nỗi bất hạnh, t/g cô đọng đức hi sinh của một người con hiếu thảo:
Hạt mưa sá nghĩ phận hèn
Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân

- Hai câu thơ hào hợp lại hình ảnh dân gian “ hạt mưa” – h/ả ẩn dụ – với điển cố bác học “ Tấc cỏ, ba xuân” ( Hạt mưa= ẩn đi : người con gái- nàng Kiều; Tấc cỏ= người con; Ba xuân = công ơn cha mẹ) nói được cái nhỏ nhoi vô định của kiếp đàn bà. Vừa thể hiện được lòng hiếu thảocủa người con quyết hi sinh bản thân, HP, T/y để đền ơn sinh thành của cha mẹ.

3. Bức chân dung của tên lái buôn trơ trẽn.- Trích “ Gần miền ... kíp ra”
a. Giới thiệu: 
- MGS chung lưng với Tú Bà mở hàng (lầu xanh)
- Hắn đi mua hàng( người) về cho Tú Bà bán.
- MGS làm việc dơ bẩn đó lúp dưới chiêu bài đi mua Kiều vè làm vợ lẽ.
Bình: Thúy Kiều cũng hạ mình đến mức ấy thôi - đã quá đủ rồi( làm vợ lẽ cũng là chyện thường tình trong XH xưa)
Chuyển: Kiều không ngờ sau màn vấn danh – bộ mặt tên buôn thịt bán người dần lộ diện lên

b. Màn kịch vấn danh.
- Trong lễ vấn danh MGS x. hiện là một sinh viên trường Quốc tử Giám đến mua Kiều làm lẽ.
+ Giới thiệu: là người viễn khách – khách phương xa
+ Quê “ huyện lâm Thanh cũng gần. Họ tên không rõ ràng.
+ Tuổi ngoại tứ tuần.
+ Diện mạo: mày râu nhãn nhụi , áo quàn bảnh bao chải chuốt,trai lơ.
+Thói quen: Thị của khinh người
+ Cách nói: Hỏi tên, rằng: MGS. Hỏi tên, rằng: huyện Lâm Thanh cũng gần cộc lốc
+ Cử chỉ hành vi: Ghế trên ngồi tót sỗ sàng sỗ sàng, thô lỗ, kệch cỡm.
Tóm lại: - Phơi bày chân tướng MGS – một con buôn vô học
Nhận xét: ND đã giết chết nhân vật MGS bằng từ tót cũng như sau này t/g giết chết Tú Bà bằng từ “ăn gì”, giết Sở Khanh bằng từ “lẻn”
Sơ kết:
- Ngòi bút sắc sảo- thể hiên nhân vật bằng cách vạch trần những mâu thuẫn giữa họ, tuổi tác, vai trò, hành động lời nói thức chất.
thể hịên rõ sự mâu thuẫn trong lời giới thiệu( người có học đi mua tì thiếp) với thực chất( một kẻlái buôn vô học).
- ngôn ngữ miểu tả : dùng từ đắt: nhẵn nhụi, bảnh bao, ngồi tót

c.MGS lột tẩy trong màn mua bán.
- Gặp Kiều: hắn nhìn, hắn ngắm, hắn cân đo, xoay lên đặt xuống coi Kiều như một món hàng ngoài chợ
khi bằng lòng : hắn mặc cả “cò kè” bộc lộ rõ bản chất bỉ ổi, trắng trợn, ti tiện bẩn thỉu
hình thức là một lễ vấn danh nhưng thực chất lại là cuộc mua thịt bán người, trắng trợn bỉ ổi.
Sơ kết: Từ việc mua bán đề cập tới một hiên thực: xã hội đồng tiền và một loại người xuất hiện ở đó đồng tiền có thế lực vạn năng nên việc mua bán con người dễ dàng như mua một món đồ ngoài chợ.
Từ việc mua bán còn có giá trị tố cáo. Nhân vật MGS là sự nhảy nhót của đồng tiền. Có tiền thì dù người đó là ai, dù vô học, bất tài đến mấy cũng có thể ngồi vào vị trí mà người bất hạnh dù lương thiện cũng phải cúi đầu.
Nhưng đồng tiền tự nó biết cách ngụy trang, lèo lá. Nó dùng từ hoa mĩ với tư cách của kẻ đi mua để lấy lòng người bán. Một khi điều đó không phát huy tác dụng nó sẵn sàng bộc lộ bản chất, hiện nguyên hình của một kẻ đầu cơ.
Truyện Kiều nhiều nhân vật phản diện nhưng MGS là một nhân vật khá sắc sảo của ND. Ông đã có ý thức dụng công trong nghệ thuât khắc họa chân dung. ND phối hợp cái riêng của MGS với cái chung( đầy tơ lao sao), xa với gần, ngoại hình với tính cách. Cũng là phường buôn thịt bán người nhưng MGS nổi bật hẳn nên với bản chất kệch kỡm, rẻ tiền, thô bỉ, đúng hạng buôn, hãng buôn người.
 
4: Thúy Kiều với nỗi đau đầu đời.

Nỗi mình thêm tức nỗi nhà
Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng.

Tâm trạng đau khổ ê chề, nỗi đau khổ tột cùng nhưng vẫn không làm suy giảm vẻ trang đài của nàng.

nghệ thuật đối ngữ “ thềm hoa một bước/ lệ hoa mấy hàng” người đẹp buồn cũng đẹp, bước chân đẹp, giọt nước mắt cũng đẹp
- Thềm hoa: bước chân người đẹp ngại ngùng,đau đớn tủi nhục, nặng nề.
- Lệ hoa: giọt lệ người đẹp giọt lệ buồn tủi của sự e thẹn, bẽ bàng
- “Nét buồn như cúc/ điệu gầy như mai” đối lập với hành vi thô bạo, xúc phạm đến thân thể yêu kiều của người đẹp.
Nàng Kiều - 1 món hàng cho bon con buôn lựa chọn đắn đo đó là những hành vi chi thấy ở những chợ buôn nô lệ thơi trung cổ.
Bình: như cơn ác mộng, trong khoảng khắc, một tiêu thư khuê các, xinh đẹp trong trắng đang sống yên vi trong một gia đình lương thiện, một cô gái chớm yêu mối tình đầu đang say đắnm phải đi lấy chồng, mà chồng thì lại là một kẻ buôn bán vô học bị biến thành món hàng cho bọn con buôn mặc cả ngã giá đó là bi kịch thứ nhất. Bi kịch người thiếu nữ
- Bị kịch tình yêu – lòng hiếu thảo
Là một người con hiếu thảo “ Liều đem tấc cỏ quyết đên ba xuân”>< là một người yêu thủy chung “ nguyện ước”trung tình nàng đau đớn giằng xé bên tình bên hiếu quyết giữ trọn chữ hiếu, nàng cảm nhận sâu sắc được nỗi tủi nhục, cảnh ngộ éo le, đau đớn của mình.
Ngại ngùng dín gió e sương
Nhìn hoa bỗng thẹn. trông gương mặt dày
     Kiều thông minh nên nàng cảm nhận sâu sắc được cảnh ngộ của mình, nàng tỏ ra như môt món hàng, mặc cho bọn con buôn “dặt dìu” - nàng câm lặng, vô hồn. Nàng chủ động chịu đựng nõi đau, tự nguyên bán mình mong cứu cha em, gia đình. Qua đó ta thấy đượcđức hi sinh, sự chịu đựng, lòng hiếu thảo của một người con. Thấy được bi kịch đau đớn, ê chề đầu đời của Kiều. Thấy được sự cảm thông, lòng yêu thương sâu sắc của tác giả với số phận nhân vật của mình.

5: Tóm lại
- Nội dung: Rất hiện thực ND hoàn thành bức chân dung của một tên lái buôn ghê tởm, bịp bợm núp dưới những điều mĩ miều “ canh thiếp”, “làm ghi..”, “ nạp thái vu quy” thì tác giả nổi giận nói tạc ra: Đây là cuôc mua bán man rợ “ Tiền lưng ã sẵn việc gì chẳng xong”
=>Rõ ràng cái việc mua bán thịt người, nhan sắc, phẩm hạnh con người có tiền là xong. Đồng tiền đã vấy mùi tanh bẩn lên tất cả những gì thiêng liêng quý giá nhất.
=> Phản ánh hiện thực cuộc sống => tố cáo những hạng người xấu xa dùng tiền làm quyền lực; tố cáo xã hội mà số phận người phụ nữ không được trân trọng, không được bảo vệ.
=> Tình cảm của ND với nhân vật của mình ....
- Nghệ thuật: Miêu tả chân dung nhân vật phản diện bằng bút pháp tả thực được thể hiện qua : Từ ngữ, hình ảnh, hành vi, lời nói, hành động...=> chi tiết đời sống hàng ngày.
Đối lập với việc miêu tả nhân vật chính diện: lý tưởng hoá ( dùng điển tích, điển cố, đối, ước lệ tượng trưng..)

C.Kết luận.
- Đoạn trích là một đoạn bi thương, đau đớn nhất trong Truyện Kiều của ND. ở đó con người bị trà đạp, vùi dập đem ra mua bán với đủ những hình thức bịp bợm
- Ngòi bút của ND phẫn nộ trong từng chữ mỗi khi nhắc đến tên buôn người nọ – và cũng xót xa đau đớn khi phải nói về Kiều, người con gái xinh đẹp, tài hoa mà bát hạnh.
- Đoạn trích như một thông điệp gửi đến muôn đời của N: Mong cuộc đời sẽ không còn những cảnh con người bị đem ra làm vật để mua bán, trao đổi, mong cho kiếp người phụ nữ không còn phải đớn đau, ê chề đầy bi kịch như nàng Kiều. Đoạn trích cũng là tiếng nói của tấm lòng nhân đạo cao cả của ND với cuộc đời, với con người.
Sưu tầm 

0
phiếu
0đáp án
599 lượt xem

Bài làm
        Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình. Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu như “ Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến với bài thớ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.
       Những sáng tác thơ của Nguyễn Duy sâu lắng và thấn đẫm cái hồn của ca dao, dân ca Việt Nam . Thơ ông không cố tìm ra cái mới mà lại khai thác, đi sâu vào cái nghĩa tình muôn đời của người Việt. “Ánh trăng” là một bài thơ như vậy.Trăng đối với nhà thơ có ý nghĩa đặc biệt: đó là vầng trăng tri kỉ, vầng trăng tình nghĩa và vầng trăng thức tỉnh. Nó như một hồi chuông cảng tỉnh cho mỗi con người có lối sống quên đi quá khứ.
Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức thuổi thơ của nhà thơ và trong chiến tranh:
“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”
       Hình ảnh vầng trăng đang được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của thuổi thơ. Hai câu thơ với vỏn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả một cách khái quát về sự vận động cả cuộc sống con người. Mỗi con người sinh ra và lớn lên có nhiều thứ để gắn bó và liên kết. Cánh đồng, sông và bể là nhưng nơi chốn cất giữ bao kỉ niệm của một thời ấâu thơ mà khó có thể quên được. Cũng chính nới đó, ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng. Với cách gieo vần lưng “đồng”, “sông” và điệp từ “ với” đã diễn tả tuổi thơ được đi nhiều, tiếp xúc nhiều và được hưởng hạnh phúc ngắm những cảnh đẹp của bãi bồi thiên nhiên cũa tác giả.Tuổi thơ như thế không phải ai cũng có được ! Khi lớn lên, vầng trăng đã tho tác giả vào chiến trường để “chờ giặc tới’.Trăng luôn sát cách bên người lính, cùng họ trải nghiệm sương gió, vượt qua những đau thương và khốc liệt của bom đạn kẻ thù. Người lính hành quân dưới ánh trăng dát vàng con đường, ngủ dưới ánh trăng, và cũng dưới ánh trăng sáng đù, tâm sự của những người lính lại mở ra để vơi đi bớt nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà. Trăng đã thật sự trởø thành “tri kỉ” của người lính trong nhưng năm tháng máu lửa.
       Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở về những năm tháng đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước hiền hậu, bình dị. Vầng trăng đù, người bạn tri kỉ đó, ngỡ như sẽ không bao giờ quên được:
“Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”
Vần lưng một lần nữa lại xuất hiện: “trần trụi”, “hồn nhiên”, “thiên nhiên” làm cho âm điệu câu thơ thêm liền mạch, dường như nguồn cảm xúc cũa tác giả vẫng đang tràn đầy. Chính cái hình ảnh so sánh ẩn dụ đã tô đâm lên cái chất trần trụi, cái chất hồn nhiên của người lính trong nhữnh năm tháng ở rừng. Cái vầng trăng mộc mạc và giản dị đó là tâm hồn của những người nhà quê, của đồng, của sông. của bể và của những người lính hồn nhiên, chân chất ấy. Thế rồi cái tâm hồn - vầng trăng ấy sẽ phài làm quen với môt hoàn cảnh sống hoàn toàn mới mẻ:
“Từ hồi về thành phố
quen ánh điện, cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường”
       Thời gian trôi qua cuốn theo mọi thứ như một cơn lốc, chỉ có tình cảm là còn ở lại trong tâm hồn mỗi con người như một ánh dương chói loà. Thế nhưng con người không thể kháng cự lại sự thay đổi đó.Người lính năm xưa nay cũng làm quen dần với những thứ xa hoa nơi “ánh điện, cửa gương”. Và rồi trong chính sự xa hoa đó, người lính đã quên đi người bạn tri kỉ của mình, người bạn mà tưởng chừng chẳng thể quên được, “người tri kỉ ấy” đi qua ngõ nhà mình nhưng mình lại xem như không quen không biết. Phép nhân hoá vầng trăng trong câu thơ thật sự có cái gì đó làm rung động lòng người đoc bởi vì vầng trăng ấy chính là một con người. Cũng chính phép nhân hoá đó làm cho người đọc cảm thương cho một “người bạn” bị chính người bạn thân một thời của mình lãng quên. Sự ồn ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật chất thường nhật khác đã lôi kéo con gười ra khỏi những giá trị tinh thần ấy, một phần vô tâm của con người đã lấn át lí trí của người lính, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ. Con người khi được sống đầy đủ về mặt vật chất thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền tảng cơ bản củacuộc sống, đó chình là tình cảm con người. Nhưng rồi một tình huống bất ngờ xảy ra buộc người lính phải đối mặt:
“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn -đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”
       Khi đèn điện tắt, cũng là khi không còn được sống trong cái xa hoa, đầy đủ về vật chất, người lính bỗng phải đối diện với cái thực tại tối tăm. Trong cái “thình lình”, “đột ngột” ấy, người lính vôi bật tung cửa sổ và bất ngờ nhận ra một cái gì đó. Đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là người bạn tri kỉ năm xưa của mình đây hay sao? Con người ấy không hề biết được rằng cái người bạn tri kỉ, tình nghĩa, người bạn đã bị anh ta lãng quên luôn ở ngoài kia để chờ đợi anh ta. “Người bạn ấy” không bao giờ bỏ rơi con người, không bao giờ oán giận hay trách móc con người vì họ đã quên đi mình. Vầng trăng ấy vẫn rất vị tha và khoan dung, nó cũng sẵn sàng đón nhận tấm lòng của một con người biết sám hối, biết vươn lên hoàn thiện mình. Cuộc đời mỗi con người không ai có thể đóan biết trước được. Không ai mãi sống trong một cuộc sống yên bình mà không có khó khăn, thử thách. Cũng như một dòng sông, đời người là một chuỗi dài với những qunh co, uốn khúc . Và chính trong những khúc quanh ấy, những biến cố ấy, con người mới thật sự hiểu được cái gì là quan trọng, cái gì sẽ gắn bó với họ trong suốt hành trình dài và rộng của cuộc đới. Dường như người lính trong bài thơ đã hiểu được điều đó!
“Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng”
     Khi người đối mặt với trăng, có cái gì đókhiến cho người lính áy náydù cho không bị quở trách một lời nào. Hai từ “mặt” trong cùng một dòng thô: mặt trăng và mặt người đang cùng nhau trò chuyện . Người lính cảm thấy có cái gì “rưng rưng” tự trong tận đáy lòng và dường như nước mắt đang muốn trào ra vì xúc động trước lòng vị tha của người bạn “tri kỉ” của mình . Đối mặt với vầng trăng, bỗng người lính cảm thấy như đang xem một thước phim quay chậm về tuổi thơ của mình ngày nào, nới có “sông” và có “bể” .Chính những thước phim quay chậm ấy làm người lính trào dâng nhưng nỗi niềm và ngững giọt nước mắt tuôn ra tự nhiên, không chút gượng ép nào! Những giọt nước mắt ấy đã phần nào làm cho người lính trở nên thanh thản hơn, làm tâm hồn anh trong sáng lại. Một lần nữa những hình tượng trong tuổi thơ và chiến tranh được láy lại làm sáng tỏ những điều mà con người cảm nhận được. Cái tâm hồn ấy, cái vẻ đẹp mộc mạc ấy không bao giờ bị mất đi, nó luôn lặng lẽ sống trong tâm hồn mỗi con người và nó sẽ lên tiếng khi con người bị tổn thương. Đoạn thơ hay ở chất thơ mộc mạc, chân thành, ngôn ngữ bình dị mà thấm thía, những hình ảnh đi vào lòng người.
Vầng trăng trong khổ thớ thứ ba đã thực sự thức tỉnh con người:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kề chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”
       Khổ thơ cuối cùnh mang tính hàm súc độc đáo và đạt tới chiều sâu tư tưởng và triết lí. “Trăng tròn vành vạnh” là vẻ đẹp của trăng vẫn viên mãn, tròn đầy và không hề bị suy suyển dù cho trải qua biết bao thăng trầm. Trăng chỉ im lặng phăng phắc, trăng không nói gì cả, trăng chỉ nhìn, nhưng cái nhìn đó đủ khiến cho con người giật mình. Ánh trăng như một tấm gương để cho con người soi mình qua đó, để con người nhận ra mình để thức tỉnh lương tri. Con người có thể chối bỏ, có thể lãng quên bất cứ điều gì trong tâm hồn anh ta . Nhưng dù gì đi nũa thì những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc cũng luôn vậy bọc và che chởù cho con người.
        “Ánh trăng” đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ như một lời nhắc nhở đối với mỗi người: Nếu ai đã lỡ quên đi, đã lỡ đánh mất những giá trị tinh thần qúy giá thì hãy thức tỉnh và tìmlại những giá trị đó. còn ai chưa biết coi trọng những giá trị ấy thì hãy nâng niu những kí ức quý giá của mình ngay từ bây giờ, đừng để quá muộn. Bài thơ không chỉ hay về mắt nội dung mà cón có những nét đột phá trong nghệ thuật. Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, các chữ đầu dòng thơ không viết hoa thể hiện những cảm xúc liền mạch của nhà thơ. Nhịp thơ biến ảo rất nhanh, giọng điệu tâmtình đã gấy ấn tượng mạnh trong lòng người đọc.
Sưu tầm 

0
phiếu
0đáp án
2K lượt xem

       Trải qua bao năm tháng “Truyền Kiều” của Nguyễn Du vẫn l­u dấu trong tâm khảm bạn đọc không chỉ bởi ngôn ngữ trong sáng ,các biện pháp tu từ điêu luyện mà còn bởi tác phẩm có những câu thơ hay nhất,đẹp nhất,tiêu biểu cho bút pháp tả ng­ười của tác giả: 
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
                                                                     (Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”)
      Bốn câu thơ-28 chữ mà giống như 28 viên ngọc bằng ngôn ngữ toả sáng lấp lánh trong cả trang thơ.Vừa chiêm ngưỡng dáng hình mảnh dẻ thanh tao và tâm hồn trắng trong như tuyết của hai người con gái đầu lòng nhà ông bà Vương viên ngoại, người đọc chợt sững sờ tr­ước bức chân dung giai nhân được hé lộ bằng những đ­ường nét đầu tiên:
Vân xem trang trọng khác vời
       Dòng thơ giới thiệu khái quát đủ để người đọc cảm nhận vẻ đẹp cao sang, quí phái của Thuý Vân,để rồi liền sau đó,như một nhà nhiếp ảnh tài ba,Nguyễn Du hướng ống kính của mình vào từng đường nét cụ thể trên gương mặt của người con gái:
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

      Mỗi câu thơ là một nét vẽ tài hoa về bức chân dung giai nhân, từng đường nét dường như đều là một kì công của tạo hoá,gương mặt tròn đầy,tươi sáng dịu hiền như ánh trăng,đôi mày dài thanh thoát,miệng cười tươi thắm như hoa,tiếng nói trong như ngọc,mái tóc đen,mềm,óng ả hơn mây,làn da trắng mịn màng hơn tuyết…Tả về nàng, Nguyễn Du phải tìm đến hoa,lá,ngọc,vàng,mây,tuyết-những báu vật tinh khôi trong trẻo của đất trời mới lột tả hết vẻ yêu kiều của người con gái ấy.
Vẫn là bút pháp ước lệ với những hình t­ượng quen thuộc nhưng khi tả Vân ngòi bút Nguyễn Du lại có chiều hướng cụ thể hơn lúc tả Kiều.Cụ thể trong thủ pháp liệt kê:khuôn mặt,đôi mày,làn da,mái tóc…Cụ thể trong việc sử dụng từ ngữ để làm nổi bật vẻ đẹp riêng của đối t­ượng:“đoan trang”,“nở nang”,“đầy đặn”.Những biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ,nhân hoá đều nhằm thể hiện vẻ đẹp trung thực, phúc hậu mà quí phái của người thiếu nữ.Điều kì diệu ở đoạn thơ này là Nguyễn Du đã miêu tả chân dung Thuý Vân là chân dung mang tính cách,số phận.Vẻ đẹp của nàng hoà hợp,êm đềm với xung quanh,được thiên nhiên yêu thương,nhường nhịn:“mây thua”;“tuyết nh­ường”nên nàng sẽ có một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ, êm ấm và một tương lai tươi sáng đón chờ.
       Đoạn thơ khép lại sau khi đã hoàn thiện trong tâm khảm bạn đọc hình ảnh một nàng Thuý Vân sắc nước hương trời bằng ngôn ngữ thơ tinh luyện, những nét vẽ có thần,hàm xúc, gợi cảm,các biện pháp tu từ được vận dụng tài tình.Hàm ẩn đằng sau bức chân dung mĩ nhân là cả một tấm lòng quí mến trân trọng,ngợi ca con người mà đặc biệt là người phụ nữ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.
       Đọc đoạn thơ,tìm hiểu kĩ về đoạn thơ, càng kính phục Nguyễn Du em càng trân trọng sự tinh tế trong ngôn ngữ Tiếng Việt.Bất giác em mong muốn được thay vài chữ trong câu thơ lúc sinh thời của đại thi hào dân tộc để diễn tả những suy nghĩ của mình: 
“Nhiều trăm năm lẻ về sau nữa
Thiên hạ mãi còn nhớ Tố Như”
0
phiếu
0đáp án
453 lượt xem

BÀI LÀM

        Tiếng gọi nơi hoang dã (1903) là một trong những tác phẩm nổi tiếng của G. Lân-đân. Truyện là kết qủa của những chuyến đi cùng với cùng với các nhóm tìm vàng lên tận miền bắc Ca-na-đa gần Bắc cực. Tiếng gọi nơi hoang dã kể về số phận con chó Bấc. Bấc là một chú chó nhà khoẻ mạnh tinh khôn. Nó bị bắt cóc đưa lên vùng Bắc cực để kéo xe trượt tuyết cho những người đi tìm vàng. Bấc đã phải qua tay nhiều ông chủ tàn bạo, độc ác. Chỉ có Giôn Thoóc-tơn là ông chủ duy nhất thương yêu nó và cảm hoá được nó. Nhóm tìm vàng của Thoóc-tơn cùng lũ chó tiến sâu mãi vào núi rừng miền Bắc hoang vu, lạnh lẽo. Sống giữa thiên nhiên hoang dại, khắc nghiệt, tiếng gọi của rừng thẳm, của tổ tiên hoang dã cứ thức dậy trong lòng Bấc. Dần dần nó đã trở thành một con chó to lớn hung dữ, ranh ma, chỉ thờ phụng riêng mình Thoóc-tơn. Nhưng rồi Thoóc-tơn và cả nhóm chết thê thảm trong rừng. Không cò gì có thể níu giữ Bấc với con người, nó mãi mãi đi theo tiếng gọi hoang dã của bầy sói rừng và trở thành một con sói thần khủng khiếp. Truyện hấp dẫn người đọc bởi cảnh thiên nhiên miền Bắc hoang dã, khắc nghiệt, dữ dội, đầy bí ẩn, bởi "xã hội" những người đi tìm vận may ở vùng đất bốn mùa tuyết phủ. Một xã hội có cả người mạnh mẽ, tự tin, dũng mãnh và nhân từ như Thoóc-tơn, có cả những kẻ tham lam, ngu xuẩn và độc ác như Han. Nhưng truyện còn đặc biệt hấp dẫn bởi những trang miêu tả đời sống tình cảm loài chó vừa sát thực, vừa sinh động. Do đâu mà tác giả có được những trang miêu tả đời sống "tâm hồn" con chó Bấc như đoạn trích trong sách giáo khoa Ngữ văn 9 ? Chính là do khả năng quan sát tinh tế của nhà văn.
       G. Lân-đân không nhân cách hoá các con chó của ông. Ông chỉ miêu tả chúng một cách chính xác, tinh tế, tỉ mỉ. Những biểu hiện tình cảm của các con chó trong đoạn trích là của chung loài chó, nhưng nhà văn, với tài quan sát của mình vẫn thấy chúng khác nhau. Xơ-kít, Ních, Bấc đều yêu mến, trung thành với Thoóc-tơn, nhưng mỗi con có một biểu hiện riêng. Cô ả Xơ-kít thì thích được chủ vuốt ve, âu yếm. Nó "có thói quen thọc cái mũi của nó vào dưới bàn tay của Thoóc-tơn rồi hích, hích mãi cho đên khi được vỗ về". Còn con Ních biểu lộ tình cảm sôi nổi vụng về hơn "thường chồm lên, tì cái đầu to tướng của cu cậu lên đầu gối Thoóc-tơn. Đặc biệt, mọi hành động, mọi biểu hiện của Bấc được tác giả quan sát và miêu tả vô cùng tỉ mỉ, tinh tường. Dường như Bấc cũng có các cung bậc tình cảm như con người. Khi thì Bấc "bật dậy trên hai chân, miệng cười, mắt long lanh, họng rung lên những âm thanh không thốt nên lời...". Ấy là lúc chú ta sung sướng ngây ngất khi được Thoóc-tơn đùa với nó, mắng yêu nó. Cũng có khi Bấc bộc lộ tình cảm như một đứa trẻ con: "Nó thường hay há miệng ra cắn lấy bàn tay Thooc-tơn rồi ép răng xuống mạnh đến nỗi vết răng hằn vào da thịt một lúc lâu". Ấy là những lúc tình cảm của Bấc dành cho Thoóc-tơn phá bờ tràn ra mãnh liệt. Thật thú vị khi ta đọc những câu miêu tả sự tôn thờ của Bấc đối với Thoóc-tơn. Sự miêu tả ấy đúng hành động của loài chó mà chúng ta thường thấy, nhưng không nhận ra hết ý nghĩa của nó. Chỉ đến khi đọc đoạn trích Con chó Bấc chúng ta mới hiểu được "loài khuyển mã chí tình" này : "Nó thường nằm phục ở chân Thoóc- tơn hàng giờ, mắt háo hức tỉnh táo nhìn lên mặt anh, chăm chú xem xét, hết sức quan tâm theo dõi từng biểu hiện thoáng qua, mọi cử động hoặc thay đổi trên nét mặt.", và "tình cảm của Bấc ngời lên qua ánh mắt toả rạng ra ngoài". Đặc biệt, tác giả đã hết sức nhạy cảm, tinh tế khi nhận xét : "Bấc không muốn rời Thoóc-tơn một bước. Từ lúc anh ra khỏi lều cho đến lúc anh quay trở về" chính là xuất phát từ nỗi sợ hãi bản năng, như là một dự cảm mơ hồ của Bấc về những nỗi hiểm nguy, về cả cái chết có thể ập đến với ông chủ bất cứ lúc nào. 
      Đó là nỗi sợ hãi mất Thoóc-tơn (mà sau này là sự thật thê thảm) : "Việc thay thầy đổi chủ luôn xoành xoạch từ khi nó đến vùng đất phương bắc đã làm nảy sinh trong lòng nó nỗi lo sợ là không người chủ nào có thể gắn bó lâu dài. Nó sợ Thooc-tơn lại cũng biến khỏi cuộc đời nó như Pê-rôn và Phơ-răng-xoa và hai anh chàng người lai Ê-cốt dã đi qua rồi biến mất trước đây. Ngay cả ban đêm, trong các giấc mơ, nó cũng bị nỗi lo sợ này ám ảnh. Những lúc ấy, nó vội vùng dậy không ngủ nữa, trườn qua giá lạnh đến tận mép lều, đứng đấy, lắng nghe tiếng thở đều đều của chủ". 
      Đoạn trích Con chó Bấc thể hiện óc quan sát tinh tế, tài miêu tả loài vật của G. Lân-đơn. Nhưng sức hấp dẫn người đọc của đoạn trích, cũng như của toàn bộ tiểu thuyết Tiếng gọi nơi hoang dã không phải là ở đó mà là con chó Bấc kì lạ làm thức dậy trong lòng ta những tình cảm con người trong sáng vị tha. Ai có lòng thương yêu bao dung loài vật chân thành, người đó ít có khả năng làm điều ác, sẽ sống cao đẹp, lương thiện với con người.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
438 lượt xem

         Truyện ngắn Bến quê ( in trong tập truyện ngắn cùng tên, xuất bản năm 1985) được xây dựng trên một nghịch lí khác, nghịch lí trong đường đời và cuộc đời của Nhĩ, nhân vật chính. Nhĩ là người đã đi đến không sót một xó xỉnh nào trên trái đất nhưng chẳng may mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo buộc phải dán chặt tấm thân trên chiếc phản gỗ và một lần được vợ đỡ ngồi dậy anh chợt nhận ra rằng cái bãi bồi bên kia sông anh chưa đặt chân đến bao giờ. Một nỗi thèm khát kì lạ đã đến với anh: anh muốn chiếm lĩnh cái không gian liền kề này nên đã nhờ Tuấn– đứa con trai học đại học tại một thành phố phía Nam vừa mới nghỉ hè trở về– thay anh đặt bước chân- vật chất thám hiểm bến sông . Anh muốn tận hưởng cái cảm giác “ chậm rãi đặt từng bước chân lên cái mặt đất dấp dính phù sa” ấy. 
      Từ lúc đứa con trai lộp bộp đôi dép sa bô xuống thang gác, anh hồi hộp, gắng gom góp sức tàn để theo dõi con đò mỗi ngày một chuyến đang chống sào tách khỏi chân bãi bồi bên kia để sang bên này và anh cũng kịp nhận ra rằng , thằng Tuấn con anh đã chậm chân vì nách vẫn kè kè cuốn sách dịch và mải sa vào một đám người chơi phá cờ thế trên hè phố. Thời gian được anh tính từng cái tích tắc, thế mà thằng Tuấn có hiểu được anh đâu. Nhưng làm sao hiểu được khi nó chưa đối diện với sự ngắn ngủi nghiệt ngã của thời gian như anh. Anh ‘ nghĩ một cách buồn bã, con người ta trên đường đời thật khó tránh khỏi được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình, vả lại nó đã thấy có gì đáng gọi là hấp dẫn ở bên kia sông đâu? Hoạ chăng chỉ có anh là người từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết vẻ giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, bởi lẽ không bao giờ giải thích hết.”
       Đường đời của nhân vật Nhĩ quả là đã được đo bằng các đơn vị lớn lao bằng vùng , miền , quốc gia , châu lục, đại dương và nhiệm vụ anh phải đảm nhiệm hẳn là rất quan trọng mang tầm quốc gia , dân tộc. Vậy mà giờ đây, anh phát hiện ra cái không gian trước mắt không quá một tầm nhìn từ cửa sổ nhà anh – chứ không hề là cái không gian vũ trụ trong tư thế “đăng cao , vọng viễn” gì cả, anh cũng không phải là người li hương gần suốt cả cuộc đời như Hạ Tri Chương xưa kia tóc đã điểm sương mới về quê cũ – mà lại xa lạ với cái gần gũi đến mức tự trách sao mình chưa đặt chân đến đó bao giờ. Trong tâm lí nhân vật, đây không phải là trạng thái nặng nề của sự cắn rứt lương tâm vì không có một dòng nào trong truyện phủ nhận những gì anh đã trải qua, đã sống và hiến dâng cho sự nghiệp chung. Đây chỉ là một niềm hối tiếc pha chút ân hận: sao trong những năm tháng trải bước khắp mọi phương trời, ta lại không một lần ngoái về để nhìn ra được vẻ đẹp của những gì thân quen , gần gũi nhất, nơi đã sinh ra ta , nuôi ta lớn thành người và sẽ là nơi ta nằm xuống mãi mãi trong lòng đất mẹ. Đó là bước thức nhận của tâm hồn và trí tuệ trên lộ trình dài dặc quanh co của đường đời . 
       Con người ấy , giờ đây muốn nằm , muốn ngồi đều cần sự nâng đỡ của vợ, con và những người hàng xóm đầy cảm thông và tốt bụng. Nhân vật đã thực hiện những phép so sánh đầy nghịch lí : “ Vừa nghe Tuấn nện lộp bộp đôi dép sa bô xuống thang, Nhĩ đã thu hết tàn lực lết dần, lết dần trên chiếc phản gỗ. Nhấc mình ra được bên ngoài phiến nệm nằm, anh tưởng như mình vừa bay được nửa vòng trái đất– trong một chuyến đi công tác ở một nước bên Mĩ La tinh hai năm trước. Anh vẫn chưa nhích đến được bên bậu cửa sổ. Anh phải nhờ bọn trẻ con nhà tầng dưới để đi hết “ nửa vòng trái đất” còn lại– từ mép tấm nệm nằm ra mép tấm phản, khoảng cách ước chừng năm phục phân để dõi nhìn ‘cái mũ cói rộng vành và chiếc sơ mi màu trứng sáo” xem nó có kịp chuyến đò ngang duy nhất trong ngày không?
       Cuộc đời Nhĩ, chưa phải là dài nhưng tuyệt đối không quá ngắn . Bằng chứng là thằng Tuấn – đứa con thứ hai của anh đã vào đại học tròn năm nhưng đến bây giờ là lần đầu tiên Nhĩ mới để ý thấy vợ mình – Liên– đang mặc tấm áo vá. Cảm thức mỗi ngày trôi qua với anh thật dài dằng dặc :

“Hôm nay đã là ngày thứ mấy rồi em nhỉ?”
“Anh cứ yên tâm. Vất vả , tốn kém đến bao nhiêu em với các con cũng chăm lo cho anh được”
Trong cảm thức của anh, thời gian còn lại thật vô cùng ngắn ngủi: “ Không khéo rồi thằng con trai anh lại trễ mất chuyến đò trong ngày”. “ Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát– y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó. Giây phút ấy ở Nhĩ còn khẩn cấp hơn cả tiếng gọi đò trên bến vắng My Lăng tự thuở nào: “ Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách/ Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng” ( bến My Lăng – Yến Lan).
      Quá trình tâm lí tư tưởng ấy diễn biến trong cái không gian nhỏ hẹp của tấm phản, căn phòng, khung cửa sổ. Bến sông quê cạnh nhà gần gũi thế nhưng sao mà xa cách trong tâm thế phát hiện lần đầu với nỗi vô vọng bất lực của nhân vật. Nó là không gian vi mô hiện lên trước cái nhìn cận cảnh trong sự đối sánh đầy chất đối nghịch với không gian vĩ mô tạo bỡi cái nhìn xa vào những chân trời quá khứ:
“– Anh cứ tập tành và uống thuốc cho đều. Sang tháng mười nhất định anh đi lại được
– Vậy thì đầu hoặc giữa tháng mười một, anh sẽ đi Thành phố Hồ Chí Minh một chuyến
– Đi thành phố Hồ Chí Minh thì chắc chẳng được nhưng anh có thể chống gậy đi trong nhà. Hoặc tiến triển tốt hơn, em có thể đỡ anh men cầu thang bước xuống một bậc…hoặc giả anh lại khoẻ hơn, chúng mình có thể bước xuống hai bậc
– Ừ , tưởng gì…nhất định đầu tháng mười anh sẽ đi ra được đến đầu cầu thang”
     Cùng với không gian ấy là sự đối chứng của thời gian thực tại ngắn ngủi– đời thường với thời gian đời người mà Nhĩ đã trải qua. Cái Bến quê được đặt trong tương quan không – thời gian đó. Nó là tất cả những phát hiện ấm áp tình người, tình đời của nhân vật mà cũng là của tác giả trước những gì thân quen nhất , thân yêu nhất, những gì hồn nhiên, gần gũi nhất, những gì là giàu có, đẹp đẽ nhất, thuần phác nhất và cổ sơ nhất của mảnh đất sinh thành ra ta và sẽ nhận ta về khi nhắm mắt xuôi tay.
     Bến quê theo ý nghĩa đó là một nhận thức sáng ngời của nhân vật về đường đời và cuộc đời. Nhưng thật oái oăm chính khi anh thức nhận ra được chân lí ấy thì anh lại không còn khả năng để thực hiện. Đó là sự bất lực của thực tiễn trước khát vọng đẹp đẽ lành mạnh như một yêu cầu tất yếu. Người đọc trân trọng Bến quê, trân trọng những suy ngẫm, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người và cuộc đời, thức tỉnh ở mọi người hãy trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình của quê hương.

Sưu Tầm
0
phiếu
0đáp án
519 lượt xem

Từ "Đồng chí" của Chính Hữu đến "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật

BÀI LÀM
 
     Chính Hữu sinh năm 1926. Năm 1946 nhập ngũ, là lính trung đoàn Thủ đô. Đầu 1948, bài thơ Đồng chí ra đời, khi ông là chính trị viên đại đội. Phạm Tiến Duật sinh năm 1941, năm 1964 gia nhập quân đội, hoạt động trên tuyến đường Trường sơn Bài thơ về tiểu đội xe không kính sáng tác năm 1969.
Hai ông thuộc hai thế hệ thi nhân nối tiếp nhau trong cuộc trường chinh chống ngoại xâm của dân tộc. Hai thi phẩm mà chúng ta đề cập là hai trong những tác phẩm tiêu biểu của mỗi thời kì văn học chống Pháp và chống Mĩ thể hiện hình tượng Anh bộ đội cụ Hồ. Cùng với Cá nước của Tố Hữu, Tây Tiến của Quang Dũng, Năm anh em trên một chiếc xe tăng của Hữu Thỉnh, Bầu trời vuông của Nguyễn Duy ..., người lính trong Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính là những hình ảnh tiêu biểu của thơ Việt Nam 1945 - 1975, sẽ còn sống mãi trong lòng người đọc. 
Đọc Đồng chí, cảm nhận chung của chúng ta là : người lính cách mạng trong kháng chiến chống Pháp xuất thân từ nông dân. Hình ảnh họ được Chính Hữu dựng lên chân thực, giản dị, cao đẹp. Khác khuynh hướng cảm hứng lãng mạn anh hùng với những hình ảnh thơ mang dáng dấp tráng sĩ trượng phu của thơ ca đầu chống Pháp, cảm hứng của Chính Hữu trong Đồng chí hướng về chất thực của đời sống, khai thác cái đẹp và chất thơ trong cái bình dị, bình thường của cuộc chiến đấu và người chiến sĩ. Cái đẹp trong khó khăn, thiếu thốn và nhất là đẹp trong tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu nặng.

Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
.....
Súng bên súng đầu gối bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí ! 

Đoạn mở đầu này có bảy dòng, theo ba cặp và cuối cùng dồn lại ở một từ : Đồng chí ! Một sự lí giải tình đồng chí của người lính. Đó là xuất phát từ sự giống nhau ở cảnh ngộ, xuất thân nghèo khó. Là cùng chung mục đích, lí tưởng, nhiệm vụ, chia sẻ gian lao (Súng bên súng đầu gối bên đầu ; Đêm rét chung chăn ...). Một chữ chung khiến những người vốn xa lạ thành đôi tri kỉ và cao hơn thành Đồng chí. 

Người xưa đánh giá tình bạn cao nhất bằng tình tri kỉ. Chính Hữu nhìn thấy ở Anh bộ đội cụ Hồ một thứ tình cảm còn sâu sắc hơn, gắn bó hơn - Tình đồng chí. Tình cảm này không phải chỉ vì cái chung lớn lao, mà là sự cảm thông sâu xa tâm tư, nỗi lòng của nhau. Là những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời chiến đấu ... Tất cả diễn đạt bằng lời không đủ. Bao nhiêu lời thân thương, trìu mến nhất cũng trở thành sáo rỗng, không chuyên trở nổi sức nặng cảm động giữa những người lính, người đồng đội. Vì thế đoạn thơ thứ hai, có mười dòng vẫn theo từng cặp tương ứng để cuối cùng dồn lại một hành động thay cho muôn lời “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.
Tình Đồng chí giữa những người lính vệ quốc, nói như Hồng Nguyên, người cùng thời :

Lũ chúng tôi 
Bọn người tứ xứ 
Gặp nhau hồi chưa biết chữ 
Quen nhau từ buổi một hai 
Súng bắn chưa quen 
Quân sự mươi bài 
Lòng vẫn cười vui kháng chiến ...

Hay nói như Chính Hữu :

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày ...
Cũng là tình của cha ông thuở mới nổi dậy chống Pháp hồi giữa thế kỉ XIX truyền lại. Tình của những “dân ấp, dân lân”, “Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn làm quen ; Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó” ( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu ). Những con người ấy vốn dĩ không đi vào cuộc chiến cam go, thiếu thốn này bằng óc lãng mạn. Nhưng cuộc chiến đấu trên chiến hào bảo vệ Tổ quốc đã khiến họ thành oai hùng, lãng mạn.

Bức tượng đài cuối bài thơ là sự phát triển tất yếu từ Tình đồng chí.

Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
       Đó là cuộc đời thực của những người lính nông dân nghèo khổ nơi “đất mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”, “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày” được tình cảm cách mạng cao đẹp tạc thành dáng hình mới - Dáng đứng Việt Nam ở thế kỉ XX.
      Nếu Đồng chí là hình ảnh Anh bộ đội cụ Hồ nông dân chưa biết chữ, “Gian nhà không mặc kệ nó lung lay”, thì người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật là một hoá thân khác . Hình ảnh người lính của Phạm Tiến Duật có thể xuất thân từ nông dân, công nhân hay tiểu tư sản... nhưng họ không phải là những người chiến sĩ như của Chính Hữu hay Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng trước đây. Không “áo rách vai, quần vài mảnh vá, chân không giày”, cũng không “người ra đi đầu không ngoảnh lại ; Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” hay “Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm - Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa” hoặc “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới - Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm”.
Họ là những người thanh niên học sinh đã qua hai chục năm dưới mái trường miền Bắc xã hội chủ nghĩa đi chiến đấu, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Một cuộc chiến tiếp nối kháng chiến chống Pháp nhưng dài lâu, ác liệt hơn, phải đương đầu với một đế quốc giàu có bậc nhất thế giới - Đế quốc Mĩ.
Người chiến sĩ trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính mang đặc điểm như đã nói trên nên tuy vẫn cùng bốn phương tụ hội nhưng không có chất tráng sĩ hào hoa xưa, cũng không có chất nông dân thuần phác xa cũ. Hình ảnh chiến sĩ trong bài thơ là hình ảnh hồn nhiên, trong sáng, vô tư của thế hệ thanh niên trí thức mới trong cả đoàn quân “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước - Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu).
       Họ - người chiến sĩ lái xe. “Những chiếc xe từ trong bom rơi ; Đã về đây họp thành tiểu đội”. “Không có kính rồi xe không có đèn ; Không có mui xe ...” vì “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Nên phải chịu bao nhiêu gian khổ : gió tự do, bụi tự do, mưa xối xả tự do hành hạ. Song :

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Những người chiến sĩ này, không phải là những số ít như trong bài thơ Đồng chí. Một hình ảnh đẹp nhưng cho ta cảm giác nhỏ nhoi, đơn lẻ, thương mến bên nhau trong tình đồng chí giữa “anh với tôi” trong cảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. (Quê hương anh ... Làng tôi ; Anh với tôi đôi người xa lạ, Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh ; Áo anh rách vai, Quần tôi có vài mảnh vá ... ).
      Tình đồng đội, đồng chí ở bài thơ của Phạm Tiến Duật có cái tên chung là : ta - chúng ta. Tất cả đều là đồng chí, trẻ, khoẻ, dũng cảm, bất chấp nguy hiểm. Hiên ngang một cách ung dung, đến ngang tàng.
Bởi vì thế hệ cha anh họ thành đồng đội, thành đồng chí nhưng đằng sau là hệ lụy của những lí lịch giai cấp vừa thoát khỏi đêm trường nô lệ. Còn hình ảnh người chiến sĩ chống Mĩ đã cắt đứt vô tư với lí lịch đau buồn kia. Là chủ nhân ông của một đất nước, một dân tộc kiêu hãnh sánh vai với các cường quốc năm châu.
      Anh hùng là hành vi; hào sảng là giọng điệu của những người chiến sĩ - đồng chí, đồng đội trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính.

Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi.

Nhưng :

Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng
- Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa,phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
- Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.
- Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. 
     Họ không cần nhiều tìm hiểu, không cần phải đồng cảnh ngộ, đồng tâm tư, tình cảm riêng như cha anh mới thành đồng chí trên chiến hào. Với họ “từ trong bom rơi” “họp thành tiểu đội”. Và “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời, Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. Rồi có thể chia tay : “Lại đi, lại đi trời xanh thêm”.
Nếu hình ảnh Người chiến sĩ trong Đồng chí là một bức tượng đài :

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Thì hình tượng Người chiến sĩ ở Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một phù điêu tổ hợp của những khuôn mặt trai trẻ hồn nhiên đến ngang tàng trong đoàn quân trảy hội chiến trường.
Đồng chí (Chính Hữu) và Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật) là hai tiêu điểm trong các tiêu điểm của Hình tượng người lính - Anh bộ đội cụ Hồ mà thơ ca dựng nên trong 30 năm chiến đấu gian khổ hi sinh cho đến ngày toàn thắng - 1975. Mỗi một hình ảnh thơ là một điểm sáng thẩm mĩ lấy chất liệu, tiếng nói đời thường làm nguồn cảm hứng và ngôn ngữ nghệ thuật.
       Nếu ví nền thơ Việt Nam đương đại như một bầu trời sao thì mỗi khi nhìn bầu trời ấy, ta không thể không thấy hai vì sao lấp lánh Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính.


Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
520 lượt xem
0
phiếu
0đáp án
366 lượt xem

A- Mở bài:

- Từ thế kỉ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu khủng hoảng, vấn đề số phận cong người trở thành mối quan tâm của văn chương, tiếng nói nhân văn trong các tác phẩm văn chươngngày càng phát triển phong phú và sâu sắc.
- Truyền kì mạn lục cảu Nguyễn Dữ là một trong số đó. Trong 20 thiên truyện của tập truyền kì, “chuyện người con gái Nam Xương” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho cảm hứng nhân văn của Nguyễn Dữ.

B- Thân bài:

1. Tác giả hết lời ca ngợi vẻ đẹp của con người qua vẻ đẹp của Vũ Nương, một phụ nữ bình dân

- Vũ Nương là con nhà nghèo (“thiếp vốn con nhà khó”), đó là cái nhìn người khá đặc biệt của tư tưởng nhân văn Nguyễn Dữ.
- Nàng có đầy đủ vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: thuỳ mị, nết na. Đối với chồng rất mực dịu dàng, đằm thắm thuỷ chung; đối với mẹ chồng rất mực hiếu thảo, hết lòng phụ dưỡng; đói với con rất mực yêu thương.
- Đặc biệt, một biểu hiện rõ nhất về cảm hứng nhân văn, nàng là nhân vật để tác giả thể hiện khát vọng về con người, về hạnh phúc gia đình, tình yêu đôi lứa:
+ Nàng luôn vun vén cho hạnh phúc gia đình.
+ Khi chia tay chồng đi lính, không mong chồng lập công hiển hách để được “ấn phong hầu”, nàng chỉ mong chồng bình yên trở về.
+ Lời thanh minh với chồng khi bị nghi oan cũg thể hiện rõ khát vọng đó: “Thiếp sở dĩ nương tựa và chàng vì có cái thú vui nghi gai nghi thất”
Tóm lại : dưới ánh sáng của tư tưởng nhân vănđã xuất hiện nhiều trong văn chương, Nguyễn Dữ mới có thể xây dựng một nhân vật phụ nữ bình dân mang đầy đủ vẻ đẹp của con người. Nhân văn là đại diện cho tiếng nói nhân văn của tác giả.

2. Nguyễn Dữ trân trọng vẻ đẹp của Vũ Nương bao nhiêu thì càng đau đớn trước bi kịch cuộc đời của nàng bấy nhiêu.

- Đau đớn vì nàng có đầy đủ phẩm chất đáng quý và lòng tha thiết hạnh phúc gia đình, tận tuỵ vun đáp cho hạnh phúc đó lại chẳng được hưởng hạnh phúc cho xứng với sự hi sinh của nàng:
+ Chờ chồng đằng đẵng, chồng về chưa một ngày vui, sóng gió đã nổi lên từ một nguyên cớ rất vu vơ (Người chồng chỉ dựa vào câu nói ngây thơ của đứa trẻ đã khăng khăng kết tội vợ).
+ Nàng hết mực van xin chàng nói rõ mọi nguyên cớ để cởi tháo mọi nghi ngờ; hàng xóm rõ nỗi oan của nàng nên kêu xin giúp, tất cả đều vô ích. Đến cả lời than khóc xót xa tột cùng “Nay đã bình rơi trâm gãy,… sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió,… cái én lìa đàn,…” mà người chồng vẫn không động lòng.
+ Con người ttrong trắng bị xúc phạm nặng nề, bị dập vùi tàn nhẫn, bị đẩy đến cái chết oan khuất
Bi kịch đời nàng là tấn bi kịch cho cái đẹp bị chà đạp nát tan, phũ phàng.

3. Nhưng với tấm lòng yêu thương con người, tác giả không để cho con người trong sáng cao đẹp như nàng đã chết oan khuất.
- Mượn yếu tố kì ảo của thể loại truyền kì, diễn tả Vũ Nương trở về để được rửa sạch nỗi oan giữa thanh thiên bạch nhật, với vè đẹp còn lộng lẫy hơn xưa.
- Nhưng Vũ Nương được tái tạo khác với các nàng tiên siêu thực : nàng vẫn khát vọng hạnh phúc trần thế (ngậm ngùi, tiếc nuối, chua xót khi nói lời vĩnh biệt “thiếp chẳng thể về với nhân gian được nữa”.
- Hạnh phúc vẫn chỉ là ước mơ, hiện thực vẫn quá đau đớn (hạnh phúc gia đình tan vỡ, không gì hàn gắn được).

4. Với niềm xót thương sâu sắc đó, tác giả lên án những thế lkực tàn ác chà đạp lên khát vọng chính đáng của con người.

- XHPK với những hủ tục phi lí (trọng nam khinh nữ, đạo tòng phu,…) gây bao nhiêu bất công. Hiện thân của nó là nhân vật Trương Sinh, người chồng ghen tuông mù quáng, vũ phu.
- Thế lực đồg tiền bạc ác (Trương Sinh con nhà hào phú, một lúc bỏ ra 100 lạng vàng để cưới Vũ Nương). Thời này đạo lí đã suy vi, đồng tiền đã làm đen bạc tình nghĩa con người.
Nguyễn Dữ tái tạo truyện cổ Vợ chàng Trương, cho nó mạng dáng dấp của thời đại ông, XHPKVN thế kỉ XVI.

C- Kết bài:
- “Chuyện người con gái Nam Xương” là một thiên truyền kì giàu tính nhân văn. Truyện tiêu biểu cho sáng tạo của Nguyễn Dữ về số phận đầy tính bi kịch của người phị nữ trong chế độ phong kiến.
- Tác giả thấu hiểu nỗi đau thương của họ và có tài biểu hiện bi kịch đó khá sâu sắc.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
539 lượt xem

I - TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả:
Nhà văn Nguyễn Thành Long (1925-1991), quê ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, viết văn từ thời kì kháng chiến chống Pháp. Ông là cây bút chuyên về truyện ngắn.
"Tập trung nhiệt thành ngợi ca những con người lao động mới, dám nghĩ, dám làm, không sợ khó khăn gian khổ, say mê trong lao động sáng tạo, nhân hậu và tha thiết yêu cuộc sống... Truyện của Nguyễn Thành Long hấp dẫn người đọc bằng văn trong sáng, giàu chất thơ, nhẹ nhàng thoải mái, cốt truyện tưởng như giản đơn mà rất giàu ý nghĩa khái quát. Lặng lẽ Sa Pa là một truyện ngắn tiêu biểu như thế. Truyện viết về một thị xã nhỏ bé của tỉnh Lào Cai luôn chìm đắm trong sương mù: Sa Pa. Đến với nơi ấy là những con người thật đẹp: một anh thanh niên làm công tác khí tượng thuỷ văn trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét, một cô kỹ sư nông nghiệp mới ra trường, một bác lái xe già đã chạy suốt 30 năm trên tuyến đường Sa Pa, một hoạ sĩ đi thực tế chuyến đi cuối của cuộc đời công tác trước lúc nghỉ hưu, bốn gương mặt tiêu biểu, bốn tính cách khác nhau: anh thanh niên đầy nhiệt huyết bộc trực, chân thành, cô kỹ sư trẻ hồn nhiên nhưng kín đáo, tế nhị, ông hoạ sĩ trầm tĩnh, sâu lắng, còn bác lái xe thì sôi nổi, vui tính... Họ tình cờ gặp nhau trên đường tới Sa Pa mà bỗng trở nên gần gũi và thân thiết như trong một gia đình. Tuy tính cách và nghề nghiệp khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một tâm hồn trong sáng, tinh tế, một suy nghĩ lành mạnh, sâu sắc, và nhất là họ có chung một thái độ sống, lao động, làm việc và cống hiến hết mình cho tổ quốc một cách vô tư, hồn nhiên, âm thầm và lặng lẽ. Đó là một truyện ngắn hay và tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Thành Long: nhẹ nhàng kín đáo mà rất sâu sắc và thấm đẫm chất thơ" (Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường, Sđd).

2. Tác phẩm:
- Nhà văn đã cho xuất bản nhiều truyện ngắn, trong đó nổi bật là các tập: Bát cơm Cụ Hồ (1955); Chuyện nhà chuyện xưởng (1962); Những tiếng vỗ cánh (1967); Giữa trong xanh (1972); Nửa đêm về sáng (1978); Lí Sơn mùa tỏi (1980); Sáng mai nào, xế chiều nào (1984); Lặng lẽ Sa Pa (1990),...
Ông đã được Giải thưởng Phạm Văn Đồng với tập truyện ký Bát cơm Cụ Hồ (1953).
- Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa được nhà văn Nguyễn Thành Long viết năm 1970, sau chuyến đi Lào Cai của tác giả. 
Thông qua một tình huống gặp gỡ bất ngờ giữa ông hoạ sĩ già, cô kĩ sư trẻ với anh thanh niên làm công tác ở trạm khí tượng trên đỉnh Yên Sơn thuộc Sa Pa, tác giả khẳng định vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng.
3. Tóm tắt:
Lặng lẽ Sa Pa có một cốt truyện đơn giản. Chỉ là cuộc hội ngộ giữa bốn người: ông hoạ sĩ già, cô kĩ sư¬ mới tốt nghiệp, bác lái xe và anh thanh niên phụ trách trạm khí tượng trên núi Yên Sơn. Tác giả không hề cho biết tên của các nhân vật. Qua cuộc hội ngộ của những con ngư¬ời "không có tên" ấy, hiện ra chân dung con người lao động thầm lặng, trên cái nền lặng lẽ thơ mộng của Sa Pa. Câu chuyện về cuộc hội ngộ chỉ diễn ra trong vòng ba m¬ươi phút, người hoạ sĩ chỉ kịp phác thảo bức chân dung của mình như¬ng chân dung của chàng thanh niên, của những con người đang cống hiến tuổi xuân, ngày đêm lặng lẽ làm việc thì đã hiện ra rõ nét. Chân dung ấy hiện ra trước hết qua sự giới thiệu của bác lái xe vui tính, qua sự quan sát, cảm nhận, suy ngẫm nhà nghề của bác hoạ sĩ, qua sự cảm nhận của cô gái trẻ và qua sự tự hoạ của chàng trai.
II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM
Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long nhẹ nhàng mà sâu sắc, thẫm đẫm chất thơ. Nhẹ nhàng, kín đáo như Sa Pa thành phố trong sư¬ơng, và cũng giàu sức sống với hoa trái ngát hương bốn mùa. Lặng lẽ mà không buồn tẻ, những con ngư¬ời nơi đây đang từng ngày thầm lặng cống hiến sức lực của mình, thầm lặng đem lại hương sắc cho cuộc sống. Đọc truyện ngắn này, chúng ta chúng ta có thể đồng cảm với nhau:
"Sa Pa không chỉ là một sự yên tĩnh. Bên dư¬ới sự yên tĩnh ấy, ngư¬ời ta làm việc!"
Theo lời giới thiệu của bác lái xe, cái con ng¬ười "cô độc nhất thế gian" là một thanh niên hai mươi bảy tuổi, làm công tác khí tư¬ợng kiêm vật lí địa cầu. Trong câu chuyện phác thảo chân dung của bác lái xe, đáng chú ý là chuyện "thèm ngư¬ời" của anh chàng "cô độc nhất thế gian" kia. Không phải anh ta "sợ người" mà lên làm việc ở đây, trái lại, anh ta từng chặt cây ngáng đư¬ờng ngăn xe dừng lại để được gặp người "nhìn trông và nói chuyện một lát". 

Qua cái nhìn của ngư¬ời hoạ sĩ, anh thanh niên hiện ra với "tầm vóc nhỏ bé, nét mặt rạng rỡ". Anh ta sống trong "Một căn nhà ba gian, sạch sẽ, với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm. Cuộc đời riêng của anh thanh niên thu gọn lại một góc trái gian với chiếc giư¬ờng con, một chiếc bàn học, một giá sách.". Một cuộc sống giản dị, ngăn nắp của một ng¬ười yêu đời, say mê công việc và không có vẻ gì của sự buồn chán.
Trong sự cảm nhận của cô kĩ sư¬ mới ra trư¬ờng, cuộc sống của người thanh niên là "cuộc sống một mình dũng cảm tuyệt đẹp", anh mang lại cho cô "bó hoa của những háo hức và mơ mộng ngẫu nhiên".
Nếu như¬ người hoạ sĩ lão thành mới chỉ ghi đư¬ợc "lần đầu gư¬ơng mặt của ngư¬ời thanh niên" thì chính những lời tâm sự của một kẻ "thèm ngư¬ời" khi được gặp người đã là một bức chân dung tự hoạ khá hoàn chỉnh. Chân dung là gì nếu không phải là những nét vẽ tinh thần, những nét gợi tả phẩm chất? Những nét tự hoạ của anh thanh niên về cả những con ngư¬ời đang làm việc như¬ anh khiến người hoạ sĩ già, dù đã trải nhiều chuyện đời phải suy ngẫm rất nhiều:
"Ngư¬ời con trai ấy đáng yêu thật, như¬ng làm cho ông nhọc quá. Với những điều làm cho ngư¬ời ta suy nghĩ về anh. Và về những điều anh suy nghĩ trong cái vắng vẻ vòi vọi hai nghìn sáu trăm mét trên mặt biển, cuồn cuộn tuôn ra khi gặp ngư¬ời."
Vậy những điều gì ở chàng thanh niên đã làm cho ngư¬ời hoạ sĩ già suy nghĩ và thậm chí làm thay đổi cả cái quan niệm về mảnh đất Sa Pa vốn có trong ông? 
Nỗi "thèm ngư¬ời" ở anh thanh niên không phải nỗi nhớ cuộc sống đông đúc, tiện nghi, an nhàn, như anh nói: "Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô thị thì xoàng". Người thanh niên hiểu rất rõ công việc của mình, chấp nhận sống trong hoàn cảnh buồn tẻ, cô độc để làm công việc "đo gió, đo mư¬a, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trư¬ớc thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu". Như¬ng con ng¬ười ấy không hề thấy buồn tẻ, cô độc. Cái sự "thèm người" của chàng thanh niên là lẽ bình th¬ờng của con ng¬ười, nhất lại là tuổi trẻ. Anh sống với triết lí: "khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình đư¬ợc?". Đư¬ợc làm việc có ích đối với anh thế là niềm vui. Hơn nữa công việc của anh gắn liền với công việc của bao anh em đồng chí khác ở những điểm cao hơn hoặc thấp hơn. Ngư¬ời hoạ sĩ đã thấy bối rối khi bất ngờ đư¬ợc chiêm ng¬ưỡng một chân dung đẹp đẽ đến thế: "bắt gặp một con ng¬ười nh¬ư anh là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nh¬ng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài". Và chắc chắn ông sẽ còn bối rối khi muốn dựng lên chân dung của Sa Pa. Bởi vì, trong sự tự hoạ của chàng trai còn hiện ra những chân dung khác nữa, cũng quên mình, say mê với công việc nh¬ư anh kĩ s¬ư ở vườn rau d¬ưới Sa Pa "Ngày này sang ngày khác... ngồi im trong vư¬ờn su hào, rình xem cách ong lấy phấn, thụ phấn cho hoa su hào...", nhà nghiên cứu sét mười một năm không rời xa cơ quan một ngày vì sợ có sét lại vắng mặt. Cái lặng lẽ của cảnh sắc Sa Pa thì cây cọ trên tay ngư¬ời hoạ sĩ có thể lột tả không mấy khó khăn, như¬ng cái không lặng lẽ của Sa Pa như¬ ông đã thấy qua những con ngư¬ời kia thì vẽ thế nào đây? Ngư¬ời hoạ sĩ nhận thấy rất rõ "sự bất lực của nghệ thuật, của hội hoạ trong cuộc hành trình vĩ đại là cuộc đời".
Người đọc có thể dễ dàng nhận thấy trong Lặng lẽ Sa Pa, có hai nhân vật hầu như¬ chỉ lặng lẽ nghe và suy ngẫm. Đó là ngư¬ời hoạ sĩ và cô kĩ sư¬ trẻ. Trước chàng trai trẻ trung yêu đời, hiểu và yêu công việc thầm lặng của mình, ngư¬ời hoạ sĩ nhận ra rằng Sa Pa, cái tên mà chỉ nghe đến "người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi", có những con ngư¬ời làm việc và lo nghĩ cho đất nư¬ớc. Thoạt đầu, đáp lại lời bác lái xe, ngư¬ời hoạ sĩ nói: "Thích chứ, thích lắm. Thế nào tôi cũng về ở hẳn đấy. Tôi đã định thế. Như¬ng bây giờ chư¬a phải lúc". Sau khi gặp, đư¬ợc nghe chàng thanh niên nói, được chứng kiến và hiểu cuộc sống của những con người đang làm việc thực sự, cống hiến thực sự, quan niệm của ngư¬ời hoạ sĩ đã thay đổi. Lúc chia tay, ngư¬ời hoạ sĩ già còn chụp lấy tay ngư¬ời thanh niên lắc mạnh và nói: "Chắc chắn rồi tôi sẽ trở lại. Tôi ở với anh mấy hôm đư¬ợc chứ?" Đây không chỉ là sự thay đổi trong cái nhìn về Sa Pa mà còn là sự thay đổi trong quan niệm của một nghệ sĩ về cuộc sống, về cái đẹp. Còn cô gái? Khi từ biệt, "Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng, như ngư¬ời ta trao cho nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay". Cô đã hiểu đư¬ợc nhiều điều từ cuộc sống, công việc của chàng trai. Có lẽ trong cái bắt tay ấy là niềm tin, là ý nghĩa đích thực của lao động, là cả sự thầm lặng cống hiến cho đời,... Những điều đó sẽ giúp cô vững vàng hơn trong những bước đầu tiên vào đời.
Nguyễn Thành Long đã cho ngư¬ời đọc thấy cái không lặng lẽ của Sa Pa. Với những nét vẽ mộc mạc, bức chân dung về mảnh đất trên cao ấy có sức ấm toả ra từ những bàn tay, khối óc đang từng ngày bền bỉ, thầm lặng cống hiến.

(sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
559 lượt xem

1. Trong ý đồ thiết kế và thực hiện chương trình dạy học Ngữ văn ở cấp THCS, thể loại là một tiêu chí quan trọng. Một trong những yêu cầu quan trọng của chương trình Ngữ văn THCS là hình thành ở HS những hiểu biết về các kiểu văn bản và nắm được các phương thức biểu đạt chủ yếu (tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận). Hầu hết các văn bản được lựa chọn để học là các tác phẩm văn học (hoặc đoạn trích tác phẩm), vì thế mỗi kiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn lại thuộc về một thể loại văn học nhất định(...) Những hiểu biết về thể loại có một ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với việc tiếp nhận, phân tích các tác phẩm có trong chương trình, mà còn cần thiết cho HS để đọc hiểu được các tác phẩm khác ngoài chương trình [4 tr186]. Như thế là bởi vì: Thể loại văn học là sự thống nhất giữa một loại nội dung và một dạng hình thức văn bản và phương thức chiếm lĩnh đời sống, là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm [5 tr300,301). Đọc hiểu văn bản phải đi từ dạng hình thức văn bản để cảm thụ phương thức chiếm lĩnh đời sống, rồi từ đó hiểu được nội dung, ý nghĩa, các khía cạnh tư tưởng nghệ thuật mà tác giả thể hiện qua văn bản; phải đi từ việc nắm bắt và sử dụng những thông tin có ngay trong văn bản (có ý kiến cho rằng đây là hoạt động đọc hiểu cấu trúc văn bản) đến những thông tin có trong bài (đọc hiểu nội dung văn bản), rồi cao hơn là khái quát liên hệ giữa những cái mà học sinh đã đọc với thế giới bên ngoài (đọc hiểu ý nghĩa văn bản). Có thể đồng tình với quan niệm cho rằng: tính chất của hoạt động đọc hiểu văn bản sẽ được quy định theo nguyên tắc đọc hiểu văn bản phù hợp với đặc điểm thể loại của văn bản [1 tr26]. Bài viết này góp phần thảo luận về phương hướng, phương pháp dạy đọc hiểu trích đoạn văn bản truyện ngắn Bến quê của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong chương trình Ngữ văn lớp 9 (kỳ 2). Việc làm này vừa là một thể nghiệm cụ thể vừa góp phần cung cấp những kinh nghiệm, phương pháp, kỹ năng có thể tích hợp thực hiện hiệu quả hơn ý đồ của chương trình Ngữ văn THCS nói chung.
2. Trước khi vận dụng kiến thức về đặc điểm loại thể để tìm hiểu văn bản tác phẩm, cần chú ý kiến thức về các thể loại văn học, đối với HS (THCS) không phải ở dạng lý thuyết mà gắn liền với các văn bản cụ thể [3 tr186], nghĩa là khi bước vào hoạt động đọc hiểu, HS chỉ có những kiến thức còn chưa thật khái quát, minh định về đặc điểm thể loại văn bản. Vả chăng, trong thực tế văn học, nhất là ở văn học hiện đại, mỗi tác phẩm thường không sử dụng duy nhất một phương thức biểu đạt mà phối hợp nhiều phương thức. Chẳng hạn trong tác phẩm truyện luôn có cả tự sự, miêu tả, biểu cảm và đôi khi cả nghị luận. Tuy nhiên, ở mỗi tác phẩm, vẫn nổi lên một hay vài phương thức biểu đạt chủ yếu, làm căn cứ để xác định và gọi tên thể loại của tác phẩm ấy [4 tr187]

Giáo viên không thể chỉ xuất phát từ những tri thức của bản thân mình - ở trình độ giáo viên - về đặc điểm thể loại tác phẩm, mà phải căn cứ vào tri thức và kinh nghiệm của HS, căn cứ vào tài liệu giáo khoa và các phương tiện dạy học bổ trợ khác liên quan đến văn bản mà HS có được để tiến hành dạy học văn bản. 
Cần căn cứ vào SGK, từng bước xác định thể loại của văn bản, gợi nhớ những đặc điểm thể loại này đã có trong kinh nghiệm kiến thức của học sinh, xác định sự thể hiện các đặc điểm thể loại của văn bản, từ đó hướng dẫn HS tiến hành các bước đọc hiểu cho phù hợp với điều kiện và mục tiêu dạy học văn bản.
Theo SGK cung cấp, ta có thể xác định trích đoạn văn bản Bến quê thuộc thể loại truyện hiện đại. Cách xác định này được gợi ý ngay ở phần kết quả cần đạt của bài 27: “Cảm nhận được ý nghĩa của triết lý về cuộc đời con người mà tác giả gửi gắm trong truyện Bến quê. Thấy và phân tích được những đặc sắc nghệ thuật của truyện” [3 tr100; chúng tôi nhấn mạnh các từ gạch chân]. Đó dù sao cũng chỉ là một gợi ý. HS đọc văn bản có thể căn cứ vào đặc điểm của hiện tượng đời sống được miêu tả trong tác phẩm, phương thức chiếm lĩnh thực tại của tác giả, cách thức tổ chức tác phẩm và lời văn - tức là căn cứ vào những tiêu chí để phân chia, nhận dạng thể loại tác phẩm - để xác định Bến quê là văn bản truyện (nhận thức và thể hiện đời sống qua kể lại chuỗi các biến cố, sự kiện, hành động liên quan đến các nhân vật; lời văn xuôi bao gồm các yếu tố thuật kể). Tính chất hiện đại của văn bản truyện Bến quê có thể được nhận biết qua lời chú thích về tác giả tác phẩm [3 tr106,107]. Từ những nhận biết ban đầu này, có thể gợi HS nhớ lại các kiến thức sâu hơn, cụ thể hơn về đặc điểm thể loại biểu hiện thực tế trên văn bản. Trong thực tế văn học, nhất là ở văn học hiện đại, mỗi tác phẩm thường không sử dụng duy nhất một phương thức biểu đạt mà phối hợp nhiều phương thức. Chẳng hạn trong tác phẩm truyện chú ý tới điểm [4 tr187] nêu trên; “Các thể truyện (truyện ngắn, tiểu thuyết) tuy có sự tiếp nối các thể tương tự trong văn học trung đại, nhưng đã có sự đổi mới sâu sắc về mọi phương diện. Đề tài được mở rộng, hướng đến mọi mặt của đời sống xã hội và con người, không bị gò bó vào mục đích giáo huấn đạo lý. Nghệ thuật tự sự và miêu tả có những đổi mới rất cơ bản, từ sự đa dạng và có thể thay đổi điểm nhìn, vai kể, đến vai trò của người kể chuyện, từ việc sử dụng nhiều thủ pháp miêu tả đến sự đổi mới về ngôn ngữ, câu văn. Nhân vật trong truyện hiện đại được nhìn nhận và miêu tả trong tính cách cá thể, nghĩa là mang đặc điểm, tính cách, tâm trạng và số phận của từng cá nhân, cố nhiên vẫn phải có tính tiêu biểu, nhưng không bị quy vào một cách giản đơn chỉ những kiểu, loại như nhân vật trong truyện dân gian hay phần lớn truyện trung đại” [3 tr199]. Đó sẽ là những tiền đề hiểu biết về đặc điểm thể loại được sử dụng làm cơ sở để tiến hành đọc hiểu văn bản thuận lợi và hiệu quả hơn. Liên hệ đến truyện hiện đại Bến quê, cũng từ những gợi ý trong SGK, có thể thấy trong văn bản truyện ngắn này có cả “tình huống nghịch lý” [3 tr100], nhân vật Nhĩ “trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình, ở cảnh ngộ bị buộc chặt vào giường bệnh” [3 tr107], có cả những đoạn miêu tả (người, cảnh vật: dòng sông, con thuyền, bãi bồi), biểu cảm (dòng nội tâm nhân vật - tr100; niềm khao khát - của nhân vật [3 tr107], những suy ngẫm, trải nghiệm của nhà văn về cuộc đời và con người [3 tr108]; cả những bàn luận triết lý (qua ngôn ngữ và giọng điệu giàu chất suy tư, hình ảnh biểu tượng - [3 tr100]). Đề tài của Bến quê không chủ yếu hướng ra các hiện tượng của đời sống bên ngoài cuộc đời, mà quan tâm miêu tả thể hiện dòng nội tâm của nhân vật [3 tr100] - thế giới tâm hồn, thế giới tinh thần bên trong bề sâu con người, giúp người đọc quan sát, cảm nhận, từ đó mà suy ngẫm về cuộc đời con người, “thức tỉnh ở mọi người sự trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình, của quê hương” [3 tr108]. Nhân vật của Bến quê “được nhìn nhận và miêu tả trong tính cách cá thể, nghĩa là mang đặc điểm, tính cách, tâm trạng và số phận của từng cá nhân, cố nhiên vẫn phải có tính tiêu biểu” - Nhĩ vừa là một người đang trong cơn thập tử nhất sinh, một người chồng, một ông bố, một người bình thường trong khu phố bờ sông, vừa là hình tượng tiêu biểu cho những nghịch lý của loại người từng trải, “đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ”, “đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất”, nhưng lại “chưa hề bao giờ đi đến cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình” [3 tr101]. Và những kiến thức chung nhất về nhân vật trong truyện hiện đại có thể gợi ý HS cảm thụ và nhận xét về các nhân vật khác trong tác phẩm. Có thể với HS, những khái niệm điểm nhìn, vai kể không dễ hiểu và vận dụng, nhưng SGK cũng có gợi ý “Nhĩ đã nhìn thấy những gì qua khung cửa sổ” [3 tr107]; và nếu HS đọc kỹ văn bản, sẽ thấy điểm nhìn, vai kể (qua đó hình tượng của tác phẩm được miêu tả, kể lại, hiện lên) được chuyển đổi khá linh hoạt: từ nhân vật Nhĩ (là chủ yếu), rồi vợ anh - Liên; người kể chuyện; ông cụ giáo Khuyến, và nghệ thuật trần thuật như vậy làm cho hình tượng cuộc sống, con người trong văn bản trở nên sinh động gần gũi, trở nên “thật” hơn, gây ấn tượng hơn, thuyết phục hơn...
3. Sau khi đã có những định hướng - cảm nhận về thể loại văn bản tác phẩm, có thể từ những kiến thức chung về thể loại, từ các cấp độ ngôn từ của văn bản tái hiện cấu trúc tự sự, đi sâu cảm thụ, phân tích những giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản, chuẩn bị cơ sở cho bài dạy học đọc hiểu văn bản trên lớp.
Việc cảm nhận ranh giới và ý nghĩa của từng yếu tố và cấp độ yếu tố chỉnh thể văn bản, chỉnh thể thế giới nghệ thuật trích đoạn đòi hỏi người tiếp nhận phải đọc kỹ tác phẩm. Theo đặc điểm thể loại truyện, cần nắm vững, từ đó lý giải ý nghĩa và giá trị tư tưởng, nghệ thuật các sự việc, các chi tiết về cuộc sống, con người mà tác giả đã hư cấu và trình bày trong văn bản.
Mở đầu đoạn trích văn bản là cái nhìn và suy nghĩ của Nhĩ về cảnh vật xung quanh. Nhĩ đang trong hoàn cảnh ốm nặng, đang như một đứa trẻ, được vợ bón từng thìa thức ăn, rồi để cho con trai cầm chiếc khăn bông tẩm nước ấm khẽ lau miệng, cằm và hai bên má cho mình. Anh quan sát và suy nghĩ về những bông hoa bằng lăng cuối mùa còn sót lại trên cành; cảm nhận những thay đổi của thời tiết (không khí và ánh sáng nóng nắng của mùa hè đã dịu đi, không hầm hập và loa loá chói như trước); về mặt sông và màu nước sông Hồng, “về những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông, và cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông Hồng lúc này đang phô ra (...) một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non - những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ”. Cảnh vật hiện qua cái nhìn chính là cách để tác giả thể hiện dòng suy nghĩ của nhân vật - có cả những cảm nhận, cả những trăn trở, tự đối thoại, cả cụ thể và khái quát vừa gợi lên hình tượng Bến quê, vừa dẫn đến những dòng tự ý thức của nhân vật Nhĩ về nghịch lý đáng tiếc của đời mình, về trạng thái sức khoẻ bi đát của mình... (“Ngoài cửa sổ ... tím thẫm như bóng tối”). 
Những lời tiếp theo của người trần thuật kể về cuộc đối thoại của vợ chồng Nhĩ, vừa tiếp tục thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ bi đát của Nhĩ (hình ảnh bờ đất lở dốc đứng của bờ bên này “đêm đêm cùng với con lũ nguồn đã bắt đầu dồn về, những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ”, câu hỏi về thời gian - gợi biểu tượng về sự lo lắng...), những nhận biết ân hận của Nhĩ về người vợ suốt đời tần tảo, những tếu táo đùa cợt để an ủi vợ...; vừa khắc họa hình ảnh Liên - người phụ nữ nhạy cảm, nhân hậu, hết lòng chăm sóc, động viên chồng (“Chờ khi đứa con trai... bậc gỗ mòn lõm”).

Rồi tới chuyện người cha sắp từ giã cõi đời khẩn khoản nhờ con trai thực hiện điều ham muốn cuối cùng của mình, như là cố gắng mà Nhĩ có thể còn làm được để sửa chữa những khiếm khuyết mà anh vừa tự nhận ra: nhờ người con trai ngày càng có nhiều nét giống bố thay anh qua đò, đặt chân lên bờ bên kia; anh con trai miễn cưỡng thực hiện (“Chờ Liên xuống tầng dưới rồi ... giắt vào người mấy đồng bạc”).
Nửa cuối của văn bản tác phẩm là những cảm nhận, suy nghĩ của Nhĩ khi anh cố lết ra phía cửa sổ để nhìn xem đứa con trai thực hiện điều anh mong mỏi thế nào (Thằng bé vẫn cắp cuốn sách bên nách đang sà vào một đám người chơi phá cờ thế; Nhĩ buồn bã nghĩ về những giới hạn, thói tật mà con người trên đường đời thật khó tránh được; phức hợp tâm trạng mê say pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích nổi khi Nhĩ nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp hằng có của cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ; khi anh liên tưởng tới những nét tần tảo và chịu đựng hy sinh như có từ bao đời xưa nơi người vợ, nơi gia đình mà Nhĩ tìm thấy được nơi nương tựa sau nhiều ngày tháng bôn tẩu, tìm kiếm...). Phần này cũng có những chi tiết kể về tình cảm và sự giúp đỡ của những đứa trẻ, những người hàng xóm với Nhĩ... 
Như vậy, trong cấu trúc tự sự của văn bản có hai lớp sự việc, hiện tượng đan xen lẫn nhau: lớp sự việc, hiện tượng bề ngoài là những cảnh vật, đối thoại, hành động kể về Nhĩ và những người thân trong gia đình, những người hàng xóm - chuyện về một người ốm; và lớp sự việc, hiện tượng bên trong là những cảm nhận, suy tư của nhân vật Nhĩ - một người từng trải, người từng có nhiều kinh nghiệm sống - về quê hương, về bản thân và vợ con trong gia đình, về cuộc sống và con người. Trọng tâm của hình tượng nghệ thuật không phải ở lớp sự việc, hiện tượng bề ngoài. Lớp sự việc, hiện tượng bề ngoài chỉ đóng vai trò khêu gợi, dắt dẫn hay làm rõ cái nhìn và tâm trạng của nhân vật. Cả hai lớp sự việc, hiện tượng ấy đều nhằm làm rõ những nhận xét, suy nghĩ về cuộc sống, con người mà tác giả muốn chuyển đến bạn đọc. Hai lớp sự việc, hiện tượng ấy được tạo nên bởi sự lựa chọn, sáng tạo và kết hợp các chi tiết hư cấu, được tái hiện qua cái nhìn đan xen của các nhân vật (chủ yếu là của Nhĩ, ngoài ra còn có thể kể đến cái nhìn của Liên, cụ giáo Khuyến hàng xóm, của người kể chuyện). Dạy đọc hiểu văn bản thực chất là hướng dẫn hoạt động tiếp nhận của học sinh, từ văn bản ngôn từ mà tái hiện thế giới hình tượng nghệ thuật, nắm được cách thức tổ chức ngôn từ và hình tượng, từ đó khám phá ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.

4. Trên cơ sở những điều vừa trình bày, chúng tôi thử nêu lên tiến trình dạy học đọc hiểu văn bản, các nội dung, yêu cầu khi dạy - học đọc hiểu văn bản này.
1. Phần giới thiệu tác giả, tác phẩm: HS căn cứ vào SGK
2. Xác định thể loại văn bản tác phẩm: GV nêu câu hỏi, hướng dẫn để HS trả lời (Câu hỏi: Hãy xác định thể loại của văn bản Bến quê? Gợi ý trả lời: Dựa vào các thông tin đã có trong SGK; vào hình thức ngôn từ (văn xuôi); cách thức xây dựng và tổ chức hình tượng của tác phẩm (câu chuyện về nhân vật Nhĩ và các nhân vật khác...). Trả lời: đây là văn bản thuộc loại tác phẩm tự sự; do đó muốn hiểu tác phẩm, phải thông qua việc đọc văn bản, tái hiện và cảm nhận ý nghĩa, giá trị các chi tiết đời sống, con người được tác giả hư cấu, sáng tạo).
3. Văn bản trần thuật lại câu chuyện về nhân vật nào? Có thể tách câu chuyện ấy thành mấy sự việc? (Trả lời: Văn bản chủ yếu trần thuật lại câu chuyện về nhân vật Nhĩ. Có thể tách câu chuyện ấy thành 4 sự việc nối tiếp theo trật tự thời gian: suy nghĩ của Nhĩ khi ngồi để vợ con chăm sóc; câu chuyện của vợ chồng Nhĩ; chuyện Nhĩ nhờ con trai sang bên kia sông; những hành động và suy nghĩ của Nhĩ sau khi con trai anh rời khỏi nhà. Các nhân vật khác chỉ là nhân vật phụ).
- Sự việc 1: tâm trạng của Nhĩ khi ngồi để vợ con chăm sóc (ứng với câu hỏi 1 và 2 trong SGK). Gợi ý để HS tập hợp những chi tiết làm rõ hoàn cảnh và tình huống truyện: Nhĩ ốm nặng (ngồi để cho vợ bón từng thìa thức ăn, rồi ngửa mặt như một đứa trẻ để con trai lau miệng, cằm và hai bên má); hướng ra bên ngoài (nghiêng mặt ra ngoài cửa sổ, thấy những bông hoa bằng lăng cuối cùng còn sót lại, nhận ra sự thay đổi của thời tiết, cảm nhận “những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ” của “cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông H?ng” trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà anh); tự thấm thía một nghịch cảnh của bản thân “Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất, đây là một chân trời gần gũi, mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình”. Chú ý nghệ thuật trần thuật qua điểm nhìn nhân vật vừa dựng truyện, vừa có tác dụng miêu tả tâm trạng; hình ảnh giàu tính biểu tượng về những bông hoa, về vùng bãi bồi ven sông; nghệ thuật đối lập làm nổi bật tình huống truyện (nghịch cảnh mà Nhĩ tự cảm nhận, bộc lộ).
- Sự việc 2: câu chuyện của vợ chồng Nhĩ “sau khi đứa con trai đã bưng thau nước xuống nhà dưới”. GV hướng dẫn HS tìm hiểu những câu hỏi, lời nói, cái nhìn đầy tâm trạng của Nhĩ; thái độ và những câu trả lời của người vợ. Những chi tiết ấy làm rõ hơn trạng thái bi đát về sức khoẻ của Nhĩ, vốn đã được kể ở đoạn đầu văn bản (phiến lưng đã có nhiều mảng da thịt vừa chai cứng vừa lở loét của Nhĩ; bờ đất lở dốc đứng của bờ bên này, và đêm đêm cùng với con lũ nguồn đã bắt đầu dồn về, những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ gợi những vất vả, tốn kém mà vợ con Nhĩ đang cùng anh gánh chịu; thời điểm “tháng mười” trong những câu gượng đùa của Nhĩ); tiếp tục triển khai việc miêu tả tâm trạng Nhĩ (những cảm động, ân hận của Nhĩ trước tình cảm hết lòng chăm sóc của vợ con, khi lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá). Kể lại sự việc này, có lẽ tác giả chủ yếu muốn xây dựng một hình tượng nghệ thuật để người đọc cảm nhận về phẩm chất truyền thống, vẻ đẹp tiêu sơ, tần tảo, bình dị của những người vợ (những cảm nhận tinh tế, nhạy bén về tâm trạng của chồng, những ngón tay gầy guộc, tấm áo vá, những lời động viên an ủi chồng, dặn dò con, việc đi lại dọn dẹp, hãm thuốc, tiếng bước chân rón rén quen thuộc suốt cả một đời người đàn bà trên những bậc gỗ mòn lõm...). Những chi tiết này sẽ còn láy lại ở sự việc 4 như những nét tiêu biểu cho vẻ đẹp và giá trị của gia đình, quê hương.
- Sự việc 3: chuyện Nhĩ nhờ con trai sang bên kia sông, chủ yếu được trần thuật từ điểm nhìn người kể chuyện, qua ngôn từ đối thoại và một vài chi tiết miêu tả. Đây là sự việc chuyển tiếp để triển khai mạch tâm trạng của Nhĩ, tô đậm tư tưởng của tác phẩm. Tuy nhiên, GV có thể gợi ý để HS tìm hiểu ý nghĩa giàu chất triết lý của các chi tiết: Tuấn ham đọc sách (nhưng lại không hiểu được tâm trạng và mong muốn của cha, chưa hiểu được những uẩn khúc của cuộc đời); Nhĩ thấy con ngày càng giống mình (sự lặp lại giữa các thế hệ); lời yêu cầu khẩn khoản của Nhĩ (biết mình sắp từ giã cõi đời, muốn được nhờ con bù đắp một khiếm khuyết bao năm qua mà anh vừa thức nhận - đây cũng là một khao khát và hành động hợp lý, phản ánh một quy luật phổ biến của đời người); thái độ hờ hững, ngạc nhiên của Tuấn nghe và trả lời, rồi miễn cưỡng thực hiện mong muốn của người cha (thể hiện khoảng cách giữa hai thế hệ). 

- Sự việc 4: những hành động và suy nghĩ của Nhĩ sau khi con trai anh rời khỏi nhà. GV gợi ý để HS nhận ra trên văn bản và ý nghĩa của các chi tiết: Nhĩ thu hết sức lực, và nhờ sự giúp đỡ của lũ trẻ hàng xóm, ngồi gần cửa sổ để có thể quan sát đứa con trai sang bãi bồi bên kia sông (khát vọng thực hiện mong muốn sửa chữa những khiếm khuyết; sự vô tư giúp đỡ của lũ trẻ; thức nhận của Nhĩ về hoàn cảnh của mình...); cảnh con đò ngang sang sông, chuyện Tuấn không có mặt trong đám người chờ đò vì đang sà vào một đám người chơi phá cờ thế trên hè phố (gợi tương quan giữa cuộc đời và con người); suy nghĩ, tâm trạng của Nhĩ (nhớ lại những kỷ niệm cuộc đời mình, hiểu điều gì đang hấp dẫn thằng Tuấn, điều gì đang khiến Tuấn có thể lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày; những suy nghĩ buồn bã về thói thường của con người trên đường đời, niềm mê say pha lẫn nỗi ân hận đau đớn khi thức nhận vẻ đẹp và những giá trị giản dị mà giàu có, sâu sắc của quê hương và gia đình); Nhĩ tưởng tượng mình đang được đặt chân lên vùng bãi bồi và lời thăm hỏi của cụ giáo Khuyến kéo Nhĩ lại với những gì đang xảy ra trong thực tế (mâu thuẫn tưởng tượng với thực tế); hành động của Nhĩ đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại, khoát khoát tay y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó (vừa thể hiện nhân vật Nhĩ, vừa giàu ý nghĩa biểu tượng: “thức tỉnh mọi người về những cái vòng vèo, chùng chình mà chúng ta đang sa vào trên đường đời, để dứt ra khỏi nó, để hướng tới những giá trị đích thực, vốn rất giản dị, gần gũi và bền vững” [1 tr25]).
Các sự việc 1, 2, 3, 4 vừa tách rời, độc lập tương đối (để thể hiện những khía cạnh ý nghĩa; chẳng hạn sự việc 2 tạo cảm nhận về người vợ; sự việc 3 tạo cảm nhận về người con) vừa kế tiếp nhau, thống nhất với nhau (để tạo nên ấn tượng chung, làm nổi bật tư tưởng cơ bản của tác phẩm: thức nhận về những nghịch lý, những giá trị của cuộc đời). Văn bản chứa nhiều yếu tố miêu tả tâm trạng, cảm xúc của các nhân vật, đặc biệt là của Nhĩ, nhưng đó là cách kể lại, dựng lại nhân vật, rất khác với cách thể hiện trực tiếp tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong loại tác phẩm trữ tình. Các chi tiết, hình ảnh, hành động, lời nói, tâm trạng được trần thuật ở các sự việc nhằm tạo nên tính liên tục của truyện, nhưng chủ yếu được chọn lựa, kết hợp nhằm thể hiện nổi bật và ấn tượng cách nhìn và quan niệm của tác giả, khêu gợi cảm nhận, suy nghĩ của người đọc về ý nghĩa đời sống, con người, về Bến quê (Theo tôi, nhan đề tác phẩm cũng là một yếu tố rất đáng quan tâm tìm hiểu khi đọc hiểu văn bản. SGK chưa hướng HS chú ý đến yếu tố này). 
5. Đọc hiểu văn bản tự sự chính là qua văn bản để khám phá các chức năng nghệ thuật và ý nghĩa được hàm chứa trong các cấp độ chi tiết cũng như trong chỉnh thể câu chuyện được trần thuật trong văn bản, chính là “đọc để nắm bắt chuỗi các sự việc xung quanh nhân vật, từ đó đánh giá tính chất xã hội của sự việc và nhân vật” [1 tr26]. (Tuy nhiên, HS thường cảm thụ các chi tiết và câu chuyện trong tác phẩm như các chi tiết và câu chuyện ngoài cuộc đời, ít chú ý đến chức năng và ý nghĩa nghệ thuật như là cơ sở, mục đích đã khiến tác giả hư cấu, sáng tạo ra các chi tiết và câu chuyện như vậy). Có thể nói đây là một quá trình vô cùng phong phú, đa dạng, nếu như không muốn nói là vô tận. Đặc thù của đọc hiểu văn bản trong nhà trường là: trên cơ sở thực tế đối tượng HS, thời lượng của chương trình, GV có thể phân phối thời gian để HS tiến hành các hoạt động đọc hiểu khi soạn bài ở nhà; khi thảo luận trên lớp (Với văn bản Bến quê, HS tự tìm hiểu các mục 1, 2 khi soạn bài; trên lớp thảo luận về cấu trúc tự sự của văn bản, thảo luận các mục còn lại, chủ yếu là các mục 5, 6, 7). Mặt khác, GV có thể gợi ý và hướng HS nắm bắt những giá trị tư tưởng và nghệ thuật phù hợp với trình độ và lứa tuổi, chứ không phải là tất cả những gì mà tác phẩm hàm chứa, mà khả năng của GV có thể cảm nhận (chẳng hạn, cần giúp HS trước hết nắm bắt ý nghĩa các hình tượng Liên, Tuấn, lũ trẻ hàng xóm, từ đó hiểu được ý nghĩa của hình tượng nhân vật Nhĩ với những suy tư giàu chất triết lý về con người và cuộc đời...).
0
phiếu
0đáp án
294 lượt xem

I.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
1.Tác giả ( 1920 – 1989 )
- Chế Lan Viên tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan , quê ở Quảng Trị nhưng lớn lên ở Bình Định. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Chế Lan viên đã nổi tiếng với phong trào Thơ mới vớ tập thơ “ Điêu tàn”. Với hơn 50 năm sáng tác, có những tìm tòi sáng tạo ở những tập thơ gây được tiếng vang trong công chúng. Chế Lan Viên là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ hiện đại Việt Nam thế kỉ XX. Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
- Thơ Chế Lan Viên có phong cách nghệ thuật rõ nét và độc đáo. Đó là phong cách suy tưởng triết lí, đậm chất trí tuệ và tính hiện đại.
- Chế Lan Viên có nhiều sáng tạo trong nghệ thuật xây dựng hình ảnh thơ. Hình ảnh thơ của ông phong phú đa dạng, kết hợp giữa thực và ảo, thường được sáng tạo bằng sức mạnh của liên tưởng, tưởng tượng, nhiều bất ngờ kì thú.

- Tác phẩm chính: Điêu tàn ( 1938 ), Ánh sáng và phù sa ( 1960 ), Hoa ngày thường – Chim báo bão ( 1967 ), Hái theo mùa ( 1977 ), Hoa trên đá ( 1984 )…
2.Bài thơ Con cò được sáng tác năm 1962, in trong tập Hoa ngày thường – Chim báo bão ( 1967 ) của Chế Lan Viên. Từ hình tượng con cò trong ca dao, bài thơ đã thể hiện những cảm xúc và suy tưởng sâu xa về tình mẹ và ý nghĩ lời hát ru trong cuộc đời của mỗi con người.

II.Phân tích bài thơ
1.Một số điểm cần lưu ý
- Con cò là bài thơ thể hiện khá rõ một số nét của phong cách nghệ thuật Chế Lan Viên. Bài thơ khai thác và phát triển hình ảnh con cò trong những câu hát ru rất quen thuộc, để ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa của lời ru đối với cuộc đời của mỗi người. Tình mẫu tử là đề tài rất xa xưa nhưng không bao giờ cũ. Người ta cũng đã nói nhiều về ý nghĩa và vai trò của hát ru đối với tuổi thơ và cả cuộc đời con người. Hát ru vốn rất quen thuộc và tự nhiên với các bà mẹ trong mỗi gia đình. Nhưng ngày nay nó đã trở nên khó khăn với không ít những người mẹ trẻ, và điều đó là một thiệt thòi đáng kể đối với trẻ thơ.Bài thơ của Chế Lan Viên được viết khá lâu ( 1962 ), vẫn nhắc nhở một cách thấm thía về tình mẹ và vai trò của những lời hát ru.
- Hình tượng bao trùm cả bài thơ là hình tượng con cò được khai thác từ trong ca dao truyền thống. Trong ca dao, hình ảnh con cò xuất hiện rất phổ biến và được dùng với nhiều ý nghĩa, mà thông dụng nhất là ý nghĩa ẩn dụ. Con cò là hình ảnh người nông dân, người phụ nữ trong cuộc sống còn nhiều vất vả, nhọc nhằn nhưng giàu đức tính tốt đẹp và niềm vui sống.
2.Phân tích bài thơ
a.Đoạn 1: Hình ảnh con cò qua những lời ru bắt đầu đến với tuổi ấu thơ.
- Hình ảnh con cò được gợi ra trực tiếp từ những câu ca dao dùng làm lời hát ru. ở đây tác giả chỉ lấy lại vài chữ trong mỗi câu ca dao nhằm gợi nhớ những câu ấy. Những câu ca dao được gợi lại đã thể hiện ít nhiều sự phong phú trong ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh con cò trong ca dao. Con cò ở đây tượng trưng cho những con người, cụ thể là người mẹ, người phụ nữ nhọc nhằn vất vả, lặn lội kiếm sống.
- Qua những lời ru của mẹ, hình ảnh con cò đã đến với tâm hồn tuổi ấu thơ một cách vô thức. Đây chính là sự khởi đầu con đường đi vào thế giới tâm hồn con người của những lời ru, của ca dao dân ca, qua đó là cả điệu hồn dân tộc và nhân dân. Ở tuổi ấu thơ, đứa trẻ chưa hiểu và cũng chưa cần hiểu nội dung ý nghĩa của những lời ru này, chúng chỉ cần được vỗ về trong những âm điệu ngọt ngào, dịu dàng của lời ru để đón nhận bằng trực giác, vô thức tình yêu và sự che chở của người mẹ. Đoạn thơ khép lại bằng hình ảnh thanh bình của cuộc sống:
Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ!
Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân
b.Đoạn 2: Hình ảnh cánh cò từ trong lời ru đã đi vào trong tiềm thức của tuổi thơ, trở nên gần gũi thân thiết và sẽ theo cùng con người đến suốt cuộc đời.Ở đây, hình ảnh con cò trong ca dao đã tiếp tục sự sống của nó trong tâm thức con người. Hình ảnh con cò được xây dựng bằng sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú của nhà thơ, như được bay ra từ những câu ca dao để sống trong tâm hồn con người, theo cùng và nâng đỡ con người trong mỗi chặng đường đường. Như thế, hình ảnh con cò đã gợi ý nghĩa biểu tượng về lòng mẹ, về sự dìu dắt, nâng đỡ đầy dịu dàng và bền bỉ của người mẹ.
- Cánh cò đã trở thành bạn đồng hành của con người trên suốt chặng đường đời từ tuổi ấu thơ trong nôi:
Con ngủ yên thì cò cũng ngủ
Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi
- Tuổi tới trường:
Mai khôn lớn, con theo cò đi học
Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân
- Tuổi trưởng thành:
Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ
Trước hiên nhà
Và trong hơi mát câu văn

- Đến đoạn 3 thì ình ảnh con cò được nhấn mạnh ở ý nghĩa biểu tượng cho tấm lòng người mẹ, lúc nào cũng ở bên con đến suốt cuộc đời:
Dù ở gần con
Dù ở xa con
Lên rừng xuống bể 
Cò sẽ tìm con
Cò mãi yêu con

- Từ sự thấu hiểu tấm lòng người mẹ, nhà thơ đã khái quát một qui luật của tình cảm của ý nghĩa bền vững, rộng lớn và sâu sắc:

Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con 

- Phần cuối bài thơ trở lại với âm hưởng lời ru và đúc kết ý nghĩa phong phú của hình tượng con cò trong những lời ru ấy
Một con cò thôi
Con cò mẹ hát
Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi

3.Đặc điểm nghệ thuật của bài thơ 
- Thể thơ: Sử dụng thể thơ tự do, nhưng có nhiều câu mang dáng dấp thể tám chữ. Giọng điệu của bài thơ còn là giọng suy ngẫm, có cả triết lí. Nó làm cho bài thơ không lôi cuốn người ta vào hắn điệu ru ái, đều đặn, mà hướng tâm trí nhiều hơn vào sự suy ngẫm, phát hiện.
- Nghệ thuật sáng tạo hình ảnh: Hình ảnh trong ca dao chỉ là nơi xuất phát, là điểm tựa cho những liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo mở rộng của tác giả. Đặc điểm chung của hình ảnh trong bài thơ này là thiên về ý nghĩa biểu tưởng mà nghĩa biểu tượng không phải chỗ nào cũng thật rành mạch, rõ ràng. Nhưng những hình ảnh biểu tượng trong bài thơ lại gần gũi, rất quen thuộc mà vẫn có khả năng hàm chứa những ý nghĩa mới và có giá trị biểu cảm.

0
phiếu
0đáp án
771 lượt xem

       Tôi là một người nông dân làng chợ Dầu .Mọi người thường gọi tôi là ông Hai Thu.
       Kháng chiến bùng nổ tôi muốn ở lại làng cùng anh em bộ đội và dân quân kháng chiến .Nhưng vì hoàn cảnh gia đình nên tôi phải cùng gia đình đi tản cư .Ở nơi tản cư tôi rất nhớ làng và thường có hay khoe về làng mình .Hôm nào tôi cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến . Hốm ấy , vớ đc anh dân quân đọc rất to , rõ ràng , rành mạch tôi nghe đc bao nhiêu tin hay - toàn tin quân ta giết được địch , ruột gan tôi cứ múa hết cả lên. Đang trong tâm trạng náo nức thì tôi nghe được tin làng chợ Dầu của tôi theo Tây làm Việt gian. Lúc đó cổ họng tôi nghẹn ắng lại , da mặt tê rân rân. Tôi lặng ti tưởng như không thở được. Một lúc lâu tôi mới dặn è è , nuốt một cái gì vướng ở cổ, tôi hỏi lại về cái tin ấy thì người ta đã khẳng định một cách chắc chắn . Tôi vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác rồi đi thẳng về nhà. Về đến nhà , tôi nằm vật ra giường nhìn lũ con tôi thấy tủi thân , nước mắt tôi cứ ràn ra . Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư ? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư ? Tôi ngờ ngợ chả nhẽ bọn ở làng lại đốn đến thế ư rồi tôi tự kiểm điểm trong óc thấy họ đều là những người có tinh thần yêu nước , yêu kháng chiến chẳng nhẽ lại đi làm cái điều nhục nhã ấy nhưng không có lửa làm sao có khói . Tôi cảm thấy tủi nhục, chiều hôm ấy vợ tôi về cung có vẻ khác . Trong nhà có cái sự im lặng thật là khó chịu. Mãi đến khuya vợ tôi mới hỏi tôi về cái tin ây. Tôi im lặng rồi gắt lên vậy là bà ấy im bặt. 3-4 ngày hôm sau tôi không dám bước chân ra ngoài chỉ ở trong gian nhà trật trội để nghe ngóng tin tức. Lúc nào tôi cũng nơm nớp lo sợ , hễ nghe đến chuyện ấy là tôi lại giật mình. Trong tôi giờ đây đang diễn ra một cuộc chiến tranh nội tâm gay gắt khi mụ chủ nhà có ý đuổi gia đình tôi đi. Tôi lâm vài tình trạng bế tắc : về làng hay ở lại. Cuối cùng tôi đến quyết định : làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù . 
      Trong tâm trạng đau đớn tủi hờn , tôi tâm sự với thằng con út. Sau khi tâm sự xong, nỗi khổ của tôi với đi phần nào . Rồi một hôm khoảng 3h chiều, có người đàn ông đến nhà tôi chơi . Ông ấy rủ tôi đi theo ông ấy đến sẩm tối tôi mới về . Lúc ây tôi rất vui . Đến bực cửa tôi đã bô bô khoe rằng Tây nó đốt nhà tôi rồi, ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên cải chính, ông ấy cho biết cái tin làng tôi theo Tây làm Việt gian là sai sự mục đích. Cứ thế tôi lật đật đi khoe khắp nơi, tối hôm ấy tôi sang gian bác Thứ nói chuyện về làng của tôi
0
phiếu
0đáp án
4K lượt xem

I. GTVĐ.
    Kho tri thức về tự nhiên, xã hội của con người ngày nay là một đại dương bao la. Nhưng những gì mà con người chưa khám phá ra còn nhiều hơn gấp ngàn lần những điều ta biết. Cho dù chúng ta học trong nhà trường và ngoài xã hội có nhiều đến đâu thì những điều ta biết vẫn là bé nhỏ so với biển trời kiến thức mà nhân loại đã có được và chưa có được. Chính vì thế mà nhà bác học nổi tiếng I.Newton đã phát biểu thật đúng rằng: “Các điều chúng ta biết chỉ là một giọt nước. Các điều chúng ta không biết là cả một đại dương”.
II. GQVĐ.
1. Giải thích câu nói.
     - “Các điều chúng ta biết chỉ là một giọt nước”: có nghĩa là, muốn nhấn mạnh đến những hiểu biết của chúng ta về những gì nhân loại đã khám phá, tìm hiểu về vũ trụ, tự nhiên, xã hội loài người cũng chỉ bằng một giọt nước trong đại dương bao la. Một giọt nước là quá nhỏ bé so với cả đại dương mênh mông bao la. Vậy những điều mà chúng ta biết là vô cùng hạn chế, ít ỏi so với những điều ta chưa biết.
- “Các điều chúng ta không biết là cả một đại dương”: có nghĩa là, muốn nhấn mạnh đến những gì mà chúng ta chưa biết, không biết về vũ trụ, trái đất, tự nhiên và xã hội còn rất nhiều như là cả một đại dương mênh mông bao la. So với một giọt nước thì đại dương là quá to lớn. Vậy những điều mà chúng ta chưa biết, không biết còn rất nhiều so với những gì mà chúng ta đã biết.

- Sự đối lập giữa điều đã biết chỉ là 1 giọt nước còn những điều chưa biết là cả một đại dương bao la đã là một động lực rất lớn để thôi thúc chúng ta khám phá, tìm hiểu về vũ trụ, tự nhiên và xã hội. Đây là một vấn đề lớn mà chúng ta cần phải nhìn nhận thật rõ ràng và để có những hành động cụ thể như học tập, nghiên cứu, tìm hiểu trong các ngành khoa học tự nhiên cũng như xã hội.

2. Phân tích, chứng minh, bình luận.
a. Phân tích
- Bằng thực tiễn trong học tập, nghiên cứu và công tác của chúng ta. Khi ta càng học tập, khám phá ra những điều mới mẻ trong đại dương bao la kiến thức của nhân loại thì ta lại càng thấy những điều ấy còn quá nhỏ bé, ít ỏi và hạn chế biết chừng nào,...

- Dẫn chứng: trong khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, những vấn đề văn hoá xã hội khác,...

- Tác động của câu nói đó với việc học tập của học sinh, sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường, giảng đường đại học là rất tích cực, nó giúp cho mọi người nhìn nhận lại chính mình, về những hiểu biết của mình còn hạn chế. Để từ đó có hành động cụ thể để luôn luôn nâng cao những hiểu biết của mình và những người khác.
b. Chứng minh
- Bằng chính bản thân mình trong quá trình học tập, nghiên cứu...
- Bằng kinh nghiệm của những người lớn tuổi,...

c. Bình luận.

- Khi ta học càng cao thì ta càng phải khiêm tốn vì cho dù những hiểu biết của ta có nhiều đến đâu cũng là quá bé nhỏ so với những điều mà chúng ta chưa biết.
- Để từ đó tránh thái độ tự mãn, tự kiêu tự đại cho rằng mình đã hiểu biết nhiều, đã giỏi rồi mà không học tập, nghiên cứu, tìm hiểu nữa...
- Vì thế V.Lênin cũng có phát biểu rằng: Học, học nữa, học mãi!
3. Mở rộng
III. KTVĐ
- Khẳng định sự đúng đắn lời phát biểu của I.Newton. ý nghĩa, tác dụng giáo dục đối với chúng ta – đặc biệt là thế hệ trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường, giảng đường đại học,...
- Bài học cho bản thân, bạn bè,...

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
944 lượt xem

DÀN Ý
- Phân tích nghĩa đen: một giọt nước nếu ở riêng rẽ thì nó sẽ nhanh chóng cạn khô, nhanh chóng biến thành hơi bay vào khoảng ko và sẽ ko mang lại lợi ích gì cả. Nhưng nếu như giọt nước đó được hoà vào biển cả thì nó sẽ khác. Sự tồn tại của giọt nước ấy song hành với sự sống của biển. Mà biển cả bao la thì có bao giờ cạn nước đâu!

- Nghĩa bóng: Với con người cũng vậy! Nếu sống một mình thì sẽ có thể bị gục ngã trước những khó khăn, thử thách. Sống cô đơn một mình thì sẽ ko có ai chung vai giúp sức, sẽ dễ dàng bị quật đổ. Nếu như sống mà biết đồng lòng, đoàn kết thì mọi thứ sẽ trở nên dễ dàng và cuộc sống sẽ ko bao giờ kết thúc.

Câu này sử dụng biện pháp ẩn dụ. Nó có ý khuyên răn con người ta hãy biết sống hòa mình vào tập thể, vào xã hội...Đại ý là như vậy, nếu viết thành bài văn bình luận thì sẽ dài hơn và lấy được nhiều ví dụ để phân tích làm rõ.


BÀI THAM KHẢO

Có một lần, trên một chương trình truyền hình, tôi đã nhìn thấy hình ảnh những con linh cẩu sống thành bầy đàn hợp tác, hộ trợ nhau để săn bắt được những con mồi to lớn hơn. Khi đấy, tôi đã tự hỏi “Điều gì sẽ xảy ra, nếu một con linh cẩu ko sống với bầy đàn mà chỉ sống riêng lẻ”. Và để rồi một lần khác, tôi đã tự tìm ra câu trả lời cho câu hỏi đó khi nghe thấy một lời dạy bảo của Đức Phật “Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạn mà thôi”.

Lời dạy ấy của ngày thật giản dị mà sâu sắc bằng những hình ảnh rất cụ thể là “giọt nước” và “biển cả”. Giọt nước nhỏ bé và sẽ trở nên khô cạn đi nhanh chống nếu chỉ lẻ loi một mình nó, nhưng khi nó hòa vào biển lớn mênh mông, hòa vào hàng triệu, hàng tỉ giọt nước khác thì nó không bao giờ biến mất.

Và trong cuộc sống cũng thế, con người không thể nào chỉ sống mỗi một mình mà có thể sống được, tồn tại được.

Khi sống chỉ biết đến mình, không quan tâm đến mọi người, không có trách nhiệm với cộng đồng, vô tâm với xã hội,…thì tất nhiên, ta sẽ ko phải nhận dc những phiền toái do người khác, do cộng đồng, xã hội mang lại. Nhưng khi đó, ta cũng đã tự đánh mất những cơ hội nhận được sự giúp đỡ, quan tâm từ người khác. Và cũng có thể, ta đang tự làm hại chính bản thân ta một cách gián tiếp, vì ta là một phần trong cộng đồng, trong xã hội đó.

Hơn tất cả, “Con người là động vật có tinh thần” và cái “tinh thần” ấy bao gồm cả tính cộng đồng, đoàn kết bởi nhờ cái đoàn kết ấy mà từ thời xa xưa đến nay, con người mới có thể chống chọi lại với thiên nhiên khắc nghiệt mà tồn tại, phát triển. Nếu ta sống một lối sống “không cộng đồng, không xã hội”, tức là ta đã tự vứt bỏ đi phần “người” trong “con người” mình.

Ngược lại, nếu sống một cuộc sống hòa nhập, có trách nhiệm với cộng đồng, gắn kết với xã hội thì có thể ta sẽ phải cho đi rất nhiều, nhưng những thứ mà ta nhận được lại càng nhiều hơn. “Đoàn kết là sức mạnh”, chỉ có sự đoàn kết, sự gắn kết với nhau với cho ta sức mạnh để ta tồn tại, để ta phát triển trong thế giới này. Có những thứ một mình ta sẽ không làm được, nhưng một cộng đồng, một xã hội sẽ làm được.

Xã hội, cộng đồng là những cái mà ta không thể tách rời được cũng như “giọt nước” nếu tách rời “biển cả” thì sẽ nhanh chóng bị cạn khô. Thế nên khi ta sống, thì ta phải biết đến cộng đồng, phải có trách nhiệm với xã hội, phải biết hòa nhập với mọi người.

Lời dạy “Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạn mà thôi” của Đức Phật là một lời dạy thật đơn giản những lại cho ta một bài học có giá trị suốt cả cuộc đời. Để học được bài học ấy không phải là điều dễ dàng, nhưng tôi tin tất cả chúng ta sẽ làm được, bởi vì chúng ta là con người.

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
545 lượt xem

Trong lớp có bạn cho rằng: “ Không nên kết bạn với những người học yếu”. Anh (chị) hãy viết một bài văn bác bỏ quan niệm đó?

Gợi ý:

A. Mở bài
- Ông cha ta từ xưa đã dạy con cháu: Chọn bạn mà chơi.
- Có ý kiến cho rằng: Không nên kết bạn với những người học yếu.
- Ý kiến đó đúng, sai ra sao? Chúng ta nên đối xử với các bạn học yếu trong lớp như thế nào?
B. Thân bài: Làm rõ những ý cơ bản sau
· Mặt đúng của ý kiến trên:
- Chơi với các bạn học yếu, chúng ta có thể bị ảnh hưởng tiêu cực nếu như không có bản lĩnh vững vàng. “ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
- Các bạn học yếu vì nhiều lí do, nhưng phần lớn là vì ham chơi, lười học.
- Thực tế cho thấy tốt lên thì khó, xấu đi thì dễ. Vì thế nếu ta chơi với các bạn yếu kém thì phải cân nhắc thận trọng.
· Mặt chưa đúng: 
- Nếu ta chỉ chơi với các bạn học giỏi, bạn tốt thì các bạn học yếu sẽ có mặc cảm tự ti, khó hòa hợp với tập thể.
- Điều đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập, tu dưỡng và phong trào thi đua của lớp.
· Nên đối xử với các bạn học yếu như thế nào cho đúng?
- Trước hết, chúng ta không nên xa lánh, hắt hủi mà cần động viên, khích lệ các bạn ấy bằng tình cảm chân thành.
- Đối với các bạn gặp khó khăn về hoàn cảnh kinh tế hoặc trình độ nhận thức thí chúng ta nên quan tâm giúp đỡ về vật chất, tinh thần, phương pháp học tập.
- Đối với các bạn ham chơi. Thích quậy phá thì kiên trì giải thích, phân tích để đưa bạn về với bổn phận của học sinh là học tập và tu dưỡng cho tốt.
- Khơi dậy tinh thần thi đua ở các bạn yếu kém. Phải tin tưởng vào sự cố gắng và tiến bộ của các bạn ấy.
C. Kết bài
- Cuộc sống hiện đại dặt ra nhiều cơ hội và thách thức cho thế hệ trẻ.
- Mỗi học sinh cần phải có nhận thức đúng đắn trong học tập và tu dưỡng.
- Các bạn yếu kém phải có nghị lực vượt lên chính mình để đáp lại niềm tin yêu của cbạn bè, thấy cô, cha mẹ.
0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

    Ăng-ghen nói: “hành trang quan trong nhất của con người là khiêm tốn và giản dị”. Câu nói rất đúng trong xã hội hiện nay. Nếu lòng chân thành giúp ta có một thế đứng vững chắc trong quan hệ giao tiếp thì tính giản dị giúp con người tránh xa những thất bại tầm thường, tính khiêm tốn cho ta những thành công trong cuộc sống. vậy bây giờ ta đặt câu hỏi:

Khiêm tốn là gì?

Lòng khiêm tốn cho những con người đứng đắn, biết nhìn xa. Người khiêm tốn là người nhã nhặn, không tính tự cao tự đại, hướng thiện, nêu cao óc học hỏi, không đề cao cá nhân với người khác....người khiêm tốn luôn cho mình là kém cõi cần phải học hỏi thêm.
    Tại sao phải khiêm tốn?
    Cuộc sống là một cuộc chiến, nếu chúng ta dừng lại với thành công của mình ở hiện tại tức là đã chấp nhận thất bại ở tương lai, ở lại quá khứ làm kẻ thua cuộc. con người có tài cán bao nhiêu đi chăng nữa thì cái khôn ngoan hiện hữu ấy cũng không thể được quả quyết là không ai hơn được. đương nhiên ta nhìn xuống thì có nhiều người kém cõi ta, nhưng nếu ta đem so sánh như vậy thì là điều vô lí vô cùng. Hãy nhìn lên phía trên kia kìa! Bạn là người tài giỏi ư? Tôi tin ngoài xã hội còn hàng vạn người hơn bạn. bạn là một doanh nhân thành đạt ư? Ngoài đời còn hành tá tỉ phú mà bạn không thể dếm nổi số thứ tự của mình đâu. Nếu trong lòng bạn muốn nuôi dưỡng một tư tưởng tuyệt đối hơn người thì không có lợi ích nào cho bạn ngoài cái “hạnh phúc” vô lí!

Trong khiêm tốn người ta tự cho mình là kém và cân học nữa, họ coi thành công như sự an ủi. các nhà bác học càng lớn càng thấy mình cần phải khiêm tốn là lẽ đương nhiên. Nhà vật lí học Niuton đã so sánh mình như một đứa trẻ dạo chơi trên bài biển may mắn nhặt được hòn sỏi đẹp và trước mắt là bể chân lí bao la. Ông còn nói: sở dĩ tôi nhìn xa là vì tôi ngồi trên vai người khổng lồ. Lê-nin có lời khuyên với thanh niên về cách nghĩ và hành động khiêm tốn: nếu tôi biết tôi biết ít tôi sẽ tìm cách để hiểu biết hơn, nhưng nếu anh tuyên bố là người cộng sản không cần biết điều cơ bản thì ở anh không có chút gì công sạn hết.Điều ta nên nhớ là Le-nin có tói 9000 sách của 15 thứ tiếng và 9 ngoại ngữ Anh,Pháp, Đức,...tính khiêm tốn không cho phép mình nghĩ ngơi trên những thành công đã đạt được và còn nhiều minh chứng cho tính chất đó ví dụ như ở Anhxtanh, Sodrat, Alecxander,..
     Ở một khía cạnh nào đó, khiêm tốn phải đi đôi với gỉan dị. vậy giản dị là dị? Giản dị là cách sống hòa nhập, tự nhiên hóa cuộc sống, sống phù hợp với hoàn cảnh, không cầu kì xa hoa. Giản dị thể hiện ở nhiều khía cạnh: cách ăn nói cẩn thận, không khoa trương, lời nói đơn giản, ngắn gọn dễ hiểu, không quan trọng hóa vấn đề, xem xét vấn đề dưới cái nhìn khoa học...Tại sao phải giản dị? tại vì đó cách sống khoa học. Thử hỏi cái đích của cuộc sống có phải là chân thiện mĩ? Con người vứt bỏ phiền toái ở xã hội và từ trong tâm trí họ sống hòa nhập với thiên nhiên, thân thiện với mọi người. tính giản dị rất cần trong cuộc sống, nó giúp ta tiết kiệm thời gian, khiến mọi người xung quanh tôn trọng ta, ta trở thành người biết cách ứng xử, gấn gũi chan hòa với mọi người.

Bác Hồ cảu chúng ta là một mẫu mực về tính giản dị và cả khiêm tốn được cả thế giới công nhận. Bác là chủ tịch nước nhưng lại ở nhà sàn, trồng rau, đi dép cao su,.. trong chiến dịch việt-bắc Bác ở hang Pác Pó, dùng đá làm bàn, ăn chao bẹ rau măng, uống nước sông suối,..Bác nói chuyện thân mật cởi mở như gia đình. Gs.Ngô Bảo Châu người vừa nhận giải Field toán học ăn mặc cũng bình thường, nhà khá nhưng đi học bằng dép cao su. Ông ăn nói giản dị khi khao bạn bè thì nói : “chẳng mấy khi tao giàu hơn chúng mày”.Noí đến giản dị phải kể đến người Nhật, họ giàu có nhưng ra đường thì cho dù là quan chức hay học sinh, là doanh nhân hay trí thức cũng trang phục bình dị như nhau, căn nhà họ sống không trang trí bằng những món đồ công nghệ đắt giá, mà trái lại là những thứ mang dậm tính bản sắc dân tộc.

Vậy là ta đã định nghĩa được khiêm tốn và giản dị trong câu nói của Ăng-ghen. Hai đức tính này nếu dược phát huy tốt sẽ tạo nên những hiệu ứng dặc biệt. Nhưng thật buồn vì những giá trị này không được chú ý. Có người tự mãn với số vốn kiến thức sẵn có, có người học đến một học vị nào đó rồi cho là “công thành danh toại” không cần nghiên cứu nữa. có người giàu có và tự cho là đủ nên chỉ lo ăn chơi tiêu xài, không lo phát triển, đến khi trắng tay rồi mới hối hận. có hiện tượng tương tự là thói khiêm tốn giả tạo-là thói khiêm tốn quá mức hóa ra là thói tự cao tự đại, nấp dưới bóng dáng của khiêm tốn thật sự. những hiện tượng trên mau chóng xóa bỏ sự tồn tại của đức tính khiêm tốn. bên cạnh đó thói đua đòi xa xỉ, chi xài của cải thời gian vào việc vô bổ cũng thật sai lầm. ăn mặc lòe loẹt chi vậy? nó không tạo cho ta cái đẹp thâm chí làm trò “lố bịch” cho thiên hạ. “Mốt thời trang đã khiến ta mất dần cái tính giản dị, do đó phải ăn mặc cho phù hợp với hoàn cảnh.
    Khiêm tốn giản dị chúng ta phải làm gì? Chúng ta phải biết đánh giá không thiên vị thực tài, không được coi thường thế hệ nhỏ tuổi, nêu cao ý thức học tập, phát triển không ngừng tư duy sáng tạo; sống cho phù hợp với hoàn cành và các giá trị chân-thiện-mĩ.
    Nói tóm lại, chỉ có khiêm tốn chúng ta mới có thể tiến bộ, chỉ có giản dị chúng ta mới có thể hòa nhập tự nhiên. Ăng- ghen đã nói đúng. Khiêm tốn và giản dị là công cụ đắt lực phục vụ ta trên đường đời. Có khiêm tốn và giản dị cùng với lòng chân thành thành công tự nhiên sẽ đến với bạn.

0
phiếu
0đáp án
491 lượt xem

      Mỗi con người ta khi sinh ra đều có những ước mơ, hoài bão cho riêng mình. Những ước mơ đó là những khát khao, hi vọng mà chúng ta vươn tới. Để thực hiện ước mơ đó, trước tiên chúng ta cần phải lao động, suy nghĩ và làm viẹc hết mình để góp phần nâng cánh những ước mơ trỏ thành hiện thực. M Goorki đa nói: Lao động là đoi cánh của ươc mơ, la cội nguồn của niềm vi và sáng tạo”
       Lao động là những hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra những của cải vật chất và tinh thần cho bản thân và cho xã hội. Những hoạt đọng đó đã góp phần nâng cánh những ước mơ, những mong ước thiết tha về những điều tốt đẹp trong tương lai. Như vậy, lao động là đôi cánh những ước mơ bay cao, bay xa, đưa con người đến những thành công mới, khám phá những điều bất ngờ, thú vị. M Gooriki đã khẳng định sâu sắc vai trò của lao động đối với mỗi người, đối với toàn xã hội. Lao động là một cách để chúnh ta khẳng định mình, vươn tới những đỉnh cao của trí tuệ, tri thức. Mỗi chúng ta đều có những ước mơ lớn lao hay những gì thân thuộc đều là cả một quá tình phấn đấu, vươn lên. Không ngừng suy nghĩ và làm việc, chúng ta mới có thể góp hần xây dựng và phất hiện nó. Thự tế, trong lao đọng nhiều người đã thấy khó khăn, mệt mỏi. mong muốn giản đơn của họ à sáng tạo ra một cái gì đó giúp họ đỡ vất vả. Nhứng ước mơ đó được xây dựng từ trong lao đọng và cúng được chính lao động nâng cánh cho ước mơ bay cao, bay xa. Phải lao động, nổ lực hết mình chúng ta mới có thể thực hiện được ước mơ đó. Đó là hình ảnh của bạn học sinh Đỗ Bằng Định- Học sinh trương THPT Phạm Ngũ Lão- Đông Anh- Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình làm nông với hai vụ lúa chính và một vụ màu, phải thương xuyên lao đọng giúp gia đình, nhận ra sự khó khăn trong việc tách vỏ hạt đậu của bà con nông dân, Định đã nuôi ước moe ché tạo thành công chiếc máy tách vỏ hạt để giúp bà con nông dân đỡ vất vả. Sau một thời gian dài nghiên cứu và tìm tòi. Định đã chế tạo thành công chiếc máy tách vỏ hạt đậu, Tuy chỉ mới ở dạng mô hình nhưng cậu học sinh này tin rằng trong tương lai, cậu có thể nhân rộng ra chiếc máy để giúp đỡ mọi người. Không chỉ Định mà hiện nay ở nước ta có rất nhiều người đã nuôi ước mơ và nâng cánh ước mơ từ lao động mà đặc biệt là thế hệ trẻ- những chủ nhân tương lai của đất nước với những sự sáng tạo và cống hiến hết mình. Những sự sáng tạo cua thế hệ trẻ đó, có lẽ, dều bắt nguồn từ lao động. Phải hiểu được những gì mình và mọi người cần trong xã hội thì chúng ta mới có thể chủ động sáng tạo, phát huy được khả năng của mình. Và trong những lúc lao động ấy, được cống hiến là niềm vui của mỗi người. Lao động không mệt mỏi còn giúp chúng ta vơi đi những nổi buồn, nỗu đau trong cuộc sống. làm việc hết mìnhm suy nghĩ hết mình, sáng tạo làm cho chúng ta vui hơn khi mình có thể sáng chế, tìm tòi ra những cái mới. Chính từ lao động, chăm chỉ làm việc mà cuộc sống của chúng ta dần được cải thiện. Những thành quả lao động góp phần rất lớn vào cuộc sống vật chất va tinh thần của mỗi người. Va khi mà cuộc sống của chúng ta phát triển thì xã hội cung đi lên, phát triển mạnh mẽ, hội nhập ra toàn thế giới.
      Như vậy, ý kiến của M Goocki là hoàn toàn đúng. Mỗi chúng ta đều phải tích cực lao động, lao động không ngừng, phát huy những khả năng sẵn có của bản thân. Đồng thời chúng ta cần phải tích cực học tập, tìm tòi và phát triển cái mới. Cần tích cực nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo ra những phương thức mới, kĩ thuật mới. Bên cạnh đó, mõi người chúng ta phải có thai đọ tích cực, tự giác nghiên cức, ứng dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật. có tính tự giác, kỉ luật cao trong lao động để có được những thành quả lớn nhất. Tuy nhiên, thực tế hiẹn nay có rất nhiều người không chịu lao động, chỉ biết ỉ lại, sống dựa dẵm vào sức lao dộng của người khác: suốt ngày chỉ biết chơi bời, không chịu làm việc. Hay là hiện nay có rất nhiều bạn trẻ tuy lao động nhưng lại không biết cách sáng tạo ra những phương pháp mới, chỉ biết làm theo những cái cũ không còn thích hợp với điều kiện và yêu cầu lao động hiện nay. Mỗi người chúng ta, trước hết là phải lao động và sáng tạo và tìm tòi những cái mới, đồng thời cũng nhắc nhở, động viên những người xung quanh lao động sáng tạo để có kết quả tốt nhất.
      Như vậy, có lao động chúng ta mới có điều kiện phát huy khả năng của bản thân, nâng cánh cho những ước mơ bay cao, bay xa. Lao động còn giúp cho cuộc sống và xã hội thêm phát triển, vì vạy mà chúng ta cần phải tích cực hơn trong lao động để có điều kiện vươn cao, bay xa hơn, đi đến những tầm cao mới.

0
phiếu
0đáp án
891 lượt xem

Gợi ý bài làm

I. GTVĐ

Khi bàn về niềm tin trong cuộc sống, nhiều người trong chúng ta sẽ nhớ đến một câu chuyện mang nội dung giáo dục sâu sắc – vai trò của niềm tin và hậu quả của mất niềm tin - đó là câu chuyện về một vị tướng quân khi xuất trận, vị vua của đã hỏi vị tướng quân ấy như sau: nếu phải chọn đánh mất trong các điều sau thì tướng quân chọn đánh mất cái gì trước, cái gì sau: quân đội, đất nước, niềm tin? Vị tướng quân ấy đã trả lời rằng: tôi sẽ chấp nhận đánh mất quân đội trước, vì nếu mất quân đội thì còn đất nước và niềm tin tôi sẽ gây dựng lại quân đội; nếu phải đánh mất nhiều hơn thế thì tôi chấp nhận mất quân đội và đất nước mà giữ lại niềm tin, vì nếu còn niềm tin thì tôi sẽ tập hợp quân đội mà lấy lại đất nước. Nhưng nếu đánh mất niềm tin mà còn quân đội và đất nước thì không sớm thì muộn cũng đánh mất tất cả. Đó là sự lựa chọn khôn ngoan nhất! Chính vì thế sách Dám thành công dạy rằng: “Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa”. 

II. GQVĐ

1. Giải thích

- Về nội dung trực tiếp: lời phát biểu trên nói về hậu quả của việc đánh mất niềm tin vào bản thân. Nếu con người đánh mất niềm tin thì hệ quả tất yếu là sẽ đánh mất nhiều thứ quý giá nữa.

- Về thực chất: ý kiến này đề cập đến vai trò quyết định của lòng tự tin. Nếu có niềm tin là có tất cả, nếu đánh mất niềm tin là đánh mất tất cả.

2. Bàn luận về tự tin và mất tự tin

- Người có lòng tự tin luôn luôn khẳng định năng lực và phẩm chất của mình, coi đó là nguồn sức mạnh chân chính, có ý nghĩa quyết định, giúp con người vững vàng, lạc quan và thành công trong cuộc sống. Do đó tự tin là đức tính quý báu của con người!

- Khi mất tự tin: 

+ Con người không còn tin vào năng lực và phẩm chất của bản thân nên sẽ đánh mất những điều kiện cơ bản và cần thiết giúp đạt đến những giá trị quý báu: nghị lực và ý chí, hy vọng và lạc quan...

+ Con người không còn khả năng đương đầu với những khó khăn, thử thách nên dễ dàng buông xuôi, bỏ mất những cơ hội tốt trong cuộc sống...

3. Bài học nhận thức và hành động.

- Trong mọi hoàn cảnh sống, đặc biệt khi gặp những khó khăn, thử thách cần nêu cao bản lĩnh, không đánh mất niềm tin vào chính mình.

- Luôn sống tự tin nhưng tránh chủ quan. Phải cảnh giác với những việc tự tin mù quáng. Phải tỉnh táo để biết lắng nghe, biết học hỏi, hợp tác; biết tu dưỡng phẩm chất và trau dồi năng lực của bản thân vì đó là cơ sở của lòng tự tin.

III. KTVĐ

- Khẳng định ý nghĩa, giá trị giáo dục, tác động tích cực đến xã hội nhất là thế hệ trẻ của ý kiến trên

- Bài học bản thân.

(Sưu tầm)
0
phiếu
0đáp án
941 lượt xem

Bài làm

         Tục ngữ Việt Nam là một kho tàng quý giá cất giữ niềm tin, nhận thức, tư tưởng, phản ánh xã hội xưa và nay của nhân dân ta. Có thể nói tục ngữ là túi khôn, là tri thức bách khoa dân gian của dân tộc.
        Đề tài của tục ngữ vô cùng đa dạng và phong phú. Chúng nói về các hiện tượng tự nhiên, quan hệ giữa con người va thiện nhiên, nói về đời sống vật chất, tinh thần, về các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ và xã hội…nhưng nổi bật hơn cả là đề tài lao động với cặp chủ đề công lao - hưởng thụ trong câu tục ngữ sau:
“ Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”
      Có lẽ khi đọc câu tục ngữ này lên thì ai cũng biết nó có nghĩa là “ tay có làm thì hàm mới có nhai, tay không làm thì hàm không có cái để nhai” nhưng câu tục ngữ này không mang ý nghĩa đơn giản như thế mà nó còn mang một ý nghĩa khác – một ý nghĩa giáo dục con người.
       Trong câu tục ngữ xuất hiện nhiều hình ảnh “ tay làm, hàm nhai, tay quai, miệng trễ” tượng trưng cho sức lao động, thành quả đồng thời là sự công bằng trong xã hội. Hình ảnh “tay làm” thể hiện sức lao động của con người. Ngược với hình ảnh này là hình ảnh “tay quai” thể hiện sự lười biếng, không làm việc. Nếu như chăm chỉ, cần cù thì bản thân sẽ nhận được thành quả “hàm nhai” xứng đáng với công sức mà mình bỏ ra. Một ví dụ đơn giản trong môi trường học đường đó chính là những bạn học sinh giỏi. Có phải là tự nhiên mà họ học giỏi hay là họ phải cố gắng học tập ngày đêm ở nhà lẫn ở trường để được như thế? Trên đời đúng là có những người khi sinh ra đã rất thông minh nhưng nếu như họ không cố gắng tích lũy thêm kiến thức thì làm sao có thể trở thành giỏi được. 
        Những hình ảnh hoán dụ đơn giản, bình dị, gắn bó thân thiết với mỗi người nhưng thể hiện nhiềy ý nghĩa sâu sắc : “ Có lao động thì mới có thnàh quả; không lao động sẽ không có thành quả, không tạo ra được của cài vật chất. Nổi bật trong câu tục ngữ là nghệ thuật đối lập giữa vế một “tay làm hàm nhai” với vế hai “tay quai miệng trễ”, kèm theo đó là cặp từ đối nhau như tay làm đối với tay quai, miệng nhai đối với miệng trễ đã một phần nào đó nói lên nghệ thuật đặc trưng của tục ngữ Việt Nam.
       Nhờ những liên tưởng đồng thời gắn với những hình ảnh quen thuộc đã làm cho những triết lí khô khan, những tư tưởng đạo đức trở nên dễ hiểu, đơn giản nhưng chắt lọc, thấm nhuần vào tư tưởng người Việt Nam như câu tục ngữ “ Tay lam hàm nhai, tay quai miệng trể” đã nhắc nhở, giáo dục cho bản thân mỗi người nên siêng năng, cần cù lao động và sự công bằng trong việc phân phối thành quả lao động. Còn những kẻ lười nhát, không siêng làm việc thì sẽ chẳng bao giờ có của cải, vật chất, mãi mãi không thể giàu có.
        Để có được thành quả “hàm nhai” xứng đáng, bản thân mỗi người phải biết tự lao động, cố gắng, phải biết nắm bắt những cơ hội, điều kiện đến với mình. Điều kiện và cơ hội chỉ là một phần nhỏ trong thành quả, quan trọng là ở bản thân mỗi người phải làm thế nào. Người biết lao động thì sẽ thành công còn những người lười biếng thì sẽ bị gạt bỏ khỏi xã hội này. Trên mỗi bước đường thành công không bao giờ có dấu chân của kẻ lười biếng.

Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
447 lượt xem

       Trong cuộc sống của mỗi con người, ai cũng có một lí tưởng để sống, để làm việc, học hành. Có lí tưởng thì ta mới có được một sự quyết tâm để vươn tới những thành công sau này. Có lí tưởng đặt ra thì mọi ước mơ và cố gắng của chúng ta sẽ không bao giờ lãng phí. Nhà văn Nga Lép Tôn-xtoi đã nói rằng: “Lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”. Vậy chúng ta suy nghĩ thế nào về câu nói này của Tôn-xtoi khi mà ngày nay, xã hội ngày càng tiến bộ, đời sống và nhân dân đang ngày một vươn xa ?
       “Lí tưởng” là mục đích cao cả, là những gì tốt nhất mà chúng ta cần phải đạt đến. “Ngọn đèn” là một dụng cụ chiếu sáng, nhưng đó chỉ là nghĩa đen, ta còn có thể hiểu theo nghĩa bóng là một người dẫn đường, một người bạn đồng hành cùng chúng ta trên con đường đi tìm lý tưởng, soi rọi cho chúng ta thấy được những chướng ngại vật đang cản trở con đường, giúp ta tới đích một cách dễ dàng. “Phương hướng kiên định” là sự quyết định của con người về hướng đi của mình, là suy nghĩ của bản thân về việc phải làm và sẽ làm trong tương lai, thể hiện được nghị lực, quyết tâm của người đó để không lùi bước trước khó khăn thử thách. “Cuộc sống” là đời sống hiện tại với những quá trình sống cùng những hoạt động của xã hội. Câu nói của Tôn-xtoi muốn nêu cao tầm quan trọng của lí tưởng, là người dẫn đường đưa chúng ta đến thành công, nếu không xác định lí tưởng thì ta sẽ không có nghị lực mà không có nghị lực thì sẽ không phát triển được trong cuộc sống này.
      Câu nói của Tôn-xtoi rất đúng trong mọi thời đại. Sống có lý tưởng sống cao đẹp là sống luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện bản thân, giúp ích cho mình, gia đình xã hội và đất nước. Có lý tưởng đúng đắn thì ta sẽ vượt qua mọi thử thách, đương đầu với mọi thử thách trong cuộc sống đầy gian nguy. Chỉ cần có lý tưởng thì những gì ta muốn đều có thể đạt được rất dễ dáng, chỉ cần ta cố g8ang1 vươn lên, không quản ngại. Nhưng chỉ nói thôi thì không đủ, chúng ta cần phải thực hành. Và để thực hành được thì không phải ai cũng làm được.
       Trong cuộc sống, ta có thể bắt gặp được những lý tưởng cao đẹp thể hiện rõ nét và nhiều nhất là những người nghèo khổ. Tuy nghèo nhưng họ đã thể hiện được một lý tưởng cao đẹp có thể giúp họ vươn lên trong cuộc sống. Những chương trình truyền hình dành cho người nghèo điển hình như chương trình “Vượt lên chính mình”, những gia đình nghèo khổ khi tham gia chương trình này đều thể hiện được lí tưởng vươn lên để thoát khỏi nợ nần để phát triển kinh tế gia đình và hội nhập trong xã hội. Đó là những tấm gương điển hình cho chúng ta thấy được ý chí vượt lên, vượt qua mọi thử thách của con người và lí tưởng cao đẹp của họ. Nhưng trái với hình ảnh này lại có những người không định sẵn cho mình một lí tưởng, đặc biệt là lớp trẻ bây giờ, những nhà giàu có khá giả, chỉ biết nghĩ tới tiền, sử dụng tiền vào những việc vô ích, không màn đến tương lai của mình. Một số người lại cho rằng mọi thứ do ông trời sắp định sẵn nên cũng chẳng them quan tâm đến lí tưởng là gì. Đó là những người không thể chấp nhận trong xã hội, rồi đến một lúc nào đó họ sẽ không thể tồn tại được trong một xã hội như thế này nếu như không có lí tưởng đúng đắn.
       Bản thân mỗi chúng ta cần phải xác định rõ ràng mục đích lí tưởng ngay từ những lúc còn đang ở trong bậc sư phạm để khi ra đời chúng ta hãy lấy đó làm nền tảng để đưa chúng ta đến với thành công trong công việc cũng như những thứ khác trong xã hội này. Tuy vậy, nhiệm vụ trước mắt là phải học tập thật tốt, cần hình thành cho mình kĩ năng tự lập, không phụ thuộc vào người khác. Khi ra đường, cần phải có những hành vi tốt, không để lại hình ảnh xấu cho bản thân mình cũng như xã hội.
      Vậy mỗi người chúng ta cần phải thực hiện cho mình một lí tưởng cao đẹp để khi ra đời ta xem đó là nền tảng của một bước đường tiếp theo, bước đường đưa ta vào đời và dẫn ta tới ngưỡng cửa của thành công.
0
phiếu
0đáp án
555 lượt xem

         Người bạn thân mến, tớ tự hỏi k bíêt cậu có còn nhớ ng bạn phương xa này k.Chúng ta dù chỉ quen nhau qua thư từ nhưng tớ nhận thấy chúng ta thực sự là những ng bn tri kỉ với nhau,đặc biệt là trong những quan điểm và nhận định về nhìêu vấn đề xã hội.Thực ra muốn tìm một người như thế k phải dễ đâu bạn à.Hôm nay tớ víêt lá thư này là để chia sẽ với bạn một vài quan điểm về cái mà chúng ta đang làm tất cả để có đc đó là điều kiện lao động,liệu điều kiện lao động tốt có khả năng giúp chúng ta đạt đc nhìêu thành công k?
      Để đánh giá đc vấn đề này trước tiên ta cần nhận định đc khái niệm của nó,vẫn như trước đây chúng ta vẫn thường làm thôi.Cụ thể trong trường hợp này, điều kiện lao động tốt nghĩa là bạn sẽ đc làm việc trong 1 môi trường tốt, đc đánh giá và sắp xếp đúng công việc mà bạn đã đc đào tạo và cũng là niềm say mê suốt trong những năm tháng qua.Dĩ nhiên chúng ta ai cũng muốn có cơ hội có đc công việc tốt nhất và đúng với chuyên ngành.Bạn đã nghiên cứu,học tập,phấn đấu,dành thời gian cho ngành nghề đó trog suốt bao nhiêu năm qua và bn rành về nó hơn bất kì ai hết,đó là lợi thế mà tớ nghĩ ai cũng có khả năng phát huy đc,một sở trường tạo lợi thế mạnh mẽ trên con đường tạo lập sự nghiệp.Sự nghịêp tốt cũng có nghĩa cuộc sống của bạn,gia đình bạn và mọi ng xung quanh bn đều sẽ suôn sẻ hơn.
       Điều thứ hai là bạn có một môi trường làm việc tốt,k khí,ánh sáng ,điều kịên vệ sinh và an tòan lao động luôn đc bảo đảm tốt nhất.Môi trường tốt đảm bảo sức khỏe tốt, sức khỏe tốt thì k còn trở ngại nào đáng lo để làm bạn chùn bước trong công việc,mặt khác đó là động lực mạnh mẽ để bạn tiến lên vì lúc nào bạn cũng hiểu rõ sức khỏe của mình,biết rằng mình luôn đc chăm sóc tốt nhất mà k phải lo gì cả, đó là đìêu kiện về tâm lí có ảnh hưởng tích cực đến thành quả lao động của mỗi chúng ta.
      Hịên nay pháp luật nc ta cũng đã có quy định về số giờ làm việc trong ngày,những phúc lợi và chế độ hợp lí về vật chất và tinh thần cho nhân viên,đặc biệt là những ng làm việc chân tay khá nặng nhọc,hơn ai hết họ cần đc quan tâm và đãi ngộ với những chế độ đặc biệt.Muốn đc làm việc tốt phải có sức mạnh về thể chất và tinh thần,sức khỏe,tiền lương,sự nghỉ ngơi và thư giãn sẽ là những điều kiện tốt củng cố niềm tin trong công việc, một động lực khá vững vàng và là nền tảng vững chắc trong công việc khó có thể lung lay đc.
Có lẽ bạn cũng phải thừa nhận với mình một khi công việc của bạn hòan thiện,bạn có thu nhập ổn định và với bạn mọi thứ ở nơi bạn đang làm việc thật tuyệt vời khó có thể chê vào đâu đc thì tớ tin rằng cuộc sống hẳn cũng sẽ k quá tệ đâu.Bạn có lương cao,làm việc vừa sức,tiền bạc,sức khỏe,niềm vui ,bạn bè,gia đình…với bạn mọi thứ đều cân bằng thì thực sự cuộc sống của bạn đã đạt đến sự lí tưởng tuyệt vời k thể chê vào đâu đc.
Chúng ta đang sống mà sống là để ngày càng hòan thiện bản thân,vươn tới những điều bạn luôn cho là khó xảy ra với sự hỗ trợ mạnh mẽ về bên trong lẫn bên ngòai.Cuộc sống của chúng ta sẽ thực sự có ý nghĩa nếu có sự phấn đấu vững vàng cộng thêm những yếu tốt ngọai cảnh thuận lợi.Chúng ta đều đã đi làm và đều biết giá trị cũng như ý nghĩa của những đìêu kiện thuận lợi sẽ tác động thế nào tới hiệu quả làm việc và sau cùng là cụôc sống.Một cuộc sống k phải của riêng ta mà của gia đình,bè bạ, nói rộng ra là cả thế giới đó bạn thân mến ạ.Chính điều kịên lao động là cái ảnh hưởng gián tiếp đến cuộc sống và chất lượng cuộc sống của chúng ta,mình tin bạn cũng chấp thuận điều đó.Như bạn biết đó,thế giới đang lâm vào tình trạng khủng hỏang và một trong những nguyên nhân đó là nhữn ng làm công,một trong số họ cũng làm việc như chúng ta nhưng có vẻ k đc đối xử đúng mực,cuộc sống k cao hơn mà ngày càng tệ,đó chính là lời giải đáp vì sao thế giới đang bước vào tình hình khủng hỏang trầm trọg,cũng khá dễ hiểu đó k phải là nguyên nhân duy nhất nhưng cũng có ảnh hưởng đó bạn.
       Chà,có vẻ mình nói hơi nhiều rồi,và mình nghĩ giờ là lúc hỏi thăm sức khỏe,gia đình và công việc của bạn,mình hi vọng mọi việc đều tốt,cháu Vi chắc cũng bập bẹ đc rồi.Dạo này tớ có phần rảnh rỗi hơn, đó là nhờ tớ có ng bạn tốt như bạn đó,những phương pháp thư giãn thật hiệu quả và tớ k còn stress nữa.Mình hi vọng lá thư sau mà mình nhận đc từ bạn sẽ có những dòng tâm sự về cuộc sống gia đình bạn hiện giờ cũng như những nhận định,đánh giá và suy nghĩ của bạn về vấn đề mà mình nêu ở trên.K phải tình cờ tớ nói đến việc đó đâu,vì tớ nghĩ nếu có nhận định đúng về vai trò của điều kịên lao động thì một số ng làm việc như chúng ta sẽ k còn lo ngại gì nữa.Chào bạn thân mến,chúc bạn năm mới tốt lành,may mắn,chúc cho tình bạn của chúng ta mãi vững bền và thắm thiết hơn,chúc cho những quan điểm đúng đắn về cuộc sống.
Sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
551 lượt xem

       “Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu, mà ở chỗ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí” (Let-xinh)
      “Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu, mà ở chỗ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”. Câu nói của Let-xinh gợi cho ta nhiều suy nghĩ về những thành công và thất bại trong hành trình tìm kiếm những giá trị cao đẹp của đời sống con người.
      Trong cuộc sống, con người luôn khao khát khám phá những giá trị của bản thân mình : mình đang đứng ở đâu? Mình là ai trong mắt mọi người, trong đời sống xã hội? Xác định được vị trí, hiểu được vị trí bản thân là nhu cầu tất yếu, chính đáng của mỗi con người. Song, không phải ai cũng có được nhận thức đúng đắn về điều đó. Có những kẻ luôn ngộ nhận về khả năng của mình, họ cho rằng mình là số một, là chân lí của cuộc sống. Đó là tư tưởng của những kẻ độc tài, tự kiêu và tự phụ. Lại có người nhút nhát, sợ sệt mọi thứ, không bao giờ nghĩ rằng mình có thể làm được điều gì có ích. Đó lại là những người tự ti. Rõ ràng“Giá trị của con người không phải ở chân lí mà người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu”, tức là giá trị của con người không nằm ở những gì tốt đẹp, đúng đắn mà bản thân họ có hay họ nghĩ rằng mình có. Vậy giá trị ấy nằm ở đâu? Nó nằm ở những “gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”.
      Vậy là, điều được ghi nhận trong giá trị của con người là những nỗ lực, những cố gắng trong hành trình đi tìm, vươn tới cái đẹp, cái thiện ở đời.
Tại sao vậy?
        Cuộc sống là hành trình con người đi tìm mình và tự khẳng định mình. Ai cũng khao khát vươn tới cái hoàn mĩ của sự sống. Nếu con người đạt được một điều nào đó, một chân lí trong cuộc sống thì chân lí đó đã được con người chiếm lĩnh. Nhưng bất hạnh nằm ở việc chân lí cũng có tính tương đối, nó có thể đúng trong nhiều trường hợp nưhng lại sai trong một số trường hợp. Vậy nếu con người bằng lòng với chân lí mình có, dừng lại cuộc hành trình tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống thì khi ấy con người thất bại. Vậy kết quả của mọi công việc chưa phải là điều lớn nhất mà chúng ta đòi hỏi ở một con người. Quan trong là con người ấy đã vượt khó, vượt khổ để đi tới thành công. Chính trong quá trình vượt qua những gian khó mà con người nhận lãnh trên đường đi tìm chân lí đã giúp con người bộc lộ nhiều phẩm chất, đức tính của mình. Đó có thể là sự chăm chỉ cũng có thể là lười nhác. Đó có thể là can đảm cũng có thể là hèn nhát. Đó có thể là sáng tạo, năng động nhưng cũng có thể là thụ động, máy móc. Đó có thể là sự chân thành nhưng cũng có thể là sự dối trá,.. Hành trình đi tìm cái đẹp là hành trình chạy đua trong một đường hầm kín. Kẻ về đích sớm nhất, ló dạng ra khỏi đường hầm sớm nhất chưa chắc là kẻ nhanh nhất, giỏi nhất, tốt nhất,.. Chính bởi những điều ấy, giá trị đích thực của một con người phải là những “những gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí”.Qua quá trình vượt qua những điều khó khăn ấy, con người bộc lộ những phẩm chất, giá trị của mình.
       Trong cuộc đời này, mọi người đang cùng đứng trên một quả đất nhưng mặt đất ta đứng không bằng phẳng mà chỗ cao, chỗ thấp. Ấy bởi mỗi người một hoàn cảnh, một đêìu kiện khác nhau. Còn chân lí lại là một độ cao nhất định mà tất cả chúng ta phải vươn tới mới đạt được. Vậy thì, giá trị của mỗi người không nằm ở việc ai chạm tay vào chân lí sớm hơn mà nằm ở việc đã nhảy như thế nào từ vị trí của mình để đến được với chân lí.

0
phiếu
0đáp án
408 lượt xem

Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam ta luôn gắn liền với quá trình giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện bản lĩnh vững vàng trước sự du nhập của những trào lưu văn hóa ngoại lai. Hiện nay, xu thế mở cửa, giao lưu, hội nhập văn hóa ngày càng trở nên sâu rộng, bản lĩnh văn hóa Việt Nam đang phải đối mặt trực tiếp với những thách thức lớn, liên quan đến sự sống còn của dân tộc. Trước những yêu cầu của dân tộc và thời đại, đặc biệt là trong xu thế giao lưu, hội nhập hiện nay, việc xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam có ý nghĩa to lớn đối với việc phát huy sức mạnh văn hóa, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Bản lĩnh của một nền văn hóa là tổng hợp toàn bộ những nhân tố thể hiện cốt cách, khí phách, tư chất và sức mạnh khẳng định bản sắc dân tộc trước tác động của các nền văn hóa khác trong giao lưu, hội nhập. Một nền văn hóa thiếu bản lĩnh thì dễ bị đánh mất bản sắc dân tộc. Bản sắc văn hóa là hồn dân tộc và do vậy, mất bản sắc văn hóa chẳng khác nào một người không còn thần sắc. Phát huy bản lĩnh văn hóa Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa, chính là việc nuôi dưỡng và bồi đắp sức sống cho những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, trước sự tác động đa chiều của thời đại.

Việt Nam có lịch sử phát triển văn hóa lâu đời. Lịch sử đó thống nhất với lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước. Với đặc thù tự nhiên, với vị trí địa lý là trung tâm giao lưu bắc nam, đông tây, Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp thu và đã tiếp thu được nhiều giá trị văn hóa bên ngoài để làm giàu văn hóa dân tộc. Có thể nói, đầu vào của văn hóa Việt Nam rất đa dạng, nhưng đầu ra lại rất đặc sắc Việt Nam. Nền văn hóa Việt Nam có nhiều dấu ấn, giá trị văn hóa đặc sắc của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, thậm chí cả của phương Tây. Các giá trị văn hóa bên ngoài rất đa dạng, phong phú, nhưng khi vào Việt Nam đều được Việt Nam hóa. Chẳng hạn, từ bi của Phật giáo khi xâm nhập vào Việt Nam đã trở thành đại từ, đại bi của Việt Nam; cái hùng, cái nhân của Nho giáo đã trở thành cái đại hùng, đại nhân của Việt Nam.
Cái đặc sắc và bản lĩnh văn hóa Việt Nam luôn dựa trên sự lựa chọn lối ứng xử hài hòa của chủ thể văn hóa. Hài hòa với thiên nhiên, hài hòa trong xã hội được biểu hiện ở tất cả các mặt, các lĩnh vực của cuộc sống và trên tất cả các cấp độ, từ cách đối nhân xử thế hàng ngày đến nếp sống, lối tư duy, quan niệm về đạo lý làm người. Do ứng xử hài hòa, văn hóa Việt Nam không cự tuyệt các giá trị văn hóa bên ngoài theo lối cực đoan, mà sẵn sàng tiếp thu một cách có nguyên tắc, không đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc.

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ văn hóa Việt Nam có cơ hội tiếp thu những giá trị từ nhiều nền văn hóa, song cũng chứa đựng nhiều nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc của văn hóa như hiện nay. Để phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bản lĩnh văn hóa Việt Nam phải được củng cố vững vàng trong tình hình mới. Nội dung quan trọng nhất để xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam là tuân thủ quy luật một cách linh hoạt và sáng tạo. Do vậy, xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam hiện nay, chúng ta cần phải có chiến lược phát triển văn hóa một cách khoa học, kết hợp và thể hiện được sự thống nhất giữa tính nguyên tắc với tính linh hoạt, sáng tạo trong vận dụng. Đây là hai mặt của một vấn đề. Nếu vận dụng một cách khoa học, chúng sẽ trở thành tiền đề, động lực phát triển cho nhau; còn nếu vận dụng một cách thiếu khoa học, chúng sẽ cản trở sự phát triển của nhau. Sự thống nhất đó còn phải được thẩm thấu vào tiềm thức của mỗi chủ thể ở các cấp độ khác nhau để tạo ra sự thống nhất, đồng bộ từ trên xuống dưới, thậm chí ở mỗi con người cụ thể.

Bản lĩnh của một nền văn hóa dựa trên sức đề kháng với những tác động từ bên ngoài trong quá trình phát triển và trong quan hệ giao lưu, hội nhập. Trong lịch sử, văn hóa Việt Nam luôn có sức đề kháng to lớn. Nhờ đó, văn hóa Việt Nam đã tạo dựng được bản lĩnh vững vàng trong giữ gìn bản sắc dân tộc. Trước sức mạnh xâm nhập của các giá trị văn hóa bên ngoài, văn hóa Việt Nam đã không bị đồng hóa, không đánh mất bản sắc của mình. Sức đề kháng đó của văn hóa Việt Nam còn có cội nguồn từ tầng sâu của tâm hồn, trí tuệ, lòng tự tôn dân tộc, không chịu khuất phục trong mỗi con người Việt Nam. Cội nguồn sức đề kháng của văn hóa Việt Nam là như vậy, nên chính sách đồng hóa về văn hóa trong suốt thời gian đô hộ cả ngàn năm của phong kiến phương Bắc, thậm chí cả của chủ nghĩa thực dân cũ và mới hơn một trăm năm vẫn không làm phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc.

Hiện nay, sức đề kháng trong bản lĩnh văn hóa Việt Nam lại một lần nữa đứng trước thử thách của sự xâm nhập với quy mô lớn của các giá trị văn hóa bên ngoài. Sự xâm nhập đó không chỉ giới hạn ở quy luật giao lưu, hội nhập văn hóa, mà còn ở chính sách xâm lược về chính trị, quân sự của các thế lực thù địch. Do vậy, giờ đây, hơn lúc nào hết, chúng ta phải có chiến lược nâng cao sức đề kháng của văn hóa Việt Nam, làm cho cơ thể văn hóa Việt Nam được miễn dịch với mọi tác động của các phản giá trị đang làm băng hoại văn hóa. Sức đề kháng đó chỉ có thể có được khi các yếu tố bên trong cấu thành nền văn hóa Việt Nam cùng phát triển và tác động đồng thuận theo định hướng của Đảng ta. Như vậy, Đảng phải tự đổi mới ngang tầm nhiệm vụ để thật sự là đạo đức, là văn minh, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, đủ sức lãnh đạo xây dựng sức đề kháng cho văn hóa Việt Nam trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập hiện nay. Mặt khác, mỗi con người Việt Nam phải thật sự là một chủ thể kiên cường trước sự lôi kéo, mua chuộc của những phản văn hóa. Quá trình nâng cao sức đề kháng cho văn hóa Việt Nam cần trang bị cho mỗi người khả năng nhận thức và tự hào về lịch sử phát triển văn hóa dân tộc với tất cả những giá trị của truyền thống oai hùng trong dựng nước đi đôi với giữ nước. Đồng thời, cần phải tạo ra tâm lý biết hổ thẹn với non sông đất nước khi tổ quốc bị xâm lăng. Trong hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, tội lớn nhất là phản bội dân tộc, rước voi về giày mả tổ, cõng rắn cắn gà nhà. Hiện nay, tệ sùng bái văn hóa phương Tây, quay lưng lại quá khứ, thiếu trách nhiệm với hiện tại và mơ hồ về tương lai dân tộc cần phải được lên án mạnh mẽ và đào thải ra khỏi đời sống xã hội.

Để bản sắc văn hóa dân tộc trở thành bộ lọc tốt, phải xác định rõ ranh giới giữa tinh hoa văn hóa và các yếu tố lạc hậu trong văn hóa truyền thống. Tinh hoa văn hóa có tính bền vững truyền từ đời này sang đời khác, sống mãi với một dân tộc. Nhưng do sự hạn chế có tính lịch sử, văn hóa quá khứ chứa đựng những yếu tố lạc hậu, trở thành vật cản của sự phát triển xã hội. Thực tế cho thấy, một khi buông lỏng quản lý văn hóa trong cơ chế thị trường, thì lập tức mặt trái của cơ chế thị trường tạo điều kiện cho những mặt trái của văn hóa quá khứ (như hủ tục, lệ làng, mê tín dị đoan, tư duy tiểu nông, lối sống lạc hậu…) phát triển nhanh chóng. Cùng nằm trong khuôn khổ của văn hóa quá khứ, nên việc tìm ra ranh giới này không phải đơn giản, dễ nhầm lẫn hoặc rơi vào máy móc, làm tổn hại đến giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Vì thế, việc xác định ranh giới đó là rất cần thiết, nhằm góp phần làm sáng rõ giá trị đích thực của bản sắc văn hóa Việt Nam trong mọi thời đại.

Nâng cao sức đề kháng cho văn hóa Việt Nam, chúng ta còn phải đào thải những phản giá trị nảy sinh từ chính mặt trái của kinh tế thị trường để xây dựng cơ thể văn hóa Việt Nam không còn những nhân tố làm băng hoại đạo đức, lối sống, suy đồi về văn hóa. Một cơ thể văn hóa cường tráng sẽ không còn những vi rút gây bệnh từ bên trong. Sự xâm nhập những phản giá trị từ bên ngoài bao giờ cũng thông qua những phản giá trị nảy sinh từ bên trong. Do vậy, sự thống nhất giữa phòng ngừa, đào thải những phản giá trị ở bên trong với đẩy lùi sự xâm nhập những phản giá trị từ bên ngoài cần được coi là giải pháp hữu hiệu trong xây dựng sức đề kháng cho văn hóa Việt Nam hiện nay.

Một dân tộc chỉ biết mỗi làm giàu là dân tộc thiếu chiều sâu. Mục tiêu mà Đảng ta đề ra là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó là sự kết hợp các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Không thể xây dựng một xã hội văn minh với nền kinh tế lạc hậu, thấp kém; ngược lại, có một nền kinh tế phát triển nhưng thiếu văn minh thì không phải là một xã hội tiến bộ. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để kinh tế và văn hóa phát triển hài hòa trong sự phát triển của xã hội, để kinh tế không phá hoại văn hóa và văn hóa không cản trở sự phát triển kinh tế.

Xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam hiện nay, chúng ta không thể không phát triển tư chất, khí phách, cốt cách của chủ thể văn hóa trong tư thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập. Bởi lẽ, bản lĩnh của một nền văn hóa bao giờ cũng biểu hiện tập trung, sâu sắc ở tư chất, cốt cách và khí phách của chủ thể văn hóa. Mỗi dân tộc đều có tư chất, khí phách riêng trong quan hệ, giao lưu với văn hóa nước ngoài. Văn hóa Việt Nam luôn thể hiện tư chất, cốt cách, khí phách đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Mặc dù là một nước nhỏ bên cạnh nước lớn, trong thế liên tục phải chống lại sự đồng hóa văn hóa, nhưng dân tộc Việt Nam đã hình thành cho mình tư thế hiên ngang, khí phách anh hùng, không chịu khuất phục. Trước sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Hán, nhiều dân tộc xung quanh, mặc dù chiến thắng về quân sự, nhưng lại thất bại về văn hóa, bị đồng hóa về văn hóa và trở thành bản sao của văn hóa Hán. Thế nhưng, cũng trong bối cảnh đó, văn hóa Việt Nam vẫn luôn khẳng định được bản sắc của mình, vẫn giữ được cốt cách, tư chất và khí phách của dân tộc Việt Nam.

Trong bối cảnh quốc tế đầy biến động như hiện nay, dân tộc Việt Nam với tư cách một chủ thể văn hóa càng phải thể hiện rõ cốt cách, tư chất, khí phách của mình để bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam trước những khó khăn, phức tạp mới trong xu thế giao lưu, hội nhập toàn cầu. Để thực hiện điều này, chúng ta cần đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử, truyền thống yêu nước, lòng tự tôn, tự hào dân tộc… để hun đúc khí phách, cốt cách và tư chất con người Việt Nam trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập ngày càng sâu rộng. Đồng thời, nêu cao tính chủ động để sẵn sàng giao lưu, hội nhập, tiếp thu những giá trị văn hóa nhân loại với tư thế, tư chất và khí phách con người Việt Nam.

Xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập hiện nay, chúng ta cũng cần phải gia tăng hàm lượng trí tuệ trong bản sắc văn hóa Việt Nam. Văn hóa và văn minh không đồng nhất, nhưng giữa chúng luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Hiện nay, sự phát triển với tốc độ vũ bão của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là kinh tế tri thức đang mở ra một môi trường cạnh tranh và chạy đua về trí tuệ gay go, phức tạp giữa các quốc gia, dân tộc và tác động sâu sắc đến các nền văn hóa. Trong bối cảnh đó, sự biểu đạt, tiếp thu và lan tỏa những giá trị của một nền văn hóa thể hiện bản lĩnh vững vàng của chủ thể văn hóa một dân tộc cũng cần phải chứa đựng hàm lượng trí tuệ cao. Trong thế ứng xử hiện nay, bản lĩnh của một nền văn hóa không thể có thế mạnh, nếu không có sự gia tăng về hàm lượng trí tuệ.

Để bản lĩnh văn hóa Việt Nam mang tầm thời đại, chúng ta không thể không nâng cao hàm lượng trí tuệ cho nó, bắt đầu từ giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí. Chất lượng và hiệu quả của việc nâng cao dân trí sẽ đem lại cho con người Việt Nam khả năng phân biệt được cái giá trị, cái phản giá trị; cái cần tiếp thu, cái không cần tiếp thu của văn hóa ngoại lai. Trên cơ sở nâng cao trình độ khoa học về mọi mặt, họ sẽ tự khẳng định được tính chủ thể và bản lĩnh của một chủ thể văn hóa tích cực, nhờ đó bản lĩnh văn hóa Việt Nam trở nên thực sự vững vàng trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập toàn cầu hiện nay.

Xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam trong thế ứng xử hiện nay phải tạo thế chủ động trong phát triển văn hóa và trong giao lưu, hội nhập. Xu thế giao lưu, hội nhập có tính chất toàn cầu hiện nay là quy luật phát triển của nhân loại và của từng dân tộc. Một nền văn hóa có bản lĩnh không thể ở thế bị động trong xu thế giao lưu, hội nhập với các nền văn hóa khác. Tạo thế chủ động trong xây dựng bản lĩnh nền văn hóa Việt Nam có ý nghĩa to lớn đối với việc bảo vệ bản sắc dân tộc và sự phát triển của văn hóa Việt Nam. Yêu cầu đó đòi hỏi phải có sự kết hợp một cách hợp lý giữa chiến lược phát triển lâu dài với chủ trương, biện pháp trước mắt; bảo đảm sự hài hòa giữa giữ vững nguyên tắc với phát huy tính chủ động, sáng tạo của mỗi chủ thể ở các cấp độ khác nhau. Tính nguyên tắc trong việc giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc để không trở thành bản sao văn hóa của dân tộc khác là quán triệt quan điểm giai cấp của Đảng, tạo thế chủ động và tích cực tham gia vào xu thế chung, đồng thời cần khắc phục tâm lý lo ngại hoặc tham gia giao lưu, hội nhập một cách vô nguyên tắc.

Trước những yêu cầu ngày càng cao của dân tộc và thời đại, mà trực tiếp là trong xu thế giao lưu, hội nhập hiện nay, xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam vững vàng là vấn đề có tính sống còn trong việc bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Ý thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng ta xác định, phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội. Tư tưởng chỉ đạo này cần được quán triệt sâu rộng và đi vào phong trào quần chúng để mỗi con người, mỗi tổ chức và cả dân tộc ta luôn là chủ thể văn hóa có bản lĩnh vững vàng trong xu thế giao lưu, hội nhập toàn cầu hiện nay.

Nguồn sưu tầm
0
phiếu
0đáp án
392 lượt xem

      Vấn đề giáo dục luôn được chú trọng hàng đầu đối với mọi quốc gia trên thế giới không chỉ ở trong thời kì phát triển như ngày nay mà nó đã được áp dụng từ xa xưa thời phong kiến. Việc giáo dục rất cần thiết để tạo ra nhiều người công dân có ích cho xã hội. Giáo dục ở đây ngoài việc bồi dưỡng về mặt kiến thức mà còn giáo dục việc làm người, đây là điều cốt yếu. 
      Để trở thành một người công dân có ích thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải là một học sinh chân chính. Ông bà ta có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về” cho thấy việc giáo dục con người phải bắt đầu khi còn là một đứa trẻ. “Tre già, măng mọc”, trẻ em hôm nay là những mầm non của tương lai đất nước sau này vì thế những mầm non ấy cần được giáo dục kỹ càng ngay khi còn là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường. Người xưa có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn”, việc giáo dục đạo đức con người là quan trọng hàng đầu, cần phải thực hiện đầu tiên, sau đó mới tới việc dạy chữ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Người có tài mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó” vì thế để trở thành một người có ích thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải là một học chân chính, siêng năng học tốt.

Người công dân có ích là người có đạo đức tốt, không tham gia các tệ nạn xã hội, biết cống hiến hết mình năng lực của bản thân cho đất nước và xã hội. Để trồng một cây con lớn lên, chúng ta phải tốn thời gian khá lâu, nhưng chúng ta phải tốn gấp nhiều lần thời gian ấy để “trồng” một con người có ích. Để có được một phẩm chất đạo đức tốt thì cần phải rèn luyện một thời gian dài, ngay từ khi còn bé chứ không thể vài ngày, vài năm như trồng một cây con. 

Học sinh chân chính là một học sinh có đạo đức tốt,hiếu thảo với cha mẹ, ngoan ngoãn vâng lời thầy cô, siêng năng học tốt. Từ nhỏ, ở nhà cha mẹ đã dạy và tập cho chúng ta nhiều điều hay như gặp người lớn hơn mình phải cuối đầu chào, nhặt được của rơi không được lấy nhà phải trả cho những người bị mất, không được nói tục, chửi thề,…. Và đến khi vào lớp, thầy cô cũng dạy cho chúng ta như thế, phải học thuộc và làm theo những điều trong sách Đạo đức-sách giáo dục công dân, nghiêm cấm không tham gia vào các tệ nạn xã hội. Đạo đức là cái gốc của con người và những việc làm tốt thường xuyên thực hiện dần dần chúng thấm nhuần vào ta tạo thành đức tính và thói quen mà nó sẽ theo ta đến khi trưởng thành, và thế là chúng ta đã, đang và sẽ trở thành những con người có ích.
      Bên cạnh đó là những học sinh thiếu ý thức, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học, cứ long nhong chơi bời, thậm chí còn bị tham gia các tệ nạn xã hội, bài bạc, rượu bia, hút chích,… trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Họ thành ra như vậy một phần là do thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục từ gia đình. Do cha mẹ quá bận rộn làm ăn kiếm tiền hoặc những nguyên nhân chủ quan khác mà bỏ bê con cái, việc này làm ảnh hưởng rất lớn đến tâm lí của chúng và phần còn lại là do những học sinh đó thiếu ý thức, suy nghĩ còn non trẻ, ham chơi, đua đòi,… rồi tất cả đã vô tình bước vào một con đường đen tối, trở thành gánh nặng cho cộng đồng và xã hội.

Có những mảnh đời bất hạnh, từ khi sinh ra đã thiếu đi tình cảm gia đình, sự thương yêu của cha mẹ và cũng không được hưởng thụ về mặt vật chất. Đó là những trẻ em đường phố, cuộc đời em như những nhánh lục bình trôi lênh đênh trên mặt nước, vô bến bờ. Thiếu tình thương, không có điều kiện để sống tốt và được giáo dục đàng hoàng nên một số đã khờ dại vướn vào các tệ nạn xã hội. Một nguyên nhân nữa là do sự thờ ơ của cộng đồng, một vài người không những không biết thương cho số phận của họ, mà còn tỏ ra kinh tởm và khinh bỉ, họ miệt thị những đứa trẻ đó. Khiến chúng tự kỉ và rồi một số thiếu ý thức đã rơi vào hố sâu của tệ nạn, làm xã hội có thêm một gánh nặng.
      Nhưng chúng ta thấy, để trở thành một người có ích không phải khó mà cũng không phải dễ dàng gì. Điều cốt lõi ở đây là việc giáo dục, nhất là giáo dục đạo đức của học sinh. Vì thế để tất cả những mầm non tương lai của đất nước đều trở thành những công dân có ích thì nhà nước ta phải càng chú trọng đầu tư vào việc giáo dục hơn nữa và cần thiết nhất là phải có thêm nhiều chính sách xã hội cho những trẻ em đường phố, vì chúng cũng là những mầm non của đất nước sau này. Bên cạnh đó, tình cảm và sự quan tâm của gia đình cũng rất quan trọng. Nó quyết định tương lai, đức tính của một con người và cả đất nước, xã hội.
       Nước ta là một nước đang phát triển, nhà nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì thế xã hội đang rất cần nhiều công dân có ích để chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước giàu mạnh, do vậy nên mỗi học sinh chúng ta cần phải ý thức thật tốt, là một học sinh chân chính để trở thành những người có ích cho đất nước mai sau.
0
phiếu
0đáp án
730 lượt xem

DÀN Ý
Vai trò, ý nghĩa của môn Ngữ văn trong nhà trường và trong xã hội:
- Giúp con người nhận thức được cái hay , cái đẹp chuẩn mực trong cuộc sống. Vì văn học, khoa học nhân văn là những kết tinh tinh hoa văn hóa nhân loại, lưu truyền những giá trị tốt đẹp của con người qua các thời đại. Giúp con người có bản lĩnh, có suy nghĩ, ứng xử, lối sống đúng đắn , lành mạnh .
- Nếu thiếu văn học, con người sẽ rơi vào bi kịch, như một nhà văn Mê hi cô đã nói: Bi kịch của thời đại chúng ta là thừa trí tueetj, thiếu tâm hồn.
- Môn Ngữ văn là môn học thuộc nhóm công cụ, học tốt Ngữ văn sẽ có tác động tích cực đến các môn học khác
Nguyên nhân hiện tượng học sinh, sinh viên không thích học văn:
- Do lối sống, suy nghĩ thực dụng của học sinh, phụ huynh.

- Do đội ngũ giáo viên dạy văn tâm huyết với nghề ngày càng ít. Nhiều giáo viên bị gánh nặng cuộc sống nhọc nhằn làm mất niềm say mê văn học vốn có.
- Nhiều trường học chưa quan tâm đến đặc thù môn học, chưa có đầu tư, bồi dưỡng giáo viên, chưa có những hoạt động ngoại khóa văn chương để thu hút học sinh…
Một vài phương hướng tháo gỡ:
- Cần có sự quan tâm, hợp sức của toàn xã hội: gia đình, nhà trường, cơ quan nhà nước hướng học sinh chú ý đến vai trò của việc học văn.
- Cần có những giải thưởng tôn vinh tài năng văn học một cách xứng đáng.
- Mở rộng ngành nghề cho các khối thi các môn xã hội…
134

bài tập

Chat chit và chém gió
  • theoofman1093: q 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: u 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: v 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: ư 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: y 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: z 5/8/2020 9:25:29 PM
  • theoofman1093: tui bây ngu như pò 5/8/2020 9:25:38 PM
  • theoofman1093: è 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: sg 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: h 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: sdg 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: ggg 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:05 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:48:06 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:07 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:10 PM
  • theoofman1093: dfgfg 5/8/2020 9:48:11 PM
  • vingoc: hi mn 11/13/2020 9:28:11 PM
  • vingoc: em mới vào ạ 11/13/2020 9:28:24 PM
  • vingoc: ở đây có ai lớp 7 ko ạ? 11/13/2020 9:29:13 PM
  • duolingo: 9 3/28/2021 11:19:10 AM
  • huongmaixm01: văn lớp 9 7/2/2021 11:26:56 AM
  • minhmama357: hi 8/13/2021 4:22:39 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • vipof95962: me may beo vai 11/20/2022 11:53:17 AM
  • vipof95962: wanna watch hentai 11/20/2022 11:53:47 AM
  • vipof95962: laughing 11/20/2022 11:53:49 AM
  • vipof95962: sex is good for you 11/20/2022 11:53:56 AM
  • kkkkkkkk: free fire 11/27/2022 3:22:24 PM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely
  • nguyennhung9904
  • duolingo
  • duolingo