1. Giới thiệu Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt
2. Phân tích tình huống truyện
a) Kim Lân đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo và hấp dẫn. Một anh Tràng xấu xí, thô kệch, dở hơi, lại là dân ngụ cư nghèo kiết xác, bỗng nhiên nhặt được vợ một cách dễ dàng. Tên truyện "Vợ nhặt" kết hợp với tình huống "nhặt vợ" vừa tạo nên sức hấp dẫn, vừa góp phần làm nên chiều sâu tư tưởng của tác phẩm.
b) Tình huống "nhặt vợ" giữa ngày đói đã đem lại cho tác phẩm một cái nhan đề độc đáo: "Vợ nhặt".
- Kim Lân đã kết hợp hai khái niệm đối lập tưởng chừng khó có thể kết hợp được với nhau. Chuyện vợ chồng là chuyện lớn lao hệ trọng của đời người. "Nhặt" là nhặt nhạnh, là lượm được một cách tình cờ, vu vơ.
- Người đọc cảm thấy xót xa khi nghĩa rằng chuyện hạnh phúc của con người giữa ngày đói đã phải diễn ra một cách sơ sài, qua quýt như thế. Và con người ngày ấy bọt bèo rẻ rúng như rơm rác rơi vãi ngoài đường có thể dễ dàng nhặt được. Vì miếng ăn mà một người đàn bà chấp nhận theo không một người đàn ông. Cuộc hôn nhân được tác hợp chỉ bằng bốn bát bánh đúc. Đêm tân hôn diễn ra trong bầu không khí lởn vởn cái chết: "mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt", "có tiếng ai hờ khóc ngoài xóm lọt vào tỉ tê lúc to lúc nhỏ". Bữa ăn đầu tiên của ngày cưới cũng chỉ là bữa cơm thảm hại của ngày đói: "Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muốn ăn với cháo", sau đó là món chè cám "đắng chát và nghẹn bứ trong cổ"...
c) Đó là một tình huống oái oăm, vừa bi vừa hài, vui luồn lẫn lộn.
- Chuyện anh Tràng nhặt vợ khiến ai cũng phải ngạc nhiên và vui mừng.
+ Những người dân trong xóm ngụ cư cảm thấy "lạ lắm. Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. Hình như họ cũng hiểu được đôi phần. Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ". Có người còn "cười lên rung rúc".
+ Bà cụ Tứ - mẹ Tràng - thì ngạc nhiên đến mức không hiểu nổi. Niềm vui trước hạnh phúc của con trai khiến bà "cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên".
+ Bản thân Tràng thì đến lúc đưa vợ về nhà rồi mà "vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?". Cho đến sáng hôm sau mà "hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải".
Những nỗi niềm ấy bộc lộ sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân: ngay trong hoàn cảnh khốn cùng, họ vẫn khao khát yêu thương và trân trọng hạnh phúc.
- Bên cạnh niềm vui là nỗi lo. Chuyện Tràng lấy vợ giữa ngày đói khiến ai cũng phải lo lắng.
+ Những người dân trong xóm ngụ cư cứ băn khoăn: "Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?". Nỗi lo ấy khiến "họ cùng nín lặng".
+ Bà cụ Tứ thì ngậm ngùi thương cảm: "Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không...".
+ Ngay cả bản thân Tràng "cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng".
Nỗi ám ảnh về cái đối đã bủa vây niềm vui hạnh phúc.
3. Kết luận
Câu chuyện về hạnh phúc ngày đói đặt con người trong trạng thái chông chênh giữa niềm vui và nỗi buồn, giữa cay đắng chua xót và ngọt ngào. Tuy nhiên, đọng lại trong lòng người đọc vẫn là chất thơ đặc biệt của tình người lung linh tỏa sáng giữa bóng tối của hoàn cảnh.
Một tình huống truyện như thế đã làm nên giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.