ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC 2011 - TRƯỜNG THPT CHUYÊN HOÀNG VĂN THỤ
Câu 1 (2 điểm)
Cảm nhận của anh chị về hình tượng cây xà nu
- Cây xà nu là hình tượng xuyên xuốt được miêu tả công phu rất đậm nét trong toàn bộ tác phẩm (đặc biệt là phần mở đầu và đoạn kết). Tác giả miêu tả rừng xa nu đầy chất thơ hùng tráng.
- Cây xà nu gắn bó mật thiết với đời sống nhân dân làm Xô man.
+ Trong những sinh hoạt đời thường
+ Trong những sự kiện trọng đại
- Cây xà nu là biểu tượng cuộc sống, phẩm chất cao đẹp của người dân làm Xô man.
+ Cây xà nu chịu nhiều đau thương bởi quân thù tàn bạo.
+ Cây xà nu có sức sống mãnh liệt không có gì tàn phá nổi "cạnh một cây mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên".
Qua hình tượng Cây xà nu ta hiểu biết thêm về cuộc sống của đồng bào Tây Nguyên, thêm yêu quý nhwungx phẩm chất cao đẹp cảu họ.
Câu 2 (3 điểm)
- Hiểu theo nghĩa hẹp nhất, câu nói là lời khen ngợi tài năng của Môda.
- Hiểu theo nghĩa rộng câu nói trên có ý nghĩa:
+ Khi con người trưởng thành sẽ biết đánh giá đúng mình, đúng người. (Thí sinh cần chú ý cách diễn đạt: hai mươi, ba mươi, bốn mươi, bây giờ và trật tự diễn đạt - Tôi và Môda ,Môda và Tôi - Môda . . .)
+ Bài học về đức tính khiêm tốn: cần phải có đức tính khiêm tốn trong học tập cũng như trong cuộc sống. Phải sống gần gũi với mọi người, phải có ý thức trong học tập cũng như trong công việc để không ngừng tiến bộ. Người càng giỏi càng nên khiêm tốn.
(Lưu ý: khiêm tốn không phải là phủ nhận sự tự tin - tự tin là một đức tính rất cần trong học tập cũng như trong cuộc sống, đặc biệt là ở tuổi trẻ)
Câu 3.a (5 điểm)
Nhân vật Việt trong "Những đứa con trong gia đình" của Nguyễn Thi
- Việt là một đứa trong gia đình giàu truyền thống cách mạng ở Nam Bộ. Thù nhà nợ nước đã nuôi dưỡng con người ấy thành người chiến sĩ giải phóng thời chống Mĩ gan góc, kiên ường, quyết liệt mà giàu tình yêu thương, dũng cảm và cũng thật hồn nhiên.
- Nhân vật được khắc họa sống động, chân thực nhờ nhà văn chọn lối trần thuật theo ngôi thứ ba của người kể chuyện tự giấu mình nhưng điểm nhìn, lời kể thì theo giọng điệu của nhân vật. Nói cách khác, Nguyễn Thi đã trao ngồi bút của mình cho Việt để qua những dòng hồi ức miên man, đứt nối của nhân vật Việt khi bị thương nặng, bị lạc giữa chiến trường mà những suy nghĩ tình cảm vẫn được biểu hiện
Nhân vật Tnú trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
- Tnú, đứa con của làng Xô man, "đời nó khổ nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta" (lời cụ Mết). Từ lúc còn nhỏ, Tnú là một cậu bé gan góc, dũng cảm, trung thực. Lớn lên, Tnú thành người chồng, người cha yêu thương vợ con, một người chiến sĩ kiên cường, bất khuất trước cái chết, trước kẻ thù, trung thành với cách mạng. Vẻ đẹp nhân vật được bộc lộ chói sáng trong đoạn cao trào, đầy kịch tính của truyện khi vợ con anh bị tra tấn tới chết, khi bản thân a bị kẻ thù đốt cháy mười đầu ngón tay bằng chính nhựa xà nu của quê mình.
- Câu chuyện về Tnú được cụ Mết kể lại trong một không khí trang nghiêm cảu núi rừng. Lối kể chuyện của già làng như lối kể khan của người Tây nguyên, lời kể của cụ Mết đan xen với lời trần thuật ở ngôi thứ ba. Vẻ đẹp tính cách của nhân vật được làm nổi bật qua so sánh, chiếu ứng giữa thiên nhiên và con người trong nghệ thuật miêu tả; đặc biệt hình ảnh bàn tay được gây ấn tượng đậm nét và sâu sắc.
So sánh
- Điểm tương đồng: Cả hai nhân vật được miêu tả, khắc họa, ngợi ca bằng cảm hứng sử thi và có ý nghĩa điển hình. Ở họ có sự kết tinh sức mạnh, tình cảm, lý tưởng cao đẹp của cộng đồng các thế hệ.
- Điểm khác biệt - nét đẹp riêng - ở mỗi nhân vật: Việt đậm chất Nam Bộ ở ngôn ngữ, ở tính cách sôi nổi, bộc trực, trọng nghĩa. Tnú là nhân vật đậm chất Tây Nguyên với hình ảnh, vóc dáng vạm vỡ chứa đựng trong cái mênh mang trong sạch hoang dại của núi rừng.
Câu 3.b (5 điểm)
Bình giảng đoạn thơ trong "Tiếng hát con tàu" của Chế Lan Viên
Giới thiệu tác giả, tác phẩm đoạn trích
- Từ "Điêu tàn" đến "Ánh sáng và phù sa" là hành trình tư tưởng thơ Chế Lan Viên đi "từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui", "từ chân trời của một người đến chân trời của mọi người".
- Bài thơ "Tiếng hát con tàu" (1960) là bài thơ hay, cảm hứng được gợi từ một sự kiện kinh tế - xã hội từ năm 1958 - 1960 , cuộc vận động nhân dân miền xuôi Tây Bắc góp phần xây dựng đất nước - Đoạn thơ là niềm hạnh phúc, nỗi nhớ, tình yêu của tác giả dành cho nhân dân Tây Bắc.
Niềm hạnh phúc khi gặp lại nhân dân
- Ý nghĩa sâu sa, niềm hạnh phúc bình dị mà lớn lao khi trở về gặp lại nhân dân. Về với nhân dân là về với cội nguồn thiết yếu của cuộc sống, với suối nguồn yêu thương vô tận.
- Một loạt hình ảnh so sánh (5 hình ảnh) kết hợp với hoán dụ được sáng tạo để mở rộng, khơi sâu ý nghĩa của sự trở về.
Hình ảnh nhân vật - "Mẹ yêu thương" sống lại trong dòng hoài niệm của nhân vật trữ tình với nỗi nhớ tha thiết, xúc động và sâu sắc
- Đó là hình ảnh người anh du kích, thằng em liên lạc, là bà mẹ Tây Bắc lần lượt hiện về trong nỗi nhớ và những kỉ niệm được khắc sâu, với những phẩm chất, tâm hồn cao đẹp của những con người đã hy sinh thầm lặng, lớn lao, và sự chở che, đùm bọc toàn vẹn. Hình ảnh nhân dân cần lao nghèo khổ mà giàu nghĩa tình với cách mạng và đất nước được tái hiện thật xúc động.
- Tình cảm dành cho nhân dân không chỉ là nỗi nhớ mà còn là sự kính trọng, và lòng biết ơn vô hạn. Sự hòa quyện giữa những kỉ niệm riêng với tình cảm cách mạng lớn lao đã tạo nên sức truyền cảm cho những câu thơ viết về nhân dân.
- Chủ thể trữ tình nói với nhân dân bằng cách xưng hô chân tình, ruột thịt. Việc sử dụng liên tiếp những điệp ngữ đã tạo được một giọng thơ tha thiết, đầy ắp ân tình. Khái niệm nhân dân vốn trừu tượng đã trở thành những hình ảnh chân thực, gần gũi nhờ những chi tiết cụ thể, gợi cảm và khả năng sáng tạo hình ảnh thơ có khi theo lối tả thực, cụ thể, khi lại tạo ra những liên tưởng bất ngờ.