ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN III (2012) - TRƯỜNG CHUYÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Câu 1:(2 điểm)
Thí sinh cần trình bày được các ý chính sau:
1. Hoàn cảnh sáng tác:
Tháng 10 - 1954,Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô; đây là cuộc chia tay đặc biệt trong hiện thực đời sống cách mạng, nhân sự kiện lịch sử ấy. Tố Hữu viết bài thơ "Việt Bắc", một tác phẩm xuất sắc của ông cũng như thơ ca kháng chiến chống Pháp.(0,5 điểm)
2. "Việt Bắc" là bản anh hùng ca, ca ngợi cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Trong đó tất cả các thành phần tham gia kháng chiến, từ nhân dân đến lãnh tụ, từ bộ đội đến dân công . . . đều thể hiện một tinh thần yêu nước tha thiết, cháy bỏng cùng khát vọng độc lập dân tộc.
3."Việt Bắc" còn là bản tình ca, ca ngợi tình cảm cách mạng gắn bó thủy chung son sắc giữa cán bộ với nhân dân, giữa miền xuôi và miền ngược. (0,5 điểm)
4."Việt Bắc" là bài thơ thể hiện tài năng thơ Tố Hữu: thể lục bát nhuần nhị, đậm màu sắc truyền thống mà vẫn hiện đại ở tình cảm mới, hình thức đối đáp của ca dao, một giọng điệu trữ tình ngọt ngào tha thiết, một phong cách nghệ thuật độc đáo. (0,5 điểm)
Câu 2 (3 điểm)
Học sinh có thể làm theo nhiều cách, song cần chú ý đến các ý chính sau đây theo yêu cầu của bài văn nghị luận xã hội.
1. Ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết là cần thiết và quan trọng. Vì sao? Vì đó là những giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vì họ là những tấm gương sáng trong cuộc sống cần trân trọng, học tập, cần được tuyên truyền, cần được nhân lên nhiều hơn nữa để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn . . . Ca ngợi đúng sẽ có tác dụng tích sực. Tuy nhiên, ca ngợi là một việc làm, dù sao cũng không phải hoàn toàn khó khăn. (1 đểm)
2. "Phê phán là thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh của con người" là bày tỏ thái độ cụ thể trước những hành vi vô cảm của con người với con người , với cộng đồng, với thiên nhiên. . . Đây là một điều tưởng như dễ dàng, nhưng thực sự lại không hẳn như thế, bởi những biểu hiện "thờ ơ, ghẻ lạnh" khá phức tạp, tinh vi; nhiều khi được ngụy biện một cách rất khôn khéo. Hôn nữa, phê phán người khác là điều rất thận trọng, đôi khi vì sợ mất lòng, mất quyền lợi. . . người ta đành bỏ mặc, buông xuôi. Vì vậy, thái độ phê phán ngày càng quan trọng hơn trong cuộc sống, nhất là trong các cuộc đấu tranh chống cái ác và cái xấu đang tồn tại trong xã hội hiện đại. (1 điểm)
3.Phê phán như thế nào để đạt được hiệu quả? Đúng mức độ, đúng hoàn cảnh, đúng đối tượng . . . là cả một nghệ thuật, dù sao, trước cái ác và cái xấu, vẫn cần một thái độ rõ ràng, một lập trường dứt khoát, một bản lĩnh vững vàng. (0,5 điểm)
4. Liên hệ bản thân: Từ nhận thức đến hành động, một quá trình lâu dài, thường xuyên với chính mình, với mọi người cần tỏ rõ một tinh thần cầu thị, xây dựng . . . một tình cảm chân thành, chú ý đến hai vấn đề: vừa ngợi ca vừa phê phán để có niềm tin và nỗ lực phấn đấu hơn nữa . . . (0,5 điểm)
Lưu ý: HS có thể lấy những ví dụ ngoài đời sống, trong văn chương . . . nhưng phù hợp với hệ thống lí lẽ lập luận trong bài viết.
Câu 3.a (5 điểm)
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm và suất sứ đoạn trích cần phân tích. Qúa trình một người tự do, Mị trở thành một món hàng gạt nợ, là con dâu mà thực chất là con nợ của nhà Thống lí vì nghèo khổ, vid tầng lớp thống trị, vì thần quyền. (0,5 điểm)
2. Những đêm tình mùa xuân đã đến được Tô Hoài miêu tả rất tự nhiên, thiên nhiên đất trời đầy nắng, rộn rã tiếng cười, rực rỡ sắc màu . . . một không gian tự do đối lập với không gian tù ngục tăm tối của căn buồng kín mít nơi Mỵ. đã quá quen thuộc. (0,5 điểm)
3. Diễn biến tâm lí của Mỵ. khi mùa xuân về. Tiến gsaso là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc để nhà văn thể hiện quá trình bừng tỉnh của nhân vật, phải là tiếng sáo gọi bạn tình vào đêm xuân. My. thổn thức, Mỵ. nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bồi hồi, Mỵ. uống rượu từng bát, My. nhớ lại quá khứ, My. ý thức thực tại, My. định tự tử, My. thắp sáng ngọn đèn, My. muốn đi chơi. Nhân vật có một quá trình tâm lý khá phức tạp, được nhà văn thể hiện hết sức thành công, đánh thức quá khứ, nhìn nhận thực tại, tiếng sáo nâng đỡ My. về thực tại cuộc sống . . Từ một "con rùa", My. đã trở thành một cô gái phơi phới trở lại đang thức dậy khao khát tuổi trẻ và tình yêu. (1 điểm)
4. Qua việc thể hiện diễn biến đời sống tâm lý của My., ta nhận thấy những nét tính cách nổi bật của nhân vật: vừa nhẫn nhịn tưởng chừng như đầu hàng với hoàn cảnh, nhưng vừa có khả năng phản kháng quyết liệt, My. có trái tim nhạy cảm, một tâm hồn tinh tế và một tính cách mạnh mẽ, yêu tự do và phóng khoáng, sống trong tủi nhục và cay đắng, "quen trong cái khổ", nhưng khi có một hoàn cảnh nhân đạo - dù thoáng qua, My. vẫn thể hiện nét đẹp khỏe khoắn trong tâm hồn chất phác, trong trẻo của người lao động miền núi.
5. My. bị ném trả lại không gian ngục tù khi A Sử xuất hiện. Hắn trói My., tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng một cách thản nhiên, nhưng ngọn đèn trong lòng My. vẫn âm ỉ lẩn khuất đâu đó, có thể còn dữ dội hơn, một diễn biến tâm lí tiếp theo được Tô Hoài thể hiện càng thành công hơn: "My. nửa mê nửa tỉnh", vừa còn dư âm của khát vọng, vừa phải đối diện với hiện thực nghiệt ngã, tiếng sáo vẫn còn, nhưng xen với tiếng chó sủa, tiếng chân ngựa đạp vào vách. Thêm một lần nữa My. nghĩ đến thân phận của mình, "không bằng con ngựa". Dù chưa thể vượt thoát được hoàn cảnh, nhưng như một cuộc diễn tập cần thiết để nhân vật có thể tự giải phóng mình khi gặp và cởi trói cho A Phủ.(1 điểm)
6. Đánh giá chung: Về sức sống của nhân vật và tài năng thể hiện tâm lý nhân vật của Tô Hoài. Qua trích đoạn này, tác giả đã khẳng định: Ngục tù không thể giết chết được khát vọng của tình yêu, sự sống, tự do của người lao động miền núi. Đó cũng là lý tưởng mà có lần Tô Hoài từng tâm sự.
Câu 3 b.(5 điểm)
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Là một nhà thơ nổi tiếng từ thủa" Điêu tàn" sau cách mạng năm 1945, Chế Lan Viên tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác, trên chặng đường "Phá cô đơn ta hào hợp với người", ông thành công với "Tiếng hát con tàu" nhờ "ánh sáng" của Đảng, của Cách mạng soi đường, và "phù sa" của nhân dân bồi đắp.(0,5 điểm)
2. Bài thơ còn có tên ban đầu là "Con tàu Tây Bắc". Con tàu là một hình ảnh đầy ẩn dụ của nhà thơ, "Con tàu" trước hết là tiếng gọi của Đảng, Nhà nước vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế miền núi vào những năm 1958 - 1960, là tiếng của đất nước gọi ta".
- Con tàu còn mang ý nghĩa như chính tiếng lòng ta gọi . Bởi vậy, khổ thơ đầu tiên là lời gọi chính mình - sự phân thân của tác giả. Chú ý biện pháp nghệ thuật sở trường của nhà thơ là đối lập, nhằm giúp tự nhận thức sâu sắc hơn về :đi xa và ở gần, giữa gió ngàn và Hà Nội. Sự đối lập ấy còn giúp người đọc cùng suy ngẫm, chiêm nghiệm về ý nghĩa về sự tồn tại giữa cái tôi và cái ta. Những câu hỏi đang thể hiện tâm trạng phân vân lưỡng lự giữa đi và ở của chính tác giả. Điều này càng thấm thía với ai cùng thế hệ với nhà thơ mọi thời " Tổ quốc trong lòng ta mà có như không". Tóm lại từ hình ảnh mới mẻ, sáng tạo đến những thủ pháp nghệ thuật phù hợp tác giả dẫn dắt người đọc vào cách nghĩ của riêng mình mà vẫn dễ dàng được chia sẻ.
3. Một lần nữa ở khổ thơ thứ hai, vẫn là lời mời gọi thiết tha, nhắc nhở chân thành: vẫn biện pháp nghệ thuật đối lập nhằm thức tỉnh bản thân cũng như chia sẻ cùng người đọc: không thể có ý nghĩa nếu chối từ lời mời gọi của con tàu
- Cụ thể "đất nước" và "đời anh", lớn lao và nhỏ hẹp. Đó là mối liên hệ giữa cái rộng lớn và cái tôi vô nghĩa. Giọt nước chỉ có thể tồn tại khi hòa vào đại dương
- "Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép" là câu thơ như đang nói với chính mình. Chế Lan Viên thường có cách kể chuyện độc đáo về chuyện nghề văn, về bản thân trong quá khứ: "Tôi vẫn khép phòng văn hì hục viết / Nắng trôi đi oan uổng biết bao ngày"." Tâm hồn anh chờ gặp ở trên kia" là cách diễn đạt ngày càng độc đáo. Sự phân thân càng rõ ràng hơn khi xem thể xác ở đây", còn tâm hồn trang "trên kia". Và "Tây Bắc" không còn nghĩa địa danh cụ thể nữa (Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc), mà là muôn nẻo đường trên quê hương, đất nước. Nghe theo tiến gọi của con tàu, sẽ gặp lại nhân dân, sẽ tìm lại chính mình, sẽ có hồn thơ hồi sinh, sẽ là cuộc sống của chính thơ ca thực sự có ý nghĩa. (1,5 điểm)
4. Cần đặt hai câu thơ trong hệ thống toàn bài thơ (các khổ thơ đề từ) mới phân tích bình giảng sâu sắc tính chỉnh thể của hình ảnh ẩn dụ: con tàu, Tây Bắc, tâm hồn anh, tâm hồn ta . . .
- "Con tàu này lên Tây Bắc . . ."
- "Tàu gọi anh đi . . . "
- "Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi"
- " Khi lòng ta đã hóa những con tàu"
- "Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia"
- "Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu"
- "Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc"
Những hình ảnh trùng phức, nhưng thống nhất chặt chẽ, thể hiện tập trung chủ đề tư tưởng của tác phẩm. (1 điểm)
5. Đánh giá chung: Bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên: Chất triết lý sâu sắc, hình ảnh mới mẻ, độc đáo. Kết hợp giữa vẻ đẹp tài hoa cảm xúc chân thành, mãnh liệt, thơ ông có sức hấp dẫn với nhiều thế hệ độc giả.
Hai khổ thơ có nhiều hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng cùng cách diễn đạt độc đáo lấp lánh vẻ đẹp trí tuệ của nhà thơ Chế Lan Viên. Tác giả tự nhắc nhở mình chân thành và thấm thía trên quá trình đến với nhân dân, Tổ quốc mình của người nghệ sĩ trong hành trình "từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui" cùng "con tàu" hòa nhập giữa "lòng ta" và "đất nước"; khi đó hòa hợp cùng cất lên tiếng thơ - "tiếng hát" có ích cho cách mạng, cho nhân dân, cho Tổ quốc mình. (0,5 điểm)
Lưu ý: Tôn trọng những bài viết sáng tạo, có thể có những ý kiến riêng, quan điểm cá nhân, nhưng được trình bày hợp lý, thuyết phục.