ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN III (2012) - TRƯỜNG CHUYÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Câu 1: (2 điểm)
Đây là câu hỏi tái hiện kiến thức, yêu cầu học sinh trình bày ngắn gọn, chính xác, mạch lạc. Bài làm cần nêu được những ý chính cơ bản sau:
Ý chính:
1. Hồ Chí Minh coi văn chương trước hết là vũ khí chiến đấu phụng sự đắc lực cho sự nghiệp cách mạng (1,0 điểm)
2. Người đặc biệt coi trọng đối tượng, mục đích sáng tạo của văn chương. (0,5 điểm)
2. Hồ Chí Minh đề cao tính chân thực của văn chương (0,5 điểm)
Câu 2 (3,0 điểm) học sinh có thể đưa ra những ý kiến riêng, trình bày và diễn đạt theo cách khác nhau, song cần đảm bảo những ý chính sau:
Ý chính:
1: Giải thích ngắn gọn í kiến:
+ "Đối xử với bản thân bằng lý trí": là yêu cầu về cách ứng sử của con người đối với chính mình. Theo đó con người phải có khả năng tự nhận thức, tự đánh giá về mình một cách tỉnh táo, sáng suốt, nghiêm khắc, thậm chí khắt khe. Có như vậy, mới lịp thời nhận ra rõ những hạn chế, nhược điểm của mình để tránh và tìm cách khắc phục. Quan trọng hơn là tạo cho mình khả năng làm chủ trong mọi tình huống, nhất là trong mọi cám dỗ.
+ "Đối xử với người khác bằng tấm lòng": là yêu cầu về cách ứng xử của con người với mọi người xung quanh mình - người thân (ruột thịt, họ hàng), người làng xóm, bạn bè, đồng nghiệp đồng bào, ... Theo đó, con người phải luôn nhìn nhận, đánh giá người khác bằng "tấm lòng" - yêu thương, bao dung, độ lượng, chia sẻ, giúp đỡ, vị tha: sẵn sàng chịu thiệt thòi, tự nguyện chấp nhận hy sinh, cưu mang đùm bọc, không kì thị, hắt hủi, xua đuổi, dửng dưng. Có như vậy mỗi con người mới có thể góp phần hạn chế những bất hạnh, đau khổ trong xã hội, cứu vớt, nâng đỡ những tâm hồn tội lỗi, ... Cũng theo đó, con người tìm được những ý nghĩa tốt đẹp của cuộc sống trong sự gắn bó, hòa hợp với cộng đồng. Khi đối sử với người khác bằng cả tấm lòng, ta mới có thể đón nhận tấm lòng từ mọi người. Bởi cái ta "nhận" sẽ chính là cái ta từng "cho".
Như vậy, câu ngạn ngữ Nga đã nêu ra bài học sâu sắc về cách ứng sử với chính mình và với mọi người: với mình phải nghiêm khắc với người cần bao dung, dộ lượng, vị tha, yêu thương. (1,0 điểm)
2. Bàn luận
+ Trong thực tế cuộc sống, "Đối xử với bản thân bằng lý trí" là cần thiết. Song, trong những tình huống cụ thể cũng cần đối sử với chính mình bằng tấm lòng: cần biết cách tự tha thứ cho mình. Mọi người biết sống khoan dung với chính mình mới có thể khoan dung cho người khác.
+ Cũng vậy, "Đối xử với người khác bằng tấm lòng" là đúng. Nhưng có người, có việc lại rất cần phải "lý trí", nghĩa là phải nghiêm túc, tỉnh táo. (0,5 điểm)
+ Cần tránh những cách ứng sử cực đoan với bản thân, người khác.
- Qúa "lý trí" với mình, sẽ biến mình thành người sống nguyên tắc, cứng chắc, thậm chí khô khan, giáo điều. Một người như thế sẽ khó biết đối sử với người khác bằng tấm lòng yêu thương, khoan dung, độ lượng.
- Qúa dễ dãi khi dành "tấm lòng " cho người khác: yêu thương không đúng cách, bao dung không đúng việc, vị tha không đúng người, đúng lúc, ... có thể gây hại cho người mình yêu thương, dễ bị người xấu lạm dụng. (0,5 điểm)
+ Như thế, ý nghĩa câu ngạn ngữ trên, khi vận dụng cần linh hoạt. Mỗi người cân nhắc đều lựa chọn cách ứng xử với mình và với người khác sao cho phù hợp.
3. Liên hệ bản thân
Câu IIIa (5 điểm). Học sinh có thể trình bày, diễn đạt theo những cách khác nhau nhưng bài làm cần đảm bảo các ý sau:
Ý chính:
1. Giới thiệu chung:
+ Huy Cận là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ Mới lãng mạn của Việt Nam (1932 - 1945). Gửi trong hệ thống nghệ thuật (thi liệu, thi ngôn, thi tứ, bút pháp, ..) đậm đà màu sắc Đường thi hòa hợp với những nét thi pháp thơ tượng trưng ... là một hồn thơ buồn sầu đến "ảo não" nhưng vẫn yêu, gắn bó thiết tha, sâu nặng với thiên nhiên đất nước, gia đình.
+Clà một trong những thi phẩm kết tinh được bản sắc rất riêng của hồn thơ Huy Cận (0,5 điểm)
2. Phân tích:
+ Bản sắc cái tôi trong thơ trữ tình:
- Trong tác phẩm trữ tình cũng có nhân vật. Đó là nhân vật trữ tình, khác với nhân vật trữ tình trong tác phẩm tự sự, nhân vật trữ tình không được khắc họa nhiều về ngoại hình, hành động,... với tính cách, số phận diễn biến phức tạp mà chủ yếu thể hiện qua giọng điệu, trạng thái cảm xúc, tâm hồn.
- Cái tôi - trữ tình là một dạng thức của nhân vật trữ tình. Đó chính là nhân vật trữ tình - tác giả, thường được nhận diện bởi xưng hô "ta ", "tôi" trong thơ.
- Bản sắc cái tôi - trữ tình là đặc điểm riêng, khác biệt, có tính thẩm mỹ để phân biết nhân vật trữ tình - tác giả giữa thi phẩm kia cùng hoặc khác tác giả. (0,5 điểm)
+ Bản sắc cái tôi của Huy Cận thời Thơ mới qua bài thơ:
- Cái tôi sầu đến "ảo não" vì thấm thía nỗi cô đơn, lẻ loi và thấy mình lạc lõng, bế tắc giữa không gian vũ trụ cao, sâu, dài, rộng đến rợn ngợp của cảnh vaath thiên nhiên sống nước Tràng giang (d/c và phân tích các hình ảnh, chi tiết : sóng ... buồn điệp điệp/ thuyền xuôi mái/ nước sầu trăm ngả/ củi một cành khô lạc mấy dòng/ bến cô liêu/ bèo giạt/ không cầu/ không ... đò/ chim nghiêng cảnh nhỏ bóng chiều sa, ...)
Mỗi hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ dường như đều là một hóa thân của cái tôi - Huy Cận mang trong mình nỗi "sầu vạn kỷ: , mối "thiên cổ sầu". (2,0 điểm)
- Cái tôi yêu tha thiết cảnh vật thiên nhiên đất nước (dẫn chứng và phân tích :sóng/ nước/ thuyến/ cồn/ gió/làng/ chợ/ bờ bãi/ bầu trời chiều, ... )
Tình yêu đó gửi trong cảnh sắc thiên nhiên vừa trang trọng, cổ điển vừa chân thực, gần gũi, thi vị hùng vĩ nhưng buồn vắng. (0,75 điểm)
- Cái tôi gắn bó sâu nặng với quê hương, gia đình. (d/c và phân tích hai câu cuối)
3. Đánh giá chung:
+ "Tràng giang" in đậm dấu ấn một cái tôi - trữ tình Huy Cận "Trọn kiếp mắt ... tường đẫm lệ" , một cái tôi Huy Cận "Cùng đất nước mà nặng buồn sông núi". Thực chất là một cái tôi - Huy Cận mang trong mình một tình yêu đất nước thầm kín.
+ Cùng Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, ... Huy Cận đã góp cho phong tào Thơ mới lãng mạn Việt Nam (1932 - 1945) một "gương mặt nghệ thuật riêng", làm phong phú, đa dạng những cái tôi - trữ tình vốn đã muôn màu của phong trào thi ca này. (0,5 điểm)
Câu IIIb (5 điểm). Học sinh có thể trình bày, diễn đạt theo những cách khác nhau nhưng bài làm cần đảm bảo các ý sau:
Ý chính:
1. Giới thiệu chung:
+ Nguyễn Trung Thành là cây bút đặc biệt say mê những vẻ đẹp của thiên nhiên và con người vùng đất ấy: "Đất nước đứng lên", "Rừng xà nu".
+ "Rừng xà nu" được coi là một "Đất nước đứng lên" thu nhỏ thời chống Mỹ. Đó là khú hùng ca về một Tây Nguyên với thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ cùng những con người bất khuất, bất diệt.
+ Hình tượng xà nu là một trong những hình tượng nghệ thuật để lại cho người đọc ấn tượng sâu sắc, khó quên. (0,5 điểm)
2. Cảm nhận:
+ Hình tượng xà nu được miêu tả chân thực như một cảnh thiên nhiên quen thuộc, gần gũi, gắn bó với con người Tây Nguyên từ bao đời (sự xuất hiện của xà nu ở đoạn văn đầu, rải rác trong diễn biến cốt truyện, ở phần kết thúc tác phẩm). (0,5 điểm)
+ Hình tượng xà nu là hiện thân cho sức sống mãnh liệt, kì diệu cùng vẻ đẹp nên thơ, tráng lệ, hùng vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên trong sự hủy diệt tàn khốc của kẻ thù (d/c và phân tích) (2,0 điểm)
+ Hình tượng xà nu còn được miêu tả như một biểu tượng về các thế hệ con người Tây Nguyên đau thương mà kiên cường,bất khuất, bất diệt (d/c và phân tích) (1,0 điểm)
3. Đánh giá chung:
+ Hình tượng xà nu là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Trung Thành, được khắc họa bằng hệ thống nghệ thuật giàu chất sử thi, lãng mạn (ngôn ngữ giàu chất thơ, bút pháp sử thi, giọng điệu trang trọng, hào hùng, kết cấu trùng điệp, ...)
+ Hình tượng này đã góp phần biểu đạt một phương tiện quan trọng làm nên chủ đề tư tưởng tác phẩm gửi trong phát ngôn giàu sức khái quát, đầy tự hào, kiêu hãnh của cụ Mết " Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta, cây mẹ ngã, cây con mọc lên. Đố chúng nó giết hết rừng xà nu này": Khẳng định, biểu dương sức sống mãnh liệt và bất diệt của thiên nhiên và con người Tây Nguyên trong đấu tranh cách mạng.
+ Đồng thời, đây cũng là hình tượng tạo nên bối cảnh mang đậm chất sử thi để tác giả khắc họa nổi bật vẻ đẹp sử thi của các thế hệ con người Tây Nguyên trong đấu tranh cách mạng ở tác phẩm. (1,0 điểm)