ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN V (2012) - TRƯỜNG CHUYÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Câu 1. Thí sinh trình bày ngắn gọn, chính xác, mạch lạc những ý cơ bản sau:
- Tiếng sáo gợi không khí lễ hội, thể hiện tài miêu tả phong tục của Tô Hoài ... (0,5 điểm)
- Tiếng sáo là ngoại cảnh tác động, làm thay đổi tâm lí của My., đánh thức My. ... (0,5 điểm)
- Tiếng sáo là tiếng lòng của người con gái có sức sống tiềm tàng, có khao khát tình yêu mãnh liệt, đang hồi sinh .. sự gặp gỡ giữa ngoại cảnh và nội tâm đã làm nên biến đổi sâu sắc của người con gái Tây Bắc . . . Chi tiết này góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo của nhà văn.(1 điểm)
Câu 2 (3 điểm) HS có thể đưa ra những ý kiến riêng, trình bày theo các chách khác nhua, sau cần đảm bảo các ý chính sau:
1. Giải thích
- Sử dụng hình ảnh sống động và lập luận so sánh, Xuân Diệu thể hiện một lựa chọn sống hết sức quyết liệt
+ Một phút huy hoàng: Sống hết mình, khẳng định mình, để lại dấu ấn của mình giữa cuộc đời, dù sau này có tàn lụi (rồi chợt tối)
+ Buồn le lói xuốt trăm năm: sống mờ nhạt yếu đuối, vô nghĩa, không được mọi người biết đến
- Câu thơ của Xuân Diệu ra đời trong bối cảnh thế hệ tri thức Việt Nam đón ngọn gió phương Tây với tất cả sự háo hức. Họ bừng tỉnh ý thức cá nhân, muốn phủ nhận lối sống gò bó, khuôn mẫu, mờ nhạt, từ đó vươn lên lối sống để tận hưởng và tận hiến. . .
2. Bàn luận và liên hệ
+ Trong thời điểm ra đời, câu thơ của Xuân Diệu là một thời tuyên chiến với quan niệm sống cũ, là tuyên ngôn sống của tri thức tiến bộ ngày ấy.
+ Đến hôm nay quan niệm này vẫn thể hiên được khía cạnh tích cực: "giục giã" người ta sống hồn nhiên, sống cống hiến, tránh lối sống "lưng chừng", yếu ớt. Bởi suy đến cùng, giá trị của đời người không phải ở thời gian sống mà ở chất lượng sống, ở những gì người ta cống hiến cho cuộc đời. (0,75 điểm0
+ Tuy nhiên, có không ít người hiểu quan niệm này một cách lệch lạc. Họ sống nông nổi, sống vội, "đốt cháy giai đoạn", bất chấp, khẳng định một cách tiêu cực, dẫn tới cả đoạn đời còn lại họ phải gánh chịu hậu quả của chính mình .(0,5 điểm)
+ Cần có quan điểm sống hài hòa. Để làm rõ được điều đó, mỗi chúng ta, nhất là học sinh, phải xác định được quan niệm sống lành mạnh (biết cống hiến và hưởng thụ; biết sống cho hiện tại và tương lai, biết vì mình và mọi người ... (0,75 điểm)
Câu 3.a (5 điểm) Thí sinh cần bộc lộ rõ kỹ năng viết văn nghị luận văn học, năng lực cảm thụ văn học. Có thể viết nhiều cách khác nhau, nhưng cần có các ý chính sau.
1. Giới thiệu chung:(0,75 điểm)
- Nam Cao và" Chí Phèo": Nam Cao là nhà văn có đóng góp quan trọng cho văn học Việt Nam, đặc biệt ở giai đoạn trước cách mạng thánh tám với tư cách nhà văn hiện thực phê phán. Truyện ngắn "Chí Phèo" là kiêt tác của nhà văn Nam Cao ra đời năm 1941, tiêu biểu cho mảng viết về nông dân (bị bần cùng hóa, lưu manh hóa)
- Kim Lân và "Vợ Nhặt": Kim Lân viết không nhiều, nhưng tác phẩm của ông để lại dấu ấn đặc biệt, truyện ngắn "Vợ Nhặt" (hoàn thành năm 1954) có "tiền thân" là " Xóm ngụ cư", là tác phẩm xuất sắc của ông về người nông dân trong nạn đói Ất Dậu
- Đối với truyện ngắn, kết thúc tác phẩm có ý nghĩa đặc biệt, qua đó ta thấy được cả tài năng và tấm lòng của nhà văn. Kim Lân và Nam Cao đều là những nhà văn lớn, hai kết thúc truyện viết về cùng đề tài của họ có những nét chung và riệng thú vị, ý nghĩa.
2. Điểm chung (0,25 điểm)
- Ra đời ở thời điểm khác nhau nhưng bối cảnh hai truyện ngắn trên vẫn có nét chung. Hai nhà văn lại cùng thế hệ, cùng chứng kiến những biến động, những sự thật của thời đại, do đó kết truyện của họ có điểm gặp gỡ.
- Đó là tình cảnh khốn cùng của người nông dân, họ đối diện với sự bế tắc không gì vượt qua được. Gia đìng tràng phải ăn cháo cám, cuộc sống đã bấp bênh giờ lại thêm một miệng ăn lại càng bấp bênh hơn, bên tai họ vẳng tiếng thúc thuế . . Còn Chí Phèo phải kết thúc cuộc đời mình, Thị Nở nhìn bà cô, rồi nhìn trộm xuống bụng, trong đầu thị thoáng hiện ra cái lò gạch xa nhà cửa và vắng người qua lại.
- Qua hai kết thúc này, ta đều nhận được sự cảm thông, thấu hiểu của nhà văn về thân phận của con người trong xã hội thực dan nửa phong kiến.
3. Điểm riêng của kết thúc chuyện ngắn "Chí Phèo" (1,75 điểm)
- Đây là kết thúc nằm trong kết thúc đầu cuối tương ứng, tạo nên ám ảnh đặc biệt với người đọc. Chí Phèo bị bỏ rơi, rất có thể đứa con của Chí Phèo và Thị Nở sẽ lặp lại số phận của cha, mẹ mình.
- Nam Cao dõi theo cả hành trình tha hóa và khát vọng trở lại làm người lương thiện của Chí Phèo. Mối tình của Chí Phèo và Thị nở, mong ước được hòa nhập với cộng đồng, được trở lại làm con người lương thiện của Chí Phèo mang theo niềm tin của nhà văn vào những con người không còn được ai tin.
- Tuy nhiên, cuối cùng, nhà văn vẫn phải để cho mối tình của Chí Phèo tan vỡ, Chí Phèo tự kết liễu đời mình, có thể đứa con của Chí Phèo cũng bế tắc, cay cực như cha. Kết thúc này thể hiện cái nhìn hiện thực của nhà văn: ông lên tiếng tố casco xã hội, lên tiếng kêu cứu cho con người.
-> Sống trong xã hội cũ, những trải nghiệm và quan niệm nghệ thuật riêng, Nam Cao đã xây dựng một kết thúc đậm chất hiện thực và nhân đạo.
4. Điểm riêng của kết thúc truyện ngắn "Vợ Nhặt" (0,75 điểm)
- Kết thúc của truyện ngắn "Vợ Nhặt" gắn liền với tình huống "nhặt vợ" oái oăm trong tác phẩm. Tràng đã nhặt được thị trong bối cảnh cái đói, cái chết hiện diện khắp nơi. Khi gắn kết là một gia đình, cái đói vẫn hiện hữu, cái chết vẫn rình rập đâu đây.
- Khác với Nam Cao, để cho Tràng và Thị đến với nhau, nhà văn phát hiện ra những thay đổi tích cực của hai người. Tràng hạnh phúc và ra giáng một người trụ cột trong gia đình. Thị từ chỗ tìm miếng ăn, chốn ở, đã sẵn sàng ở lại chia sẻ, dù nhà Tràng chẳng "rích - bố - cu", chẳng có "cơm trắng mấy giò". . .
- Truyện mở đầu bằng cảnh u ám, nhưng lại kết thúc trong cảnh tươi sáng, ánh sáng buổi sớm mai, ánh sáng của lá cờ đỏ sao vàng hiện ra trong đầu Tràng, ánh sáng của niềm hạnh phúc, của niềm lạc quan . . người ta hình dung, một ngày không xa, Tràng và Thị có thể có mặt trong các cuộc biểu tình, phá kho thóc Nhật. Dường như đây chính là phương pháp mà Kim Lân gợi ra để nhân vật của mình có thực sự thay đổi số phận. Nhà văn bộc lộ tình thương và niềm tin vào con người.
-> Có lẽ từng chứng kiến những khổ đau và cả sức mạnh của người nông dân trong cuộc cách mạng tháng Tám và chiến thắng Điện Biên Phủ, Kim Lân đã có một kết thúc mạnh dạn, mang dấu ấn thời đại.
5. Đánh giá chung: Với kết thúc truyện độc đáo, hấp dẫn, ý nghĩa, Nam Cao và Kim Lân đã tạo ra những kiệt tác của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Họ đã để lại những bài học về tài năng và tấm lòng người nghệ sĩ.
Câu 3.b. (5 điểm)
1. Giới thiệu chung (0,75 điểm)
- Chế Lan Viên và "Tiếng hát con tàu": Chế Lan Viên là nhà thơ đóng góp cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam ở cả chặng đường trước và sau cách mạng thánh Tám với những vần thơ đậm chất trí tuệ. Đoạn thơ nằm trong bài thơ "Tiếng hát con tàu" sáng tác vào giai đoạn 1958 - 190 (in trong "Ánh sáng và phù sa"). Tác phẩm ra đời gắn liền với sự kiện kinh tế chính trị, nhưng nó không dừng lại ở tuyên truyền. Nhà thơ đã thể hiện được hành trình tư tưởng của mình :Đó là hướng đến nhân dân đến cuộc sống chân lí nghệ thuật.
- Xuân Quỳnh và "Sóng" : Xuân Quỳnh là nhà thơ trưởng thành trong cuộc khánh chiến chống Mỹ. Thơ Xuân Quỳnh đằm thắm, thông minh, thể hiện sự chân thành, nhân hậu, đặc biệt trong những bài thơ viết về tình yêu và hạnh phúc. Bài thơ "Sóng" (nằm trong tập "Hoa dọc chiến hào") thể hiện những chiêm nghiệm của người phụ nữ trong tình yêu.
2. Cả hai bài thơ đều có những câu thơ thể hiện nỗi nhớ. Nỗi nhớ là thước đo của tình yêu, của tình người, nỗi nhớ khiến ta thấy vẻ đẹp tâm hồn con người.
3. Đoạn thơ trong bài thơ "Tiếng hát con tàu" của Chế Lan Viên (1,75 điểm)
- Khổ thơ nằm trong hành trình của con tàu tâm tưởng đang ngược dòng thời gian trở về những ân tình cách mạng. Nhân vật trữ tình ở đây là nhà thơ - người chiến sĩ đã từng gắn bó, được đại gia đình Tây Bắc che chở, yêu thương. "Con" nhớ "anh con ", "em con", "mế", "bản", "đèo" rồi "bỗng nhớ em", đột ngột, cháy bỏng như một tất yếu.
- Chế Lan Viên, như thường lệ đã dùng ngôn ngữ sáng tạo với những liên tưởng so sánh đậm chất trí tuệ kết hợp giữa cảm xúc và triết lí để khơi gợi cảm xúc và đánh thức nhận thức cảu người đọc. Tác giả đã giúp ta nhận ra được vẻ kì diệu của tình yêu: lung linh sắc màu, đặc biệt với tình yêu đôi lứa. tình cảm riêng tư và tình cảm cách mạng hòa vào một, để mỗi nhà thơ, mỗi chiến sĩ có thêm quê hương thứ hai của mình. Tình yêu ấy cao cả và thiêng liêng. nỗi nhớ và tình yêu trong đoạn thơ gắn liền với tình cảm biết ởn với nhân dân và cuộc sống, góp phần làm nên những nhận thức của nhà thơ về lẽ sống, quan niệm tác giả.
4. Đoạn thơ trong bài "Sóng" của Xuân Quỳnh (1,75 điểm)
- Đoạn thơ gắn liền với hành trình "Sóng" và "em" "tìm ra tận bể" để tìm và lí giải câu hỏi đầy trăn trở về tình yêu về trái tim người phụ nữ khi yêu.
- Nhân vật trữ tình ở đây là người phụ nữ nhạy cảm, đa ưu, thông minh, mãnh liệt trong tình yêu. Cái "tôi" Xuân Quỳnh đã nhập vào "sóng" và "em" để trải nghiệm, hiểu mình, hiểu người. hiểu tình yêu của mình. Trong khoảng cách của thời gain và không gian, nỗi nhớ hiện ra thường trực, hơn thế, nó chiếm lĩnh được cả ý thức và tiềm thức . . .
- Với thể thơ ngũ ngôn, nhịp thơ nói được nhịp trái tim, hình ảnh ẩn dụ, thủ pháp đối điệp cấu trúc câu, diệp từ, điệp ngữ . . . Xuân Quỳnh đã tạo nên những câu thơ giàu nhạc điệu. Qua những câu thơ này, nữ sĩ đã thể hiện được những khám phá của vẻ đẹp tình yêu chân thành, nồng nàn, sự thủy chung tha thiết trong trái tim người phụ nữ Việt Nam.
5. Hai đoạn thơ giúp chúng ta hiểu thêm về con người, thấy được nét đặc sắc trong phong cách mỗi nhà thơ. (0,5 điểm)