ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG - KHỐI N, M, H - 2004
Câu 1. Các ý chính:
1. Hoàn cảnh ra đời bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu
a. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954) Hiệp định Giơnevơ được kí kết, hòa bình được lặp lại, một trnag sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra. Tháng 10-1954, các cơ quan của trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc, nơi đã che chở nuôi dưỡng cách mạng trong suốt những năm trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp trở về Hà Nội.
b. Cuộc sống thay đổi có tính chất bước ngoặt: Từ chiến tranh sang hòa bình, từ núi rừng về thành thị: Biết bao lưu luyến ân tình với những nơi đã từng đồng cam cộng khiir, với những người đã từng "chia ngọt sẻ bùi". Người ra đi không khỏi bâng khuâng thương nhớ, người ở lại cũng không khỏi bịn rịn, trống trải, bùi ngùi,.... Nhân sự kiện có tính chất thời sự và lịch sử ấy, Tố Hữu - một cán bộ của Đảng, một nhà thơ lớn của cách mạng đã sáng tác bài thơ Việt Bắc và tháng 10-1954. Bài thơ đã có vinh dự làm tên chung cho cả tập thơ Việt Bắc, một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một tác phẩm vui xuất sắc của thơ Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.
2 .Nhận xét và cách sử dụng hai từ "mình" và "ta" trong bài thơ
a. "Mình" và "ta" là cách xưng hô thường thấy trong ca dao của dân tộc (Mình về có nhớ ta chăng - Ta về ta nhớ hàm răng mình cười"; hoặc "Mình bảo với ta mình hãy còn son - Ta đi qua ngõ thấy con mình bò"...) Thông thường "ta" và "mình" không phải là một. Nhưng trong quan hệ thân thiết việc xưng hô "mình, ta" tạo nên sự thân thiết, gần gũi. Đó còn là cách xưng hô có tính lấp lửng và phải có quan hệ gắn bó, mặn mà lắm mới có cách xưng hô như vậy.
b. Vận dụng lối xưng hô đằm thắm của ca dao. Tố Hữu đã có những sáng tạo mới khi sử dụng hai từ "mình" và "ta" tròn bài thơ Việt Bắc.
Cụ thể, trong ca dao "mình" và "ta" thường để chỉ hai cá nhân cụ thể: một nam, một nữ. Trong bài thơ Việt Bắc, "mình" và "ta" mang tính phiếm chỉ, biểu thị có kẻ ở người đi. Đố cụ thể là chỉ ở các đồng bào dân tộc Việt Bắc, những người ở lại và những cán bộ trở về thị thành "Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng cuối rừng"? Mặt khác, nhiều câu thơ, Tố Hữu xòn vận dụng nét nghĩa lấp lửng làm cho "mình" và "ta" thêm ý nhị, hàm nghĩa phong phú. Ví dụ: "Mình đi mình lại nhớ mình" ....
Câu 2. Các ý chính
1. Giới thiệu sơ lược tác giả, tác phẩm, nhân vật được phân tích
a. Trong số những tác phẩm viết về đề tài chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc những năm 1960, truyện ngắn Mùa Lạc của Nguyễn Khải là truyện ngắn xuất sắc. Nguyễn Khải là nhà văn xông xáo, nhạy bén với những vấn đề của cuộc sống xã hội và đã có nhiều thành công về đề tài nông thôn, về cuộc sống tinh thần, tình cảm của con người với những biến động của xã hội.
b. Truyện ngắn Mùa Lạc chủ yếu nói về biến đổi về số phận con người, sự hình thành những mối quan hệ đạo đức mới giữa con người, khẳng định những giá trị nhân đạo và tính ưu teieencuar cuộc sống mới của chủ nghĩa xã hội.
Nhân vật Đào trong tác phẩm Mùa Lạc thể hiện những suy nghĩ, những triết lý nhân sinh mang tính nhân đạo của nhà văn.
2. Phân tích nhân vật Đào để làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm
a. Về ngoại hình: Đào là một nhân vật được nhà văn miêu tả hết sức sinh động, có những nét riêng, dễ nhận về chân dung diện mạo. Cô không phải là người phụ nữ có nhan sắc, hai mắt đẹp và dài, hàm răng khểnh, thân hình sồ sề, bàn tay có những ngón to, cặp chân ngắn, ... Đó là điều thiệt thòi của cô trong " phái đẹp".
b. Về phẩm chất nội tâm: Đào là người có xét đoán sắc sảo, thông minh, có khả năng đối đáp nhanh lẹ. Ngôn ngữ của cô là thứ ngôn ngữ lắm sắc màu, đậm chất tục ngữ dân gian, dí dỏm, thú vị. Đó có lẽ là "kết quả" của một cuộc sống long đong, vật vả, đầy bất hạnh: ngược xuôi buôn bán, đòn gánh trên vai, "tối đâu là nhà, ngã đâu là gường";...
c. Về lai lịch: Quê Đào ở Hưng Yên nhà không có ruộng, làm nghề đậu phụ, lấy chồng từ năm 17 tuổi, chồng cờ bạc, bỏ đi Nam. Trở về, có một đứa con lêm hai thì chồng mất, mấy tháng sau con sài chết ... Quê hương chẳng còn ai thân thích. Từ đó, Đào sống cuộc đời lênh đênh, nhiều khi muốn chết nhưng "đời còn dài nên phải sống". Sự dãi dầu khiến cho hình hài của cô càng phyooi phai và cá tính càng trở nên táo bạo và liều lĩnh "ghen tị với mọi người và hờn giận cho thân mình ...". Tóm lại, trước khi lên nông trường Điện Biên, Đào là một phụ nữ có quá nhiều nỗi bất hạnh. ...
d. Đào tìm đến với nông trường Điện Biên không phải với hy vọng đổi đời mà với tâm lý: "Con chim bay mãi cũng mỏi cánh....".
Cô muốn tìm một nơi hẻo lánh nào đó thật xa, để quên đi những tháng ngày đã qua trong cuộc đời đầy đau khổ của mình, còn cuộc sống sắp tới thế nào, cô không rõ. Vì Điện Biên trước đây vốn là một bãi chiến trường ác liệt, bom mìn còn ngổn ngang, cái chết vẫn còn rình rập ở đâu đó. Nơi ấy cuộc sống đâu phải là một thiên đường. Cô chạy trốn số phận!
e. Nhưng cuộc sống của Đào ở công trường đã diễn ra một cách tích cực. Tâm lí của Đào cũng đã có những biến đổi và cuộc sống của cô cũng biến đổi. Từ chỗ đanh đá, thách thức với xung quanh, cô đã bắt đầu sống chan hòa với mọi người. Cô làm báo tường, lao động hăng say. Tình cảm của Đào dần dần giàu nữ tính và độ lượng. Từ đó, cô đã tìm được hạnh phúc. Người đàn ông góa vợ có tên là Dịu đã viết thư tỏ tình. Cô bàng hoàng, nhưng thấy như có "mạch nước ngọt rỉ thấm vào từng thớ đất khô cằn vì nắng hạn". Niềm vui đó thật bất ngờ và to lớn!
g. Cuộc sống của Đào đã hồi sinh ngay chính trên mảnh đất xưa kia vốn là bạ chiến trường chết chóc. Nông trường Điện Biên có khả năng hàn gắn được những vết thương chiến tranh trên mảnh đất xưa kia, hì cũng có khả năng hàn gắn được những vết thương trong lòng người. Những con người mới và một môi trường sống mới ưu việt đã giúp cho cô vượt qua được "ranh giới" của nỗi bất hạnh của số phận.
3. Kết luận
a. Qua nhân vật Đào trong truyện ngắn Mùa lạc, ta thấy một quan niệm giàu tính nhân đạo của tác giả về con người trong cuộc sống. tác giả đã thể hiện sự quan tâm đến những số phận bất hạnh, những con người bị thiệt thòi trong cuộc sống riêng. Ông khao khát được sống hạnh phúc của con người.
b. Qua nhân vật Đào, tác giả cũng khẳng định một điều là: những người bất hạnh, đau khổ trước đây, chỉ có thể thay đổi số phận cuộc đời nhờ vào một môi trường sống tốt đẹp, bên những con người mới. Nhân vật gửi gắm thông điệp đến bạn đọc tác phẩm: hãy quan tâm hơn đến những con người bất hạnh đang sống xung quanh chúng ta. Đó cũng chính là giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Câu 3. Các ý chính
1 . Giới thiệu sơ lược về tác giả và tác phẩm
a. Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ xuất sắc của phong trào Thơ mới lãng mạn 1932 - 1945. Ông đã để lại nhiều tập thơ đặc sắc, trong đó có những bài thơ rất trong trẻo và tươi sáng, hình ảnh đẹo như trong ca dao, cổ tích. Đó là các bài thơ Tình yêu, Mùa xuân chín và đặc biệt là bài Đây thôn Vĩ Dạ tin trong tập thơ Điên của nhà thơ.
b. Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ viết về Huế, viết cho Huế, bộc lộ một tâm trạng thân thương của một tác giả trước một sứ sở đẹp và thơ, với những hình ảnh của cảnh và người xứ Huế thơ mộng, đáng yêu. Khổ thơ bình giảng là khổ thơ thứ hai trong bài thơ này của Hàn Mặc Tử.
2. Bình giảng khổ thơ
a. khổ thơ thứ hai này được mở đầu bằng những hình ảnh trái ngược với buồn bã.
Gió theo lối gió, mây đường mây
Câu thơ tả cảnh nhưng là để ngụ tình. Gió và mây chia đôi ngả, tác giả mượn hình ảnh thiên nhên để ngầm tả sự chia ly cách biệt của con người. Chú ý, câu thơ được ngắt làm đôi nhịp, như sự chia cắt của hai người.
b. Từ đó, cũng nhuốm màu buồn bã, ủ ê. Hình ảnh "bến sông trăng" rất gợi cảm, tạo nên sắc thái huyền ảo, thơ mộng, ... Chú ý cảm giác mơ hồ qua ngôn từ và hình ảnh của dòng thơ.
3. Kết luận
a. Cùng với khổ thơ đầu và khổ thơ cuối của bài thơ, khổ thơ thứ hai của bài Đây thôn Vĩ Dạ đã dệt nên những hình ảnh thơ bằng một thứ ngôn từ trong suốt, đẹp đẽ và gợi cảm, đọng lại trong lòng người đọc những ấn tượng da diết, khó phai mờ về xứ Huế thơ mộng và yêu thương.
b. Người đọc yêu mến bài thơ, vì biết rằng bài thơ này đã được tác giả của nó viết ra từ một tâm hồn đau khổ, nhưng luôn gắn bó thiết tha với cuộc đời và con người bằng một tình yêu trần thế.