Đời Thừa không phản ánh trực tiếp hiện thực thời đại của Hộ. Người đọc biết rất ít về khung cảnh xã hội cụ thể. Chỉ vài nét sơ lược. Đó là tình cảnh đói nghèo của Hộ. Nhà văn không thể sống bằng ngòi viết. Hộ viết văn, nhà đông con, vợ ở nhà trông con, lương tháng chỉ đủ sống cho 10 ngày: ”Hộ vốn nghèo. Hắn là một nhà văn, trước kia, với cách viết thận trọng của hắn, hắn chỉ kiếm được vừa đủ để một mình hắn sống một cách eo hẹp, có thể nói là cực khổ.”, ”cả tháng Từ ăn và bắt các con ăn kham khổ, thường thường đói nữa! Quà sáng thì bỏ hẳn, có khi bữa tối cũng chịu nhịn cơm, ăn cháo.”
Tác phẩm tập trung miêu tả cái bi kịch tinh thần của nhà văn, của người trí thức tiểu tư sản trong xã hội cũ khát khao làm một cái gì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt? Qua đó đặt ra vấn đề xã hội có ý nghĩa nhân sinh to lớn, đó là làm thế nào để người trí thức có hoài bão, có lý tưởng có thể sống có ích cho đời, thay vì phải sống trong bi kịch đời thừa.
Nam Cao miêu tả tình trạng vong thân của người trí thức qua đó gián tiếp lên ánh chế độ xã hội đã đẩy người trí thức đến tình cảnh bế tắc. Kết thúc tác phẩm là một tình cảnh thật đáng thương. Cả Hộ, Từ và đứa con cùng khóc, vì trước mặt Hộ, tháng tới lấy gì để sống, tiền nợ tháng trước chưa trả, tiền nhuận bút tháng này Hộ đã xài hết. Tình cảnh của Hộ là tình cảng “khốn nạn” thật đáng thương. Từ ru con bằng một bài hát nao lòng.
Ai làm cho gió lên giời,
Cho mưa xuống đất, cho người biệt li;
Ai làm cho Nam, Bắc phân kỳ,
Cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thân...
Đó là câu hỏi không có câu trả lời. Ai làm? Ai làm nên thảm cảnh này?
Giá trị hiện thực đặc sắc của tác phẩm thể hiện ở việc NC đặt vấn đề về trách nhiệm xã hội ngòi bút của nhà văn. “Sự cẩu thả trong văn chương thật đê tiện”. Nhà văn phải là người sáng tạo, phải viết những tác phẩm “làm cho người gần người hơn”, cũng nhắc nhở nhà văn về tính nghệ sĩ ham vui bốc đồng có thể gây ra những hậu quả mà vợ con họ phải chịu. Nhà văn phải có trách nhiệm với gia đình của mình.