Nội dung theo thẻ

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

Chuyên đề này nhằm giúp các em củng cố các vấn đề cơ bản xoay quanh tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.

- Tình huống nhận thức độc đáo

- Đổi mới trong cách nhìn hiện thực và con người của Nguyễn Minh Châu.

- Nghệ thuật tự sự đặc sắc.

KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Khái quát:

a. Tác giả

+ Tiểu sử - con người

(Theo tâm sự của chính nhà văn, lời kể của Vương Trí Nhàn và nhận xét của nhiều bạn bè, người thân).

- Từ bé tới lớn: rụt rè và vô cùng nhút nhát.

- Sống nội tâm, hay trăn trở, thích một mình để suy ngẫm, phân tích.

- Chân thành.

=> Thiên hướng nhận thức, phân tích, nghiền ngẫm hiện thực trong văn Nguyễn Minh Châu.

+ Sáng tác:

Quá trình sáng tác: chia hai chặng rõ rệt.

o Trước thập kỉ 80: ngòi bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mạn.

o Đầu thập kỉ 80 – khi mất: cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lí nhân sinh.

Đổi mới:

o Quan niệm mới về con người và cuộc đời:

- Con người không nhất phiến, đơn chiều, lí tưởng mà là con người bề bộn, phức tạp, được ánh xạ qua nhiều mối quan hệ với hiện thực (cả mặt tốt lẫn mặt xấu “rồng phượng và rắn rết”…)

- Cuộc sống đa chiều, đầy những vết nham nhở sần sùi, có cả niềm vui lẫn nỗi buồn, sự vật vã, bức bối đầy phức tạp và biến động.

=> Khơi tìm những mặt khuất lấp của chiến tranh, những phần sâu kín trong tâm hồn con người.

o Đề tài:

- Con người cá nhân với các câu chuyện đời thường là trung tâm.

- Không phải con người “trùng khít với chính mình, với bộ áo xã hội của nó một cách đau đớn, giả dối” (Bakhtin) mà là con người hiện thực trong các mối quan hệ đa dạng.

=> “Đọc lời ai điếu cho một nền văn nghệ minh họa”.

+ Vị trí văn học sử:

- Ngòi bút tiêu biểu của thời kỳ văn học đổi mới – người mở đường đầy tài hoa và tinh anh (Nguyên Ngọc).

b. Tác phẩm:

+ Xuất xứ: Thuộc giai đoạn sáng tác thứ 2.

+ Vị trí văn học sử:

- Tiêu biểu cho những đổi mới của Nguyễn Minh Châu.

- In đậm dấu ấn phong cách tự sự - triết lí của Nguyễn Minh Châu.

+ Tình huống truyện:

- Nhận diện: tình huống nhận thức.

- Mô tả: Phùng - một nghệ sĩ nhiếp ảnh có tài đang trong giây phút thăng hoa tuyệt đỉnh, khám phá ra vẻ đẹp “trời cho”của con thuyền biển buổi sớm mai thì chứng kiến đôi vợ chồng từ trên con thuyền bước xuống, lão đàn ông đánh vợ một cách hung bạo và vô lí. 

Sự việc lặp lại một lần nữa, Phùng không chỉ thấy thái độ nhẫn nhịn, câm lặng chịu đựng của người đàn bà mà còn thấy được thái độ, hành động của chị em Phác trước sự dã man của cha với mẹ.

Anh nhận rõ những ngang trái, nghịch lí trong gia đình thuyền chài, hiểu sâu thêm tính cách người đàn bà, chị em Phác, người đàn ông, người đồng đội (Đẩu) và chính bản thân mình.

+ Bố cục: 2 phần lớn

- Phần 1 (từ đầu - chiếc thuyền lưới vó đã biến mất): Hai phát hiện của Phùng.

- Phần 2 (còn lại): Câu chuyện của người đàn bà làng chài.

2. Phân tích:

a. Hai phát hiện của Phùng.

+ Phát hiện thứ nhất: Phát hiện về vẻ đẹp thiên nhiên.

- Vị thế của Phùng: nghệ sĩ nhiếp ảnh.

- Mục đích của chuyến đi: chụp bổ sung một bức ảnh buổi sáng có sương mù theo yêu cầu của trưởng phòng (để xuất bản bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển).

- Điểm nhìn: từ xa, trong làn sương mờ ảo.

- Sự hình thành tác phẩm:

• Bắt đầu từ cảnh “trời cho”.

• Tuy nhiên để có được tác phẩm, cần một tâm hồn nghệ sĩ tinh tế nhanh nhạy nắm bắt khoảnh khắc xuất thần của nghệ thuật:

o Mô tả khung cảnh lãng mạn, thơ mộng.

o Trạng thái, hành động:

o Bối rối, trong tim tưởng như có cái gì bóp thắt lại => cơn “đau đẻ”, khoảnh khắc xung động cực điểm để tác phẩm hoài thai.

• Không phải lựa chọn gì nữa, bấm một hồi “liên thanh” => dường như thiên nhiên đã bày sẵn tuyệt tác, người nghệ sĩ chỉ việc ghi lại một cách dễ dàng.

- Cảm hứng triết lí về nghệ thuật:

• Vẻ đẹp của “cái đẹp tuyệt đỉnh”: “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ; một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. => nghệ thuật là sự giản dị, tự nhiên.

• “Cái đẹp là đạo đức” => khoảnh khắc phát hiện ra một tác phẩm độc đáo là sự “khám phá chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn” => cái đẹp “thanh lọc” tâm hồn, để tâm hồn con người cao khiết, không gợn đục, thánh thiện.

Nhận xét:

Sự phát hiện ra cái đẹp trong nghệ thuật đôi khi là kết hợp của rung động và duyên may. Nhìn ở góc độ này, nó là thứ dẫu sao còn tương đối dễ phát hiện, dễ thấy.

+ Phát hiện thứ hai: Phát hiện về hiện thực cuộc sống.

* Điểm nhìn: chiếc thuyền đâm thẳng vào chỗ trước tôi đứng => gần, trực diện, rõ nét.

Hình ảnh:

- Người đàn bà: cao lớn, với những đường nét thô kệch, rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi(…) tái ngắt và dường như đang buồn ngủ, tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới.

- Người đàn ông: tấm lưng rộng và cong, mái tóc tổ quạ, đi chân chữ bát, hàng lông mày cháy nắng, hai con mắt đầy vẻ độc dữ.

> Hình ảnh xấu xí, sù sì, trần trụi, thô mộc, gai góc của đời sống, đối lập với vẻ lãng mạn của khung cảnh thiên nhiên trong bức ảnh nghệ thuật.

Hành động:

- Người chồng: hùng hổ, rút chiếc thắt lưng, “chẳng nói chẳng rằng” quật tới tấp vào lưng người đàn bà => hành động hung bạo, dã man, lạnh lùng, như một con thú dữ.

- Người vợ: cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu lên một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn.

- Đứa con: giằng thắt lưng, quật lại bố để bảo vệ mẹ.

> Giống như một vở kịch câm, không lời chú giải, đầy nghịch lí khiến câu hỏi về hiện thực trong Phùng muốn vỡ ra.

Nhận xét:

Phát hiện về một hiện thực gồ ghề, gai góc, ngang trái, phức tạp, không dễ lí giải, khác xa, thậm chí đối lập với vẻ đẹp bình yên của tác phẩm nhiếp ảnh.

+ Mối quan hệ giữa hai phát hiện (mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, nhà văn và cuộc đời)

- Phát hiện nghệ thuật, ở một chừng mực nhất định dễ thấy hơn phát hiện về hiện thực.

- Đời sống con người vốn bề bộn, phức tạp. Hiện thực không đơn chiều, giản đơn, toàn màu hồng mà đa chiều, phân tranh nhiều mảng sáng tối chưa dễ lí giải. Nhà văn nếu đứng ở ngoài xa để quan sát sẽ chỉ thấy một hiện thực mờ ảo - chiếc thuyền thấp thoáng biển khơi. Từ đó đòi hỏi nhà văn phải có cái nhìn sâu sắc, suy tư hơn nữa.

b. Người đàn bà làng chài và câu chuyện đời tự kể.

+ Hình dáng: thô mộc, xấu xí, như nét vẽ vội của tạo hoá, mang những đặc trưng của một người đàn bà miền biển lam lũ.

+ Thái độ, hành động khi được mời tới toà án:

- Sợ sệt, lúng túng, tìm đến một góc tường để ngồi .

- Rón rén ngồi ghé vào chiếc ghế mà Đẩu mời.

- Van xin chính quyền đừng bắt chị bỏ người chồng vũ phu: “Quí toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó” => kiên quyết không bỏ chồng bằng mọi giá.=> hành động ẩn chứa nhiều nghịch lí, gây bất ngờ đối với cả Đẩu và Phùng => một sự thật không dễ lí giải trong hoàn cảnh người đàn bà phải chịu đựng những trận đánh thừa sống thiếu chết.(ba ngày một trận nhỏ, năm ngày một trận lớn) => Câu hỏi đặt ra: điều gì khiến người đàn bà khốn khổ ấy tha thiết bám víu cuộc sống địa ngục kinh hoàng với người chồng hung bạo kia?

+ Câu chuyện cuộc đời:

- Cách xưng hô: con, quý toà - chị, các chú => thay đổi tương quan: bị động, yếu thế, thiếu tự tin, bề dưới nói với bề trên - chủ động, bình đẳng, con ngưòi có hiểu biết nói với người đang lắng nghe.

- Nội dung câu chuyện:

- Xấu, buộc phải lấy anh hàng chài

- Đám đàn bà đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật => chồng hung hăng.

- Bất kể lúc nào khổ quá, chồng lại lôi ra đánh, ngay trên tàu, sau này xin mãi mới được lên bờ chịu đòn.

- Lí lẽ để “đừng bắt tôi bỏ nó”:

- Giá đẻ ít đi => biện minh cho hành động hung hăng của chồng bằng cách chỉ ra lỗi thuộc vê sự nghèo đói, lạc hậu, “đẻ lắm”.

- Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết nỗi vất vả của một người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông(. ..) những khi biển động => vì cần một trụ cột.

- Đàn bà trên thuyền phải sống cho con chứ không thể sống cho mình => vì trách nhiệm, tấm lòng vị tha, bản năng hi sinh của một người mẹ.

- Cũng có lúc vợ chồng con cái sống hòa thuận, vui vẻ => cuộc sống với ngưòi đàn ông “dã man” kia không phải không có những khoảnh khắc đầm ấm hạnh phúc.

Nhận xét:

Qua nội dung câu chuyện, cách kể và ngôn ngữ kể chuyện, thấy được:

- Số phận người đàn bà: đau khổ, bất hạnh, buộc phải bảo vệ, duy trì một cuộc sống bị đày đoạ, đánh đập.

- Tính cách: yêu thương con, vị tha, nhân hậu, am hiểu lẽ sống giản đơn của một người đàn bà hàng chài.

-  Sự lí giải, làm sáng tỏ hiện thực đời sống đầy nghịch lí mà Phùng và Đẩu “không thể hiểu được”.

c. Hệ thống nhân vật

+ Người đàn bà: vô danh, phiếm định => khái quát cuộc đời, số phận, tính cách của bao người phụ nữ làng chài khác.

+ Người đàn ông:

- Xưa kia: “anh con trai cục tính nhưng hiền lành”.

- Nay: vì nghèo đã biến đổi thành gã đàn ông hung bạo, vũ phu.

- Có sự gặp gỡ với các nhân vật của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trước cách mạng.

+ Chị em Phác:

Nạn nhân bé bỏng, đau khổ => thêm vào tác phẩm một nét khắc dằn dữ của hiện thực.

+ Phùng:

- Là người lính vào sinh ra tử nơi chiến trường.

- Là một nghệ sĩ tài hoa, phát hiện ra vẻ đẹp tinh khôi, huyền mộng của nghệ thuật.

- Chứng kiến cảnh đánh đập lần thứ hai, “vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới” can thiệp => Ý nghĩa:

- Chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, một khoảng cách đủ để tạo nên vẻ đẹp lung linh, nhưng sự thật cuộc đời lại ở rất gần.

- Thái độ cần có của người nghệ sĩ:

- Đừng vì nghệ thuật mà quên cuộc đời vì nghệ thuật chân chính luôn hướng tới cuộc đời.

- Trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãy là một con người sẵn sàng khám phá, dò tìm để thấu hiểu, yêu ghét mọi lẽ buồn vui đời thường và dám đấu tranh cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

- Chi tiết: hỏi người đàn bà một câu cắt ngang không ăn nhập: người chồng trước có đi lính nguỵ không => định dung cái nhìn trong chiến tranh để lí giải một hiện thực nghịch lí thời hậu chiến => Dụng ý: hiện thực cuộc sống mới hôm nay đã khác xa với hiện thực 30 năm chiến tranh, bề bộn, ngổn ngang, đa diện, bởi thế nó đòi hỏi một điểm nhìn khác, cách lí giải hiện thực khác. Không thể dùng cái nhìn địch – ta để phân tích mà cần nhìn nhận sâu sắc từ nhiều góc độ.

d. Một số đặc sắc về nghệ thuật.

+ Xây dựng hình ảnh giàu giá trị biểu tượng: chiếc thuyền ngoài xa.

- Con thuyền có thật.

- Con thuyền biểu tượng cho: nghệ thuật, ẩn dụ cho kiếp người đơn độc trên đại dương cuộc đời.

+ Nghệ thuật tự sự độc đáo:

- Điểm nhìn trần thuật: người kể chuyện Phùng - một người lính dày dặn kinh nghiệm chiến trường, một nghệ sĩ nhiếp ảnh tài hoa, một con người tha thiết đấu tranh cho sự công bằng => điểm nhìn trần thuật sắc sảo, giàu suy tư.

- Ngôn ngữ:

• Ngôn ngữ người kể chuyện: khách quan, chân thực, giàu sức thuyết phục (do sự lựa chọn điểm nhìn trần thuật).

• Ngôn ngữ nhân vật: cá thể hoá (Ngôn ngữ của người đàn bà: lóng ngóng, van lơn khi mới đối diện với “quí toà”; chững chạc, thấu trải khi tự kể câu chuyện đời mình, dịu dàng, xa xót khi nói với con; lời lẽ của người đàn ông: tàn nhẫn, tục tằn,…)

CỦNG CỐ KIẾN THỨC

Đề 1: Ý nghĩa nhan đề “Chiếc thuyền ngoài xa”.

Đề 2: Phân tích tình huống truyện “Chiếc thuyền ngoài xa”

Đề 3: Phân tích những phát hiện của nghệ sĩ Phùng trong “Chiếc thuyền ngoài xa”.

Đề 4: Tính luận đề trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.

Đề 5: Những đổi mới trong cách nhìn hiện thực cuộc sống của Nguyễn Minh Châu trong “Chiếc thuyền ngoài xa”.

Đề 6: Phân tích “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu để thấy cái nhìn thấu hiểu trĩu nặng tình thương và nỗi lo cho con người.

Đề 7: Phân tích các nhân vật trong “Chiếc thuyền ngoài xa” để làm nổi bật tư tưởng của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

Gợi ý giải đề

Đề 1: Ý nghĩa nhan đề.

+ Xuất xứ tác phẩm:

+ Ý nghĩa nhan đề:

- Con thuyền có thật trong cuộc đời

- Con thuyền biểu tượng cho nghệ thuật, ẩn dụ cho kiếp người đơn độc trên đại dương cuộc đời.

- Cái đẹp nghệ thuật dễ tìm hơn cái đẹp đích thực của con người

- Nghệ thuật phải quan tâm đến đời sống và phải quan tâm đến con người.

Đề 2: Tình huống truyện.

+ Giới thuyết:

+ Phân tích:

- Nhận diện

- Mô tả

- Ý nghĩa:

·         Giúp nhà văn khám phá tính cách, vẻ đẹp nhân vật người đàn bà.

·         Thể hiện rõ nét tư tưởng

+ Đánh giá

- Tình huống bất ngờ và kì lạ

- Khơi gợi tư duy và cảm hứng người đọc.

- Tình  huống có “sức xoáy”

Đề 3: Những phát hiện của nghệ sĩ Phùng

+ 2 phát hiện

+ Phân tích dựa vào phần Kiến thức cơ bản.

Đề 4: Những đổi mới trong cách nhìn hiện thực cuộc sống

+ Hiện thực cuộc sống: bề bộn, nhiều chiều, phức tạp, không nhất phiến, lí tưởng mà đầy ngang trái.

+ Vẻ đẹp của con người vì thế cũng khó phát hiện hơn, đòi hỏi phải có một góc nhìn khác.

Đề 5: Phân tích các nhân vật để làm nổi bật tư tưởng

Dựa vào kiến thức cơ bản để làm bài.

 

0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

NHÌN VỀ VỐN VĂN HÓA DÂN TỘC

I-  NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.    Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

          Trần Đình Hượu (1926 – 1995) quê ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ông là nhà nghiên cứu chuyên vè các vấn đề tư tưởng, văn hóa và văn học Việt Nam. Ông sở trường về nghiên cứu tư tưởng phương Đông, nhất là Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến tư tưởng, văn hóa, văn học Việt Nam. Định hướng nghiên cứu của ông khi đọc các hiện thượng văn hóa, văn học quá khứ là tìm mối liên hệ của quá khứ và hiện tại. Cuốn sách tập hợp các bài viết của ông có tên Đến hiện đại từ truyền thống đã nói lên định hướng nghiên cứu đó. Không thể hiểu đúng văn hóa và văn học Việt Nam hiện đại nếu như không hiểu biết quá khư. Một đặc điểm nữa trong các công trình nghiên cứu của ông là sự ngầm ẩn cảm hứng đối thoại, tranh luận. Không đơn giản, xuôi chiều, Trần Đình Hượu thường đặt lại vấn đề, xem xét vấn đề dưới góc độ khác, với chủ trương tôn trọng quá khứ, phân tích một cách khách quan các sự kiện lịch sử để tìm ra chân lý.

Bài viết được tác giả hoàn thành năm 1986, vào thời điểm Đảng ta phát động công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. văn hóa dân tộc sẽ ứng xử thế nào đây trong bước chuyển lớn này? Ông viết: “Nay chúng ta bước vào một khúc ngoặt vĩ đại của lịch sử, không thể không làm công việc tự ý thức, tự phê phán nghiêm túc văn hóa dân tộc như một yêu cầu như một yêu cầu của sự phát triển là một cảm hứng quan trọng trong nhiều công trình của Trần Đình Hượu.

2.    Về văn hóa Việt Nam

          Ở nước ta, nhất là thời điểm Trần Đình Hượu viết bài này, cách tiếp cận văn hóa dân tộc, đôi khi còn dựng lại ở mục đích tuyên truyền chứ chưa phải là khoa học. Trong phần mở đầu bài viết ( không được trích trong Ngữ văn 12), ông nhẹ nhàng chỉ ra hạn chế của cách tiếp cận đó như: “Khi kháng chiến thì nói đặc tính của dân tộc ta là yêu nước, bất khuất, khi xã hội xã hội chủ nghĩa thì là cần cù lao động, khi gặp khó khăn thì lại là lạc quan yêu đời”. Không nhằm thỏa mãn tinh thần dân tộc hay mục tiêu tuyên truyền, với tư cách là nhà khoa học, Trần Đình Hượu tìm bản sắc văn hóa dân tộc với cái nhìn khách quan, kh, đi tìm những yếu tố kế thừa và những yếu tố cần vượt qua của văn hóa truyền thống. Theo ông, “Tìm đặc sắc văn hóa dân tộc không phải chỉ để bồi dưỡng lòng tự hào, không phải chỉ để kế thừa theo lối lấy, bỏ, thêm, bớt mà còn để phát huy tiềm năng sáng tạo, giải phóng sức sáng tạo. Về mặt ấy thì thiên hướng, mục tiêu, cung cách sáng tạo đã bộc lộ trong quá khứ - có phần là mặt mạnh, có phần là mặt yếu – mới chỉ bảo được nhiều cho chúng ta trên bước đường hiện đại và tương lai” (Đoạn này cũng thuộc phần đầu bài viết không được trích trong sách giáo khoa). Cách đặt vấn đề của ông vì thế hấp dẫn, thuyết phục và có ý nghĩa.

II-   PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.    Khái niệm “vốn văn hóa dân tộc”

          Khái niệm “văn hóa” được tác giả sử dụng để chỉ các lĩnh vực như là các thành tố cấu thành:  tôn giáo, triết học, khoa học, âm nhạc, kiến trúc, văn học,…

Khung thời gian của “vốn văn hóa dân tộc” được nói đến là trước thời kì cận – hiện đại, tức là khoảng từ đầu thế kỷ XX trở về trước, trước khi tiếp xúc văn hóa Đông – Tây thực sự diễn ra và có thể làm biến đổi văn hóa truyền thống.

Trong cụm từ “vốn văn hóa dân tộc” có khái niệm “dân tộc”. Tất nhiên đây cũng là một khái niêm khoa học khá phức tạp mà chương trình Ngữ văn lớp 12 chưa đề cập đến, song cần hiểu bản thân “dân tộc” đã chỉ khả năng giao lưu, tiếp nhận văn hóa và yêu cầu so sánh với văn hóa các dân tộc khác. Bàn về bản sắc hay đặc sắc của văn hóa dân tộc, theo Trần Đình Hượu, là đề cập toàn diện, cả sở trường và sở đoản, cả khuyết tật: “Trong sự sáng tạo văn hóa, mỗi dân tộc hình như từ lâu đã có những thói quen, những ưa thích, những sở trường, những khuyết tật làm nên đặc sắc của nó. Nắm vững những cái đó, bước đi ở hiện tại sẽ ít mù quáng hơn và cũng nhờ thế có thể phần nào dự đoán để định hướng cả bước đi trong tương lai”. Chủ trương tìm cả sở trường và khuyết tật này của văn hóa dân tộc sẽ được nhà nghiên cứu nhất quán trong phần viết được trích dẫn trong sách giáo khoa Ngữ văn 12.

          Tất cả những nhận xét của Trần Đình Hượu về vốn văn hóa Việt Nam đều xuất phát từ sự so sánh ngầm ẩn với văn hóa các dân tộc khác (ông viết: giữa các dân tộc) mà do lối viết uyên bác của mình, ông không đi sâu chứng minh cụ thể, song với vốn văn hóa phổ thông, chúng ta cũng có thể dễ dàng tìm thấy các dẫn chứng.

2.    Đánh giá khách quan, nghiêm túc về văn hóa Việt Nam

-     Nhận định tổng quát của ông mở đầu cho luận bàn trong đoạn trích này có thể khiến cho những người có đầu óc dân tộc chủ nghĩa, quen ca ngợi một chiều bản sắc dân tộc giật mình, thậm chí khó chịu:

          “ Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hóa của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật”.

          Chúng ta không có một nền văn hóa có tầm cỡ, có thể ảnh hưởng đến văn hóa thế giới, hay có đặc sắc nổi bật. Một nhận xét tổng quát có vẻ nhiêm khắc khi đặt văn hóa Việt Nam trên bình diện toàn nhân loại (giữa các dân tộc). Phương pháp được sử dụng ở đây là phương pháp so sánh, giúp người viết tránh được những nhận định tùy tiện về bản sắc văn hóa dân tộc.

Nhưng nhận định này cũng gợi hứng thú vì cách đặt vấn đề dũng cảm, mới mẻ, hứa hẹn cách triển khai phân tích hấp dẫn.

-     Lập luận: tác giả nêu đặc trưng văn hóa các dân tộc khác để so sánh. “Ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo, hoặc là một trường phái triết học, một ngành khoa học, một nền âm nhạc, hội họa,… phát triển rất cao, ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ văn hóa, thành đặc sắc văn hóa của dân tộc đó, thành thiên hướng văn hóa của dân tộc đó”. Ở đây nói đến sự phát triển cao của một số thành tựu văn hóa nhất định của một dân tộc nào đó có ảnh hưởng phổ biến, lâu dài đến văn hóa toàn nhân loại.

          Trong tương quan so sánh, ở văn hóa Việt Nam truyền thống, không có gì đạt đến đỉnh cao, cái gì cũng có song không đạt tầm cỡ kỷ lục. Thần thoại không phong phú, tôn giáo hay triết học đều không phát triển: “Người Việt Nam không có tâm lí kiền thành, cuồng tín tôn giáo, mà cũng không say mê tranh biện triết học. Các tôn giáo đều có mặt nhưng thường là biến thành một lối thờ cúng, ít ai quan tâm đến giáo lý. Không có một ngành khoa học, ky thuật, giả khoa học (khái niệm giả khoa học chỉ các môn phái khoa học thần bí thời xưa như luyện kim đan, làm thuốc trường sinh bất tử…) nào phát triển đến thành có truyền thống. Âm nhạc, hội họa, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kỹ”. Nhận xét về thơ, ông đưa ra một nghịch lý: “Hầu như người nào cũng có thể, cũng có dịp làm dăm ba câu thơ. Nhưng số nhà thơ để lại nhiều tác phẩm thì không có”.

-     Phác họa nguyên nhân: “Thực tế đó cho ta biết khuynh hướng, hứng thú, sự ưa thích, nhưng hơn thế, còn cho ta biết sự hạn chế của trình độ sản xuất, của đời sống xã hội. Đó là văn hóa của dân nông nghiệp định cư, không có nhu cầu lưu chuyển, trao đổi, không có sự kích thích của đô thị”. Nhận định về nguyên nhân ở đây thực ra là không mới, vì các yếu tố nêu lên đã được nhiều người nhận xét. Chẳng hạn như cội rễ văn hóa nông nghiệp, chủ trương bế quan tỏa cảng, đô thị kém phát triển, không coi trọng thương nghiệp,… Cái mới là sự liên hệ nhất quán của tác giả giữa cái nền tảng kinh tế, phương thức sản xuất với bản sắc văn hóa dân tộc để chỉ ra cội rễ của những hạn chế. Tất nhiên, một kết luận có thể rút ra được từ đây là để phát triển văn hóa cần công nghiệp hóa, đô thị hóa, cần mở rộng giao lưu quốc tế. Những phân tích có tính triết học về văn hóa dân tộc nhằm vào sự phát triển, đổi mới chứ không nhằm mục đích tuyên truyền.

3.    Phân tích tính chất trung dung của văn hóa Việt Nam.

          Sau nhận định tổng quát, Trần Đình Hượu phân tích chỉ ra tính chất trung dung văn hóa Việt Nam. Trung dung là chọn cái giữa, giữ thế trung bình, không thiên lệch về một phía nào, không thái quáện ở các mà cũng không bất cập:

-     Về tôn giáo: Người Việt Nam “ít tinh thần tôn giáo”, biểu hiện ở các quan niệm ứng xử sau: “Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, có ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về)”. Nếu so sánh với một số dân tộc có cuồng tín tôn giáo thì tinh thần hiện thực, không cuồng tín tôn giáo là mặt mạnh của tư duy cần ghi nhận của dân tộc ta. Nhưng điệu cần chú ý ở đây: Trần Đình Hượu nhắm vào cái tính chất nửa vời, nước đôi của niềm tin tôn giáo ở người Việt, vừa sống theo thế tục lại vừa có niềm tin vào linh hồn, ma quỷ. Vả lại cũng có những hạn chế tư duy thế tục, như chính Trần Đình Hượu đã viết ở một đoạn khác: “Thói quen gạt bỏ những cái xa vời, khó hiểu, xa lánh quỷ thần, không quan tâm đến thế giới linh thiêng làm cho con người không bỏ mê tín song cũng không hứng thú cái thần bí, không tò mò và ít hoài nghi, không say mê tìm hiểu những cái chưa biết, gạt bỏ những cái khác lạ”.

-     Về ý thức cá nhân và sở hữu: “Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham làm giành giật cho nhiều nhưng cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người”. Tinh thần cộng đồng, chủ trương sống an nhàn, không có khát vọng cao xa, hơn người vừa là mặt tích cực vừa là mặt hạn chế vì không kích thích con người cá nhân phát triển.

-     Một loạt những biểu hiện khác về phương diện tư duy: “Không chuộng trí mà cũng không chuộng dũng. Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thượng võ […]. Trong tâm trí nhân dân thường có Thần và Bụt mà không có Tiên. Thần uy linh bảo hộ dân và Bụt hay cứu giúp mọi người; còn Tiên nhiều phép lạ, ngao du ngaoif thế giới thì xa lạ. Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo. Khôn khéo là “ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau”, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn. Đối với cái dị kỷ, cái mới, không dễ hòa hợp những cũng không cự tuyệt đến cùng, chấp nhận cái gì vừa phải, hợp với mình nhưng cũng chần chừ, dè dặt, giữ mình.

          Không thể đánh giá một chiều hoặc tích cực hoặc tiêu cực đối với các biểu hiện tư duy nói trên, có cả tiêu cực, cả tích cực. Nhưng nếu nhìn theo quan điểm phát triển, dễ thấy có những cản trở nhất định. Chẳng hạn như, chỉ hướng đến Thần và Bụt vì mục đích thực dụng mà thấy xa lạ với Tiên thì trong tư duy rõ ràng không coi trọng sự phiêu diêu, bay bổng một cách lãng mạn; không coi trọng trí tuệ mà chỉ ca tụng sự khôn khéo thì dễ sa vào tiểu xảo, chỉ giỏi mô phỏng, bắt chước, “nhái lại” sản phẩm của người khác chứ khó mà sáng tạo mới, độc đáo. Nếu quá lo thủ thế giữ mình trong bốn lũy tre làng, khó hòa hợp với cái mới (trong cái mới có cái khác mình) thì khả năng phát triển tất nhiên sẽ bị hạn chế.

-     Về thẩm mỹ: Trần Đình Hượu phân tích các biểu hiện khác nhau của quan niệm thẩm mĩ có tính trung dung của người Việt. “Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình hợp lý, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kỳ. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải”.

          Một quan niệm thẩm mỹ như thế tạo ra cái đẹp độc đáo, đặc sắc riêng nhưng cũng khó có thể sản sinh ra những sáng tạo kỳ vĩ, huy hoàng, đạt tầm cỡ nhân loại. Một trong những ví dụ cho phép hình dung quan niệm thẩm mĩ có tính trung dung như thế là kiến trúc: “Không có công trình kiến trúc nào, kể cả của vua chúa, nhằm vào sự vĩnh viễn”. Ta hiểu đó là tác giả đang ngầm so sánh với những công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới như Kim Tự Tháp, Ăng Co, Vạn lí trường thành,…

          Lý giải bản chất và nguồn gốc tâm lý của văn hóa dân tộc, tác giả viết: “Hình như ta coi trọng Thế hơn Lực, quý sự kín đáo hơn sự phô trương, sự hòa đồng hơn rạch ròi trắng đen. Phải chăng đó là kết quả của ý thức lâu đời về sự nhỏ yếu, về thực tế nhiều khó khăn, nhiều bất trắc?

          Nhìn vào lối sống, quan niệm sống, ta có thể nói người Việt Nam sống có văn hóa, người Việt Nam có nền văn hóa của mình. Nhưng cái thô dã, những hung bạo đã bị xóa bỏ để có cái nền nhân bản. Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa. Không có khát vọng để hướng đến những sáng tạo lớn mà nhạy cảm, tinh nhanh, khôn khéo gỡ các khó khăn, tìm được sự bình ổn”.

Theo tác giả, có thể khẳng định rằng văn hóa Việt Nam đã hình thành trong quá trình lịch sử, đây là một thực tế hiển nhiên, “người Việt Nam có nền văn hóa cua mình”. Bản chất văn hóa là đối lập, khắc phục cái bản năng hoang dã, xây dựng những giá trị nhân bản. Các tính chất như tính thiết thực, linh hoạt, dung hòa là chỗ mạnh nhưng cũng bao hàm cả mặt hạn chế của truyền thống tư duy dân tộc. Thiết thực như chính ông nói (ở một đoạn khác), thì dễ nghiêng về duy vật, biện chứng tự phát, xa lạ với cái thần bí nhưng cũng xa lạ với cái duy lý; linh hoạt thì uyển chuyển, không cứng nhắc, song lại thiếu một phong cách riêng; dung hòa thì tránh được cực đoan, thái quá song lại không thúc đẩy sự phát triển đến tận cùng, đến cực độ. Trong triết học có quy luậtvề sự thay đổi của lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất. Chỉ đạt đến 0° C thì nước mới đóng băng, chỉ đạt đến 100° C thì nước mới bốc hơi. Các trạng thái nửa vời, trung dung không đẩy sự vật phát triển tới một trình độ mới.

4. Vấn đề giao lưu văn hóa

Tổng kết lại điều vừa trình bày, tác giả viết: “Những cái vừa nói là cái đã lắng đọng, đã ổn định, chắc chắn là kết quả của sự dung hợp của cái vốn có, của văn hóa Phật giáo, văn hóa Nho giáo, cái được dân tộc sàng lọc, tinh luyện để thành bản sắc của mình. Phật giáo, Nho giáo tuy từ ngoài du nhập vào nhưng đều để lại dấu ấn sâu sắc trong bản sắc dân tộc”.

          Không thể có một nền văn hóa dân tộc nào lại hình thành mà thiếu sự giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa khác. Do đó, bản sắc văn hóa dân tộc cũng cần được nhìn từ góc độ giao lưu văn hóa. Một nền văn hóa bất kỳ nào cũng bao gồm thành tố văn hóa bản địa (tác giả dùng “cái vốn có”) và văn hóa ngoại nhập. trong văn hóa Việt Nam, sự có mặt của các học thuyết Nho – Phật – Đạo đến từ văn hóa bên ngoài, làm phong phú thêm cho văn hóa Việt Nam truyền thống. Nho giáo và Đạo giáo của Trung Quốc, Phật giáo của Ấn Độ (Phật giáo Thiền tông lại là sản phẩm kếp hợp của Phật giáo Ấn Độ và Đạo giáo Trung Quốc). Giao lưu văn hóa là sự tiếp xúc văn hóa, là cho và nhận những giá trị văn hóa, dẫn đến sự tinh luyện các giá trị văn hóa truyền thống và văn hóa ngoại nhập, làm thành văn hóa đặc sắc của riêng mình. Tất nhiên, ở đây đang bàn về văn hóa truyền thống, tức văn hóa từ cuối thế kỷ XIX trở về trước nên tác giả mới đề cập đến Nho – Phật – Đạo mà chưa nói đến văn hóa phương Tây, chưa nói đến Thiên Chúa giáo.

          Nhà nghiên cứu lưu ý, các thành tố văn hóa ngoại sinh có ảnh hưởng ở Việt Nam với mức độ và tính chất khác nhau, phản ánh đặc điểm của chính văn hóa Việt Nam trong khi lựa chọn nguồn ảnh hưởng. Ông viết: “Phật giáo, Nho giáo tuy từ ngoài du nhập vào nhưng đều để lại dấu ấn sâu sắc trong bản sắc dân tộc. Có điều, để thích ứng với cái vốn có, Phật giáo không được tiếp nhận ở khái cạnh trí tuệ, cầu giải thoát, mà Nho giáo cũng không được tiếp nhận ở khía cạnh nghi lễ tủn mủn, giáo điều khắc nghiệt. Đạo giáo hình như không có nhiều ảnh hưởng trong văn hóa như tư tưởng Lão – Trang thì lại ảnh hưởng nhiều đến lớp trí thức cao cấp, để lại dấu vết khá rõ trong văn học”.

          Tuy chưa có dịp phân tích kĩ trong bài viết này, song Trần Đình Hượu đã lưu ý rằng các học thuyết Nho – Phật – Đạo có vai trò, vị trí khác nhau đối với văn hóa Việt Nam; bản thân các tầng lớp xã hội khác nhau cũng tiếp nhận những giá trị văn hóa này không giống nhau. Và văn hóa Việt Nam cũng có sự lựa chọn, thanh lọc để tìm lấy những yếu tố thích hợp cho mình chứ không bê nguyên xi tất cả các học thuyết đó.

          Bài học rút ra từ giao lưu văn hóa trong quá khứ là: “Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hóa không chỉ trông cậy vào sự tạo tác của mình dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hóa những giá trị văn hóa bên ngoài. Về mặt đó, lịch sử chứng minh là dân tộc Việt Nam có bản lĩnh”. Vấn đề giao lưu văn hóa được tác giả đề cao, nhưng giao lưu không thể là hành động sao chép, trở thành bản phô tô cóp pi của văn hóa bên ngoài mà là “khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hóa” văn hóa bên ngoài. Khả năng ấy được tác giả gọi bằng khái niệm “bản lĩnh”. Bản lĩnh là sự tự tin, không kiêu căng mà cũng không tự ti, không coi thường giá trị văn hóa nhân loại nhưng cũng không choáng ngợp trước văn hóa bên ngoài, biết thâu tóm cái tinh hoa cần cho văn hóa dân tộc mình.

          Nhìn chung, bằng lố trình bày điềm tĩnh, nhẹ nhàng mà sâu sắc, ẩn chứa kiến thức uyên bác và nỗi niềm trăn trở suy tư cho đường đi của văn hóa dân tộc vào thời điểm mở đầu công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, Trần Đình Hượu đã phát biểu tư tưởng mới, thẳng thắn, có ý nghĩa xây dựng để tất cả người Việt Nam cùng suy nghĩ về vấn đề trọng đại này. Để kết thúc, có thể dẫn lời của Trần Ngọc Vương, một học trò gần gũi của nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu: “Là nhà nghiên cứu triết học và lịch sử tư tưởng, tự đòi hỏi phải xác lập cho mình thói quen tư duy mang tính lý thuyết liên tục, nhưng những kết quả cụ thể thể hiện trong các công trình, các bài viết chủ yếu của ông cũng thấm đẫm tinh thần phục vụ thực tiễn. Tuy nhiên, tính thực tiễn đó không thể được hiểu là sự bình tán dễ dãi hay sự minh họa, phụ họa cho những kết luận nào đó có sẵn, mà là những nỗ lực liên tục của lao động trí tuệ đặng tìm tới những kiến giải vì thực tế, mở đường cho việc nhận thức và chỉ đạo thực tế có hiệu quả hơn” (Nhiều tác giả, Chân dung một thế kỉ Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006).

 

 

0
phiếu
0đáp án
13K lượt xem

PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ĐÀN BÀ LÀNG CHÀI TRONG TRUYỆN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
 
Mở bài:
Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho người đọc là người đàn bà làng chài - người phụ nữ vô danh với tấm lòng bao dung, vị tha, đức hi sinh cao thượng mà khiến khi gấp trang sách lại ta không thể nào quân.
 
Thân bài:
Để tạo nên hình tượng người đàn bà ấy nhà văn đã tạo ra tình huống truyện độc đáo và từ tình huống độc đáo này mà nhân vật dần hộ lộ số phận: Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước ra từ cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa để chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát hiện ra một bức tranh cảnh biển có một không hai: “Trước mặt tôi là một bức tranh mực tầu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”. Cảnh đẹp đến nỗi Phăng có cảm giác bối rối, trái tim như bị bóp thắt vào. Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người chồng vũ phu, thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng. Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ sửng sốt. Nghịch cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ. Xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, hầu như người đọc không hề được biết đến tên gọi của người đàn bà tội nghiệp ấy, NMC đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta.... Không phải nhà văn "nghèo" ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho chị một cái tên mà là vì Chị cũng giống như hàng trăm người đàn bà ở vùng biển nhỏ bé này: CHỊ LÀ NGƯỜI VÔ DANH.
 
Lần đầu chị xuất hiện: Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ. Chị bị chồng hành hạ một cách tàn nhẫn: Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dựng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: "Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!". Kì lạ thay chị vẫn lặng im chịu đựng, vẫn lặng yên như một sự cam chịu ”Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy”.
 
Chị là ai ?
 
+ Trước đây Chị vốn là con của một gia đình khá giả nhưng số phận đã không may mắn với chị. Chị mắc bệnh đậu mùa. Di chứng để lại đó là Cái xấu, cái xấu xí thô kệch đã đeo đuổi chị như một định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ cho đến tận bây giờ.
+ Vì xấu xí không ai lấy nên chị trót có mang với một anh hàng chài nhà ở giữa phá vẫn hay đến nhà chị mua bả về đan lưới. Thế rồi thành vợ thành chồng. Chị xuống ở luôn dưới thuyền. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh: “có nhiều tháng biển động phải ăn cây xương rồng luộc chấm muối”. Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,...
+ Vì túng quẫn, đói nghèo, thất học, lạc hậu. Lão chồng của chị từ một anh con trai “hiền lành nhưng cục tính” đã trở thành một kẻ vũ phu lỗ mãng. Hắn đã lấy phương pháp đánh vợ để giải tỏa những bế tắc cuộc sống. Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ: ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, như đánh 1 con thú, với lời lẽ cay độc" Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ". “Mày” ở đây là vợ ông ta. “Chúng mày” là vợ con của ông ta. Họ là những đồng loại rất gần gũi với ông ta. Cay đắng thay cho số phận của chị.
 
+ Khi bị đánh chị không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn mà coi đó là một lẽ đương nhiên. Thậm chí chị còn yêu cầu hắn “ Muốn đánh chị thì đưa chị lên bờ để đánh vỡ chị không muốn để những đứa con nhìn thấy cảnh bố hành hạ mẹ”. - Vì đâu chị lại chịu đựng và cam chịu như vậy ?
 
+ Chị coi việc mình bị đánh đĩ như 1 phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình, chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy. Vì chị rất thấu hiểu lẽ đời. Chị hiểu cơ cực của cuộc sống mưu sinh trên biển không có người đàn ông. trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề “Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con, nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được!”.
 
+ Chị cũng hiểu và thông cảm cho chồng: chị thừa nhận chồng chị trước kia là anh con trai hiền lành nhưng cục tính, chẳng qua vì đói nghèo, thất học, túng quẫn lão chồng mới sinh ra vậy. Đây chính là sự hiểu đời, sự thông cảm và vị tha của chị. Chị không hề oán trách chồng mà ngược lại chị rất cảm thông và vị tha. Chị là người có đức hi sinh cao thượng.
Không chỉ vậy, nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờ bến của chị. Tình mẫu tử của chị đã vút lên trên cái nền của 1 cuộc sống cơ cực, ngang trái, đau đớn đầy xót xa . Vì thương con chị đã luôn miệng xin quý tòa đừng bắt con bỏ nó. Chị hiểu như thế nào là nỗi đau của những trẻ thơ sống trong cảnh bố mẹ ly dị. Chị không muốn nhìn cảnh các con thấy bộ mẹ chia tay. Cũng vì thương con chị đã yêu cầu lão đàn ông vũ phu mang chị lên bờ mà đánh vỡ sợ con nhìn thấy. Vì thương con mà chỉ đưa thằng Phác lên bờ để sống. Vì thương con mà chị đã đau đớn nhìn cảnh thằng Phác vì thương mẹ mà đã chống trả lại bố đẻ của mình. Trong đau khổ chị vẫn luôn chắt lọc những niềm vui ví như khi nhìn các con được ăn no, được nô đùa hay có lúc chị và chồng chị cũng có những giây phút đầm ấm, hòa thuận. Đằng sau sự nhẫn nhục ấy là bản năng sinh tồn mãnh liệt và một tấm lòng yêu thương mê muội, đáng thương. Người đàn bà hàng chài vừa lam lũ, chất phác, có tình thương con vô bờ bến, vừa luôn mang nỗi đau, vừa có cái thâm trầm trong việc thấu hiểu các lẽ đời. Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh.
 
+ Phùng và Đẩu là hai cán bộ cách mạng vừa bước ra khỏi chiến tranh. Mới đầu các anh căng thẳng, các anh không hiểu nhưng sau đó, qua câu chuyện của người đàn bà ở tòa án, Phùng và Đẩu đã vỡ lẽ. Qua câu chuyện của người đàn bà, họ càng thấy rõ: Không thể dễ dãi, đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng của cuộc sống, không thể có cái nhìn một chiều, phiến diện với con người và cuộc sống mà phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều, phổ quát thì mới hiểu được những sắc cạnh của cuộc đời. Vì “con người thì đa đoan, cuộc đời thì đa sự”. Đây cũng là nét mới trong văn xuôi sau năm 1975 mà NMC chính là vị "khai quốc công thần của triều đại văn học mới".
 
Nghệ thuật:Sử dụng biện pháp đối lập (giữa hình thức và tâm hồn), đặt nhân vật trong tình huống nhận thức độc đáo, Nguyễn Minh Châu giúp người đọc khám phá “….ẩn dấu” trong “bể sâu tâm hồn” người đàn bà hàng chài. 



0
phiếu
0đáp án
2K lượt xem

Các nhân vật trong truyện ngắn Thuốc
 
a-Hình ảnh đám đông quần chúng:
 
-Buổi sáng sớm, ở pháp trường , lão Hoa đi mua bánh bao tẩm máu tử tù về chữa bệnh cho con thì bị một đám đông xô đẩy nhau ào ào,chen bật lão suýt ngã.Đó là những người đi xem hành hình nhà cách mạng Hạ Du .Đám đông này khiến ta liên tưởng đến đám đông đi xem hành hình một người Trung Quốc chống Nhật khiến Lỗ Tấn đi đến quyết định : Chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần cho quốc dân.
 
-Khi trời sáng hẳn, ở quán trà đã đông khách của lão Hoa , Cậu Năm Gù ,Cả Khang ,người râu hoa râm…cùng bàn tán về : công hiệu của bánh bao tẩm máu người có thể chữa bách bệnh, họ tin rằng thằng Thuyên ăn vào “thế nào cũng khỏi”. Họ rất hăng say bàn về cái chết của Hạ Du với thái độ miệt thị. Họ cho anh là cái “thằng khốn nạn”, “hắn điên thật rồi”.Và họ cho rằng trong cái chết của Hạ Du có hai người gặp may . May nhất là Cụ Ba nhờ tố cáo cháu mình nên được thưởng một số tiền lớn mà gia đình khỏi bị liên luỵ, còn lão Hoa thì có máu Hạ Du để chấm bánh bao làm thuốc chữa bệnh cho thằng Thuyên. Tóm lại, qua hai sự việc trên,và bằng ngôn ngữ của người kể chuyện , ta thấy đám đông quần chúng thật là mê muội về khoa học. Sự hiểu biết và thái độ của họ về những vấn đề của đất nước,về bệnh tật ,về cuộc đời còn quá hạn chế. Nói như Lỗ Tấn thì họ đang “ngủ quên trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”.Phải làm thế nào đó để thức tỉnh họ.
 
b-Nhân vật Hạ Du:Nhân vật Hạ Du không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm mà được giới thiệu thông qua các nhân vật khác và qua thái độ của người kể chuyện . Hạ Du là một người yêu nước , một nhà cách mạng tiên phong , dũng cảm xả thân vì nghĩa lớn. Nhưng anh rất cô đơn ,không ai hiểu anh kể cả mẹ anh .Anh đã đổ máu vì quần chúng thế mà họ lại lấy máu anh để tẩm bánh bao chữa bệnh lao. Hạ Du chính là hình ảnh tượng trưng của cuộc cách mạng Tân Hợi, một cuộc cách mạng góp phần đánh đổ chế độ phong kiến Trung Quốc nhưng lại xa rời quần chúng nên thất bại.Qua hình tượng Hạ Du ,Lỗ Tấn muốn bày tỏ lòng kính trọng với cuộc cách mạng này. Ta cũng thấy nhân vật Hạ Du là một người yêu nước nhưng anh cũng thật cô đơn .
 
 
3-Cảnh hai bà mẹ đi thăm mộ con:Các hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng: a. Hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người: “Bánh bao tẩm máu người”, nghe như chuyện thời trung cổ nhưng vẫn xảy ra ở nước Trung Hoa trì trệ. Tầng nghĩa thứ nhất - nghĩa đen của tân truyện là: thuốc chữa bệnh lao. Thứ mà ông bà Hoa Thuyên xem là “tiên dược” để cứu mạng thằng con “mười đời độc đinh” đã không cứu được nó mà ngược lại đã giết chết nó - đó là thứ thuốc mê tín.
 
+ Trong truyện, bố mẹ thằng Thuyên đã áp đặt cho nó một phương thuốc quái gở. Và cả đám người trong quán trà cũng cho rằng đó là thứ thuốc tiên. Như vậy, tân truyện còn hàm nghĩa sâu xa hơn, mang tính khai sáng: đây là thứ thuốc độc, mọi người cần phải giác ngộ ra rằng cái gọi là thuốc chữa bệnh lao được sùng bái là một thứ thuốc độc. Người Trung Quốc cần phải tỉnh giấc, không được ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có sửa sổ.
 
+ Chiếc bánh bao - liều thuốc độc lại được pha chế bằng máu của người cách mạng - một người xả thân vì nghĩa, đổ máu cho sự nghiệp giải phóng nông dân... Những người dân ấy (bố mẹ thằng Thuyên, ông Ba, cả Khang...) lại dửng dưng, mua máu người cách mạng để chữa bệnh.... Với hiện tượng chiếc bánh bao tẩm máu Hạ Du, Lỗ Tấn đã đặt ra một vấn đề hết sức hệ trọng là ý nghĩa của hi sinh. Tân truyện vì thế mang tầng nghĩa thứ ba: Phải tìm một phương thuốc làm cho quần chúng giác ngộ cách mạng và làm cho cách mạng gắn bó với quần chúng. Chiếc bánh bao thấm máu Hạ Du khi nướng lên lại tỏa mùi hương ngào ngạt cả quán lão Thuyên. Mùi thơm ở dây là mùi thơm của tinh thần và khí phách Hạ Du . Bằng chi tiết này ,tác giả đã gián tiếp ca ngợi Hạ Du một cách kín đáo. Ca ngợi tinh thần , khí phách và phê phán sự xa rời quần chúng của Hạ Du.
 
b. Hình ảnh con đường:Tác giả còn phác họa hình ảnh con đường dẫn đến khu nghĩa địa này : có một con đường mòn ở giữa chia làm hai: Ở giữa có con đường nhỏ hẹp , cong queo, do những người hay đi tắc dẫm mãi thành đường. Nghĩa địa người chết chém phía bên trái nghĩa địa người nghèo phía bên phải .Con đường mòn là biểu tượng cho một tập quán xấu đã trở thành thói quen. Là cái ranh giới tự nhiên để phân cách ngăn cách giữa những người chiến sĩ cách mạng như Hạ Du với quần chúng , như gia đình Hoa Thuyên , cả Khang ,Năm Gù ... Không chỉ sống họ mới cách biệt nhau mà cho đến khi chết họ cũng cách biệt nhau bởi con đường mòn nhỏ hẹp , cong queo ấy c. Vòng hoa trên mộ Hạ Du - Cả hai bà mẹ cùng rất kinh ngạc khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa : “hoa trắng hoa hồng nằm khoanh trên nấm mộ khum khum…
 
+ Việc làm của Hạ Du đã khiến mọi người phải suy nghĩ một cách nghiêm túc.Với vòng hoa, Lỗ Tấn đã bày tỏ sự trân trọng và tiếc thương đối với người chiến sĩ cách mạng tiên phong. Đồng thời cũng thể hiện sự trân trọng của ông với cuộc cách mạng Tân Hợi.
 
+ Rõ ràng vòng hoa trên nấm mộ Hạ Du như muốn khẳng định một chân lý lịch sử và cách mạng: Trong trạng thái mê muội, tê liệt của quần chúng thuở ấy, vẫn có người nhớ đến, tiếc thương ngưỡng mộ và quyết tâm noi gương người cách mạng tiên phong đã ngã xuống vì đại nghĩa. Vòng hoa thể hiện cho xu thế cách mạng, cho niềm lạc quan đối với tiền đồ cách mạng. Vòng hoa trong truyện “Thuốc” là một dự cảm về con đường bão táp, một tia lửa hôm nay sẽ báo hiệu một đám cháy ngày mai!
 
+ Vòng hoa trên mộ Hạ Du: Có thể xem vòng hoa là cực đối lập của “chiếc bánh bao tẩm máu”. Phủ định vị thuốc là bằng chiếc bánh bao tẩm máu, tác giả mơ ước tìm kiếm một vị thuốc mới- chữa được cả những bệnh tật về tinh thần cho toàn xã hội với điều kiện tiên quyết là mọi người phải giác ngộ cách mạng, phải hiểu rõ “ý nghĩa của sự hi sinh” của những người cách mạng.
 
+ Nhờ chi tiết vòng hoa trên mộ Hạ Du chủ đề tư tưởng tác phẩm mới được thể hiện trọn vẹn, nhờ đó mà không khí của truyện vốn rất u buồn tăm tối song điều mà tác giả đưa đến cho người đọc không phải là tư tưởng bi quan. d. Hình ảnh những nấm mộ như những chiếc bánh bao của người giàu trong ngày mừng thọ. Nghĩa địa này là nghĩa địa Cổ Hiên Ðình Khẩu - nơi chôn xác những người nghèo như cu Thuyên và những người hoạt động Cách mạng như Hạ Du . Tác giả đã so sánh ngôi mộ ở nghĩa địa Cổ Thiên Ðình Khẩu : như những chiếc bánh bao của người giàu trong ngày mừng thọ.
 
Nghĩa thứ nhất đầy thương cảm: người chết nhiều ( chết vì lạc hậu u mê, tăm tối) Nghĩa thứ hai: Ðây là lối so sánh rất sâu rất đau , hàm chứa một ý nghĩa tố cáo rất gay gắt . Lối so sánh này cũng tạo nên một sự đối lập để làm nổi bật sự tham lam tàn ác của giai cấp thống trị . Những người nằm dưới những ngôi mộ này như cu Thuyên và Hạ Du đều là những người chết trẻ , chết non ,chết yểu . Vậy mà mộ của họ lại được so sánh như như những chiếc bánh bao của những kẻ giàu có , sống lâu trong ngày mừng thọ . Một đằng là chết non , chết yểu , một đằng là mừng thọ sống cao tuổi .Ðó là sự đối lập hoàn toàn . Từ đó tác giả tố cáo tội ác của giai cấp thống trị : sống phè phỡn , sống sung sướng trên xương xương máu của những người nghèo và chiến sĩ cách mạng . Nghĩa thứ ba: Phê phán người dân TQ u mê về chính trị, không biết phân biệt đâu chính đâu tà. Họ đã để mộ Hạ Du chung với những kẻ chết chém vì ăn cướp. e. Thời gian nghệ thuật của truyện Tiến triển từ mùa thu Hạ Du bị hành hình đến mùa xuân trong tiết thanh minh năm sau lúc hai bà mẹ đi thăm mộ con.Cái chết của hai người con cũng như chiếc lá rời cành để tích nhựa cho một mùa xuân hi vọng.. . dự báo về một tương lai sáng sủa cho cách mạng Trung Hoa. Thời gian nghệ thuật trong truyện “Thuốc” vận động từ mùa thu đến mùa xuân, từ lúc tử tù bị chém, thằng Thuyên ho lao rồi chết đến tiết thanh minh, trên ngôi mộ Hạ Du có vòng hoa, một thằng Thuyên và những nấm mộ khác “lác đác vài nụ hoa bộ tý, trăng trắng, xanh xanh”, trên cành dương liễu đã đâm ra “những mầm non bằng nửa hạt gạo”. Đó là mầm xanh của mùa xuân hy vọng, hứa hẹn một ngày mai ấm áp hơn. 


0
phiếu
0đáp án
1K lượt xem

Ý nghĩa nhan đề “Thuốc” và hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người:
 
Nhan đề thiên truyện là Thuốc (nguyên văn là Dược) . Thuốc ở đây chính là chiếc bánh bao tẩm máu người mà lão Hoa đã mua về cho thằng Thuyên ăn để chữa bệnh lao.Nhan đề này có nhiều nghĩa .
 
Nghĩa tường minh, chỉ phương thuốc chữa bệnh lao bằng chiếc bánh bao tẩm máu người . Đây là một phương thuốc mê tín, lạc hậu tương tự như hai vị thuốc mà ông thầy lang đã bốc cho cho bố Lỗ Tấn để chữa bệnh phù thủng là rễ cây mía đã kinh sương ba năm và một đôi dế đủ con đực , con cái dẫn đến cái chết của ông cụ.
 
Nghĩa hàm ẩn, đó là phương thuốc để chữa bệnh tinh thần : căn bệnh gia trưởng , căn bệnh u mê lạc hậu về mặt khoa học của người dân Trung Quốc . Bố mẹ thằng Thuyên vì lạc hậu và gia trưởng đã áp đặt cho nó một phương thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu người dẫn đến cái chết của nó . Rồi tất cả đám người trong quán trà cũng sai lầm như vậy. Chiếc bánh bao tẩm máu vô hại kia đã trở thành một thứ thuốc độc vì người ta quá tin vào nó mà không lo tìm một thứ thuốc khác .Người dân Trung Quốc phải tỉnh giấc , không được “ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”.
 
-Tầng nghĩa thứ ba của Thuốc, của chiếc bánh bao tẩm máu người là phương thuốc nhằm chữa căn bệnh u mê lạc hậu về mặt chính trị của người dân Trung Quốc ( đám đông quần chúng không hiểu gì về Cách mạng nên mới xem HD là giặc …) và căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng Trung Quốc thời bấy giờ . Hạ Du vì xa rời quần chúng nên sự hi sinh của anh thật đáng thương hại. Tóm lại: Nhan đề truyện và hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người đã thể hiện chủ đề tư tưởng tác phẩm: Lỗ Tấn đã đau nỗi đau của dân tộc Trung Hoa thời cận đại : nhân dân thì “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt” còn người cách mạng thì “bôn ba trong chốn quạnh hiu”
 

0
phiếu
0đáp án
5K lượt xem

1K
lượt xem

Thi pháp truyện ngắn trung đại Việt Nam

Thi pháp truyện ngắn trung đại Việt NamTrần Nho ThìnI. ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI TRUYỆN NGẮN TRUNG ĐẠIKhái niệm truyện ngắn trung đại là một khái...
689
lượt xem

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn có tác phẩm nào gọi là Hịch tướng sĩ không ?

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn có tác phẩm nào gọi là Hịch tướng sĩ không ?Nguyễn Đăng Na Sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập hai, xuất bản năm 2004,...
536
lượt xem

VẺ ĐẸP LÃNG MẠN TRONG TÁC PHẨM: MẢNH TRĂNG CUỐI RỪNG

VẺ ĐẸP LÃNG MẠN TRONG TÁC PHẨM: MẢNH TRĂNG CUỐI RỪNG Đặt vấn đề Trăng là một traí vàng của vũ trụ, từ nghìn đời nay trăng đã từng rụng...
392
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Văn học làm cho con người thêm phong phú, tạo khả năng cho con người lớn lên, hiểu được con người nhiều hơn." (M.L.Kalinine)
408
lượt xem

Phát biểu về văn học

“Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu. Tình yêu con người, ước mơ cháy bỏng vì một xã hội công bằng, bình đẳng bái ái luôn luôn thôi...
427
lượt xem

Phát biểu về văn học

“Làm thơ là cân một phần nghìn milligram quặng chữ.” (Maiacopxki)
483
lượt xem

Phát biểu về văn học

“Làm thơ là cân một phần nghìn milligram quặng chữ.” (Maiacopxki)
409
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Thơ chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy." (Tố Hữu)
427
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Văn học không quan tâm đến những câu trả lời do nhà văn đem lại, mà quan tâm đến những câu hỏi do nhà văn đặt ra, và những câu hỏi này, luôn luôn...
346
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Một tiểu thuyết thực sự hứng thú là tiểu thuyết không chỉ mua vui cho chúng ta, mà còn chủ yếu hơn là giúp đỡ chúng ta nhận thức cuộc sống, lí...
553
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Văn học làm cho con người thêm phong phú, tạo khả năng cho con người lớn lên, hiểu được con người nhiều hơn." (M.L.Kalinine)
351
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Đối với con người, sự thực đôi khi nghiệt ngã, nhưng bao giờ cũng dũng cảm cũng cố trong lòng người đọc niềm tin ở tương lai. Tôi mong muốn những...
301
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Đối với nhà thơ thì cách viết, bút pháp của anh ta là một nửa việc làm. Dù bài thơ thể hiện ý tứ độc đáo đến đâu, nó cũng nhất thiết phải đẹp....
507
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Nếu tác giả không có lối đi riêng thì người đó không bao giờ là nhà nhăn cả...Nếu anh không có giọng riêng,anh ta khó trở thành nhà văn thực thụ"...
577
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Cái quan trọng trong tài năng văn học và tôi nghĩ rằng cũng có thể trong bất kì tài năng nào, là cái mà tôi muốn gọi là tiếng nói của riêng mình". (IvanTuốcghênhiép)
511
lượt xem

Phát biểu về văn học

“Mỗi tác phẩm phải là mỗi phát minh về hình thức và khám phá về nội dung". (Lêonit Lêonop)
452
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Giá trị của 1 tác phẩm nghệ thuật trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó. Nhưng là tư tưởng đã được rung lên ở các bậc tình cảm, chứ không phải...
313
lượt xem

Phát biểu về văn học

“Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ. Nhà văn không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ sáng...
619
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Một nhà văn thiên tài là người muốn cảm nhận mọi vẻ đẹp man mác của vũ trụ". (Thạch Lam)
275
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Thơ là cái nhụy của cuộc sống, nên nhà thơ phải đi hút cho được cái nhụy ấy và phấn đấu làm sao cho cuộc đời của mình cũng có nhụy". (Phạm Văn Đồng)
253
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Thơ là cái nhụy của cuộc sống, nên nhà thơ phải đi hút cho được cái nhụy ấy và phấn đấu làm sao cho cuộc đời của mình cũng có nhụy". (Phạm Văn Đồng)
325
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Thơ ca là niềm vui cao cả nhất mà loài người đã tạo ra cho mình". (C.Mac)
281
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm". (Voltaire)
371
lượt xem

Phát biểu về văn học

“Văn chương có loại đáng thờ và loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương, loại đáng thờ là loại chuyên chú ở...
422
lượt xem

Phát biểu về văn học

“Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ...
412
lượt xem

Phát biểu về văn học

“Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lý.” (M.Gorki)
345
lượt xem

Phát biểu về văn học

“Nhà văn phải biết khơi lên ở con người niềm trắc ẩn, ý thức phản kháng cái ác; cái khát vọng khôi phục và bảo vệ những cái tốt đẹp". (Ai - ma - tôp)
345
lượt xem

Phát biểu về văn học

"Văn học, đó là tư tưởng đi tìm cái đẹp trong ánh sáng". (CharlesDuBos)
263
lượt xem

Phát biểu về văn học

-"Văn học,đó là tư tưởng đi tìm cái đẹp trong ánh sáng". (Charles DuBos)
322
lượt xem

Phát biểu về văn học

- Nhà văn phải là người "thư kí trung thành của thời đại". (Banlzac)
351
lượt xem

Phát biểu về văn học

-"Một nhà nghệ sĩ chân chính phải là nhà nhân đạo trong cốt tủy". (Sê khốp)
477
lượt xem

Phát biểu về văn học

-"Đối với tôi văn chương không phải là cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên;trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh...
293
lượt xem

Phát biểu về văn học

Người nghệ sĩ không có thời gian để nghe các nhà phê bình. Người muốn trở thành nhà văn đọc phê bình, người muốn viết không có thời gian để...
467
lượt xem

Phát biểu về văn học

Không có may mắn trong sáng tác. Không có chỗ cho những trò lừa gạt. Điều tốt nhất anh có thể viết là con người tốt nhất của anh.(Nothing goes by...
291
lượt xem

Phát biểu về văn học

Văn chương trở thành ký ức sống động của một quốc gia.(Literature becomes the living memory of a nation.)Aleksandr Solzhenitsyn
265
lượt xem

Phát biểu về văn học

Thật đau khổ cho một quốc gia mà nền văn học cắt giảm vì sự cản trở của thế lực. Điều này không chỉ xâm phạm quyền tự do báo chí mà còn đóng kín...
418
lượt xem

Phát biểu về văn học

Cuối cùng văn chương cũng chính là nghề mộc. Anh đều làm việc với hiện thực, một vật liệu cũng cứng như gỗ.(Ultimately, literature is nothing but...
432
lượt xem

Phát biểu về văn học

Thi ca là thứ nghệ thuật chung của tâm hồn đã trở nên tự do và không bị bó buộc vào nhận thức giác quan về vật chất bên ngoài; thay vì thế,...
551
lượt xem

Phát biểu về văn học

Khi khoa học, nghệ thuật, văn học và triết học chỉ đơn thuần là sự biểu lộ của tính cách, chúng lên tới mức có thể đạt được những thành tựu huy...
570
lượt xem

Phát biểu về văn học

Mục đích của người viết văn là giữ cho nền văn minh không tự hủy diệt.(The purpose of a writer is to keep civilization from destroying itself.)Albert Camus
537
lượt xem

Phát biểu về văn học

Lịch sử là tiểu thuyết lãng mạn được tin; và tiểu thuyết lãng mạn, lịch sử không được tin.(History is a romance that is believed; romance, a...
1K
lượt xem

Lỗ Tấn và tác phẩm "Thuốc" (tiết 2)

Thầy: Đặng Ngọc Khương - Môn: Ngữ văn
0
phiếu
1đáp án
2K lượt xem

12Trang sau 153050mỗi trang
52

bài viết

Chat chit và chém gió
  • theoofman1093: q 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: u 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: v 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: ư 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: y 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: z 5/8/2020 9:25:29 PM
  • theoofman1093: tui bây ngu như pò 5/8/2020 9:25:38 PM
  • theoofman1093: è 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: sg 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: h 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: sdg 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: ggg 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:05 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:48:06 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:07 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:10 PM
  • theoofman1093: dfgfg 5/8/2020 9:48:11 PM
  • vingoc: hi mn 11/13/2020 9:28:11 PM
  • vingoc: em mới vào ạ 11/13/2020 9:28:24 PM
  • vingoc: ở đây có ai lớp 7 ko ạ? 11/13/2020 9:29:13 PM
  • duolingo: 9 3/28/2021 11:19:10 AM
  • huongmaixm01: văn lớp 9 7/2/2021 11:26:56 AM
  • minhmama357: hi 8/13/2021 4:22:39 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • vipof95962: me may beo vai 11/20/2022 11:53:17 AM
  • vipof95962: wanna watch hentai 11/20/2022 11:53:47 AM
  • vipof95962: laughing 11/20/2022 11:53:49 AM
  • vipof95962: sex is good for you 11/20/2022 11:53:56 AM
  • kkkkkkkk: free fire 11/27/2022 3:22:24 PM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely
  • nguyennhung9904
  • duolingo
  • duolingo