Biền ngẫu
Hình thức cấu trúc của một loại văn chương cổ xưa ở phương Đông (được gọi là biền văn), trong đó lấy đối làm nguyên tắc cơ bản, tạo cho lời văn sự nhịp nhàng, cân đối.
Theo nghĩa từ nguyên, biền là hai con ngựa chạy song song với nhau và ngẫu là chăn đôi. Biền ngẫu là cách nói hình tượng hoá, chỉ câu văn có các vế sóng đôi đối nhau từng cặp. Nguyên tắc đối trong biền ngẫu có những yêu cầu rất chặt chẽ và phức tạp.
- Đối ý: Phải tìm được hai ý có liên quan với nhau nhưng lại đối nhau để đạt thành hai vế trong câu, hai ý này có thể trái ngược hoặc thuận chiều với nhau.
VD: - Đến nay nước sông tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù không rửa nổi (đối tương phản)
- Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới,
Hùng hổ ba quân, giáo gươm sáng chói...
(Trương Hán Siêu - Bạch Đằng giang phú dịch từ nguyên tác Hán văn)
- Đối thanh: nghịch đối (trắc đối với bằng)
- Đối từ: đối theo nghĩa (cũng có nghịch đối và thuận đối).
- Đối từ loại: thực từ đối với thực tự, hư từ đối với hư từ.
Văn biền ngẫu có quá trình phát triển lâu dài ở Trung Quốc. Thời Nguỵ Tấn Nam Bắc triều (220-589) là thời kì thịnh đạt của biền ngẫu. Đặc biệt thời Nam Bắc triều, biền văn chiếm giữ một vị trí rất quan trọng trong văn học, lấn át các loại văn khác như tản văn. Thời đó, biền ngẫu còn được gọi là thể tứ lục, vì mỗi câu có hai vế, vế trên bốn chữ, vế dưới 6 chữ. Các thể văn như phú, cáo, hịch, văn tế,... đều được viết theo lối biền ngẫu.
Nhìn chung văn biền ngẫu chỉ chú trọng về hình thức. Nhược điểm lớn nhất của nó là rất gò ép trong diễn tả tư tưởng, tình cảm. Tuy nhiên đối với những cây bút lão luyện, với những cảm xúc mãnh liệt, cũng có thể tạo ra những bài văn hay như Biệt phú của Giang Yêm, Vu thành phú của Bão Chiếu,.. thời Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi,.. thời Trần, Lê ở Việt Nam.