|
|
giải đáp
|
Tây Tiến của Quang Dũng
|
|
|
|
1. Giới thiệu đôi nét về tác giả - tác phẩm - đoạn thơ - Quang Dũng (1921-1988), tên thật là Bùi Đình Diệm quê ở Phùng nay thuộc Đan Phượng, Hà Nội. Ông là một nghệ sĩ đa tài với một hồn thơ trung hậu yêu thiết tha quê hương, đất nước mình. Trong thơ ông có hình ảnh cái tôi hào hoa, thanh lịch, giàu chất lãng mạn, nhạy cảm với vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, con người. - Tây Tiến được sáng tác năm 1948, là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của đời thơ Quang Dũng, cũng là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của giai đoạn văn học kháng chiến chống Pháp nói chung, văn học Việt Nam nói riêng. - Bài thơ có thể chia làm ba phần chính, tái hiện những mảng màu khác nhau trong bức tranh về đời sống chiến đấu của người lính. Đoạn trích nói trên ở phần đầu tác phẩm vẽ nên cảnh hiểm trở, hoang sơ mà hùng vĩ nên thơ của núi rừng Tây Bắc và con đường hành quân đầy gian khổ của người lính. 2. Phân tích đoạn thơ *Nhớ về hình ảnh núi rừng trùng điệp hoang sơ mà đầy chất thơ và con đường hành quân đầy gian khổ của người lính.
- Thiên nhiên miền Tây nơi hoạt động của đoàn binh Tây Tiến là một vùng núi rừng trùng điệp, hoang sơ đầy hiểm nguy rình rập. + Ngay những cái tên cũng đủ gợi lên sự xa xôi: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch… + Miền đất gió sương bao phủ: “sương lấp”, “đêm hơi” + Những núi cao, vực sâu hiểm trở: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm … Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”. Cách sử dụng từ láy gợi hình, gợi cảm (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút), nhịp thơ ngắt khúc đột ngột, bất ngờ, thủ pháp điệp từ (dốc) và số từ mang ý nghĩa biểu tượng (“ngàn thước”) đã diễn tả hết cái khúc khuỷu, hiểm trở mà hùng vĩ của núi rừng miền Tây. + Những thác gầm, hổ dữ: thủ pháp nhân hóa “thác gầm thét”, “cọp trêu người” gắn liền với các từ chỉ thời gian “chiều chiều”, “đêm đêm” cho thấy sự hoang sơ, man dại của mảnh đất này. Đó cũng chính là những thử thách, hiểm nguy mà người lính Tây Tiến phải đối mặt hàng ngày. - Không chỉ khắc nghiệt, hoang sơ, man dại, thiên nhiên miền Tây, trong con mắt của người lính Tây Tiến còn mang vẻ đẹp lãng mạn, cuốn hút. Đó là khoảnh khắc dừng chân giữa đỉnh đèo phóng tầm mắt ra xa để nhận về hình ảnh những mái nhà yên bình trong màn mưa: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. c. Hình ảnh người lính và kỉ niệm tình quân dân ấm áp - Những vất vả, gian truân cả sự hi sinh của người lính: Hình ảnh “đoàn quân mỏi” lặng lẽ hành quân trong đêm sương và những bức chân dung người lính “dãi dầu” mưa nắng đều là những hình ảnh rất thực về những vất vả, gian khó của đoàn quân Tây Tiến. Họ sẵn sàng đối mặt và vượt qua những thiếu thốn, hiểm nguy (thậm chí còn ngạo nghễ, hóm hỉnh trong cách nói “súng ngửi trời) và chấp nhận sự hi sinh một cách nhẹ nhàng, thanh thản “không bước nữa”, “bỏ quên đời”. Câu thơ có nhiều cách hiểu song dù hiểu theo cách nào, ta cũng thấy được những gian khổ của người lính trên những nẻo đường hành quân nơi xứ lạ. - Kỉ niệm về tình quân dân ấm áp: Đó là kỉ niệm về những bản làng xa xôi nơi đoàn quân tạm dừng chân sau những chặng hành quân mệt mỏi. Họ được hưởng tình quân dân ấm áp trong bát cơm mới ấm nồng, trong vị thơm của nếp nương qua bàn tay tài khéo và tấm lòng thơm thảo của người dân nơi đây. Đó chính là nguồn động viên nâng bước, tiếp sức cho họ tiếp tục chiến đấu giải phóng quê hương. 3. Đặc sắc nghệ thuật - Sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn. - Sáng tạo những hình ảnh đầy sức gợi, những cách diễn đạt ấn tượng để lại trong người đọc nhiều xúc cảm thẩm mĩ (“mùa em thơm nếp xôi”, “súng ngửi trời”) . - Giọng thơ biến đổi linh hoạt thể hiện những tâm trạng, cung bậc cảm xúc khác nhau trên nền nỗi nhớ da diết khôn nguôi.
|
|
|
|
giải đáp
|
Đề thi 9 lên 10?
|
|
|
|
Đây là một dạng đề bài tổng hợp, yêu cầu học sinh chứng minh, trình bày suy nghĩ, đánh giá, cảm nhận về hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam được thể hiện sâu sắc qua các tác phẩm văn học trung đại trong chương trình Ngữ Văn 9. Các em có thể trình bày bằng những cách khác nhau, song cơ bản cần đáp ứng được một số yêu cầu sau: 1. Giới thiệu sơ lược về các tác phẩm văn học trung đại trong chương trình Ngữ Văn 9 - Văn học thời trung đại: là thời kì văn học lớn của dân tộc (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX). Đây là thời kì văn học ra đời và phát triển dưới các triều đại phong kiến Việt Nam. Vì vậy, theo quy luật phản ánh của văn học nói chung, văn học trung địa Việt nam. Vì vậy, theo quy luật phản ánh của văn học nói chung, văn học trung đại Việt Nam là tấm gương phản chiếu xã hội phong kiến Việt Nam. - Những tác phẩm văn học trung đại trong chương trình Ngữ Văn 9: Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (thế kỉ XVI), Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh - trích Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (thế kỉ XVIII), Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, một số trích đoạn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (thế kỉ XVIII), một số trích đoạn trong Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (thế kỉ XIX). Đây là những tác phẩm văn học trung đại ra đời trong thời kì xã hội phong kiến Việt Nam suy tàm mục ruỗng. Vì vậy, hiện thực được phản ánh chủ yếu trong tác phẩm này chính là những mặt trái của xã hội. Đó là sự rối ren, sự xấu xa, vô nhân đạo của xã hội với những thế lực chà đạp con người và thân phận khổ đau của con người - nạn nhân của chính xã hội ấy. 2. Chứng minh các tác phẩm trên đã phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam. Tập trung vào những phương diện chính sau đây: * Phản ánh hiện thực rối ren, bộ mặt xấu xa, vô nhân đạo của xã hội phong kiến. - Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ: phản ánh chế độ nam quyền, chiến tranh phong kiến phi nghĩa gây ra bao nhiêu bất hạnh cho con người. - Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh - trích Vũ trung tùy bút của Phạm Hổ: Phản ánh cuộc sống xa hoa của tầng lớp vua chúa, sự nhũng nhiễu của bọn quan lại Lê - Trịnh. - Hoàng Lê nhất thống chí cảu Ngô gia văn phái: sự rối ren cảu xã hội phong kiến phản ánh thông qua số phận bi thảm, bộ mặt hèn nhát cảu lũ tvua quan bán nước, hại dân; sự đại bại cảu bè lũ xâm lược. - Mã Giám Sinh mua Kiều (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du): phản ánh bản chất bất nhân, phi nghĩa của bọn buôn thịt bán người. - Lục Vân Tiên gặp nạn (trích Truyện Lục Vân Tiên cảu Nguyễn Đình Chiểu) phản ánh sự tàn ác, toan tính thấp hèn của kẻ bất nhân. * Phản ánh số phận khổ đau, bị chà đạp của con người, đặc biệt là người phụ nữ: - Là số phận oan trái, bi kịch của Vũ Nương ( Chuyện người con gái Nam Xương cảu Nguyễn Dữ), bị chồng nghi ngờ về lòng chung thủy, bị dồn vào bước đường cùng, phải tìm đến cái chết ở bến Hoàng Giang. - Là số phận chìm nổi của Thúy Kiều, một người con gái tài sắc, đang sống trong cảnh ấm êm, bỗng chốc rơi vào thảm cảnh: bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích với bao nhiêu bẽ bàng, chua xót (Kiều ở lâu Ngưng Bích); rở thành món hàng trong tay bọn buôn người (Mã Giám Sinh mua Kiều). -Là Lục Vân Tiên nhân hậu nhưng trở thành nạn nhân cảu những toan tính thấp hèn, âm mưu hiểm độc (Lục Vân Tiên gặp nạn). 3. Đánh giá chung, trình bày suy nghĩ, cảm nhận của bản thân: - Hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam được thể hiện trong các tác phẩm nói trên thể hiện vừa sâu sắc (trên nhiều phương diện), vừa sinh động (dưới nhiều hình thức thể loại, các kiểu nhân vật phong phú). Hiện thực ấy đã giúp rất nhiều tác giả tái hiện lại bức tranh xã hội phong kiến Việt Nam trong những giai đoạn lịch sử nhất định, đặc biệt làm nên giá trị hiện thực - một trong những phương diện tư tưởng quan trọng của tác phẩm. - Thông qua hiện thực ấy, các tác giả (Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ . . .) đã lên tiếng tố cáo đanh thép xã hội phong kiến, thể hiện sự bất bình cao độ, đặc biệt là cất lên tiếng nói đồng cảm, xót xa, bênh vực và bảo vệ con người. - Thông qua hiện thực ấy, ta hiểu được tài năng và cả tấm lòng cảu các tác giả văn học trung đại.
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích nghệ thuật: "Hai đứa trẻ"?
|
|
|
|
Đây là một dạng đề bài tổng hợp, yêu cầu học sinh chứng minh, trình bày suy nghĩ, đánh giá, cảm nhận về hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam được thể hiện sâu sắc qua các tác phẩm văn học trung đại trong chương trình Ngữ Văn 9. Các em có thể trình bày bằng những cách khác nhau, song cơ bản cần đáp ứng được một số yêu cầu sau: 1. Giới thiệu sơ lược về các tác phẩm văn học trung đại trong chương trình Ngữ Văn 9 - Văn học thời trung đại: là thời kì văn học lớn của dân tộc (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX). Đây là thời kì văn học ra đời và phát triển dưới các triều đại phong kiến Việt Nam. Vì vậy, theo quy luật phản ánh của văn học nói chung, văn học trung địa Việt nam. Vì vậy, theo quy luật phản ánh của văn học nói chung, văn học trung đại Việt Nam là tấm gương phản chiếu xã hội phong kiến Việt Nam. - Những tác phẩm văn học trung đại trong chương trình Ngữ Văn 9: Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (thế kỉ XVI), Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh - trích Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (thế kỉ XVIII), Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, một số trích đoạn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (thế kỉ XVIII), một số trích đoạn trong Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (thế kỉ XIX). Đây là những tác phẩm văn học trung đại ra đời trong thời kì xã hội phong kiến Việt Nam suy tàm mục ruỗng. Vì vậy, hiện thực được phản ánh chủ yếu trong tác phẩm này chính là những mặt trái của xã hội. Đó là sự rối ren, sự xấu xa, vô nhân đạo của xã hội với những thế lực chà đạp con người và thân phận khổ đau của con người - nạn nhân của chính xã hội ấy. 2. Chứng minh các tác phẩm trên đã phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam. Tập trung vào những phương diện chính sau đây: * Phản ánh hiện thực rối ren, bộ mặt xấu xa, vô nhân đạo của xã hội phong kiến. - Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ: phản ánh chế độ nam quyền, chiến tranh phong kiến phi nghĩa gây ra bao nhiêu bất hạnh cho con người. - Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh - trích Vũ trung tùy bút của Phạm Hổ: Phản ánh cuộc sống xa hoa của tầng lớp vua chúa, sự nhũng nhiễu của bọn quan lại Lê - Trịnh. - Hoàng Lê nhất thống chí cảu Ngô gia văn phái: sự rối ren cảu xã hội phong kiến phản ánh thông qua số phận bi thảm, bộ mặt hèn nhát cảu lũ tvua quan bán nước, hại dân; sự đại bại cảu bè lũ xâm lược. - Mã Giám Sinh mua Kiều (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du): phản ánh bản chất bất nhân, phi nghĩa của bọn buôn thịt bán người. - Lục Vân Tiên gặp nạn (trích Truyện Lục Vân Tiên cảu Nguyễn Đình Chiểu) phản ánh sự tàn ác, toan tính thấp hèn của kẻ bất nhân. * Phản ánh số phận khổ đau, bị chà đạp của con người, đặc biệt là người phụ nữ: - Là số phận oan trái, bi kịch của Vũ Nương ( Chuyện người con gái Nam Xương cảu Nguyễn Dữ), bị chồng nghi ngờ về lòng chung thủy, bị dồn vào bước đường cùng, phải tìm đến cái chết ở bến Hoàng Giang. - Là số phận chìm nổi của Thúy Kiều, một người con gái tài sắc, đang sống trong cảnh ấm êm, bỗng chốc rơi vào thảm cảnh: bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích với bao nhiêu bẽ bàng, chua xót (Kiều ở lâu Ngưng Bích); rở thành món hàng trong tay bọn buôn người (Mã Giám Sinh mua Kiều). -Là Lục Vân Tiên nhân hậu nhưng trở thành nạn nhân cảu những toan tính thấp hèn, âm mưu hiểm độc (Lục Vân Tiên gặp nạn). 3. Đánh giá chung, trình bày suy nghĩ, cảm nhận của bản thân: - Hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam được thể hiện trong các tác phẩm nói trên thể hiện vừa sâu sắc (trên nhiều phương diện), vừa sinh động (dưới nhiều hình thức thể loại, các kiểu nhân vật phong phú). Hiện thực ấy đã giúp rất nhiều tác giả tái hiện lại bức tranh xã hội phong kiến Việt Nam trong những giai đoạn lịch sử nhất định, đặc biệt làm nên giá trị hiện thực - một trong những phương diện tư tưởng quan trọng của tác phẩm. - Thông qua hiện thực ấy, các tác giả (Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ . . .) đã lên tiếng tố cáo đanh thép xã hội phong kiến, thể hiện sự bất bình cao độ, đặc biệt là cất lên tiếng nói đồng cảm, xót xa, bênh vực và bảo vệ con người. - Thông qua hiện thực ấy, ta hiểu được tài năng và cả tấm lòng cảu các tác giả văn học trung đại.
|
|
|
|
giải đáp
|
"Chữ người tử tù"???????????
|
|
|
|
1. Bút pháp điêu luyện, sắc sảo, khi dựng người, dựng cảnh, những nét như khắc, như chạm, giàu tính chất tạo hình. Nhân vật nào cũng rõ nét, cảnh nào cũng có thể hình dung rõ mồn một. Chẳng hạn như cảnh sáu người tù nhân mang chung một chiếc gông dài tám thước bước tới cửa ngục với động tác" rỗ gông" đuổi rệp làm cho "một trận mưa rệp đã làm cho nền đá xanh nhạt lấm tấm những điểm đen nâu", sau đó " "sáu người né tránh mình tiến vào như một bọn thợ nề thận trọng khiêng cái thang gỗ đặt lên ngang vai" và nhất là cảnh tượng Huấn Cao viết chữ trong phòng giam là những cảnh được khắc họa hết sức sống động, đầy ấn tượng. 2. Ngôn ngữ nghệ thuật vừa giàu có, góc cạnh, đồng thời là thứ văn xuôi có nhịp điệu riêng, giàu sức truyền cảm, nhiều câu văn hàm xúc dư ba. 3. Một không khí cổ kính, trang nghiêm, có phần bi tráng bao trùm ả thiên truyện. Nguyễn Tuân chẳng những rất am hiểu và nặng lòng yêu dấu, quý trọng những điều ông thuật tả mà còn có ngòi bút già dặn, tinh vi, đầy nghệ thuật để làm sống lại con người và sinh hoạt thời xưa.
|
|
|
|
giải đáp
|
Vào phủ Chúa Trịnh?????????
|
|
|
|
Lê Hữu Trác xuất thân trong một gia đình quí tộc, giỏi binh thư,võ nghệ. Làm quan dưới thời chúa Trịnh được một thời gian,ông nhận thấy xã hội thối nát,cương thường lỏng lẻo, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất (1746), ông liền viện cớ cáo quan về nuôi mẹ già. Từ đó ông chuyên nghiên cứu y học vừa chữa bệnh cứu đời, vừa soạn sách và mở trường dạy học truyền bá y đức, y lí,y thuật.
Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43(1782),Lê Hữu Trác nhận được lệnh chúa triệu về kinh xem mạch, kê đơn chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán.Sau đó một thời gian thì chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm. Những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong nhiều chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long đã thôi thúc ông cầm bút. Năm 1783 ông viết xong tập “Thượng kinh kí sự” bằng chữ Hán. Tập kí sự này là một tác phẩm văn học đích thực, đặc sắc giá, có giá trị sử liệu cao . Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” trong sách Ngữ văn 11-Nâng cao,tập 1(Nxb.Giáo dục,H,2007) thể hiện được đầy đủ những nét độc độc đáo trong bút pháp kí sự của Lê Hữu Trác.
Như ta biết: kí là là tên gọi chung cho một nhóm thể loại có tính giao thoa giữa báo chí với văn học. Kí viết về cuộc đời thực tại,viết về người thật,việc thật. Người viết kí miêu tả thực tại theo tinh thần của sử học. Mẫu hình tác giả kí gần gũi với nhà sử học. Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh. Kí bao gồm nhiều thể văn như : bút ký, phóng sự, du kí, hồi kí,nhật kí, …Trong số đó kí sự thiên về ghi chép chi tiết, tỉ mỉ sự việc- câu chuyện có thật. Tất nhiên đan xen vào mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện nhận xét chân thực,tinh tường của nhà văn trước sự việc.
Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý của chúa Trịnh. Lê Hữu Trác sử dụng người trần thuật ngôi thứ nhất,trực tiếp tiếp cận cung cách sinh hoạt xa hoa của chúa Trịnh. Nhà văn quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo.
Mở đầu đoạn trích là một sự kiện cụ thể, chân thực. Tính chất kí trong bút pháp của Lê Hữu Trác thể hiện rõ ở cách ghi tỉ mỉ sự việc, thời gian .Nhà văn kết hợp biện pháp kể khách quan với nghệ thuật gợi không khí nhằm làm nổi bật hành động khẩn trương,gấp gáp của nhân vật: “ Mồng một tháng 2. Sáng tinh mơ, tôi nghe tiếng gõ cửa rất gấp. Tôi chạy ra mở cửa . Thì ra một người đầy tớ quan Chánh đường….” . ở đây “trong việc có người”, người gắn chặt với cảnh,với môi trường hoạt động cụ thể. Câu văn của Lê Hữu Trác ngắn gọn, giàu thông tin, được viết ra một cách nhẹ nhàng, tự nhiên,không một chi tiết thừa .Lời văn giản dị, chắc mà bay bổng, vừa “truyền cảm” vừa truyền nhận thức .Người đọc có thể hình dung được rất rõ một cảnh huống đặc biệt đang xảy ra.
Lần theo mạch tự sự, người đọc có cảm giác hồi hộp lo âu rồi bất ngờ nhận ra một con người gần gũi, quen thuộc như cảm nhận của nhân vật “ Tôi” trong tác phẩm này. Trước mắt ta : hình ảnh nhân vật tôi đã dừng bước với tâm trạng ngạc nhiên, thoáng một chút thất vọng. Nhịp kể đột ngột chậm lại để ghi người, ghi việc rõ nét hơn, đầy đủ hơn. Hai chữ “thì ra” vừa tạo ấn tượng về sự khám phá, vừa gọi ra được người thật,việc thật .
Nhân vật “tôi” không hiện ra qua hình dáng cụ thể. Trước hết anh ta xuất hiện qua giọng nói, qua cảm nhận về âm thanh, và rõ hơn ở hành động. Nhân vật “tôi”” xuất hiện với tư cách một người trong cuộc, trực tiếp tham gia vào sự việc được miêu tả trần thuật. Vì thế ngay từ đầu truyện người đọc đãcó cảm giác đây không phải câu chuyện hư cấu, mà chính là bức tranh cuộc sống đang hiện hữu .
Khi kể việc, tả người Lê Hữu Trác không vay mượn những khuôn mẫu, chất liệu có sẵn,tác giả hướng tới khai thác chất liệu đời thường, đời tư. Chẳng hạn lời đối thoại của nhân vật người đầy tớ được thể hiện một cách tự nhiên, đúng với vị thế chức phận của hắn: “có thánh chỉ triệu cụ vào. Quan truyền mệnh hiện đang ở nhà cụ lớn con,con vâng mệnh chạy đến đây báo tin…”.
Lê Hữu Trác coi trọng việc kể lại có ngọn ngành. Nhà văn ưa sắp xếp sự việc cho đầy đủ mạch lạc có đầu có cuối, nên dường như cứ một đoạn hay một câu nói về hành động của tên đầy tớ lại tiếp đoạn tự thuật về hành động, cảm nhận của Lê Hữu Trác. “Nghe tiếng gõ cửa…..tôi chạy ra…” , “người đầy tớ nói…..tôi bèn” , “tên đầy tớ chạy…tôi bị xóc một mẻ,khổ không nói hết”. Mạch văn chặt chẽ nhờ sự thể hiện thành công cái lô gíc nhân quả của sự kiện, hành động .Ban đầu ta tưởng như nhân vật “tôi” chủ động, nhưng càng đọc càng thấy nhân vật “tôi” bị cuốn vào hết sự việc này đến sự việc khác.
Mở đầu đoạn trích cấu trúc câu văn ngắn gọn. Mỗi câu văn tương ứng với một tâm tình, một sự việc, hành động. Người đọc vừa đồng cảm với nỗi vất vả và hành động bất đắc dĩ của nhân vật tôi vừa đồng tình với Lê Hữu Trác ở thái độ mỉa mai châm biếm sự lộng quyền ,tiếm lễ của chúa Trịnh Sâm lúc bấy giờ.
Quang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa được ghi lại khá tỉ mỉ qua con mắt quan sát của một thầy thuốc lần đầu tiên bước chân vào thế giới mới lạ. Không gian nghệ thuật của tác phẩm ngày càng được mở rộng hơn theo bước chân, và cách nhìn của nhân vật xưng “tôi” .Bức tranh toàn cảnh về phủ chúa Trịnh không chỉ có bề rộng mà còn có chiều sâu, với một sức gợi mạnh mẽ.
Theo nhân vật “tôi” quanh cảnh ở phủ chúa cực kì xa hoa, tráng lệ- không ở đâu sánh bằng: Khi vào phủ phải qua nhiều lần cửa với những hành lang quanh co nối tiếp nhau,ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác. Khuôn viên phủ chúa rộng, có trạm dừng chân được kiến trúc thật kiểu cách, với cảnh trí thiên nhiên kì lạ. Trong vườn, chim kêu ríu rít,danh hoa đua thắm,gió đưa thoang thoảng mùi hương. Bên trong là những Đại đường, gác tía với kiệu son, võng điều. Đồ dùng của chúa được son son thiếp vàng, đồ dùng tiếp khách ăn uống cũng đều là mâm vàng, chén bạc, của ngon vật lạ…. Đến nội cung của thế tử phải trải qua 6 lần trướng gấm. Nơi ở của thế tử rất sang trọng,có sập thếp vàng, ghế rồng bày nệm ấm ,xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt…
Lê Hữu Trác khéo kết hợp tả tập trung với điểm xuyết, chọn lọc được những chi tiết đắt, nói lên quyền uy tối thượng cùng nếp sống hưởng thụ cực kì xa xỉ của gia đình chúa Trịnh Sâm. Giọng kể khách quan, trang nghiêm, đan xen với thái độ ngạc nhiên và hàm ý phê phán kín đáo chúa Trịnh .Nhà văn khéo kết hợp giữa văn xuôi và thơ ca. Bài thơ vịnh cảnh, tả việc của Lê Hữu Trác ý tứ sâu xa, lời thơ hóm hỉnh ,ẩn giấu một nụ cười châm biếm, mỉa mai.
Lời nhận xét trong văn phẩm khá đa dạng: Trước tiên Lê Hữu Trác đánh giá khái quát vẻ đẹp. Tiếp theo nhận xét về cảnh giàu sang. Tiếp nữa nêu ấn tượng về cách bày trí, kiến trúc kiểu cách. Nhà văn dừng lại bình giá tỉ mỉ,sắc sảo các đồ dùng xa hoa từ nhà Đại đường đến Gác tía. Lời đánh giá nào của lê Hữu Trác cũng đích đáng,tinh tế và có chừng mực. Nói tác phẩm giàu chất trữ tình vì thế.
Tác giả quan sát các công trình kiến trúc, cảnh trí thiên nhiên qua hình khối, dáng vẻ kích cỡ, tả khuôn viên chủ yếu qua những ấn tượng về hương thơm âm thanh, kể về mức độ xuất hiện của thị vệ, quân sĩ để nhấn mạnh vẻ trang nghiêm của nơi đây. Lê Hữu Trác đặc biệt ưa tả đường đi, lối vào phủ chúa. Ta có cảm tưởng đằng sau mỗi cánh cửa là một bức tranh .Đoạn trích gồm nhiều bức tranh với những mảnh màu tối sáng, nhạt đậm khác nhau, nối liền nhau .
Qua mấy lần cửa đầu tiên, trước mắt tác giả giống như một cảnh tiên huyền ảo, cây cối um tùm, hương hoa thơ mộng. Đi tiếp, cảnh giàu sang của phủ chúa được bày ra chân thật,đầy đủ hơn. Càng đi sâu vào trong, Lê Hữu Trác càng có dịp quan sát không gian nội thất, không gian cao rộng của lầu gác với các đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, nhất là được biết cái phong vị của nhà đại gia.
“Vào phủ chúa Trịnh” trở thành một quá trình tiếp cận sự thật đời sống xa hoa vương giả hơn là thăm bệnh,chữa bệnh. Thăm bệnh, chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán tưởng chỉ như một cái cớ, một dịp may giúp người viết kí hoàn thiện bức tranh về cuộc sống thâm nghiêm, giàu sang đầy uy quyền.
Lê Hữu Trác tổ chức điểm nhìn trần thuật linh hoạt. Có đoạn sự việc được kể theo quan sát của nhân vật xưng tôi. Có đoạn nhà văn để cho nhân vật quan truyền chỉ miêu tả,giới thiệu. Người đọc có cảm tưởng không chỉ có Lê Hữu Trác dẫn ta vào phủ chúa để tự do quan sát ngắm nhìn mà cả những kẻ hầu cận chúa cũng đưa ta thâm nhập, khám phá sự thật ở “Đông cung”. Những đoạn nhân vật tôi độc thoại toát lên cái nhìn sắc sảo và sự cảm nhận tinh tế. Những đoạn kể tả, cho thấy nhân vật tôi bao quát được một không gian rộng lớn, nắm bắt được thần thái, bản chất của sự vật hiện tượng. Trong tư cách một người thầy thuốc quê mùa, nhân vật tôi luôn tỏ ra là một người hoà nhã kính nhường, ham học hỏi y thuật của đồng nghiệp . Sự đối lập về vị thế so với các vị lương y của sáu cung hai viện,không khiến nhân vật tôi trở nên nhỏ bé, trái lại càng tôn cao hơn nhân cách và tài năng của nhân vật này . Vẻ đông đúc của lương y nơi triều đình tự phơi bày hết sự thực ở phú chúa đang tồn tại một hệ thống quan lại bất tài, ăn bám .
Các nhà nho xưa ít khi nói về mình. Nhưng trong đoạn trích này,tác giả đã không ngần ngại để cái “Tôi”đóng một vai trò quan trọng. “Vào phủ chúa Trịnh” thể hiện trực tiếp cái tôi cá nhân người cầm bút. Qua đoạn trích ta thấy tác giả Lê Hữu Trác là một thầy thuốc giàu kinh nghiệm. Bên cạnh tài năng ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ. Lê Hữu Trác xem nghề thuốc vô cùng thiêng liêng cao quí,người làm thuốc phải nối tiếp lòng trung của cha ông mình,phải luôn giữ đức cho trong, giữ lòng cho sạch . Lê Hữu Trác yêu thích tự do, nếp sống thanh đạm. Vượt lên trên những danh lợi tầm thường ông trở về hành đạo cứu đời với quan niệm : “Thiện tâm cốt ở cứu người. Sơ tâm nào có mưu cầu chi đâu/ Biết vui, nghèo cũng hơn giàu/ Làm ơn nào phải mong cầu trả ơn”.
|
|
|
|
giải đáp
|
Cả nhà giúp em vs a: Tóm tắt đoạn trích "Tình yêu và thù hận"
|
|
|
|
Rô-mê-ô và Giu-li-ét là vở bi kịch nổi tiếng gắn liền với tên tuổi của Sếch-xpia. Ở thành Vê-rô-na nước Ý có hai dòng họ phong kiến vốn có mối thù truyền kiếp với nhau là Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét. Chàng Rô-mê-ô là con trai họ Môn-ta-ghiu yêu Giu-li-ét, con gái họ Ca-piu-lét. Họ là một đôi trai tài gái sắc. Hai người làm lễ thành hôn thầm kín. Nhưng cùng trong ngày hôm đó, do một cuộc cãi lộn, Rô-mê-ô đâm chết Ti-bân, anh họ Giu-li-ét và bị kết tội biệt xứ. Gia đình Giu-li-ét ép nàng phải lấy bá tước Pa-rít. Nàng định tự sát, nhưng được tu sĩ Lâu-rân giúp kế tránh cuộc hôn nhân đó : tu sĩ cho nàng một liều thuốc ngủ, uống vào sẽ như người đã chết ; sau khi gia đình đặt thi thể nàng vào hầm mộ, tu sĩ sẽ báo cho Rô-mê-ô đến cứu nàng trốn khỏi thành Vê-rô-na. Nhưng người của tu sĩ chưa kịp báo tin thì người nhà Mông-ta-ghiu lại đến trước báo tin nàng Giu-li-ét đã tự sát. Rô-mê-ô tưởng nàng đã chết, nên đã tự sát bên nàng. Giu-li-ét tỉnh dậy, cũng tự sát theo. Và trước cái chết của hai người, hai họ đã quên mối thù truyền kiếp. Tác phẩm kết thúc bằng cái chết của hai nhân vật chính và sự hoà giải của hai dòng họ. Một kết thúc đầy bi kịch nhưng âm hưởng chung của tác phẩm lại thể hiện cái nhìn lạc quan của tác giả đối với sự chiến thắng của lí tưởng nhân văn chủ nghĩa. Tình yêu say đắm thuỷ chung của hai người trẻ tuổi đã xoá bỏ những tập tục thành kiến và thù địch của hai dòng họ suốt hàng trăm năm. Đoạn trích thuộc lớp 2, hồi II của vở kịch. Rô-mê-ô và Giu-li-ét gặp nhau và họ đã yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên. Rô-mê-ô khi biết Giu-li-ét là con gái nhà Ca-piu-lét đã nói : “Nàng là người họ Ca-piu-lét sao ? Ôi oan trái yêu quý, đời sống của ta nằm trong tay người thù”. Còn Giu-li-ét thì bảo nhũ mẫu : “Nếu chàng có vợ rồi thì có lẽ nấm mồ kia sẽ là giường cưới của ta”. Và khi biết Rô-mê-ô là con nhà Môn-ta-ghiu, nàng đã thốt lên : Một mối thù sinh một mối tình Vội chi sớm gặp, biết đành muộn sao ! Tình đâu trắc trở gian lao Hận thù mà hoá khát khao ân tình. Những lời này của Giu-li-ét cũng chính là linh cảm cho mối tình đầy ngang trái của họ. Đêm về cả hai đều không ngủ được. Rô-mê-ô liều mình trèo vào tường nhà Ca-piu-lét dù biết rằng mình có thể bị giết chết. Và tình cờ chàng đã nghe được những lời tâm sự của Giu-li-ét. Đoạn trích là cuộc gặp gỡ của đôi trẻ sau đêm dạ hội ấy.
|
|
|
|
giải đáp
|
Nghị luận xã hội?
|
|
|
|
1.Giá trị của thiên tài : tiền của và tiền bạc Dùng để sử dụng và chi tiêu, phục vụ cho cuộc sống, rất quan trọng và hết sức cần thiết. Mặt trái của đồng tiền : sai khiến con người làm việc sai trái, đổi trắng thay đen, biến giả thành thật, hủy hoại nhân cách con người. ⇒
2.Hạnh phúc là trạng thái sung sướng khi hoàn toàn đạt được những điều mình muốn. Hạnh phúc được xây dựng trên những giá trị mang ý nghĩa xã hội và tinh thần chân chính. ⇒ Hạnh phúc không phải là sản phẩm, quà tặng từ bên ngoài mà chỉ đến với những ai thực sự nỗ lực, những ai có trái tim nhân ái, biết trân trọng và yêu thương con người.
3.Trong hạnh phúc, tiền tài công danh nhiều khi chỉ là sự hư ảo vì nó không có hiệu lực để sản sinh ra tình yêu, lòng nhân ái, nhân phẩm và óc sáng tạo. Nếu coi đồng tiền là mục đích cao nhất thì sẽ không chỉ rơi vào bi kịch mà còn bị hủy hoại về nhân cách, gia đình tan nát, mọi người khinh bỉ, xa lánh,.... Nhưng nếu biết sử dụng đồng tiền đúng mục đích thì nó sẽ đem lại nhiều niềm vui và hạnh phúc cho con người. ⇒Điều quan trọng là phải tạo sự hài hòa giữa đời sống vật chất và tinh thần, muốn làm được điều ấy đòi hỏi con người không ngừng nỗ lực, phấn đấu học tập, lao động và rèn luyện đạo đức.
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích giúp em với mọi người ơi????
|
|
|
|
1. Chân dung Thúy Vân, Thúy Kiều a) Bốn câu thơ đầu: Giới thiệu khái quát về nhân vật - Với bút pháp ước lệ, tác giả gợi lên vẻ đẹp duyên dáng, thanh cao, trong sáng của người thiếu nữ ở hai chị em Kiều: "mai cốt cách, tuyết tinh thần" (cốt cách như mai, tinh thần như tuyết). Đó là vẻ đẹp hoàn hảo cả hình thể lẫn tâm hồn. - Cả hai đều tuyệt đẹp "mười phân vẹ mười" nhưng mỗi người lại amng một vẻ đẹp riêng khác nhau. Chỉ một câu thơ, tác giả đã khái quát được vẻ đẹp chung và vẻ đẹp riêng của mỗi người. b) Bốn câu tiếp: Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Vân - Tác giả sử dụng bút pháp ước lệ để miêu tả Thúy Vân. Câu mở đầu vừa giới thiệu, vừa khái quát được vẻ đẹp của nhân vật: "Vân xem trang trọng khác vời". hai chữ "trang trọng" gợi lên vẻ đẹp cao xang, quý phái. Vẻ đjep của Vân được so sánh với hình ảnh cảu thiên nhiên, những thứ cao đẹp trên đời như: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc. - Tác giả miêu tả khá vẹ toàn chân dung Thúy Vân từ khuôn mặt, nét mày, làn sa, mái tóc đến nụ cười, giọng nói, phong thái sử sự. Mỗi chi tiết miêu tả được cụ thể hơn nhờ các định ngữ, bổ ngữ, các hình ảnh so sánh, ẩn dụ, nhà thơ đã vẽ lên bằng ngôn ngữ thơ chọn lọc, chau chốt bức chân dung xinh đẹp của Thúy Vân: khôn mặt đầy đặn, phúc hậu, tươi sáng như mặt trăng, lồng mày sắc nét như con ngài, miệng cười thắm như hoa, giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngà ngọc, mái tóc đen óng ả hơn mây, làn da trắng mịn màng hơn tuyết: Khuôn mặt đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười, ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da Nhờ nét bút cụ thể mà chân dung Thúy Vân hiện lên với vẻ đẹp riêng. Các từ ngữ: "đầy đặn", "nở nang", "đoan trang", kết hợp với các hình ảnh so sánh, ẩn dụ đã tô đậm vẻ đẹp trung thực, phúc hậu quý phái của người thiếu nữ. - Chân dung Thúy Vân hé mở, dự báo về tính cách, số phận của nàng, Vân đẹp hơn những gì mĩ lệ của thiên nhiên, nhưng tạo sự hòa hợp, êm đềm với xung quanh, "mây thua", "tuyết nhường" trước vẻ đẹp của nàng. Từ những thông điệp nghệ thuật này, Thúy Vân hẳn có một tính cách thung dung, điềm đạm, một cuộc đời bình yên, không sóng gió. c) Mười hai câu tiếp cực tả về vẻ đẹp của Thúy Kiều - Tác giả miêu tả Thúy Kiều trong sự so sánh với Thúy Vân.. Vẻ đẹp của Thúy Kiều hơn hẳn Thúy Vân cả về tài và về sắc. Câu thơ đầu cũng khái quát đặc điểm của nhân vật "Kiều càng sắc sảo mặn mà". Nàng "sắc sảo" về trí tuệ, mặn mà về "tâm hồn". - Nguyễn Du cũng dùng những hình ảnh nghệ thuật ước lệ "thu thủy" (nước mùa thu), "xuân sơn" - Những hình ảnh "điểm nhãn - vẽ hồn của chân dung: "Làn thu thủy, nét xuân sơn" - những hình ảnh ẩn dụ này gợi lên đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoặt như làn nước mùa thu, đôi lông mày thanh tú nổi bất trên gương mặt trẻ trung như nét núi mùa xuân. Đôi mắt đó là cửa sổ tâm hồn, trí tuệ. Vẻ đẹp của Kiều kiến hoa phải ghen, liễu phải hờn, làm nước nghiêng thành đổ: Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh Một hai nghiêng nước nghiêng thành Nhà thơ không tả trực tiếp vẻ đẹp mà tả sự đố kị ghen ghét với vẻ đẹp ấy sự ngưỡng mộ, say mê vẻ đẹp đó. "Ngiêng nước nghiêng thành" là thành ngữ, cách nói sáng tạo từ điển cố để tả giai nhân. - Cái đẹp của Kiều có chiều sâu, có sức quyến rũ lạ lùng, như tiềm ẩn những phẩm chất bên trong cao quý và tài tình rất đặc biệt của nàng. - Khi tả Thúy Vân, chủ yếu tác giả tả nhan sắc mà không nói đến tài và tình của nàng, còn khi tả Kiều, nhà thơ tả sắc một phần, còn dành đến hai phần để tả cái tài của nàng. Kiều rất mực thông minh, "Thông minh vốn sẵn tính trời" và rất đa tài: "Phan nghề thi họa đủ mùi ca ngâm, Cung thương lầu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương". Tài của Kiều đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến: đủ cả cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), họa (vẽ). Đặc biệt tài đàn là sở trường năng khiếu, là "nghề riêng", vượt lên trên mọi người (ăn đứt). Không những giỏi ca hát, chơi đàn, Kiều còn giỏi cả sáng tác nhạc nữa. Cung đàn Bạc mệnh mà Kiều sáng tác chính là tiếng lòng của một trái tim đa sầu đa cảm. Tài năng của Kiều nghiêng về văn học nghệ thuật, đó là phát độ của một trái tim nồng nhiệt, một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm. Cực tả cái tài của Kiều cũng là ca ngợi cái đặc biệt của nàng. - Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp của sắc - tài - tình, tất cả đều đến mức lí tưởng. - Chân dung Thúy Kiều cũng là chân dung mang tính cách, số phận. Vẻ đẹp khiến tạo hóa ghét ghen, các vẻ đẹp khác đố kị, và tài hoa, trí tuệ thiên bẩm đến "lầu bậc", "đủ mùi", cái tâm hồn đa sầu đa cảm của Kiều sẽ khó tránh khỏi định mệnh nghiệt ngã, số phận cảu nàng sẽ phải éo le, đau khổ như Nguyễn Du đã viết từ mở đầu Truyện Kiều: "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen" ; " Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau". Đặc biệt ở cung đàn bạc mệnh đầy sầu não khổ đau do Kiều sáng tác như dự báo cuộc đời hồng nhan bạc mệnh, tài hoa bạc mệnh khó tránh khỏi của Kiều. - Như vậy, Nguyễn Du đã miêu tả Thúy Vân để làm nổi bật Thúy Kiều theo thủ pháp nghệ thuật "đòn bẩy". Và nhà thơ hết lời ca ngợi cả hai nhưng lại đậm nhạt khác nhau ở mỗi ngườ, dành bốn câu để tả Văn và mười hai câu để tả Kiều, chỉ tả nhan sắc của Vân, còn tả cả, sắc - tài - tình của Kiều. Dùng bút pháp nghệ thuật ước lệ để miêu tả nhân vật nhưng ngòi bút tác giả vẫn sinh động, chân thực và mang tính cá thể hóa sâu sắc khi miêu tả nhân vật. Miêu tả ngoại hình nhưng tác giả cũng hé mở tính cách, số phận nhân vật. d) Bốn câu cuối: Nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em Kiều Khép lại hai bức chân dung tuyệt mĩ, Nguyễn Du lại dùng ngôn ngữ đẹp đẽ để nói chung về cuộc sống của hai nàng. Họ sống phong lưu, khuôn phép, đức hạnh, cả hai đều đã đến tuổi búi tóc cài trâm nhưng vẫn "tường đông ong bướm đi về mặc ai". Hai câu kết trong sáng, đằm thắm như chở che, bao bọ cho hai chị em, hai bông hoa vẫn còn đang phong nhụy trong cảnh "êm đềm", chưa một lần tỏa hương vì ai. 2 Cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du thể hiện qua đoạn trích - Gợi tả vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều, vẻ đẹp "mười phân vẹn mười", Nguyễn Du đã trân trọng, đề cao những giá trị, vẻ đẹp của con người như nhan sắc, tài hoa, phẩm cách, . . . Nghệ thuật lí tưởng hóa ở đây phù hợp với cảm hứng ngưỡng mộ, ngợi ca. - Dự cảm đầy xót thương về kiếp người hồng nhan bạc mệnh, tài hoa mệnh bạc cũng là biểu hiện của tấm lòng cảm thương sâu sắc với con người, là biểu hiện của cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du.
|
|
|
|
giải đáp
|
"Tiếng nói của văn nghệ" của Nguyễn Đình Thi
|
|
|
|
1. Trình bày về suy nghĩ, nhận định - Đây là một cách hiểu về thơ hay: Thơ hay là thơ tạo được ấn tượng ngay từ khâu đọc văn bản. Và càng đọc đi đọc lại càng thấy bài thơ thực sự hay. - Tác động của bài thơ hay đối với người đọc, làm cho người đọc nghĩ suy, trăn trở. - Đối với bài thơ nói chung, bài thơ hay nói riêng, người đọc phải đem cả tâm hồn ra đọc bài thơ, đọc cho đến lúc nào bài thơ tự phát sáng, làm rung lên mọi cung bậc trong tâm hồn người đọc. 2. Trình bày cảm nhận về một bài thơ hay: - Bài thơ được chọn thuộc chương trình Ngữ Văn lớp 8 hoặc lớp 9, phần Văn học Việt Nam (không giới hạn gia đoạn ) - Bài thơ thực sự là một tác phẩm văn chương có giá trị ( về nội dung và nghệ thuật) - Người viết cần trình abfy được cảm nhận ở cả hai phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm. - Phần cảm nhận ở cả hai phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm.
|
|
|
|
giải đáp
|
Nghị luận xã hội
|
|
|
|
1. Giải thích câu nói - Thế kỉ mới: đặt trong bài Chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới của tác giả Vũ Khoan, đây là nhóm từ chỉ thế kỉ XXI, thế kỉ của khoa học công nghệ, của sự hội nhập toàn cầu . . . - Nếp nghĩ sùng ngoại hoặc bài ngoại: chỉ thái độ coi trọng, tôn trọng quá mức (sùng), bác bỏ, tẩy chay, chê bai (bài) các yếu tố bên ngoài (ngoại). Đặt trong văn cảnh, có thể hiểu "ngoại" là các yếu tố nước ngoiaf. - Nội dung câu nói: khẳng định cả hai thái độ (sùng ngoại, bài ngoại) đều không thể chấp nhận được, vì nó cản trở sự phát triển của đất nước. 2. Chứng minh - Thế kỉ mới (thế kỉ XXI) là thời kì đất nước ta đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hơn thế nữa "hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới" (Vũ Khoan - Chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới). Bước chân vào thế kỉ mới, đất nước Việt Nam, con người Việt Nam có rất nhiều cơ hội (hòa nhập, mở rộng giao lưu về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ . . .) nhưng cũng đứng trước không ít khó khăn, thử thách (trong đó có thử thách làm sao giữ được bản sắc, truyền thống dân tộc). Vấn đề làm sao tận dụng những cơ hội, ứng phó với thách thức do tiến trình hội nhập đem lại là vấn đề hết sức to lớn, làm mối quan tâm của tất cả mọi người. - Nếp nghĩ sùng ngoại hoặc bài ngoại quá mức tất yếu sẽ nảy sinh trong quá trình hội nhập, gây nên rất nhiều hậu quả, có thể kể ra: + Nếp nghĩ sùng ngoại: tạo ra nếp sống, cách nghĩ xa lạ với con người, dân tộc Việt Nam, dẫn đến một điều nguy hại: làm mất đi bản sắc, thui chột truyền thống dân tộc, không có ý thức phát huy lòng tự tôn dân tộc. + Nếp nghĩ bài ngoại: ngược lại với sùng ngoại, lại tạo ra cách sống, cách nghĩ bảo thủ, trì trệ, lạc hậu . . . (Lưu ý: học sinh phải lấy dẫn chứng trong đời sống để chứng minh) 3. Khẳng định vấn đề, nêu suy nghĩ và phương hướng cho bản thân: - Cả hai nếp nghĩ (sùng ngoại, bài ngoại) đều cực đoan, làm cản trở sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. - Trong thời kì hội nhập "mái nhà chung" thế giới, mỗi người Việt Nam (trong đó có học sinh, thế hệ tương lai của đất nước) phải có ý thức phấn đấu học tập, hòa nhập một cách sâu rộng vào "mái nhà chung" ấy, đồng thời phải có ý thức phát huy truyền thống tốt đẹp, giữ gìn bản sắc riêng của dân tộc mình. Đó là một trong những hành trang bước vào thế kỉ mới.
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
ĐÁP ÁN MÔN NGỮ VĂN - THI ĐẠI HỌC NĂM 2013
|
|
|
|
GỢI Ý ĐÁP ÁN MÔN NGỮ VĂN (Khối D) - THI ĐẠI HỌC NĂM 2013
I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)* Giới thiệu khái quát về tác giả và tác phẩm * Khẳng định hình tượng con sông Đà là hình tượng độc đáo trong tác phẩm * Nguyễn Tuân từng nhìn dòng sông như một cố nhân. - “Cố nhân”: Người bạn cũ thân thiết, người tri âm, tri kỉ. - Người “cố nhân” đó có hai tính cách dường như đối lập: + Hung bạo, dữ dội: (dẫn chứng) + Trữ tình, êm đềm: (dẫn chứng) - Cách ví von như vật khiến cho con sông trở thành một sinh thể có tâm hồn, tính cách và trở nên gần gũi với con người. Đồng thời nó cũng thể hiện tình yêu thiên nhiên và sự hiểu biết sâu sắc của Nguyễn Tuân đối với thiên nhiên đất nước. Câ 2: (3,0 điểm)
1. Mở bài- Giới thiệu Tran Hung John và lời nhận định về tính cách người Việt qua câu nói: “....” 2. Thân bài * Giải thích:- Tính cách thụ động: Không chủ động trong mọi việc, thường suy nghĩ và hành động theo sự định sẵn, sự áp đặt, thiếu tính sáng tạo... - Người đi tiên phong: Người đi đầu, người khai phá, chấp nhận mạo hiểm, khó khăn, gian khổ * Bình luận- Ý kiến trên nhận định khá đúng về tính cách và tâm lí người Việt, thể hiện sự quan sát tinh tế, sự hiểu biết của tác giả Tran Hung John. + Trên thực tết đa số người Việt thường có tính cách thụ động. Chúng ta không phải là người thích đi tiên phong, thường không dám chấp nhận mạo hiểm. + Nhìn lại quá khứ chúng ta nhận thấy dân tộc Việt Nam không có những phát minh khám phá, sáng tạo lớn có đóng góp cho nhân loại như nhiều dân tộc khác. + Trong các lĩnh vực của đời sống chính trị – xã hội – kinh tế – văn hóa...chúng ta vẫn thường có thói quen học tập các mô hình, ý tưởng của nước khác mà rất ít chủ động tìm lối đi riêng cho mình. + Trong sinh hoạt hàng ngày, người Việt Nam cũng quen dùng thứ có sẵn, ít khi sáng tạo cái mới... - Nguyên nhân hình thành tính cách thụ động của người Việt + Theo tác giả nhận đinh là do “áp lực xã hội” khiến người Việt “phải đi theo con đường được vẽ sẵn”. Áp lực mà Tran Hung John muốn nói đến ở đây có thể là đời sống kinh tế thị trường cuốn con người vào những vòng xoáy khiến họ luôn có tâm lí bất an, thích cầu toàn, sợ thử thách, sợ thất bại. Tuy nhiên cần phải bổ sung: + Do đặc điểm của một nước nông nghiệp. Tập quán sản xuất nông nghiệp khiến con người hình thành tâm lí thụ động + Do dân tộc ta phải trải qua một thời gian dài sống dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc và thực dân phương Tây. Đây cũng là yếu tố hình thành tâm lí thụ động. - Vậy có phải tất cả người Việt đều có tính cách thụ động và tính cách đó không hề thay đổi từ xưa đến nay? + Tư khi đất nước đổi mới tư duy, tính cách, tâm lí người Việt đã có nhiều thay đổi. Họ dám nghĩ, dám làm hơn. + Tiêu biểu nhất là thế hệ thanh niên ngày nay. Họ đã đang và sẽ là những người đi tiên phong trong công cuộc hiện đại hóa đất nước. Họ là những người trẻ dám chất nhận khó khăn, mạo hiểm. Không ít người đã thành công và xứng đáng là người đi tiên phong (lấy dẫn chứng một vài gương mặt tiêu biểu trên các lĩnh vực) * Bàn luận mở rộng- Cần phải tích cực chủ động, dám nghĩ dám làm, tích cực, chủ động trong mọi công việc - Nhanh chóng thay đổi nếp nghĩ, nếp tư duy truyền thống - Dám chất nhận mạo hiểm, khó khăn để vươn tới thành công * Bài học- Đánh giá thành công hay thất bại của một người phải căn cứ xem người đó có phải là người đi tiên phong hay rập khuôn theo nếp cũ. - Nếu là người đi tiên phong thì dù thất bại vẫn đáng ghi nhận và khích lệ. 3. Kết luận (Tự kết luận) - Rút ra kinh nghiệm gì cho bản thân... II. PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)Câu 3.a. Theo chương trình chuẩn
1. Mở bài - Giới thiệu nhà thơ Xuân Diệu: Nhà thơ mới nhất trong số các nhà thơ mới - “Vội vàng” là thi phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Xuâ Diệu - Bài thơ là tiếng nói khát khao tận hưởng sự sống. Có ý kiến cho rằng: “...........”. Có ý kiến khác lại cho rằng: “.........”. Vậy nên hiểu nội dung bài thơ và tư tưởng của tác giả thế nào cho chính xác? 2. Thân bài * Phân tích - Không nên coi vội vàng là “tiếng nói của cái tôi vị kỉ tiêu cực” mà phải khẳng định đó là “tiếng nói của cái tôi cá nhân tích cực” - Ý nghĩa tích cực của tiếng nói khát khao tận hưởng sự sống đó được thể hiện ở những điểm sau: + Khao khát níu giữ mọi hương sắc của trần gian: “Tôi muốn... ....hương đừng bay đi”
+ Có quan niệm tích cực về vẻ đẹp trần thế. Cảm nhận vẻ đẹp trần gian như một mâm đầy những “thức ngon vật lạ”. Vẻ đẹp đó đang ở thời kì căng tràn sức sống: “Của ong bươm... Này đây hoa....... Này đây lá .......”
Quan niệm này hoàn toàn khác xa so với quan niệm của một số nhà thơ muốn thoát li cuộc sống trần gian lúc bấy giờ. Nói như Hoài Thanh: “Xuân Diệu đã đốt cảnh bồng lai, xua các nhà thơ về hạ giới” + Tác giả quan niệm thời gian một đi không trở lại, đời người thì hữu hạn và “tuổi trẻ và tình yêu là hai phần ngon ngọt” nhất của cuộc đời. Vì vậy phải vội vàng tận hưởng những giá trị, những vẻ đẹp của cuộc sống trần thế. + Khát vọng tận hưởng sự sống được diễn tả đầy mãnh liệt: “Ta muốn... Ta muốn...
=> Một khát vọng đầy đam mê, cuồng nhiệt, tham lam một cách đáng yêu. Dường như nó không chỉ dừng lại ở khát vọng tận hưởng mà còn vươn đến khát vọng hóa thân, hòa nhập. * Bình luận Quan điểm sống hết mình, tận hưởng mọi vẻ đẹp giá trị của cuộc sống trần gian, không sông hoài, sống phí cuộc đời mà đặc biệt là những tháng năm tuổi trẻ là một quan niệm tích cực. Khát khao tận hưởng sự sống đó không chỉ có ý nghĩa tận hưởng mà còn mang cả ý nghĩa tận hiến. Sống hết mình, trân trọng mọi giá trị của cuộc đời tức là đang tận hiến cho đời. * Nhận xét về đặc sắc nghệ thuật - Tiêng nói ấy được thể hiện qua một hình thức nghệ thuật độc đáo + Hình ảnh, ngôn ngữ mới lạ + Cách diễn đạt độc đáo... 3. Kết bài: (Tự kết bài)- Khẳng định lại ý nghĩa tích cực của quan niệm nhân sinh. - Rút ra bài học cho mỗi con người... Câu 3b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm) 1. Mở bài - Giới thiệu về Nguyễn Minh Châu và những chuyển biến tư tưởng nghệ thuật của ông trước và sau 1975 (Từ khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn sang cảm hứng thế sự, đời tư). - “Chiếc thuyền ngoài xa” là tác phẩm tiêu biểu thể hiện những trăn trở của Nguyễn Minh Châu trên hành trình sáng tạo nghệ thuật và tìm hiểu số phận con người. - Phùng là nhân vật chính trong câu chuyện, cũng là hiện thân của tác giả. Có ý kiến cho rằng: (trích dẫn hai ý kiến). 2. Thân bài * Phân tích Cả hai ý kiến trên đều phản ánh chính xác về đặc điểm của nhân vật Phùng và ý đồ nghệ thuật của nhà văn khi xây dựng nhân vật. - Phùng là người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp + Nhạy cảm trước thiên nhiên và cuộc sống con người + Say mê cái đẹp. Luôn khao khát đi tìm kiếm cái đẹp toàn bích. Việc quay trở lại vùng biển năm xưa mình từng chiến đấu để chụp ảnh làm lịch đã chứng tỏ niềm say mê đó. + Khi bắt gặp cảnh chiếc thuyền ngoài xa trong sương sớm anh cảm thấy đó như “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”. Anh cảm thấy “bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào” trước khung cảnh thiên nhiên “đơn giản và toàn bích” đó. Trong giây phút đó anh cảm thấy như mình đã “khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”... - Phùng còn là một nghệ sĩ có tấm lòng đầy trăn trở lo âu về thân phận con người. + Chứng kiến cảnh người đàn bà hàng chài bị chồng hành hạ tàn bạo, Phùng cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Trước đó anh không hề biết rằng trên chiếc thuyền kia, đằng sau “bức tranh toàn bích” kia lại có một cảnh sống đầy bi kịch như vậy. + Phùng đau đớn và căm phẩn thay cho người đàn bà. Với phẩm chất của một nghệ sĩ đầy lòng thương xót đối với con người và phẩm chất của một người lính, anh đã dũng cảm can thiệp để nhằm xóa bỏ cảnh đời bất công đó. + Anh đã tìm đến chánh án Đẩu để nhờ sự giúp đỡ + Khi nghe người đàn bà hàng chài tâm sự về hoàn cảnh của mình, Phùng đã “vỡ lẽ” ra nhiều điều”. + Kết thúc tác phẩm: Khi ngắm bức ảnh nghệ thuật của mình, ngắm thật lâu bao giờ Phùng cũng thấy người đàn bà hàng chài bước ra từ tấm ảnh...Chi tiết này chứng tỏ nỗi lo âu trăn trở về thân phận con người trong tâm hồn nghệ sĩ Phùng không bao giờ dứt. *Bình luận Thông qua nhân vật Phùng cùng tình huống truyện và những khám phá, phát hiện của Phùng nhà văn muốn gửi gắm thông điệp: Người nghệ sĩ không chỉ cần có một tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp mà còn cần một tấm lòng đầy trăn trở lo âu về thân phận con người. Một người nghệ sĩ đích thực không được phép xa rời cuộc sống con người. Sứ mệnh cua người nghệ sĩ là phải đi sâu khám phá những góc khuất trong đời sống, không được nhìn cuộc sống đơn giản, xuôi chiều. Phải kêu lên tiếng kêu đau thương của thân phận con người. Phải đấu tranh cho quyền sống con người * Nhận xét về nghệ thuật - Nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo - Sáng tạo tình huống có ý nghĩa khám phá, phát hiện... 3. Kết bài - Tác phẩm đã đánh dấu sự thành công của NMC trên con đường đổi mới tư tưởng - Nó đặt ra nhiều vấn đề mà đời sống và nghệ thuật cần giải quyết. (Đặng Ngọc Khương - Giáo viên trường THCS & THPT Phạm Văn Đồng)
Lưu ý: Gợi ý đáp án trên chỉ có tính chất tham khảo. Rất mong nhận được những ý kiến góp ý tráo đổi, bổ sung.
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
MỘT SỐ NỘI DUNG ÔN THI ĐH MÔN VĂN - 2013 CẦN LƯU Ý
|
|
|
|
I. Lời ngỏ Chắc đến thời điểm này hầu hết các em đều đã trang bị cho mình những kiến thức cơ bản của môn Văn cũng như các môn thi còn lại. Lời đầu tiên Ban quản trị môn Văn - Hoctainha.vn xin được gửi lời chúc toại nguyện đến các em. II. Nội dung Như các em đã biết năm nay đề thi ĐH môn Văn sẽ tiếp tục được cải tiến theo hướng khắc phục tình trạng đọc chép và học tủ. Nói như vậy không có nghĩa là nội dung đề thi sẽ nằm ngoài những kiến thức cơ bản của môn Văn. Chúng tôi chắc chắn một điều, kiến thức cơ bản vẫn là nền tảng của mọi câu hỏi trong đề thi năm nay, tuy nhiên nếu các em không tìm thấy môi liên hệ giữa tác phẩm với tác phẩm, tác phẩm với đời sống thì sẽ không thành công. Vì vậy chúng tôi xin lưu ý một vài vấn đề: 1. Về dạng đề: Chú ý đề so sánh - So sánh: Chữ người tử tù & Người lái đò sông Đà; Những đứa con trong gia đình & Rừng xà Nu; Chữ người tử tù và Vĩnh biệt cửu trùng đài; Đàn ghi ta Lorca và Vĩnh biệt cửu trùng đài.... 2. Về câu hỏi - Câu 2 điểm: + Chú ý kết thúc các truyện: Chí Phèo, Vợ nhặt (năm ngoái vào câu 5 điểm); Chữ người tử tù; Một người Hà Nội; Chiếc thuyền ngoài xa; Hồn trương ba da hàng thịt.... + Chú ý lời đề từ: Người lái đò sông Đà; Đan ghi ta Lorca; Vĩnh biệt cửu trùng đài...... + Chú ý đến chi tiết: Soát lại những chi tiết đắt giá trong: Chữ người tử tù, Một người Hà Nội; Hai đứa trẻ... + Chú ý nhan đề: Vội vàng; Những đứa con trong gia đình; Rừng xà nu; Chiếc thuyền ngoài xa... + Chú ý đặc sắc nghệ thuật: Hai đứa trẻ, Hạnh phúc một tang gia, Đàn ghi ta của Lorca; Đất nước (NKĐ); Chữ ngời tử tù... - Câu 5 điểm: + Chú ý 2 tp kịch: Hồn Trương Ba...; Vĩnh biệt cửu trùng đài + Chú ý 2 tp sau 75: Một người Hà Nội; Chiếc thuyền ngoài xa + Chú ý thơ: Đất nước (NKĐ); Vội vàng; Đàn ghi ta... + Văn xuôi trước 75: Tuyên ngôn độc lập; Rừng xà nu; Ai đã đặt tên cho dòng sông; Chữ người tử tù... Câu 3 điểm (NLXH): - Chủ đề: + Đồng cảm chia sẻ + Trách nhiệm + Tình thương + Tuổi trẻ và tương lai đất nước..
TRÊN ĐÂY LÀ VÀI LƯU Ý CỦA CHÚNG TÔI. HI VỌNG NÓ CÓ THỂ PHẦN NÀO GIÚP CÁC SĨ TỬ TỰ TIN HƠN CHÚC CÁC BẠN CHIẾN THẮNG TRONG KÌ THI VÀ QUAN TRỌNG HƠN LÀ CHIẾN THẮNG CHÍNH MÌNH!
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Văn nghị luận
|
|
|
|
Về cơ bản 4 đề trê đều là nghị luận mà em. Đề A và D nghiêng về NL văn học, đề B nghiêng về NL một vấn đề xã hội đặt ra trong văn học, riêng đề C có hai chữ "cảm nhận", nghe có vẻ khác nhưng thực chất cũng là trình bày suy nghĩ, cũng cần lập luận vì vậy vẫn có thể coi nó là một đề văn nghị luận.
|
|
|
|
giải đáp
|
lập dàn ý cho câu nói sau
|
|
|
|
Câu này em trích dân ở đâu mà lạ thế? Thật sự mình không hiểu hết tư tưởng của nó nên ko dám lí giải bừa. hi hi
|
|