ĐÁP ÁN
Câu 1:
*
Nam Cao (1915 - 1951) tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ra trong một gia
đình nông dân làng Đại Hoàng, tỉnh Hà Nam. Ông là nhà văn có vịt rí hàng
đầu trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, là một trong những đại diện
xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực phê phán trước 1945. Nam
Cao cũng là cây bút tiêu biểu của chặng đầu nền văn học mới sau cách
mạng. (0,25 điểm)
* Sự nghiệp sáng tác của ông được thể hiện ở hai giai đoạn: Trước và sau cách mạng:
-
Trước cách mạng tháng Tám: sáng tác của ông tập trung vào 2 đề tài
chính: cuộc sống người trí thức tiểu tư sản nghèo và cuộc sống người
nông dân ở quê hương. (1,0 điểm)
+ Ở đề tài người trí thức
tiểu tư sản nghèo, đáng chú ý là các truyện ngắn: "Những truyện không
muốn viết"; "Trăng sáng"; "Đời thừa"; "Mua nhà"; "Nước mắt"; . . . và
tiểu thuyết "Sống mòn" (1944). Trong khi mô tả hết sức chân thực tình
cảnh nghèo khổ bế tắc của những nhà văn nghèo, những "Giáo khổ trường
tư", học sinh thất nghiệp . . .Nam Cao đã làm nổi bật tấm bị kịch tinh
thần của họ, đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn. Đó là tấm bi
kịch dai dẳng của người trí thức, những người có ý thức sâu sắc về giá
trị đời sống và nhân phẩm, muốn sống có hoài bão, nhưng lại bị gánh nặng
cơm áo và hoàn cảnh xã hội làm cho họ phải "chết mòn" phải sống " đời
thừa".
+ Ở đề tài người nông dân, đáng chú ý nhất là các
truyện : "Chí Phèo"; "Trẻ con không được ăn thịt chó"; "Một bữa no";
"Lão Hạc"; "Một đám cưới"; "Lang Rận" . . . ở đề tài này, Nam Cao thường
nhắc đến những hạng cố cùng, những số phận hẩm hiu bị ức hiếp, bị lưu
manh hóa . . Nhà văn đã kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo làm hủy diệt
cả nhân tính của con người lương thiện. Ở một số tác phẩm, Nam Cao đã
thể hiện niềm xúc động trước bản chẩ đẹp đẽ, cao quý trong tâm hồn họ
(Lão Hạc).
- Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao sáng tác để
phục vụ công cuộc kháng chiến, truyến ngắn "Đôi mắt" (1948) "Nhật ký ở
rừng" (1948) và tập bút ký "Chuyện biên giới" (1950) của ông thuộc vào
những sáng tác đặc sắc nhất của nền văn học mới sau cách mạng còn non
trẻ khi đó. (0,5 điểm)
- Ngòi bút Nam Cao vừa tỉnh táo, sắc
lạnh, vừa nặng trĩu suy tư và đằm thắm yêu thương. Nam Cao là cây bút
bậc thầy, ông xứng đáng được coi là một nhà văn lớn giàu sức sáng tạo
của văn học Việt Nam. (0,25 điểm)
Câu 2:
*
Trong những năm gần đây nạn bạo lực học đường là một vấn nạ lớn làm đau
đầu các nhà quản lý giáo dục và các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Gây
bức xúc và gây tâm lý hoang mang cho phụ huynh, thầy cô và học sinh.
(0,25 điểm)
* Thực trạng : Trong thực tế trường học, trên các
phương tiện truyền thông, bạn sẽ thấy những bài báo, những hình ảnh,
những thước phim bạo lực mà do học sinh quay lại và tung lên mạng. Những
thước phim quay cảnh đấm đá vô nhân tính của các cô cậu học sinh mang
đồng phục đang đấm đá, xé áo, lột quần, túm tóc . . . gây ám ảnh cho
người xem và nỗi đau về một thế hệ trẻ với những nhân cách đang bị băng
hoại nghiêm trọng. (0,5 điểm)
* Nguyên nhân: (0,75 điểm)
-
Thứ nhất: Học sinh cá biệt thành lập băng nhóm để ức hiếp bạn bè. Do
ảnh hưởng từ những thước phim bạo lực; Ghen tị về các thành tích học
tập; Mâu thuẫn trong bạn bè dễ dẫn đến xích mính, nổi nóng thiếu kiềm
chế; Bên cạnh đó còn có những nguyên nhân cỏn con như "thích thì đánh
cho nó chừa"; "nhìn đểu". . . Vấn đề bạo lực học đường hiện nay đang ở
mức báo động cấp thiết, đang nguy cơ nổ bùng và lan rộng. Và sẽ càng
nguy hiểm hơn nếu bản thân các em tìm cách trả tự trả thù theo kiểu "xã
hội đen" mà không cần đến sự giúp đỡ của thầy cô hay nhà trường.
- Thứ hai: Học sinh bị tiêm nhiễm từ lối cư sử ở ngoài nhà trường, thậm
chí là từ những người lớn trong gia đình. Nhiều học sinh có cha mẹ hoặc
người thân là người hành nghề tự do trong xã hội và có cách cư sử không
chuẩn mực. Chính những thói quen ứng sử hàng ngày của họ vô tình gieo
trong đầu các em những suy nghĩ không tốt, dẫn đến việc các em có lối cư
sử không hay trong nhà trường và đối với bạn bè.
* Hậu quả: (0,5 điểm)
- Gây tổn thương về tâm lý, sốc về tinh thần, xấu hổ với bạn bè . .
- Gây di chấn tổn thương về thể xác: Bị hoảng loạn, bị trầm cảm, bị thần kinh . . .
- Gây hoang mang trong dư luận.
* Giải pháp: (1,0 điểm)
- Toàn xã hội cần phải quan tâm, cần có biện pháp quản lý ngăn chặn những hoạt động có tác hại đến môi trường văn hóa, xã hội.
-Quan tâm nâng cao văn hóa gia đình: Người lớn phải làm gương, ứng sử
đúng mực, mạnh dạn lên án, lọa bỏ bạo lực ra khỏi cuộc sống gia đình.
-
Phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục: Gia đình - nhà trường - xã
hội. Nhà trường cần phát huy trách nhiệm đội ngũ giáo viên chủ nhiệm
trong việc kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của từng cá nhân học
sinh. Tình thương, trách nhiệm là phương thuốc hiệu nghiệm nhất ngăn
chặn bạo lực học đường.
- Học sinh cần nghiêm túc kiểm điểm
lại bản thân, biết kiềm chế không để nổi nóng, biết nhận lỗi khi mình
làm sai và biết vị tha khi bạn nhận ra lỗi lầm. Với học sinh cá biệt,
cần có sự quan tâm của gia đình - nhà trường - xã hội. Nếu tiếp tục vi
phậm cần sử lý nghiêm khắc bằng cách cho đi cải tạo, giáo dục nhân cách.
* Vì một môi trường học đường lành mạnh, học sinh "HÃY NÓI KHÔNG VỚI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG".
Câu 3.a
*
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1974 đã đạt được nhiều thành tựu lớn,
đặc biệt là trong mảng tác phẩm thể hiện phẩm chất anh hùng của con
người Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cứu
nước. "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành và "Những đứa con trong gia
đình" của Nguyễn Thi là hai tác phẩm thành công trong sự khắc họa những
hình tượng nhân vật tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng cao đẹp,
cho lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc, sức mạnh chiến đấu của dân
tộc Việt Nam chống giặc ngoại xâm. (0,25 điểm)
* Cả hai tác
giả Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi đều gắn bó với cuộc chiến đấu chống
Mĩ, là những nahf văn chiến sĩ ở tuyến đầu máu lửa -> tác phẩm của
họ mang hơi thở nóng hổi của cuộc chiến đấu với những hình ảnh nhân vật
sinh động, bước vào văn học từ thực tế chiến đấu. (0, 5 điểm)
Hai
truyện ngắn "Rừng xà nu" (1965), "Những đứa con trong gia đình" (1966)
đều ra đời trong giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước, khi đế quốc Mĩ đổ quan và miền Nam nước ta, dân tộc ta đứng trước
một cuộc chiến một mất một còn để bảo vệ lấy độc lập tự do, bảo vệ quyền
sống. Đó là bối cảnh lịch sử để từ đó hai tác phẩm ngợi ca chủ nghĩa
anh hùng cách mạng với chất sử thi đậm đà.
* Qua hai thiên
truyện, tác giả giúp người đọc khám phá, khâm phục, tự hào trước vẻ đẹp
anh hùng cách mạng của những con người bình thường, giản dị mà anh dũng,
kiến cường và rất mực chung thành thủy chung với cách mạng. (0.5 điểm)
Đó
là sự thể hiện của lòng yêu nước thiết tha, căm thù giặc sâu sắc, tinh
thần chiến đấu bất khuất chống lại kẻ thù xâm lược để bảo vệ tổ quốc của
con ngươi Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, là sự
trung thành với lí tưởng cách mạng được thử thách trong các hoàn cảnh
khốc liệt, qua đó bộc lộ được vẻ đẹp của phẩm chất anh hùng có tính chất
tiêu biểu cho cả dân tộc.
* Biểu hiện của chủ nghĩa anh hùng cách mạng ở cả Tnú và Việt: (3,25 điểm)
-Họ đều là những con người được sinh ra từ truyền thống bất khuất của
gai đình, của quê hương, của dân tộc: Tnú là con người của làng Xô Man
nơi từng người dân đều hướng về cách mạng, bảo vệ cán bộ "Đảng còn thì
núi nước này còn" - Lời cụ Mết (Rừng xà nu). Việt sinh ra trong gai đình
có truyền thống yêu nước, căm thù giặc: Cha là cán bộ cách mạng, má là
người phụ nữ Nam Bộ liên cường trong đấu tranh, hai con tiếp nối lý
tưởng của cha mẹ. (Những đứa con trong gia đình)
- Họ đã chịu
nhiều đau thương mất mát do kẻ thù gây ra, tiêu biểu cho đau thương mất
mát của cả dân tộc: Tnú chứng kiến cảnh vợ con bị tra tấn đến chết, bản
thân bị giặc đốt mười đầu ngón tay. Việt chứng kiến cái chết của ba má:
ba bị chặt đầu, má chết vì đạn giặc. (1,0 điểm)
-> Những
đau thương đó hun đúc từ tinh thần chiến đấu, lòng căm thù giặc sâu sắc ở
người dân Việt Nam. Biến đau thương thành sức mạnh chiến đấu cũng là
niểu hiện của chủ nghĩa anh hùng cách mạng: Tnú lên đường đi "lực lượng"
dù mỗi ngón tay mất đi một đốt, Việt vào bộ đội, coi việc đánh giặc trả
nợ nước, thù nhà là lẽ sống. Họ chiến đấu bởi sức mạnh của lòng căm thù
giặc, cũng là bởi sức mạnh của tình yêu thương, vì: chỉ có cầm vũ khí
đứng lên, ta mới có thể bảo về những gì thiêng liêng nhất, bảo vệ tình
yêu và sự sống. Chân lý đó đã được chứng minh qua số phận và con người
cách mạng của những người dân Nam Bộ trong hai tác phẩm trên, chân lý đó
cũng được rút ra từ thực tế đau thương mất mát nên nó càng có giá trị,
càng phải khắc sâu vào lòng người.
- Họ đều mang phẩm phất
anh hùng,bất khuất, là những con người Việt Nam kiên trung trong cuộc
chiến đấu chống giặc ngoại xâm. (1,0 điểm)
+ Tnú từ nhỏ đã
gan dạ, đi liên lạc bị giặc bắt, tra tấn giã man vẫn không khai. Anh
vượt ngục trở về, lại là người lãnh đạo thanh niên làng Xô Man chống
giặc, bị đốt mười ngón tay vẫn không kêu rên trước mặt kẻ thù -> Ở
Tnú toát lên vẻ đẹp người anh hùng trong sử thi Tây Nguyên và vẻ đẹp của
chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại chống Mĩ.
+ Việt bị
tương trong trận đánh và bị lạc mất đơn vị, vẫn chắc tay súng quyết tâm
tiêu diệt kẻ thù. Đối với chị, Việt ngây thơ, nhỏ bé. Còn trước kẻ thù,
Việt vụt lớn lên, chững chạc trong tư thế người anh hùng.
-
Tóm lại, các nhân vật của hai truyện ngắn đã vượt lên nỗi đau và bi kịch
cá nhân để sống có ích cho đất nước. Những nỗi đau thương của họ chính
là đau thương của cả dân tộc Việt Nam, là biểu hiện cao đẹp của chủ
nghĩa anh hùng cách mạng. (0,25 điểm)
* Chủ nghĩa anh hùng
cách mạng Việt Nam thời đại chống Mĩ hiện diện trên khắp mọi miền của
đất nước. Từ nông thôn đến thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi, từ
đồng bằng đến miền núi. Tất cả atoj nên một mạch long trời lở đất để
"nhấn chìm lũ bán nước và cướp nước". Cuộc đời và sự hi sinh của những
con người Việt Nam anh hùng mãi mãi là bản anh hùng ca tuyệt đẹp cho các
thế hệ Việt Nam noi theo. (0,5 điểm)
Câu 3.b
* Quang Dũng (1921 - 1988), Hà Nội. Ông là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn.
Tố
Hữu (1902 - 2002), Huế. Ông là một tác gia tiêu biểu có vị trí đặc biệt
quan trọng, một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam với
hồn thơ đậm đà tính dân tộc. (0,25 điểm)
* Tây Tiến (1948),
Việt Bắc (1954) là những thành tựu đặc sắc của thơ ca kháng chiến chống
Pháp, là những bài ca không thể nào quên về một thời gian khổ mà hào
hùng, hào hoa của lịch sử dân tộc.(0,25 điểm)
* Đoạn thơ trong bài "Tây Tiến" (1,5 điểm)
-
Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhớ da diết, vời vợi về miền Tây và người lính Tây
Tiến. Thiên nhiên miền Tây xa xôi mà thân thiết, hoang vu mà thơ mộng;
von người Tây Tiến gian khổ mà hào hoa.
- Hình ảnh thơ có sự
hài hòa nét thực, nét ảo, vừa mông lung vừa gợi cảm về cảnh và người;
nhạc điệu có sự hài hòa giữa lời cảm thán với điệu cảm xúc (câu mở đầu
như một tiếng kêu vọng vào không gian), giữa mật độ dày những âm vần
(rồi, ơi, chơi vơi, mỏi, hơi) với điệp từ (nhớ/nhớ) và lối đối uyển
chuyển (câu 3 với câu 4) đã tạo ra một âm hưởng tha thiết, ngậm ngùi.
* Đoạn thơ trong bài Việt Bắc (1,5 điểm)
-
Đây là lời của người đi, khẳng định về xuôi sẽ nhớ Việt Bắc "như nhớ
người yêu". Từ đó muốn nói nỗi nhớ của tình yêu là nỗi nhớ da diết nhất,
thường trực nhất.
- Sau lời khẳng định là những hình ảnh
thiên nhiên và con người Việt Bắc đẹp như khúc hát đồng quê. Trăng đầu
núi, nắng chiều lưng nương, bản khói cùng sương . . . là những hình ảnh
rất đặc trưng cho khung cảnh núi rừng êm đềm thơ mộng. Trên cái nề trữ
tình là hình ảnh con người Việt Bắc tần tảo, chịu thương, chịu khó. Con
người và thiên nhiên hài hòa gắn bó trong nỗi nhớ người về xuôi.
- Các hình ảnh trong hoài niệm nhưng hiện lên rất cụ thể, rõ nét, chứng tỏ sự gắn bó sâu sắc và nỗi nhớ thiết tha.
* So sánh: (1,5 điểm)
- Điểm tương đồng giữa hai đoạn thơ: Đều bộc lộ nỗi nhớ của người trong
cuộc: tha thiết, bồi hồi, sâu lắng về thiên nhiên và con người một thời
gian gắn bó, yêu thương trong kháng chiến.
- Điểm khác
biệt: Hai bài thơ sử dụng hai hình thức khác nhau để bộc lộ cảm xúc:
Việt Bắc sử dụng hình thức thơ lục bát, Tây Tiến sử dụng hình thức thơ
thất ngôn trường thiên.
Nỗi nhớ của nhà thơ Quan Dũng được
bộc lộ trực tiếp, cụ thể: Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi
bật lên thành tiếng gọi "Tây tiến ơi". Hai chữ "chơi vơi" : vẽ ra
trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ -> nỗi nhớ da
diết, thường trực, ám ảnh; mênh mông, bao trùm cả không gian. Trích đoạn thơ của Tố Hữu dùng nỗi nhớ tình yêu để khẳng định nỗi nhớ quê hương cách mạng.
ĐÁP ÁN
Câu 1:
*
Nam Cao (1915 - 1951) tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ra trong một gia
đình nông dân làng Đại Hoàng, tỉnh Hà Nam. Ông là nhà văn có vịt rí hàng
đầu trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, là một trong những đại diện
xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực phê phán trước 1945. Nam
Cao cũng là cây bút tiêu biểu của chặng đầu nền văn học mới sau cách
mạng. (0,25 điểm)
* Sự nghiệp sáng tác của ông được thể hiện ở hai giai đoạn: Trước và sau cách mạng:
-
Trước cách mạng tháng Tám: sáng tác của ông tập trung vào 2 đề tài
chính: cuộc sống người trí thức tiểu tư sản nghèo và cuộc sống người
nông dân ở quê hương. (1,0 điểm)
+ Ở đề tài người trí thức
tiểu tư sản nghèo, đáng chú ý là các truyện ngắn: "Những truyện không
muốn viết"; "Trăng sáng"; "Đời thừa"; "Mua nhà"; "Nước mắt"; . . . và
tiểu thuyết "Sống mòn" (1944). Trong khi mô tả hết sức chân thực tình
cảnh nghèo khổ bế tắc của những nhà văn nghèo, những "Giáo khổ trường
tư", học sinh thất nghiệp . . .Nam Cao đã làm nổi bật tấm bị kịch tinh
thần của họ, đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn. Đó là tấm bi
kịch dai dẳng của người trí thức, những người có ý thức sâu sắc về giá
trị đời sống và nhân phẩm, muốn sống có hoài bão, nhưng lại bị gánh nặng
cơm áo và hoàn cảnh xã hội làm cho họ phải "chết mòn" phải sống " đời
thừa".
+ Ở đề tài người nông dân, đáng chú ý nhất là các
truyện : "Chí Phèo"; "Trẻ con không được ăn thịt chó"; "Một bữa no";
"Lão Hạc"; "Một đám cưới"; "Lang Rận" . . . ở đề tài này, Nam Cao thường
nhắc đến những hạng cố cùng, những số phận hẩm hiu bị ức hiếp, bị lưu
manh hóa . . Nhà văn đã kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo làm hủy diệt
cả nhân tính của con người lương thiện. Ở một số tác phẩm, Nam Cao đã
thể hiện niềm xúc động trước bản chẩ đẹp đẽ, cao quý trong tâm hồn họ
(Lão Hạc).
- Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao sáng tác để
phục vụ công cuộc kháng chiến, truyến ngắn "Đôi mắt" (1948) "Nhật ký ở
rừng" (1948) và tập bút ký "Chuyện biên giới" (1950) của ông thuộc vào
những sáng tác đặc sắc nhất của nền văn học mới sau cách mạng còn non
trẻ khi đó. (0,5 điểm)
- Ngòi bút Nam Cao vừa tỉnh táo, sắc
lạnh, vừa nặng trĩu suy tư và đằm thắm yêu thương. Nam Cao là cây bút
bậc thầy, ông xứng đáng được coi là một nhà văn lớn giàu sức sáng tạo
của văn học Việt Nam. (0,25 điểm)
Câu 2:
*
Trong những năm gần đây nạn bạo lực học đường là một vấn nạ lớn làm đau
đầu các nhà quản lý giáo dục và các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Gây
bức xúc và gây tâm lý hoang mang cho phụ huynh, thầy cô và học sinh.
(0,25 điểm)
* Thực trạng : Trong thực tế trường học, trên các
phương tiện truyền thông, bạn sẽ thấy những bài báo, những hình ảnh,
những thước phim bạo lực mà do học sinh quay lại và tung lên mạng. Những
thước phim quay cảnh đấm đá vô nhân tính của các cô cậu học sinh mang
đồng phục đang đấm đá, xé áo, lột quần, túm tóc . . . gây ám ảnh cho
người xem và nỗi đau về một thế hệ trẻ với những nhân cách đang bị băng
hoại nghiêm trọng. (0,5 điểm)
* Nguyên nhân: (0,75 điểm)
-
Thứ nhất: Học sinh cá biệt thành lập băng nhóm để ức hiếp bạn bè. Do
ảnh hưởng từ những thước phim bạo lực; Ghen tị về các thành tích học
tập; Mâu thuẫn trong bạn bè dễ dẫn đến xích mính, nổi nóng thiếu kiềm
chế; Bên cạnh đó còn có những nguyên nhân cỏn con như "thích thì đánh
cho nó chừa"; "nhìn đểu". . . Vấn đề bạo lực học đường hiện nay đang ở
mức báo động cấp thiết, đang nguy cơ nổ bùng và lan rộng. Và sẽ càng
nguy hiểm hơn nếu bản thân các em tìm cách trả tự trả thù theo kiểu "xã
hội đen" mà không cần đến sự giúp đỡ của thầy cô hay nhà trường.
- Thứ hai: Học sinh bị tiêm nhiễm từ lối cư sử ở ngoài nhà trường, thậm
chí là từ những người lớn trong gia đình. Nhiều học sinh có cha mẹ hoặc
người thân là người hành nghề tự do trong xã hội và có cách cư sử không
chuẩn mực. Chính những thói quen ứng sử hàng ngày của họ vô tình gieo
trong đầu các em những suy nghĩ không tốt, dẫn đến việc các em có lối cư
sử không hay trong nhà trường và đối với bạn bè.
* Hậu quả: (0,5 điểm)
- Gây tổn thương về tâm lý, sốc về tinh thần, xấu hổ với bạn bè . .
- Gây di chấn tổn thương về thể xác: Bị hoảng loạn, bị trầm cảm, bị thần kinh . . .
- Gây hoang mang trong dư luận.
* Giải pháp: (1,0 điểm)
- Toàn xã hội cần phải quan tâm, cần có biện pháp quản lý ngăn chặn những hoạt động có tác hại đến môi trường văn hóa, xã hội.
-Quan tâm nâng cao văn hóa gia đình: Người lớn phải làm gương, ứng sử
đúng mực, mạnh dạn lên án, lọa bỏ bạo lực ra khỏi cuộc sống gia đình.
-
Phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục: Gia đình - nhà trường - xã
hội. Nhà trường cần phát huy trách nhiệm đội ngũ giáo viên chủ nhiệm
trong việc kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của từng cá nhân học
sinh. Tình thương, trách nhiệm là phương thuốc hiệu nghiệm nhất ngăn
chặn bạo lực học đường.
- Học sinh cần nghiêm túc kiểm điểm
lại bản thân, biết kiềm chế không để nổi nóng, biết nhận lỗi khi mình
làm sai và biết vị tha khi bạn nhận ra lỗi lầm. Với học sinh cá biệt,
cần có sự quan tâm của gia đình - nhà trường - xã hội. Nếu tiếp tục vi
phậm cần sử lý nghiêm khắc bằng cách cho đi cải tạo, giáo dục nhân cách.
* Vì một môi trường học đường lành mạnh, học sinh "HÃY NÓI KHÔNG VỚI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG".
Câu 3.a
*
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1974 đã đạt được nhiều thành tựu lớn,
đặc biệt là trong mảng tác phẩm thể hiện phẩm chất anh hùng của con
người Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cứu
nước. "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành và "Những đứa con trong gia
đình" của Nguyễn Thi là hai tác phẩm thành công trong sự khắc họa những
hình tượng nhân vật tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng cao đẹp,
cho lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc, sức mạnh chiến đấu của dân
tộc Việt Nam chống giặc ngoại xâm. (0,25 điểm)
* Cả hai tác
giả Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi đều gắn bó với cuộc chiến đấu chống
Mĩ, là những nahf văn chiến sĩ ở tuyến đầu máu lửa -> tác phẩm của
họ mang hơi thở nóng hổi của cuộc chiến đấu với những hình ảnh nhân vật
sinh động, bước vào văn học từ thực tế chiến đấu. (0, 5 điểm)
Hai
truyện ngắn "Rừng xà nu" (1965), "Những đứa con trong gia đình" (1966)
đều ra đời trong giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước, khi đế quốc Mĩ đổ quan và miền Nam nước ta, dân tộc ta đứng trước
một cuộc chiến một mất một còn để bảo vệ lấy độc lập tự do, bảo vệ quyền
sống. Đó là bối cảnh lịch sử để từ đó hai tác phẩm ngợi ca chủ nghĩa
anh hùng cách mạng với chất sử thi đậm đà.
* Qua hai thiên
truyện, tác giả giúp người đọc khám phá, khâm phục, tự hào trước vẻ đẹp
anh hùng cách mạng của những con người bình thường, giản dị mà anh dũng,
kiến cường và rất mực chung thành thủy chung với cách mạng. (0.5 điểm)
Đó
là sự thể hiện của lòng yêu nước thiết tha, căm thù giặc sâu sắc, tinh
thần chiến đấu bất khuất chống lại kẻ thù xâm lược để bảo vệ tổ quốc của
con ngươi Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, là sự
trung thành với lí tưởng cách mạng được thử thách trong các hoàn cảnh
khốc liệt, qua đó bộc lộ được vẻ đẹp của phẩm chất anh hùng có tính chất
tiêu biểu cho cả dân tộc.
* Biểu hiện của chủ nghĩa anh hùng cách mạng ở cả Tnú và Việt: (3,25 điểm)
-Họ đều là những con người được sinh ra từ truyền thống bất khuất của
gai đình, của quê hương, của dân tộc: Tnú là con người của làng Xô Man
nơi từng người dân đều hướng về cách mạng, bảo vệ cán bộ "Đảng còn thì
núi nước này còn" - Lời cụ Mết (Rừng xà nu). Việt sinh ra trong gai đình
có truyền thống yêu nước, căm thù giặc: Cha là cán bộ cách mạng, má là
người phụ nữ Nam Bộ liên cường trong đấu tranh, hai con tiếp nối lý
tưởng của cha mẹ. (Những đứa con trong gia đình)
- Họ đã chịu
nhiều đau thương mất mát do kẻ thù gây ra, tiêu biểu cho đau thương mất
mát của cả dân tộc: Tnú chứng kiến cảnh vợ con bị tra tấn đến chết, bản
thân bị giặc đốt mười đầu ngón tay. Việt chứng kiến cái chết của ba má:
ba bị chặt đầu, má chết vì đạn giặc. (1,0 điểm)
-> Những
đau thương đó hun đúc từ tinh thần chiến đấu, lòng căm thù giặc sâu sắc ở
người dân Việt Nam. Biến đau thương thành sức mạnh chiến đấu cũng là
niểu hiện của chủ nghĩa anh hùng cách mạng: Tnú lên đường đi "lực lượng"
dù mỗi ngón tay mất đi một đốt, Việt vào bộ đội, coi việc đánh giặc trả
nợ nước, thù nhà là lẽ sống. Họ chiến đấu bởi sức mạnh của lòng căm thù
giặc, cũng là bởi sức mạnh của tình yêu thương, vì: chỉ có cầm vũ khí
đứng lên, ta mới có thể bảo về những gì thiêng liêng nhất, bảo vệ tình
yêu và sự sống. Chân lý đó đã được chứng minh qua số phận và con người
cách mạng của những người dân Nam Bộ trong hai tác phẩm trên, chân lý đó
cũng được rút ra từ thực tế đau thương mất mát nên nó càng có giá trị,
càng phải khắc sâu vào lòng người.
- Họ đều mang phẩm phất
anh hùng,bất khuất, là những con người Việt Nam kiên trung trong cuộc
chiến đấu chống giặc ngoại xâm. (1,0 điểm)
+ Tnú từ nhỏ đã
gan dạ, đi liên lạc bị giặc bắt, tra tấn giã man vẫn không khai. Anh
vượt ngục trở về, lại là người lãnh đạo thanh niên làng Xô Man chống
giặc, bị đốt mười ngón tay vẫn không kêu rên trước mặt kẻ thù -> Ở
Tnú toát lên vẻ đẹp người anh hùng trong sử thi Tây Nguyên và vẻ đẹp của
chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại chống Mĩ.
+ Việt bị
tương trong trận đánh và bị lạc mất đơn vị, vẫn chắc tay súng quyết tâm
tiêu diệt kẻ thù. Đối với chị, Việt ngây thơ, nhỏ bé. Còn trước kẻ thù,
Việt vụt lớn lên, chững chạc trong tư thế người anh hùng.
-
Tóm lại, các nhân vật của hai truyện ngắn đã vượt lên nỗi đau và bi kịch
cá nhân để sống có ích cho đất nước. Những nỗi đau thương của họ chính
là đau thương của cả dân tộc Việt Nam, là biểu hiện cao đẹp của chủ
nghĩa anh hùng cách mạng. (0,25 điểm)
* Chủ nghĩa anh hùng
cách mạng Việt Nam thời đại chống Mĩ hiện diện trên khắp mọi miền của
đất nước. Từ nông thôn đến thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi, từ
đồng bằng đến miền núi. Tất cả atoj nên một mạch long trời lở đất để
"nhấn chìm lũ bán nước và cướp nước". Cuộc đời và sự hi sinh của những
con người Việt Nam anh hùng mãi mãi là bản anh hùng ca tuyệt đẹp cho các
thế hệ Việt Nam noi theo. (0,5 điểm)
Câu 3.b
* Quang Dũng (1921 - 1988), Hà Nội. Ông là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn.
Tố
Hữu (1902 - 2002), Huế. Ông là một tác gia tiêu biểu có vị trí đặc biệt
quan trọng, một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam với
hồn thơ đậm đà tính dân tộc. (0,25 điểm)
* Tây Tiến (1948),
Việt Bắc (1954) là những thành tựu đặc sắc của thơ ca kháng chiến chống
Pháp, là những bài ca không thể nào quên về một thời gian khổ mà hào
hùng, hào hoa của lịch sử dân tộc.(0,25 điểm)
* Đoạn thơ trong bài "Tây Tiến" (1,5 điểm)
-
Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhớ da diết, vời vợi về miền Tây và người lính Tây
Tiến. Thiên nhiên miền Tây xa xôi mà thân thiết, hoang vu mà thơ mộng;
von người Tây Tiến gian khổ mà hào hoa.
- Hình ảnh thơ có sự
hài hòa nét thực, nét ảo, vừa mông lung vừa gợi cảm về cảnh và người;
nhạc điệu có sự hài hòa giữa lời cảm thán với điệu cảm xúc (câu mở đầu
như một tiếng kêu vọng vào không gian), giữa mật độ dày những âm vần
(rồi, ơi, chơi vơi, mỏi, hơi) với điệp từ (nhớ/nhớ) và lối đối uyển
chuyển (câu 3 với câu 4) đã tạo ra một âm hưởng tha thiết, ngậm ngùi.
* Đoạn thơ trong bài Việt Bắc (1,5 điểm)
-
Đây là lời của người đi, khẳng định về xuôi sẽ nhớ Việt Bắc "như nhớ
người yêu". Từ đó muốn nói nỗi nhớ của tình yêu là nỗi nhớ da diết nhất,
thường trực nhất.
- Sau lời khẳng định là những hình ảnh
thiên nhiên và con người Việt Bắc đẹp như khúc hát đồng quê. Trăng đầu
núi, nắng chiều lưng nương, bản khói cùng sương . . . là những hình ảnh
rất đặc trưng cho khung cảnh núi rừng êm đềm thơ mộng. Trên cái nề trữ
tình là hình ảnh con người Việt Bắc tần tảo, chịu thương, chịu khó. Con
người và thiên nhiên hài hòa gắn bó trong nỗi nhớ người về xuôi.
- Các hình ảnh trong hoài niệm nhưng hiện lên rất cụ thể, rõ nét, chứng tỏ sự gắn bó sâu sắc và nỗi nhớ thiết tha.
* So sánh: (1,5 điểm)
- Điểm tương đồng giữa hai đoạn thơ: Đều bộc lộ nỗi nhớ của người trong
cuộc: tha thiết, bồi hồi, sâu lắng về thiên nhiên và con người một thời
gian gắn bó, yêu thương trong kháng chiến.
- Điểm khác
biệt: Hai bài thơ sử dụng hai hình thức khác nhau để bộc lộ cảm xúc:
Việt Bắc sử dụng hình thức thơ lục bát, Tây Tiến sử dụng hình thức thơ
thất ngôn trường thiên.
Nỗi nhớ của nhà thơ Quan Dũng được
bộc lộ trực tiếp, cụ thể: Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi
bật lên thành tiếng gọi "Tây tiến ơi". Hai chữ "chơi vơi" : vẽ ra
trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ -> nỗi nhớ da
diết, thường trực, ám ảnh; mênh mông, bao trùm cả không gian. Trích đoạn thơ của Tố Hữu dùng nỗi nhớ tình yêu để khẳng định nỗi nhớ quê hương cách mạng.