Anh/
chị hãy trình bày ngắn gọn những đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích Đất
nước trích trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm
Phân
tích vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc qua hình ảnh con sông
Đà và người lái đò sông Đà trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn
Tuân.
ĐÁP ÁN
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH
Câu I (2 điểm)
Anh/
chị hãy trình bày ngắn gọn những đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích Đất
nước trích trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm
1. Giới thiệu chung. (0,25 điểm)
- Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông rất giàu chất suy tư, chính luận.
-
"Đất nước" (Trích Trường ca khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm hoàn thành
năm 1971, in lần đầu năm 1074) là đoạn trích rất hay viết về đề tài đất
nước đã thể hiện những tìm tòi nghệ thuật đặc sắc, độc đáo của ngòi bút
Nguyễn Khoa Điềm.
2. Những đặc sắc nghệ thuật (1,75 điểm)
a. Sử dụng sáng tạo chất liệu văn hóa, văn học dân gian (0,75 điểm)
-
Để góp phần thể hiện tư tưởng Đất nước của nhân dân là một tư tưởng nổi
bật trong tác phẩm, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng chất liệu văn
hóa, văn học dân gian trong xuốt chiều giai đoạn và đã sử dụng nó như
một cách rất sáng tạo.
- Chất liệu văn hóa, văn học dân gian
được nhắc tới là những câu ca dao, những truyện cổ tích như "Trầu Cau",
những truyền thuyết về Thánh Gióng, Lạc Long Quân và Âu Cơ, những phong
tục tập quán như cới tóc sau đầu, tục ăn trầu, những thành ngữ dân gian
như "gừng cay muối mặn". . .
- Chất liệu văn hóa, văn học
dân gian được thể hiện một cách sáng tạo như lấy lại cách mở đầu của cổ
tích "ngày xửa, ngày xưa", sử dụng thành ngữ, sử dụng bộ phận trong ca
dao . . .
b. Thể thơ, nhịp điệu giọng điệu biến hóa, linh hoạt (0,5 điểm)
-
Bài thơ không chỉ mang đậm màu sắc dân gian mà còn mang tính hiện đại
với thể thơ tự do, phóng túng, những câu thơ dài ngắn khác nhau, ít dựa
vàovấn đề liên kết.
- Nhịp thơ và giọng thơ cũng biến đổi linh hoạt
c. Chất chính luận kết hợp với chất trữ tình (0,5 điểm)
-
Chính luận kết hợp với chất trữ tình, cảm xúc kết hợp với xuy tưởng,
cảm xúc về đất nước được thể hiện trong đoạn trích dồi dào khiến chất
chính luận, suy tưởng không còn khô khan, trái lại trữ tình sâu lắng,
khiến nhiều đoạn thơ không là lời giáo huấn, răn giạy giáo điều mà là
lời nhắn nhủ thiết tha, dễ đi vào lòng người.
Câu II (3 điểm)
"Khoan dung là đức tính đem lợi cho ta và cả người khác " (Pieere Benoit)
Anh chị có đồng ý với ý kiến đó không?
1. Giải thích
- Thế nào là khoan dung? Khoan dung là rộng lòng tha thứ cho người có lỗi. Biết khoan dung độ lượng là người có đức độ.
- Khoan dung có lợi cho cả ta lẫn người vì:
+
Người được tha thứ thấy được lòng khoan dung mà ăn năn, hối lỗi, sửa
chữa lỗi lầm và biết ơn người tha thứ, không tiếp tục mắc lỗi mà mình đã
mắc, như vậy là hướng người ta tới cái thiện.
+ Bản thân
người tha thứ thì thấy nhẹ lòng và không vi phạm vào đều hẹp hòi, độc
ác, trái đạo. Tha thứ lỗi lầm để cảm hóa người, góp phần xây dựng một xã
hội lành mạnh, văn minh.
2. Khoan dung trong cuộc sống
-
Cuộc sống khó tránh khỏi những va chạm, xung đột trong lời nói hay
việc làm, hành động có thể dẫn đến những không hay. Nhưng sau đó, ta nên
biết nhìn lại chính mình, chủ động giảng hòa, sẵn sàng tha thứ, cởi bỏ
oán thù, ghét bỏ.
- Trong cuộc sống cũng khó tránh khỏi những
lời gièm pha, nói xấu, ghen ghét, bình phẩm xau lưng . . .Nếu ta biết
mà bỏ qua coi như không nghe thấy và hoàn thiện bản thân thì người xưa
gọi đó là người quân tử, còn ngày nay gọi là người rộng lượng, rộng
lòng, ứng sử có văn hóa.
- Ngay cả trong gia đình cũng có
những mâu thuẫn, bất đồng. Điều cần nhớ là nếu người thân mắc lỗi cần
đối sử với họ bằng sự bao dung, tha thứ, tình thương yêu. Nhất là với
con cái cha mẹ nên vị tha khi con mắc lỗi lầm để cho con biết sống hướng
thiện.
3. Bình luận (1,0 điểm)
- Biết sống
khoan dung, độ lượng với mọi người là điều rất đúng đắn. Nhà Phật dạy:
"Oán thù nên cởi không nên buộc". Ta tha thứ cho người, lúc khác sẽ có
người tha thứ cho ta. Sự khoan dung đem đến niềm vui to lớn vì trước hết
nó giúp ta thanh thản và hơn nữa đó cũng là lối sống đẹp, biểu hiện
nhân cách của con người biết sống vì mình, vì mọi người.
-
Tuy nhiên lòng khoan dung cũng nên đặt đúng nơi, đúng chỗ, nếu không nó
cũng không làm con người hướng thiện mà có khi còn dẫn đến tác dụng tiêu
cực.
- Sống khoan dung, cao thượng nhiều khi không phải dễ
dàng vì dễ tha thứ cho lỗi lầm người khác thậm chí người ta hi sinh,
phải cố gắng dẹp lòng ích kỷ, CN cá nhân nên muốn biết sống khoan dung
chúng ta cần có sự nỗ lực rèn luyện.
4. Bài học rút ra.
-
Cuộc sống luôn phức tạp, nhiều khó khăn rắc rối, ta cũng luôn phải biết
khoan dung, tha thứ cho tinh thần thanh thản, cho cuộc sống quanh ta
tốt đẹp hơn.
-Bản thân cũng luôn rèn luyện lòng khoan dung.
Câu III.a Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Sóng của Xuân Quỳnh:
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đoạn trích.
-
Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt nổi bật của thế hệ nhà thơ
trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cùng với những nhà
thơ như: Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo . . . "Sóng" là bài
thơ tiêu biểu cho hồn thơ Xuâ Quỳnh: luôn trăn trở, khát khao được yêu
thương gắn bó. Bài thơ được in trong tập "Hoa dọc chiến hào" (1968)
-
Đoạn trích nằm ở giữa của bài thơ, có thể xem đó là đoạn thơ tiêu biểu
của tác phẩm. Giống như toàn bài, ở đoạn này hai hình tượng sóng và em
luôn tồn tại đan cài, khắc họa rõ nét nỗi nhớ, sự thủy chung tha thiết
của nhà thơ. Mỗi trạng thái tâm hồn của người phụ nữ đều có thể tìm
thấy sự tương đồng với một đặc điểm nào đó của sóng.
2. Bình giảng sáu câu thơ đầu (1,75 điểm)
- Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian: lòng sâu - mặt nước, ngày - đêm.
-
Nỗi nhớ thường trực, không chỉ tồn tại khi thức mà cả khi ngủ, len lỏi
vào cả giấc mơ, trong tiềm thức (" Cả trong mơ còn thức").
- Cách nói cường điệu nhưng đúng là chân thành biểu hiện nỗi nhớ của một tình yêu mãnh liệt (Ngày đêm không ngủ được").
-
Mượn hình thượng của sóng để nói tới nỗi chưa đủ, chưa thỏa, nhà thơ
trực tiếp thể hiện nỗi nhớ của mình ("Lòng em nhớ đến anh")
3. Bình giảng bốn câu thơ đầu (1,25 điểm)
-
Khẳng định tình yêu chung thủy, duy nhất: dù ở phương nào, nơi nào cũng
chỉ hướng về phương anh, chỉ "Hướng về anh - một phương".
-
Trong cái mênh mông của đất trời, đã có phương bắc, phương nam thì cũng
có phương anh. Đây chính là phương tâm trạng, Phương của người phụ nữ
đang yêu say đắm, thiết tha.
4. Một số đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ (1,0 điểm)
- Thể thơ năm chữ được sử dụng sáng tạo, thể hiện nhịp sóng biển, nhịp sóng lòng của thi sĩ.
-
Các biện pháp điệp từ, điệp cú pháp góp phần tạo nên nhịp điệu nồng
nàn, say đắm, thích hợp với việt diễn tả nỗi nhớ mãnh liệt: con sóng (ba
lần), dưới lòng sâu - trên mặt nước, dẫu xuôi - dẫu ngược . . .
5. Kết luận (0,5 điểm)
-
Trong bài thơ, Xuân Quỳnh đã thể hiện rất gợi cảm, sinh động những
trạng thái cảm xúc, những khao khát mãnh liệt của người phụ nữ đang yêu.
-
Từ đoạn thơ, có thể nói tới tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam trong
tình yêu: táo bạo, mạnh mẽ mà vẫn giữ được những nét truyền thống tốt
đẹp: chung thủy, son sắt.
Câu III.b
Phân tích
vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc qua hình ảnh con sông Đà và
người lái đò sông Đà trong tùy bút "Người lái đò sông Đà" của Nguyễn
Tuân.
1. Giới thiệu chung (0,5 điểm)
-
Nguyễn Tuân là một nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại,
một nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo. Ông đặc biệt thành công ở
thể loại tùy bút. "Người lái đò sông Đà" nằm trong tùy bút "Sông Đà"
(1960) - tập truyện ra đời sau chuyến đi thực tế của Nguyễn Tuân lên Tây
Bắc.
- Trong tác phẩm nhà văn đã xây dựng thành công hai
hình tượng nghệ thuật nổi bật: Con sông Đà và ông lái đò sông Đà. Qua
hai hình tượng nghệ thuật này tác giả ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên,
con người Tây Bắc.
2. Hình tượng con sông Đà - Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc. (2,0 điểm)
-
Tính chất hung bạo của con sông: Cảnh đá bờ dựng vách thành đúng ngọ
mới có mặt trời, chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu; Cái ghềnh nước
với nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió . .. ; Những hút nước trên sông
Đà nước xoáy tít đáy lừ lừ như cách quạ đàn, thuyền bè đi lại không cẩn
thận có thể nó lôi vào và làm cho tan xác; Nguy hiểm nhất vẫn là những
thác đá với âm thanh khủng khiếp, như tiếng một ngàn con trâu mộng đang
bị giam cầm trong rừng lửa với da cháy bùng bùng, với những thạch trận
mà đá dàn bày trên sông để bẫy con người. . .
- Tính chất trữ
tình, thơ mộng của con sông: Từ trên cao thấy con sông "tuôn dài, tuôn
dài như một áng tóc trữ tình . . ."; Nước sông Đà thay đổi theo mùa: mùa
xuân xanh mọc ngọc bích, mùa thu lừ lừ chín đỏ . . .; Thiên nhiên sông
Đà là một thế giới kỳ ảo với bờ, bãi, chuồn chuồn, bươm bướm, hươu thơ
ngộ, cỏ gianh ra nõn búp , cá dầm xanh . .. , cảnh vật lặng lờ như từ
đời Lý, Trần, Lê cũng lặng tờ đến thế, bờ sông hoang dại như bờ tiền sử,
hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích; Vẻ đẹp của sông Đà là vẻ đẹp đầy
chất thơ, vẻ đẹp của cổ thi gợi nhớ tới câu thơ "Yên hoa tam nguyệt há
Dương Châu" . . .
- Từ hai nét tính cách của con sông Đà,
Nguyễn Tuân cho thấy vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, hoang
vơ vừa tuyệt vời thơ mộng.
3. Hình tượng ông lái đò - Vẻ đẹp con người Tây Bắc
-
Dòng sông Đà được miêu tả như bầy thủy quái, như một kẻ thù số một của
con người với những thạch trận đá đầy nguy hiểm. Ông lái đò bằng tài
hoa, trí dũng, bằng sự hiểu biết tường tận về con sông đến mức" Nhớ như
đóng đanh vào lòng" những luồng nước sông Đà đã bình tĩnh vượt qua thác
đá trên sông Đà như một vị tướng tả xung hữu đột, vượt qua tất cả các
thế trận mà đá, nước tác dàn bày . . .Vẻ đẹp của nhân vật ông lái đò
nhìn chung là vẻ đẹp của tài hoa, trí dũng và sự cần cù, khéo léo của
người lao động.
- Dòng sông cành hung dữ càng làm tôn nên vẻ
đẹp của người lao động. Với hình ảnh ông lái đò, một ngệ sĩ trong nghệ
thuật vượt thác qua giao tranh, chinh phục thiên nhiên giành lấy cuộc
sống.
4. Đánh giá chung (1,0 điểm)
- Bằng
vốn ngôn ngữ phong phú, tài hoa, uyên bác, sự quan sát, liên tưởng,
tưởng tượng phong phú, kết hợp kiến thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhà
văn Nguyễn Tuân đã xây dựng được những hình tượng nghệ thuật độc đáo.
Với những hình tượng nghệ thuật "Người lái đò sông Đà" đã cho người đọc
thấy vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, hoang sơ, vừa rất đỗi thơ
mộng, trữ tình. Trên nền bức tranh thiên nhiên Tây Bắc là con người Tây
Bắc cần cù, khéo léo, tài hoa, trí dũng. Với nhân vật ông lái đò, nhà
văn Nguyễn Tuân đã tìm thấy chất vàng mười đã qua thử lửa trong tâm hồn
Tây Bắc.
- Tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật
Nguyễn Tuân sau cách mạng, cũng cho thấy sự nặng lòng của nhà văn với
thiên nhiên con người Tây Bắc nói riêng, với quê hương đất nước nói
chung.