Câu I: (2,0 điểm)
"Đàn ghi ta của Lor - ca"
của Thanh Thảo được viết theo lối tượng trưng, siêu thực, anh/chị hãy
chỉ ra một số biểu hiện của kiểu thơ này qua tác phẩm. Hãy chỉ ra tác
dụng của các phương tiện biểu hiện ấy qua việc thể hiện nội dung bài
thơ?
Những biểu hiện của lối thơ tượng trưng, siêu thực. (2,0 điểm)
- Hình ảnh thơ có tính tượng trưng cao độ : "Áo choàng đỏ gắt" biểu tượng cho cuộc đấu tranh vì tự do của nhân dân; "Áo choàng bết đỏ" gợi lên cái chết thê thảm; "Những tiếng đàn". "li-la li-la li-la", "tiếng ghi ta" biểu tượng cho hình ảnh người nghệ sĩ, cho khát vọng cách tân nghệ thuật, "Cỏ mọc hoang" biểu tượng cho sự thiếu vắng người dẫn đường và sức sống mãnh liệt của nghệ thuật, sự bất tử của người nghệ sĩ; "Giọt nước mắt vầng trăng"; "Đáy giếng", "Đường chỉ tay". . .
- Hình ảnh thơ được thể hiện theo lối chuyển đổi cảm giác: "tiếng ghi ta nâu"; "tiếng ghi ta lá xanh"; "tiếng ghi ta tròn". . .
- Bài thơ có hình thức âm thanh: chuỗi âm li-la li-la li-la li-la
- Bài thơ không dấu, câu thơ không vần, không dấu chấm, phẩy, không viết hoa, phân câu theo trật tự khác thường:
tiếng ghi ta chảy ròng ròng
máu chảy . . .
chàng ném bùa cô gái Di-gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt
Câu II: Suy nghĩ về ý kiến:"Đối xử với bản thân bằng lý trí, đối xử với người khác bằng tấm lòng"
1. Giải thích ý kiến (0,5 điểm)
-
Đối xử với bản thân bằng lý trí: Cách ứng sử của con người với bản
thân. Tự nhận thức, tự đánh giá về bản thân một cách sáng suốt, tỉnh
táo, nghiêm khắc, thậm chí khắt khe với chính mình. Có như vậy mới phát
huy được những ưu điểm, khắc phục hạn chế, có bản lĩnh vững vàng.
-
Đối xử với người khác bằng tấm lòng: Nhận xét, đánh giá, cư sử với
người khác bằng tấm lòng, lòng vị tha, bao dung, độ lượng. Tự nguyện
chịu thiệt thòi, vui vẻ chấp nhận hy sinh, không phân vân, do dự. Chỉ
khi đối sử với con người khác bằng tấm lòng ta mới có thể đón nhận những
tấm lòng từ mọi người.
-> Bài học về cách ứng sử của con
người với chính mình và người khác. Với bản thân nghiêm khắc, với người
khác bao dung, độ lượng.
2. Bàn bạc mở rộng vấn đề. (2,0 điểm)
- Khẳng định sự cần thiết phải đối sử nghiêm khắc với bản thân và bao dung, độ lượng, sẻ chia với người khác
-
Trong thực tế cuộc sống đối xử với bản thân bằng lý trí là cái cần
thiết: Song trong những tình huống cụ thể cũng cần đối sử với bản thân
bằng tấm lòng. Cần biết cách tự tha thứ cho mình. Một người cần biết
sống khoan dung cho mình mới có thể khoan dung cho người khác. Cũng vậy,
đối sử với người khác bằng tấm lòng là đúng, nhưng không dễ dãi có
người, có việc cũng cần lí trí và nghiêm khắc.
- Cần tránh những cách sử dụng cực đoan:
+ Qúa lí trí với mình để trở thành người sống nguyên tắc, cứng nhắc, rập khuôn.
+
Qúa dễ dãi khi dành tấm lòng cho người khác, yêu thương không đúng
cách, bao dung không đúng việc, vị tha không đúng người có thể gây hại
cho người mình yêu thương và bị kẻ khác lạm dụng.
- Câu ngạn
ngữ trên cần vận dụng linh hoạt, mỗi người cần biết cân nhắc, để lựa
chọn đúng cách ứng sử với mình và người khác cho đúng, phù hợp.
3. Bài học nhận thức và hành động (0,5 điểm)
-
Nhận thức sâu sắc về điểm yếu, điểm mạnh của bản thân, nghiêm khắc với
bản thân mình, không ngừng rèn luyện để phấn đấu vươn lên, bồi dưỡng đạo
đức nhân cách.
- Sống chan hòa, bao dung dộ lượng, sẻ chia,
giúp đỡ, thương yêu mọi người, làm cho mối quan hệ giữa con người và con
người ngày càng tốt đẹp hơn.
Câu III.a
Làm
nổi bật giá trị nhân đạo trong tác phẩm "Chí Phèo" của Nam Cao qua việc
phân tích quá trình hồi sinh và bi kịch cự tuyệt quyền làm người của
nhân vật Chí Phèo?
1. Vài nét về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)
-
Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà văn nhân đạo chủ nghĩa lớn,
có đóng góp vô cùng quan trọng cho nền văn học hiện đại Việt Nam.
-
Chí Phèo là kiệt tác ttrong văn xuôi Việt Nam hiện đại, một truyện ngắn
có giá trị nhân đạo và giá trị hiện thức sâu sắc, mới mẻ chứng tỏ trình
độ bậc thầy của nhà văn lớn.
2. Phân tích quá trình hồi sinh và bi kịch của Chí Phèo và cách đánh giá giá trị nhân đạo (4 điểm)
-Qúa
trình hồi sinh: Nhà tù thực dân và Bá Kiến đã biến anh canh điền hiền
lành, có phẩm chất thằng du côn rồi thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại.
Nhưng tưởng Chí Phèo mãi sống kiếp thú vật rồi chết như một con vật
nhưng cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã làm cho Chí hồi sinh:
+ Chí tỉnh rượu: nghe âm thanh cuộc sống quanh mình, nhận thức được tâm trạng mình, hắn thấy lòng mơ hồ buồn.
+
Chí ý thức được quá khứ, hiện thượng và tương lai: nhớ lại quá khứ,
cảm nhận nỗi buồn và sự cô độc ở hiện tại và lo sợ tương lai tuổi già và
cô độc.
+ Nhận được sự chăm sóc chân tình bằng bát cháo
hành, bằng tình thương nồng ấm của Thị Nở, Chí Phèo ngạc nhiên xúc động.
Hương vị của cháo hành lúc này chính là hương vị của tình yêu thương
chân thành, của hạnh phúc giản dị mà có thật, lần dầu tiên Chí Phèo được
hưởng. Chí Phèo ăn năn, hồi tính, bản tính lương thiện đang trỗi dậy
mạnh mẽ trong hắn. Như vậy, lòng yêu thương, tình người chân thành đã
làm sống dậy trong lòng Chí Phèo bản chất đẹp đẽ của người nông dân bao
lâu nay bị che lấp, vùi dập nhưng vẫn không bao giờ tắt.
+
Chí Phèo khao khát hoàn lương, thèm lương thiện, muốn dàn hòa với mọi
người. Hơn bao giờ hết Chí khao khát hạnh phúc và mái ấm gia đình. Tình
yêu của Thị Nở chẳng những thức tỉnh Chí Phèo mà còn hé mở cho con đường
trở lại cuỗ đời, trở lại làm người lương thiện, Chí chờ đợi và hy vọng.
-
Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người: Con đường trở về với lương thiện
của Chí Phèo vừa mở ra đã bị chặn lại, xã hội làng Vũ Đại không tiếp
nhận hắn, họ không chấp nhận Chí là một con người, Chí Phèo rơi vào bi
kịch:
+ Chí đau đớn thất vọng, cố níu kéo Thị Nở khi thị bỏ
đi nhưng thị đã dứt khoát, cự tuyệt. Chí uống rượu nhưng càng uống càng
tỉnh, hắn cứ thấy hơi cháo hành thoang thoảng. Chí thấy thía những bất
hạnh, đau đớn xót xa của cuộc đời mình và hắn đã rơi vào tình thế bi
kịch: bi kịch của con người bị đẩy ra xã hội loài người, bị tước đoạt
quyền làm người.
+ Hành động cầm dao đến nhà Bà Kiến để giết
Bá Kiến và kết liễu đời mình là hành động thể hiện tình thế tuyệt vọng,
bết tắc, cùng đường không lối thoát của Chí Phèo. Chí Phèo phải chết vì ý
thức nhân phẩm đã trở về, anh không thể chấp nhận trở lại kiếp sống thú
vật được nữa. Chí Phèo chết trên ngưỡng của trở về cuộc đời, trong tâm
trạng bi kịch, khi ý thức nhân phẩm đã mạnh hơn cái chết.
- Đánh giá giá trị nhân đạo:
+
Nhà văn đã phát hiện và khẳng định sự bất diệt của thiên lương, khẳng
định sức sống mạnh mẽ, mãnh liệt của con người không có thế lực bạo tàn
nào có thể hủy diệt được.
+ Nhà văn lên tiếng bênh vực, đòi quyền sống, quyền làm người lương thiện cho người dân nghèo.
+
Phê phán, tố cáo mạnh mẽ xã hội thực dân phong kiến đã đẩy người nông
dân đến bước đường cùng tước đoạt hình người, tính người và đẩy họ vào
chỗ chết.
3. Đánh giá chung (0,5 điểm)
-
Giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ là một đóng góp quan trọng của Nam Cao
khi viết về người nông dân. Qua đó nhà văn vạch ra vấn đề cần phải kiên
quyết đấu tranh với cái ác, cái xấu để bảo về nhân tính, phải quan tâm
nuôi dưỡng phần người ngày càng lành vững.
- Đoạn văn thể
hiện bản lĩnh nghệ thuật của Nam Cao: nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm
lí đặc sắc; Xây dựng tình huống bi kịch. . .
Câu III.b Phân
tích đoạn thơ trong bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng làm nổi bật bút
pháp lãng mạn và màu sắc bi tráng trong việc xây dựng được tượng đài về
người lính của Quang Dũng.
1. Vài nét về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)
- Quang Dũng là nhà thơ màng hồn phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, tài hoa, đặc biệt là khi ông viết về người lính.
- Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng , thể hiện sâu sắc phong cách nghệ thuật của ông.
2. Phân tích đoạn thơ và đánh giá bút pháp (4,0 điểm)
- Đoạn thơ khắc hạo bức tượng đài bi tráng về người lính một thời đánh giặc, cứu nước:
+
Người lính được miêu tả với ngoại hình ốm yếu: "đoàn binh không mọc
tóc", "quân xang màu lá". đó là hậu quả của gian khổ, thiếu thốn, đói
rét, bệnh tật. Nhưng tinh thần vẫn mãnh liệt, dữ đội ngang tàng, cứng
cỏi: ở cách nói chủ động "không mọc tóc" chứ không phải không mọc được
vì sốt rét, ở sức mạnh nội tâm sôi sục hướng về nhiệm vụ chiến đấu: "dữ
oai hùm", "mắt trừng".
+Tâm hồn hào hoa, lãng mạn: luôn dành
một khoảng tâm hồn bình yên để yêu say cuộc sống, để hướng về "dáng kiều
thơm" thướt tha, duyên dáng, trữ tình. Đó là động lực để người lính
vượt qua khó khăn, gian khổ để chiến đấu, chiến thắng trở về.
+
Lí tưởng, khát vọng được ra đi, được dâng hiến, được xả thân, cống hiến
tuổi xuân của mình cho tổ quốc với tinh thần "Quyết tử cho tổ quốc
quyết sinh".
+ Sự hi sinh của người lính: Tột cùng của cái bi
là cái chết, nhưng đó là cái bi tráng. Người lính đã "về đất", ra đi
một cách thanh thản, nhẹ nhàng sau khi đã dâng hiến không mảy may tiếc
nuối tuổi trẻ của mình cho tổ quốc.
- Bút pháp lãng mạn và mày sắc bi tráng:
+
Bút pháp lãng mạn : khám phá những vẻ đẹp dữ dội, phi thường, sử dụng
thủ pháp đối lập mạnh mẽ. Người lính xuất hiện dữ dội như từng rừng
thiêng đi ra.Đối lập giữa vẻ bên ngoài và sức mạnh bên trong, sự hi sinh
của người lính thật lớn lao và cũng thầm lặng.
+ Màu sắc bi
tráng: Cái bi thể hiện qua hiện thực cuộc sống thiếu thốn đói rét, bệnh
tật, đặc biệt là thể hiện lên qua những nấm mồ hoang lạnh, những chiến
sĩ hi sinh chỉ có những mảnh chiếu bó tạm . . . Nhưng mất mát mà không
ủy mị, cúi đầu, mất mát mà vẫn mạnh mẽ, cứng cỏi gân guốc, coi thường
gian khổ, thiếu thốn, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Màu sắc bi tráng
còn thể hiện ở không gian thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội tiễn đưa linh hồn
chiến sĩ.
3. Đánh giá chung (0,5 điểm)
-
Đoạn thơ đã khắc họa được bức tượng đài nghệ thuật bất tử về người lính
một thời đánh giặc cứu nước; qua đó bồi đắp tinh thần yêu nước, lý tưởng
cao đẹp của mỗi người con đất Việt.
+ Đoạn thơ cũng thể hiện rõ nét hồn thơ Quang Dũng.