Em tham khảo thêm bài này nhé!
* Khổ này đã kết tinh nội
dung và nghệ thuật của bài thơ. Về nội dung khổ thơ này đã nỗi sầu
vũ trụ cả nỗi buồn nhớ quê hương của tác giả. Về nghệ thuật, khổ
thơ này thể hiện thành công nghệ thuật đối lập tương phản, kết hợp
giữa màu sắc cổ điển và hiện đại.
- Hai câu đầu: Cảnh vừa mang
vẻ đẹp cổ điển đồng thời cũng phảng phất màu sắc hiện đại. Màu
sắc cổ điển được thể hiện ở hình ảnh cánh chim trong hoàng hôn:
Lớp lớp..
Chim nghiêng cánh nhỏ
Khi miêu tả hình ảnh cánh chim
trong trời chiều là tác giả đã sử dụng bút pháp ước lệ của thơ
xưa. Nó gợi nhớ đến câu ca dao:
Chim bay
về núi tối rồi
Hay
Chim hôm
thoi thót về rừng
Đóa trà
mi đã ngậm trăng nữa vành
(Truyện Kiều)
Tuy
nhiên hình ảnh cánh chim trong hoàng hôn lại mang tâm trạng của nhà thơ
mới. Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng thành công biện pháp đối lập
giữa một bên là h/a những lớp mấy đùn núi bạc hùng vĩ đối lập với
một cánh chim nghiêng trong trời chiều bé nhỏ. Hình ản thơ khiến
chúng ta liên tương tới câu thơ của nhà thơ Vương Bột đời Đường.
“Lạc hà dữ cô lộ tề phi,
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc”
(Ráng chiều với cánh cò cô độc đang bay
Làn nước thu với bầu trời mênh mông một màu)
Cánh
chim không chỉ trĩu nặng nắng chiều mà dường như còn chở đầy tâm
trạng của tác giả. Bản thân tác giả từng tâm sự: “Cánh chim bay
liệng tuy gợi sự ấm cúng cho cảnh vật, nhưng nhỏ bé quá và nỗi
buồn đến đây càng da diết trong thương nhớ”. Và nỗi buồn càng thể
hiện rõ hơn trong hai câu cuối
- Hai câu cuối: Vừa mang phong
vị cổ điển vừa trực tiếp nói lên tâm trạng buồn nhớ quê hương.
Đọc hai câu thơ cuối ta nhớ
tới ý thơ của nhà thơ Thôi Hiệu:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)
Hai câu thơ này được coi là
những câu thơ hay nhất nói về nỗi buồn của những người con xa xứ.
Láy lại ý thơ của người xưa, HC dường như neo cái nỗi buồn của lòng
mình vào câu thơ xưa, khiến nỗi buồn của tác giả thêm chiều sâu, và
đậm màu cổ điển.
Tuy nhiên HC không rập khuôn
hoàn toàn ý thơ của Thôi Hiệu. Nếu như nỗi nhà nhà của nhà thơ xưa
được đánh thức bởi ngoại cảnh thì đối với HC nỗi nhớ quê hương bắt
nguồn từ chính trong tâm khảm. Đọc câu thơ của HC ta có cảm giác nhà
thơ mới buồn nhớ quê hương hơn nhà thơ xưa. Điều đó có thể được lí
giải bởi xưa kia Thôi Hiệu nhớ quê
khi phải xa quê còn ở đây HC nhớ quê ngay khi ở chính trên quê hương,
đất nước mình. Đó chính là nỗi nhớ của một người dân mất nước.
Hai câu cuối còn thành công ở
phương diện sử dụng từ ngữ, chữ “vời” khiến ta liên tưởng đến câu thơ
trong Truyện Kiều:
Bốn phương mây trắng một màu
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà
Bên
cạnh đó hai chữ “dợn dợn”, không chỉ gợi cảm giác mà còn gợi hình
ảnh những làn sóng nhấp nhô liên tiếp. Ta có cảm nước sóng nước và
sóng lòng đang hòa quyện vào nhau, cùng vỗ vào nỗi lòng nhớ quê
hương của tác giả. Chữ “dợn dợ” kết hợp với cụm từ “vời con nước”
khiến cho nỗi nhớ trở nên mênh mang.
Một
điểm đặc sắc ở câu thơ cuối là tác giả đã sử dụng biện pháp phủ
định để khẳng định. “Không khói hoàng hôn” là phủ định, còn “cũng
nhớ nhà” là khẳng định. Qua biện pháp này nỗi nhớ quê hương càng được nhấn mạnh,
sâu sắc hơn.
KL:
Khổ thơ đã kết tinh được cả nội dung cảm xúc và nghệ thuật của bài
Tràng giang