ĐA:
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Dẫn dắt vào nhân vật bà cụ Tứ
2. Thân bài
a. Giới thiệu khái quát nhân vật
Bà cụ Tứ là người dân ngụ cư, nghèo khổ, góa bụa, ở vậy nuôi con, chịu
nhiều đắng cay, cơ cực. Bà xuất hiện trong bóng chiều hôm chạng vạng tê
tái với hình ảnh "lọng khọng từ ngoài ngõ vào vừa đi vừa lầm bầm tính
toán gì trong miệng". Bà cũng như bao người mẹ Việt Nam khác rất mực yêu
thương con cái.
b. Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật
* Lúc đầu bà ngạc nhiên
- Thấy Tràng "reo lên như một đứa trẻ", vồn vã khác thường khi thấy mẹ,
tâm trạng bà cụ Tứ cũng trở nên "phấp phỏng": Có cái gì đó bất thường
đang chờ đợi bà. Đầu tiên là tâm trạng ngạc nhiên: Ngạc nhiên đến nỗi bà
phải " đứng sững lại". Bởi căn nhà xưa nay chỉ có bà và Tr nay lại thấy
xuất hiện một người đàn bà xa lạ. Vì thế hàng loạt những câu hỏi luẩn
quẩn trong đầu bà: "Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ?
Người đàn bà nào đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại
chào mình bằng u? Không phải con cái Đục mà. Ai thế nhỉ?". Vì ngạc
nhiên, phân vân nên bước chân của bà lão cũng "lập cập". Khi đã vào
trong nhà, Bà cụ Tứ lại càng ngạc nhiên hơn khi nghe thấy tiếng người
đàn bà xa lạ chào mình bằng u.
* Khi hiểu ra bà tủi phận.
- Khi nghe Tràng phân trần, cắt nghĩa: "Nhà tôi nó mới về làm bạn
với tôi đấy u ạ", bà cụ mới hiểu. "Bà lão cúi đầu nín lặng". Một sự im
lặng chất chứa biết bao suy nghĩ. "Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo
khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho
số kiếp đứa con mình". Một nỗi tủi hờn, xót thương trào lên trong lòng
bà cụ Tứ "Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc ăn nên làm
nổi những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này...Còn mình thì...". Đằng
sau lời độc thoại bỏ lửng đó người đọc có thể thấy được nỗi cay đắng của
bà đang dâng lên tột đỉnh và người mẹ nghèo khổ ấy đã khóc " Trong kẽ
mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt...".
* Bà
lo lắng: Thương con nên lo lắng cho con: "Biết rằng chúng nó có nuôi nổi
nhau sống qua được cơn đói khát này không". Suy nghĩ này của bà cụ Tứ
chứng tỏ bà đang rất lo lắng cho tương lai của hai con. Cũng chứng tỏ sự
ám ảnh về nạn đói ấy thật khủng khiếp.
*Từ tủi phận và lo
lắng bà lão chuyển sang tâm trạng vừa vui mừng vừa thương xót anh con
trai và người vợ nhặt. Vui mừng vì con có hạnh phúc, xót thương vì sự
thật quá phũ phàng. Bà thở dài nhìn người đàn bà đang vân vê tà áo đã
rách bợt nay đã là dâu con của bà. Càng nhìn bà càng thương thị lại
càng thương con mình "Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ người ta
mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ. May ra mà qua được cái
tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó".
-
Sau khi khẽ dặng hắng một tiếng, bà lão ôn tồn, "nhẹ nhàng" nói với
nàng dâu: "Ừ thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng
mừng lòng..." . Ngôn ngữ của bà lão nhẹ nhàng, cái nhìn của bà với nàng
dâu đầy cảm thông. Tất cả xuất phát từ tình yêu thương con người của
bà lão. Lời nói ấy làm anh Tràng nhẹ nhõm và cũng đã trả lại danh dự cho
người đàn bà là mang tiếng "theo trai".
* Bà lão chợt nhớ
ra cái bổn phận mẹ chồng. Thế là bà lão bắt đầu nói với 2 vợ chồng, bà
dặn dò các con "Nhà ta thì nghèo con ạ! Vợ chồng chúng mày liệu bảo nhau
mà làm ăn". Bà ấp ủ và hướng hai con vào niềm tin tưởng ở tương lai
phía trước với triết lí dân gian gần gũi "Rồi may ra ông giời cho
khá...Biết thế nào hở con, ai giầu ba họ, ai khó ba đời". Điều này chứng
tỏ bà là một bà mẹ chu toàn. Đây chính là niềm lạc quan hy vọng đổi
đời.
* Vì thương con bà lại ám ảnh chuyện cũ: "Bà lão thở
nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão , nghĩ đến đứa con gái út,
nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy
nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?".
* Song
nổi bật hơn cả vẫn là tấm lòng thương yêu của bà cụ Tứ: Bà lão, nhìn
người đàn bà, lòng đầy xót thương. Và cũng như biết bao bà mẹ nhân từ
khác, bà cụ Tứ những mong con dâu mình hoà thuận. Bà an ủi đôi vợ chống
son "Kể có được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo cũng chẳng
ai người ta chấp nhặt chi lúc này. Cốt làm sao chúng mày hoà thuận là u
mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy, chúng mày lấy nhau lúc này u thương
quá". Bà cụ Tứ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ cháy xuống ròng
ròng. Những giọt nước mắt xót xa, tủi nhục ấy, người vô tâm như Tràng
làm sao có thể hiểu nổi.
* Sáng hôm sau: Bà cụ Tứ thật khác
với ngày hôm qua. Người đọc thấy bà "nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày
thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên". Cùng với nàng
đâu, bà cụ xăm xắn thu dọn; quét tước nhà cửa. Người mẹ từng trải và
nhân hậu ấy đã bằng mọi cách nhen nhóm một niềm vui, niềm hi vọng cho
dâu con của mình. Bà cụ nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về
sau này. Bà dặn Tràng nuôi gà để "Chẳng mấy chốc có ngay đàn gà cho mà
xem".
Bà cố gắng tạo niềm vui bằng nồi chè cám, nồi chè bà đã dành
dụm chắt chiu để hôm nay mới có dịp đãi con. Tuy không ai nuốt nổi
nhưng chắc chắn rằng không ít người đọc đã chảy nước mắt trước tấm lòng
cao thượng ấy của người mẹ nông dân nghèo khổ.
3. Kết luận
Bà cụ Tứ là hình ảnh điển hình về một người mẹ nghèo khổ nông dân Việt
Nam với phẩm chất cao đẹp: thương con và giầu đức hy sinh, hiểu biết ,
lạc quan. Nhân vật mẹ Tứ thấm đượm tình cảm nhân đạo sâu xa vốn có trong
truyền thống dân tộc. Và là một sáng tạo xuất sắc của KL. Khắc họa hình
tượng nhân vật bà cụ Tứ, KL đã sử dụng một ngòi bút trong sáng, chọn
lọc để miêu tả tỷ mỉ, chân thực tấm lòng vừa trắc ẩn, vừa bao dung của
một người mẹ nông thôn VN.