|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 26/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 24/07/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Văn học 6
|
|
|
|
Cái này rõ nghĩa chứ có ẩn dụ gì đâu bà con nhỉ????????/
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Giúp em với - Nghị luận xã hội
|
|
|
|
MB. - Nhấn mạnh cuộc sống là một chuỗi tiếp nối. - Ngày mai luôn bắt đầu từ ngày hôm nay TB *Giải thích - Ngày mai: Tương lai - Ngày hôm nay: Hiên tại => Thương lai luôn bắt đầu từ hiện tại * Bình luận - Ý kiến đó hoàn toàn chính xác - Để có tương lai tốt, cần phải có sự chuẩn bị từ hôm nay, từ hiện tại - Nếu hiện tại không chịu cố gắng mà lại trông chờ tương lai tốt đẹp thì thật là điều vô lí - Có những người luôn mơ mộng hão huyền về những ngày chưa tới mà không nhìn vào thực tại hôm nay - Nếu chúng ta cứ sống tốt cho những ngày hiện tại thì tươn lai ắt hẳn sẽ tôt đẹp.... * bài học hành động - Luôn luôn trân trọng thời khắc hiện tại - Có kế hoạch cho cuộc sống - Hướng đến tương lại là tốt nhưng quan trọng hơn là phải sống cho thực tại cái đã KL. Hi hi. Thế bạn nhé
|
|
|
|
giải đáp
|
Chứng minh rằng :" Nhớ rừng là 1 bài thơ mời"
|
|
|
|
Theo chị, để chứng minh bài "nhớ rừng" là thơ mới, em chứng minh trên hai phương diện và luôn đặt nó trong tương quan với thơ cũ. Thứ nhất là nghệ thuật: Thơ cũ có những nguyên tắc về vần, nhịp, số câu, số chữ... "Nhớ rừng" không bị ràng buộc bởi những nguyên tắc đó. Bài thơ được làm theo thể thơ tự do. Ngôn ngữ hiện đại, không có tính ước lệ, sùng cổ. Số câu, số chữ không bị gò vào khuôn phép. Hình ảnh thơ, mới mẻ, sinh động... Thứ hai là về nội dung: Thơ cũ, nhìn chung thường nói chí, tải đạo. Cái tôi cá nhân không có chỗ đứng. Nhà thơ thường nhân danh cái ta, nhân danh cộng đồng để nói lên những nỗi niềm, tâm trạng của mình...Còn trong "Nhớ rừng" thì toàn bộ bài thơ là cảm xúc cá nhân mãnh liệt, thể hiện một khát khao tự do, một ước muốn được thoát khỏi cảnh tù túng, đạp tan mọi bất bằng... Chị có vài ý như vậy. EM tham khảo nhes1 goodluck
|
|
|
|
giải đáp
|
giúp với cả nhà
|
|
|
|
Chiếc lược ngà (1966) là một trong những truyện ngắn xuất sắc thời kì chống Mĩ. Với một tình huống độc đáo, câu chuyện cảm động về tình cha con đã phản ánh sâu sắc tình cảm con người trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Đoạn trích từ "Các bạn! Mỗi lần nhìn thấy cây lược ngà nhỏ ấy..." cho đến "Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi." thể hiện rõ chủ đề tư tưởng cũng như những đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm. Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công khi xây dựng được một cốt truyện đầy tính bất ngờ, có sức cuốn hút ngư¬ời đọc. Tình huống không chịu nhận ba của bé Thu là bất ngờ đầu tiên. Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi đứa con duy nhất của anh chư¬a đầy một tuổi. Từ đó hai ba con chư¬a hề gặp lại nhau, cho đến khi kháng chiến kết thúc, anh trở về, đứa con gái tám tuổi không chịu nhận ba. Trong ba ngày ở nhà, bằng đủ mọi cách mà con bé vẫn không chịu gọi lấy một tiếng ba. Đến lúc phải ra đi nhận nhiệm vụ mới, bé Thu mới gọi anh bằng ba. Thật bất ngờ. Thì ra, nó không chịu nhận ba là vì vết thẹo trên má đã khiến anh không còn giống như¬ trong bức ảnh chụp ngày cưới. Con bé chỉ gọi ba khi bà ngoại giải thích cho nó rõ điều này. Giây phút anh nghe được tiếng gọi mà anh chờ đợi đã bao năm ấy cũng là lúc cha con xa nhau. Anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây lược. Những ngày chiến đấu trong rừng, anh Sáu cặm cụi làm chiếc lược bằng ngà cho con gái. Chiếc lược đã làm xong nhưng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh. Những sự việc chính của câu chuyện trong đoạn trích là như vậy. Nhưng độ căng và tính bất ngờ của nó chỉ được đẩy lên đỉnh điểm khi trong từng sự việc tác giả đã miêu tả những diễn biến tâm lí của nhân vật một cách tinh tế, sinh động. Tình cha con sâu nặng bộc lộ trong những tình huống éo le, ngặt nghèo của bom đạn chiến tranh. Bản thân cốt truyện của đoạn trích Chiếc lược ngà đã có giá trị tố cáo tội ác chiến tranh đối với cuộc sống con người. Cha con tám năm trời không gặp nhau là do chiến tranh. Vết thẹo làm biến dạng khuôn mặt anh Sáu, khiến con bé không nhận ra ba là do chiến tranh. Và thật đau xót, ngư¬ời cha chưa kịp trao cho đứa con hết mực yêu thương của mình kỉ vật như lời hứa thì chiến tranh đã cướp đi sinh mạng anh. Tuy nhiên, cái mà tác giả tập trung thể hiện là những con người, là nhân vật. Tác giả đã chứng tỏ tài năng của mình trong việc xây dựng nhân vật một bé gái tám tuổi bướng bỉnh và gan góc. Trong tâm hồn trẻ thơ của bé Thu, chỉ có duy nhất hình ảnh một người ba mà nó biết qua bức ảnh chụp với má ngày cưới. Nó nhất quyết không chịu nhận ba, không gọi ba vì thấy ba nó trong bức ảnh không hề có vết thẹo trên má còn người cứ gọi nó là con, bắt nó gọi bằng ba bây giờ lại có vết thẹo dài trên má. Nguyễn Quang Sáng đã tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ. Chi tiết gọi "trổng" và chi tiết chắt nước cơm đã khắc hoạ nổi bật sự đáo để hồn nhiên của bé Thu. Đặc biệt là chi tiết bé Thu hất đổ cả chén cơm khi anh Sáu gắp cho nó cái trứng cá. Bị ba đánh, tưởng đâu "con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm". Đành rằng trẻ con chỉ tin vào những gì chúng thấy, đành rằng bé Thu không thể biết được sự ác nghiệt của bom đạn là thế nào, và nó có cách suy nghĩ theo kiểu trẻ con của nó, nhưng phải thừa nhận rằng cô bé này có một cá tính mạnh mẽ. Sự bướng bỉnh, gan góc đến kì lạ của bé Thu sau này trở thành lòng dũng cảm, sự lanh lợi của cô giao liên Thu. Nh¬ưng lẽ nào ở bé Thu chỉ là sự bướng bỉnh, gan góc đến đáo để? Không hề giản đơn như vậy, trong buổi sáng cha nó lên đường: "Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa." Cho đến khi nghe tiếng kêu thét lên: "- Ba.. a... a...ba!" thì mọi người mới vỡ lẽ ra rằng nó thèm được gọi ba như thế nào, "Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng "ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng "ba" như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.". Bé Thu là đứa trẻ giàu tình cảm. Thái độ của bé Thu với ba trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi. Song, trái ngư¬ợc mà vẫn nhất quán. Vì quá yêu ba, quá khao khát được có ba nên khi nhận định không phải ba nó thì nó nhất định không chịu nhận, nhất định không gọi "ba" lấy một tiếng. Cho nên, khi tiếng gọi như xé kia cất lên ta thấy nó thiêng liêng vô cùng. Tiếng gọi ấy càng trở nên thiêng liêng, quý giá bởi đón chờ nó là cả tấm lòng cao đẹp, thư¬ơng yêu con vô hạn của người cha. Người đọc sẽ nhớ mãi hình ảnh một ngư¬ời cha, người cán bộ cách mạng xúc động dang hai tay chờ đón đứa con gái bé bỏng duy nhất của mình ùa vào lòng sau tám năm xa cách. Mong mỏi ngày trở về, nóng lòng được nhìn thấy con, được nghe tiếng gọi "ba" thân thư¬ơng từ con, anh Sáu thực sự bị rơi vào sự hụt hẫng: "anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy". Mong mỏi bao nhiêu thì đau đớn bấy nhiêu. Anh cũng không ngờ rằng chính bom đạn chiến tranh vừa là nguyên nhân gián tiếp, vừa là nguyên nhân trực tiếp của nỗi đau đớn ấy. Tám năm xa vợ xa con, ở nhà được ba ngày rồi lại lên đường, và ra đi mãi... Ba ngày anh đ¬ược ở nhà anh chẳng đi đâu xa, để được gần gũi, vỗ về bù đắp những ngày xa con. Lòng người cha ấy đau đớn biết như¬ờng nào khi đứa con là máu mủ của mình gọi mình bằng "người ta": "Anh quay lại nhìn con vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi". Cử chỉ gắp từng miếng trứng cá cho con cho thấy anh Sáu là người sống tình cảm, sẵn sàng dành cho con tất cả những gì tốt đẹp nhất. Và chao ôi là hình ảnh hai đôi mắt của hai cha con trong thời khắc chia xa: "Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao". Ngư¬ời cha ấy sẽ ra đi khi chưa được gọi bằng "ba" lấy một lần. Đến tận giây phút cuối cùng, khi không còn thời gian để chăm sóc vỗ về nữa, anh mới thực sự được làm cha. Đó là sự thiệt thòi, là sự hi sinh không thể xem là nhỏ của ng¬ười chiến sĩ cách mạng. Dầu sau này anh Sáu có hi sinh cả tính mạng của mình. Câu chuyện được kể từ ngôi thứ nhất, người kể chuyện xưng "tôi" có mặt và chứng kiến toàn bộ câu chuyện giữa cha con anh Sáu. Đoạn trích bắt đầu với hình ảnh chiếc l¬ược ngà, khép lại cũng với hình ảnh chiếc lược ngà. Người kể chuyện kể lại câu chuyện cảm động đã xảy ra, khi anh còn chưa thực hiện được ý nguyện cuối cùng của anh Sáu trước lúc hi sinh: trao lại tận tay con gái kỉ vật của người cha. Người cha ấy đã vui mừng "hớn hở như trẻ được quà" khi kiếm được khúc ngà để làm lược tặng con gái như lời hứa lúc ra đi. Anh "cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc.[...] anh gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: "Yêu nhớ tặng Thu con của ba"". Nơi rừng sâu, tất cả nỗi nhớ, tình thư¬ơng yêu con của anh dồn cả vào công việc ấy, chiếc lược ấy. Người cha nâng niu chiếc lược ngà, ngắm nghía nó, mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm mượt, "Cây lược ngà ấy chưa chải lược mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh". Chiếc lược ngà như là biểu tượng của tình thương yêu, săn sóc của người cha dành cho con gái, cho dù đến khi không còn nữa anh chưa một lần được chải tóc cho con. Người kể chuyện, đồng đội của ông Sáu đã bộc lộ một sự đồng cảm và xúc động thực sự khi kể lại câu chuyện. Có lẽ, không ai hiểu nhau hơn những người đồng đội, gần nhau hơn những ngư¬ời đồng đội. Cho nên, sau này, khi trao tận tay Thu chiếc lược , giữa thu và người đồng đội của cha mình nảy nở một tình cảm giống như tình cha con.
Đoạn trích Chiếc lược ngà đã đạt được giá trị sâu sắc cả về nội dung và hình thức biểu đạt. Hình tượng chiếc lược ngà và câu chuyện giữa hai cha con người cán bộ cách mạng sẽ còn gây được xúc động lâu bền trong lòng người đọc.
|
|
|
|
giải đáp
|
giúp em với (rất gấp)
|
|
|
|
Hình ảnh bé Thu là nhân vật trọng tâm của câu chuyện, được tác giả khắc họa hết sức tinh tế và nhạy bén,là một cô bé giàu cá tính,bướng bỉnh và gan góc.Bé Thu gây ấn tượng cho người đọc về một cô bé dường như lì lợm đến ghê gớm,khi mà trong mọi tình huống em cũng nhất quyết không gọi tiếng “Ba” ,hay khi hất cái trứng mà ông Sáu gắp cho xuống,cuối cùng khi ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại.Nguyễn Quang Sáng đã khéo léo xây dựng nhiều tình huống thử thách cá tính của bé Thu,nhưng điều khiến người đọc phải bất ngờ là sự nhất quán trong tính cách của bé,dù là bị mẹ quơ đũa dọa đánh,dù là bị dồn vào thế bí,dù là bị ông Sáu đánh,bé Thu luôn bộc lộ một con người kiên quyết ,mạng mẽ.Có người cho rằng tác giả đã xây dựng tính cách bé Thu hơi “thái quá”,song thiết nghĩ chính thái độ ngang ngạnh đó lại là biểu hiện vô cùng đẹp đẽ mà đứa con dành cho người cha yêu quý.Trong tâm trí bé Thu chỉ có duy nhất hình ảnh của một người cha “chụp chung trong bức ảnh với má”.Người cha ấy không giống ông Sáu,không phải bởi thời gian đã làm ông Sáu già đi mà do cái thẹo trên má.Vết thẹo, dấu tích của chiến tranh đã hằn sâu làm biến dạng khuôn mặt ông Sáu.Có lẽ trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh,nó còn quá bé để có thể biết đến sự khốc liệt của bom lửa đạn,biết đến cái cay xè của mùi thuốc súng và sự khắc nghiệt của cuộc sống người chiến sỹ.Cái cảm giác đó không đơn thuần là sự bướng bỉnh của một cô bé đỏng đảnh,nhiễu sách mà là sự kiên định,thẳng thắn ,có lập trường bền chặt,bộc lộ phần nào đó tính cách cứng cỏi ngoan cường của cô gian liên giải phóng sau này.
Nhưng xét cho cùng,cô bé ấy có bướng bỉnh,gan góc,tình cảm có sâu sắc,mạnh mẽ thế nào thì Thu vẫn chỉ là một đứa trẻ mới 8 tuổi,với tất cả nét hồn nhiên, ngây thơ của con trẻ.Nhà văn tỏ ra rất am hiểu tâm lý của trẻ thơ và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến và trân trọng một cách đẹp đẽ,thiêng liêng những tâm tư tình cảm vô giá ấy.Khi bị ba đánh,bé Thu “cầm đũa gắp lại cái trứng cá để vào chén rồi lặng lẽ đứng dậy,bước ra khỏi mâm”.Có cảm giác bé Thu sợ ông Sáu sẽ nhìn thấy những giot nước mắt trong chính tâm tư của mình? Hay bé Thu dường như lờ mờ nhận ra mình có lỗi?Lại một loạt hành động tiếp theo “Xuống bến nó nhảy xuống xuồng,mở lòi tói,cố làm cho dây lòi tói khua rổn rang ,khua thật to,rồi lấy dầm bơi qua sông”.Bé Thu bỏ đi lúc bữa cơm nhưng lại có ý tạo tiếng động gây sự chú ý.Có lẽ co bé muốn mọi người trong nhà biết bé sắp đi ,mà chạy ra vỗ về,dỗ dành.Có một sự đối lập trong những hành động của bé Thu,giữa một bên là sự cứng cỏi,già giặn hơn tuổi,nhưng ở khía cạnh khác cô bé vẫn mong được yêu quý vỗ về.Song khi “Chiều đó,mẹ nó sang dỗ dành mấy nó cũng không chịu về”,cái cá tính cố chấp một cách trẻ con của bé Thu được tác giả khắc họa vừa gần gũi,vừa tinh tế.Dù như thế thì bé Thu vẫn chỉ là một đứa trẻ 8 tuổi hồn nhiên,dẫu có vẻ như cứng rắn và mạnh mẽ trước tuổi.
Ở đoạn cuối,khi mà bé Thu nhận ra cha,thật khó để phủ nhận bé Thu là đứa bé giàu tính cảm.Tình cha con trong Thu giữ gìn bấy lâu nay,giờ trỗi dậy,vào cái giây phút mà cha con phải tạm biệt nhau.Có ai ngờ một cô bé không được gặp cha từ năm 1 tuổi vẫn luôn vun đắp một tình yêu bền bỉ và mãnh liệt với cha mình,dù người cha ấy chưa hề bồng bế nó,cưng nựng nó,săn sóc,chăm lo cho nó,làm cho nó một món đồ chơi kể từ khi nó bắt đầu làm quen với cuộc sống.Nó gần như chưa có chú ấn tượng nào về cha,song chắc không ít lần nó đã tự tưởng tượng hình ảnh người cha nó tài giỏi nhường nào,cao lớn nhường nào,có vòng tay rộng để ôm nó vào lòng ra sao?Tình cảm mãnh liệt trong nó ngăn không cho nó nhận một người đàn ông lại kia làm bố.Khi đến ngày ông Sáu phải đi,con bé cứng cỏi mạnh mẽ ngày hôm nào lại “như thể bị bỏ rơi”,”lúc đứng ở góc nhà,lúc đứng tựa cửa và cứ nìn mọi người vây quanh ba nó,dường như nó thèm khát cái sự ấm áp của tình cảm gia đình ,nó cũng muốn chạy lại và ôm hôn cha nó lắm chứ,nhưng lại có cái gì chặn ngang cổ họng nó,làm nó cứ đứng nguyên ở ấy, ước mong cha nó sẽ nhận ra sự có mặt của nó.Và rồi đến khi cha nó chào nó trước khi đi,có cảm giác mọi tình cảm trong lòng bé Thu bỗng trào dâng.Nó không nén nổi tình cảm như trước đây nữa,nó bỗng kêu hét lên “Ba…”,”vừa kêu vừa chạy xô đến nhanh như một con sóc,nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”,”Nó hôn ba nó cùng khắp.Nó hôn tóc,hôn cổ,hôn vai,hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”.Tiếng kêu “Ba” từ sâu thẳm trái tim bé Thu,tiếng gọi mà ba nó đã dùng mọi cách để ép nó gọi trong mấy ngày qua,tiếng gọi ba gần gũi lần đầu tiên trong đời nó như thể nó là đứa trẻ mới bi bô tập nói,tiếng gọi mà ba nó tha thiết được nghe một lần.Bao nhiêu mơ ước,khao khát như muốn vỡ òa ra tring một tiếng gọi cha.Tiếng gọi ấy không chỉ khiến ba nó bật khóc mà còn mang một giá trị thiêng liêng với nó.Lần đầu tiên nó cảm nhận mơ hồ về niềm sung sướng của một đứa con có cha.Dường như bé Thu đã lớn lên trong đầu óc non nớt của nó.Ngòi bút nhà văn khẳng định một nhân vật giảu tình cảm,có cá tính mạnh mẽ,kiên quyết nhưng vẫn hồn nhiên,ngây thơ:Nhân vật bé Thu.
Tham khảo thêm:
Truyện Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng được viết năm 1966. Truyện thể hiện tỡnh cảm cha con sõu nặng trong hoàn cảnh ộo le của chiến tranh. Gấp sỏch lại rồi nhưng em vẫn không sao quên được hỡnh ảnh bộ Thu - một cụ bộ mới tỏm tuổi nhưng đầy cá tính, bản lĩnh. Hình ảnh bé Thu là nhân vật trọng tâm của câu chuyện, được tác giả khắc họa hết sức tinh tế và nhạy bén, là một cô bé giàu cá tính, bướng bỉnh và gan góc. Bé Thu gây ấn tượng cho người đọc về một cô bé dường như lì lợm đến ghê gớm,khi mà trong mọi tình huống em cũng nhất quyết không gọi tiếng “Ba”, hay khi hất cái trứng mà ông Sáu gắp cho xuống, cuối cùng khi ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại. Nguyễn Quang Sáng đã khéo léo xây dựng nhiều tình huống thử thách cá tính của bé Thu, nhưng điều khiến người đọc phải bất ngờ là sự nhất quán trong tính cách của bé, dù là bị mẹ quơ đũa dọa đánh, dù là bị dồn vào thế bí, dù là bị ông Sáu đánh, bé Thu luôn bộc lộ một con người kiên quyết, mạng mẽ. Có người cho rằng tác giả đã xây dựng tính cách bé Thu hơi “thái quá”, song thiết nghĩ chính thái độ ngang ngạnh đó lại là biểu hiện vô cùng đẹp đẽ mà đứa con dành cho người cha yêu quý. Trong tâm trí bé Thu chỉ có duy nhất hình ảnh của một người cha “chụp chung trong bức ảnh với má”. Người cha ấy không giống ông Sáu, không phải bởi thời gian đã làm ông Sáu già đi mà do cái thẹo trên má. Vết thẹo, dấu tích của chiến tranh đã hằn sâu làm biến dạng khuôn mặt ông Sáu. Có lẽ trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh, nó còn quá bé để có thể biết đến sự khốc liệt của bom lửa đạn, biết đến cái cay xè của mùi thuốc súng và sự khắc nghiệt của cuộc sống người chiến sỹ. Cái cảm giác đó không đơn thuần là sự bướng bỉnh của một cô bé đỏng đảnh, nhiễu sách mà là sự kiên định, thẳng thắn, có lập trường bền chặt, bộc lộ phần nào đó tính cách cứng cỏi ngoan cường của cô gian liên giải phóng sau này. Nhưng xét cho cùng, cô bé ấy có bướng bỉnh,gan góc, tình cảm có sâu sắc, mạnh mẽ thế nào thì Thu vẫn chỉ là một đứa trẻ mới 8 tuổi, với tất cả nét hồn nhiên, ngây thơ của con trẻ. Nhà văn tỏ ra rất am hiểu tâm lý của trẻ thơ và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến và trân trọng một cách đẹp đẽ, thiêng liêng những tâm tư tình cảm vô giá ấy.Khi bị ba đánh, bé Thu “cầm đũa gắp lại cái trứng cá để vào chén rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm”. Có cảm giác bé Thu sợ ông Sáu sẽ nhìn thấy những giot nước mắt trong chính tâm tư của mình? Hay bé Thu dường như lờ mờ nhận ra mình có lỗi? Lại một loạt hành động tiếp theo “Xuống bến nó nhảy xuống xuồng, mở lòi tói, cố làm cho dây lòi tói khua rổn rang , khua thật to, rồi lấy dầm bơi qua sông”. Bé Thu bỏ đi lúc bữa cơm nhưng lại có ý tạo tiếng động gây sự chú ý. Có lẽ co bé muốn mọi người trong nhà biết bé sắp đi, mà chạy ra vỗ về, dỗ dành. Có một sự đối lập trong những hành động của bé Thu, giữa một bên là sự cứng cỏi, già giặn hơn tuổi, nhưng ở khía cạnh khác cô bé vẫn mong được yêu quý vỗ về. Song khi “Chiều đó, mẹ nó sang dỗ dành mấy nó cũng không chịu về”, cái cá tính cố chấp một cách trẻ con của bé Thu được tác giả khắc họa vừa gần gũi, vừa tinh tế. Dù như thế thì bé Thu vẫn chỉ là một đứa trẻ 8 tuổi hồn nhiên, dẫu có vẻ như cứng rắn và mạnh mẽ trước tuổi. Ở đoạn cuối, khi mà bé Thu nhận ra cha, thật khó để phủ nhận bé Thu là đứa bé giàu tính cảm. Tình cha con trong Thu giữ gìn bấy lâu nay, giờ trỗi dậy, vào cái giây phút mà cha con phải tạm biệt nhau. Có ai ngờ một cô bé không được gặp cha từ năm 1 tuổi vẫn luôn vun đắp một tình yêu bền bỉ và mãnh liệt với cha mình, dù người cha ấy chưa hề bồng bế nó, cưng nựng nó, săn sóc,chăm lo cho nó, làm cho nó một món đồ chơi kể từ khi nó bắt đầu làm quen với cuộc sống. Nó gần như chưa có chú ấn tượng nào về cha, song chắc không ít lần nó đã tự tưởng tượng hình ảnh người cha nó tài giỏi nhường nào, cao lớn nhường nào, có vòng tay rộng để ôm nó vào lòng ra sao? Tình cảm mãnh liệt trong nó ngăn không cho nó nhận một người đàn ông lại kia làm bố. Khi đến ngày ông Sáu phải đi, con bé cứng cỏi mạnh mẽ ngày hôm nào lại “như thể bị bỏ rơi”, lúc đứng ở góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nìn mọi người vây quanh ba nó, dường như nó thèm khát cái sự ấm áp của tình cảm gia đình, nó cũng muốn chạy lại và ôm hôn cha nó lắm chứ, nhưng lại có cái gì chặn ngang cổ họng nó, làm nó cứ đứng nguyên ở ấy, ước mong cha nó sẽ nhận ra sự có mặt của nó. Và rồi đến khi cha nó chào nó trước khi đi,có cảm giác mọi tình cảm trong lòng bé Thu bỗng trào dâng.Nó không nén nổi tình cảm như trước đây nữa,nó bỗng kêu hét lên “Ba…”, “vừa kêu vừa chạy xô đến nhanh như một con sóc,nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”, “Nó hôn ba nó cùng khắp.Nó hôn tóc,hôn cổ,hôn vai, hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”. Tiếng kêu “Ba” từ sâu thẳm trái tim bé Thu, tiếng gọi mà ba nó đã dùng mọi cách để ép nó gọi trong mấy ngày qua, tiếng gọi ba gần gũi lần đầu tiên trong đời nó như thể nó là đứa trẻ mới bi bô tập nói, tiếng gọi mà ba nó tha thiết được nghe một lần. Bao nhiêu mơ ước, khao khát như muốn vỡ òa ra trong một tiếng gọi cha. Tiếng gọi ấy không chỉ khiến ba nó bật khóc mà còn mang một giá trị thiêng liêng với nó. Lần đầu tiên nó cảm nhận được niềm sung sướng của một đứa con có cha. Dường như bé Thu đã lớn lên trong đầu óc non nớt của nó. Ngòi bút nhà văn khẳng định một nhân vật giảu tình cảm, có cá tính mạnh mẽ, kiên quyết nhưng vẫn hồn nhiên, ngây thơ: Nhân vật bé Thu. Sau khi học xong truyện Chiếc lược ngà, em thấy mỡnh thật may mắn và hạnh phỳc vỡ được sống trong cảnh hũa bỡnh, trong tỡnh yờu thương của cha mẹ, được học hành vui chơi thoải mỏi. Em cảm thấy tự xấu hổ với bản thõn mỡnh vỡ chưa thật cố gắng trong học tập, chưa xứng đáng là con ngoan trò giỏi.
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
ĐỀ THI THỬ SỐ 5
|
|
|
|
Câu 1: - Cái lò gạch cũ: Đây chính là tên gọi đầu tiên của câu truyện,
để nói lên sự ra đời của Chí Phèo mà không được hưởng bất cứ quyền sống
nào của con người. "Cái lò gạch cũ" là hình ảnh không thể thiếu được
của Chí Phèo.với tên gọi này giá trị hiện thực của tác phẩm rất sâu sắc
khi dề cập tới sự nối tiếp của kiếp dọa đầy hết kiếp này qua kiếp khác
của giai cấp thống trị đối với người nông dân, vì vẫn còn dó Chí Phèo
con khi Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng ở cuối tác phẩm.nhưng nếu như thế
thì tác phẩm rơi vào bế tắc như bao tác phẩm cùng thời khác ma thôi
- Đôi lứa xứng đôi: khi in thành sách lần đầu năm 1941, nhà
xuất bản Đời mới (Hà Nội) tự ý đổi tên thành "Đôi lứa xứng đôi". Tên gọi
này được đặt ra sẽ hướng người dọc tới mối tình giữa Thi Nở và Chí Phèo
, nhằm giúp người đọc có thể thấy ra sự tàn ác của làng Vũ Đại và Bá
Kiến đối với Chí Phèo và sự gặp gỡ của Chí Phèo với Thị Nở. Tên này phù
hợp với sở thích người đọc thời đó, nhưng nếu như vậy thì tất cả những
giá trị khác của tác phẩm sẽ bị lu mờ bởi cuộc tình éo le giữa Thị và
Chí
- Chí Phèo: Sau 2 tên gọi trên, nhà văn Nam Cao đã quyết định
đổi tên truyện thành "Chí Phèo", tên gọi nhân vật chính của câu chuyện.
Với nhan đề này thì mọi giá trị của tác phẩm đều hiện hữu một cách sâu
sắc bởi tựa đề đã đề cập tới một số phận cụ thể, số phận ấy mang cả giá
trị hiện thực lẫn giá trị nhân dạo.
Câu 2: Người lái đò Sông Đà là tác phẩm trích
trong tùy bút Sông Đà được viết nhân chuyến thực tế Tây Bắc năm 1958.
Tác phẩm để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc không chỉ là hình
tượng con Sông Đà “hung bạo, trữ tình” mà còn là bởi hình tượng người
lái đò hiên ngang trên thác dữ - một tay lái ra hoa.
Thế giới nhân vật trên trang văn của Nguyễn Tuân thật đáng yêu vô cùng.
Một cụ Kép, lông mày bạc, tóc bạc, râu bạc, thấp thoáng giữa vườn lan
"nguyện đem cái quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự hoa thơm
cỏ quý" (Hương Cuội). Một cụ Ấm thức dậy lúc mờ sáng, mang phong thái
"một triết nhân ngồi tính bước đi của thời gian". Trong ấm trà pha ngon,
cụ đã "nhận thấy có một mùi thơ và một vị triết lí" (Chén trà sương).
Một Huấn Cao tử tù chân vướng xiềng, cổ mang gông, vung bút viết lên tấm
lụa bạch những chữ như rồng bay phượng múa, thể hiện "những cái hoài
bão tung hoành của một đời con người" (Chữ người tử tù)... Và hình ảnh
ông lái đò người Thái (Tây Bắc) có "tay lái ra hoa". Đó là những con
người cực kì tài hoa mang cốt cách nghệ sĩ.
Trên thác đá đầy đủ tướng dữ quân tợn, những hút nước chết người, những
yết hầu chật hẹp, lạnh lẽo và “sóng xô đá, đá xô gió” bỗng hiên ngang
một người lái đò hùng dũng, oai phong như khắc như chạm. Bước vào cái
tuổi 70, đầu tóc bạc trắng, thân hình ông lái đò vẫn đẹp như một pho
tượng tạc bằng đá cẩm thạch. Nước da ánh lên chất sừng chất mun. Cánh
tay rắn chắc trẻ tráng “Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào
cũng khuỳnh khuỳnh như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng”. Cặp mắt tinh
anh, nhãn lực nhìn xa vời vợi. Trên ngực của ông nổi lên một số "củ nâu"
thương tích trên "chiến trường Sông Đà" mà Nguyễn Tuân ngưỡng mộ gọi là
"thứ Huân chương lao động siêu hạng". Ông lái đò sông Đà này có "tay
lái ra hoa" đã từng vượt qua bao trùng vây thạch trận, giao phong sinh
tử với "lũ đá nơi ải nước". Sau hơn mười năm chèo đò và chỉ huy một con
thuyền có 6 mái chèo đã ngược xuôi sông Đà trăm chuyến, chở da trâu,
xương hổ, chè, cánh kiến về xuôi, ông nắm vững từng con thác, cái ghềnh,
nắm chắc binh pháp thần Sông, thần Đá.
Không chỉ mang vẻ đẹp ngoại hình gắn với lao động sông nước, ở ông còn in đậm vẻ đẹp tâm hồn tính cách:
Thứ nhất, thể hiện ở sự từng trải, giàu kinh nghiệm, có sự hiểu biết sâu sắc về luồng lạch trên sông Đà.
Ông lái đò thể hiện sự hình thành “tính cách” của mình qua “trí nhớ ông
được rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào
lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở . Sông
Đà, đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã
thuộc đến cả những cái chấm than chấm câu và những đọan xuống dòng ”.”
Chính vì vậy “ông lái đã nắm chắc được binh pháp của thần sông, thần đá.
Ông đã thuộc qui luật phục kích của lũ đá”. Đó chính là hình ảnh của
một con người gắn bó với lao động, yêu nghề sông nước, từng trải và giàu
kinh nghiệm.
Thứ hai, ở sự thông minh linh hoạt, dũng cảm như một viên tướng tài ba, như một nghệ sĩ trong nghệ thuật vượt thác sông Đà.
Cuộc sống của người lái đò sông Đà là một cuộc chiến đấu hằng ngày. Và
ngày nào cũng phải giành những cái sống từ tay nhưng con thác. Vẻ đẹp
này được ngòi bút NT thể hiện qua hình ảnh ông lái đò vượt thác: Vẻ đẹp
tài hoa nghệ sĩ của ông lái đò là sự tài ba dũng mãnh của một vị thuyền
trưởng dày dạn kinh nghiệm thủy chiến. Chất tài hoa nghệ sĩ của ông lái
đò là ở bản lĩnh chiến đấu và tinh thần dũng cảm phi thường. Cảnh vượt
thác của ông lái đò đã thể hiện rõ vẻ đẹp và cốt cách ấy. Ở trùng vây
thứ nhất, ông lái đò xung trận với khí thế nghênh chiến quyết thắng:
"Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới". Cảnh hỗn chiến ác
liệt diễn ra. Những hòn đá "bệ vệ oai phong lẫm liệt" được nước thác
"reo hò làm thanh viện" chúng liều mạng xông vào mà "đá trái” mà “ thúc
gối vào bụng và hông thuyền… Có lúc chúng đội cả thuyền lên". Nguy hiểm
là vậy nhưng ông lái đò vẫn bình tĩnh “hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất
lên khỏi sóng”. Ngay cả lúc bị con thủy quái này đánh miếng đòn hiểm
nhất “bóp chặt lấy hạ bộ” đau điếng nhưng vị thuyền trưởng vẫn “ hai
chân vẫn kẹp lấy cuống lái” dù mặt méo bệch vì đau đớn nhưng tiếng chỉ
huy của ông vẫn sắc lạnh, tỉnh táo, đưa con thuyền thoát khỏi nguy hiểm.
Thật là một cảnh tượng xưa nay chưa từng có! Cao cường biết bao !
Trùng vây thứ hai lại vô cùng hiểm trở, bố trí nhiều cửa tử hơn: "Dòng
thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá". Ông lái đò bắt đầu
cuộc tấn công bằng cách "nắm chặt được cái bờm sóng đúng luồng rồi" ông
cho con thuyền "phóng nhanh vào cửa sinh mà lái miết một đường chéo về
phía cửa đá ấy". Bọn tướng đá, đứa thì "ông tránh mà rảo bơi chèo lên",
đứa thì bị "ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến". Cuối cùng
ông thắng còn bọn đá tướng thất bại thảm hại đưa cái mặt "tiu nghỉu,
xanh lè thất vọng".
Trùng vây thứ ba, bên phải bên trái đều là "luồng chết cả". Đã vậy, còn
bố trí "bọn đá hậu vệ" canh cửa hòng "bắt chết" cái thuyền. Ông lái đò
mưu trí "phóng thẳng con thuyền", "chọc thủng" trùng vây rồi "vút qua
cổng đá cánh mở cánh khép". Chiếc thuyền như một mũi tên tre "vút, vút"
xuyên nhanh qua hơi nước. Thế là hết thác. Sông nước lại thanh bình.
Qua đó, ta thấy ông lái đò oai phong lẫm liệt như một vị danh tướng,
trí dũng song toàn, quyết đoán và quyết thắng. Đó là vẻ đẹp tài hoa nghệ
sĩ của ông lái đò được Nguyễn Tuân khám phá và ca ngợi.
Những ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được tác giả sử dụng sáng tạo gợi lên
cảm giác mãnh liệt đầy ấn tượng. Cảnh vượt thác là bài ca chiến trận hào
hùng. Nguyễn Tuân đã tung ra một đội quân ngôn ngữ thật hùng hậu, đa
dạng, biến ảo thần kì với liên tục những phép tu từ vô cùng sinh động :
so sánh ngầm , nhân hóa , cường điệu … Câu chữ tuôn chảy ào ạt , điệp
điệp trùng trùng tạo ra một bức tranh hòanh tráng . Nhà văn đã dụng tâm
diễn tả cuộc chiến giữa ông lái đò với dòng sông theo hướng thọat đầu
tưởng như không cân sức. Nhưng cuối cùng phần thắng đã thuộc về con
người nhờ sự thông minh và dũng cảm. Cuộc vượt thác thật ngoạn mục, ông
lái đò thực sự là một người nghệ sĩ tài hoa.
Thứ ba, ở sự khiêm nhường, bình dị, phong thái ung dung mang cốt cách nghệ sĩ.
Đối với người lái đò, hiểm nguy trên dòng sông cũng chính là một phần
trong cuộc sống của ông . Khi vượt qua gian nguy , sóng nước lại tan xèo
xèo trong trí nhớ “sông nước lại thanh bình . Đêm ấy nhà đò đốt lửa
trong hang đá , nướng ống cơm lam , và tòan bàn tán về cá anh vũ , cá
dầm xanh … Cũng chẳng thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng
vừa qua ” . Nhà văn như muốn nghỉ ngơi sau chặng đường dài cùng nhân vật
của mình đua tranh tài trí với thiên nhiên hung dữ . Song qua giọng văn
nhẹ nhàng , ta lại thấm thía thêm một vẻ đẹp của người lái đò . Đó là
sự khiêm nhường, bình dị, ung dung bởi vì “ngày nào cũng giành lấy cái
sống từ tay những cái thác , nên nó cũng không có gì là hồi hộp đáng nhớ
… ”. Cái phi thường đã trở thành bình thường. Phẩm chất chiến sĩ đã hòa
quyện với phong thái tài tử, nghệ sĩ .
Có thể nói Người lái đò sông Đà được miêu tả trong tác phẩm vừa có tư
thế của một người lao động trí dũng, vừa có phong thái của một nghệ sĩ
tài hoa. Hình tượng người lái đò thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo
của Nguyễn Tuân ở giai đoạn sau Cách mạng Tháng Tám: người lái đò dù là
người lao động bình dị vẫn hiện lên với chất tài hoa, nghệ sĩ; để miêu
tả vẻ đẹp của hình tượng, nhà văn sử dụng kiến thức của nhiều ngành khoa
học khác nhau; ngôn ngữ sinh động, giàu hình ảnh...
Qua hình tượng người lái đò, nhà văn tỏ thái độ yêu mến, tự hào và cảm
phục trước những con người lao động bình dị vùng Tây Bắc, những con
người mà nhàvăn gọi là “chất vàng mười” quí giá của Tổ quốc. Qua nhân
vật người lái đò, Nguyễn Tuân cho rằng chủ nghĩa anh hùng đâu phải tìm
kiếm đâu xa. Nó có trong cuộc sống tìm miếng cơm manh áo của nhân dân
lao động. Những người bình dị có trí dũng tài ba họ có thể tạo hình tạc
mẫu cho nghệ thuật
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Nhan đề vợ nhặt
|
|
|
|
Giải thích ý nghĩ nhan đề “ Vợ nhặt”
Nhan đề Vợ nhặt thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm. "Nhặt" đi
với những thứ không ra gì. Thân phận con người bị rẻ rúng như cái rơm,
cái rác, có thể "nhặt" ở bất kì đâu, bất kì lúc nào . Nhưng "vợ" lại là
sự trân trọng. Người vợ có vị trí trung tâm xây dựng tổ ấm. Người ta hỏi
vợ, cưới vợ, còn ở đây Tràng "nhặt" vợ. Đó thực chất là sự khốn cùng
của hoàn cảnh.
Như vậy, nhan đề Vợ nhặt vừa thể hiện thảm cảnh của người dân trong nạn
đói 1945 vừa bộc lộ sự cưu mang, đùm bọc và khát vọng, sức mạnh hướng
tới cuộc sống, tổ ấm, niềm tin của con người trong cảnh khốn cùng.
Ý nghĩa tình huống truyện Vơ nhặt
Tràng là một nhân vật có ngoại hình xấu. Đã thế còn dở người. Lời ăn
tiếng nói của Tràng cũng cộc cằn, thô kệch như chính ngoại hình của anh
ta. Gia cảnh của Tràng cũng rất ái ngại. Nguy cơ "ế vợ" đã rõ. Đã vậy
lại gặp năm đói khủng khiếp, cái chết luôn luôn đeo bám. Trong lúc không
một ai (kể cả Tràng) nghĩ đến chuyện vợ con của anh ta thì đột nhiên
Tràng có vợ. Trong hoàn cảnh đó, Tràng "nhặt" được vợ là nhặt thêm một
miệng ăn cũng đồng thời là nhặt thêm tai họa cho mình, đẩy mình đến gần
hơn với cái chết.
Vì vậy, việc Tràng có vợ là một nghịch cảnh éo le, vui buồn lẫn lộn,
cười ra nước mắt. Dân xóm ngụ cư ngạc nhiên, cùng bàn tán, phán đoán rồi
cùng nghĩ: "biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?",
cùng nín lặng. Bà cụ Tứ, mẹ Tràng lại càng ngạc nhiên hơn. Bà lão chẳng
hiểu gì, rồi "cúi đầu nín lặng" với nỗi lo riêng mà rất chung: "Biết
chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?" . Bản
thân Tràng cũng bất ngờ với chính hạnh phúc của mình: "Nhìn thị ngồi
ngay giữa nhà đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ". Thậm chí sáng hôm sau
Tràng vẫn chưa hết bàng hoàng.
Tình huống truyện mà Kim Lân xây dựng vừa bất ngờ lại vừa hợp lí. Qua
đó, tác phẩm thể hiện rõ giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và giá trị
nghệ thuật.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 30/05/2013
|
|
|
|
|
|