|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
Câu này nữa nhé. hi hi
|
|
|
|
Tại sao nói "không phải lúc nào Bác nói đến thép, lên giọng thép thì thơ mới có chất thép"? (Hoài thanh)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
phú sông bạch đằng của trương hán siêu
|
|
|
|
M ình có bài này cho bạn tham khảo. hi hi
“Khách có kẻ” trong “Bạch Đằng giang phú” là nhân vật trữ tình không ai khác mà chính là Trương Hán Siêu. Trong các bài phú cổ, nhân vật “khách” không mấy xa lạ. “Ngọc tỉnh liên phú” (bài phú Sen giếng ngọc) của Mạc Đĩnh Chi (?-1346) cũng có nhân vật “khách”: … “Khách có kẻ: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng nồng. Ao trong ngắm làn nước biếc, Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”. “Khách” ở đây là Mạc Đĩnh Chi biểu lộ tấmlòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ ở đời.
Ta đã từng biết, Trương Hán Siêu là danh sĩ nổi tiếng đời Trần, tính tình cương trực, tâm hồn phóng khoáng. Chín câu đầu cho thấy “khách” là một tao nhân với rượu túi thơ “chơi vơi” theo cánh buồm, làm bạn với gió trăng qua mọi miền sông biển. Sống hết mình với thiên nhiên, du ngạon thăm thú mọi cảnh đẹp xa gần. Đêm thì “chơi trăng mải miết”, ngày thì: “Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”,...
Khách đã đi nhiều và biết nhiều. Các danh lam thắng cảnh như Nguyên Tương, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,… đều ở trên đất nước Trung Hoa mênh mông, ở đây chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nói lên một cá tính, một tâm hồn: yêu thiên nhiên tha thiết, lấy việc du ngoạn làm niềm lạc thú ở đời, tự hào về thói “giang hồ” của mình:
“Nơi có người đi
Đâu mà chẳng biết”.
Các địa danh xa lạ không chỉ là cảnh đẹp mà còn gợi ra một không gian bao la, chỉ có những người mang hoài bão và “tráng chí bốn phương” mới có thể “giương buồm…lướt bể” đi tới. Đầm Vân Mộng là một thắng cảnh tiêu biểu cho mọi thắng cảnh. Thế mà “Khách” đã “chứa vài trăm trong dạ”, đã thăm thú nhiều lần đã từng thưởng ngoạn bao cảnh đẹp tương tự. Vẫn chưa thoả lòng, vẫn còn “tha thiết” với bốn phương trời.
“Đầm Văn Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều
Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”.
Phần đầu bài phú nói lên cốt cách kẻ sĩ: chan hoà với thiên nhiên, lấy chữ “nhàn” làm trọng, gián tiếp phủ định lợi danh tầm thường. “Qua cửa Đại Than… đến sông Bạch Đằng” Đoạn văn tiếp theo nói lên niềm vui thú của nhà thơ khi đến chơi sông Bạch Đằng. Trương Hán Siêu đã theo cái chí của người xưa “học Tử Trương” đi về phía Đông Bắc “buông chèo” cho thỏa chí “tiêu diêu”. Người xưa nói: “Muốn học cái văn của Tư Mã Tử Trường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường”. Tử Trường là Tư Mã Thiên, tác giả bộ “Sử ký” bất hủ, là nhà văn, nhà sử học tài ba đời Hán. Con người ấy vẫn được xem là nhà du lịch có một không hai thời xưa. Trương Hán Siêu với cánh buồm thơ lần theo sông núi: “Qua cửa Đại than, ngược bến Đông triều,
Đến sông Bạch Đằng, bồng bềnh mái chèo”
“Bát ngát sóng kình muôn dặm”
Bạch Đẳng giang, con sông oai hùng của Tổ Quốc Đại Việt. Sông rộng và dài, cuồn cuộn nhấp nhô sóng biếc.Cuối thu ( ba thu ) nước trời một mầu xanh bao la “Bát ngát sóng kình muôn dặm - Thướt tha đuôi trĩ một màu- Nước trời: một sắc- Phong cảnh ba thu”. Câu văn tả rhực mượn một hình ảnh của Vương Bột trong bài “ Đằng Vương các” “ Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc” ( Sông thu cùng với trời xa một màu ). Tả con sóng Bạch Đằng, vua Trần Minh Tông (1288-1356) viết : “Thuồng luồng nuốt thuỷ triều, cuộn làn sóng bạc… Trông thấy nước dòng sông rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối- Lầm tưởng rằg máu người chết vẫn chưa khô”( Bạch Đằng giang –Dịch nghĩa ) Cảnh núi non, bờ bãi được miêu tả, đã tái hiện cảnh chiến trường rùng rợn một thời:
“ Bờ lau san sát
Bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy
Gò đầy xương khô
Bpờ lau, bến lách gợi tả không khí hoang vu. hiu hắt. Núi gò, bờ bãi trập trùng như gươm giáo, xương cốt lũ giặc phương Bắc chất đống. Nét vẽ hoành tráng ấy, một thế kỷ sau Ức Trai cũng viết: “Ngạc chặt kình băm non lởm chởm – Giáo chìm gươm gãy bãi dăng dăng” ( “Cửa Biển Bạch Đằng”). Trương Hán Siêu miêu tả dòn sông Bạch Đằng bằng những đường nét, máu sắc gợi cảm.Nhũng ẩn dụ và liên tưởng mói về dòng sông lịch sử hùng vĩ được miêu tả qua những cặp câu song quan và tứ tự tuyệt đẹp. Mấy chục năm sau trận đại thắng trên sông Bạch Đằng(1288) nhà thơ đến thăm dòng sông cảm thương xúc động: “ Buồn vì cảnh thảm
Đứng lặng giờ lâu
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”.
Một tâm trạng: “ buồn, thương tiếc”, một cảm xúc “ đứng lặng giờ lâu” của “khách” đều biểu lộ sự xúc động, lòng tiếc thương và biết ơn sâu sắc, vô hạn đối với anh hùng liệt sĩ đã đem xương máu bảo vệ dòng sông vá sự tồn vong của dân tộc. Đó là tình nghĩa thuỷ chung “uống nước nhớ nguồn” “Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”
Các bô lão – nhân vật thứ hai xuất hiện trong bài phú. Từ miêu tả và trữ tình, nhà thơ chuyển sang tự sự, ngôn ngữ sống đọng biến hoá hẳn lên, Cảm hứng lịch sử mang âm điệu anh hùng ca dâng lên dào dạt như những lớp sóng trên sông Bạch Đằng vỗ. Khách và bô lão ngắm dòng sông, nhìn con sóng nhấp nhô như sống lại những năm tháng hào hùng oanh liệt của tổ tiên: “ Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô mã,
Cũng là bãi đát xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao”.
Kết luận (Tự viết nhé)
|
|
|
|
giải đáp
|
giải gọn giúp mình với,mai mình nộp bài rùi
|
|
|
|
E có vài ý thế này, chẳng bít đủ chưa. hihi Trong tác phẩm "Những đưa con trong gia đình" nhân vật Việt khong chỉ được miêu tả là một chiến sĩ dũng cảm mà còn là một chàng trai mới lớn, vô tư, hồn nhiên và rất gắn bó với gia đình. Một trong những đoạn văn bộc lộ được nhiều nhất những phẩm chất tâm hồn của nhân vật này là đoạn miêu tả tâm trạng Việt trong đêm trước khí ra chiến trường.
Đêm hôm ấy cả hai chị em đều vui mừng vì được ghi tên lên đường tòng quân. Chị Chiến vốn là người con gái đảm đang, ba mẹ mất sớm nên đã tự biết vun vén mọi việc trong gia đình vì vậy ngoài tâm trạn vui mừng thì chị còn biết lo toan thu xếp mọi việc. Còn với Việt, cậu vẫn chỉ là một chàng trai mới lớn vì vậy, đêm hôm đó ngoài việc vui mừng vì đã đạt được nguyện vọng thiêng liêng thì cậu không còn nghĩ ngợi gì nhiều đến những việc còn lại trong nhà. Khi chị Chiến doạ “thù cha chưa trả mà bỏ về thì chú chặt đầu” thì “Việt lăn kềnh ra ván cười khì khì”. Khi chị Chiến trao đổi bàn tính sắp xếp chuyện nhà thì Việt vẫn vô tư “chụp một con đom đóm úp vào trong lòng tay”. Hay khi chị Chiến trao đổi việc nhà thì Việt vừa khen thầm chị Chiến “chị nói nghe thniệt gọn” vừa “ngủ quên lúc nào không biết”. Tuy nhiên ở đoạn văn này diễn biến tâm trạng Việt còn có những nét tinh tế không dễ nhận ra đó là chi tiết "Việt khẽ ngóc đầu lên nhìn bàn thờ", và niềm tin của Việt là "má đã về ngồi đâu đó thật". Điều này cho thấy ngoài niềm vui, niềm phấn khởi vì sắp được đi bộ đội, tham gia chiến đấu, trả thù cho gia đình và quê hương thì Việt đã biết nghĩ đến những người đã khuất. Việc cậu ta ngước nhìn bàn thờ và nghĩ rằng má đã về dường như muốn nói rằng Việt đã ý thức được trách nhiệm của mình khi ra chiến trường. Việt đăng kí tòng quân không phải chỉ là sở thích nhất thời của một đứa trẻ mới lớn mà xuất phát từ tình yêu thương, trách nhiệm đối với ba má, với gia đình và quê hương, đất nước. Không những thế diễn biến tâm trạng Việt trong đêm hôm ấy còn cho thất Việt rất yêu thương chị, cậu ta để ý đến từng cử chỉ, giọng nói của chị, tìm thấy sự liên hệ giữa chị và mẹ. Biết ló lắng, biết thương, biết suy nghĩ chứng tỏ Việt đang ngày một trưởng thành hơn trong cuộc chiến đấu gian khổ. Tóm lại có thể thấy diễ biến của Việt trong đêm trước khi đi bộ đội vừa cho thấy cậu là một chàng trai hồn nhiên, vô tư nhưng đồng thời cũng là một người giàu tình cảm gắn, bó với gia đình, có quyết tâm và ý chí cao độ khi quyết định ra mặt trận để trả thù cho ba má,bảo vệ quê hương đât nước.
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Giup em câu này với ak?
|
|
|
|
Tớ trả lời ko bit có đúng hay ko. Tham khảo nhé. hehe
1. Yêu cầu kỹ năng:
- Biết cách làm nghị luận văn học. Để cảm nhận tác phẩm về nội dung và nghệ thuật .
- Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp, dùng từ.
2. Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở hiểu biết, thí sinh trình bày theo nhiều cách nhưng cần nêu các ý chính sau:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật.
+ Nguyễn Trung Thành là nhà văn gắn bó với Tây Nguyên trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ.
+ Tác phẩm “Rừng xà nu”.
a. Hoàn cảnh sáng tác:
Viết năm 1965, khi đế quốc Mĩ ồ ạt đổ quân vào miền Nam. Truyện đăng
lần đầu trên tạp chí văn nghệ Quân Giải Phóng Trung Trung Bộ, sau đưa
vào tập truyện “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”
b. Nhân vật Tnú là nhân vật chính, mang đậm tính sử thi.
- Khai thác đặc điểm nhân vật
c. Về nội dung, ý nghĩa
+ Là đứa trẻ mồ côi được làng Xôman nuôi dưỡng, nhận vai trò làm chú bé liên lạc mang ánh sáng của Đảng về với buôn làng.
+ Trưởng thành, anh trở thành cán bộ Đảng, đấu tranh theo Đảng, làm kẻ thù khiếp sợ.
+ Kẻ thù dùng thủ đoạn thâm độc đánh vào gia đình anh.
-
Trước cảnh vợ con bị tra tấn (phân tích một đoạn văn miêu tả tình huống
bi kịch của người chiến sĩ xoay quanh các vấn đề : gia đình – đất
nước).
- Cách giải quyết : anh xông ra cứu vợ con bằng tay không,
giặc bắt và đốt hai bàn tay của anh (phân tích hình ảnh bàn tay Tnú và
tâm trạng của anh lúc đó).
- Cụ Mết cùng thanh niên vào rừng lấy
vũ khí, trở lại tiến hành nổi dậy và chiến thắng (phân tích lời nói cụ
Mết và hành động của cụ).
d. Về nghệ thuật:
+ Nhân vật đậm chất sử thi.
+ Nghệ thuật tạo tình huống bi kịch giữa riêng – chung .
+ Chi tiết “đắt” (như đôi mắt, bàn tay Tnú …)
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
Ai ơi giúp tớ với...??
|
|
|
|
Ý nghĩa của hình ảnh lá cờ xuất hiện trong đầu Tràng ở cuối tác phẩm Vợ nhặt là gì?
|
|