|
|
giải đáp
|
Bài 1452
|
|
|
|
A - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN 1. Xuất sứ: Đoạn trích nằm trong tác phẩm Vũ trung tùy bút (Tùy bút viết trong những ngày mưa), được viết khoảng đầu đời Nguyễn (đầu thế kỉ XIX), là tác phẩm văn xuôi ghi lại một cách sinh động, hấp dẫn hiện thực đen tối của lịch sử nước ta thời đó, vừa có giá trị văn chương đặc sắc, vừa là những tài liệu quý về sử học, địa lí, xã hội học. 2. Đặc điểm nội dung, nghệ thuật - Đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh miêu tả cuộc sống xa hoa của vua chúa, sự nhũng nhiều của quan lại thời Lê - Trịnh và bộc lộ thái độ phê phán của tác giả - Tác phẩm viết theo thể loại tùy bút, ghi chép về người và việc thực một cách chân thực, cụ thể sinh động, qua đó tác giả bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ, nhận thức, đánh giá của mình về con người và cuộc đời. Sự ghi chép tùy theo cảm hứng chủ quan, có thể tản mạn, không cần gò bó theo hệ thống, kết cấu gì, nhưng vẫn theo một tư tưởng, cảm xúc chủ đạo, vì thế rất giàu chất trữ tình. B - ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN BẢN 1. Thói ăn chơi xa xỉ của Chúa Trịnh và các quan lại hầu cận trong phủ chúa - Lối ghi chép chân thực, tỉ mỉ của tác giả đã cho thấy rõ thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh. Chúa cho xây nhiều cung điện, đình đài ở các nơi để thỏa ý "thích chơi đèn đuốc", ngắm cảnh đẹp; "Việc xây dựng đình đài cứ liên miên", hao tốn tiền của. Chúa thường xuyên tổ chức các cuộc dạo chơi ở Tây Hồ ("tháng ba bốn lần"), huy động nhiều người hầu hạ, các nội thần, các quan hộ giá, nhạc công . . ., bày ra nhiều trò giải trí lố lăng và tốn kém (các nội thần hóa trang giả đàn bà bày hàng bán quanh hồ, thuyền nhự dạo trên hồ, chốc chốc ghé vào bờ mua bán, dàn nhạc bố trí khắp quanh hồ để làm vui, . . .). Việc tìm thu vật "phụng thủ" thực chất là cướp đạot những của quí trong thiên hạ (chim quí, thú lạ, câu cổ thụ, đá kì lạ, chậu hoa, cây cảnh) về tô điểm cho nơi chúa ở. tác giả tập trung miêu tả kĩ việc đưa một cây đa cổ thụ về từ bên kia sông, phải một cơ binh hàng trăm người mới khiêng nổi đã cho thấy sự kì công của nhà chúa trong lĩnh vực này. - Các chi tiết, sự việc được ghi lại cụ thể, chân thực, khách quan, không xen lời bình của tác giả, có liệt kê và miêu tả tỉ mỉ một số sự kiện để khắc họa ấn tượng. Sự việc được miêu tả khách quan nhưng cũng gửi gắm kín đáo thái dộ của tác giả. Cảm xúc của tác giả bộc lộ rõ hơn trong đoạn văn miêu tả cảnh trong phủ chúa Trịnh. Những khu vườn rộng " dầy trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch", lại được bày vẽ, tô điểm như "bến bể đầu non", những âm thanh lại gợi cảm giác ghê rợn trước một cái gì đang tan tác, đau thương chứ không phải trước một cảnh đẹp. Cảnh lah nơi phủ chúa được tác giả xem là "triệu bất tường", tức là điềm gở, điềm chẳng lành, như báo trước sự suy vong tất yếu của một chiều đại chỉ lo cho việc ăn chơi xa xỉ, khoogn màng tới chuyện quốc gia đại sự. 2. Thói nhũng nhiễu của bọn quan lại - Thói ăn chơi xa xỉ của chúa tất dẫn đến thói nhũng nhiễu của bọn quan lại. Thời chúa Trịnh Sâm, bọn hoạn quan hầu cận trong phủ chúa rất được sủng ái, bởi chúng đắc lực giúp chúa trong các trò ăn chơi hưởng lạc. Vì thế, chúng ỷ thế hoành hành, tác oai tác quái trong nhân dân. Chúng tìm thu vật "phujgn thủ" mà thực chất là vừa ăn cướp vừa la làng, người dân bị cướp của tới hai lần, hoặc là phải tự hủy bỏ của quý của mình. Bọn hoạn quan vừa vơ vét đầy túi tham, vừa được tiếng mẫn cán trong việc nhà chúa. - Khép lại phần này, tác giả kể lại sự việc sảy ra ngay trong nhà mình. Bà mẹ của đã phải sai chặt đi một cây lê và hai cây lựu quý, rất đẹp trong vườn để tránh tai họa. Cách kể đó đã làm tăn sự thuyết phục, khiến người đọc tin vào sự chân thực của câu chuyện và kín dáo gửi gắm thái độ bất bình, phê phán của tác giả. C - TÁC PHẨM- TỪ NHIỀU GÓC NHÌN "Vũ trung tùy bút là tập sách ghi chép có giá trị văn học đặc sắc. Dẫu rằng trong cách nhìn nhận, suy nghĩ, chiêm nghiệm của tác giả ở một đôi chỗ còn có phần thiên lệch và bảo thủ, song nhìn chung tác phẩm đã ghi lại được hình ảnh chân thực của một đạon đường lịch sử với đặc điểm phổ biến của xã hội phong kiến Việ Nam ở giai đoạn khủng hoảng và tan vỡ. Cùng với Hoàng Lê nhất thống chí và Thương kinh kí sự. Vũ trung tùy bút là thiên kí tiêu biểu xuất sắc của mảng văn xuôi giàu tính hiện thực của văn học Việt Nam thế kỉ XIII, Hơn nữa, đây còn là một tài liệu có giá trị về mặt sử học và xã hội học.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1451
|
|
|
|
A. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN 1. Xuất sứ: Chuyện Người con gái Nam Xương thuộc tác phẩm Truyền kì mạn lục, được viết ở thế kỉ XVI. Đây là tập truyện viết bằng chữ Hán, khai thác các truyện cổ dân gian và các truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam. Tập truyện này được coi là "thiên cổ kì bút" (bút lạ nghìn đời), "là áng văn hay của bậc đại gia". Chuyện Người con gái Nam Xương có nguồn gốc từ truyện kể dân gian : Vợ chàng Trương, là thiên thứ 16 trong 20 truyện của Truyền kì mạn lục. 2. Tóm tắt Vũ Thị Thiết (còn gọi là Vũ Nương) quê ở Nam Xương, là người con gái thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp. Chồng nàng là Trương Sinh, con nhà khá giả nhưng không có ọc và có tính đa nghi, hay ghen. Cuộc sống gia đình đang êm ấm thì chàng Trương Sinh phải đầu quân đi đánh giặc. Ít ngày sau, Vũ Nương sinh con trai, đặt tên là Đản. Bà mẹ Trương Sinh vì nhớ con mà sinh bệnh, nàng hết lòng chăm sóc nhưng được ít lâu là bà mất. Năm sau, Trương Sinh trở về, bé Đản không chịu gọi chàng là cha mà một mực nói cha Đản thường buổi tối mới đến. Trương Sinh nghi ngờ vợ, Vũ Nương không minh oan được, bèn gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn . Một đêm, thấy bóng cha trên tường, bé Đản gọi đó là cha, lúc bấy giờ Trương Sinh mới tỉnh ngộ nhưng đã quá muộn. Cùng làng với Trương Sinh có người họ Phan, có lần cứu được thanh rùa Ling Phi, vợ vua Nam hải, sau bị nạ đắm tuyền được Linh Phi cws được mạng, rồi được khoản đãi. Trong bữa tiệc, Phan Lang nhận ra Vũ Nương nay đã là người thủy cung. Nghe Phan Lang kể chuyện nhà, Vũ Nương thương nhớ chồng con muốn về dương thế. Nàng nhờ Phan Lang nói với Trương Sinh lập đàn giải oan, nàng sẽ trở về. Nhưng cuối cùng, Vũ Nương chỉ hiện lên giữa dòng sông, nói vài câu với chồng rồi biến mất. 3. Bố cục Đạon 1 (từ đầu đến "Lo liêu như với cha mẹ đẻ mình"): CUộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự xa cách vì chiến tranh và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa cách. Đoạn 2: (tiếp đến "Nhưng việc đã qua rồi"): Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương Đoạn 3 (còn lại): Cuộc gặp gỡ giữa Phan Lang và Vũ Nương trong động Linh Phi, Vũ Nương được giải oan. 4. Đặc điểm nội dung và nghệ thuật - Thông qua câu truyện về cuộc đời oan khuất của một thiếu phụ đức hạnh "đẹp người, đẹp nết", Nguyễn Dữ đã làm nổi rõ một nghịch lý: người đàn bà hoàn hảo như thế đáng lẽ phải được hạnh phúc, nhưng trái lại, con người đó đã bị oan khuất phũ phàng đến nỗi tìm đến cái chết để giãi tỏ. Câu chuyện vừa có ý nghĩa ca tụng vừa có ý nghĩa ca ngợi vẻ đjep của lòng vị tha, của đức hạnh, vừa thể hiện số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến cũ, từ đó mà thể hiện ước mơ muôn thủa của con người: người tốt bao giờ cũng được đền trả xứng đáng, dù chỉ là ở một thế giới huyền bí. - Tác phẩm là một áng văn hay, tiêu biểu cho thể loại truyện truyền kì, thành công về nghệ thuật dựng truyện, khắc hạo nhân vật, kết hợp với tự sự trữ tình. B. ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN BẢN 1. Cuộc đời Vũ Nương nơi trần thế a) Phẩm chất, đức hạnh - Vũ nương là người phụ nữ bình dân, người phụ nữ của gai đình. Mở đầu câu truyện, nàng được giới thiệu: đó là người "tính đã thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp". Sau đó, tác giả tập trung bút lực khắc họa vẻ đẹp đức hạnh của Vũ Nương trong các mối quan hệ với chồng, mẹ chồng và với bé Đản - đứa con yêu quí của nàng. Để làm nổi bật vẻ đẹp anfy, nhà văn đã đặt nhân vật của mình vào các hoàn cảnh, tình huống cụ thể: + Khi mới lấy chồng, trong cuộc sống vợ chồng bình thường, Vũ Nương cư sử đúng mực, ngường nhịn, "giữ gìn khuôn phép", nên dù chồng nàng có tính đa nghi, đối với vợ thường phòng ngừa quá mức, nhưng gia đình vẫn chưa từng phải đến thất hòa. + Buổi tiễn đưa chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy dặn dò chồng những lời tình nghĩa, đằm thắm thiết tha: nàng không trong mong vinh hiển, chỉ cầu mong chon chồng được bình an trở về; cảm thông với những nỗi vất vả gian lao mà chồng sẽ phải chịu đựng nơi trận mạc; nói lên nỗi khắc khoải nhớ nhung của mình. Những lời nói ân tình của nàng đã làm cho mọi người đều thấy xúc động. + Khi Trương Sinh đi chiến trận, xa chồng, Vũ Nương càng tỏ ra là một người vợ chung thủy, yêu thương chồng nhất mực. Mỗi khi thâý "bướm lượn đầy vườn - cảnh vui mùa xân hay "mây che kín núi" - cảnh buồn mùa đông, nàng lại chạnh lòng nỗi buồn thương, nhớ nhung da diết, lại "thổn thức tâm tình". Tiết hạnh ấy của Vũ Nương còn được khẳng định trong câu nói sau này của nàng với chồng: " . . . cách biệt ba năm giữ gìn một chữ tiết. Tô son điểm phấn đã từng nguôi lòng, ngõ liễu tường hao chưa từng bén gót . . .". Vũ Nương là người mẹ hiền dâu thảo. Trong lúc chồng đi vắng, nàng đã sinh con, một mình nuôi con nhỏ, vừa chăm lo săn sóc mẹ chồng khi già yếu ốm đau: hết sức thuốc thang, lễ bái thần phật, lấy lời ngọt ngào khuyên lơn. Lời trăn trối của bà mẹ chồng đã ghi nhận nhân cách và đánh giá công lao của Vũ Nương đối với gia đình nhà chồng, đó là sự đánh giá xác đáng và khách quan. Khi mẹ chồng mất, "nàng đã hết lời thương xót, phàm việc ma chay tễ lễ, lo liệu như cha mẹ đẻ mình". + Khi Trương Sinh trở về, bị chồng nghi oan, Vũ Nương cố phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng của mình. Nàng nói lên thân phận mình, nói lên tình nghĩa vợ chồng, và khẳng định tấm lòng thủy chung, trong trắng cầu xin chồng đừng nghi oan, nghĩa là nàng đã tìm hết cách cứu vãn, hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ. Trước sự vô tình, nhẫn tâm của chồng, nàng chỉ biết nói lên nỗi đau đớn, thất vọng khi không hiểu vì sao bị đối sử bất công, không có quyền tự bảo vệ ngay cả khi có "họ hàng, làng xóm bênh vực và biện bạch cho". Hạnh phúc gia đình ("thú vui nghi gia nghi thất") đã tan vỡ, tình yêu không còn ("bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa xẽ tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió . ."), cả nỗi đau khổ chờ chồng đến thanh hóa đá trước đây cũng không còn có thêt có được nữa ("đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa"). Cuối cùng, thất vọng đến tột cùng, cuộc hôn nhân đã không còn cashc nào hàn gắn nổi, mọi công sức, tâm sức xây đắp gia đình đều vô nghĩa, Vũ Nương đành mượn dòng nước Hoàng Giang để giãi tỏ tấm lòng trong trắng của kình. Nàng "tắm gội chay sạch" rồi ra bến Hoàng Giang, nói lời nguyện cầu trước trời cao soogn thẳm. Lời than của nàng như một lời nguyện, xin thầm sống chứng giám nỗi oan khuất và tiết giá trong sạch của nàng. Tìm đến cái chết là tìm đến cái tiêu cực nhất nhưng dường như đó là cách giải quyết duy nhất của Vũ Nương. Nàng đã mất tất cả, bị dồn đến đường cùng, nên đành tìm đến cái chết sau mọi cố gắng không thành. Hành động trẫm mình tự vẫn của nàng là hành đọng quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh dự, có nỗi tuyệt vọng đắng cay nhưng cũng có sự chỉ đạo của lí trí, không phải là hành động bột phát trong cơn nóng giận như truyện cổ tích miêu tả (Vũ Nương chạy một mạch ra bến Hoàng Giang đâm đầu xuống nước). Đối với người phụ nữ đức hạnh ấy, phẩm giá còn cao hơn cả sự sống. - Tóm lại" Vũ Nương là người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục, đảm đang, hiếu thuận, thủy chung, hét lòng vun đắp hạnh phúc gia đình. Đó là người phụ nữ lí tưởng của gia đình. Một con người như thế đáng nhẽ ra phải được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, vậy mà phải chết một cái chết oan uổng, đau đớn. b) Nỗi oan của Vũ Nương - Vũ Nương đã phải chịu nỗi kì oan. Rất mực chung thủy, đức hạnh vậy àm đã bị chồng nghi oan, bị đối sử bất công tàn nhẫn, đến mức nàng phải tìm đến cái chết để giải tỏ lòng mình. Nỗi oan và cái chết của Vũ Nương có nguyên nhân trực tiếp là từ cái bóng trên vách và lời nói của bé Đản nhwncg có nguồn gốc sâu sa từ người chồng đa nghi thô bạo. Trương Sinh được giới thiệu từ đầu là một người" có tính đa nghi, đối với vợ thường phòng ngừa quá sức" và là "con nhà hòa phú nhưng không có học". Nhưng cái đó sẽ là mầm mống của bi kịch khi có biến cố sảy ra. Biến cố đó chính là sự việc Trương Sinh đi lính xa nhà. Ngày trở về "mẹ mất, bế con đi thăm mộ mẹ, lòng chàng đã buồn, đứa con lại cứ quấy khóc, không chịu nhận cha, nó còn lấy làm lạ khi chàng nhận làm cha nó": "Ô hay!Thế ra ông cũng là cha tôi ư" và nó cho biết: "Ông lại biết nói" chứ khoogn như cha nó "chỉ nín thin thít". Tích cách của Trương Sinh, lại thêm tâm trạng nặng nề, không vui, tình huống bất ngờ với câu nói của bé Đản khiến cho anh ta không thể không nghi ngờ.. Trương Sinh gạn hỏi, đứa bé càng đưa thêm những thông tin ngày càng gay cấn: Trước đây, thường có một người đàn ông , đêm nào cũng đến (hàng động vụng chộm, lén lút), mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi (họ đã quá quấn quýt nhau, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả (hẳn kẻ gian phu không muốn có sự có mặt của đứa bé). Trẻ hay nói thậy, mà những lời bé Đản nói lại chứa những sự kiện đáng ngờ, vì thế làm bùng lên ngọn lửa ghen tuông trong Trương Sinh, chàng "đinh ninh là vợ hư", mối nghi ngờ ngày càng lớn, không gì gỡ lại được. Tiếp đó là cách cư sử hồ đồ, độc đoán phũ phàng của Trương Sinh. Không có học, , thiếu trí tuệ, ghen tuông mù quáng, Trương Sinh không đủ bình tĩnh, sáng xuốt để phán đoán, phân tích, không thấy có sự vô lí trong lời đứa trẻ (người gì àm chỉ nín thin thít, cha lại không bao giờ bế con). Chàng bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ, khi vợ hỏi chuyện ấy là do ai nói thì lại hẹp hòi giấu kín, nếu Trương Sinh nói ra thì Vũ Nương đã có cơ hội giải thích. Trương Sinh cũng không tin những lời bênh vực của họ hàng, làng xóm cho Vũ Nương. Chàng bỏ lỡ tất cả cơ hội tránh được thảm kịch, và lại chỉ biết la um lên cho hả giận, rồi "mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi". Trương Sinh khoogn nghĩ đến nghĩa phu thê, cũng chả đếm xỉa gì đến công lao của Vũ Nương với gia đình, anh ta thiếu lòng tin và thiếu cả tình thương. Trương Sinh thô bạo, phũ phàng vì bản tính anh ta như vậy và vì cogn anh ta là con đẻ của chế độ nam quyền, trọng nam khinh nữ. Lễ giáo phong kiến hà khắc, không chấp nhận sự lầm lỡ của người phụ nữ, coi người phụ nữ khoogn giữ được tiết hạnh là mắc vào điều ô nhục nhất, điều đó chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa ghen tuông của Trương Sinh. Thái độ tàn tệ, rẻ rúng của Trương Sinh với Vũ Nương có lẽ cũng còn vì cuộc hôn nhân không bình đẳng (Vũ Nương tự nhận mình là con kẻ khó; Trương Sinh là con nhà hào phú, có thể xin mẹ trăm lạng vàng để cưới vợ), biểu hiện quyền thế của kẻ giàu với người nghèo. Tất cả những thái độ đó đã làm cho Trương Sinh trở thành bạo chúa trong gia đình, chính Trương Sinh là kẻ bức tử Vũ Nương mà kẻ bức tử lại hoàn toàn vô can. Chiến tranh phong kiến cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Vũ Nương. Nó gây ra cảnh sinh li rồi góp phần dẫn đến cảnh từ biệt. Nếu không có chuyện Trương Sinh phải đi lính xa nhà thì Vũ Nương đã không phải chịu nỗi oan kia dẫu Trương Sinh có đa nghi, vô học. Như vậy, không phải cái bóng trên vách giết chết Vũ Nương mà chính là cái bóng đen trong tâm hồn Trương Sinh, cái bóng đen của các thế lực hắc ám trong xã hội phong kiến dung túng cho cái độc ác của các thế lực hắc ám trong xã hội ấy đã giết chết Vũ Nương. Bi kịch của Vũ Nương là lời tố cái xã hội phong kiến dung túng cho cái xấu xa, độc ác và thói ghen tuông vô lối, sự vũ phu của đàn ông, đồng thời bày tỏ niềm cảm thông của tác giả đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ trong chế độ gia tộc phụ quyền. 2. Cuộc sống Vũ Nương dưới thủy cung - kết thúc có hậu hay sự trở về dương thế trong thoáng chốc - Phần này hoàn toàn là những tình tiết kì ảo, sự "bịa đặt" đầy sáng tạo của Nguyễn Dữ so với truyện cổ tích, thể hiện tính chất truyền kì của truyện và tạo nên những giá trị thẩm mĩ mới mà truyện cổ tích chưa có. Những yếu tố kì ảo đó là: Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa; Phan Lang chết đuối nhưng được cứu sống, được Linh Phi đãi yến tiệc và găp Vũ Nương, người cùng làng đã chết, rồi được sứ giả của Linh Phi rẽ nước về dương thế; Vũ Nương hiện về khi Trương Sinh lập đàn giải oan, nói lời từ biệt rồi đi vĩnh viễn. Cùng với yếu tố kì ảo là những yếu tố thực về địa danh (bến đò Hoàng Giang, ải Chi Lăng), về thời điểm lịch sử (cuối đời khai địa nhà Hồ), nhân vật lịch sử (Trần Thiên Bình), sự kiện lịch sử (quân Minh xâm lược nước ta), về trang phục của các mĩ nhân, về cảnh nhà Vũ Nương xau khi nàng mất, . .. Tác giả xen những yếu tố thực vào những yếu tố kì ảo khiến nó trở nên gần gũi và tăng độ tin cậy ở người đọc. Những tình tiết kì ảo, đặc biệt chi tiết kết thúc tác phẩm: "Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện", nàng nói vọng vào tạ từ chồng: "Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa", "rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất" là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, góp phần làm tăng giá trị của tác phẩm. Nó đã tạo nên kết thúc phần nào có hậu. Điều đó thể hiện ước mơ của con người về sự bất tử, về sự chiến thắng của cái thiện, cái đjep, thể hiện nỗi khát khao trong cuộc sống công bằng, hạnh phúc cho những con người lương thiện, đặc biệt là người phụ nữ. Mặt khác chi tiết ấy cũng còn có tác dụng hoàn chỉnh thêm nét đjep trong tĩnh cách của Vũ Nương. Sự hiện diện đẹp đẽ của Vũ Nương chứng tỏ nàng vô tội và cả thế giới ấy nàng đã được đối sử xứng đáng với phẩm giá của mình. Con người ấy, dù ở thế giới khác nhưng bản chất tốt đẹp vẫn không thể chết , vẫn nặng tình với quê hương, chồng con, vẫn khát khao được sum họp, được trả lại danh dự. Tuy nhiên, nó không làm giảm đi tính bi kịch của tác phẩm. Vũ Nương hiện về rực rỡ, uy nghi nhưng đó chỉ là hiển linh trong phút chốc, là ảo ảnh giây lát và vẫn xa cách giữa dòng. Nàng và chồng con vẫn chia cách âm dương đôi ngả, hạnh phúc đã vĩnh biệt trôi xuôi. Vũ Nương không trở về, cái lí của nàng đưa ra là vì ân đức của Linh Phi, nhưng chủ yếu là vì xã hội ấy đâu còn đất sống cho nàng, và lại người đã chết làm sao sống lại được. Vũ Nương vẫn phải gửi hình ẩn bóng ở chốn làng mây cung nước dù cho hạnh phúc trần thế mới là nỗi niềm mơ ước của nàng. Nguyễn Dữ đưa người đọc vào giấc mơ rồi lại khiến người ta sực tỉnh, trở về thực tại. Sương khói giải oan tan đi, chỉ còn lại sự thực cay đắng. Nỗi oan của người phụ nữ không đàn tràng nào có hóa giải được. Đàn cầu siêu của tôn giáo, sự ân hận muộn màng của người chồng không cứu được lại hạnh phúc. Kết thúc này có là giảm độ căng về tâm lí cho người đọc nhưng không làm mất đi sắc thái bi kịch của truyện. Giấc mơ cũng là lời cảnh tỉnh. Nó để lại dư vị ngậm ngùi và đem đến bài học thấm thía về việc giữ gìn hạnh phúc. Lời từ biệt của Vũ Nương như một lời tố cáo cái nhân gian phong kiến ngày xưa đầy oan nghiệt, khổ đau, không chốn dung thân cho người phụ nữ, điều đó thể hiện sự tỉnh táo trong cảm quan hiện thực của Nguyễn Dữ và tấm lòng thương cảm sâu sắc của nhà văn với thân phận người phụ nữ trong chế độ gia tộc phụ quyền xưa. Qua câu truyện từ thế kỉ trước, qua màn sương kì ảo, tự nhận vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã phản ánh số phận bi thương của người phụ nữ, ngợi ca phẩm chất đẹp của họ, đồng thời gửi gắm thái độ phê phán của mình đối với xã hội đương thời cũng như những gì phi nhân gây đau khổ cho con người. Tác phẩm là thông điệp nhiều ý nghĩa vẫn còn giá trị đến ngày nay và cả mai sau. 3. Nghệ thuật đặc sắc - Chuyện Người con gái Nam Xương vượt lên tư cách một bản kể của văn học dân gian bởi sự tái tạo đầy tính nghệ thuật của Nguyễn Dữ. Tác giả xây dựng được nhiều tình huống để Vũ Nương bộc lộ trọn vẹn tính cách, phẩm hạnh của nàng, đặc biệt tình huống bất ngờ với những lời nói ngây thơ cảu bé Đản dẫn tới sự hiểu lầm của Trương Sinh. - Tác giả dẫn dắt câu truyện khéo léo, trên cơ sở cốt truyện có sẵn, thêm bớt làm câu truyện thêm sinh động, mang kịch tính và tăng cường tính bi kịch, đặc biệt chi tiết chiếc bóng và lời kể của bé Đản. - Tâm lí, tính cách nhân vật được khắc họa khá rõ nét. - Ngôn ngữ nhân vật có nhiều cách tân, những đối thoại, lời tự bạch của nhân vật (đặc biệt lời nói của bé Đản và lời nói của Vũ Nương). - Yếu tố kì ảo, hoang đường góp phần làm tăng giá trị hiện thực và ý nghĩa nhân văn của tác phẩm, làm nên đặc trưng của thể truyền kì. C - TÁC PHẦM - TỪ NHIỀU GÓC NHÌN 1. "Có thể nói, với "Chuyện Người con gái Nam Xương", Nguyễn Dữ đã vượt khỏi những công thức thông thường về hình tượng người phụ nữ trong thê truyền kì. Vũ Nương không phải là hình tượng một trang liệt nữ, nàng chỉ là một phụ nữ bình thường như bao người vợ, người mẹ khác trong đời thực. Phản ánh số phận bi thương của nàng, Nguyễn Dữ đã đề cập tới cái bi kịch muôn thuở của con người. Có lẽ, chính vì vậy mà Chuyện Người con gái Nam Xương vẫn còn sức hấp dẫn đối với người đọc ngày nay". (Nguyễn Đăng Na, Bình giảng văn học 9, NXB Giáo dục, 1995) 2, "Giữa thế sục bất định, dùng thể loại truyền kì siêu điển tích, Nguyễn Dữ còn dễ dàng thầm kín, gửi gắm vào tác phẩm "giấc chiêm bao" của bản thân (cũng là của dân gian): tích thiện phùng thiện . . (không "phùng nơi trần thế, thì ở cõi siêu phàm): Vũ Nương khổ nhục, bất hạnh cùng cực, nhưng nàng xẽ trở thành thần nữ cưỡi hiệu hoa dưới cờ quạt tán long rực rỡ bay về miền bất tử - "Giấc chiêm bao" nay xuất hiện liên tục trong Truyền kì mạn lục. Tại Lý Nhân (huyện Nam Xương xưa), ngoài xã Vũ Điện còn ba xã nữa lập đền thờ nữ thần Vũ Thị Thiết, giờ đây tất cả vẫn còn "tỏa khói hương" . . "Vũ Nương từ" được dân gian gọi nôm na là "Đền Mẫu". Một số cây bút nghiên cứu văn học dân gian đã muốn xem Đạo thờ Mẫu như tôn giáo riêng của người Việt. Mấy trăm năm trôi qua, dân gian gọi "Vũ Nương từ" là "Đền Mẫu" có nghĩa họ đã tôn vinh hạo khí anh linh Vũ Thị Thiết vào cõi thiêng "Mẹ sinh thành" vĩnh hằng của công đồng dân tộc. Chuyện Người con gái Nam Xương , "làn nước" và "khói sương". "Thác là thể phách, còn là tinh anh" - Làn nước có thể nhấn chìm "thể phách" Vũ Nương xuống tận đáy ghềnh nước âm u: nhưng rồi "khói hương" lại nâng cao "tinh ạm" Nưởng tử lên tót vời ánh dương ngưỡng vọng. Dân gian vạn đại lạc quan và coogn bằng (giờ đây chúng ta cũng đang có định hướng: xã hội công bằng) như đã cất lên bè hợp xướng phối âm cùng giấc mơ của Nguyễn Dữ: Ai ơi! Đừng lấy làm lo Dương xuân rồi cũng soi cho âm hàn! (Đặng Anh Đào - Người con gái Nam Xương và dòng sông kì ảo. Tiếng nói tri âm, NXB Trẻ, 1994)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1450
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Giới thiệu vài nét về tác giả Thạch Lam và truyện ngắn "Hai đứa trẻ"1. Thạch Lam (1910 - 1942) là một tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, rất nổi tiếng với những truyện ngắn vừa mang đậm phong vị trữ tình vừa thể hiện cảm quan hiện thực sâu sắc. 2. "Hai đứa trẻ" (In trong tập "Nắng trong vườn" - 1938) là truyện ngắn thuộc loại tiêu biểu của Thạch Lam, đã miêu tả một cách đầy thi vị bức tranh thiên nhiên và đầy ám ảnh về bức tranh đời sống phố huyện nghèo lúc chiều tối, cũng như tâm trạng, nhất là tâm trạng đợi tàu của hai đứa trẻ. II. Hình ảnh thiên nhiên ở phố huyện lúc chiều tối1. Thiên nhiên với các biểu hiện cụ thể: a. Hình ảnh và màu sắc: Hoàng hôn đỏ rực, dãy tre làng sẫm đen, ngàn sao lấp lánh, đom đóm bay nhấp nháy, bóng tối thăm thảm, dày đặc. b. Hình ảnh âm thanh: "Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vắng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve", tiếng hoa bàng rụng khẽ từng loạt. c. Hình ảnh mùi vị: "Một mùi ẩm mốc bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thân quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này. d. Đặc điểm chung: Một bức tranh thiên nhiên giàu chất thơ êm ả, đượm buồn, thấm đẫm cảm xúc trìu mến, nâng niu nhà văn luôn luôn nặng tình với những gì là biểu hiện linh hồn nông thôn Việt Nam, hồn xưa dân tộc. "Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát". 2. Vai trò của thiên nhiên Hình ảnh thiên nhiên ở đây đã gợi đúng đặc trưng của không gian phố huyện và làm nền cho hoạt động của con người; gián tiếp thể hiện tâm trạng nhân vật, tạo chất trữ tình riêng biệt cho truyện. 3. Nghệ thuật mô tả của tác giả. Thạch Lam đã đặt thiên nhiên dưới con mắt quan sát của Liên - một đứa trẻ; câu văn có nhịp điệu như thơ; hình ảnh bóng tối được láy đi láy lại như một mô tuýp đầy ám ảnh; âm thanh, màu sắc, mùi vị khéo hòa hợp với nhau. III. Hình ảnh con người ở phố huyện nghèo lúc chiều tối1. Những hình ảnh về bức tranh đời sống a. Cảnh chiều tàn: đã gợi nỗi buồn cho con người b. Cảnh chợ tàn: Không có gì vui hơn cảnh chợ đông, không có gì buồn bằng cảnh chợ tàn. Hiện lên trên cái nền chợ tàn là hình ảnh những đứa trẻ bới rác "Nhặt nhạnh những thanh tre, thanh nứa hay bất kì cái gì có thể dùng được của những người bán hàng để lại gợi lên sự nghèo nàn của phố huyện". c. Hình ảnh những kiếp người tàn tạ: hàng nước ế ẩm của chị Tí, gia đình bác Xẩm đầy buồn thương, ánh lửa leo lét của gánh phở bác Siêu, đặc biệt là hình ảnh bà cụ Thi nghiện rượu, hiện thân của một kiếp người tàn . . . những hình ảnh này lặp đi lặp lại hàng đêm thể hiện sự quẩn quanh, bế tắc của những kiếp sống nơi phố huyện. d. Cuộc sống buồn tẻ, quẩn quanh ngưng trệ của chị em Liên "Cái cửa hàng của chị em Liên . . . là một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu . . . ngày phiên mà bán hàng cũng chẳng ăn thua gì". 2. Nhận xét về bức tranh miêu tả bức tranh đời sống a. Bức tranh đời sống nơi phố huyện được miêu tả theo trình tự thời gian từ chiều muộn đến khuya qua sự cảm nhận của nhân vật Liên. b. Những chi tiết, hình ảnh rất đỗi quen thuộc, bình dị trong cuộc sống hàng ngày nhưng lại có sức gợi cảm đầy ám ảnh. Nhất là hình ảnh ngọn đèn con nơi hàng nước của chị Tý được nhắc đi nhắc lại nhiều lần như một biểu tượng về những kiếp sống lay lắt của những cư dân nghèo nơi phố huyện. c. Tác giả đã tạo được sự đối lập bóng tối và ánh sáng: ánh sáng thì yếu ớt, leo lét "Ngọn đèn vặn nhỏ; thưa thớt từng hột sáng lọt qua phiên nứa:. Bóng tối thì mỗi lúc một thêm dày đặc "Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa". IV. Tâm trạng chị em Liên1. Thấm một nỗi buồn tẻ, quạnh hiu của mình về cuộc đời của những người xung quanh của mình. 2. Nhớ về những kỉ niệm tươi sáng trước đây ở Hà Nội "Liên nhớ lại khi ở Hà Nội, chị được hưởng những thứ quà ngon lạ . . . được đi chơi bờ Hồ, uống những cốc nước lạnh xanh đỏ", . . . "một vùng sáng rực lấp lánh . . . Hà Nội nhiều đèn quá!". 3. Khao khát chờ đợi chuyến tàu như đón chờ một cuộc sống khác với cuộc sống hiện tại nơi phố huyện. Tâm trạng háo hức, hào hứng dõi theo những toa tàu rực rỡ ánh sáng, với những âm thanh rầm rộ có những con người Hà Nội "vui vẻ và huyên náo" cho đến khi đoàn tàu lại khuất hẳn. 4. Khi đoàn tàu đã đi xa, Liên trở về với tâm trạng man mác buồn trong đêm khuya tĩnh mịch và bóng tối "Chị gối đầu lên tay, nhắm mắt lại . . . Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tý chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ . . . mắt chị nặng dần, rồi Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh như đêm ở trên phố, tĩnh mịch và ngập đày bóng tối". V. Ý nghĩa nhân đạo1. Qua bức tranh chiều tối ở phố huyện và cuộc sống con người nơi đây, tác giả đã phát biểu một tiếng nói kín đáo mà rất thấm thía. Đó là t tiếng nói đầy xót thương đối với những kiếp sống nhỏ bé, sống cơ cực, quẩn quanh, bế tắc trong xã hội cũ. 2. Từ đó, đánh thức niềm khát khao sống một cuộc sống tươi sáng, có ý nhĩa hơn, một cuộc sống xứng đáng với hình ảnh chữ con người.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1449
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Giới thiệu vài nét về hoàn cảnh sáng tác, bài thơ, vị trí đoạn trích 1. Bài thơ được viết ra từ hai nguồn cảm hứng:thứ nhất là cảm hứng đẹp với một vùng quê ven bờ sông Hương, cây vối tốt tươi, thơ mộng.Cảm hứng thứ hai theo nhà thơ Quách Tấn là mối tình đơn phương nhiều mơ ước với Hoàng Cúc. 2. "Đây thôn Vĩ Dạ" là một bài thơ rất nooit tiếng của Hàn Mặc Tử, in trong tậm "Thơ điên". Bài thơ không chỉ làm rạng danh cho một thi sĩ tài hoa, đa cảm nhưng cuộc đời gặp nhiều cảnh ngộ éo le, bất hạnh mà còn góp phần tô điểm cho một xứ sở vốn đã nổi tiếng của Huế: "Đây là xứ mơ màng, đầy xứ thơ". 3. Bài thơ gồm 3 khổ thơ: Khổ 1 là vẻ đẹp mới mẻ, tinh khôi, chứa chan sức sống của khu vườn trong ánh ban mai. Khổ hai: bầu trời, sông nước Vĩ Dạ trong tâm trạng buồn, chia li tuyệt vọng và đau đáu một nỗi khao khát gặp gỡ của Hà Mặc Tử. II. Bình giảng khổ thơ 1. Bình giảng hai câu đầu: "Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay". Tiếp theo khổ một đặc tả vẻ đẹp trong sáng, thơ mộng tràn đầy sức sống của vườn thôn Vĩ vào buổi sớm mai, khổ hai đã mở rộng ra khung cảnh bầu trời, sông nước Vĩ Dạ. Bài thơ dường như có sự vận động từ ngoại cảnh vào tâm cảnh. Vì thế bầu trời sông nước cũng nhuốm đầy tâm trạng thi nhận. Cảnh vật xuất hiện với bốn hình ảnh: "gió", "mây", "dòng nước", "hoa bắp". Hai hình ảnh "gió", "mây" ở đây chở nên chia lìa, trái tự nhiên, không hòa nhập, "gió một đường, mây một nẻo" này thể hiện theo lô gic tâm trạng buồn, cô đơn vì mối tình ở dạng "đơn phương", "vô vọng" của nahf thơ với Hoàng Cúc. Chú ý phân tích các điệp từ, cách ngắt nhịp câu thơ đã làm nổi bật cảm xúc trên. Câu thơ thứ hai với hình ảnh "dòng nước" và "hao bắp" cũng đã tiếp tục tô đậm thêm tâm trạng thi nhân: buồn, lặng lẽ, hiu hắt, có thể hiểu hai câu thơ ở khổ này vừa tả cảnh, vừa tả tình trong cảnh và cả nhịp điệu của cảnh. Tình buồn chia li, sầu tủi, hiu hắt. Cảnh êm đềm phẳng lặng, nhịp điệu cảnh: "Cái nét trầm tư chẳng nơi nào có được của Huế đẹp và thơ". 2. Bình giảng hai câu sau: Cùng với cảm giác chia lìa, mạch thơ đã chuyển hẳn một một thế giới thôn Vĩ thực và tràn trề ánh nắng ở khổ 1 sang một thế giới rộng, tắm đẫm ánh trăng ở khổ 2: "Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay?" Trăng dưới ngòi bút tài hoa của Hàn Mặc Tử bỗng trở nên huyền ảo, tràn đầy vũ trụ tạo nên một không khí nửa thực, nửa hư, như trong cõi mộng. Trăng vốn là biểu tượng cho cái đẹp, cho hạnh phúc, cho niềm vui. Với Hàn Mặc Tử, trong bối cảnh lúc đó, trăng có ý nghĩa như "một bám víu duy nhất, như người bạn tri âm, tri kỉ" giờ chỉ còn nỗi ước ao, khát khao gặp gỡ và nỗi niềm lo âu về sự muộn amfng, dang dở. Vì thế, câu thơ của Tử cất lên như một câu hỏi đau đáu một nỗi niềm day dứt đầy phấp phỏng "Có chở trăng về kịp tối nay?"
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1448
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Giới thiệu vài nét về tác giả, bài thơ1. Thâm Tâm (1917 - 1950) tên khai sinh là Nguyễn Tuấn Trình, sinh tại thành phố Hải Dương. Ông viết cả thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch nói, nhưng thành công hơn cả vẫn là thơ. Thơ ông có chất giọng riêng, nhất là những bài "hành", giọng thơ cứng cáp, phảng phất hơ thơ cổ, tuy "Vẫn đượm chút bâng khuâng, khó hiểu của thời đại''. 2. "Tống biệt hành" (1940) là bài thơ tiêu biểu nhất của Thâm Tâm, được viết theo thể "hành", một thể thơ cổ, không có sự quy định chặt chẽ về số câu, số chữ, vần điệu, có sự đan xen giữa thanh bằng và thanh trắc. Nhớ đó mà rất thích hợp cho việc diễn tả những cảm xúc vừa ngang tàng, cứng cỏi, vừa bâng khuâng, lưu luyến, dư ba. Ở bài thơ này, Thâm Tâm dùng để khắc họa hình ảnh một li khách dứt khoát lên đường mong ước thực hiện chí lớn, và có trái tim, nặng lòng thương nhớ người thân. II. Phân tích bình giảng đoạn thơ1. Vài nét về đề tài chia li trong thơ ca 2. Bài thơ "Tống biệt hành" của Thâm Tâm đã vượt lên tất cả để trở thành một bài thơ độc đáo và khá nổi tiếng của thơ ca lãng mạn 1930 - 1945. Khổ thơ ta bình trên đây là kết tinh sắc nét đặc sắc cảu bài thơ. 3. Bốn câu đầu của bài thơ thể hiện cảnh chia li của kẻ ở người đi qua hồi tưởng của người ở lại. a. Hai câu đầu như một nghịch lí: Không đưa qua sông mà trong lòng lại có tiếng sóng? "Tiếng sóng ở trong lòng" là nỗi niềm chia li đầy bâng khuâng, xao xuyến, buồn thương trào dâng trong lòng mỗi người: kẻ ở - Người đi. Câu thơ đầu toàn thanh bằng trầm lắng như tiếng lòng của người đưa tiễn. Ở câu ahi, đột ngột nổi lên 4 âm thanh trắc (có tiếng sóng ở) "tưởng như có tiếng sóng thật trong lòng người và nghe trong tiếng sóng như có hơi lạnh của gió sông". b. Hai câu thơ tiếp theo lại là một nghịch lí nữa. Buổi chiều tiến đưa không có gì đặc biệt ( nắng không gay gắt "không tươi thắm hay vàng vọt") vẫn bình thường như mọi chiều khác, ấy thế mà trong mắt người ra đi vẫn thấm mà hoàng hôn (Chú ý hai chữ :hoàng hôn" mang tính biểu tượng trong khổ thơ). Tiểu kết:a. Xưa nay, trong thơ cổ điển thường sử dụng các hình ảnh "dòng sông", "bến đò", "bóng chiều", "hoàng hôn" để miêu tả cảnh li biệt. Ở đây, Thâm Tâm phủ định những thi liệu cổ đường như nhằm chọi lại thi pháp thơ cổ và tạo nên sự hiện diện của những cái không có, tại cho lời thơ hàm xúc, dư ba. b. Bốn câu thơ tạo thành hai câu hỏi cân đối, hài hòa và đều mở bằng từ "sao" đầy ngỡ ngàng, thảng thốt c. Thâm Tâm đã trực tiếp miêu tả nội tâm, không cần đến ngoại cảnh. d. Đoạn thơ đã sử dụng hàng loạt điệp âm "đưa người", "đưa qua sông", "không thắm", "không vàng vọt" . . . là một cấu trúc hặt chẽ cân đối, có nhịp điệu rất nghệ thuật, tạo cho đoạn thơ cái nét động đáo này: vừa có giọng rắn rỏi, hiên ngang, vừa dâng đầy cảm xúc thiết tha.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1447
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Vài nét về cản hứng bài thơ"Đây thôn Vĩ Dạ" là một bài thơ hay của Hàn Mặc Tử. Bài thơ được viết ra từ hai nguồn cảm hứng. Cảm hứng đẹp với một vùng quê ven bờ sôngHương, cây cối tươi tốt, hàng xóm đông vui. Bích Khê có ý thơ ca ngợi Vĩ Dạ. "Vĩ Dạ thôn,Vĩ Dạ thôn! Bến tre cầu trúc không buồn mà say" Hàn Mặc Tử trong những tác phẩm thi ca của mình, có một số bài thơ hay viết về làng quê như "Lời quê", "Đây thôn Vĩ Dạ", "Mùa xuân chín". Nguồn cảm hứng thứ hai là tình cảm với một cô gái quen biết ở sứ Huế, gợi lên ở tác giả thi hứng chứa chan cảm xúc mộng tưởng. Quách Tấn cho rằng đó là mối tình thơ mộng nhiều mơ ước với Hoàng Cúc. II. Bình giảng khổ thơ1. Hai câu đầu Mở đầu bài thơ là ý chào mời, trách móc, hay là câu hỏi với người thân quen: "Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên" Câu thơ thứ hai gợi lên vẻ đẹp khỏe khoắn và giàu sức sống của làng quê trong buổi bình minh. Hàng cau vút thẳng trong ánh nắng ban mai, tạo vẻ đẹp tinh khôi, đậm đà bản sắc quê hương (chú ý hình ảnh "nắng mới lên" và điệp từ "nắng"). 2. Hai câu sau Vĩ Dạ là vùng đất trù phú có những khu vườn cây cảnh, cây ăn quả được tắm nắng, gội mưa thường xuyên; được chăm sóc bởi những bàn tay bởi những con người cần cù, khéo léo nên cây cối tốt tươi, ánh lên như màu ngọc bích long lanh." "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc chen ngang mặt chữ điền?" Câu thơ "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc" cất lên như một tiếng reo biểu hiện sự thích thú, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp quá đỗi bất ngờ của khung cảnh thôn Vĩ. Chữ "mướt" nói lên một cái gì mềm mại, óng ả, mượt mà. Lá cây xanh mướt biểu hiện sức sống non tơ và đặc biệt màu "xanh như ngọc" là một sự so sánh rất độc đáo và gợi cảm. Đó là màu xanh như có ánh sáng bên trong. Riêng màu xang của thiên nhiên, cỏ cây có hàng chục, hàng trăm cách nói: Xanh lơ, xanh thẳm, xanh rì, xang tươi, xanh đậm . . Xanh như ngọc là màu xanh còn nói lên đối tượng như đang có sức sống nõn nà, trong trẻo. Câu thơ thứ tư đột ngột xuất hiện cành trúc, một gương mặt mang hồn của Vĩ Dạ. Câu thơ cách điệu hóa, có sự hài hòa giữa con người và cảnh vật. Cảnh vật của thiên nhiên thì gợi cảm đến thế, còn con người thì cũng rất chân chất, phúc hậu, gắn bó với ruộng vườn,, bóng người thấp thoáng trong tre trúc vẫn là nét đẹp quen thuộc của làng quê Việt Nam.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1443
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
1. Truyện ngắn "Hai đứa trẻ" in trong tập "Nắng trong vườn" (1938) là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của Thạch Lam. tác phẩm vừa có giá trị hiện thực cao, vừa thắm đượm một giá trị nhân đạo sâu sắc. Qua truyện ngắn này, Thacgj Lam cũng thể hiện một tài năng viết truyện bậc thầy. 2. Truyện ngắn của Thạch Lam thường không có cốt truyện, mỗi truyện như một bài thơ. Thạch Lam có ba truyện viết về những kỉ niệm thời thơ ấu (Hai đứa trẻ, Nhà mẹ Lê, Gió lạnh đầu mùa). Ở truyện ngắn "Hai đứa trẻ" toàn bộ câu truyện chỉ kể về tâm trạng thao thức của hai đứa trẻ Liên và An, mong mỏi chờ đợi một chuyến tàu đêm đi qua phố huyện tiêu điều. Thế nhưng câu truyện kể tưởng chừng nhỏ nhặt, đơn điệu của phố huyện nhỏ, thân phận và những ước mơ, khát vọng của những con người nơi đây. 3. trong "Hai đứa trẻ", Thạch Lam chú trọng đi sâu vào tâm trạng nội tâm nhân vật với những cảm xúc, cảm giác mơ hồ mong manh. Những trang viết miêu tả tâm trạng của nhân vật (đặc biệt là nhân vật Liên) rất sâu sắc và tinh tế. 4. Thạch Lam đã sử dụng thành công thủ pháp nghệ thuật đối lập, tương phản giữa các vùng âm thanh và ánh sáng. Cả một phố huyện chìm sâu vào bóng tối, chỉ còn vài chấm sáng tù nhù quen thuộc xung quanh ngọn đèn của chõng hàng nước, cái bếp lửa của hàng phở khuya vắng khách và ngọn đèn vặn nhỏ thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa của một hàng tập hóa. Những ngọn đèn tù mù như ngái ngủ đó tượng trưng cho cuộc sống của những người dân nghèo khổ nơi phố huyện nhỏ của một vùng nông thôn. Trong cái cảnh chìm chìm, nhạt nhạt và vắng lặng đó, đêm nào cũng có một đoàn tàu đi qua mang theo những luồng sáng mạnh quét vào hai bên và tiếng ồn làm xao động cả một vùng quê yên tĩnh. Đoàn tàu như mang đến một thế giới giàu sang và đầy ánh sáng, một thế giới lí tưởng và đầy ước mơ, đối lập với cái hiện thực tĩnh lặng đầy bóng tối nơi phố vắng ở một huyện nhỏ. Thủ pháp đối lập mà Thạch Lam sử dụng ở đây cũng là thủ pháp nghệ thuật quen thuộc cảu các nhà văn lãng mạn chủ nghĩa. 5. Thạch Lam có một phong cách, một giọng điệu rất riêng. Đó là lối kể chuyện thủ thỉ, tâm tình thấm đượm chất thơ. Người đọc thấy ẩn hiện kín đáo, lặng lẽ, hết sức nhạy cảm với mọi biến thái của tạo vật và lòng người.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1442
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
1. Bút pháp điêu luyện, sắc sảo, khi dựng người, dựng cảnh, những nét như khắc, như chạm, giàu tính chất tạo hình. Nhân vật nào cũng rõ nét, cảnh nào cũng có thể hình dung rõ mồn một. Chẳng hạn như cảnh sáu người tù nhân mang chung một chiếc gông dài tám thước bước tới cửa ngục với động tác" rỗ gông" đuổi rệp làm cho "một trận mưa rệp đã làm cho nền đá xanh nhạt lấm tấm những điểm đen nâu", sau đó " "sáu người né tránh mình tiến vào như một bọn thợ nề thận trọng khiêng cái thang gỗ đặt lên ngang vai" và nhất là cảnh tượng Huấn Cao viết chữ trong phòng giam là những cảnh được khắc họa hết sức sống động, đầy ấn tượng. 2. Ngôn ngữ nghệ thuật vừa giàu có, góc cạnh, đồng thời là thứ văn xuôi có nhịp điệu riêng, giàu sức truyền cảm, nhiều câu văn hàm xúc dư ba. 3. Một không khí cổ kính, trang nghiêm, có phần bi tráng bao trùm ả thiên truyện. Nguyễn Tuân chẳng những rất am hiểu và nặng lòng yêu dấu, quý trọng những điều ông thuật tả mà còn có ngòi bút già dặn, tinh vi, đầy nghệ thuật để làm sống lại con người và sinh hoạt thời xưa.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1441
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn thơ (Xem những đề trước) II. Phân tích Ý chính khổ thơ: Thiên nhiên vào buổi chiều tà kì vĩ, đẹp nhưng thấm đượm nỗi buồn nhân thế, "buồn sông núi" gợi nhớ quê hương. 1. Hai câu đầu: Bức tranh thiên nhiên của buồi chiều tà trên "tràng giang" kì vĩ bao la nhưng thấm đượm nỗi buồn cô đơn rợn ngợp. - Hình ảnh thơ có sự tương phản giữa cái hfung vĩ của mây trời với cái nhỏ nhoi, mông lung của cánh chim. - Các từ láy "lớp lớp", "đùn đùn" diễn tả mây trời rất sinh động. Phải chăng, hình ảnh thơ còn diễn atr nỗi sầu của thi si đã dâng lên trùng trùng lớp lớp, tràn ngập cả bầu trời? - Thơ ca cổ điển diễn tả cảnh chiều tà thường vờn vẽ một vài hình ảnh cánh chim: "Chim hôm thoi thót về rừng" (Nguyễn Du). Ở đây câu thơ của Huy Cận cũng có hình ảnh cánh chim. Nhưng là cánh chim xuất hiện trong thế đối lập với mây trời hùng vĩ bao la. Đsung là cánh chim trong thơ mới. Nó nhỏ nhoi, đơn chiếc và mông lung hơn . . . 2. Hai câu sau: Nỗi nhớ quê hương, tình yêu Tổ quốc - Thơ Huy Cận mang đậm ý vị cổ điển: cổ điển ở hình ảnh con người một mình đứng trước cái không gian trời rộng, sông dài, trước cái thời gina buổi chiều tà lặng lẽ. Ý vị cổ điển cafgng được tô đậm ở câu cuối này. Nó toát ra từ một ý thơ Đường: "Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà" "Dợn dợn" diễn tả chuyển động uốn lên, uốn xuống nhẹ nhàng không dứt của mặt nước khi bị xao động. "vời" là la . . Nó diễn tả sóng lan xa, vừa gợi nỗi buồn lạnh lẽo trải ra vời vợi không nơi bám víu. "Không khói . .. nhớ nhà". Nó làm ta nhớ tới câu thơ nổi tiếng của Thôi Hiệu: "Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên ba giang thượng sử nhân sầu" Tản Đà dịch là: " Quê hương khuất bóng hoàng hôn Trên sông khói sống cho buồn lòng ai" Người xưa nhìn khói sóng mơ màng trên sông mà gợi nỗi nhớ nhà đã đành, còn Huy Cận không cần khói hoàng hôn mà vẫn thấy nhớ nhà da diết. Thì ra niềm thương nhớ quê hương của Huy Cận còn mãnh liệt, cao độ, thường trực hơn: sông càng vời rộng càng buồn nhớ quê hương da diết, cháy bỏng. Đây là một tâm trạng khá phổ biến của cả một tầng lớp lớp tiểu tư sản lúc bấy giờ. Nhà văn Nguyễn Tuân luôn luôn có cảm giác "Thiếu quê hương". Còn nhà thơ Tố Hữu thì "Sống giữa quê hương mà bơ vơ như kiếp đi đày".
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1440
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài Ý 1: Giới thiệu vài nét về tác giả, bài thơ, vị trí khổ thơ (Xem phần này ở các đề trên). Ý 2: Bình giảng, phân tích khổ thơ: - "Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng": phải chăng hình ảnh thơ ngoài ý nghĩa tả thực còn có ý nghĩa ẩn dụ, tượng trưng: Nhà thơ đang sống trong cảnh mất nước, nô lệ, nên đã cảm nhận được cả thế hệ thanh niên lúc đó cũng như mình đang vật vờ, lênh đênh, trôi dạt, bị cuộc đời cuốn đi mà không biết trôi về đâu? Câu 2,3: Cảnh mênh mông, buồn bả trống vắng, quạnh hiu của "Tràng giang" càng được nhân lên bằng mấy lần phủ định: "Không đò . . . không cầu . . .". Chiếc cầu, con đò bắc nối đôi bờ là biểu hiện của sự giao nối của con người và cuộc sống tấp nập, gần gũi và gợi nhớ quê hương. Nhưng ở đây, tấc cả bị phủ định: không một cái gì đó gợi về tình người, lòng người muốn gặp gỡ, qua nơi đôi bờ hoang vắng. Hai bờ sông cứ thế chạy dài vô tận như hai thế giới cô đơn, không chút "niềm thân mật" của những tâm hồn đồng điệu. Câu 4: Cảnh "Tràng giang" chỉ còn "lặng lẽ bờ xang tiếp bãi vàng". Câu thơ đã vẽ nên được một bức tranh thật đẹp, tĩnh lặng, nhưng rất buồn. Tiểu kết: Bốn câu thơ, bốn hình ảnh, tất cả đều gợi buồn. Chúng "cộng hưởng" với nhau tạo thành bức tranh gợi về số phận nổi trôi, bơ vơ, bất hạnh, cô đơn của kiếp người trong xã hội cũ. Nghệ thuật sử dụng thủ pháp quen thuộc của thơ cổ điển: lấy "không" để nói "có".
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1439
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài I. Giới thiệu chung về bài thơ và vị trí đoạn trích 1. "Tràng giang" được in trong tập "Lửa thiêng" (1940), là bài thơ vào loại nổi tiếng của Huy Cận, đồng thời cũng là kiệt tác của thơ hiện đại Việt Nam. 2. Trong bài thơ tác giả đã thể hiện tâm trạng cô đơn của mình trước cuộc đời, trước vũ trụ bằng một bút pháp cổ điển, vừa hiện đại. Khổ thơ bình giảng là khổ thơ thứ hai trong bài thơ. So với các khổ thơ khác, ở đây, nỗi buồn có những sắc điệu riêng và đối tượng miêu tả cụ thể cũng có những nét khác biệt. II. Bình giảng hai câu đầu khổ thơ 1. Hai câu thơ chứa đựng những nét chấm phá về cái bãi cồn trên sông. Không gian hầu như vắng lặng, cảnh vật nhuốm vẻ đìu hiu, tàn tạ, thể hiện sâu sắc nỗi lòng nhân vật trữ tình: buồn sầu, cô đơn, khát khao được nghe những tiếng vọng thân thiết của cuộc đời. 2. Các từ láy "lơ thơ", "đìu hiu" được dùng rất đắt, vừa có giá trị tạo hình, vừa giàu khả năng biểu đạt tâm trạng. Riêng từ "đìu hiu" gợi nhớ đến một câu thơ trong "Chinh phụ ngâm" ("Bến phì gió thooit đìu hiu mấy gò"). Trong câu thứ hai, sự xuất hiện của "Tiếng làng xa vãn chợ chiều" chỉ làm cảnh buồn hơn bởi đây chỉ là "âm thanh" vọng lên từ tâm tưởng, từ niềm khao khát của nahf thơ. (Chú ý việc cắt nghĩa câu thứ hai phụ thuộc phần lớn vào cách hiểu từ "đâu", hiểu "đâu" là "không có" hay "đâu đây" đều có những căn cứ nhất định. Vì vậy, nên để chừa một "khoảng trống" cho sự phát biểu cảm nhận riêng của thí sinh). III. Bình giảng hai câu cuối của khổ thơ 1. Hai câu thơ mở ra một không gian miêu tả ra nhiều chiều với hình ảnh của nắng xuống, trời lên, sông dài, bến vắng. Theo hướng mở rộng đó của không gian, nỗi sầu của nhân vật trữ tình như được lan tỏa ra đến nỗi vô cùng, không có cách gì xoa dịu được. 2. Hình thức đối cổ thi được sử dụng khá linh hoạt trong hai câu thơ tạo nên sự hài hòa về hình ảnh và nhịp điệu. Cùng với việc vẽ ra những chuyển động ngược hướng (nắng xuống, trời lên) ở câu thứ ba, tác giả đã dùng dấu phẩy ngắt câu thơ thứ tư thành ba phần, biểu thị ba hình ảnh độc lập (sông dài, trời rộng, bến cô liêu). Nhờ lối diễn tả này, tính chất phân li của cuộc đời được tô đậm thêm. Cách kết hợp từ trong câu ba cũng hết sức đáng chú ý. Khi viết "sâu chót vót", tác giả không chỉ muốn diễn tả độ cao của bầu trời mà còn muốn biểu hiện cảm giác chơi vơi, rợn ngợp của con người khi đối diện với cái hun hút, thăm thẳm của vũ trụ (rất có thể từ "sâu" chợt đến trong liên tưởng thơ của thi sĩ khi ông nhìn thấy cảnh phản chiếu vời vợi của bầu trời xuống mặt nước). (Đáp án đề thi Văn khối C - toàn quốc năm 2003)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1438
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
1. Hoàn cảnh sáng tác: - Huy Cận là một trong những nhà thơ tiểu biểu của dòng thơ ca lãng mạn 1930 - 1945. "Tràng Giang" là một bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác vào năm 1939 đăng lần đầu tiên trên báo "Ngày nay", sau đó in vào tập "Lửa thiêng". Bài thơ mang phong vị Đường thi khá rõ. - Theo Huy Cận đây là bài thơ được sông Hồng gợi tứ. Ông đã có lần tâm sự: "Tôi có thú vui thường ngày vào chủ nhật hằng tuần đi lên vùng Chèm. Vẽ để ngoạn cảnh sống Hồng và hồ Tây. Phong cảnh sông nước đẹp gợi cho tôi nhiều cảm xúc chung về những dòng sông khác của quê hương". - Vì vậy, phân tích bài thơ này là phân tích một bức tranh thiên nhiên sông nước hầu như đã trở thành cổ điển mà linh hồn của nó là một nỗi buồn đìu hiu mênh mang. Qua mỗi khổ thơ, tác giả điểm thêm một nét buồn nào đó. Tát cả những nét buồn ấy cứ trở đi, trở lại vẫn là bát ngát, mênh mông mà hoang dạt. Đây là nỗi buồn cô đơn rợn ngợp của cá thể trước cái không gian ba chiều bao la, luôn luôn có niềm khao khát được hòa hợp cảm thông giữa người và người trong tình đất nước nhân loại. 2. Phân tích, bình giảng khổ thứ nhất: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại sầu trăm ngả; Củi một cành khô lạc mấy dòng". Ý 1: Giới thiệu vài nét về tác giả và bài thơ: - "Tràng giang" là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận, sáng tác năm 1939, rút từ tập "Lửa thiêng", tập thơ đầu tay của Huy Cận, sáng tác khoảng 1937 - 1940. Tập thơ đã đưa Huy Cận trở thành một gương mặt tiêu biểu trong phong trào thơ mới thời kì đầu phát triển. - Huy Cận là thi sĩ thơ lãng mạn có nỗi buồn :"ảo não", "ngẩn ngơ" trước cái không gian bao la và thời gian thăm thẳm. Đó là nỗi buồn "sông núi", "nỗi buồn trước cảnh nước mất, nhà tan và nỗi buồn của một thế hệ nhà "thơ mới" nằm trong một "chữ tôi" bế tắc, luôn luôn có niềm khao khát được hòa hợp cảm thông trong tình đất nước và tình nhân loại. - Khổ thơ ta bình giảng là khổ thứ nhất của bài thơ. Nó mở ra bằng một hình ảnh sông nước mênh mông trước một bức tranh thiên nhiên "Tràng giang" tàn tạ, quạnh hiu, nổi trôi, chia lìa, phiêu dạt. Ý 2: Hai câu đầu: - Hình ảnh "Tràng giang" vừa mở ra chiều rộng, vừa vươn tới chiều dài: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song" - "Sóng gợn . . .điệp điệp": Bằng một hình ảnh ẩn dụ và một từ láy "điệp điệp" cừa gợi hình vừa gợi cảm, câu thơ diễn tả một nỗi buồn như mở ra bất tận cũng như sóng gợn tầng tầng lớp lớp, không dứt trên dòng "Tràng giang". - "Con thuyền xuôi mái nước song song": Câu thơ có thể hiểu con thuyền xuôi theo dòng nước mà đi và còn có thể hiểu là con thuyền bất lực ngay với mái chèo của mình, lênh đênh mặc cho dòng nước cuốn trôi xuôi cho đến tận cuối chân trời không bến đậu (có thể bình mở rộng bằng cách liên hệ với hai câu thơ nổi tiếng của Đổ Phủ trong bài "Đăng cao": "Vô biên lạc điệp tiêu tiêu hạ Bất tận trường giang cổn cổn lai") Ý 3 :hai câu sau: - Hình ảnh thơ gợi nên sự khô héo, nổi trôi, cô đơn, chia lìa. "Thuyền về nước lại sầu trăm ngả; Củi một cành khô lạc mấy dòng". Hình ảnh con thuyền gợi về sự trôi nổi, lênh đênh. Thuyền và nước vốn là hai hình ảnh luôn luôn gắn bó. Vậy mà ở đây lại có sự xa cách, chia lìa đang đón đợi "thuyền về" >< "nước lại" - "sầu trăm ngả" chứ không phải ít ngả vì là sông lớn. Nó tượng trưng làm nổi bật nỗi buồn, sầu, trôi nổi, chia lìa, bơ vơ. Nghệ thuật: Chú ý khai thác, bình giá về thủ pháp "điệp" và "đối" nhấn mạnh nỗi sầu dằng dặc và xự chia biệt, cô đơn.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1436
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Vài nét về tác gải, bài thơ và vị trí đoạn trích 1. Vài nét về nhà thơ Xuân Diệu và bài "Thơ duyên" (xem đề trên) 2. Đoạn trích - nội dung và vị trí của bài thơ (khổ thơ) Khổ thơ này là khổ thơ thứ tư của bài thơ. Nội dung chính của nó:cảnh chiều thu chuyển dần theo thời gian, đi vào thời khắc hoàng hôn, giữa thiên nhiên và thiên nhiên qua cái tôi yêu đời, khát khao giao cảm của Xuân Diệu càng có sự giao cảm, cảm thông kì diệu. II. Bình giảng đoạn thơ. 1. Hai câu đầu "Mây biếc về đâu bay gấp gấp, Con cò trên ruộng cánh phân vân" Hình ảnh thơ trên rất quen thuộc đặc trưng cho thơ cổ điển phương Đông. Nhưng chiều sâu cảm xúc và cách biểu hiện đã có sự khác biệt rất xa. Đúng như nhà phê bình Hoài Thanh đã từng nhận xét: "Từng cách cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân, có sự cách biệt hơn một ngàn năm và hai thế giới" (Thi nhân Việt Nam - trang 104). Sự cách biệt của hai thế giới là gì vậy? Thế giới của thơ Đường là nhận cái tôi cá nhân. Cái tôi cá nhân ít để lại dấu ấn trong thơ vì cái tôi ấy bị tan biến trong cái ta, trong vũ trụ vĩnh hằng và thiên nhiên trong thơ thường chung chung, thời nào cũng vậy. Câu thơ nổi tiếng của Vương Bột là một ví dụ điển hình: thế giới cảu cái ta, cái chung cộng đồng. Ý thức thế hệ phong kiến không chấp "Lạc hà dữ cô lộ tề phi Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc" (Chiếc cò cùng với ráng xa Sông thu cùng với trời xa một màu Hai câu thơ này thể hiện một cái nhìn hòa nhập, mang tính chất nhất thể hóa thiên nhiên vũ trụ. Còn hình ảnh thơ câu Xuân Diệu: trạng thái "phân vân" không biết bay cao hay bay thấp; bay lên hay bay xuống . . . của cánh cò cũng như cái "gấp gấp" vội vã của làn "mây biếc", cùng hai chữ "về đâu" rất gợi cảm đã thể hiện rất rõ cái tôi chữ tình của thi sĩ. Đó là một tâm trạng rất riêng biệt, điển hình của thơ mới mà ta ít gặp trong thơ cổ điển. Nó biểu hiện cái tôi đã ý thức được rõ rệt về thời gian và sự hữu hạn của kiếp người. Vì thế, câu thơ của Vương Bột tả cái động mà vẫn tĩnh. Còn Xuân Diệu tả cái tĩnh mà thấy cái động. 2. Hai câu sau: "Chim nghe trời rộng dang thêm cánh, Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần." càng tô đậm thêm sự giao hòa, cảm thông, sự đưa duyên giữa thiên nhiên và thiên nhiên qua cái tôi cô đơn và rất mực yêu đời của Xuân Diệu. Nhà thơ dường như nhận thức thấy được cảm giác trống trải, rợn ngợp của con chim trước bầu trời cao rộng đã giang đôi cánh để hòa điệu với cảm giác se lạnh cảu bông hoa khi sương chiều buông xuống dần. "Sự bồng bột của Xuân Diệu có lẽ đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi này" (Hoài Thanh).
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1435
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Vài nét về nahf thơ Xuân Diệu và bài "Thơ duyên". 1. Xuân Diệu (1916 - 1985) là nhà thơ ham sống, yêu đời, khát khao giao cảm với đời mãnh liệt. Với tâm hồn ấy, ông đã phát hiện ra trong cái quen thuộc, bình thường kia mùa thu muôn đời còn tiềm ẩn những vẻ đẹp thi vị của thiên nhiên và hồn người, chúng luôn giao hòa để sáng tạo nên một bài thơ tuyệt bút: "Thơ duyên". 2. Dựa vào hình tượng thơ, ta có thể hiểu "duyên" ở đây không chỉ giới hạn trong quan hệ nam - nữ, mà "duyên" còn là sự hòa hợp tuyệt vời giữa thiên nhiên và thiên nhiên, giữa thiên nhiên và con người, giữa anh và em. Hình như "cảnh trí hữu tình đã trở thành bà mối xe duyên cho những lứa đôi đa tình, đa cảm". 3. Đoạn thơ là hai khổ thơ mở đầu bài "Thơ duyên", tả khung cảnh mộ buổi chiều thu thật thoáng đãng, êm ái và thơ mộng đến ngất ngây và con đường mùa thu nhỏ nhắn, xinh xắn, tình tứ như biết làm "duyên" với con người, với đất trời. Tất cả được cảm nhận qua một trái tim "xôn xao vô cùng" và một tâm hồn "lần đầu rung động nỗi thương yêu". II. Bình giảng khổ thơ thứ nhất: Buổi chiều rất thơ và mộng như trong cõi mộng: 1. Hai câu đầu "Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên. Cây me ríu rít cặp chim chuyền " Đã mở ra một khung cảnh chiều thu thật tươi tắn, thoáng đãng, êm ái rất thơ và mộng. Qua tâm hồn của chàng thi sĩ có cặp mắt "xanh non" và "lần đầu rung động nỗi thương yêu", cuộc đời, cảnh vật, đất trời đâu đâu cũng như có "duyên" với nhau, cặp đôi với nhau trong tình yêu thương. Chú ý, phân tích từng chi tiết, những danh từ, tính từ, động từ được sử dụng. Không phải một buổi chiều như bất kì buổi chiều nào mà là "chiều mộng". Chiều mộng làm gì? "hòa htow". Ở đâu? "trên nhánh duyên". Từ "nhánh" và "duyên" đều rất gợi cảm và giàu ý nghĩa thẩm mĩ. "Cây me ríu rít". Từ "ríu rít" cũng rất hay và hàm xúc. Rồi "cặp chim chuyền", "cặp" chim chứ không phải hai, hay đôi chim., "hai" hay 'đôi" mới chỉ số lượng, "cặp" còn có ý nghĩa gắn bó thân mật. 2. Hai câu sau: "Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá, Thu đến nơi nơi động tiếng huyền." được nhà thơ mở ra với không gian xao rộng. Bầu trời soi vào vòm lá bởi sắc xanh mượt mà, tươi sáng. Tất cả cảnh sắc và khoogn gian mùa thu như cất tiếng nhạc du dương, huyền diệu, trầm bổng: "nơi nơi động tiếng thuyền". Chú ý phân tích bình từ "đổ" và "xanh ngọc". Như vậy, cái đẹp thơ mộng của bức tranh mùa thu được Xuân Diệu tả qua các góc độ phong phú, đa dạng, nhiều chiều, chiều tầng: qua những nét duyên dáng của nhánh cây, qua âm thanh ríu rít của tiếng chim, qua sắc xanh bầu trời đổ xuống muôn lá, và qua âm thanh huyền diệu của "tiếng thu"; cuối cùng là sự hòa điệu, hô ứng, tương giao rất nhịp nhàng của cảnh vật, đất trời, chim muông, cây lá. Đúng như một cảnh chiều thu tươi tắn, thơ mộng, trong sáng rất khác với cảnh chiều hôm mà ta thường thấy trong Thơ mới nói chung và trong thơ Xuân Diệu nói riêng được miêu tả quạnh quẽ, hiu hắt, xa vắng: "Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều, Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn..." (Chiều - Xuân Diệu) III. Bình giảng khổ thứ hai 1. Con đường mùa thu với cảnh vật xinh xắn, tình tứ như có hồn, rất "duyên" được cảm nhận qua trái tim thi sĩ "lần đầu rung động nỗi thương yêu". "Con đường nho nhỏ, gió xiêu xiêu, Lả lả cành hoang nắng trở chiều. Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn. Lần đầu rung động nỗi thương yêu " Cảnh thơ của Xuân Diệu trong bốn câu thơ trên có vẻ yên tĩnh mà vẫn có cái gì đó xôn xao từ trong lòng sự vật, chỉ cảm thấy được nhưng khó phân tích, diễn giải ra một cách rõ ràng. Bình về mấy câu thơ trên, Hoài Thanh đã viết: "Cảnh như muốn theo lời mà tan ra. Nó chỉ mất đi một tí rõ ràng để được thêm nhiều thơ mộng". Cái hay đặc sắc của những câu thơ Xuân Diệu là tác giả đã sử dụng một cách tài tình các từ láy: "nho nhỏ", "xiêu xiêu", "lả lả". Những từ láy và đồng thời cũng là tính từ ấy vừa mô tả được những đường nét, dáng điệu mềm mại, xinh xắn, nhỏ nhắn, duyên dáng của cảnh vật, vừa tạo được một nhạc điệu thật quyến luyến, vấn vương. Đây có thể được xem là câu thơ hay nhất của Xuân Diệu và của thơ ca lãng mạn Việt Nam. 2. Trước cảnh chiều thu tươi sáng, êm dịu, giao hòa, tình tứ ấy, trong tâm hồn thi sĩ cũng dâng lên nỗi khao khát giao cảm và rung động không kìm được lòng mình với những rung động của tình yêu buổi đầu: "Trời đã thắm, lẽ đâu vườn cứ nhạt? Đắn đo gì cho lỡ mộng sóng đôi!" "Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn Lần đầu rung động nỗi thương yêu." IV. Kết luận Đoạn thơ ta bình giảng, cũng như cả bài "Thơ duyên" viết về chiều thu nhưng rất trong sáng, tươi tắn, không kiêu sa lộng lẫy mà quen thuộc, êm dịu, gợi cảm. Nó cũng khác với những chiều thu buồn vắng, xa xăm, mông lung trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng. Trước cảnh trí hữu tình, trái tim thi nhân đã khơi dậy tình yêu buổi ban đầu, một tình yêu còn e ấp, dịu nhẹ thể hiện sự khát khao hòa hợp, sóng đôi trong tâm tưởng nhịp nhàng với khung cảnh chiều thu rất "duyên", rất mộng.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1434
|
|
|
|
Đáp án - Hướng dẫn làm bài
I. Nêu ngắn gọn về tác giả, bài thơ, đoạn trích 1. Xuân Diệu, tên thật là Ngô Xuân Diệu (1916 - 1985) là "nhà thơ mới nhất" . .. "nhà thơ say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt . . ." (Hoài Thanh). Thơ ông có nhiều cách tân táo bạo và đã thành công rất vẻ vang. Trước Cách mạng, ông có hai tập thơ "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió" rất nổi tiếng, được độc giả yêu thích. 2. Bài thơ "Vội vàng" rút từ tập "Thơ thơ" (1938). Đây là bài thơ rất tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Diệu trước Cách mạng. Cả bài thơ là tiếng nói của một tâm hồn yêu thơ, yêu cuộc sống đến hăm hở, vồ vập, đắm say và cuồng nhiệt. Nhà thơ nhạn thấy cuộc đời nơi trần thế này tuyệt đẹp mà đời người lại quá ngắn ngủi só với thời gian vĩnh hằng. Vì vậy, phải chạy đua với thời gian để mỡi giây phút của cuộc sống đều trở nên có ý nghĩa. Đoạn trích trên đây nằm ở giữa bài thơ và cũng là một trong những đoạn tiêu biểu cho chủ đề bài thơ. II. Phân tích đoạn thơ 1. Hai câu thơ đầu diễn tả thời gian trôi chảy rất nhanh, theo quy luật nghiệt ngã của vũ trụ không thể nào có thể líu kéo được, nhất là ngày xuân, tuổi xuân thấm thoắt như bóng cây qua cửa sổ. 2. Sáu câu thơ tiếp :Xuân Diệu nhận thức được một sự thật phũ phàng: thiên nhiên vũ trụ vô hạn, tồn tại vĩnh cửu, trong khi dó cuộc sống của con người thì ngắn ngủi, hữu hạn. Vì vậy, thi sĩ cảm thấy lo lắng, băn khoăn đến mức trở thành một nỗi hốt hoảng chạy đua với thời gian. Nội dung cơ bản của tám câu thơ trên tuy được phân thành hai ý nhỏ nhưng đều tập trung làm nổi rõ một nghịch lí trớ trêu, éo le giữa cái quy luật nghiệt ngã cảu thời gian chảy trôi, nhanh chóng, không có gì có thể cưỡng được với khát vọng hưởng thụ cuộc sống hạnh phúc giữa mùa xuân và tuổi trẻ của thi nhân. Cái nghịch lí ấy được tô đậm bằng những cặp từ ngữ, hình ảnh tương phản: "đương tới >< "đương qua"; "còn non" >< "sẽ già"; "lòng tôi rộng >< "lưới trời cứ chật" . .. và cái cấu trúc sonh hành "xuân hết // "cũng mất". 3. Ba câu cuối: Sự nuối tiếc đối với cuộc đời, đất trời của Xuân Diệu đã giúp cho nhà thơ đặc biệt nhạy cảm với thời gian: "Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt" Là "nhà thơ mới nhất", Xuân Diệu đã tiếp thu và vận dụng tài tình "phép tương giao" các giác quan của lối tượng trưng Pháp. Vì thế, Xuân Diệu đã "ngửi" được mùi vị thời gian, "nhìn" được giọt lệ chia phôi và "nếm" cái vị chia lìa, "nghe" được lời than thầm tiễn biệt âm vang khắp sông núi . . . 4. Tất cả những điều đã phân tích cho ta thấy rõ: Xuân Diệu hơn ai hết đã có ý thức khẳng định cái tôi cá nhân của mình. Qua đoạn thơ, người đọc cũng cảm nhận được một nét đặc sắc cảu hồn thơ Xuân Diệu "say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong nắng, rung động với bướm chim, chất trong tim mây trời thanh sắc . . ." (Thế Lữ).
|
|