|
|
giải đáp
|
Bài 1531
|
|
|
|
A. Mở bài - Giới thiệu chung về Truyện Kiều - Giới thiệu về giá trị của đoạn trích: đoạn thơ tiêu biểu cho nghệ thuật tả người. B. Thân bài - Tài tình của Nguyễn Du là khi ông tả người, tả bề ngoài con người nhưng chính là ông đã dự báo về số phận mai sau của họ. - Ông bắt đầu từ cái rất chung, giới thiệu những nét chung nhất về họ. "Đầu lòng . . . Thúy Vân". => Cả hau chị em đều đẹp, cái đẹp trọn vẹn của vẻ đẹp theo lí tưởng của xã hội và thời đại, đó là vẻ đẹp tron vẹn nhưng mỗi người một vẻ. Tả Thúy Vân: (4 câu) - Vân mang một vẻ đẹp "trang trọng khác vời" tạo cho người đọc ấn tượng về một vẻ đẹp quý phái. - Với những từ "trang trọng, đầy đặn, nở nang, mây thua, tuyết nhường "tạo tình cảm trân trọng, yêu mến, độ lượng, đó là vẻ đẹp dễ dàng được xã hội công nhận và dung anjp. Điều đó như dự báo, sắp đặt cho một cuộc đời yên ổn, không có bão tố. Tả Thúy Kiều: (12 câu) - Kiều vó những gì Thúy Vân có nhưng ở mức sắc sảo hơn, mặn mà hơn, khi Kiều xuất hiện, đến hoa kia, liễu nọ cũng phải ghen hờn. - Tả Kiều, Nguyễn Du không liệt kê chi tiết như khi tả Thúy Vân mà chỉ tập chungnhieefu ở đôi mắt - cửa sổ tâm hồn. Từ cửa sổ tâm hồn ấy: "Tinh anh phát tiết ra ngoài; ngàn thu bạc mệnh một đời tài hoa". - Kiều còn có vẻ đẹp của tài năng, nó đạt đến mức toàn diện, chuẩn mực của bậc tài hoa theo quan niệm thẩm mĩ của xã hội phong kiến, giỏi cả "cầm, kì, thi, họa". Đặc biệt là tài đàn. - Nhan sắc ở Kiều độc đáo, kì lạ vượt lên trên sự bình thường. Đó là loại nhan sắc hiếm có trên đời, thường được tôn sùng và cũng thường bị đố kị lúc nào cũng gây sóng gió ra cho mình. - Tài của Kiều là cái tài toàn diện: cầm, kì, thi, họa mà tài nào cũng ở mức tuyệt đỉnh, trọn vẹn. Sắc đã hiếm có, tài lại hiếm có hơn. Thúy Kiều đúng là người hiếm có ở đời. - Ở Kiều là sự kết hợp giữa tài - sắc - tình - mệnh. Từ bức chân dung ấy, người ta có thể cảm nhận được kiếp đời chẳng mấy êm đềm của nàng. Vì như Nguyễn Du đã khéo léo mượn hai hình tượng đẹp nhất của thiên nhiên là hoa và liễu đặt bên đời Thúy Kiều với tình cảm hờn ghen. Tạo hóa teeu ngươi để đưa Thúy Kiều vèo những trái ngang đau khổ. c. Kết bài: - Đoạn thơ tiêu biểu cho nghệ thuật tả người của nguyễn Du: bút pháp miêu tả giàu sắc thái cổ điển và nghệ thuật ước lệ quen thuộc trong văn chương trung đại. - Đoạn thơ giàu chất nhân văn, thể hiện tấm lòng của nahf thơ luôn đề cao, trân trọng vẻ đẹp của con người.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1530
|
|
|
|
A. Mở bài - Là nhà thơ xuất sắc của văn học trung đại cuối thế kỉ XVIII, các tác phẩm của ông lên án xã hội bất công đương thời, đòi quyền sống cho con người, đặc biệt là người phụ nữ. - Truyện Kiều là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Du - đỉnh cao chói lọi của thi ca Việt Nam. B. Thân bài * Giới thiệu về tác giả - Tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Thiên (1765 - 1820), quê ở xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. - Ông sinh ra trong một gia đình quý tộc có nhiều đời làm quan và có truyền thống văn học, cha ông là Nguyễn Nghiễm làm đến chức tể tướng. Bản thân ông cũng chỉ đậu tam trường và làm quan dưới triều Lê và Nguyễn. - Có cuộc đời từng chải, từng chạy vào Nam theo Nguyễn Ánh, bị bắt giam rồi được thả. Khi làm quan dưới chiều Nguyễn được cử đi làm chánh sữ ở Trung Quốc hai lần ,nhưng lần thứ hai chưa kịp đi thì bị bệnh mất tại Huế. - Là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hóa dân tộc và văn chương Trung Quốc. - Cuộc đời từng chải, đi nhiều, tiếp xuscnhieefu đã tạo cho Nguyễn Du một vốn sống phong phú và niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. - Nguyễn Du là một thiên tài văn học, là đại thi hào dân tộc, là danh nhân văn hóa thế giới và là một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. Tác phẩm tiêu biểu: Tác phẩm chữ Hán: Thanh niên thi tập, Bắc hành tạp luc, Nam trung tập ngâm. Tác phẩm chữ Nôm: Truyện Kiều, Văn chiêu hồn, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu . . . *Về tác phẩm: - Xuất sứ: Ra đời đâu thế kỉ XIX (khoảng từ 1805 - 1809), lúc đầu có tên là Đoạn trường tân thanh" (Tiếng kêu đứt ruột), sau này đổi thành Truyện Kiều. Tác phẩm viết dựa trên cuốn tiểu thuyết "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng đã có sự sáng tạo tài tình. - Thể loại: Truyện thơ Nôm được viết bằng thơ lục bát, dài 3254 câu, chia ra làm 3 phần (Gặp gỡ và đính ước, Gia biến và lưu lạc, Đoàn tụ). - Đề tài: Viết về cuộc đời Kiều nhưng thông qua đó tố cáo xã hội phong kiến lúc bấy giờ chà đạp, xô đảy người phụ nữ vào bước đường cùng; đồng thời ca ngợi vẻ đẹp của Thúy Kiều và người phụ nữ. Tác phẩm còn thể hiện rất rõ hiện thực cuộc sống đương thời với con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ tới muôn đời" của nhà văn. * Giá trị nội dung: + Giá trị hiện thực - Phản ánh hiện thực xã hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của giai cấp thống trị - Sức mạnh của đồng tiền và số phận của những con người bị áp bức, nạn nhân của đồng tiền, đặc biệt là người phụ nữ. + Giá trị nhân đạo: - Thể hiện niềm thương cảm sâu sắc trước những đau khổ của con người đặc biệt là người phụ nữ. - Lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo đã chà đạp lên quyến sống của con người. Đề cao tự do và công lí - Trân trọng đề cao con người từ ngoại hình, phẩm chất, tài năng khát vọng đến ước mơ và tình yêu chân chinh. * Gía trị nghệ thuật: - Ngôn ngữ: Truyện Kiều là một kiết tác nghệ thuật, với bút pháp của một nghệ sĩ thiên tài, tiếng việt trong Truyện Kiều đã đạt đến độ giàu và đẹp. - Nghệ thuật tự sự: Thành công của Truyện Kiều trên tất cả các phương diện: ngôn ngữ kể truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật miêu tả - tả cảnh ngụ tình. C. Kết luận - Nguyễn Du và Truyện Kiều sẽ sống mãi với dân tộc và trở thành linh hồn của dân tộc.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1529
|
|
|
|
Câu 1 . (2 điểm) Yêu cầu của câu hỏi gồm hai phần: 1.1. Lí thuyết: (1 điểm) - Trong văn bản tự sự có hai hình thức kể chuyện theo ngôi: + Ngôi thứ nhất: Người kể xưng "tôi", tham gia hoặc chứng kiến câu chuyện (0,25 điểm) + Ngôi thứ 3: Người kể giấu mình, nhưng có mặt khắp nơi trong văn bản, dường như biết hết mọi việc, mọi nhân vật. - Vai trò của người kể chuyện là dẫn dắt người đọc đi vào câu chuyện: Giới thiệu nhân vật và tình huống, tả người và tả cảnh vật, đưa ra các nhận xét, đánh giá về những điều được kể. (0,5 điểm) 1.2. Vận dụng: (1 điểm) - Xác định loại ngôi kể yêu thích - Phân tích ngắn gọn một ngôi kể trng tác phẩm tự sự. (Chú ý: Nhấn mạnh lí do ngôi kể, ý nghĩa và vai trò của ngôi kể ấy đối với giá trị của tác phẩm). (0,75 điểm) Câu 2 . (2 điểm) Yêu cầu của câu hỏi gồm hai phần: 2.1. Hình thức: (0,5 điểm) Văn bản nghị luận có lí lẽ và dẫn chứng; dài không quá một trang giấy thi 2.2 Nội dung (1,5 điểm) * Phân tích giá trị tình huống bé Xi - mông hỏi bác Phi- líp: "Bác có muốn làm bố cháu không?:.(1 điểm) - Đây là tình tiết mang giá trị bước ngoặt đối với atsc phẩm . . . (0,25 điểm) -Đây cũng là tình tiết góp phần thúc đẩy sự bộc lộ của các nhân vật: + Sự khát khao có một người bố của Xi - Mông + Sự "hổ thẹn", lặng ngắt", "quằn qoại" thể hiện nhân phẩm tốt đẹp của chị Blăng - sốt. + Sự chuyển biến trong suy nghĩ và tình cảm của bác Phi - líp (0,25 điểm) - Lí giải tên tác phẩm (0,5 điểm) - "Bố của Xi - Mông" gắn với khát vọng được yêu thương của nhân vật Xi - Mông (0,25 điểm) - "Bố của Xi - Mông" cũng gắn với vai trò, ý nghĩa của nhân vật bác Phi - líp người mang thông điệp của tác giả Guy đơ Mô - pa - xăng về lòng nhân đạo và ứng xử đầy tình yêu thương giữa con người với con người .(0,25 điểm) Câu 3: (6 điểm) I. Yêu cầu về kĩ năng - Bài viết đủ ba phần: Mở - Thân - Kết. - Nắm kĩ năng làm bài nghị luận văn học: suy nghĩ về một nhận định cảm nhận về một bài thơ. - Bố cục chặt chẽ, lí lẽ thuyết phục, cảm nhận chân thành, diễn đạt trôi chảy, bài sạch, chữ rõ. II. Yêu cầu kiến thức Đề bài có hai yêu cầu: 1. Trình bày về suy nghĩ, nhận định - Đây là một cách hiểu về thơ hay: Thơ hay là thơ tạo được ấn tượng ngay từ khâu đọc văn bản. Và càng đọc đi đọc lại càng thấy bài thơ thực sự hay. - Tác động của bài thơ hay đối với người đọc, làm cho người đọc nghĩ suy, trăn trở. - Đối với bài thơ nói chung, bài thơ hay nói riêng, người đọc phải đem cả tâm hồn ra đọc bài thơ, đọc cho đến lúc nào bài thơ tự phát sáng, làm rung lên mọi cung bậc trong tâm hồn người đọc. 2. Trình bày cảm nhận về một bài thơ hay: - Bài thơ được chọn thuộc chương trình Ngữ Văn lớp 8 hoặc lớp 9, phần Văn học Việt Nam (không giới hạn gia đoạn ) - Bài thơ thực sự là một tác phẩm văn chương có giá trị ( về nội dung và nghệ thuật) - Người viết cần trình abfy được cảm nhận ở cả hai phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm. - Phần cảm nhận ở cả hai phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm. III. Biểu điểm - Điểm 6: Nội dung bài làm đáp ứng đượpc đầy đủ các yêu cầu, tỏ ra nắm chắc vấn đề, giải thích thuyết phục, có nhiều cảm nhận tinh tế, phát hiện sâu sắc, tình cảm chân thành. Văn phong tốt. - Điểm 4: Bài làm tỏ ra nắm được yêu vầu đề về nội dung và định hướng, giải quyết khá tuhuyeet phục hai yêu cầu. Tuy nhiên, các ý có thể chưa thật toàn diện và mạch lạc. Văn phong khá tốt, cảm xúc chân thành. - Điểm 2: Bài tỏ ra chứ thật hiểu về nội dung , giải thsich chưa đạt, trình bày cảm nhận còn sơ sài, thiếu cứ liệu, ý chưa thật hợp lí. Văn lủng củng. - Điểm 1: Bài sa vào diễn xuôi thơ, thiếu giải thích xác đáng.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1528
|
|
|
|
1. Văn - Tiếng Việt Câu 1: Phân tích nghĩa câu (2 điểm) Hôm nay, trời lại mưa. a. Nghĩa miêu tả (1 điểm) Trời mưa (một hiện tượng thiên nhiên) Trời mưa vào ngày hôm nay (thời gian xuất hiện mưa). b. Nghĩa tình thái (0,5 điểm) Thông qua từ "lại" ngoài nghĩa miêu tả còn có nghĩa tình thái sau: Những hôm trước trời đã mưa, hôm nay, trời lại mưa. Người nói thể hiện trạng thái tâm lí không muốn hoặc chán chường trước cơn mưa kéo dài ngày này qua ngày khác. c. Muốn hiểu đúng nghĩa của câu: Phải hiểu cả nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái xuất hiện trong câu. Ở đây nghĩa tình thái là chủ yếu thể hiện mục đích của người nói. (0,5 điểm) Câu 2. (2 điểm) Cụm từ "ta với ta" trong bài "Qua đèo Ngang" chỉ một đối tượng: Một mình tác giả (0,5 điểm), diễn tả tâm trạng cô đơn của nhà thơ. (0,5 điểm) Cụm từ "ta với ta" trong bài "Bạn đến chơi nhà" chỉ hai đối tượng, cách xưng hô thân tình (0,5 điểm), diễn tả sự cảm thông, đồng cảm của nhà thơ với khách - một tình bạn tri âm.(0,5 điểm) II. Làm văn (6 điểm) Yêu cầu chung: - Có kiến thức lí luận văn học về một trong những đặc điểm nội dung cơ bản của các tác phẩm văn học là hình tượng nghệ thuật. - Phân tích được cảm xúc của tác giả qua bài thơ để làm rõ vấn đề lí luận văn học trên - Bố cục chặt chẽ, diễn đạt trôi chảy. Yêu cầu cụ thể: Học sinh hiểu và phân tích được hai "lẽ sống" của hai nhà thơ. Sau đây là một ý cơ bản ở từng phần. Hiểu và phân tích được ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ. Cảm nhận được những cảm xúc của Tố Hữu trước mùa xuân của thiên nhiên đất nước và khát vọng đẹp đẽ muốn dâng hiến cho cuộc đời. Hiểu hoàn cảnh sáng tác, thấu hiểu và trân trọng tình cảm, tư tưởng của tác giả. Cảm nhận của tác giả trước mùa xuân của thiên nhiên đất nước và khát vọng đẹp đẽ muốn làm một mùa xuân nho nhỏ dân hiến cho cuộc đời. Từ đó mở ra những suy nghĩ về ý nghĩa, giá trị cuộc sống, của mỗi cá nhân là sống có ích, có những công hiến cho cuộc đời chung. Bài thơ nói lên về vấn đề lẽ sống, ý nghĩa của cuộc đời mỗi con người bằng những điều tâm niệm chân thành, thiết tha, bằng giọng nhỏ nhẹ. Mạch cảm xúc và tư tưởng của bài thơ là từ xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời đến mùa xuân của mỗi con người trong mùa xuân lớn của đất nước, thể hiện khát vọng được dâng hiến "mùa xuân nho nhỏ" của mình vào "mùa xuân lớn" của cuộc đời chung. Có kiến thức cảm thụ, phân tích hình ảnh thơ trong mạch vận động của tứ thơ. Biểu điểm: - Điểm 6: Bài làm đáp ứng được đủ các nội dung trên. Nắm chắc yêu cầu, phân tích sâu sắc, dãn chứng chính xác, phong phú. Bố cục hợp lí, diễn đạt tốt. - Điểm 4: Hiểu yêu cầu đề, trình bày được 2/3 ý kiến. Phân tích có trọng âm. Dẫn chứng có thể chưa thật đầy đủ song chọn lọc, tiêu biểu. Bố cục rõ ràng, diễn đạt khá, có sáng tạo. - Điểm 3: Trình bày được một nửa số ý theo yêu cầu. Tỏ ra có hiểu nội dung vấn đề, chọn được các dẫn chứng cơ bản, phân tích chưa sâu nhưng đung hướng. Bố cục và diễn đạt được. - Điểm 2: Bài còn sơ lược, chưa hiểu đúng vấn đề, chỉ nêu mà chưa phân tích, còn xa vào diễn xuôi ý. Diễn đạt lủng củng. - Điểm 1: Bài ljac đề, không rõ bố cục, diễn đạt không hệ thống. Lưu ý: Đáp án biểu điểm chỉ là gợi ý, các giám khảo cần trao đổi thống nhất cách đánh giá, cho điểm. Điểm toàn bài cộng lại lấy điểm lẻ đến (0,5 điểm)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1527
|
|
|
|
A - Yêu cầu chung. Sở yêu cầu các ông, bà ban giám khảo Hội đồng thi cần lưu ý những điểm sau: bài làm của học sinh trong tương lai quan nội dung và hình thức. Chấm kĩ lưỡng và cẩn thận. 2. Tuyệt đối không được hạ thấp yêu cầu của biểu điểm khi chưa có sự chỉ đạo thống nhất của Sở. Khuyến khích cho điểm cao những bài sáng tạo, cảm thụ và diễn đạt tinh tế, giàu chất văn. Những bài diễn đạt quá kém dứt khoát không cho điểm tới trung bình. 3. Hướng dẫn chấm chỉ nêu những điểm cơ bản. Giám khảo cần nghiên cứu, vận dụng chính xác khi chấm bài. Ở phần tiêu chuẩn cho điểm, bản hướng dẫn chấm chỉ nêu một số mức điểm, giám khảo cân nhắc từng trường hợp cụ thể để cho chính xác những mức điểm còn lại. Bài thi chấm theo thang điểm 10 bậc. Giám khảo cho điểm từng câu, sau đó xem xét tương quan giữa các câu cho điểm toàn bài. Tổng điểm bài thi làm tròn số tới 0,25 điểm. B. Yêu cầu cụ thể. Câu 1. (2 điểm) 1.1. Phân tích sự tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại của Hồ Chí Minh: Để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã: - Đi qua nhiều nơi với nhiều nền văn hóa các nước Phương Đông và Phương Tây. Tìm hiểu sâu về nền văn hóa các nước Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, Châu Mĩ. (0,25 điểm0 - Học tập ngôn ngữ nước ngoài , nói và viết thạo thứ tiếng ngoại quốc như Pháp Anh, Hoa, Nga, bác đã làm nhiều nghề, ở nhiều nước. Qua công việc, qua lao động mà học hỏi, tìm hiểu văn hóa, nghệ thuật các dân tộc đén mức khá uyên thâm. (0,25 điểm) - Trên nền tảng văn hóa dân tộc, Bác đã tiếp thu một cách có chọn lọc tinh hoa văn hóa nước ngoài, không chịu ảnh hưởn một cách thụ động. Học tập mọi cái hay, cái đẹp đồng thời việc phê phán mọi hạn chế, tiêu cực. Tất cả những ảnh hưởng quốc tế, đã được Bác nhào nặn với cái gốc văn hóa dân tộc để trở thành một cách sống rất Việt Nam, rất Phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại. (0,25 điểm) - Nét nổi bật của phong cách Hồ Chí Minh là vẻ đẹp văn hóa với sự kết hợp hài hòa giữa tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. (0,25 điểm) 1.2 Nội dung cơ bản về chủ đề người phụ nữ qua Chuyện người con gái Nam Xương và các trích đoạn Truyện Kiều. Bài viết cần nêu rõ nội dung sau: Vẻ đẹp người phụ nữ: - Vẻ đẹp về tâm hồn và phẩm chất: hiếu thảo, thủy chung, khát vọng tự do, công lí chính nghĩa (chứng minh bằng nhân vật Vũ Nương và Thúy Kiều).(0,25 điểm). - Vẻ đẹp về nhan sắc và tài năng ((chứng minh bằng 2 nhân vật chị em Thúy Kiều). (0,25 điểm) Số phận bi kịch của người phụ nữ: - Bi kịch về mối oan khuất, đau khổ, hạnh phúc gia đình tan vỡ (chứng minh bằng Chuyện người con gái Nam Xương) .(0,25 điểm). - Bi kịch điển hình của người phụ nữ: bi kịch tình yêu tan vỡ (mối tình Kim - Kiều) và bi kịch nhân phẩm bị chà đạp (chứng minh bằng Mã Giám Sinh mua Kiều, Kiều ở lầu Ngưng Bích). (0,25 điểm) Câu 2. (2 điểm) 2.1 Chỉ ra thành ngữ và phân tích cách vận dụng sáng tạo các thành ngữ: - Chỉ ra được hai thành ngữ dưới đây: (0,25 điểm) - Thành ngữ: Nghĩa bể tình sông - Thành ngữ: Khổ tận cam lai - Vận dụng sáng tạo các -thành ngữ. Tác giả đan xen các yếu tố ngôn ngữ và thành ngữ ngằm nhấn mạnh ý thơ và tạo vần điệu cho câu thơ.(0,25 điểm) 2.2 Giải thích các câu thành ngữ dưới đâu và cho biết thành ngữ này liên quan đến phương châm hội thoại nào ? - Giải thích đúng hai thành ngữ và nêu đúng phương châm hội thoại liên quan cho (0,25 điểm) - a. Ăn đơm nói đặt: Vu khống đặt điều, bịa chuyện cho người khác. - b. Ăn ốc nói mò. Nói không căn cứ. - c. Cãi chày cãi cối: Cố tranh cãi nhưng không hề có lí lẽ nào cả - d. Hứa hươu hứa vượn. Hứa để được lòng rồi không thực hiện lời hứa. - e. Ông nói gà bà nói vịt: Không nói đùng đề tài gaio tiếp, nói lạc đề (không tuân thủ phương châm quan hệ). - g. Dây cà ra dây muống: Nói mơ hồn, không ngắn gọn, rành mạch (không tuân thủ phương châm cách thức). - h. Khua môi múa mép: Nói năng ba hoa, khoắc lác, phô trương. - i. Nói dơi nói chuột: Nói lăng nhăng, linh tinh, không chính xác. 2.3 Xác định nghĩa từ thân Từ Thân (thân lươn) được dùng theo nghĩa chuyển. Nội dung: Tú Bà thuê Sở Khanh dụ Kiều bỏ trốn, sau đó bắt Kiều về đánh đập hành hạ dã man "Dang tay dập liễu, vùi hao tơi bời" với mục đích ép Kiều phải phục tùng phục vụ khách làng chơi trong lầu xanh của mình. Không chịu đựng được những trận đòn "Uốn lưng thịt đổ, ngẩng đầu máu sa" Kiều phải chấp nhận tiếp khách. Nàng đau đớn thốt lên: Thân lươn bao quản lấm đầu! Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa", Câu thơ biểu cảm nỗi đau tột cùng của thân phận người con gái chỉ còn lại một chút lòng trinh bạch cũng không giữ nổi. (0,25 điểm) Từ Thân (biết thân) được dùng theo nghĩa chính. Nội dung: Thúy Kiều rơi vào tay Bạc Hà "Nào ngờ cũng tổ bợm già! Bạc Hà học với Tú Bà đồng môn". Bạc Hà lừa gả Kiều cho cháu là Bạc Hạnh nhưng thực chát là bán Kiều vào nahf chứa Châu Thai. Kiều rời vào lầu xanh lần thứ hai; Nàng thốt lên tiếng kêu đau khổ, bế tắc bất lực, phó mặc cho số phận, cuộc đời. "Biết thân chạy thẳng khỏi trời! Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh".(0,25 điểm) Câu 3. (6 điểm) Về kĩ năng: biết cách làm kiểu bài nghị luận văn học. Bố cục rõ ràng, diễn đạt tốt, không mắc lỗi chính tả, dùng từ viết câu. Về kiến thức: Trên cơ sở nắm vững các trích đoạn Truyện Kiều đã học, thí sinh cần phân tích làm bật được những thành công về nghệ thuật Nguyễn Du qua các trích đoạn đã đọc. Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải bám sát yêu cầu của đề và nêu bật được những thành công về nghệ thuật của thi hào Nguyễn Du qua các đoạn trích Truyện Kiều đã học, cụ thể là: - Trực tiếp miêu tả thiên nhiên (phân tích, chứng minh qua Chị em Thúy Kiều). - Tả cảnh ngụ tình (phân tích, chứng minh qua Kiều ở lầu Ngưng Bích). Nghệ thuật miêu tả nhân vật: Khắc họa chân dung nhân vật bằng bút pháp ước lệ (phân tích, chứng minh qua Chị em Thúy Kiều). - Khắc họa chân dung nhân vật qua cách miêu tả ngoại hình, ngôn ngữ, cử chỉ, hành động (phân tích, chứng minh qua Mã Giám Sinh mua Kiều). - Miêu tả đời sống nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. (phân tích, chứng minh qua Kiều ở lầu Nngưng Bích) - Khắc hạo tính cách nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại (phân tích, chứng minh qua Thúy Kiều báo ân, báo oán). Tiêu chuẩn cho điểm: - Điểm 6: Hiểu đề. Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu nêu trên. Phân tích làm rõ những thành công về nghệ thuật, miêu tả thiên nhiên và miêu tả nhân vật qua các trích đoạn Truyện Kiều đã học. Cảm thụ tinh tế, phân tích sâu sắc, dẫn chứng chính xác, chọn lọc, văn việt có cảm xúc. Nắm chắc phương pháp làm bài. Bố cục rõ ràng, diễn đạt tốt. Có thể còn mắc một vài lỗi nhẹ. - Điểm 4: Hiểu đề. Cơ bản đáp ứng được ý 1 và 2 theo yêu cầu hướng dẫn chấm . . . Nắm đước phương pháp làm bài. Biết bám vào các đoạn trích để phân tích, chứng minh nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và miêu tả nhân vật, tuy chưa sâu sắc và đầy đủ. Bài làm luận, dẫn chứng phù hợp, bố cục khá rõ ràng, diễn đạt được ý, tuy văn viết chưa gọn. Còn sai sót một số lỗi chính tả, dùng từ, viết câu, tuy không trầm trọng. - Điểm 2: Tỏ ra hiểu đề, chứa nắm chắc được phương pháp làm bài. Bài viết có đề cập đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và miêu tả nhân vật nhưng còn hời hợt. Kiến thức còn nghèo, thiếu chính xác. Chứa bám vào các đoạn trích để phân tích. Bố cục chưa õ ràng, điểm đạt yếu, sai nhiều lỗi chính tả, dùng từ, viết câu. - Điểm 1: Sai hoàn toàn về nội dung lẫn phương pháp làm bài.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1526
|
|
|
|
Câu 1: (2 điểm) a. Yêu cầu nêu được nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ "Xuân" và cách cho điểm như sau: - Từ "xuân" ở một câu a1 là nghĩa gốc: 0,25 điểm. Nghĩa của từ xuân ở câu trên là mùa xuân :0,25 điểm. - Từ "xuân" ở một câu a2 là nghĩa chuyển: 0,25 điểm. Nghĩa của từ xuân ở đây là chỉ về tuổi trẻ: (tuổi xuân) :0,25 điểm. b. Học sinh nêu được: - Các tổ hợp từ đều là thành ngữ: 0,5 điểm. - Nghĩa của từ ngữ "Nước mắt cá sấu" là muốn nói đến giọt nước mắt của những kẻ tỏ ra sự cảm thông, thương xót nhưng giả dối để đánh lừa người khác :0,25 điểm Câu 2: (4 điểm) Về kiến thức: Học sinh cảm nhận đoạn thơ và diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, miễn sao tỏ ra hiểu được nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ. Trong bốn câu thơ, tách ra làm hai phần, cụ thể như sau: a. Hai câu thơ trước: Vừa nói không gian, vừa gợi thời gian. Có thể trình bày theo một trong hai cách (cả hai đều chấp nhận). - Cách 1: Bám sát vào giải thích để làm rõ nội dung. Ngày xuân con én bay đi bay lại như chiếc thoi đưa. "Chiếc thoi đưa" nhằm nói thời gian trôi qua nhanh quá. "Thiều quang" chỉ ánh sáng đẹp, chỉ ánh sáng ngày xuân. Ý câu thơ là chỉ ba tháng mùa xuân có chín mươi ngày (chín chục) mà nay đã qua sáu mươi tuổi rồi, tức là đã hết tháng giêng, và tháng hai, đã bước sang tháng ba. - Cách 2: Không bám vào giải thích thành ngữ, nhưng vẫn nêu được nội dung. Ngày xuân thấm thoắt trôi mau, tiết trời đã chuyển xang tháng ba tháng cuối mùa xuân. Những con chim én bay liệng như thoi dệt cửi chao qua đảo lại giữa bầu trời trong sáng. Ngoài việc tả cảnh ý thơ còn ngụ ý tiếc ngày xuân đi qua nhanh qua. b. Hai câu sau: Một màu cỏ non trải rộng mênh mông đến tận chân trời, trên cái nền màu xanh của mùa xuân ấy, điểm vài bông hoa lê trắng, làm cho cảnh vật không đơn điệu, nhưng trở nên thoáng nhẹ và hìa hòa, gợi nên một vẻ đẹp riêng của mùa xuân thanh thiết, khoát đạt. Chỉ bốn câu thơ, chi tiết không nhiều, chấm phá đôi nét, khá chọn lọc. Có chim én bay, một vài bông hoa trắng, nền cỏ xanh, nhưng đã vẽ nên được cái hồn của bức tranh mênh mông, đầy sức sống. Về kĩ năng: - Bố cục bài viết rõ ràng, trình bày vấn đề mạch lạc. - Văn viết trôi chảy, lập luận chặt chẽ, sắc sảo. - Ít mắc lỗi chính tả và diễn đạt. Cho điểm: Điểm 4: + Bài làm nêu được yêu cầu ở đáp án. + Nếu xuất xứ đoạn thơ, cảm nhận tinh tế. Văn trong sáng, có hình ảnh. + Ít mắc lỗi chính tả và diễn đạt. Điểm 2: - Hiểu được nội dung ý nghĩa đoạn thơ còn sơ sài, nhưng sai sót về kiến thức không nghiêm trọng. + Văn viết tương đối rõ ý. + Mắc khoảng 4 - 5 lỗi chính tả và diễn đạt thông thường. Điểm 1: + Nhìn chung, bài viết tuy có đề cập tới đoạn thơ. Văn viết lủng củng, đôi câu không rõ nghĩa, bố cục không rõ ràng. Chứ viết cẩu thả. + Mắc nhiều lỗi chính tả và lỗi diễn đạt thông thường. Điểm 0" + Làm bài hoàn toàn lạc đề + Hoặc chỉ viết đôi ba câu nhập đề. Câu 3 (4 điểm) Về kiến thức: Đây là loại đề thuyết minh kết hợp với miêu tả là chính. Con đường đến trường với học sinh là hình ảnh quá quen thuộc, nhưng học sinh cư trú trên những địa bàn hoàn toàn không giống nhau (Thành phố, nông thôn, miền núi, miền biển . . .). Vì thế học sinh giới thiệu con đường đến trường rừng dài hun hút, vv . . . Nhưng dù ở góc độ nào học sinh cũng phải làm rõ được trong bài viết. 1. Hình dạng con đường và cảnh vật chung quanh (có thể con đường là một hẻm phố hai bên tường nhà sin sít với nhau, hoặc con đường đất ngang qua đồng lúa, ngoằn nghòe xuyên qua cánh rừng, lên dốc xuống đồi, . .. vv). 2. Những ấn tượng ngày tháng với những kỉ niệm nắng mưa, sớm chiều, bạn bè . . . Về kĩ năng: - Bố cục bài viết rõ ràng, trình bày vấn đề mạch lạc. - Văn viết trôi chảy, lập luận chặt chẽ, sắc sảo. - Ít mắc lỗi chính tả và diễn đạt. Cho điểm: Điểm 4: + Bài làm nêu được yêu cầu ở đáp án. + Biết làm bài kiểu thuyết minh kết hợp với miêu tả.tỏ rõ quan sát, tinh tế. + Văn trong sáng, có hình ảnh. + Ít mắc lỗi chính tả và diễn đạt. Điểm 2: + Thuyết minh miêu tả còn sơ sài. Óc quan sát tỏ ra hời hợt. Hoàn toàn chưa đề cập đến nội dung về "ấn tượng tháng ngày với những kỉ niệm nắng mưa, sớm chiều, bè bạn hoặc ngược lại. + Văn viết tương đối rõ ý. + Mắc khoảng 4 -5 lỗi diễn đạt và chính tả thông thường. Điểm 1: + Nhìn chung, bài viết tuy có đề cập tới đoạn thơ. Văn viết lủng củng, đôi câu không rõ nghĩa, bố cục không rõ ràng. Chứ viết cẩu thả. + Mắc nhiều lỗi chính tả và lỗi diễn đạt thông thường. Điểm 0" + Làm bài hoàn toàn lạc đề + Hoặc chỉ viết đôi ba câu nhập đề. Lưu ý: Cho cả câu 2 và 3 - Đáp án và biểu điểm đã cân nhắc để đánh giá yêu cầu tuyển sinh, nên giám khảo không được tự ý thay đổi. Nghĩa là giám khảo không được tự ý yêu cầu cao hơn hoặc hạ thấp hơn só với đáp án và biểu điểm. - Bài làm của học sinh không yêu cầu phải viết dài, chỉ yêu cầu căn cứ vào sự chính xác và đầy đủ những nội dung cơ bản ở đáp án để cho điểm. Những bài có nội dung chưa thật đầy đủ theo yêu cầu từng mốc điểm, nhưng văn viết trong sáng, diễn đạt trôi chảy, mạch lạc, dùng từ chính xác, chữ viết sạch đẹp, giám khảo cần xem xét kĩ để cho con điểm hợp lí nhất. Những bài viết đủ ý so với từng mốc điểm, nhưng chữ viết cẩu thả, mắc quá nhiều lỗi chính tả, lỗi diễn đạt, giám khảo cần xem xét cho con điểm ở giới hạn cuối hoặc thấp hơn mốc điểm. Ví dụ: Mốc điểm 4, giới hạn cuối là 3,5 hoặc thấp hơn giới hạn cuối là 3 ,. . . vv - Điểm lẻ của bài làm văn là 0,5. - Khi cộng điểm toàn bài, điểm lẻ không làm tròn số. Ví dụ như 5,25 vẫn giữ nguyên 5,25.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1522
|
|
|
|
A: Hướng dẫn chung 1. Đề bài gồm hai câu: Câu 1: Nghị luận xã hội. Đề bài yêu cầu học sinh bàn luận về một vấn đề gần gũi, quen thuộc với những vấn đề học sinh từng bàn luận trong một số vấn đề từ lớp 8 đến lớp 9, nhưng nâng cao hơn. Thí sinh cần thể hiện hiểu biết, nhận thức về tầm quan trọng của sách đối với mọi người, nhất là với học sinh. Và trong mức độ nào đó, thí sinh nêu lên thực trạng học sinh ít đọc, ít tìm hiểu, ít say mê sách văn học: giải thích nguyên nhân, đưa ra giải pháp nhằm thay đổi thực trạng đó. Câu 2: Nghị luận văn học. Đề bài yêu cầu học sinh "cảm nhận" về "hình ảnh người phụ nữ" trong bài thơ có nhân vật trữ tình là người phụ nữ, cả bài học chính khóa và bài học thêm. Đề bài yêu cầu học sinh không chỉ nắm vững tác phẩm mà còn phải biết tổng hợp, khái quát ra nét chung trong cuộc đời, phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam trong các tác phẩm trên. Đáp án chỉ nêu một số nội dung chính mà bài làm cần có; Biểu đểm cũng có khoảng cách giữa các mức điểm dành cho ban giám khảo quyết định căn cứ vào sự đánh giá chung toàn bài. Tránh đếm ý, đếm lỗi quá máy móc. B. Đáp án và biểu điểm Câu 1. (6 điểm) Yêu cầu chung: a. Tầm quan trọng của sách văn học (đối với mọi người, đối với tuổi trẻ). - Sách văn học là cách gọi chung của các tác phẩm văn chương: Thơ Truyện kí, kịch, lí luận - Phê bình văn học. - Sách văn học không chỉ cung cấp tri thức về văn chương, cuộc đời . . . mà còn có tác dụng bồi đắp tâm hồn, nhân đạo của con người, giáo dục, rèn luyện tình cảm cao đẹp, lí tưởng thẩm mĩ . . . b. Thực trạng bạn đọc trẻ với sách văn học: + Mặt tốt, tích cực + Mặt tiêu cực, chưa tốt c. Giải thích nguyên nhân và đưa ra hướng giải quyết, khắc phục. Yêu cầu về hình thức: - Nắm vững phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội, bố cục bài sáng rõ, lập luận chặt chẽ. - Bài làm sạch sẽ, ít lỗi chính tả, ngữ pháp. Biểu điểm: - Điểm 5 - 6: Đáp ứng các yêu cầu trên, văn viết lưu loát, có hình ảnh. Chấp nhận thiếu một vài ý nhỏ và lối diễn đạt, chính tả. - Điểm 3 -4: Đáp ứng các yêu cầu của đề: Có đủ 2 ý chính (2 và 3), ý chưa thật phong phú, có từ 2 đến 4 lỗi chính tả, ngữ pháp. - Điểm 1 -2 : Làm bài sơ sài, thiếu nhiều ý quan trọng, chưa rõ lập luận, có từ 4 -6 lỗi các loại. Câu 2. (14 điểm) Yêu cầu nội dung: - Nắm vững ba tác phẩm được phân tích: Hoàn cảnh ra đời, nội dung chính, đặc sắc nghệ thuật . . .. - Tập trung làm rõ hình ảnh người phụ nữ trong abfi thơ về các phương diện: Cuộc đời vất vả, lam lũ nhưng giàu tình yêu thương, giàu lòng yêu nước, có tinh thần lạc quan, tin tưởng vào cách mạng, ở tương lai . . . - Từ cảm nhận về những đức tính tốt đẹp, phẩm chất cao quý của nhân vật người phụ nữ trong bài thơ trên nghĩ chung về người phụ nữ Việt nam, thể hiện tình cảm yêu thương, kính trọng, học tập . . . Yêu cầu về hình thức: Nắm vững phương pháp làm bài nghị luân văn hopjc, bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, ít lỗi chính tả, ngữ pháp Biểu điểm: - Điểm 13 - 14: Đáp ứng các yêu cầu trên, văn viết lưu loát, có hình ảnh. Chấp nhận thiếu một vài ý nhỏ và lối diễn đạt, chính tả. - Điểm 11 - 12: Đáp ứng các yêu cầu của đề, đầy đủ các ý lớn, có từ 3 đến 4 lỗi chính tả, ngữ pháp. - Điểm 9 - 10: Diễn đạt trôi chảy, đủ các ý lớn nhưng thiếu nhiều ý nhỏ, bài làm có từ 5 -6 lối. - Điểm 7 -8: Hiểu đề, đáp ứng được nửa yêu cầu đề, văn viết chưa lưu loát, lập luận chưa chặt chẽ, có từ 5 -7 lỗi nhỏ - Điểm 5 -6: Nhìn chung, chưa đạt yêu cầu; không giểu đúng yêu cầu đề, nội dung sơ sài rời rạc, khá nhiều lỗi các loại - Điểm 3 -4 :Bài không đạt yêu cầu, không hiểu đúng đề, nội dung sơ sài, quá nhiều lỗi các loại - Điểm 1- 2: Bài làm yếu, khoogn hiểu đề, diễn đạt kém, không có bố cũ, lặp quá nhiều lỗi, chỉ viết một vài ý, không thành bài văn . . - Điểm 0: Không làm bài.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1521
|
|
|
|
Câu 1: (1 điểm)HS cần giải thích được nhan đề:
- Hoàng Lê nhất thống chí: ghi chép về sự thống nhất vương triều nhà Lê. - Đoạn trường tân thanh: tiếng nói mới đứt ruột Câu 2 (1 điểm) HS cần:
Giải thích được ý nghĩa của thành ngữ vè nêu được phương châm hội thoại liên quan đến thành ngữ đó. Cụ thể là: a. Ông nói gà, bà nói vịt: - Ý nghĩa: mỗi người nói một đằng, nói không khớp nhua, không hiểu nhau. - Phương châm hội thoại liên quan: phương châm quan hệ b. Nói như đấm vào tai: - Ý nghĩa: nói mạnh, trái ý người khác, khó tiếp thu, gây khó chịu cho người khác. - Phương châm hội thoại liên quan: phương châm lịch sự. Câu 3: (3 điểm)
Đề bài yêu cầu HS viết một bài văn nghị luận (không quá một trang giấy thi) về chủ đề quê hương.. Đây là dạng bài nghị luận xã hội (về một vấn đề tư tưởng, đạo lí) với hình thức khá "mở", tạo điều kiện cho HS có thể rính bày ý kiến, cảm nhận của mình xoay quanh chủ đề quê hương (như vai trò của quê hương đối với đời sống con người, tinhd yêu, sự gắn bó với quê hương . . .). Tuy vậy, HS cần đáp ứng được hai yêu cầu chính sau đây: * Về hình thức: Trình bày bài viết đúng với yêu cầu của đề: Văn bản nghị luận có đủ ba phần (mở bài, thân vài và kết bài), và không qua một trang giấy thi. * Về nội dung: HS có thể diễn đạt theo nhiều cách, song cần đảm bảo được một số ý chính sau: - Giải thích khái niệm về quê hương: có thể hiểu khái quát là nơi ta sinh ra, lớn lên, có gia đình, kỉ niệm thời thơ ấu . . . - Vị trí, vai trò của quê hương trong đời sống mỗi con người: + Mỗi con người đều gắn bó với quê hương, mang bản sắc, truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của quê hương. Chính vì thế, tình cảm dành cho quê hương ở mỗi người là tình cảm có tính chất tự nhiên, sâu nặng. + Quê hương luôn bồi đắp cho con người những giá trị tinh thần cao quý (tình làng ngĩa xóm, tình cảm quê hương, gia đình sâu nặng . . .). + Quê hương luôn là điểm tựa vững chắc cho con người trong mọi hoàn cảnh, là nguồn cổ vũ động viên, là đích hướng về của con người. (Lưu ý: HS lấy dẫn chứng trong đời sống, trong văn học để chứng minh)
- Bàn bạc mở rộng: + Phê phán một số người không coi trọng quê hương, không có ý thức xây dựng quê hương, thậm chí còn phản bội quê hương, xứ sở. - Phương hướng, liên hệ + Xây đắp, bảo vệ quê hương, phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương là trách nhiệm, là nghĩa vụ thiêng liêng cảu mỗi con người. + Là HS, ngay từ đầu phải tu dưỡng, tích lũy kiến thức để sau này xây dựng, bảo vệ quê hương. Câu 4: (5 điểm)
HS trên cơ sở cảm nhận về phẩm chất và số phận của nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, khái quát lên phẩm chất và số phận của người phụ nữ dưới xã hội phong kiến. Có thể trình bày cảm nhận, suy nghĩ bằng nhiều cách khác nhau, nhưng cần đáp ứng một số ý chính sau: 1. Giới thiệu sơ lược về tác giả Nguyễn Dữ, tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương và nhân vật Vũ Nương
- Nguyễn Dữ là tác gải nổi tiếng thế kỉ XVI, học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi sống ẩn dật như nhiều tri thức đương thời. - Chuyện người con gái Nam Xương có nguồn gốc từ một truyện dân gian, là một trong 20 truyện của Truyền kì mạn lục - một kiệt tác văn chương cổ, từng được ca ngợi là "thiên cổ tùy bút". - Vũ Nương là nhân vật chính của truyện. Đây là một người phụ nữ có nhan sắc, có đức hạnh nhưng phải chịu một số phận bi thảm. 2. Trình bày cảm nhận về phẩm chất và số phận của nhân vật Vũ Nương a. Là người có phẩm chất tốt đẹp - Ngay từ đầu đã được giới thiệu "tình đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp". - Là vợ đảm đang, giữ gìn khuôn phép, một lòng một dạ chung thủy với chồng ( thể hiện trong những cử chỉ khéo léo để gia đình không lâm vào cảnh thất hòa, dù người chồng tính đa nghi ; trong lời dặn dò ân tình, đằm thắm khi tiễn đưa chồng đi lính; chung thủy chờ chồng "cách biệt ba năm giữ gìn một tiết"). - Là một người mẹ hiền, dâu thảo: vừa một mình nuôi dạy con thơ vừa làm tròn bổn phận một nàng dâu (chăm soc, thuốc thang khi mẹ chồng đau ốm, ma chay chu tất khi bà qua đời) b. Là người có số phận bất hạnh
- Nạn nhân của chế độ nam quyền, của cuộc chiến tranh phong kiến, phi nghĩa: cuộc hôn nhân của nàng không xuất phát từ tình yêu; phải đằng đẵng chờ chồng khi chồng đi chiến trận. - Bị chồng nghi ngờ lòng chung thủy chỉ vì lời nói ngây thơ của con trẻ (chú ý các lời thoại của Vũ Nương: cố phân trần với chồng, biện bạch cho mình mà không được, đau khổ tuyệt vọng khi bị chồng mắng nhiếc, đánh đuổi đi, bị dồn vào bước đường cùng: phải tự vẫn ở bến Hoàng Giang để bảo toàn danh dự). - Đoạn kết của truyện tuy mang màu sắc cổ tích (kết thúc có hậu) nhưng vẫn không làm mờ đi bi kịch của Vũ Nương: nàng không thể trở về dương thế sống bên cạnh chồng con được nữa. c. Từ nhân vật Vũ Nương khái quát lên phẩm chất và số phận người phụ nữ dưới xã hội phong kiến:
- Nguyễn Dữ đã đặt nhân vật Vũ Nương vào nhiều hoàn cảnh khác nhai để làm bật lê phẩm chất và cả sự bất hạnh của nàng. Cách dẫ dắt tình tiết sinh động, hấp dẫn đan xen các yếu tố kì ảo với những yếu tố thực khiến cho nhân vật vừa mang những đặc điểm nhân vật của thể loại truyền kì vừa gắn bó với cuộc đời thực. - Vũ Nương là người phụ nữ mang vẻ đẹp mẫu mực của người phụ nữ dưới xã hội phong kiến xưa kia. Lẽ ra nàng phải được hạnh phúc trọn vẹn nhưng lại phải chết oan uổng, đau đớn. Phẩm chất và số phận bi thảm của nàng gợi phẩm chất tốt đẹp và số phận bi thảm của người phụ nẽ xã hội phong kiến xưa kia. - Qua nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ cất lên tiếng nói thương cảm, bênh vực người phụ nữ đồng thời phản ánh, tố cáo xã hội phong kiến bát công, vô nhân đạo
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1519
|
|
|
|
Câu 1: (8 điểm) Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, tuy nhiên cần đảm bảo các yêu cầu sau: 1. Giải thích câu nói - Thế kỉ mới: đặt trong bài Chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới của tác giả Vũ Khoan, đây là nhóm từ chỉ thế kỉ XXI, thế kỉ của khoa học công nghệ, của sự hội nhập toàn cầu . . . - Nếp nghĩ sùng ngoại hoặc bài ngoại: chỉ thái độ coi trọng, tôn trọng quá mức (sùng), bác bỏ, tẩy chay, chê bai (bài) các yếu tố bên ngoài (ngoại). Đặt trong văn cảnh, có thể hiểu "ngoại" là các yếu tố nước ngoiaf. - Nội dung câu nói: khẳng định cả hai thái độ (sùng ngoại, bài ngoại) đều không thể chấp nhận được, vì nó cản trở sự phát triển của đất nước. 2. Chứng minh - Thế kỉ mới (thế kỉ XXI) là thời kì đất nước ta đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hơn thế nữa "hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới" (Vũ Khoan - Chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới). Bước chân vào thế kỉ mới, đất nước Việt Nam, con người Việt Nam có rất nhiều cơ hội (hòa nhập, mở rộng giao lưu về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ . . .) nhưng cũng đứng trước không ít khó khăn, thử thách (trong đó có thử thách làm sao giữ được bản sắc, truyền thống dân tộc). Vấn đề làm sao tận dụng những cơ hội, ứng phó với thách thức do tiến trình hội nhập đem lại là vấn đề hết sức to lớn, làm mối quan tâm của tất cả mọi người. - Nếp nghĩ sùng ngoại hoặc bài ngoại quá mức tất yếu sẽ nảy sinh trong quá trình hội nhập, gây nên rất nhiều hậu quả, có thể kể ra: + Nếp nghĩ sùng ngoại: tạo ra nếp sống, cách nghĩ xa lạ với con người, dân tộc Việt Nam, dẫn đến một điều nguy hại: làm mất đi bản sắc, thui chột truyền thống dân tộc, không có ý thức phát huy lòng tự tôn dân tộc. + Nếp nghĩ bài ngoại: ngược lại với sùng ngoại, lại tạo ra cách sống, cách nghĩ bảo thủ, trì trệ, lạc hậu . . . (Lưu ý: học sinh phải lấy dẫn chứng trong đời sống để chứng minh) 3. Khẳng định vấn đề, nêu suy nghĩ và phương hướng cho bản thân: - Cả hai nếp nghĩ (sùng ngoại, bài ngoại) đều cực đoan, làm cản trở sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. - Trong thời kì hội nhập "mái nhà chung" thế giới, mỗi người Việt Nam (trong đó có học sinh, thế hệ tương lai của đất nước) phải có ý thức phấn đấu học tập, hòa nhập một cách sâu rộng vào "mái nhà chung" ấy, đồng thời phải có ý thức phát huy truyền thống tốt đẹp, giữ gìn bản sắc riêng của dân tộc mình. Đó là một trong những hành trang bước vào thế kỉ mới. Câu 2 : (12 điểm) - Đây là một dạng đề bài tổng hợp, yêu cầu học sinh chứng minh, trình bày suy nghĩ, đánh giá, cảm nhận về hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam được thể hiện sâu sắc qua các tác phẩm văn học trung đại trong chương trình Ngữ Văn 9. Các em có thể trình bày bằng những cách khác nhau, song cơ bản cần đáp ứng được một số yêu cầu sau: 1. Giới thiệu sơ lược về các tác phẩm văn học trung đại trong chương trình Ngữ Văn 9 - Văn học thời trung đại: là thời kì văn học lớn của dân tộc (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX). Đây là thời kì văn học ra đời và phát triển dưới các triều đại phong kiến Việt Nam. Vì vậy, theo quy luật phản ánh của văn học nói chung, văn học trung địa Việt nam. Vì vậy, theo quy luật phản ánh của văn học nói chung, văn học trung đại Việt Nam là tấm gương phản chiếu xã hội phong kiến Việt Nam. - Những tác phẩm văn học trung đại trong chương trình Ngữ Văn 9: Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (thế kỉ XVI), Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh - trích Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (thế kỉ XVIII), Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, một số trích đoạn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (thế kỉ XVIII), một số trích đoạn trong Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (thế kỉ XIX). Đây là những tác phẩm văn học trung đại ra đời trong thời kì xã hội phong kiến Việt Nam suy tàm mục ruỗng. Vì vậy, hiện thực được phản ánh chủ yếu trong tác phẩm này chính là những mặt trái của xã hội. Đó là sự rối ren, sự xấu xa, vô nhân đạo của xã hội với những thế lực chà đạp con người và thân phận khổ đau của con người - nạn nhân của chính xã hội ấy. 2. Chứng minh các tác phẩm trên đã phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam. Tập trung vào những phương diện chính sau đây: * Phản ánh hiện thực rối ren, bộ mặt xấu xa, vô nhân đạo của xã hội phong kiến. - Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ: phản ánh chế độ nam quyền, chiến tranh phong kiến phi nghĩa gây ra bao nhiêu bất hạnh cho con người. - Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh - trích Vũ trung tùy bút của Phạm Hổ: Phản ánh cuộc sống xa hoa của tầng lớp vua chúa, sự nhũng nhiễu của bọn quan lại Lê - Trịnh. - Hoàng Lê nhất thống chí cảu Ngô gia văn phái: sự rối ren cảu xã hội phong kiến phản ánh thông qua số phận bi thảm, bộ mặt hèn nhát cảu lũ tvua quan bán nước, hại dân; sự đại bại cảu bè lũ xâm lược. - Mã Giám Sinh mua Kiều (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du): phản ánh bản chất bất nhân, phi nghĩa của bọn buôn thịt bán người. - Lục Vân Tiên gặp nạn (trích Truyện Lục Vân Tiên cảu Nguyễn Đình Chiểu) phản ánh sự tàn ác, toan tính thấp hèn của kẻ bất nhân. * Phản ánh số phận khổ đau, bị chà đạp của con người, đặc biệt là người phụ nữ: - Là số phận oan trái, bi kịch của Vũ Nương ( Chuyện người con gái Nam Xương cảu Nguyễn Dữ), bị chồng nghi ngờ về lòng chung thủy, bị dồn vào bước đường cùng, phải tìm đến cái chết ở bến Hoàng Giang. - Là số phận chìm nổi của Thúy Kiều, một người con gái tài sắc, đang sống trong cảnh ấm êm, bỗng chốc rơi vào thảm cảnh: bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích với bao nhiêu bẽ bàng, chua xót (Kiều ở lâu Ngưng Bích); rở thành món hàng trong tay bọn buôn người (Mã Giám Sinh mua Kiều). -Là Lục Vân Tiên nhân hậu nhưng trở thành nạn nhân cảu những toan tính thấp hèn, âm mưu hiểm độc (Lục Vân Tiên gặp nạn). 3. Đánh giá chung, trình bày suy nghĩ, cảm nhận của bản thân: - Hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam được thể hiện trong các tác phẩm nói trên thể hiện vừa sâu sắc (trên nhiều phương diện), vừa sinh động (dưới nhiều hình thức thể loại, các kiểu nhân vật phong phú). Hiện thực ấy đã giúp rất nhiều tác giả tái hiện lại bức tranh xã hội phong kiến Việt Nam trong những giai đoạn lịch sử nhất định, đặc biệt làm nên giá trị hiện thực - một trong những phương diện tư tưởng quan trọng của tác phẩm. - Thông qua hiện thực ấy, các tác giả (Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ . . .) đã lên tiếng tố cáo đanh thép xã hội phong kiến, thể hiện sự bất bình cao độ, đặc biệt là cất lên tiếng nói đồng cảm, xót xa, bênh vực và bảo vệ con người. - Thông qua hiện thực ấy, ta hiểu được tài năng và cả tấm lòng cảu các tác giả văn học trung đại.
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1518
|
|
|
|
A - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN 1.Xuất xứ: Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga nằm ở phần đầu truyện Lục Vân Tiên. Tác phẩm được viết khoảng đầu những năm 50, thế kỉ XIX, dài hơn hai nghìn câu thơ, theo thể lục bát, kết cấu theo kiểu truyền thống của loại truyện Phương Đông, theo chương hồi, xoay quanh diễn biến cuộc đời nhân vật chính. Nội dung của truyện nhằm truyền dạy đạo lí làm người: đề cao tình nghĩa giữa con người với con người: nêu cao tinh thần nghĩa hiệp, sẵ ssafng cứu khốn phò nguy; thể hiện khát vọng của nhân dân hướng tới lẽ công bằng và những điều tốt đẹp trong cuộc đời. Đây là truyện thơ Nôm mang tính chất là truyện kể hơn là để đọc, để xem. Vì thế, nó dễ biến thành những hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian như "kể thơ", "nói thơ", "hát", nó chú trọng hành động của nhân vật hơn là miêu tả nội tâm. 2. Đặc điểm nội dung, nghệ thuật
- Đoạn trích thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả và khắc họa những phẩm chất đẹp đẽ của hai nhân vật: Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trong nghĩa khinh tài, Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na, ân tình. - Nhân vật chủ yếu được miêu tả qua hành động, cử chỉ, lời nói, ít khắc họa ngoại hình, càng ít đi sâu vào diễn biến nội tâm, mang tính chất của văn học dân gian; ngôn ngữ mộc mạc, bình dị, gần với lời nói thông thường và mang tính chất địa phương Nam bộ, phù hợp với ngôn ngữ người kể chuyện; ngôn ngữ thơ đa dạng, phù hợpvới diễn biến tình tiết và tính cách nhân vật. B- ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN BẢN 1. Kết cấu
- Kết cấu của truyện xoay quanh diễn biến cuộc đời nhân vật chính - Kết cấu có tính chất ước lệ: người tốt thường gặp nhiều gian truân, trắc trở, bị kẻ xấu hãm hại, lừa gạt, nhưng họ vẫn được phù trợ, cưu mang (nhờ người hoặc thần linh), cuối cùng được đền trả sứng đáng, kẻ xấu bị trừng trị. - Kiểu kết cấu này vừa phản ánh chân thực cuộc đời vốn đầy rẫy những sự bất công; vô lí, vừa nói lên khát vọng ngàn đời của nhân dân: thiện thắng ác, ở hiền gặp lành. 2. Nhân vật Lục Vân Tiên
- Đây là nhân vật chính của tác phẩm. Hình ảnh Lục Vân Tiên được khắc họa theo mô típ quen thuộc ở truyện Nôm truyền thống: chàng trai tài giỏi, cứu cô gái khỏi tình huống hiểm nghèo, rồi ân nghĩa đến tình yêu. Mô típ này thể hiện mong ước của nhân dân và của tác giả: trong thời buổi nhiều thương hỗn loạn này, người ta trông mong những người tài đức, dám ra tay cứu nạn giúp đời. - Tác giả đã sây dựng Lục Vân Tiên là nhân vật lí tưởng. Chàng trai trẻ ấy vừa rời trường học bước vào đời, hăm hở muốn lập công danh, thi thố tài năng giúp đời. Gặp bọn cướp hãm hại dân lành là một thử thách, một cơ hội hành động cho chàng. + Hành động đánh cướp, cứu người trước hết bộc lộ tính cách anh hùng, tài năng và tấm lòng vị nghĩa của Lục Vân Tiên . Chỉ một mình, không vũ khí trong khi bọn cướp đông lại gươm giáo đủ đầy, thanh thế lẫy lừng. Lục Vân Tiên vẫn dũng cảm ra tay, bẻ cây làm gậy xông vào đánh cướp. Hành động mạnh mẽ của Lục Vân Tiên thể hiện cái đức của con người "vị nghĩa vong thân" (vì việc nghĩa quên mình), cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu, chiến thắng thế lực bạo tàn. + Thái độ cư sử của Kiều Nguyệt Nga sau khi đã dẹp tan bon cướp lại bộc lộ tư cách cảu một con người chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, từ tâm, nhân hậu, rất có văn hóa. Thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hùng, Vân Tiên "động lòng", an ủi họ, ân cần hỏi han. Khi họ muốn lạy tạ ơn, chàng gạt đi ngay "Khoan khoan ngồi đó chớ ra", phần vì giữ lễ, phần vì khiêm nhường - "Làm ơn há dễ trông người trả ơn". Chàng cũng từ chối lời mời về thăm nhà của Nguyệt Nga để cha nàng đền đáp. Ở đoạn sau, chàng còn từ chối nhận chiếc trâm vàng của nàng, chỉ cùng nhau xướng họa một bài thơ rồi thanh thản ra đi, không hề vấn vương. Đối với chàng, làm việc nghĩa như là bổn phần, là lẽ tự nhiên. Đó là cách cư sử mang tinh thần nghĩa hiệp của các bậc anh hùng hảo hán. Giữa cuộc đời lắm nhiễu nhương, cái ác, cái xấu hoành hành, những con người như thế thật cần thiết và đáng quý biết bao. 3. Nhân vật Kiều Nguyệt Nga
- Đây cũng là một nhân vật chính và là một nhân vật lí tưởng trong tác phẩm. Những lời giãi bày của Kiều Nguyệt Nga với Lục Vân Tiên đã bộc lộ phẩm chất tốt đẹp cảu nàng. + Đó là lời lẽ của một cô gái khuê các, thùy mị, nết na: cách xưng hô "quân tử", "tiện thiếp" khiêm nhường, cách nói năng vui vẻ, dịu dàng, mực thước, cách trình bày vấn đề rõ ràng, khúc triết, vừa đáp ứng đủ những lời thăm hỏi ân cần của Vân Tiên, vừa thể hiện tấm lòng cảm kích chân thành của mình. + Kiều Nguyệt Nga trọng ơn nghĩa, coi cái ơn của Vân Tiên với mình còn hơn cả ơn cứu mạng, đó là cả cuộc đời trong trắng của mình, vì vậy nàng áy náy, băn khoăn tìm cách trả ơn, dù hiểu rằng có đền đáp bao nhiêu cũng chưa đủ. Bởi thế, cuối cùng nàng đã tự nguyện gắn bó cả cuộc đời với Vân Tiên, dám liều mình để giữ trọn ân tình, thủy chung với chàng. C - TÁC PHẨM TỪ NHIỀU GÓC NHÌN 1. "Phải hiểu đúng Lục Vân Tiên thì mới thấy hết giá trị cảu bản trường ca này. Đúng, đây là một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý đáng trọng ở đời. . . " (Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đình Chiểu,
ngôi sao sáng trong làng văn nghệ của dân tộc, Tạp chí Văn học, tháng 7, năm 1963)
2. "Lục Vân Tiên là sự tổng hợp phức tạp của nhiều phương thức sáng tác, trong đó, căn bản là phương thức sáng tác của văn học dân gian. HÌnh thức lưu truyền trước đây của Lục Vân Tiên là "nói" và "kể". Những ưu điểm và nhược điểm của nó phụ thuộc vào phương thức sáng tác và hình thức lưu truyền ấy . . ." (Theo Lê Chí Dũng trong Từ điển văn học, Sđd)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1517
|
|
|
|
A - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN 1. Vị trí đoạn trích:" Đoạn thơ gồm 26 câu, nằm ở đầu phần hai của tác phẩm (Gia biến và lưu lạc), mở đầu kiếp đoạn trường của cô gái họ Vương. Gia đình Kiều gặp tai họa, cha và em bị bắt bớ, đánh đập. Muốn giải thoát cho cha và em cần phải có tiền. Kiều đã tự nguyện bán mình chuộc cha. Kẻ đến mua Kiều là Mã Giám Sinh. Cuộc mua bán diễn ra ngay tại nhà Kiều giữa thanh thiên bạch nhật. 2. Đặc điểm nội dung, nghệ thuật
- Qua cảnh Mã Giám Sinh mua Kiều, tác giả lên án bọn người bất nhân cùng với đồng tiền đã chà đạp lên quyền sống của con người; đồng thời bày tỏ nỗi xót thương trước số phận tủi nhục, đớn đau của người phụ nữ. - Đoạn trích khắc họa tính cách nhân vật (Mã Giám Sinh) bằng việc miêu tả ngoại hình, cử chỉ, ngôn ngữ đối thoại; với nhân vật phản diện, Nguyễn Du dùng ngôn ngữ tả thực sinh động; miêu tả nội tâm nhân vật (Thúy Kiều) tinh tế, sâu sắc; ngôn ngữ chọn lọc, dụng công. B - ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN BẢN 1. Mã Giám Sinh - Kẻ buôn thịt bán người xấu xa, tàn bạo
- Thúy Kiều quyết định bán mình để lấy tiền cứu cha và gia đình. Được mụ mối mách bảo, Mã Giám Sinh tìm đến mua Kiều. Mã Giám Sinh xuất hiện trong vai một người có học đi mua tì thiếp. Người "viễn khách", gã "sinh viên" họ Mã này xem ra quê quán, tên họ chẳng mấy rõ ràng: Hỏi tên, rằng : "Mã Giám Sinh" Họ quê, rằng: "Huyện Lâm Thanh cũng gần".
"Giám Sinh" có thể hiểu là học sinh tường Quốc Tử Giám, có thể là chức giám sinh mua được, không rõ hắn thuộc loại nào. Quê ở xa "viễn khách" mà lại nói " cũng gần", ở Lâm Tri lại nói là Lâm Thanh, hắn nói dối để dấu tung tích, dễ lừa gạt. Lời nói của hắn thì cộc lốc, vô lễ, câu trả lời nhát gừng. Tuổi tác đã "ngoại tứ tuần" (ngoài bốn mươi) mà diện mạo, trang phục thì chải chuốt, lố lăng, khoog phù hợp : "Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao". Có lẽ, hắn cố tô vẽ cho vẻ trẻ trung, thư sinh, phong lưu, lịch sự nhưng lại giả dối, lố bịch. Hắn đi hỏi vợ mà cảnh thầy tớ nhặng xị, nhâng nháo: "Trước thầy sau tớ lao xao". Khi vào nhà, cử chỉ hắn thật thô bạo, vô văn hóa, quen "thị của khing người": "Ghế trên ngồi tót sỗ sàng". Ghế trên thường dành cho bậc gia trưởng, bậc cao niên, Mã Giám Sinh đi hỏi vợ là hàng con cái mà "ngồi tót" vào đó thật chướng mắt, vô lễ. Dù có che dấu nhưng chân tướng gã con buôn vô học vẫn cứ lộ ra. - Bản chất bất nhân, tính chất con buôn lưu manh, vì tiền của Mã Giám Sinh càng bộc lộ rõ hơn trong cuộc mua bán. Hắn hoàn toàn lạnh lùng vô cảm trước nỗi đau cũng như nhan sắc tài năng của Kiều. Hắn chỉ quan tâm đến sắc vafp tài của Kiều như giá trị hàng hóa, cái giúp hắn kiếm lời. Sau khi đã đắn đo "cân sắc, cân tài", ép tài đàn (ép cung cầm nguyệt), thử tài thơ (thử bài quạt thơ), bằng lòng, vừa ý hắn mới "tùy cơ dặt dìu". Lời nói lúc đầu cũng ra vẻ văn hoa, lịch sự, biết của biết người: "Rằng mua ngọc đến Lam Kiều - Sính nghi xin giạy bao nhiêu cho tường", nhưng cũng không quá một câu và ý mua vẫn lộ liễu. Với con buôn, tiền nong là thứ sinh tử, nên lúc này hắn buộc phải nói nhiều để mặc cả, dìm giá, tìm cách mua hàng với giá "hời nhất": "Cò kè bớt một thêm hai" đếm "giờ lâu" mới "ngã giá". Chi tiết mặc cả một cách ti tiện và bẩn thỉu này vừa thể hiện thực chất màn kịch "lễ vấn danh" chỉ là cảnh "buôn thịt bán người" một cách trắng trợn, vừa tố cáo Mã Giám Sinh đích thị là tay buôn người lọc lõi, ghê tởm. Cái mặt nạ của hắn lúc đầu đã bị rơi tuột từ lúc nào. - Mã Giám Sinh được khắc họa qua ngôn ngữ miêu tả trực tiếp của tác giả. Nhân vật phản diện này được miêu tả bằng nét bút hiện thực, hoàn chỉnh cả về diện mạo và tính cách rất cụ thể, sinh động, đồng thời lại mang ý nghĩa khái quát về một loại người xấu xa, thấp kém trong xã hội. 2. Tâm trang đau thương, tủi khổ của Thúy Kiều
-Phải bán mình, đây là nỗi đoạn trường đầu tiên trong cuộc đời người con gái họ Vương. Đối mặt với bộ mặt ghê tởm, đê tiện của Mã Giám Sinh trong màn kịch "lễ vấn danh" này là hình ảnh tội nghiệp, đầy đau thương, tủi nhục của Kiều. Từ một khuê nữ đang sống yên vui trong cảnh êm đềm, lại say đắm trong mối tình đầu đẹp đẽ thì tai họa ập đến bất ngờ, tàn khốc, nàng bị biến thành món hàng trong tay bọn bất lương. Càng tội nghiệp hơn khi nàng là người ý thức cao về phẩm giá. Nỗi mình thêm tức nỗi nhà Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng! Ngại ngùng dợn gió e sương Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dày Mối càng vén tóc bắt tay Nét buồn như cúc điệu gầy như mai"Nỗi mình" là nỗi đau phải bán thân, là phải bỏ tình yêu với chàng Kim, mối tình tuyệt đẹp hứa hẹn bao hạnh phúc lứa đôi: phải rời xa gia đình mà không biết sẽ bị tung vào sương gió cuộc đời ra sao. Cộng thêm "nỗi nhà" là nỗi oan ức cho cha mẹ, em út bị vu oan, bị đánh đập, tài sản bị cướp hết, nhà cửa tan tác, chia lìa. Câu thơ đã khái quát được nỗi thương tâm của Kiều. Kiều đau đớn tới mức, mỗi bước đi là mấy hàng nước mắt tuôn rơi. Nàng thấm thía nỗi nhục, nỗi thẹn của mình đến sượng sùng, tủi hổ: "Ngừng hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày". Con người càng ý thức về nhân phẩm, càng đau đớn, nhục nhã khi nhân phẩm bị vùi dập, xúc phậm. Vừa lo sợ cho tương lai, Kiều vừa thấy dơ dáng, dại hình, thấy sỉ nhục đến điều. Nỗi đau khổ khiến nàng tái tê, câm lặng. Nhưng việc bán mình là tự nguyện vì nôn nóng cứu cha già, nên Kiều chịu đựng, không nói một lời, chỉ nhất nhất hành động theo sự chỉ dẫn của mụ mối và người mua. Nhan sắc của nàng lúc này đượm vẻ buồn bã, hao gầy, nhan sắc ấy càng làm tăng thêm bi kịch của "Cành hoa đem bán vào thuyền lái buôn". 3. Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện qua đoạn trích - Mã Giám Sinh mua Kiều là một đặc sắc vào bậc nhất Truyện Kiều, là một bức tranh hiện thực về xã hội, ghi lại một cảnh tượng đau lòng trong xã hội cũ: cảnh mua bán người. Qua đó, Nguyễn Du đã gửi gắm tình cảm nhân đạo sâu sắc của mình. Trước hết đó là thái độ khinh bỉ và căm phẫn sâu sắc cảu bọn buôn người, đồng thời tố cáo thực trạng xã hội xấu xa, lên án thế lực đồng tiền chà đạp lên nhân phẩm, tài sắc con người: "Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong". - Đó còn là niềm thương cảm sâu sắc trước thực trạng con người bị hạ thấp, bị chà đạp, bị biến thành "hàng hóa", cảm thông với nỗi đau của con người phải chịu bao nhiêu nghịch cảnh trong xã hội phong kiến bất nhân. Nhà thơ như hóa thân vào nhân vật để nói lên nỗi đau đớn, tủi khổ của Kiều. Đoạn thơ cũng kín đáo thể hiện sự trân trọng của tác giả trước phẩm giá cả đẹp của Kiều. C - TÁC PHẨM - TỪ NHIỀU GÓC NHÌN 1. "Tác giả tỏ ra rất tài tình trong đoạn mô tả Mã Giám Sinh. Những chữ "nhẵn nhụi", "bảnh bảo", "xôn xao", "ngồi tóc sỗ sàng" và chữ "cò kè" ở đoạn sau chứng tỏ một nhân vật đàng điếm, chải chuốt bề ngoài mà vẫn không che đậy cái phẩm giá thấp hèn thô bỉ, kiều hãnh vì đồng tiền nhưng lại rất bủn xỉn, keo kiệt. Mã Giám Sinh cô tình, vụ lợi tàn nhẫn, trong lúc này Kiều tràn đầy tình cảm, tâm hồn như trào ứa một nỗi uất hận vô biên làm cho nàng không nói nên lời, khi ra mắt. Đọc hai câu: Nỗi mình thêm tức nỗi nhà Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng!
Với những điệp ngữ: "nỗi mình', "nỗi nhà", "thềm hoa", "lệ hoa", ta cảm thấy tâm hồn Kiều rên rỉ, trong lúc nàng đang cất những bước nặng nề từ trong phòng đi ra. Trên đoạn đường trông gai, nàng Kiều thật đã bước những bước đầu đau đớn. Những chữ để tả nàng Kiều đều rất xứng đáng vì đã nêu rõ cái tâm trạng vừa buồn, vừa đao khổ, vừa e thẹn của nàng. Và đó cũng là những chữ bóng bẩy: "thềm hoa", "lệ hoa", "dín gió", "e sương", "nét buồn như cúc, ddieju gầy như mai", làm cho ta dễ nhận thấy một nàng Kiều đang tê tái, đau khổ và đẹp với một vẻ đẹp buồn rất thanh nhã." (Hà Như Chi, "Nét buồn như cúc . . .. trong Việt Nam thi văn giảng luận, Sống Mới, 1958)
2. "Trong toàn bộ đoạn thơ, Nguyễn Du đã đối lập sự câm lặng đau khổ của Thúy Kiều với sự hoạt động năng nổ của bọn buôn người, đối lập giữa giá trị đẹp đẽ vô song cảu Thúy Kiều với giá cả mua bán chua xót "giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm". Tiếng nói quyết định và lạnh lùng của đồng tiền hôi tanh khép lại màn kịch giải quyết tai họa gia đình, để mở ra một tai họa khác cho cô con gái họ Vương." (Đặng Thanh Lê, Giảng văn, "Truyện Kiều", Sđd)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1494
|
|
|
|
A- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN 1. Vị trí đoạn trích - Đoạn trích gồm 22 câu (từ câu 1033 đến câu 1054), nằm ở phần hai của Truyện Kiều (Gia biến và lưu lạc). Gặp Tú Bà, biết rõ mình bị mắc lừa đưa vào lầu xanh, Kiều đã tự sát. Tú Bà sợ mất món hàng béo bở, mụ dỗ dành Kiều, đưa nàng ra ở lầu Ngưng Bích nói là chăm lo thuốc thang rồi xẽ timd nơi xứng đáng gả chồng cho nàng, kì thực là giam lỏng nàng, đợi thực hiện mưu ma chước quỷ, buộc nàng phải tiếp khách ở lầu xanh kiếm lời cho mụ. 2. Kết cấu đoạn thơ - Sáu câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều - Tám câu tiếp: Nỗi nhớ thương Kim Trọng và cha mẹ - Tám câu cuối: Tâm trạng đau buồn, lo âu của Kiều qua cách nhìn cảnh vật. 3. Đặc điểm nội dung, nghệ thuật - Đoạn thơ diễn tả tâm trạng cô đơn, buồn tủi và nỗi niềm thương nhớ của Kiều, qua đó bộc lộ tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của nàng. - Đoạn thơ thành công về nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật, với ba phương thức: + Lời tự sự (lời kể của tác giả + Ngôn ngữ độc thoại nội tâm + Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình Ngòi bút Nguyễn Du hết sức tinh tế khi tả cảnh cũng như khi tả tình, đặc biệt là ở bút pháp tả cảnh ngụ tình. Ngôn ngữ văn học được sử dụng sáng tạo chọn lọc, trau chuốt. B - ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN BẢN 1. Hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều - Thực chất Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích như một thiếu nữ bị cấm cung. Hai chữ "khóa xuân" nói lên điều đó. Quá khứ của nàng là bao nỗi đau đớn, tủi nhục. Hiện tại tha hương và cô đơn. Còn tương lai thì mờ mịt, hiểm nguy, chưa biết sẽ ra sao. Nguyễn Du đã đặt Kiều trong cảnh ngộ ấy để tự bộc lộ tâm trạng của mình. Đó là một tâm trạng cô đơn, trơ trọi giữa một khung cảnh thiên nhiên mênh mông, vắng lặng "bốn bề bát ngát". Từ lầu cao Ngưng Bích, ngước mắt xa trông, nàng chỉ thấy "vẻ non xa" và "tấm trăng gần" ở chung. Nhìn xuống mặt đất thì cảnh vật, bên là cồn cát nhấp nhô như sóng lượn, bên là bụi hồng trải khắp dặm xa. Cảnh thoáng đãng nhưng lầu Ngưng Bích dường như trơ trọi, nơi ấy giam một thân phận trơ trọi, xung quanh không một bóng giáng thân quen, không một tâm hồn bầu bạn. Đây có thể là cảnh thực mà cũng amng tính chất ước lệ, gợi sự mênh mông, rợn ngợp để diễn tả tâm trạng cô đơn. - Cụm từ "mây sớm đèn khuya" gợi nhớ thời gian tuần hoàn, khép kin. Không gian, thời gian ấy như giam hãm con người, khắc sâu thêm nỗi cô đơn, khiến Kiều càng bẽ bàng, buồn tủi và dồn tới lớp lớp những nỗi niềm chua xót, đau thương, nhớ nhung khiến tấm lòng Kiều như bị chia xé: "Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng". 2. Nỗi nhớ thương Kiều - Trong cảnh ngộ một mình bơ vơ "Chân trời góc bể", cô đơn tuyệt đối, Kiều càng nhớ tới những người thân yêu. Nỗi nhớ đầu là nhớ chàng Kim: Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tin sương luống những rày trông mai chờ Bên trời góc bể bơ vơ Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. Đặt nỗi nhớ người yêu lên đầu, Kiều đã không giấu giếm nỗi nhớ thương da diết, mãnh liệt của mình với Kim Trọng. Hơn nữa, điều này phù hợp với quy luật tâm lí và thể hiện sự tinh tế của ngòi bút nhân đạo Nguyễn Du. Kiều đã bị Mã Giám Sinh làm nhục và đang bị ép tiếp khách làng chơi, nên nỗi đau đớn nhất của Kiều lúc này là "tấm son gột rửa bao giờ cho phai". Vì vậy người mà nàng thương và nhớ đầu tiên là Kim Trọng. Nàng nhớ lời hẹn ước hôm nào, "Vầng trăng vằng vặc giữa trời", hai người đã cùng uống chén rượu thề nguyền son sắt một lòng cùng nhau đến trọn đời, vậy mà giờ đây mỗi người một ngả, cách biệt, chia xa. Kiều xót xa, ân hận như một kẻ phụ tình. Nàng tưởng tượng Kim Trọng vẫn không hay biết gì, vẫn đêm ngày hướng về mình, đau đáu chờ tin mà uổng công vô ích. Câu thơ "Tấm son gột rửa bao giờ cho phai"có thể hiểu là tấm lòng son sắt, nỗi nhớ Kim Trọng không bao giờ nguôi quên, hoặc là tấm lòng son của Kiều đã bị vùi dập, hoen ố, biết bao giờ mới gột rửa cho hết được. Hiểu cách nào cũng thấy lòng chung thủy, vị tha của Kiều. Càng nhớ người yêu, Kiều càng thấm thía cảnh bơ vơ, trống trải của mình, càng nuối tiếc những kỉ niệm đẹp đẽ của mối tình đầu thơ ngây, trong sáng, càng ý thức sâu sắc, chẳng bao giờ có thể gột rửa được tấm lòng thủy chung, son sắt với chàng. - Tiếp đó, Kiều xót xa nhớ thương cha mẹ. Nàng hình dung cha mẹ vẫn sớm hôm tựa cửa ngóng tin tức cảu nàng. Nàng xót thương da diết và day dứt khôn nguôi về nỗi ai sẽ chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ trong những ngày này: "Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ". Thành ngữ "quạt nồng ấp lạnh", điển cố "sân Lai", "gốc tử" đều nói lên tấm lòng hiếu thảo của Kiều. Nàng tưởng tượng ở nơi quê nhà, tất cả đã đổi thay, "gốc tử đã vừa người ôm", cha mẹ ngày một già yếu. Cụm từ "cách mấy nắng mưa" vừa nói được sứ xa cách bao mùa mưa nắng , vừa gợi sự tàn phá của thời gian , của nắng mưa, đối với cảnh vật và con người. Nhớ cha mẹ, Kiều luôn ân hận, day dứt vì mình đã phụ công sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ. - Hoàn cảnh của Kiều lúc này thật đau buồn, bất hạnh, nhưng trái tim Kiều đầy yêu thương, nhân hậu, vị tha. Nàng là người tình chung thủy, người con hiếu thảo, người có lòng vị tha đáng kính trọng. - Nỗi nhớ của người thân của Kiều diễn tả qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm nên càng chân thực, cảm động. Qua ngôn ngữ, nỗi nhớ thương như tự lên tiếng. 3. Nỗi buồn của Kiều qua cái nhìn cảnh vật - Nỗi nhớ thương cồn lên da diết rồi Kiều lại dọn lòng mình trở về với thực tại của mình, cái nhìn của Kiều trải ra khắp cảnh vật xung quanh. Tám câu cuối là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Là thực cảnh mà cũng là tâm cảnh. Mỗi cảnh khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn khác nhau, với những lí do buồn khác nhau, để rồi tình buồn tác động lại cảnh khiến cảnh mỗi lúc một buồn hơn và nỗi buồn nàng càng ghê gớm, mãnh liệt hơn. Tám câu thơ tạo thành một bộ tứ bình cảnh sắc - tâm trạng đặc sắc, mỗi cặp lục bát làm thành một cảnh. - Cảnh đầu tiên: Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Đây là bức tranh chiều hôm nhớ nhà. Cảnh chiều hôm muôn thuở đã gợi buồn nhớ, lại giữa không gian mênh mông nơi cửa biển chỉ có một cánh buồm thấp thoáng xa xa như một ảo ảnh. Cảnh ấy gợi trong lòng người lưu lạc tha hương nỗi cô đơn, nỗi buồn nhớ da diết về cah mẹ, quê nhà xa cách, gợi nỗi nhớ khát khao được gặp người thân. Đại từ "ai" phiếm chỉ mang âm điều sầu thương. Câu thơ là một câu hỏi tu từ ngân lên như một niềm khát khao, hoài vọng, ngóng trông. - Cảnh thứ hai: Buồn trông ngọn nước mới xa. Hoa trôi man mác biết là về đâu? Cái nhìn của Kiều hướng về không gian gần hơn. Nhìn cánh hoa trôi man mác giữa dòng nước, Kiều lại buồn cho thân phận trôi giạt, bị vùi dập ra sao, lại xót sa cho duyên phận, số phận mình. Hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dụ gợi nỗi nhớ thương da diết. Câu hỏi tu từ ở đây là một nỗi băn khoăn, thắc thỏm, một niềm tự thương, một tiếng than. - Cảnh thứ ba: Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xang xanh Đây là cảnh khá ấn tượng, dễ gợi liên tưởng đến cảnh xuân hôm nào trong tiết Thanh minh. Không phải là cỏ non xanh tân chân trời đầy sức sống mà là nội cỏ rầu rầu, héo úa, buồn bã, cùng màu xanh nhàn nhạt trải dài từ mặt đất tới chân mây càng khiến Kiều thêm chán ngán, vô vọng vì cuộc sống vô vị, tẻ nhạt, cô quạnh này không biết kéo dài tới bao giờ. Cảnh mở mịt, tương lai mờ mịt. - Cảnh cuối: Buồn trông gió cuốn mặt duềnh Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi Chiều đã muộn, màu sắc như tối lại, cảnh không hiện rõ nữa, âm thanh dội lên mạnh hơn. Một cơn gió cuôn trên mặt duềnh làm cho tiếng sóng bỗng nổi lên "ầm ầm" như bủa vây quanh ghế Kiều ngồi. Tiếng sóng "kêu" như báo trước sóng gió dữ dằn của cuộc đời, hay cũng là tiếng kêu đau đớn của Kiều đồng vọng với thiên nhiên. Kiều không thể buồn mà lo sợ kinh hãi như đang đứng trước sóng gió bão táp của cuộc đời sắp dội xuống đầu nàng. Sóng gió ở đây là những từ ngữ ẩn dụ chỉ những tai ương đang dồn daahp truy đuổi và đã tới rất gần. - Thiên nhiên hiện lên chân thực, sinh động những cũng rất ảo. Đó là cảnh được nhìn qua tâm trạng theo quy luật: "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu - Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Cảnh được nhìn từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động để diễn tả nỗi buồn man mác, mông lung đến âu lo, kinh sợ, dồn đến bão táp nội tâm, cực điểm cảu cảm xúc trong lòng Kiều. Toàn là hình ảnh về sự vô định, mong manh, vô vọng, sự dạt trôi, bế tắc, sự chao đảo, nghiêng đổ, dữ dội. Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất, vì thế nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời : "Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần". - Bốn cặp lục bát được liên kết bởi điệp ngữ "Buồn trông". "Buồn trông" nghĩa là buồn mà nhìn xa, mà trông ngóng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm thay đổi hiện tại, nhưng trông mà vô vọng. Nó có cái thảng thốt, lo âu, có cái xa lạ cuốn hút tầm nhìn của người con gái ngây thơ lần đầu lạc giữa cuộc đời trái ngang, có cả dự cảm hãi hùng. Điệp ngữ này kết hợp với các hình ảnh đứng sau nó đã diễn tả nỗi buồn ngày một tăng và với nhiều sắc độ khác nhau. Điệp ngữ kết hợp với các từ láy (thấp thoáng, xa xa, nan mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm) tạo nên điệp nhịp, diễn tả nỗi buồn ngày một tăng, dâng lên lớp lớp như những cơn sóng lòng không sao chịu nổi, một nỗi buồn vô vọng, vô tận. Điệp ngữ "buồn trông tạo âm hưởng tầm buồn, trở thành điệp khúc của đoạn thơ, cũng là điệp khúc của tâm trạng, của khác ca buồn thảm của lòng Kiều. - Để thể hiên một tâm trạng phức tạp, một nỗi buồn ôm trọn ba nỗi buồn (buồn nhớ người yêu, buồn nhớ cha mẹ, buồn cho chính mình) của Kiều, Nguyễn Du đã chọn cách thể hiện "tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này", tạo nên một đoạn thơ tuyệt bút, khắc hạo hình tượng Thúy Kiều với thế giới nội tâm sâu thẳm và đầy bi kịch trên một chặng đường của số phận nafg, qua đó bộc lộ vẻ đjep tâm hồn đáng quí của Kiều. Đoạn thơ thể hiện cảm hứng nhân văn sâu sắc của tác giả. C - TÁC PHẨM - TỪ NHIỀU GÓC NHÌN 1. "Buồn bã xót xa và thắc thỏm lo sợ, đó là hai mạch chính của nỗi niềm buồn trông. Với gam màu lạnh, nhà thơ - họa sĩ Nguyễn Du đã vẽ và treo liên tiếp bốn bức tứ bình liên hoàn tâm trạng (cứ mỗi cặp lục bát là một bức họa): Từ mong đợi đến băn khoăn, day dứt, tiếp tới chán nản, thất vọng và cuối cùng là bàng hoàng ghê sợ. Đồng thời, dùng giai điệu trầm, nhà thơ - nhã sĩ Nguyễn Du đã tấu lên tiếng tơ lòng nhân vật. Cho đến từng âm tiết cũng rung động nỗi buồn. Kết đoạn thơ, hòa tấu phức điệu sóng biển - sóng lòng, sóng đời không chỉ vang lên tiếng gõ cửa của định mệnh mà rung chuyển tiếng gầm gào cảu hiểm họa muốn hất tung người con gái đơn côi, yếu ớt trên điểm tựa chiếc ghế đời mỏng manh. (Trần Đồng Minh, Buồn trông . . . trong Tiếng nói tri âm, NXB Trẻ. TP. HCM. 1994) 2. Một bức tranh phong phú và sinh động về ngoại cảnh và tâm cảnh, với bút pháp phác hạo có chọn lọc về cảnh vật thiên nhiên, với ngôn ngữ độc thoại phù hop logic nội tâm, và logic hoàn cảnh, với hệ thống ngôn ngữ dân tộc là chủ yếu, Nguyễn Du đã khắc họa hình tượng Thúy Kiều trong một chặng đường "yên tĩnh trước cơn bão tố". Hoàn cảnh tha hương và cô đơn, tâm trạng đau khổ vì mối tình đầu tan vỡ, đau buồn vì cách biệt với cha mẹ và cuối cùng là dự cảm về một tương lai mờ mịt, hãi hùng, là trực giác về một tai họa sắp ập tới đời nàng. Một tâm hồn cảm nhận được sự diễm lệ phong phú của thiên nhiên, một mối đồng cảm với số phận và tâm tư con người, đó là những yếu tố nhân văn kết hợp với bút lực tài hoa đã sáng tạo nên một trong những đoạn thơ nổi tiếng nhất trong Truyện Kiều. (Đặng Thanh Lê, " Buồn trông cửa bể chiều hôm . . ." Trong Giảng văn "Truyện Kiều", NXB Giáo dục, Sđd)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1493
|
|
|
|
A - KHÁI QUÁT CHUNG . Vị trí đoạn trích: Sau đoạn tả tài sắc chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du tả cảnh ngày xuân trong tiết Thanh minh, chị em Kiều đi chơi Xuân. 2. Kết cấu: (theo trình tự thời gian) - Bốn câu đầu: Vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên ngày xuân - Tám câu tiếp: Không khí náo nức, vui tươi của cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh. - Sáu câu cuối: Cảnh chị em Kiều du xuân trở về. 3. Đặc điểm nội dung, nghệ thuật - Đoạn thơ Cảnh ngày xuân là bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng, qua đó gợi lên tâm trạng của nhân vật. - Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du ở đoạn thơ này khá đặc sắc: kết hợp bút pháp bút pháp tả và gợi lên tâm trạng của nhân vật. - Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du ở đoạn thơ này khá đặc sắc: kết hợp bút pháp tả gợi, sử dụng từ ngữ giàu chất tạo hình đẻ tả cảnh ngày xuân với những đặc điểm riêng, tả cảnh mà nói lên được tâm trạng nhân vật. B- ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬP NHẬT VĂN BẢN 1.Bốn câu thơ đầu: Một bức tranh xuân diễm lên - Trong Kim Vân Kiều truyện chỉ có một câu: "Một hôm nhằm vào tiết Thanh minh . . .", Nguyễn Du dựa vào đó để vẽ nên bức tranh xuân thắm bằng thơ, với vẻ đẹp riêng. - Hai câu thơ đầu vừa nói ở thời gian, vừa gợi không gian. Ngày xuân thấm thoát qua mau, đã bước sang tháng ba, ánh sáng trong veo (thiều quang), chưa chói lòa, gay gắt. Trên nền trời xanh, những cánh én caho liệng như thoi dệt tấm xuân. Cảnh động chứ không tĩnh. Câu thơ vừa tả cảnh vừa ngụ ý chỉ ngày xuân qua mau. - Hai câu tiếp theo mới thực tả bức tranh xuân tuyệt mĩ. Không gian khoáng đạt, trong trẻo, thảm cỏ non trải rộng tới chân trời. Trên nền xanh non ấy, điểm xuyến một vài bông hoa trắng. thơ cổ Trung Quốc có câu: Phương thảo liên thiên bích - Lê chi sổ điểm hoa: (Cỏ thơm liền với trời xanh - Trên cành lê có mấy bông hoa). Nguyễn Du đã sáng tạo câu thơ ấy, dùng "cỏ non" thay vì "cỏ thơm" để tô đậm mài sắc - màu xanh nhạt pha lẫn vàng chanh, hợp với mà lam trong sáng của chân rời ngày xuân, trên đó điểm xuyến sắc trắng tinh khiết, tinh khôi cảu hoa lê, làm thành bức tranh dung hòa những sắc độ lạnh mà vẫn rạo rực sức sống bên trong, tươi mát và mới mẻ. Chữ "trắng" được Nguyễn Du thêm vào và đảo lên trước càng gây ấn tượng mạnh, chữ "điểm" gợi bàn tay họa sĩ - thi sĩ vẽ nên thơ nên họa, như bàn tay tạo hóa điểm tô cản xuân tươi, khiến cảnh có hồn và sống động. Nguyễn Du đã thổi hồn cho tứ thơ cũ để nó trở nên sinh động và mang đậm hồn xuân đất Việt. 2. Tám câu thơ tiếp: Khung cảnh lễ - hội ngày xuân - "Lễ là tảo mộ - hội là đạp thanh" - Mùa xuân là mùa của lễ hội. Lễ tảo mộ là ssi sửa sang phần mộ gia đình, tổ tiên, tìm về những bóng hình cảu quá khứ. Hội đạp thanh là dẫm lên cỏ xanh - đi chơi xuân ở chốn đồng quê, là cuộc sống hiện tại, có thể tìm đến những sợi tơ hồng của mai sau. Cảnh lễ hội được gợi lên qua hàng loạt từ hai âm tiết (từ ghép và từ láy). Các danh từ "yến anh", "chị em", "tài tử", "giai nhân" gợi tả sự đông vui các động từ sắm sửa, dập dìu gợi sự dộn dàng náo nhiệt. Các tính từ gần xa, nô nức làm rõ hơn tâm trạng người đi hội. Hình ảnh ẩn dụ "nô nức, yến anh" gợi lên hình ảnh từng đoàn người đi chơi xuân nhộn nhịp như chim én, chim oan bay ríu rít. Hình ảnh " ngựa xe như nước, áo quần như nêm" nhằm biểu đạt sự đông vui nhộn nhịp. Trong lễ hội, náo nức nhất là những nam thanh nữ tú, những tài tử giai nhân, niềm vui lễ hội như bao trùm cả nhân gian. - Qua cuộc du xuân của chị em Kiều, tác giả đã khắc họa một truyền thống lễ hội xa sưa cảu dân tộc. Tiết Thanh minh mọi người sắm sửa lễ vật để đi tảo mộ, sắm sửa áo quần để đi hội đạp thanh. Người ta rắc những thoi vàng vó, đốt tiền giấy hàng mã để tưởng nhớ người thân đã khuất. 3. Sáu câu cuối: Cảnh chị em Kiều du xuân trở về - Bức tranh chiều xuân rất đẹp, rất êm đềm. Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân nhưng đã nhuốm màu tâm trạng. Bóng dương đã chênh chếch xế chiều: "Tà tà bóng ngả về tây". Nhưng đây không chỉ là hoàng hôn cảu cảnh vật, dường như con người cũng chìm trong một cảm xúc bâng khuâng khó tả. Cuộc vui đã tàn, lễ hội con người cũng chìm trong một cảm xúc bâng khuâng khó tả. Cuộc vui đã tàn, lễ hội tưng bừng, náo nhiệt đã hết. Tâm hồn con người như cũng "chuyển điệu" cũng cảnh vật. Cảnh như nhạt dần, lặng dần, bước chân người thơ thẩn trên dặm đường về, mọi chuyển động đều nhẹ nhàng được diễn tả qua hàng loạt các từ láy giảm nghĩa. Các từ láy "tà tà", "thanh thanh", "nao nao", "nho nhỏ" không chỉ gợi về bóng dương, phong cảnh, dòng nước, cây cầu àm còn gợi tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến về một ngày xuân đang còn mà linh cảm về điều sắp sảy ra đã xuất hiện như báo trước cuộc gặp nấm mồ người bất hạnh (Đạm Tiên - một ca nhi tài sắc mà mệnh yểu), và cả sự ngẫu nhiên gặp chàng nho sinh "Phong tư tài mạo tót vời" Kim Trọng để rồi "Tình trong như đã mặt ngoài còn e . . ." như một định mệnh, tiền duyên. Rõ ràng, cảnh đã mang màu tâm trạng của nhân vật. C- TÁC PHẨM - TỪ NHIỀU GÓC NHÌN 1. "Thơ ấy còn là họa. Phong cách phương Đông, Việt Nam. Và nét chọn lọc, tiêu biểu. Người ta có cái đẹp "Phương thảo liên thiên bích - Lê chi sổ điểm hoa" thì ai cấm mình cũng "Cỏ non xanh rợn chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa:" Bởi giêng hai, rõ nhất ở miền Bắc nước ta, vườn cũng lê đơm bông, ruộng bát ngát lúa, ngô, dâu, xanh ngắt, lại thêm ánh sáng lung linh màu biếc, cả cỏ lẫn trời; với mấy cánh hoa lê trắng muốt, thế là vài nét mà đủ cảnh, đủ màu, cảnh và màu đều rực lên sức sống bên trong, "xanh" thì "dờn dợn", "trắng" thì "điểm điểm". Đủ không gian, thời gian vận động: cánh én đưa thoi, thiều quang đã ngoài sáu mươi, vận động nhẹ nahfng, êm dịu. Và trùm lên tất cả, lắng tận vào sâu bên trong là một sức sống tươi trẻ, căng nhựa, đầy rạo rực đang muốn trào dâng, một sức xuân, sức trẻ nhưng tất cả đều tươi mát, lặng lẽ. Cử động mềm amij, màu sắc thanh tao, rạo rực mà không ồn ào, muốn tràn dâng nhưng vẫn kín đáo. Phần lời có hạn mà phần không lời vô cùng . . ." ( Lê Trí Viễn, "Bốn câu thơ xuân - Một bức thủy mặc", trong Phê bình - Bình luận văn học, NXB Văn nghệ, TPHCM, 1998) 2. "Lễ viếng thăm phần mộ tưng bừng, náo nhiệt, xen kẽ ngày hội giai ngộ cảu tuổi thanh xuân đã hoàn chỉnh bức trnh mùa xuân khi cỏ cây hoa lá vẫn đang độ tươi xanh, rực rỡ, khi không trung và ánh sáng đã trở nên trong trẻo và ấm áp hơn." (Đặng Thanh Lê, Giảng văn "Truyện Kiều", Sđd)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1491
|
|
|
|
A - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN 1. Vị trí đoạn trích: Nằm ở phần mở đầu Truyện Kiều, giới thiệu gia cảnh nhà Vương viên ngoại. Sau bốn câu nói về gia đình họ Vương, tác giả dành hai mươi câu thơ để nói về Thúy Vân, Thúy Kiều. 2. Bố cục - Bốn câu đầu: Giới thiệu khái quát về hai chị em Thúy Kiều - Bốn câu tiếp: Gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân - Mười hai câu còn lại : Gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều - Bốn câu cuối: Nhận xét chung về cuộc sống hai chị em. 3. Đặc điểm nội dung, nghệ thuật - Đoạn trích Chị em Thúy Kiều khắc họa rõ nét chân dung chị em Thúy Kiều. Qua đó, ta thấy được biểu hiện của cảm hứng nhân văn ở Nguyễn Du: ca ngợi vẻ đẹp, tài năng của con người và dự cảm về kiếp người tài hoa, bạc mệnh. -Đoạn thơ khắc họa những nét riêng về nhan sắc, tính cách, số phận nhân vật bằng bút pháp nghệ thuật cổ điển; đặc biệt sử dụng bút pháp nghệ thuật ước lệ, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp của con người; ngôn ngữ chọn lọc, trau chuốt. B - ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN BẢN 1. Chân dung Thúy Vân, Thúy Kiều
a) Bốn câu thơ đầu: Giới thiệu khái quát về nhân vật - Với bút pháp ước lệ, tác giả gợi lên vẻ đẹp duyên dáng, thanh cao, trong sáng của người thiếu nữ ở hai chị em Kiều: "mai cốt cách, tuyết tinh thần" (cốt cách như mai, tinh thần như tuyết). Đó là vẻ đẹp hoàn hảo cả hình thể lẫn tâm hồn. - Cả hai đều tuyệt đẹp "mười phân vẹ mười" nhưng mỗi người lại amng một vẻ đẹp riêng khác nhau. Chỉ một câu thơ, tác giả đã khái quát được vẻ đẹp chung và vẻ đẹp riêng của mỗi người. b) Bốn câu tiếp: Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Vân - Tác giả sử dụng bút pháp ước lệ để miêu tả Thúy Vân. Câu mở đầu vừa giới thiệu, vừa khái quát được vẻ đẹp của nhân vật: "Vân xem trang trọng khác vời". hai chữ "trang trọng" gợi lên vẻ đẹp cao xang, quý phái. Vẻ đjep của Vân được so sánh với hình ảnh cảu thiên nhiên, những thứ cao đẹp trên đời như: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc. - Tác giả miêu tả khá vẹ toàn chân dung Thúy Vân từ khuôn mặt, nét mày, làn sa, mái tóc đến nụ cười, giọng nói, phong thái sử sự. Mỗi chi tiết miêu tả được cụ thể hơn nhờ các định ngữ, bổ ngữ, các hình ảnh so sánh, ẩn dụ, nhà thơ đã vẽ lên bằng ngôn ngữ thơ chọn lọc, chau chốt bức chân dung xinh đẹp của Thúy Vân: khôn mặt đầy đặn, phúc hậu, tươi sáng như mặt trăng, lồng mày sắc nét như con ngài, miệng cười thắm như hoa, giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngà ngọc, mái tóc đen óng ả hơn mây, làn da trắng mịn màng hơn tuyết: Khuôn mặt đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười, ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da Nhờ nét bút cụ thể mà chân dung Thúy Vân hiện lên với vẻ đẹp riêng. Các từ ngữ: "đầy đặn", "nở nang", "đoan trang", kết hợp với các hình ảnh so sánh, ẩn dụ đã tô đậm vẻ đẹp trung thực, phúc hậu quý phái của người thiếu nữ. - Chân dung Thúy Vân hé mở, dự báo về tính cách, số phận của nàng, Vân đẹp hơn những gì mĩ lệ của thiên nhiên, nhưng tạo sự hòa hợp, êm đềm với xung quanh, "mây thua", "tuyết nhường" trước vẻ đẹp của nàng. Từ những thông điệp nghệ thuật này, Thúy Vân hẳn có một tính cách thung dung, điềm đạm, một cuộc đời bình yên, không sóng gió. c) Mười hai câu tiếp cực tả về vẻ đẹp của Thúy Kiều - Tác giả miêu tả Thúy Kiều trong sự so sánh với Thúy Vân.. Vẻ đẹp của Thúy Kiều hơn hẳn Thúy Vân cả về tài và về sắc. Câu thơ đầu cũng khái quát đặc điểm của nhân vật "Kiều càng sắc sảo mặn mà". Nàng "sắc sảo" về trí tuệ, mặn mà về "tâm hồn". - Nguyễn Du cũng dùng những hình ảnh nghệ thuật ước lệ "thu thủy" (nước mùa thu), "xuân sơn" - Những hình ảnh "điểm nhãn - vẽ hồn của chân dung: "Làn thu thủy, nét xuân sơn" - những hình ảnh ẩn dụ này gợi lên đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoặt như làn nước mùa thu, đôi lông mày thanh tú nổi bất trên gương mặt trẻ trung như nét núi mùa xuân. Đôi mắt đó là cửa sổ tâm hồn, trí tuệ. Vẻ đẹp của Kiều kiến hoa phải ghen, liễu phải hờn, làm nước nghiêng thành đổ: Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh Một hai nghiêng nước nghiêng thành Nhà thơ không tả trực tiếp vẻ đẹp mà tả sự đố kị ghen ghét với vẻ đẹp ấy sự ngưỡng mộ, say mê vẻ đẹp đó. "Ngiêng nước nghiêng thành" là thành ngữ, cách nói sáng tạo từ điển cố để tả giai nhân. - Cái đẹp của Kiều có chiều sâu, có sức quyến rũ lạ lùng, như tiềm ẩn những phẩm chất bên trong cao quý và tài tình rất đặc biệt của nàng. - Khi tả Thúy Vân, chủ yếu tác giả tả nhan sắc mà không nói đến tài và tình của nàng, còn khi tả Kiều, nhà thơ tả sắc một phần, còn dành đến hai phần để tả cái tài của nàng. Kiều rất mực thông minh, "Thông minh vốn sẵn tính trời" và rất đa tài: "Phan nghề thi họa đủ mùi ca ngâm, Cung thương lầu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương". Tài của Kiều đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến: đủ cả cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), họa (vẽ). Đặc biệt tài đàn là sở trường năng khiếu, là "nghề riêng", vượt lên trên mọi người (ăn đứt). Không những giỏi ca hát, chơi đàn, Kiều còn giỏi cả sáng tác nhạc nữa. Cung đàn Bạc mệnh mà Kiều sáng tác chính là tiếng lòng của một trái tim đa sầu đa cảm. Tài năng của Kiều nghiêng về văn học nghệ thuật, đó là phát độ của một trái tim nồng nhiệt, một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm. Cực tả cái tài của Kiều cũng là ca ngợi cái đặc biệt của nàng. - Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp của sắc - tài - tình, tất cả đều đến mức lí tưởng. - Chân dung Thúy Kiều cũng là chân dung mang tính cách, số phận. Vẻ đẹp khiến tạo hóa ghét ghen, các vẻ đẹp khác đố kị, và tài hoa, trí tuệ thiên bẩm đến "lầu bậc", "đủ mùi", cái tâm hồn đa sầu đa cảm của Kiều sẽ khó tránh khỏi định mệnh nghiệt ngã, số phận cảu nàng sẽ phải éo le, đau khổ như Nguyễn Du đã viết từ mở đầu Truyện Kiều: "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen" ; " Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau". Đặc biệt ở cung đàn bạc mệnh đầy sầu não khổ đau do Kiều sáng tác như dự báo cuộc đời hồng nhan bạc mệnh, tài hoa bạc mệnh khó tránh khỏi của Kiều. - Như vậy, Nguyễn Du đã miêu tả Thúy Vân để làm nổi bật Thúy Kiều theo thủ pháp nghệ thuật "đòn bẩy". Và nhà thơ hết lời ca ngợi cả hai nhưng lại đậm nhạt khác nhau ở mỗi ngườ, dành bốn câu để tả Văn và mười hai câu để tả Kiều, chỉ tả nhan sắc của Vân, còn tả cả, sắc - tài - tình của Kiều. Dùng bút pháp nghệ thuật ước lệ để miêu tả nhân vật nhưng ngòi bút tác giả vẫn sinh động, chân thực và mang tính cá thể hóa sâu sắc khi miêu tả nhân vật. Miêu tả ngoại hình nhưng tác giả cũng hé mở tính cách, số phận nhân vật. d) Bốn câu cuối: Nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em Kiều Khép lại hai bức chân dung tuyệt mĩ, Nguyễn Du lại dùng ngôn ngữ đẹp đẽ để nói chung về cuộc sống của hai nàng. Họ sống phong lưu, khuôn phép, đức hạnh, cả hai đều đã đến tuổi búi tóc cài trâm nhưng vẫn "tường đông ong bướm đi về mặc ai". Hai câu kết trong sáng, đằm thắm như chở che, bao bọ cho hai chị em, hai bông hoa vẫn còn đang phong nhụy trong cảnh "êm đềm", chưa một lần tỏa hương vì ai. 2 Cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du thể hiện qua đoạn trích
- Gợi tả vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều, vẻ đẹp "mười phân vẹn mười", Nguyễn Du đã trân trọng, đề cao những giá trị, vẻ đẹp của con người như nhan sắc, tài hoa, phẩm cách, . . . Nghệ thuật lí tưởng hóa ở đây phù hợp với cảm hứng ngưỡng mộ, ngợi ca. - Dự cảm đầy xót thương về kiếp người hồng nhan bạc mệnh, tài hoa mệnh bạc cũng là biểu hiện của tấm lòng cảm thương sâu sắc với con người, là biểu hiện của cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du. C - TÁC PHẨM - TỪ NHIỀU GÓC NHÌN
1. "Nổi bật bên hình ảnh người em gái có tính cách thung dung, điềm đạm và cuộc đời phẳng lặng bình yên là hình tượng Thúy Kiều với sắc - tài - tình - mệnh phi thường. Một sắc đẹp rực rỡ, đằm thắm bởi sự phong phú của tâm hồn, sự thông tuệ và tấm lòng giàu cảm xúc đã ngời sáng trên dung nhan Thúy Kiều . . . Và vẻ đẹp hoàn thiện sắc - tài - tình của cô thiếu nữ đương tuổi thanh xuân cài trâm hôm nay còn chất chứa một viễn cảnh về cuộc đời đầy bi kịch mai sau". (Đặng Thanh Lê, Giảng văn "Truyện Kiều", NXB Giáo dục, 1997)
2. "Cả vẻ đẹp lẫn tài năng nhân vật, tuy đều được vẽ ra rất khéo, bút pháp đa dạng (mỗi nhân vật có một cách vẽ riêng), những vẫn nằm trong khuôn khổ nghệ thuật và tư tưởng thời trung đại, với những đường nét ước lệ cao quý, hoàn hảo, lí tưởng. Nhưng đáng chú ý là dụng ý của tác giả khi phân biệt nét khác nhau của hai nhân vật, nhấn mạnh nét này, bỏ qua nét kia, làm hiện rõ hai bức chân dung, dự báo số phận về sau của mỗi người. Nàng Thúy Vân rồi sẽ được hưởng phúc đấy, còn nàng Thúy Kiều sẽ bị tạo hóa đố kị, ghen ghét, làm cho cuộc đời nàng trôi dạt, tan nát suốt mười lăm năm. Đó là nghệ thuật "tả ý" tinh vi, thâm thúy của thơ văn cổ điển" (Trần Đình Sử, Đọc văn học văn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bài 1453
|
|
|
|
A- TÁC GIẢ - Nguyễn Du (1765 - 1820) tên là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên: quê ở Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. - Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội: xã hội phong kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩ nổ ra liên tục và đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa tây Sơn đã "một phen thay đổi sơn hà". Phong trào Tây Sơn thất bại, nhà Nguyễn lên thay. Những thay đổi lớn lao ấy đã tác động mạnh tới ngòi bút của Nguyễn Du. - Gia đình Nguyễn Du là một gia đình quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học, cha đỗ tiến sĩ, từng làm tể tướng, anh cùng cha mẹ từng làm quan to dưới triều Lê -Trịnh và là ngưởi say mê nghệ thuật. Nhưng Nguyễn Du sớm mồ côi cha (năm 9 tuổi) rồi mồ côi mẹ (năm 12 tuổi). Hoàn cảnh gia đình cũng ảnh hưởng lớn tới cuộc đời và sáng tác của Nguyễn Du. - Nguyễn Du là người có hiểu biết sâu rộng, có vốn sống phong phí, từng sống ở những nơi là cái nôi văn hóa của đấy nước. Trong những biến động dữ dội của lịch sử, nhà thơ từng sống nhiều năm lưu lạc, khi ở trên đất Bắc, khi về quê nội ở Hà Tĩnh. Khi ra là quan với nhà Nguyễn, ông từng đi sứ sang Trung Quốc, qua nhiều vùng đất Trung Hao rộng lớn với nền văn hóa rực rỡ. Đi nhiều, tiếp xúc nhiều, trải đời . . . tất cả những điều đó đã có ảnh hưởng lớn đến sáng tác của nhà thơ. - Ngoài năng khiếu văn học bẩm sinh và ham học, Nguyễn Du còn là con người có trái tim giàu lòng yêu thương. Chính nhà thơ từng viết trong Truyện Kiều: "Chữ tâm kia bằng ba chữ tài". Mộng Liên Đường chủ nhân trong lời tựa Truyện Kiều cũng đề cao tấm lòng của Nguyễn Du: "Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy, khiến ai đọc cũng phải thấm thía, ngậm ngùi, đau đớn đến rứt ruột. Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết. Nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ xuốt cả ngàn đời thì tài nào cũng có cái bút lực ấy". - Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa, một nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa lớn, có dóng góp to lớn đối với sự phát triển của văn học Việt Nam. - Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị bằng chữ Hán và chữ Nôm. Thơ chữ Hán có ba tập : Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục. Về chữ Nôm, ngoài kiệt tác Truyện Kiều còn có Văn chiêu hồn, . . . B - TÁC PHẨM 1 Nguồn gốc tác phẩm và sự sáng tạo của Nguyễn Du Nguyễn Du viết Truyện Kiều vào đầu thế kỉ XIX (1805 - 1809). Lúc đầu truyện có tên là Đoạn trường tân thanh, tên thường gọi là Truyện Kiều, ồm 3254 câu thơ lục bát, bằng chữ Nôm. Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã dựa vào Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở Trung Quốc (viết bằng văn xuôi chữ Hán). Nhưng Truyện Kiều với cảm hứng nhân đạo cao cả, xuất phát từ cuộc sống con người Việt Nam và có sự sáng tạo lớn của Nguyễn Du ở nghệ thuật tự sự - kể chuyện bằng thơ, nghệ thuật xây dựng nhân vật, miêu tả thiên nhiên, nên đã và sẽ mãi mãi là sáng tạo văn chương đích thực của thiên tài văn học Nguyễn Du và là một kiệt tác. 2. Tóm tắt Theo ba phần như sách giáo khoa, xoay quanh nhân vật chính là Thúy Kiều: - Phần thứ nhất: Gặp gỡ đính ước - Phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc - Phần thứ ba: Đoàn tụ 3. Giá trị nội dung và nghệ thuật a) Giá trị nội dung - Giá trị hiện thực Tác phẩm phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị và số phận của những con người bị áp bức đau khổ, đặc biệt là số phận bi kịch của người phụ nữ. -Giá trị nhân đạo + Truyện Kiều thể hiện niềm xót thương, cảm thông sâu sắc trước những đau khổ của con người. + Tác phẩm cũng là tiếng nói phê phán, lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo đã gây đau khổ cho con người. + tác phẩm còn là tiếng nói trân trọng, đề cao con người từ vẻ đẹp ngoại hình phẩm chất, tài năng, đến những ước mơ, khát vọng chân chính. b) Giá trị nghệ thuật Truyện Kiều đạt thành tựu lớn về nhiều phương diện nghệ thuật, trong đó phải nói đến hai thành tựu nổi bật. - Về ngôn ngữ: Trong Truyện Kiều , tiếng Việt đạt đến đỉnh cao ngôn ngữ nghệ thuật. Tiếng Việt trong Truyện Kiều hết sức giàu và đẹp. - Về thể loại: Nghệ thuật tự sự trong Truyện Kiều đã có sự phát triển vượt bậc. Ngôn ngữ kể chuyện đã có cả ba hình thức: trực tiếp (lời nhân vật), gián tiếp (lời tác giả, nửa trực tiếp (lời tác giả nhưng mang suy nghĩ, giọng điệu nhân vật). Nghệ thuật xây dựng nhân vật có nhiều cách tân, nhân vật xuất hiện với cả con người hành động (dáng vẻ bên ngoài) và con người cảm nghĩ (đời sống nội tâm bên trong). Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên đa dạng, bên cạnh những bức tranh chân thực, sinh động và những bức tranh tả cảnh, ngụ tình đặc sắc. Thể thơ lục bát cũng đạt tới đỉnh cao chót lọt một không hai trong lịch sử văn học dân tộc. C - TÁC PHẨM - TỪ NHIỀU GÓC NHÌN 1. "Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân còn có tên là Song kì mộng khi mới ra đời nó đã bị quên đi, ít ai nhắc đến. Còn Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, gần hai trăm năm nay chiếm một vị trí rực rỡ trong lịch sử văn học Việt Nam. Điều đó thì đã rõ. Tại sao Kim Vân Kiều truyện và Đoạn trường tân thanh có hai số bộ phận khác nhau ấy? Điều đó không thể giải thích vì ngôn ngữ, vì văn chương gọ Nguyễn hau hơn văn chương Thanh Tâm Tài Nhân; hay vì Đoạn trường tân thanh là một bài thơ dài, còn Kim Vân Kiều truyện là một cuốn truyện văn xuôi. Nó chỉ có thể giải thích được bằng cái nội dung với những hình tượng được xây dựng của tác phẩm; hay nói một cách khác, nó chỉ có thể giải thích được bằng sự sáng tạo của Nguyễn Du trên cơ sở nhào nặn lại cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mà xây dựng những bức tranh sống của xã hội có một nội dung phong phú, sâu sắc." (Nguyễn Thạch Giang, Một số nhận xét về "Kim Vân Kiều truyện " với Đoạn trường tân thanh", trong "Nguyễn Du - về tác gia và tác phẩm" NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002) 2. "Chúng tôi cho rằng việc so sánh Truyện Kiều của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân phải thật khách quan và xuất phát từ ý thức tiếp nhận của độc giả Việt Nam. Công lao lớn nhất của Nguyễn Du là lần đầu tiên ông đã nâng ngôn ngữ dân tộc lên một bước cao, đã sáng tác ngôn ngữ thơ ca giàu hình tượng của dân tộc Việt Nam, đã gửi gắm được tình cảm của dân tộc Việt Nam vào nhân vật của mình. Rõ ràng Thúy Kiều của Nguyễn Du gần gũi hơn, đáng yêu hơn đối với người đọc Việt Nam. Đó là một phụ nữ, hiếu thảo, thủy chung, vị tah, tình cảm. Nàng sẵn sàng dám nhận mọi trách nhiệm về mình kể xcar trách nhiệm về cái chết của Từ Hải. Trong khi đó, Thúy Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân lí trí hơn, "tiểu thuyết" hơn. Tuy nhiên, chúng tôi không kết luận nàng Kiều nào hơn nàng Kiều nào. Mà chúng tôi cho rằng so sánh như vậy chỉ là để chứng minh sự khác nhau giữa hai phong cách của tác giả. Còn muốn chứng minh sự vĩ đại của Nguyễn Du, chúng ta cần phải đi theo một hướng khác. (Nguyễn Văn Dân, Lí luận văn học so sánh, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003) 3. . . .Nỗi niềm xưa, nghĩ mà thương "Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng" ... Nhân tình, nhắm mắt chưa xong Biết ai hậu thế, khóc cùng Tố Như? "Mai sau, dù có bao giờ..." Câu thơ thuở trước, đâu ngờ hôm nay . . .Tiếng thơ ai động đất trời Nghe như non nước vọng lời nghìn thu. Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày. Hỡi người xưa của ta nay Khúc vui xin lại so dây cùng Người! . . . (Kính gửi cụ Nguyễn Du , Tố Hữu - Thơ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1994)
|
|