|
|
giải đáp
|
phân tích bài thơ
|
|
|
|
Lời giải này có yêu cầu trả vỏ sò để xem. Bạn hãy link trên để vào xem chi tiết
|
|
|
|
giải đáp
|
Làm giúp em dàn ý bài nghị luận: vô cảm
|
|
|
|
Em tham khảo bài này nhé:
Xã hội đang dần tiến bộ theo từng giây từng phút kéo theo sự bận rộn,
hối hả của nhịp sống con người. Thế nhưng trong nhịp sống tưởng chừng
như bất tận ấy không phải không còn những bất cập. "Một con ngựa đau cả
tàu bỏ cỏ" hay "Thương người như thể thương thân" từ lâu đã trở thành
đạo lí của dân tộc Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và
giữ nước, những truyền thống tốt đẹp ấy luôn được dân ta gìn giữ và phát
huy. Thế nhưng ngày nay, bên cạnh những con người sống tốt, luôn nghĩ
đến người khác còn có những kẻ thờ ơ, lãnh đạm, ích kỉ, chỉ biết nghĩ
đến bản thân. Nói cách khác, họ là những kẻ vô cảm trước hiện thực cuộc
sống, trước cộng đồng. Đi sâu tìm hiểu căn bệnh "vô cảm" này chúng ta sẽ
thấy tác hại ghê gớm của nó và chắc rằng mỗi người sẽ có một suy nghĩ,
một cách làm riêng để chống bệnh "vô cảm". Thế nào là "bệnh vô
cảm"? Dường như tên "căn bệnh" đã hàm chứa cả định nghĩa về chính nó.
"Vô" là không, "cảm" chính là cảm giác, cảm xúc, "vô cảm" là sự thờ ơ,
dửng dưng, không quan tâm đến mọi việc đang diễn ra xung quanh, chỉ biết
nghĩ đến bản thân với những lợi ích, thành quả thỏa mãn lòng ham muốn
ích kỉ. Căn bệnh này quả thật rất khó "chữa trị" và không có loại
"thuốc" nào thực sự công hiệu. Để đẩy lùi được vô cảm là cả một quá
trình dài và tốn khá nhiều công sức. Thực trạng về "bệnh vô
cảm" hiện nay đang diễn ra rất phức tạp. Nó có mặt và chung sống với con
người từ rất lâu. Trước kia, ông ta đã thấy rõ được những tác hại của
nó nên đã tích cực phê phán, lên án những thói xấu chỉ biết vun vén cho
riêng mình: "Đèn nhà ai nhà ấy rạng", "cháy nhà hàng xóm bình chân như
vại". Quả thật không thể nào dung thứ được những hành động ấy. "Vô cảm"
đồng nghĩa với việc vứt bỏ truyền thống dân tộc và cũng chính là vứt bỏ
chính bản thân mình. Hiện nay, cuộc sống vật chất và tinh thần ngày càng
được cải thiện, có quá nhiều cái thu hút, quyến rũ khiến lòng tham
không đáy của con người nổi lên kéo theo sự tích kỉ, nhỏ nhen,lãnh đạm,
thờ ơ..... và cả một trái tim băng giá chỉ biết làm tất cả để thu lợi về
bản thân và gia đình mình, thờ ơ với mọi việc đang diễn ra ở xung
quanh. Trong cuộc sống thực tại của ngày hôm nay, không khó đẻ tìm ra
những con người "vô cảm" ấy. Đối với họ, nhà hàng xóm gặp hoạn nạn, có
con cái hay người thân măc vào tệ nạn xã hội họ cũng bàng quang như
không hay biết, không hỏi han, an ủi một vài lời. Đi đường, gặp người bị
nạn, những kẻ "vô cảm" hoặc bỏ đi chẳng thèm quan tâm sự sống chết của
đồng loại, hoặc dẫu có đến chỗ người bị nạn thì cũng chỉ là để thỏa mãn
sự hiếu kì của mình, giương đôi mắt lãnh đạm nhìn xung quanh, không giúp
đỡ nạn nhân vì sợ phải gánh trách nhiệm. Trước những mảnh đời bất hạnh,
những cảnh khổ đau của những người tàn tật, họ cũng không mảy may xúc
động. Bằng đôi mắt thờ ơ của mình, rẻ rúng những người kém may mắn ấy.
Quả thật đó là những hành động đáng lên án ! Bệnh "vô cảm" có
những tác hại thật ghê gớm, không chỉ làm suy thoái đạo đức của một cá
nhân, hoặc một tập thể mà còn đẩy xã hội, một đất nước đến bờ vực của sự
tụt hậu, thoái vong. "Vô cảm" có thể dẫn đến chết người. Một
bác sĩ nếu "vô cảm" sẽ không có tình thương đối với người bệnh, đánh mất
đi lương tâm của một người thầy thuốc, quên đi phương châm "lương y như
từ mẫu" mà Bác Hồ đã từng răn dạy. Trước một ca cấp cứu, bệnh nhân đang
ở trong tình trạng nguy kịch nhưng vì gia cảnh nghèo, không có tiền để
đóng viện phí hay để "bồi dưỡng" cho bác sĩ thì "vô cảm" khiến người bác
sĩ chậm trễ trong việc cứu chữa bệnh nhân, cuối cùng dẫn đến một cái
chết oan uổng, gây đau khổ cho những nười thân của họ. Càng chua xót
hơn, càng đau đớn hơn nếu người bệnh nhân kia là cha, là mẹ, là người
trụ cột trong gia đình. Họ đã ra đi, để lại những đứa con thơ dại, cha
mẹ già yếu sống trong cảnh cô đơn, không nơi nương tựa. Người
giáo viên được xem như những người cha, người mẹ thứ hai của học sinh.
Nếu "vô cảm" sẽ thiếu tình thương giành cho những đứa con của mình,
thiếu nhiệt tình và trách nhiệm trong việc giảng dạy, truyền lại kiến
thức cho học sinh. Vì "vô cảm", họ sẽ "đào tạo" ra những lớp học sinh
thiếu trình độ, thậm chí cũng "vô cảm" như họ. Như vậy các em có còn gì
là những chủ nhân tương lai của đất nước! Quả là một mối họa lớn cho xã
hội. Đối với nhà nước- cơ quan điều hành mọi hoạt động của đất
nước, một cán bộ "vô cảm" sẽ không nhìn thấy và thấu hiểu được những
hoàn cảnh khốn khó của người dân. Vì thế, người dân sẽ không còn tin vào
chính quyền. Do cuộc sống không được quan tâm, các tệ nạn xã hội sẽ dễ
dàng "len lỏi" vào từng nhà khiến cuộc sống của người dân vốn đã khó
khăn lại càng khó khăn hơn. Chính những người cán bộ "vô cảm", thiếu
trách nhiệm đã gián tiếp đẩy đất nước đế bờ vực của sự suy vong.
"Bệnh vô cảm" đã làm con người giống như một cái máy không lí trí,
không tình cảm. Những người mắc "bệnh vô cảm" chắc chắn sẽ không bao giờ
đạt được thành quả cao trong công việc cũng như trong cuộc sống, đặc
biệt họ sẽ không nhận được tình cảm từ người khác. Thực tế thì
chưa hẳn tôi, bạn, và tất cả mọi người đều "vô cảm", ngược lại số ít
người đó lại rất hòa đồng vui tươi, chấp nhận mọi thử thách mà vẫn nở
một nụ cười tươi rói. Vậy thì tại sao chúng ta lại không thử? Hãy nhón
chân cao hơn và bạn sẽ bay ra khỏi không gian vô cảm ấy chẳng chính sự
tự tin của mình. Làm ngay bây giờ nếu bạn muốn chữa căn bệnh "khó chữa"
ấy. Hiện tại, đất nước ta còn nghèo, nhân dân ta còn cực khổ,
mỗi người chúng ta cần phải ý thức được tác hại và phải tích cực chống
bệnh "vô cảm". sống phải có tình thương, có trách nhiệm với cộng đồng và
đặc biệt là hãy mở lòng đối với cuộc sống. Chúng ta hãy sống gắn bó với
cộng đồng theo truyền thống tốt đẹp của dân tộc "lá lành đùm lá rách",
"thương người như thể thương thân", phải biết yêu thương, kính trọng và
sống hết lòng với mọi người xung quanh. Đó là "liều thuốc" đặc hiệu nhất
để chữa bệnh "vô cảm". như vậy thì đất nước Việt Nam mới ngày càng giàu
đẹp, xã hội mới ngày càng hiện đại, văn minh.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
tôi cần sự góp ý của mọi người...!
|
|
|
|
- Nhan đề "Chiếc thuyền ngoài xa" là một ẩn dụ về mối quan giữa cuộc
đời và nghệ thuật. Đó là chiếc thuyền có thật trong cuộc đời, là không
gian sinh hoạt của gia đình người đàn bà hàng chài. Ở đó, ngoài vợ chồng
họ còn có cả một đàn con. Cuộc sống khó khăn đói kém, nơi ở chật
chội,.. làm con người thay đổi tâm tính. Trước đây, anh là một người
hiền lành, lấy chị - một người đàn bà xấu xí nhưng hết sức chăm lo cho
cuộc sống gia đình; đông con, khó kiếm ăn, cuộc sống túng quẫn là
nguyên nhân làm cho người chồng trở nên cục cằn, thô lỗ và biến vợ
thành đối tượng của những trận đòn. Những cảnh tượng đó, những thân phận
đó nếu nhìn từ xa, ở ngoài xa thì sẽ không thấy được. - Nhưng
cũng chính vì ở ngoài xa nên con thuyền mới đơn độc. Đó là sự đơn độc
của con thuyền nghệ thuật trên đại dương cuộc sống, đơn độc của con
người trong cuộc đời. Chính sự thiếu gần gũi, chia sẻ ấy là nguyên nhân
cuả bế tắc và lầm lạc. Phùng đã chụp được cảnh chiếc thuyền ngoài xa
trong sương sớm- một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích, một chân lí của
sự toàn thiện.. Chiếc thuyền là biểu tượng cho sự toàn mĩ mà chiêm
ngưỡng nó, anh thấy tâm hồn mình trong ngần. Nhưng khi chiếc thuyền đâm
thẳng vào bờ, chứng kiến cảnh đánh vợ của người đàn ông kia, anh đã kinh
ngạc…và vứt chiếc máy ảnh xuống đất. Anh nhận ra rằng, cái đẹp ngoài xa
kia cũng ẩn chứa nhiều oái oăm, ngang trái và nghịch lý. Nếu ko đến gần
thì chẳng bao giờ anh phát hiện ra. Xa và gần, bên ngoài và thẳm sâu…đó
cũng chính là cách nhìn, cách tiếp cận của nghệ thuật chân chính.
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
cho đề bài
|
|
|
|
Lời giải này có yêu cầu trả vỏ sò để xem. Bạn hãy link trên để vào xem chi tiết
|
|
|
|
giải đáp
|
Giúp tớ nha
|
|
|
|
Bài làm tham khảo
Nguyễn Thi là nhà văn quân đội đã hi sinh tại mặt trận Sài Gòn năm 1968. “Truyện và kí” xuất bản năm 1960 là tuyển tập của Nguyễn Thi, trong đó có truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” in trong tuyển tập “Truyện và kí” xuất bản năm 1960 là tác phẩm này tiêu biểu cho tài năng nghệ thuật của Nguyễn Thi. Bên cạnh những nhân vật được xây dựng thành công như má Tư Năng, chú Năm, chị Chiến, còn có nhân vật Việt là một nhân vật tiêu biểu cho thế hệ trẻ miền Nam, gắn bó với gia đình, quê hương, dũng cảm chiến đấu, sẵn sàng hi sinh vì tổ quốc.
Ấn tượng của độc giả về nhân vật Việt sau khi đọc tác phẩm không chỉ là một chiến sĩ kiên cường dũng cảm trên mặt trận mà còn là một chàng thanh niên có tính cách hồn nhiên vô tư như bao chàng trai khác.
Qua hồi ức của Việt khi còn ở nhà Việt là một chàng trai hồn nhiên trong trẻo. Khi chị Chiến doạ “thù cha chưa trả mà bỏ về thì chú chặt đầu” thì “Việt lăn kềnh ra ván cười khì khì”. Khi chị Chiến trao đổi bàn tính sắp xếp chuyện nhà thì Việt vẫn vô tư “chụp một con đom đóm úp vào trong lòng tay”. Hay khi chị Chiến trao đổi việc nhà thì Việt vừa khen thầm chị Chiến “chị nói nghe thniệt gọn” vừa “ngủ quên lúc nào không biết”. Khi ở chiến trường, đã trở thành một chiến sĩ dũng cảm rồi vẫn giữ bên mình cái ná thun bắn chim hồi nhỏ. Bị thương nằm một mình giữa rừng không sợ chết mà chỉ sợ ma và bóng đêm. Khắc hoạ nét tính cách hồn nhiên này của Việt tác giả muốn nhấn mạnh rằng Việt là một chiến sĩ dũng cảm anh hùng nhưng vẫn là một con người của đời thường như bao người trai trẻ khác.
Tuy sống hồn nhiên vô tư nhưng Việt không vô tâm với những người xung quanh. Việt luôn yêu thương cha mẹ chị em trong gia đình và người thân cũng như đồng đội xung quanh. Trong kí ức của Việt luôn in đậm hình ảnh của má. Trong cơn chập chờn tỉnh thức khi bị thương nằm một mình giữa rừng hình ảnh đầu tiên hiện về là hình ảnh người má thân yêu. “Việt tỉnh dậy lần thứ tư trong đầu còn thoáng hình ảnh người mẹ” và “Việt ước gì bây giờ được gặp má”. Khi hai chị em cùng sắp xếp việc nhà cũng là lúc “cả hai chị em cùng nhớ đến má” và lo đưa bàn thờ của má gửi sang nhà chú năm trước khi đi đánh giặc.
Đối với chị Chiến, Việt dành cho chị một tình thương sâu đậm. Việt đã coi chị như người mẹ, vâng lời sắp đặt việc nhà của chị. Tình thương chị Chiến được thể hiện rõ nhất khi hai vhị em khiêng bàn thờ má sang nhà chú năm “nghe tiếng chân chị Việt thấy lòng thương lạ”, “lần đầu tiên Việt muốn thấy lòng mình rõ như thế”.
Đối với những người thân yêu như chú năm, anh Tám và những người đồng đội khác thì Việt vừa yêu thương vừa gắn bó tin cậy. Khi bị thương nằm giữa rừng Việt vừa nghĩ đến má vừa nhớ đến anh Tám “Việt muốn chạy thật nhanh” để gặp lại anh Tám níu chặt lấy anh mà khóc”. Việt hồn nhiên vô tư trong cuộc sống nhưng lại rất giàu lòng yêu thương gắn bó vơói mọi người, đó là một nét tính cách nổi bật ở nhân vật Việt.
Nhà văn Nguyễn Thi tập trung khắc hoạ nét tính cách nổi bật của nhân vật Việt là tính cách của một con người dũng cảm kiên cường.
Khi còn ở nhà “ý nghĩ đi bộ đội luôn thôi thúc Việt” đến nỗi “Việt đi đâu chị Chiến cũng dòm chừng coi Việt có bọc quần áo theo không” vì sợ Việt trốn nhà đi bộ đội. Mặc cho chị Chiến can ngăn Việt vẫn không nhường chị đi bộ đội trước Việt vẫn giành chị để được đi. May nhờ chú năm xin cho cả hai đi bộ đội thì mọi việc mới ổn.
Những ngày ở chiến trường Việt luôn tỏ ra là một chiến sĩ dũng cảm kiên cường trong một trận đánh ác liệt sau khi tiêu diệt được một xe bọc thép đầy Mĩ Việt bị thương nặng kiệt sức nằm giữa rừng vẫn ở trong tư thế chiến đấu “Việt vẫn còn đây nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng ngón cái còn lại sẵn sàng nổ súng”. Không chỉ ở tư thế chiến đấu mà Việt còn kiên cường hơn thế tự lết thân mình về phía mặt trận “Việt đã bò đi được một đoạn cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo chính trận đánh đang gọi Việt đến”.
Việt mang nặng thù nhà nợ nước nên tinh thần chiến đấu luôn thôi thúc Việt và Việt đã chiến đấu đúng nghĩa của một người anh hùng. Việt là hình ảnh của một người thanh niên thời đại mới có khí phách kiên cường bất khuất.
Với kết cấu tác phẩm theo lối đồng hiện, với nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật đa dạng độc đáo và ngôn ngữ đời thường giàu chất nam bộ, nhà văn đã xây dựng được nhân vật Việt một cách sinh động. Nhân vật Việt là mẫu người anh hùng của nhân dân nam bộ thời đánh Mĩ. Họ vừa mang nặng mối thù chung và mối thù riêng đã ra đi chiến đấu đến hơi thở cuối cùng cho sự nghiệp giải phóng đất nước.
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Giúp tớ làm bài này nha
|
|
|
|
Tham khảo bạn nhé! 1. Mở bài
Đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành viết vào năm 1965, rút từ tập “ Trên quê hương anh hùng Điện Ngọc”,
điều đó để lại ấn tượng sâu đậm cho độc giả chúng ta không chỉ là những
nhân vật như cụ Mết, Tnú, Dít, Mai, những con người Tây Nguyên bất
khuất kiên trung thủy chung với Cách mạng, mà còn là hình tượng Cây xà
nu - một hình tượng độc đáo bao trùm toàn bộ tác phẩm. Chính hình tượng
cây xà nu đã tạo nên vẻ đẹp hùng tráng, chất sử thi, lãng mạn cho câu
chuyện về làng Xôman bất khuất kiên cường. Đọc tác phẩm này điều mà
người đọc nhận ra trước tiên là hình tượng cây xà nu đã trở thành một
hình tượng chủ đạo xuyên suốt tác phẩm gắn bó với cuộc sống và mọi sinh
hoạt của dân Xôman. 2. Thân bài
Trong bài viết “Về truyện ngắn " Rừng xà nu”,
tác giả Nguyên Ngọc (bút danh là Nguyễn Trung Thành” đã tâm sự: “Ngay
từ năm 1962, trên đường vào miền Nam công tác, đến tỉnh Thừa Thiên, giáp
Lào, tôi được chứng kiến những rừng xà nu bát ngát xanh tít tận chân
trời. Đấy là những cây họ thông, hùng vĩ và cao thượng, Mai dại và trong
sạch. Mỗi cây cao vút vạm vớ nhựa ưá ra, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn
rỏi”. Những cây xà nu có phẩm chất đặc biệt ấy đã gây ấn tượng mạnh mẽ
và khơi nguồn cảm hứng cho tác giả ba năm sau (1965) tạo dựng lên hình
tượng cây xà nu đặc sắc này. Hình tượng cây xà nu được
tác giả miêu tả từ nhiều góc độ và đưa lại hiệu quả thẩm mỹ đặc biệt.
Trong truyện ngắn này, nhà văn không chỉ mở đầu và kết thúc truyện bằng
hình ảnh rừng xà nu bát ngát đến chân trời, mà đã gần 20 lần nói đến
“Rừng xà nu”. “Cây xà nu”, “nhựa xà nu”, “lửa xà nu”… Chất sử thi của
thiên truyện sẽ không trở thành giọng điệu chính của tác phẩm, nếu thiếu
đi hình tượng cây xà nu được khai thác từ nhiều góc độ, được lặp đi lặp
lại nhiều lần đến như vậy, nhất là “các đồi xà nu – 4 lần”; “Rừng xà nu
– 5 lần”. Thủ pháp điệp trùng khi mô tả cây xà nu đó, vừa làm nền cho
toàn bộ diễn biến của câu chuyện, vừa gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc
về cây xà nu. Nhưng xà nu không chỉ có mặt trong đoạn mở đầu và đoạn
kết, mà nó còn hiện diện trong suốt câu chuyện về Tnú và làng Xôman của
anh. Xà nu gắn bó với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày như đã từ ngàn đời
nay thân thuộc với dân làng: ngọn lửa xà nu nấu ăn trong mỗi bếp, đuốc
xà nu soi sáng đường rừng đêm, lửa xà nu cháy bập bùng trong nhà ưng tập
trung cả dân làng. Khói xà nu đen nhẻm thân hình lũ trẻ; khói xà nu còn
làm tấm bảng đen cho anh Quyết dạy Tnú, Mai học chữ cụ Hồ. Xà nu còn
tham dự vào những sự kiên quan trọng của cuộc sống làng Xôman: ngọn đuốc
xà nu cháy sáng trong tay cụ Mết dẫn cả dân làng đi vào rừng sâu lấy
giáo mác đã giấu kỹ về chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Đêm đêm cả dân làng
thức mài vũ khi dưới ánh đuốc xà nu. Giặc đốt hai bàn tay Tnú bằng giẻ
tẩm nhựa xà nu, lửa xà nu đốt lên lòng căm thù trong lòng người dân
Xôman. Rồi ngọn lửa đuốc xà nu soi sáng rực cả làng cái đêm khởi nghĩa;
soi rõ xác 10 tên lính nằm ngổn ngang quanh đống lửa … Hình tượng cây xà
nu qua ngòi bút Nguyễn Trung Thành đã trở thành một nhân chứng về tội
ác của chiến tranh hủy diệt; là người chứng kiến cho sự giác ngộ, hy
sinh thầm lặng và sự quất khởi của người dân Xôman. - Mở đầu tác phẩm,
tác giả đã vẽ ra trước mắt người đọc một bức tranh toàn cảnh về nỗi đau
thương đội bom đạn giặc Mỹ gây ra. Tác giả đã đặt ngay cây Xà nu vào bối
cảnh khốc liệt của chiến tranh “ Làng nằm trong tầm đại bác của giặc…”.
Cây Xà nu vừa là người chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh, vừa là
đối tượng hủy diệt của bom đạn kẻ thủ “Cả rừng xà nu hàng vạn cây, không
cây nào bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang thân mình, đổ ào như
một cơn bão”. Ở một chỗ khác, tác giả tả kỹ hơn “nơi chỗ vết thương nhựa
ứa ra tràn trề thơm ngào ngạt long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần
bầm lại đen và đặc lại quện thành cục máu lớn”. Hình ảnh đó gợi lên nỗi
đau thương mất mát, lòng căm thù, kết tụ ý chí phản kháng.
Hình tượng Cây xà nu còn là hình ảnh tượng trưng cho cuộc sống và phẩm
chất người dân Xôman nói riêng, Tây Nguyên nói chung: như giàu khát vọng
tự do, giải phóng, phẩm chất anh hùng, sức sống mãnh liệt của các thế
hệ nối tiếp nhau.. Chính vì hình ảnh Cây xà nu mang ý nghĩa tượng trưng,
nên sự miêu tả loài cây này, luôn luôn được tác giả đặt trong sự đối
chiếu với con người, gợi ra những liên tưởng về đời sống và số phận cùng
phẩm chất của họ. Cây xà nu rất ham ánh sáng và khí trời: “nó phóng lên
rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng”. Cũng như Tnú, như dân làng Xôman yêu
tự do, khát khao ánh sáng. Bất chấp sự hủy diệt tàn khốc của bom đạn kẻ
thù, cây xà nu vẫn vươn lên với một sức sống mãnh liệt không gì tiêu
diệt, tàn phá nổi “Bên cạnh một cây Xà nu mới ngã gục, đã có 4, 5 cây
con mọc lên ngọn xanh rờn hình nhọn như mũi tên lao thẳng lên bầu trời”,
cũng như các thế hệ làng Xôman, lớp này kế tiếp lớp khác đứng lên, tiếp
tục cuộc chiến đấu: “Tuốt gươm không chịu xuống quỳ Tuổi xanh chẳng
tiếc sá chi bạc đầu Lớp cha trước, lớp con sau Đã thành đồng chí chung
câu quân hành” (Tố Hữu) Anh Quyết hy sinh thì có Tnú, Mai. Mai ngã xuống
giữa tuổi thanh xuân tràn đầy nhựa sống như Cây xà nu bị chặt đứt ngay
giữa thân mình, thì Dít đã lớn lên, và nhanh chóng đến không ngờ trở
thành Bí thư chi bộ, chính trị viên xã đội. Rồi những bé Heng, thế hệ
tiếp theo của Dít cũng đang lớn lên tiếp bước đàn anh. Chính cụ Mết cũng
đã khẳng định được cái sức sống bất tử ấy như một chân lí giản dị:
“Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta, cây mẹ ngã, cây con mọc
lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”. Nhưng ở rừng xà
nu còn xuất hiện những cây khác vững chãi, không chịu khuất phục trước
giông bão, đạn bom của kẻ thù “ưỡn tấm ngực lớn của mình che chở cho xóm
làng”. Phải chăng đó là hình ảnh cụ Mết - hiện thân của tinh thần quật
khởi, người đã nuôi ngọn lửa khát vọng tự do, gắn bó với Cách mạng? “Có
những Cây xà nu cành lá xum xuê như những con chim đã đủ lông mao, long
vũ, đạn đại bác không gíêt nổi chúng. Những vết thương của chúng chóng
lành như trên một cơ thể của chúng chóng lành như trên một cơ thể cường
tráng”. Tất cả nối tiếp nhau tạo thành một đội ngũ trùng trùng điệp điệp
như rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời. Thủ pháp nghệ thuật so
sánh, đối chiếu như một ẩn dụ trên đây trong khi mô tả Cây xà nu, đã
tạo nên sự chuyển hóa, hòa hợp giữa hình tượng thiên nhiên và con người,
tạo nên một bản hợp xướng đầy chất thơ hào hùng tráng lệ về sức sống
bất diệt và cuộc chiến đấu bất khuất kiên trung của nhân dân Tây Nguyên
giành tự do. 3. Kết luận
Tóm lại,
hình tượng xà nu là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Trung
Thành. Nó được dùng như một ẩn dụ gợi cho người đọc nghĩ đến con người
Tây Nguyên yêu tự do, dồi dào sức sống, bất khuất kiên trung, thủy chung
với Cách mạng. Như thế là hình tượng Cây xà nu đã được tác giả đưa lại
cho biết bao ý nghĩa mới mẻ giàu tính chất thẩm mỹ và ý nghĩa nhân sinh,
trở thành linh hồn tác phẩm.Vì vậy, tác giả đã đặt cho truyện của mình
cái tên thật có ý nghĩa: “Rừng xà nu”. CHÚC BẠN LÀM TỐT
|
|
|
|
|
|