|
|
giải đáp
|
nghị luận: Tình bạn là viên ngọc quí (nhờ cả nhà giúp với a!
|
|
|
|
Bài tham khảo đây e!
Các Mác, người cha dẫn dắt, soi đường cho lí tưởng cách mạng vô sản
trên thế giới, từng nhận định về một khía cạnh rất cao đẹp trong cuộc
sống rằng :" Tình bạn chân chính là viên ngọc quý." Trong cuộc sống,
nhiều người cũng đang sở hữu những viên ngọc như thế. Nhưng để viên ngọc
ấy mãi sáng đẹp thì con người thật sự phải biết cách và hết sức cẩn
thận. Tình bạn là quý giá và nó cũng cần được nuôi dưỡng, chăm sóc bởi
những chủ nhân của mình.
Tình bạn là sự kết thân hoàn toàn tự nguyện dựa trên sự hiểu biết về
tính tình, tình cảm, sở thích của nhau trong quá trình học tập, công
tác, sinh hoạt, vui chơi,.... không phân biệt tuổi tác, giới tình, địa
vị xã hội,... Hai đứa bé ngồi cùng bàn học ở lớp là bạn bè, các đồng
nghiệp trong công ty chính là những người bạn tốt, những người ta tình
cờ quen bên đường cũng có thể trở thành bạn,... Bạn bè có ở mọi nơi, mọi
thời khắc và dưới mọi hình thức. Đó là một trong những tình cảm đáng
quý, đáng trân trọng của nhân loại.
Cuộc sống có biết bao sắc màu tươi đẹp, màu lục đem đến sự tươi
vui, đầy sức sống, vàng thì hạnh phúc, ấm áp, xanh lam thì yên ả, thanh
bình;.... Còn tình bạn là sự hòa hợp của gắn bó, thân thiết, mang gam
màu của cầu vồng. Nhưng cũng có lúc nó mang dáng hình của những viên
ngọc giản dị, màu sắc thanh đạm. Tình bạn không chỉ đẹp để tô điểm cho
đời, nó còn tồn tại giữa cuộc đời như một nguồn sống, một chỗ dựa, một
động lực tinh thần cho con người. Tình bạn đem đến một tiếng nói tri âm
của lòng mình, một chỗ dựa thân tình vững chắc, một bàn tay giúp đỡ sẻ
chia trong cuộc sống : "Tình bạn là niềm vui tăng lên gấp đôi và nỗi
buồn giảm đi một nửa" (Ba Cơn). Đặc biệt, cuộc sống sẽ có ý nghĩa biết
bao khi có một người bạn hiểu mình, sẻ chia niềm vui, nỗi buồn cùng mình
trong nhịp sống hối hả. Cuộc sống có không ít người nghĩ sẽ không cần
đến bạn, sẽ luôn tự vượt qua mọi khó khăn, đau khổ, nhưng rồi cũng đến
lúc phải khát khao có một người ngời bên cạnh để được sẻ chia những tấm
sự thầm kín, lí trí nhiều khi không thể cưỡng lại được tình cảm. Bạn là
người vừa thân tình vừa đáng kính trọng. Giữa con người hình thành nên
một hình tượng tinh thần vừa ấm áp, gần gũi, vừa thiêng liêng, đáng
kính. "Tình bạn chân
chính là viên ngọc quý", trên đường tìm kiếm và sở hữu viên ngọc ấy, mỗi
chúng ta đã trở thành người lữ khách tốn nhiều công sức. Và khi đã có
được, thì việc lau chùi, gìn giữ lại càng trở nên quan trọng và mang lại
nhiều thử thách. Để làm được điều đó không gì hiệu hữu bằng "chiếc
rương" tấm lòng với những "chiếc khăn" của sự chân thành, thẳng thắn,
biết thứ tha và biết vượt lên lòng tự ái.
Tình bạn vốn là một tình cảm tự nhiên và tự nguyện. Tính chất của
nó trên phương diện mức độ tình cảm cũng tương tự như tình anh em ruột
thịt, tình cảm gia đình... Vì thế, sự tồn tại và phát triển của nó trước
tiên gắn chặt với sự chân thành. Chân thành trong tình bạn là thật lòng
trong ứng xử, nghĩ suy cùng một niềm chia sẻ, gắn bó sâu sắc với bạn;
tình bạn chân thành được xây dựng không vì một lí do vật chất, vụ lợi,
chỉ cần hiểu nhau mà trở thành tri âm, có thể lắng nghe lòng bạn qua
tiếng đàn như Bá Nha- Tử Kì. Để duy trì được tình cảm, cũng giống như
bao tình cảm khác của con người, bạn bè cần sưởi ấm cho nhau bằng sự
quan tâm chia sẻ. Một ánh mắt lo lắng khi bạn mất đi niềm tin, một lời
an ủi khi bạn buồn khổ, một khoảng lặng lắng nghe tâm sự khi bạn cần
giải bày và một bàn tay giúp đỡ lúc bạn khó khăn,.... Đơn giản mà sâu
sắc, đã tô đậm tình cảm kết nối hai con người với nhau.
Một người bạn tốt không phải là người dễ dàng bỏ qua mọi lỗi
lầm của chúng ta. Người bạn tốt còn là một người thân nghiêm khắc chỉ rõ
lỗi lầm, sai trái của ta. Sự thẳng thắn cũng là liều vitamin cần thiết
mỗi ngày cho tình bạn : "chân thành và thẳng thắn là điều cần thiết để
xây dựng và củng cố quan hệ bạn bè của thanh niên" (Lê Nin). Khi đã trở
thành bạn bè, chúng ta quan tâm đến cuộc sống, nhân cách của nhau, vì
thế ta không thể dửng dưng trước sự sai trái của bạn bởi khi đó chính sự
thỏa hiệp sẽ mang đến những hậu quả nghiêm trọng hơn sau này cho bạn
bè. Và ngược lại, người khen ta chưa chắc là bạn ta, người phê bình ta
chưa chắc là kẻ thù của ta. Thế nên trong giờ kiểm tra ta không nên ủng
hộ hành vi gian lận của đứa bạn trong lớp, trước hành vi tham ô của bạn
đồng nghiệp ta phải kịp thời ngăn chặn, ta hãy luôn sẵn sàng phản đối
với những trò nghịch ngợm của đứa bạn thân trong xóm,... Qua thử thách
của những lầm lạc và thẳng thắng, nghiêm khắc, bạn bè lại càng hiểu
nhau, thông cảm cho nhau. Điều đó đã thể hiện qua đôi bạn chí tình chí
nghĩa Lưu Bình- Dương Lễ. Lưu Bình không lo ăn học, mãi vui chơi nên thi
rớt. Khi gặp lại người bạn thân Dương Lễ nay đã vinh quy bái tổ, thì
lại nhận được sự nghiêm khắc, thẳng thừng của bạn mà hổ thẹn quyết trí
học tập. Nói đến tình
bạn, hẳn chúng ta không thể quên câu chuyện "cát và đá". Câu chuyện cho
ta một bài học sâu sắc về sự tha thứ trong tình bạn. Trong câu chuyện
người bạn đã khắc những lỗi lầm của bạn trên cát để nó có thể phai đi
nhờ gió, cát và thời gian. Vậy tình bạn cũng cần đến sự khoan dung, rộng
lượng. Cuộc đời ai không từng mắc phải lỗi lầm, bạn bè cũng vậy, nhưng
nếu khi người đó thật sự biết nhận lỗi, biết sửa sai thì chúng ta cũn
phải biết bỏ qua những lỗi lầm của bạn. Khi đứa bạn thân tỏ ý giảng hòa
khi mắc lỗi thì một nụ cười sẽ xoa dịu tất cả, làm sao ta có thể từ chối
việc kèm kẹp cho kẻ vẫn hay copy trong lớp khi học đã quyết tâm sửa
chữa,... Sự chấp nhặt, cố chấp chỉ khiến ta dễ dàng mất đi bạn bè còn
lòng khoan dung không chỉ xoa dịu vết rạn nứt trong tình cảm mà còn xoa
đi niềm ân hận, nuối tiếc sau này. Bạn bè cũng như gia đình, tại sao
chúng ta không cho những người thân của mình cơ hội để sửa chữa lỗi lầm
và cho cả chúng cơ hội để giữ gìn tình bạn.
Huy-gô đã từng nhận định rằng : "tự ái là thuốc độc giết chêt
tình bạn". Xây dựng một tình bạn, chsung ta vun trồng một chậu hoa thơm
ngát. Lòng tự ái mà chúng ta vun bón vào ấy sẽ khiên cho tình bạn không
thể nở hoa mà trở nên héo úa. Lòng tự ái bắt nguồn từ tâm lí tự ti, mặc
cảm về bản thân trước bạn bè. Chơi với bạn, ta nhút nhát, lạnh nhạt vì
không giỏi, không xinh, không tài bằng bạn. Lòng tự ái cũng xuất phát từ
sự kiêu căng, cố chấp, không biết nhận lỗi. Trước sự thẳng thắn, thành
thật của bạn lại cảm thấy như bị xúc phạm, không được bạn bè ủng hộ. Có
lúc ngấm ngầm, âm ỉ và có lúc nổi lên, sôi sục, sự tự ái đã đầu độc tình
cảm thân thiết, gắn bó với bạn bè. Và nguy cơ sụp đổ là không tránh
khỏi. Chính vì thế, khi đã kết giao với người khác, chúng ta cần vượt
lên chính bản thân mình, luôn cố gắng hòa đồng cùng bạn bè. Đó tuy là
một thử thách gian nan nhưng với một người bạn thật sự, không có gì có
thể cản trở chúng ta. Vẻ
đẹp của ngiên ngọc tình bạn sẽ "sưởi ấm" tâm hồn của mỗi con người,
nâng đỡ chúng ta trên những bậc thang cuộc đời lắm tiếng cười nhưng cũng
đầy nước mắt này nếu mỗi chúng ta biết tự tạo cho mình một "chiếc
rương" để cất giữ tình bạn. "Chiếc rương" không nạm ngọc quý, kim cương
mà làm bằng sự chân thành, thẳng thắn, khoan dung, biết vượt qua lòng tự
ái. "Chiếc rương" không chỉ cất giữ một tình cảm cao đẹp mà còn giúp ta
chiến thắng bản thân, trưởng thành hơn trong cuộc sống vốn đã có quá
nhiều thách thức trong đời sống tình cảm.
"Tình bạn chân chính là viên ngọc quý". Để giữ gìn nó con người
cần luôn cố gắng rèn luyện tấm lòng chân thành, thẳng thắn, khoan dung
và vượt qua tự ái. Mỗi tình bạn chúng ta gìn giữ được sẽ trở thành một
bản nhạc tuyệt vời trong cuộc hòa âm bởi những tình cảm cao đẹp của nhân
loại.
|
|
|
|
giải đáp
|
So sánh bài "Tự tình" và "Thương vợ"
|
|
|
|
Tham khảo bài này e nhe. Chúc em làm bài tôt Hình
ảnh đầu tiên của người phụ nữ Việt Nam được thể hiện qua hai bài thơ đó
là hình tương người phụ nữ Việt Nam chịu nhiều đau khổ, vất vả trong
cuộc sống. Đó là hình ảnh bà Tú vất vả, gian truân kiếm sống, tất bật
ngược xuôi “Quanh năm buôn bán ở mom sông”. Câu thơ đã nói lên một hoàn
cảnh làm ăn vất vả, lam lũ của bà. Ở đây, bà Tú làm việc vất vả suốt cả
năm, không kể mưa nắng trên mom sông- cái doi đất nhô ra đầy nguy hiểm.
Thấm thía nỗi vất vả, gian truân của vợ, Tú Xương đã mượn hình ảnh con
cò trong ca dao để nói về bà Tú. Có điều hình ảnh con cà trong ca dao
đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương con tội nghiệp hơn.
Con cò trong thơ không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian
mà còn là rợn ngợp của thời gian. Hình ảnh thân cò như một sự sáng tạo: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng”Đưa
từ lặn lội lên đầu câu, thay con cò bằng thân cò cũng làm tăng thêm nỗi
vất vả, gian truân của bà Tú, càng khơi dậy cả nỗi đau thân phận sâu
sắc, thấm thía hơn:“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
Câu
thơ gợi nên một sự chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người
buôn bán nhỏ, sự cạnh tranh đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu
lời qua tiếng lại. Buổi đò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi
quãng vắng mà đó còn là sự chen lấn, xô đẩy chứa đầy bất trắc, nguy
hiểm. Những câu thơ đã làm nổi rõ lên những vất vả, cực nhọc mà bà Tú và
người phụ nữ Việt Nam xưa phải chịu đựng, trải qua.Còn với bài thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương thì đó là sự khổ đau vì không làm chủ được số phận của mình:“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non.”
Mở
đầu là một âm thanh vang vọng, đầy hối hả: Trống canh dồn. Nhưng dù
mãnh liệt đến mấy, tiếng trống cũng chỉ là âm thanh duy nhát trong đêm
vắng, nếu không có nó thì đem khuya sẽ trở nên vô cùng vắng lặng. Cái
động đã đươc sử dụng để tôn lên cái tĩnh, cái cô độc, trống trải của đêm
khuya. Nửa đêm là thời gian sum họp của vợ chồng, là thời điểm hạnh
phúc lứa đôi, ấy vậy mà lại có người phụ nữ tĩnh dậy vào đúng thời khắc
thiêng liêng ấy, hay vì cả đêm người phụ nữ đã không ngủ được vì thiếu
vắng một điều gì đó, vì tâm trạng đang mang nặng một nỗi đau? Tiếng
trống canh âm vang từ xa vọng lại như đang thúc giục thời gian qua mau,
gọi đến một điều đáng sợ đôí với một người đàn bà vẫn còn thân đơn gối
chiếc: đó là tuổi già. Tuổi già càng đến gần nghĩa là hi vọng càng tuột
xa, mọi mong mỏi, khát khao càng trở nên vô vọng. Tiếng trống dồn dập cứ
xoáy sâu vào tâm con người phụ nữ, nó âm vang trong tâm tưởng, âm vang
trong suy nghĩ không tài nào dứt được. Dồn dập, hối hả, tiếng trống
không chỉ bao trùm lên không gian mà còn lên cả thời gian nữa, và tự
hỏi: đây có thật là tiếng trống hiện hữu trong thực tại hay phải chăng
đó là tiếng trống cất lên từ tiếng lòng thổn thức của tác giả, tiếng
trống ám ảnh về một bi kịch đang ngày càng đến gần hơn với bà:“Trơ cái hồng nhan với nước non” Khi
thời gian cứ lướt qua càng lúc càng dồn dập thì cũng là lúc “hồng nhan”
ngày một trơ ra với đời. “Hồng nhan” chính là nhan sắc, gương mặt xinh
đẹp của người phụ nữ. Đó là điều mà bất cứ người phụ nữ nào cũng hết sức
tự hào, coi trọng, nâng niu. Nhưng từ “cái” gắn liền với “hồng nhan”
như một hòn đá kéo nặng cả câu thơ xuống. “Hồng nhan” để làm gì khi nữa
đêm phải tĩnh giấc trong cái trống trãi, lặng lẽo đến đắng cay? “Hồng
nhan” để làm gì khi nó đâu phải là vĩnh cữu mà sẽ nhanh chóng vỡ tan
theo từng nhịp trống dồn. Câu thơ như lời đay nghiến, mỉa mai chính bản
thân mình, đáng thương cho những người phụ nữ đương thời bị đè nén, áp
bức với những thủ tục phong kiến đến mức xơ xác, héo mòn cả một phận
hồng nhan. Đó còn là nỗi đau vì cô quạnh, thiếu vắng hạnh phúc lứa đôi,
không người yêu thương, thông cảm.“Chén rượi hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
Hai
câu thơ vẽ nên một khung cảnh rất thật và cũng chứa chan bao nỗi niềm
tác giả. Một người phụ nữ mà phải ngồi uống rượu một mình, cô đơn với
đêm khuya, với vầng trăng lạnh. Câu thơ là ngoại cảnh mà cũng là tâm
cảnh, tạo nên sự đồng nhất giữa trăng với người. Khi muốn quên sầu là
lúc người ta ở trong tâm trạng cay đắng nhất, khi xung quanh không có ai
để có thể chia sẽ nỗi niềm và ta chỉ còn biết quên đi nỗi niềm trong
men rượu, một mình. Nhưng liệu chén rươu có thể làm quen đi bảo nỗi cô
đơn, tủi nhục trong lòng hay Hồ Xuân Hương uống rượu mà như uống đi bao
giọt sầu mà người uống chẳng đổ đi được khi mà có thể lặng lẽ, âm thầm
nuốt vào cổ họng, để đau khổ cũng chẳng mất đi đâu mà trở lại chính
trong tâm trí mình. Ở đây cảnh tình Xuân Hương được thể hiện chứa đựng
bi kịch. Tuổi xuân đã trôi qua mà nhân duyên không được trọn vẹn.Trăng
vốn là biểu tượng của hạnh phúc, là hình ảnh đại diện cho ước mơ và hi
vọng. Nhưng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương lại xót xa đến mức “khuyết chưa
tròn”- một hạnh phúc không hề trọn vẹn, một cuộc đời còn dang dở, éo le
với những trắc trở trong tình duyên. Hạnh phúc của bà chỉ như vầng trăng
khuyết mà bà không thể biết trước ngày mai trăng sẽ khuyết tiếp hay
tròn. Ánh trăng sáng mà lạnh lẽo vô cùng khi ẩn hiện trong đó một nỗi cô
đơn, trống vắng. Và bóng xế đi kèm với trăng lại gợi nên một nỗi niềm
trong lòng tác giả: nỗi lo sợ trước tuổi xuân đang mất đi. Trăng đã xế
mà vẫn khuyết chưa tròn, giống như tuổi xuân của Xuân Hương đang mất đi
mà tình duyên chuă được trọn vẹn. Hình ảnh mặt trăng là hình ảnh ẩn dụ
vô cùng độc đáo và đặc sắc, miêu tả chính xác và vô cùng sinh động ngoại
cảnh mà cũng bộ lộ được tâm cảnh, những suy nghĩ, tâm tư đang hiện hữu
trong bà.Nhưng dù có vất vả, đau xót, chán chường đến mức nào,
thì người phụ nữ Việt Nam xưa vẫn là những con người có những phẩm chất
đẹp đẽ, không chỉ ở vẻ bề ngoài mà còn là ở tình yêu thương , lòng nhân
hậu, một lòng, một dạ vì chồng, vì con:“Nuôi đủ năm con với một chồng”
Câu
thơ là gánh nặng gia đình đặt lên vai bà Tú, vất vả quanh năm chẳng nề
hà như vậy là để nuôi cả nhà. Đông con, nuôi lũ con đông ấy đã đành, bà
còn phải nuôi chồng. Năm con với một chồng là sáu người. Một phải gánh
sáu, thế là nặng, phải gánh và gánh được, thế là đảm đang. Nhưng nuôi đủ
vẫn hiểu là vừa đủ, vừa đủ nuôi, không thiếu nhưng cũng chẳng thừa. Vất
vả quanh năm đến vậy mà cũng chỉ vừa đủ nuôi chồng, nuôi con, vậy mới
thật là vất vả, đã gắng hết sức rồi. Vậy mới thật là đảm, nặng đến thế
mà cũng gánh xong, khó thế mà cũng chu toàn. Câu thơ thể hiện sự vất vả,
gian lao đức tính chịu thương, chịu khó, hết lòng vì chồng, vì con của
bà Tú nói riêng và của người phụ nữ Việt Nam nói chung.Còn với
Tự Tình II, dù đớn đau đến mức nào thì trong sâu thẳm trái tim bà, dù
yếu ớt đến đâu cũng loé lên ánh lửa khát khao, hi vọng, không chịu khuất
phục mà muốn vùng lên đấu tranh thay đổi cuộc sống của mình:“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”
Một
hình tượng thiên nhiên dữ dội, đầy cựa động như tính cách buớng bỉnh,
không chịu khuất phục điều gì của chính tác giả vậy. Ở đây, Hồ Xuân
Hương, sự buồn tủi bao giờ cũng gợi nên những phản ứng tích cực, bà
không buông xuôi, đầu hàng mà luôn cố gắng tìm cách thay đổi vận mệnh,
cho dù những cố gắng đó mới chỉ dừng lại trong suy nghĩ. Hai câu thơ
tưởng như chỉ miêu tả cảnh vật xung quanh, nhưng chính những đặc điểm
cuả cảnh vật đó đã được dùng để bộc lộ tâm trạng của con người. Hàng
loạt những động từ mạnh đầy sắc thái biểu cảm như xiên, đâm được đảo lên
đầu câu. Những sinh vật bé nhỏ, hèn mọn, còn hèn mọn hơn cả “nội cỏ hoa
hèn” như đám rêu kia mà cũng không chịu mềm yếu. Nó phải mọc xiên, mà
là “xiên ngang mặt đất”. Đá đã rắn chắc lại phải rắn chắc hơn, nó phải
“đâm toạc chân mây”. Biện pháp nghệ thuật đảo ngữ trong hai câu dã làm
nổi bật sự phẫn uất của thân phận đất đá, cỏ cây mà cũng là sự phẫn uất
của tâm trạng. Chỉ những cảnh vật bình thường không có gì đặc biệt như
rêu và đá, nhưng qua cách nhìn đấy bất mãn, ấm ức của tác giả, chúng trở
nên vô cùng sống động. Cự động, nổi loạn, phá phách, muốn đập tan những
gì gò bó đẻ dược tự do vùng vẫy giữa đất trời, thiên nhiên hoà hợp với
con người, đặc điểm thiên nhiên cũng chính là nỗi niềm nhân vật. Và ta
cũng thấy được tâm trạng của Hồ Xuân Hương phẫn uất trước những tục lệ
phong kiến, cũng như những số phận hẩm hiu đang tàn nhẫn ra tay bóp chết
hạnh phúc của bà; những uất hận ấy bị đè nén, gò ép trong lòng bà đến
mức không chịu nổi chỉ chực vỡ oà ra, bà khao khát muốn đập tung tất cả,
muốn đập đổ mọi thứ, muốn tự do biết nhường nào. Nhưng dù sao, bà cũng
chỉ là một người phụ nữ phong kiến, một thân phận nữ nhi cô độc, dù phá
phách, dù nổi loạn đến đâu thì cũng chỉ trong giới hạn ngôn từ. Bà không
thể làm gì hơn được nữa.............. Mặc dù vậy, ta phải công nhận đay
là một cách suy nghĩ vô cùng mới mẻ, một tư tưởng đi trứoc thời đại,
một tính cách hoàn toàn khác biệt so với người phụ nữ lúc bấy giờ. Đó là
một bản lĩnh, một cá tính Xuân Hương đáng trân trọng:“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con” Ngán
là chán ngán, là ngán ngẩm. Hồ Xuân Hương ngán lắm rồi nỗi đời éo le,
bạc bẽo. Xuân đi rồi xuân lại, tạo hoá chơi một vòng luẩn quẩn. Từ xuân
mang hai nghĩa, vừa là mùa xuân, vừa là tuổi xuân. Mùa xuân đi rồi, mùa
xuân trở lại với thiên nhiên, với muôn nghìn hoa cỏ, lá cây, nhưng với
con người tuổi xuân qua là không bao giờ trở lại. Hai từ “lại” trong cụm
từ “xuân đi xuân lại lại” mang hai ý nghĩa khác nhau. Từ lại thứ nhất
nghĩa là thêm lần nữa, từ lại thứ hai nghĩa là trở lại. Sự trở lại của
mùa xuân lại đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân. Nghệ thuật tăng tiến
làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn: Mảnh tình-san sẻ-tí con con. Mảnh
tình đã bé lại còn san sẻ ra thành ít ỏi, chỉ còn tí con con nên càng
xót xa, tội nghiệp. Câu thơ được viết ra có thể là tâm trạng của người
mang thân đi làm lẽ. Đau xót biết mấy, khi mảnh tình là một thứ được
chia năm xẻ bảy, nhận dược duy nhất một mảnh tí con con. Hạnh phúc của
bà chẳng những không trọn vẹn mà còn nhỏ bé, ít ỏi đến mức độ tội
nghiệp. Tình duyên như thế có để làm gì, chỉ càng thêm tủi nhục, đắng
cay. Cách dùng từ giản đơn mà vẫn vô cùng độc đáo đã cực tả nỗi niềm của
tác giả. Hồ Xuân Hương ngang tàng, thách thức đầy nổi loạn trên là thế,
nhưng cuối cùng tất cả vẫn chỉ chìm vào vô vọng trong sự bất lực tột
cùng và chán chường, mệt mỏi. Những cố gắng vùng vẫy của bà chỉ là vô
ích, bởi phận của bà vốn đã là một bi kịch và mãi mãi chỉ là bi kịch mà
thôi. Có lẽ trong giờ phút ấy, bà đã muốn buông xuôi, muốn bỏ mặc cho
tất cả số phận đưa đẩy, bà đã mất hết hi vọng............ “Giọt nước mắt
em..........âm thầm buông rơi, đêm sầu đơn côi...........trong tim em
ôm trọn một nỗi sàu bơ vơ................đành khóc vậy
thôi............... Liệu Hồ Xuân Hương có thể vượt qua tất cả để trở lại
là một người phụ nữ yêu đời mạnh mẽ, không sợ gì cả như ngày nào? Đó
vẫn là câu hỏi còn dở dang của người phụ nữ đem thân đi làm lẽ, phận
người mà hạnh phúc không bao giờ trọn vẹn mà chỉ nhỏ nhoi như mảnh gương
vỡ......... Câu thơ diễn đat sâu sắc đỉnh điểm, bi kịch của Hồ Xuân
Hương và cũng là của người phụ nữ thời bấy giờ.Đó là những hiện
thân cho những khổ đau của con người trong xã hội xưa, đồng thời là kết
tinh của những đức tính tốt đẹp của ngưòi phụ nữ Việt Nam qua hàng thế
kỉ. Trong cả hai bài thơ là hình tượng người phụ nữ Việt Nam chịu nhiều
đau đớn, tủi cực dưới chế độ phong kiến nhưng ở họ toát lên sự đấu tranh
mạnh mẽ, vượt lên số phận để làn tốt bổn phận của một người phụ nữ
trong gia đình, một người phụ nữ dám vượt lên trên đớn đau để tìm hạnh
phúc mà mình hằng khao khát.
|
|
|
|
giải đáp
|
Giúp đề nghị luận với các bạn ơi?
|
|
|
|
Dàn Ý 1. Mở bài Nêu vai trò to lớn của khoa học trong đời sống con người. Giới thiệu câu nói: "Khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự tàn lụi của tâm hồn".
2. Thân bài a. Giải thích và khẳng định vấn đề - Khẳng định khoa học phải đi liền với lương tâm -
Định nghĩa "khoa học": Ở thế kỉ XVI, khoa học được định nghĩa là tri
thức thuộc mọi lĩnh vực, nhất là trong văn chương và triết học. Ngày nay
khoa học là hệ thống tri thức về thế giới khách quan của con người nhằm
khám phá các định luật, giải thích các hiện tượng và là cơ sở của những
sáng chế kĩ thuật. - Nêu hai hướng phát triển của khoa học: có lương
tâm và không có lương tâm. Đi đến kết luận "lương tâm là nền tảng vững
chắc của khoa học", "khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự tàn lụi
của tâm hồn".
b. Phân tích vấn đề - Để đánh giá bản chất của khoa học cần xem xét mục đích, lương tâm của người tạo ra nó và người sử dụng nó. -
Những biểu hiện của khoa học không có lương tâm: việc bóc lột sức lao
động của công nhân, nhật hứng chịu liên tiếp hai quả bom nguyên tử khổng
lồ do Mĩ ném xuống, chất độc màu da cam ở Việt Nam... và hậu quả của
nó. - Khoa hojcL tài và tâm. Soi chiếu vào con người: tài và đức.
Khoa học không có lương tâm cũng như người có tài mà không có đức. Tóm
lại đều cần phải có lương tâm soi sáng để không lầm đường lạc lối.
c. Kết luận vấn đề - Lợi ích của khoa học có lương tâm và tác hại của khoa học không có lương tâm. - Khẳng định khoa học gắn với lương tâm giúp con người đạt được cuộc sống tốt đẹp về cả vật chất lẫn tinh thần.
3. Kết bài - Ghi nhận sự phát triển của khoa học. - Đánh giá tình hình hiện tại: chỉ tiến về trí mà không tiến về tâm. -
Đặt ra nhiệm vụ khắc phục sự mất quân bình trên để khoa học có lương
tâm luôn chiếm giữ một vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của
loài người.
|
|
|
|
giải đáp
|
Giúp tớ đề "Rừng xà nu" với?
|
|
|
|
Gợi ý:
-
Đây là những dòng tả cảnh hiếm có, được làm nên bởi một ngòi bút biết
dùng con chữ để hòa hợp các sắc màu, chạm khắc thành hình khối, tạo nên
mùi hương, tạo nên ánh sáng và sức nóng,…Tác giả đã viết nhiều câu văn
đẹp lạ lùng, có sức gây ấn tượng thật khó quên trong lòng người đọc; ví
dụ như: “Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long
lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng
cục máu lớn”, hay “Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh
nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng
lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng”. -
Những câu văn như thế không chỉ góp phần đem lạo cho tác phẩm một thứ
hương vị kì thú của Tây Nguyên, mà còn có khả năng làm cho chúng ta được
cùng với tác giả thấy ngây ngất khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên
nhiên đất nước.
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích tấn bi kịch Vũ Như Tô?
|
|
|
|
Gợi ý tham khảo:
“Vũ Như Tô” là vở kịch lịch sử có qui mô hoành tráng xuất sắc của
Nguyễn Huy Tưởng và của nền kịch nói Việt Nam hiện đại. Tác phẩm được
sáng tác vào năm 1941, dựa trên một sự kiện lịch sử xảy ra ở kinh thành
Thăng Long vào thời hậu Lê. Tác phẩm gồm 5 hồi. Đoạn trích “Vĩnh biệt
Cửu Trùng Đài” là hồi 5, hồi cuối của vở kịch. Trong đoạn trích được
học, gây ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng người đọc là nhân vật Vũ Như
Tô cùng bi kịch của người nghệ sĩ thiên tài. Hành động, sự kiện chính của hồi này có thể tóm tắt như sau:
Lợi dụng tình hình rối ren và mâu thuẫn giữa nhân dân, thợ xây đài với
Vũ Như Tô và bạo chúa Lê Tương Dực, Trịnh Duy Sản cầm đầu một phe cánh
đối nghịch trong triều đình đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ thuyền làm
phản. Biết tin có binh biến, bạo loạn trong phủ chúa, nguy hiểm đến
tính mạng Vũ Như Tô, Đan Thiềm hết lời khuyên và giục chàng đi trốn.
Nhưng Vũ khăng khăng không nghe vì tự tin mình “quang minh chính đại”,
“không làm gì nên tội” và hi vọng ở chủ tướng An Hòa Hầu. Tình hình
càng lúc càng nguy kịch. Lê Tương Dực bị giết; đại thần, hoàng hậu, cung
nữ của y cũng vạ lây; Đan Thiềm bị bắt, .… Kinh thành điên đảo.
Khi quân khởi loạn đốt Cửu trùng đài thành tro, Vũ Như Tô mới tỉnh ngộ.
Chàng trơ trọi, đau đớn vĩnh việt cửu trùng đài rồi bình thản ra pháp
trường. Theo từ điển văn học, bi kịch là mâu thuẫn giữa khát
vọng, hoài bão, lí tưởng của cá nhân với thực tại. Thực tại chưa đủ điều
kiện cho cá nhân thực hiện khát vọng, lý tưởng của mình nên rơi vào
thất bại, thậm chí dẫn đến cái chết thảm thương. Hiểu theo nghĩa thông
thường là nỗi đau khổ vò xé dai dẳng không có cách nào giải thoát.
Trong Vĩnh biệt cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô là người nghệ sĩ thiên tài có
lý tưởng cao đẹp nhưng lâm vào cảnh ngộ không giải quyết được một cách
đúng đắn vấn đề sáng tạo nghệ thuật cho ai và để làm gì nghĩa là không
giải quyết được mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật và đời sống cuối
cùng rơi vào bi kịch đau đớn. Vũ Như Tô là một nhân vật có
thật đã từng được Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép rất tỉ mỉ: "Trước
đây, Vũ Như Tô một người thợ ở Cẩm Giàng, xếp những thanh nứa làm thành
kiểu mẫu cung điện lớn trăm nóc, dâng lên nhà vua; nhà vua bằng lòng
phong cho Như Tô làm đô đốc đứng trông nom việc dựng hơn trăm nóc cung
điện lớn có gác, lại khởi công làm Cửu trùng đài. "(Khâm Định Việt Sử
Thông Giám Cương Mục Chính Biên, quyển 26). Tuy nhiên Cửu Trùng Đài đã
làm "Dân chúng đau khổ, binh lính mệt nhọc. Quân năm phủ đắp thành chưa
xong được, đến đây lại có lệnh bắt các nha môn ở trong ngoài kinh thành
phải làm, tập hợp nhau lấy hồ, khiêng đất. Vua hàng ngày bất thần ngự
chơi các nơi, chỗ nào vừa ý thì thưởng cho bài vàng, bài bạc. Có chỗ đã
làm xong lại phải làm lại, sửa đổi xây đắp lại, hết năm này qua năm
khác, liên miên không dứt. Quân lính đắp thành mắc chứng dịch lệ đến một
phần mười."(Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục, Quyển XV, Kỷ Nhà
Lê, Tương Dực Đế). Sau đó, Trịnh Duy Sản phản nghịch, dẫy binh, Vũ Như
Tô bị thợ thuyền giết chết, xác quăng ngoài chợ, bị mọi người khinh khi
nhổ nước bọt. Tuy nhiên, bi kịch đó của họ Vũ là sự oan khuất bởi ông
chỉ là người thừa lệnh của vua làm Cửu Trùng Đài vì thế nhân dân lầm
tưởng ông chỉ biết phụng sự cho hôn quân bạo chúa. Năm 1941, Nguyễn Huy
Tưởng đã minh oan cho họ Vũ bằng vở kịch năm hồi này. Trong
vở kịch Vũ Như Tô hiện lên là một kiến trúc sư thiên tài, là hiện thân
của niềm khao khát say mê sáng tạo cái đẹp, “là người ngàn năm dễ có
một....có thể sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây lâu
đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ…chỉ vẩy
bút là chim hoa đã hiện trên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa
công”. Qua vài lời của tác giả ta thấy Vũ Như Tô là một nghệ sĩ lớn mang
trong mình nhân cách cao đẹp, một nghệ sĩ có hoài bão lớn lao, có lý
tưởng nghệ thuật cao cả. Khát vọng nghệ thuật của ông lớn lao hơn bao
giờ hết, ông muốn xây dựng một toà lâu đài vĩ đại “bền như trăng sao” để
cho “dân ta nghìn thu còn hãnh diện” . Đó là một công trình kiến trúc
vĩ đại, tuyệt mĩ, tô điểm cho non sông đất nước: “để ta xây một Cửu
Trùng Đài, dựng một kì công muôn thuở, vài năm nữa Cửu Trùng Đài hoàn
thành, cao cả huy hoàng, giữa cõi trần lao lực có một cảnh Bồng Lai....
Đời ta không quý bằng Cửu Trùng Đài”. Tâm Hồn của Vũ dành hết cho Cửu
trùng đài. Cửu Trùng Đài – như cái tên của nó – là một công
trình kiến trúc mà tầm vóc không thể chỉ tính đếm bằng lượng gỗ cây, đá
khối, cho dù đó là những con số nghe qua cũng đã đủ kinh hoàng (“hai
trăm vạn cây gỗ chất đống cao như núi, toàn những gỗ quý vô ngần”,“hai
mươi vạn phiến đá lớn, bốn mươi vạn phiến đá nhỏ, từ Chân Lạp tải ra”).
Tầm vóc của nó, phải hình dung bằng chính tầm vóc ý tưởng, khát vọng đầy
ngạo nghễ của người sẽ tạo ra nó: một công trình độc nhất vô nhị, vượt
xa tất cả những kỳ quan ở Trung Quốc, Ấn Độ, Chiêm Thành,… và những công
trình mà người đời từng biết đến, từng truyền tụng. Lại là một kỳ quan
bền vững, bất diệt. Xây công trình, họ Vũ không thèm “tranh tinh xảo”
với người, chỉ “tranh tinh xảo với Hóa công”! Đó là hiện thân của cái
Đẹp, không phải cái Đẹp nói chung mà là cái Đẹp “siêu đẳng”.
Tuy nhiên, Đài Cửu Trùng lại là hiện thân cho cái Đẹp xa hoa. Xây nên kỳ
quan ấy, tất nhiên cực kỳ tốn kém, một sự tốn kém không chỉ tính bằng
tiền của ngân khố quốc gia, mà còn phải tính bằng cả mồ hôi, nước mắt và
máu nữa. Mà Đài chỉ xây cho kẻ ăn chơi sa đọa là vua dâm Lê Tương Dực.
Còn nhớ đời Tây Chu bên Trung Hoa, U vương vì Bao Tự mà bắt dân xây Giao
Đài để ăn chơi hưởng lạc, khiến cho lòng dân trong nước oán hận rồi
cuối cùng đời Tây Chu cũng diệt vong. Cái mầm mống bi kịch của Vũ Như Tô
ở đây là ước mơ khát vọng to lớn như vậy nhưng bản thân thì không thực
hiện được vì không có tài chính. Còn phụng sự cho hôn quân bạo chúa Lê
Tương Dực thì ông không bao giờ hợp tác. Nhưng rồi, Đan Thiềm xuất hiện:
sắc đẹp, lời ngon tiếng ngọt và sự tôn kính của Đan Thiềm đã làm cho Vũ
xiêu lòng và bằng lòng xây Cửu Đài. Cái oái oăm là ở đó, và mầm mống
bi kịch của Vũ Như Tô cũng là ở đó. Theo đó, ý nghĩa biểu
tượng thâm trầm của Cửu Trùng Đài được xác lập trên nhiều mối quan hệ.
Với Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài hiện thân cho “mộng lớn”. Với Đan Thiềm,
Cửu Trùng Đài hiện thân cho niềm kiêu hãnh nước nhà. Với Lê Tương Dực,
Cửu Trùng Đài là quyền lực và ăn chơi. Với dân chúng, Cửu Trùng Đài là
món nợ mồ hôi, xương máu,… từ đó bi kịch đã đến với Vũ Như Tô.
Vì quá đam mê thi thố tài năng Vũ Như Tô nào có hiểu được sâu xa, trên
thực tế, Cửu Trùng Đài đã xây dựng bằng mồ hôi xương máu của nhân dân
và nếu được hoàn thành thì nó cũng chỉ là nơi ăn chơi xa xỉ, sa đoạ của
vua chúa, giống như công trình kiến trúc “Vạn Niên” của triều đình
Nguyễn sau này : “Vạn niên là vạn niên nào? Thành xây xương lính, hào
đào máu dân”. Như vậy, Vũ Như Tô đã sai lầm khi lợi dụng quyền lực của
bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật của mình. Chỉ đứng trên lập
trường nghệ sĩ thuần tuý nên đã vô hình chung, trở thành kẻ đối nghịch
với nhân dân, gây đau khổ cho nhân dân. Để xây dựng Cửu đài, triều đình
đã ra lệnh tăng sưu thuế, bắt thêm thợ giỏi, tróc nã, hành hạ những
người chống đối. Dân căm phẫn vua làm cho dân cùng nước kiệt; thợ oán Vũ
vì nhiều người chết vì tai nạn, vì ông cho chém những kẻ bỏ trốn. Vì
thế cho nên nhân dân căm giận bạo chúa, đồng thời cũng oán trách, nguyền
rủa, thậm chí là oán hận kiến trúc sư đầy tài năng Vũ Như Tô và cuối
cùng đã giết chết cả tên hôn quan bạo chúa Lê Tương Dực lẫn Vũ Như Tô,
đốt cháy cả Cửu Trùng Đài. Mâu thuẫn đỉnh điểm được giải
quyết bằng vũ lực. Trịnh Duy Sản cầm đầu bọn phản nghịch đã náo loạn
kinh thành. Chúng tìm Lê Tương Dực và giết chết tên hôn quân ấy. Chúng
đốt phá Cửu trùng đài, chúng tìm Vũ Như Tô để rửa hận. Nhưng Vũ đúng là
một nhân vật bi kịch. Ông không thể nào trả lời câu hỏi “xây dựng Cửu
Trùng Đài là đúng hay sai, là có công hay có tội?. Thật đau đớn thay, bi
kịch thay cho đến khi cuộc nổi loạn nổ ra, Đan Thiềm mặt cắt không còn
hột máu, hốt hoảng đến báo cho Vũ Như Tô, nếu không chạy trốn thì ông sẽ
bị giết, nhưng Vũ Như Tô vẫn không chịu đi và vẫn day dứt một câu hỏi:
“Tôi có tội gì? Tôi làm gì nên tội? Làm gì phải trốn?”. Thậm chí Vũ Như
Tô còn khẳng định “ Bà không nên lo cho tôi. Tôi không trốn đâu. Người
quân tử không bao giờ sợ chết. Mà vạn nhất có chết, thì cũng để cho mọi
người biết rằng công việc mình làm chính đại quang minh. Tôi sống với
Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài. Tôi không thể xa Cửu Trùng
Đài một bước. Hồn tôi để cả đây!”. Khi được Đan Thiềm giục giã chạy trốn
bởi nguy hiểm cận kề, Vũ Như Tô còn “Ngây thơ” : “Họ tìm tôi nhưng có
lý gì họ giết tôi. Tôi có gây oán gây thù gì với ai”. Câu nói thể hiện
sự bảo thủ và có phần mê muội. Ngay cả khi bị bắt Vũ vẫn không tin là sự
thật, vẫn vĩnh biệt Đan Thiềm “đời ta chưa tận, mệnh ta chưa cùng. Ta
sẽ xây một đài vĩ đại để tạ lòng tri kỷ”. Khi bị quân sĩ vả vào miệng
Vũ vẫn không ngừng nói về Cửu đài: “…vài năm nữa, Đài cửu trùng sẽ hoàn
thành, cao cả, huy hoàng giữa cõi trần lao lực, có một cảnh Bồng Lai”.
Đến chết vẫn hi vọng sẽ thuyết phục được An Hoà Hầu, một kẻ cầm đầu một
phe nổi loạn, song sự thực đã diễn ra một cách phũ phàng tàn nhẫn, không
như ảo tưởng của Vũ Như Tô. An Hoà Hầu đã cho quân đốt phá kinh thành,
đốt phá cả Cửu trùng đài. Cửu Trùng đài tan thành tro bụi.
Tất cả chỉ là ảo vọng. Đan Thiềm và Vũ bị bắt, Cửu Trùng Đài bị thiêu
huỷ thì Vũ mới bừng tỉnh, ngửa mặt lên trời mà cất lên tiếng than ai oán
tuỵệt vọng “Đốt thực rồi! Ôi đảng ác! Trời ơi! Phú cho ta cái tài để
làm gì. Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài! Thôi thế là hết!
Dẫn ta đến pháp trường”. Trong tiếng kêu than ấy, tiếng “Đan Thiềm, mộng
lớn Cửu Trùng Đài” dồn dập vang lên hoà nhập vào nhau thành khúc ca bi
tráng, ai oán, đầy tiếc thương. Đó chính là âm hưởng chủ đạo của đoạn
trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”. Vậy là cuối cùng Vũ Như Tô cũng đã phải
trả giá cho chính hành động của mình. Cái chết của người nghệ sĩ vừa
đáng thương lại vừa đáng giận. Là một nghệ sĩ đầy tài năng và
giàu sáng tạo, Vũ Như Tô muốn khẳng định tài năng của mình, muốn tô
điểm cho đất nước, muốn làm đẹp cho đời, nhưng khát vọng nghệ thuật và
đam mê sáng tạo của ông đã đặt lầm nơi lạc chốn, lạc điệu với thời thế,
xa rời thực tế, nên đã phải trả giá bằng chính sinh mệnh của bản thân và
của cả công trình thấm đẫm mồ hôi tâm não của mình. Người đọc, người
xem thương người nghệ sĩ có tài có tâm, đam mê nghệ thuật, khao khát
sáng tạo, sẵn sàng hi sinh tất cả cho cái đẹp nhưng xa rời thực tế, mà
phải trả giá đắt bằng cả sinh mệnh và cả công trình nghệ thuật đầy tâm
huyết sáng tạo cuả mình Đoạn trích nói riêng và vở kịch nói
chung đã để lại giá trị nhân văn sâu sắc rằng: “Không có cái đẹp tách
rời cái chân cái thiện. Tác phẩm nghệ thuật không thể chỉ mang cái đẹp
thuần tuý, nó phải có mục đích chân chính là phục vụ nhân dân, phục vụ
cuộc đời. “Văn chương không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời,
cuộc đời là nơi xuất phát và là nơi đi tới của văn chương”. Người nghệ
sĩ phải có hoài bão lớn, có khát vọng sáng tạo những công trình vĩ đại
cho muôn đời, nhưng cũng biết xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa khát vọng
đó với điều kiện thực tế cuộc sống với đòi hỏi của muôn dân”. Một vấn đề
đặt ra nữa là “Xã hội phải biết tạo điều kiện sáng tạo cho các tài
năng, vun đắp tài năng, quý trọng nâng niu những giá trị nghệ thuật đích
thực”. Qua tấn bi kịch của người nghệ sĩ thiên tài Vũ Như Tô,
Nguyễn Huy Tưởng gợi những suy nghĩ sâu sắc về mối quan hệ giữa người
nghệ sĩ với hoạt động sáng tạo nghệ thuật và thực tế đời sống nhân dân.
Vì vậy vấn đề tác giả đặt ra ngày ấy, giờ đây bước sang thiên niên kỉ
mới, nó vẫn còn nguyên giá trị.
|
|
|
|
giải đáp
|
Cho em hoir Gias trị hiện thực của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh a?
|
|
|
|
Đáp án tham khảo:
|
Bài tham khảo:
Lê
Hữu Trác xuất thân trong một gia đình quí tộc, giỏi binh thư,võ nghệ.
Làm quan dưới thời chúa Trịnh được một thời gian,ông nhận thấy xã hội
thối nát,cương thường lỏng lẻo, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất
(1746), ông liền viện cớ cáo quan về nuôi mẹ già. Từ đó ông chuyên
nghiên cứu y học vừa chữa bệnh cứu đời, vừa soạn sách và mở trường dạy
học truyền bá y đức, y lí,y thuật.
Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh
Hưng 43(1782),Lê Hữu Trác nhận được lệnh chúa triệu về kinh xem mạch, kê
đơn chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán.Sau đó một thời gian thì chữa bệnh
cho chúa Trịnh Sâm. Những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong nhiều
chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long đã thôi thúc ông cầm bút. Năm 1783
ông viết xong tập “Thượng kinh kí sự” bằng chữ Hán. Tập kí sự này là
một tác phẩm văn học đích thực, đặc sắc giá, có giá trị sử liệu cao .
Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” trong sách Ngữ văn 11-Nâng cao,tập
1(Nxb.Giáo dục,H,2007) thể hiện được đầy đủ những nét độc độc đáo trong
bút pháp kí sự của Lê Hữu Trác.
Như ta biết: kí là là tên gọi
chung cho một nhóm thể loại có tính giao thoa giữa báo chí với văn học.
Kí viết về cuộc đời thực tại,viết về người thật,việc thật. Người viết kí
miêu tả thực tại theo tinh thần của sử học. Mẫu hình tác giả kí gần gũi
với nhà sử học. Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành và
không bao giờ quên miêu tả khung cảnh. Kí bao gồm nhiều thể văn như :
bút ký, phóng sự, du kí, hồi kí,nhật kí, …Trong số đó kí sự thiên về ghi
chép chi tiết, tỉ mỉ sự việc- câu chuyện có thật. Tất nhiên đan xen vào
mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện nhận xét chân thực,tinh tường của
nhà văn trước sự việc.
Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” vẽ lại
một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý của chúa Trịnh. Lê
Hữu Trác sử dụng người trần thuật ngôi thứ nhất,trực tiếp tiếp cận cung
cách sinh hoạt xa hoa của chúa Trịnh. Nhà văn quan sát tỉ mỉ, ghi chép
trung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo.
Mở đầu đoạn
trích là một sự kiện cụ thể, chân thực. Tính chất kí trong bút pháp của
Lê Hữu Trác thể hiện rõ ở cách ghi tỉ mỉ sự việc, thời gian .Nhà văn kết
hợp biện pháp kể khách quan với nghệ thuật gợi không khí nhằm làm nổi
bật hành động khẩn trương,gấp gáp của nhân vật: “ Mồng một tháng 2. Sáng
tinh mơ, tôi nghe tiếng gõ cửa rất gấp. Tôi chạy ra mở cửa . Thì ra một
người đầy tớ quan Chánh đường….” . ở đây “trong việc có người”, người
gắn chặt với cảnh,với môi trường hoạt động cụ thể. Câu văn của Lê Hữu
Trác ngắn gọn, giàu thông tin, được viết ra một cách nhẹ nhàng, tự
nhiên,không một chi tiết thừa .Lời văn giản dị, chắc mà bay bổng, vừa
“truyền cảm” vừa truyền nhận thức .Người đọc có thể hình dung được rất
rõ một cảnh huống đặc biệt đang xảy ra.
Lần theo mạch tự sự,
người đọc có cảm giác hồi hộp lo âu rồi bất ngờ nhận ra một con người
gần gũi, quen thuộc như cảm nhận của nhân vật “ Tôi” trong tác phẩm này.
Trước mắt ta : hình ảnh nhân vật tôi đã dừng bước với tâm trạng ngạc
nhiên, thoáng một chút thất vọng. Nhịp kể đột ngột chậm lại để ghi
người, ghi việc rõ nét hơn, đầy đủ hơn. Hai chữ “thì ra” vừa tạo ấn
tượng về sự khám phá, vừa gọi ra được người thật,việc thật .
Nhân
vật “tôi” không hiện ra qua hình dáng cụ thể. Trước hết anh ta xuất
hiện qua giọng nói, qua cảm nhận về âm thanh, và rõ hơn ở hành động.
Nhân vật “tôi”” xuất hiện với tư cách một người trong cuộc, trực tiếp
tham gia vào sự việc được miêu tả trần thuật. Vì thế ngay từ đầu truyện
người đọc đãcó cảm giác đây không phải câu chuyện hư cấu, mà chính là
bức tranh cuộc sống đang hiện hữu .
Khi kể việc, tả người Lê Hữu
Trác không vay mượn những khuôn mẫu, chất liệu có sẵn,tác giả hướng tới
khai thác chất liệu đời thường, đời tư. Chẳng hạn lời đối thoại của nhân
vật người đầy tớ được thể hiện một cách tự nhiên, đúng với vị thế chức
phận của hắn: “có thánh chỉ triệu cụ vào. Quan truyền mệnh hiện đang ở
nhà cụ lớn con,con vâng mệnh chạy đến đây báo tin…”.
Lê Hữu Trác
coi trọng việc kể lại có ngọn ngành. Nhà văn ưa sắp xếp sự việc cho đầy
đủ mạch lạc có đầu có cuối, nên dường như cứ một đoạn hay một câu nói về
hành động của tên đầy tớ lại tiếp đoạn tự thuật về hành động, cảm nhận
của Lê Hữu Trác. “Nghe tiếng gõ cửa…..tôi chạy ra…” , “người đầy tớ
nói…..tôi bèn” , “tên đầy tớ chạy…tôi bị xóc một mẻ,khổ không nói hết”.
Mạch văn chặt chẽ nhờ sự thể hiện thành công cái lô gíc nhân quả của sự
kiện, hành động .Ban đầu ta tưởng như nhân vật “tôi” chủ động, nhưng
càng đọc càng thấy nhân vật “tôi” bị cuốn vào hết sự việc này đến sự
việc khác.
Mở đầu đoạn trích cấu trúc câu văn ngắn gọn. Mỗi câu
văn tương ứng với một tâm tình, một sự việc, hành động. Người đọc vừa
đồng cảm với nỗi vất vả và hành động bất đắc dĩ của nhân vật tôi vừa
đồng tình với Lê Hữu Trác ở thái độ mỉa mai châm biếm sự lộng quyền
,tiếm lễ của chúa Trịnh Sâm lúc bấy giờ.
Quang cảnh và cung cách
sinh hoạt trong phủ chúa được ghi lại khá tỉ mỉ qua con mắt quan sát của
một thầy thuốc lần đầu tiên bước chân vào thế giới mới lạ. Không gian
nghệ thuật của tác phẩm ngày càng được mở rộng hơn theo bước chân, và
cách nhìn của nhân vật xưng “tôi” .Bức tranh toàn cảnh về phủ chúa Trịnh
không chỉ có bề rộng mà còn có chiều sâu, với một sức gợi mạnh mẽ.
Theo
nhân vật “tôi” quanh cảnh ở phủ chúa cực kì xa hoa, tráng lệ- không ở
đâu sánh bằng: Khi vào phủ phải qua nhiều lần cửa với những hành lang
quanh co nối tiếp nhau,ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác. Khuôn viên phủ
chúa rộng, có trạm dừng chân được kiến trúc thật kiểu cách, với cảnh trí
thiên nhiên kì lạ. Trong vườn, chim kêu ríu rít,danh hoa đua thắm,gió
đưa thoang thoảng mùi hương. Bên trong là những Đại đường, gác tía với
kiệu son, võng điều. Đồ dùng của chúa được son son thiếp vàng, đồ dùng
tiếp khách ăn uống cũng đều là mâm vàng, chén bạc, của ngon vật lạ…. Đến
nội cung của thế tử phải trải qua 6 lần trướng gấm. Nơi ở của thế tử
rất sang trọng,có sập thếp vàng, ghế rồng bày nệm ấm ,xung quanh lấp
lánh, hương hoa ngào ngạt…
Lê Hữu Trác khéo kết hợp tả tập trung
với điểm xuyết, chọn lọc được những chi tiết đắt, nói lên quyền uy tối
thượng cùng nếp sống hưởng thụ cực kì xa xỉ của gia đình chúa Trịnh Sâm.
Giọng kể khách quan, trang nghiêm, đan xen với thái độ ngạc nhiên và
hàm ý phê phán kín đáo chúa Trịnh .Nhà văn khéo kết hợp giữa văn xuôi và
thơ ca. Bài thơ vịnh cảnh, tả việc của Lê Hữu Trác ý tứ sâu xa, lời thơ
hóm hỉnh ,ẩn giấu một nụ cười châm biếm, mỉa mai.
Lời nhận xét
trong văn phẩm khá đa dạng: Trước tiên Lê Hữu Trác đánh giá khái quát vẻ
đẹp. Tiếp theo nhận xét về cảnh giàu sang. Tiếp nữa nêu ấn tượng về
cách bày trí, kiến trúc kiểu cách. Nhà văn dừng lại bình giá tỉ mỉ,sắc
sảo các đồ dùng xa hoa từ nhà Đại đường đến Gác tía. Lời đánh giá nào
của lê Hữu Trác cũng đích đáng,tinh tế và có chừng mực. Nói tác phẩm
giàu chất trữ tình vì thế.
Tác giả quan sát các công trình kiến
trúc, cảnh trí thiên nhiên qua hình khối, dáng vẻ kích cỡ, tả khuôn viên
chủ yếu qua những ấn tượng về hương thơm âm thanh, kể về mức độ xuất
hiện của thị vệ, quân sĩ để nhấn mạnh vẻ trang nghiêm của nơi đây. Lê
Hữu Trác đặc biệt ưa tả đường đi, lối vào phủ chúa. Ta có cảm tưởng đằng
sau mỗi cánh cửa là một bức tranh .Đoạn trích gồm nhiều bức tranh với
những mảnh màu tối sáng, nhạt đậm khác nhau, nối liền nhau .
Qua
mấy lần cửa đầu tiên, trước mắt tác giả giống như một cảnh tiên huyền
ảo, cây cối um tùm, hương hoa thơ mộng. Đi tiếp, cảnh giàu sang của phủ
chúa được bày ra chân thật,đầy đủ hơn. Càng đi sâu vào trong, Lê Hữu
Trác càng có dịp quan sát không gian nội thất, không gian cao rộng của
lầu gác với các đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, nhất là được biết cái
phong vị của nhà đại gia.
“Vào phủ chúa Trịnh” trở thành một quá
trình tiếp cận sự thật đời sống xa hoa vương giả hơn là thăm bệnh,chữa
bệnh. Thăm bệnh, chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán tưởng chỉ như một cái
cớ, một dịp may giúp người viết kí hoàn thiện bức tranh về cuộc sống
thâm nghiêm, giàu sang đầy uy quyền.
Lê Hữu Trác tổ chức điểm
nhìn trần thuật linh hoạt. Có đoạn sự việc được kể theo quan sát của
nhân vật xưng tôi. Có đoạn nhà văn để cho nhân vật quan truyền chỉ miêu
tả,giới thiệu. Người đọc có cảm tưởng không chỉ có Lê Hữu Trác dẫn ta
vào phủ chúa để tự do quan sát ngắm nhìn mà cả những kẻ hầu cận chúa
cũng đưa ta thâm nhập, khám phá sự thật ở “Đông cung”. Những đoạn nhân
vật tôi độc thoại toát lên cái nhìn sắc sảo và sự cảm nhận tinh tế.
Những đoạn kể tả, cho thấy nhân vật tôi bao quát được một không gian
rộng lớn, nắm bắt được thần thái, bản chất của sự vật hiện tượng. Trong
tư cách một người thầy thuốc quê mùa, nhân vật tôi luôn tỏ ra là một
người hoà nhã kính nhường, ham học hỏi y thuật của đồng nghiệp . Sự đối
lập về vị thế so với các vị lương y của sáu cung hai viện,không khiến
nhân vật tôi trở nên nhỏ bé, trái lại càng tôn cao hơn nhân cách và tài
năng của nhân vật này . Vẻ đông đúc của lương y nơi triều đình tự phơi
bày hết sự thực ở phú chúa đang tồn tại một hệ thống quan lại bất tài,
ăn bám .
Các nhà nho xưa ít khi nói về mình. Nhưng trong đoạn
trích này,tác giả đã không ngần ngại để cái “Tôi”đóng một vai trò quan
trọng. “Vào phủ chúa Trịnh” thể hiện trực tiếp cái tôi cá nhân người cầm
bút. Qua đoạn trích ta thấy tác giả Lê Hữu Trác là một thầy thuốc giàu
kinh nghiệm. Bên cạnh tài năng ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và
đức độ. Lê Hữu Trác xem nghề thuốc vô cùng thiêng liêng cao quí,người
làm thuốc phải nối tiếp lòng trung của cha ông mình,phải luôn giữ đức
cho trong, giữ lòng cho sạch . Lê Hữu Trác yêu thích tự do, nếp sống
thanh đạm. Vượt lên trên những danh lợi tầm thường ông trở về hành đạo
cứu đời với quan niệm : “Thiện tâm cốt ở cứu người. Sơ tâm nào có mưu
cầu chi đâu/ Biết vui, nghèo cũng hơn giàu/ Làm ơn nào phải mong cầu trả
ơn”.
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Vợ nhặt?
|
|
|
|
Tham khảo:
|
Gợi ý tham khảo:
1. Mở bài - Giới thiệu nhà văn Kim Lân - Giới thiệu tác phẩm Vợ nhặt: + Xuất xứ. + Nội dung chính. + Giá trị nhân đạo sâu sắc tạo nên nét hấp dẫn cho tác phẩm.
2.Thân bài 1. Giải thích khái niệm nhân đạo
- Cảm hứng nhân đạo là cảm hứng truyền thống của văn học và con người
Việt Nam. Cốt lõi của tinh thần nhân đạo là tình yêu thương con người.
Nó biểu hiện ra ở thái độ cảm thông, chia sẻ với mọi nỗi khổ đau, bất
hạnh của con người, là sự trân trọng, là niềm tin ở những phẩm chất tốt
đẹp của con người. Nó còn thể hiện ở thái độ đồng tình và khao khát phấn
đấu cho con người để sống sung sướng, tự do trong hoàn cảnh xã hội có
đấu tranh giai cấp. Lòng nhân đạo còn thể hiện ở tinh thần hướng tới
tương lai, chỉ ra được con đường giải thoát cho người lao động. -
Trong tác phẩm “Vợ nhặt” tác giả lấy bối cảnh là nạn đói 1945 – một hoàn
cảnh xã hội điển hình nên càng thấm thía hơn tinh thần nhân đạo. 2. Sự thể hiện giá trị nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt”
a). Lòng nhân đạo thể hiện trước hiện ở thái độ cảm thông của mình với
nỗi khổ đau bất hạnh của con người trong xã hội cũ. - Không
hiểu về người nông dân, không có một thái độ trân trọng có lẽ KL không
thể tái hiện được bức tranh về hoàn cảnh bi đát khốn cùng của người
nông dân trong nạn đói thê thảm 1945 chân thực đến thế. - Bức tranh chung của ngày đói thật thảm thương: hình ảnh, âm thanh, mùi vị.
- Không chỉ dừng lại ở đó KL còn giúp ta hiểu hơn nỗi bế tắc, khổ đau
của từng gia đình, từng số phận, trong ngày đói thân phận chị vợ nhặt Gia cảnh nhà T: một căn nhà dúm dó, đêm tân hôn, bữa ăn… (phân tích).
- Khai thác tình huống T nhặt được vợ nếu ở cây bút bình thường rất dễ
trở thành hài hước và nhân vật chắc chắn không khỏi dị dạng, méo mó.
Nhưng điều đó đã không xảy ra với ngòi bút Kim Lân. Trong những trang
viết của ông có chút rất riêng của nhà văn xứ Kinh Bắc nhưng đằng sau
những chi tiết đó vẫn là một tấm chân tình nồng hậu. - Ta có
thể cảm nhận được nỗi xót thương, sự cảm thông của nhà văn đối với con
người bị hoàn cảnh đẩy vào sự khốn cùng, bèo bọt trong từng trang văn
của KL. Có được sự cảm thông ấy bởi KL cũng đã từng sống cuộc sống của
người lao động đầy cơ cực như nhà văn nói: “ăn cháo cám thì tôi và bạn
tôi đã từng ăn”. b) Không chỉ dừng lại ở sự cảm thông chiều sâu
của tinh thần nhân đạo còn ở chỗ nhà văn đã phát hiện, trân trọng những
phẩm chất tốt đẹp của người lao động, luôn tin tưởng ở bản chất lương
thiện của người lao động: con người dù bị đẩy đến đường cùng vẫn giữ
được bản chất lương thiện. - Vẻ đẹp tâm hồn: + Tràng cho người đàn bà ăn. + Mẹ T, bà cụ Tứ, chấp nhận người con dâu. + Dân xóm ngụ cư. - Bản chất lương thiện: phân tích hình ảnh chị vợ nhặt sau khi về nhà chồng.
Qua đây thể hiện cái nhìn đầy niềm tin của KL ở bản chất lương thiện
của con người: con người…Phát hiện ra điều đó, ngòi bút KL có tính nhân
đạo sâu sắc. c) Điều đặc biệt KL còn thấy được bản chất sống
khỏe khoắn trong tâm hồn người lao động: dù bị cái đói, cái chết dồn
đuổi đến bước đường cùng, họ vẫn khao khát sống, khao khát hạnh phúc - Tràng. - Bà cụ Tứ. - Dân xóm ngụ cư.
d) KL đã thấy được tương lai của họ. Là nhà văn CM, KL không dừng lại ở
những hiện thực u ám, chi tiết kết thúc tác phẩm là một chi tiết giàu ý
nghĩa của thiên truyện. - Trong bữa cơm đón nàng dâu mới dù
chỉ có (…) nhưng câu chuyện của người vợ nhặt lại nói đến những đoàn
người đi cướp kho thóc của Nhật…Trong óc T hiện ra hình ảnh của lá cờ đỏ
sao vàng…Chi tiết này đã hé mở cho chúng ta thấy con đường giải thoát
của người lao động: con đường đến với cách mạng. Chỉ ra con đường giải
thoát cho người lao động tác phẩm của KL có giá trị nhân đạo sâu sắc. 3. Kết bài - Khẳng định giá trị nhân đạo – sức hấp dẫn, chiều sâu tư tưởng của tác phẩm. - Có được giá trị nhân đạo này bởi KL có sự gắn bó ân tình sâu nặng với người nông dân.
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích vẻ đẹp nhân vật Huấn Cao?
|
|
|
|
Tham khảo e nhé: Các ý chính: 1. Giới thiệu vài nét về tác phẩm và nhân vật. - Chữ người tử tù là truyện ngắn rút từ tập Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân (1940).
- Đây là truyện ngắn có nội dung tư tưởng sâu sắc và có nhiều thành
công về các phương diện nghệ thuật. Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của
tác phẩm bộc lộ tập trung trong hình tượng nhân vật Huấn Cao. 2. Vẻ đẹp của Huấn Cao trước hết là vẻ đẹp của con người nghệ sĩ tài hoa.
- Huấn Cao có tài viết chữ. Chữ Huấn Cao viết là chữ Hán, loại văn tự
giàu tính tạo hình. Các nhà nho thuở xưa viết chữ để bộc lộ cái tâm, cái
chí. Viết chữ thành một môn nghệ thuật được gọi là thư pháp. Có người
viết chữ, thì có người chơi chữ. Người ta treo chữ đẹp ở những nơi trang
trọng trong nhà, xem đó như một thú chơi tao nhã. - Huấn Cao là
nghệ sĩ trong nghệ thuật thư pháp. "Tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp"
của ông nổi tiếng khắp một vùng tỉnh Sơn. Ngay cả viên quản ngục của một
huyện nhỏ vô danh cũng biết "chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm (...).
Có được chữ ông Huấn Cao mà treo trong nhà là có một báu vật trên đời".
Cho nên, "sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia treo ở
nhà riêng mình một câu đối do tay ông Huấn Cao viết". Để có được chữ
ông Huấn Cao, viên quản ngục không những phải dụng công, phải nhẫn nhục,
mà còn phải dũng cảm. Bởi vì, biệt đãi Huấn Cao, một kẻ tử tù, là việc
làm nguy hiểm, có khi phải trả bằng tính mạng của mình. 3. Huấn Cao là người có "thiên lương" trong sáng, cao đẹp.
- Trong truyện "Chữ người tử tù", khái niệm "thiên lương" được Nguyễn
Tuân sử dụng với nhiều ý nghĩa khác nhau. Với quản ngục và thơ lại, thì
"thiên lương" là tấm lòng yêu quý cái tài, cái đẹp rất chân thành của
họ. Với Huấn Cao, thì "thiên lương" lại là ý thức của ông trong việc sử
dụng cái tài của mình. - Huấn Cao có tài viết chữ, nhưng không
phải ai ông cũng cho chữ. Ông không bao giờ ép mình cho chữ vì vàng
ngọc, hay quyền thế. Ông chỉ trân trọng những ai biết yêu quý cái đẹp,
cái tài. Cho nên, suốt đời, Huấn Cao chỉ viết hai bộ tứ bình và một bức
trung đường cho ba người bạn thân. Ông tỏ thái độ khinh bạc vì tưởng
quản ngục có âm mưu đen tối gì, khi thấy viên quan ấy biệt đãi mình. Rồi
ông "cảm cái lòng biệt nhỡn liên tài" của quản ngục và thơ lại, khi
biết họ thành tâm xin chữ. Ông quyết không phụ tấm lòng của họ, nên mới
diễn ra cảnh cho chữ trong tù, được tác giả gọi là "một cảnh tượng xưa
nay chưa từng có". 4. Sự thống nhất của cái tài, cái tâm và khí phách anh hùng ở hình tượng Huấn Cao.
- Trong cảnh cho chữ ở cuối tác phẩm, Nguyễn Tuân đã để cho vẻ đẹp của
cái tâm, của "thiên lương" chiếu rọi, làm cho vẻ đẹp của cái tài, cái
khí phách anh hùng bừng sáng, tạo nên nhân cách chói lọi của Huấn Cao.
Sự thống nhất của cái tài, cái tâm và khí phách anh hùng là lí tưởng
thẩm mĩ của Nguyễn Tuân đặt nhân vật truyện dưới ánh sáng của lí tưởng
ấy để các hình tượng của nhà tù, quản ngục và thơ lại là hai điểm sáng,
bên cạnh cái vầng sáng rực rỡ Huấn Cao. Cũng chính là lí tưởng thẩm mĩ
ấy đã chi phối mạch vận động của truyện, tạo thành cuộc đổi ngôi kỳ
diệu: kẻ tử tù trở thành người làm chủ tình huống, ban phát cái đẹp, cái
cao cả cho viên quản ngục, người xin chữ. 5. Nghệ thuật xây dựng nhân vật Huấn Cao.
- Để làm nổi bật vẻ đẹp của Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật vào
một tình huống truyện độc đáo: cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao với quan coi
ngục, nhưng cũng là cuộc hội ngộ của những kẻ "liên tài tri kỉ".
- Miêu tả Huấn Cao, để làm nổi bật sự chiến thắng của cái tài, cái đẹp,
cái tâm và khí phách ngang tàng, Nguyễn Tuân triệt để sử dụng sức mạnh
của nguyên tắc tương phản, đối lập của bút pháp lãng mạn: đối lập giữa
ánh sáng và bóng tối, giữa cái đẹp, cái cao cả với phàm tục, dơ bẩn. Có
sự tương phản ở những chi tiết tạo hình được sử dụng để miêu tả không
khí của cảnh cho chữ (bóng tối phòng giam, ánh sáng đỏ rực của bó đuốc,
tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ...). Có sự đối lập tương phản giữa
việc cho chữ (công việc tạo ra cái đẹp "nói lên hoài bão tung hoành của
một đời con người") với hoàn cảnh cho chữ (nơi hôi hám, bẩn thỉu, nơi
giam cầm cùm trói tự do). Có sự đối lập ở phong thái của người cho chữ
(đường hoàng) với tư thế của kẻ nhận chữ (khúm núm)... - Ngôn
ngữ miêu tả nhân vật của Nguyễn Tuân giàu chất tạo hình. Ông sử dụng
nhiều từ Hán Việt, lời ăn tiếng nói mang khẩu khí của người xưa làm tăng
thêm vẻ đẹp của một "thời vang bóng" ở hình tượng Huấn Cao. 6. Kết luận.
- Nhân vật Huấn Cao thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Đó là
biểu tượng cho sự chiến thắng của cái tài, cái đẹp, cái tâm trước cái
phàm tục, dơ bẩn, của khí phách ngang tàng đối với thói quen nô lệ. Đây
là lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn, là ý nghĩa tư tưởng của hình tượng.
- Hình tượng Huấn Cao được xây dựng trên cơ sở nguyên mẫu: Cao Bá Quát,
một nhà nho có tài văn thơ, viết chữ đẹp nổi tiếng một thời và cũng là
người tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Mĩ Lương chống lại triều đình
nhà Nguyễn trong thế kỉ XIX. Xây dựng nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân bộc
lộ tình cảm yêu nước và tinh thần dân tộc thầm kín của mình.
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
cả nhà giúp hộ câu này nha....
|
|
|
|
Ý nghĩa nhan đề câu truyện "Số phận con người" (Tham khảo) - Khẳng định số phận cá nhân nhỏ bé trong cơn bảo táp chiến tranh. Hình ảnh bé Vania cũng như cuộc đời Xôcôlốp được tác giả miêu tả một
cách chân thật cảm động thể hiện nhiệt tình tố cáo thảm họa chiến tranh,
mô tả chiến tranh trong bộ mặt thật của nó. - Câu chuyện chủ yếu nói về số phận của Xôcôlốp. Nhân vật Xôcôlốp là một con người Nga chân chính, tiêu biểu cho khí
phách anh hùng của người lính Xô viết trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ
đại và phải chịu nhiều mất mát đau thương. - Qua nhân vật Xôlôlốp, tác giả đã khám phá chiều sâu tính cách Nga bình dị và nhân ái. - Truyện “Số phận con người” có kết cấu “truyện lồng trong truyện” đã
tô đậm những đau khổ, những phẩm chất cao đẹp của nhân vật Xôcôlốp, khắc
họa đậm nét tính cách và tâm hồn Nga, đem đến cho người đọc nhiều xúc
động thấm thía về số phận con người trong chiến tranh và thời hậu chiến.
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Mọi người phân tích giúp e nhân vật bà cụ Tứ với a?
|
|
|
|
ĐA:
1. Mở bài - Giới thiệu tác giả, tác phẩm - Dẫn dắt vào nhân vật bà cụ Tứ 2. Thân bài a. Giới thiệu khái quát nhân vật
Bà cụ Tứ là người dân ngụ cư, nghèo khổ, góa bụa, ở vậy nuôi con, chịu
nhiều đắng cay, cơ cực. Bà xuất hiện trong bóng chiều hôm chạng vạng tê
tái với hình ảnh "lọng khọng từ ngoài ngõ vào vừa đi vừa lầm bầm tính
toán gì trong miệng". Bà cũng như bao người mẹ Việt Nam khác rất mực yêu
thương con cái. b. Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật * Lúc đầu bà ngạc nhiên
- Thấy Tràng "reo lên như một đứa trẻ", vồn vã khác thường khi thấy mẹ,
tâm trạng bà cụ Tứ cũng trở nên "phấp phỏng": Có cái gì đó bất thường
đang chờ đợi bà. Đầu tiên là tâm trạng ngạc nhiên: Ngạc nhiên đến nỗi bà
phải " đứng sững lại". Bởi căn nhà xưa nay chỉ có bà và Tr nay lại thấy
xuất hiện một người đàn bà xa lạ. Vì thế hàng loạt những câu hỏi luẩn
quẩn trong đầu bà: "Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ?
Người đàn bà nào đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại
chào mình bằng u? Không phải con cái Đục mà. Ai thế nhỉ?". Vì ngạc
nhiên, phân vân nên bước chân của bà lão cũng "lập cập". Khi đã vào
trong nhà, Bà cụ Tứ lại càng ngạc nhiên hơn khi nghe thấy tiếng người
đàn bà xa lạ chào mình bằng u. * Khi hiểu ra bà tủi phận.
- Khi nghe Tràng phân trần, cắt nghĩa: "Nhà tôi nó mới về làm bạn
với tôi đấy u ạ", bà cụ mới hiểu. "Bà lão cúi đầu nín lặng". Một sự im
lặng chất chứa biết bao suy nghĩ. "Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo
khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho
số kiếp đứa con mình". Một nỗi tủi hờn, xót thương trào lên trong lòng
bà cụ Tứ "Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc ăn nên làm
nổi những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này...Còn mình thì...". Đằng
sau lời độc thoại bỏ lửng đó người đọc có thể thấy được nỗi cay đắng của
bà đang dâng lên tột đỉnh và người mẹ nghèo khổ ấy đã khóc " Trong kẽ
mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt...". * Bà
lo lắng: Thương con nên lo lắng cho con: "Biết rằng chúng nó có nuôi nổi
nhau sống qua được cơn đói khát này không". Suy nghĩ này của bà cụ Tứ
chứng tỏ bà đang rất lo lắng cho tương lai của hai con. Cũng chứng tỏ sự
ám ảnh về nạn đói ấy thật khủng khiếp. *Từ tủi phận và lo
lắng bà lão chuyển sang tâm trạng vừa vui mừng vừa thương xót anh con
trai và người vợ nhặt. Vui mừng vì con có hạnh phúc, xót thương vì sự
thật quá phũ phàng. Bà thở dài nhìn người đàn bà đang vân vê tà áo đã
rách bợt nay đã là dâu con của bà. Càng nhìn bà càng thương thị lại
càng thương con mình "Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ người ta
mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ. May ra mà qua được cái
tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó". -
Sau khi khẽ dặng hắng một tiếng, bà lão ôn tồn, "nhẹ nhàng" nói với
nàng dâu: "Ừ thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng
mừng lòng..." . Ngôn ngữ của bà lão nhẹ nhàng, cái nhìn của bà với nàng
dâu đầy cảm thông. Tất cả xuất phát từ tình yêu thương con người của
bà lão. Lời nói ấy làm anh Tràng nhẹ nhõm và cũng đã trả lại danh dự cho
người đàn bà là mang tiếng "theo trai". * Bà lão chợt nhớ
ra cái bổn phận mẹ chồng. Thế là bà lão bắt đầu nói với 2 vợ chồng, bà
dặn dò các con "Nhà ta thì nghèo con ạ! Vợ chồng chúng mày liệu bảo nhau
mà làm ăn". Bà ấp ủ và hướng hai con vào niềm tin tưởng ở tương lai
phía trước với triết lí dân gian gần gũi "Rồi may ra ông giời cho
khá...Biết thế nào hở con, ai giầu ba họ, ai khó ba đời". Điều này chứng
tỏ bà là một bà mẹ chu toàn. Đây chính là niềm lạc quan hy vọng đổi
đời. * Vì thương con bà lại ám ảnh chuyện cũ: "Bà lão thở
nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão , nghĩ đến đứa con gái út,
nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy
nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?". * Song
nổi bật hơn cả vẫn là tấm lòng thương yêu của bà cụ Tứ: Bà lão, nhìn
người đàn bà, lòng đầy xót thương. Và cũng như biết bao bà mẹ nhân từ
khác, bà cụ Tứ những mong con dâu mình hoà thuận. Bà an ủi đôi vợ chống
son "Kể có được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo cũng chẳng
ai người ta chấp nhặt chi lúc này. Cốt làm sao chúng mày hoà thuận là u
mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy, chúng mày lấy nhau lúc này u thương
quá". Bà cụ Tứ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ cháy xuống ròng
ròng. Những giọt nước mắt xót xa, tủi nhục ấy, người vô tâm như Tràng
làm sao có thể hiểu nổi. * Sáng hôm sau: Bà cụ Tứ thật khác
với ngày hôm qua. Người đọc thấy bà "nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày
thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên". Cùng với nàng
đâu, bà cụ xăm xắn thu dọn; quét tước nhà cửa. Người mẹ từng trải và
nhân hậu ấy đã bằng mọi cách nhen nhóm một niềm vui, niềm hi vọng cho
dâu con của mình. Bà cụ nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về
sau này. Bà dặn Tràng nuôi gà để "Chẳng mấy chốc có ngay đàn gà cho mà
xem". Bà cố gắng tạo niềm vui bằng nồi chè cám, nồi chè bà đã dành
dụm chắt chiu để hôm nay mới có dịp đãi con. Tuy không ai nuốt nổi
nhưng chắc chắn rằng không ít người đọc đã chảy nước mắt trước tấm lòng
cao thượng ấy của người mẹ nông dân nghèo khổ. 3. Kết luận
Bà cụ Tứ là hình ảnh điển hình về một người mẹ nghèo khổ nông dân Việt
Nam với phẩm chất cao đẹp: thương con và giầu đức hy sinh, hiểu biết ,
lạc quan. Nhân vật mẹ Tứ thấm đượm tình cảm nhân đạo sâu xa vốn có trong
truyền thống dân tộc. Và là một sáng tạo xuất sắc của KL. Khắc họa hình
tượng nhân vật bà cụ Tứ, KL đã sử dụng một ngòi bút trong sáng, chọn
lọc để miêu tả tỷ mỉ, chân thực tấm lòng vừa trắc ẩn, vừa bao dung của
một người mẹ nông thôn VN.
|
|
|
|
giải đáp
|
Rừng xà nu?
|
|
|
|
Em tham khảo ĐA này:
- Nhan đề Rừng xà nu gắn với hình tượng xà nu. Có thể nói hình tượng
xà nu là mô típ chủ đạo của tác phẩm, đóng vai trò "chủ âm" cho khúc ca
hùng tráng về dân làng Xô Man. - Hình ảnh rừng xà nu tạo nên cái phông nền vời vợi chất thơ hùng tráng đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên. - Hình ảnh rừng xà nu là biểu tượng cho cuộc sống đau thương và
phẩm chất ngoan cường bất khuất của nhân dân làng Xô Man.
|
|
|
|
giải đáp
|
Em muốn hỏi về đề nghị luận xã hội: Sự quan tâm
|
|
|
|
Em tham khảo bài này nhe!
Ngày
nay, xã hội đang trong thời kì hội nhập và phát triển, cuốn theo ấy là
bao sự đổi thay khác trước, từ nhịp sống bộn bề, bon chen cho đến những
truyền thống, đạo lí, làm người cũng bị xoay vần. Trong xã hội ấy, con
người hầu như đã trở nên vô tình với cuộc sống của người khác, để "mạnh
ai nấy lo, phải ai tai nấy". Nhưng cuộc sống vốn không có gì là tuyệt
đối bởi vậy bên cạnh ấy cũng đang có hàng triệu trái tim đã cất lên
tiếng nói yêu thương, đang lắng mình để nhìn quanh, đồng cảm và sẻ chia
với những đồng loại còn khổ đau, bất hạnh của mình, để phát huy những
truyền thống tốt đẹp mà xưa nay cha ông ta vẫn luôn gìn giữ. Một nhà
văn Nga đã từng nói :"Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi
không có tình thương". Đã là con người sống không có tình thương thì
chẳng khác gì thú vật, cũng chẳng khác chi một cái xác không hồn, tồn
tại giữa dòng đời một cách vô nghĩa và sẽ chết dần chết mòn trong cô
đơn, lạnh lẽo. Người đời cũng có câu :"Sống là cho đâu chỉ nhận riêng
mình"- bởi vậy cho và nhận đã trở thành quy luật của cuộc sống, làm
người phải có qua, có lại, tồn tại giữa tập thể, cộng đồng chúng ta
không thể chỉ biết có mình. Cuộc sống ngày nay đã đổi thay so với lúc
trước, nhưng cuộc sống vật chất có thể đổi thay nhưng tình người thì
không thể nào thay đổi được. Từ thuở khai thiên lập địa, khi con
người còn sống trong cảnh phó thác số phận của mình cho thiên nhiên, khi
hai chữ "văn minh" chưa được định thành hình thù rõ nét trong trí óc
của con người thì cha ông ta đã biết đến hai chữ "tình người", đã biết
đến cái "nghĩa vụ" của người đối với người. Sống vị tha dường như trở
thành bản chất của loài người, để từ đó luôn nhắc nhở nhau: "nhiễu điều
phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng", hay "Một
con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ". Vậy thì tại sao chúng ta- những lớp con
cháu đi sau, đã và đang sống trong thời kì mà "văn minh" đang nở rộ, bao
nhiêu thuyết lí đẹp đẽ ra đời- không cố mà phát huy những nét đẹp ấy
của cha ông. Dù đang phát triển nhưng "đất nước ta vẫn còn nghèo,
dân ta còn đói khổ, không bào ta không phải ai cũng có cơm ăn, áo mặc,
ai cũng được học hành", bên cạnh những tòa nhà cao ốc, những ngôi biệt
thự đẹp đẽ với đủ đầy tiện nghi thì những ngôi nhà ổ chuột, lụp xụp với
những tấm áo vá rách, những bữa cơm đạm bạc, với những đứa trẻ nghèo mới
năm, bảy tuổi đã phải nghỉ học để đi làm kiếm miếng ăn, vẫn còn đó đây
tren đường phố hay trên những bãi biển. Cuộc sống của không ít đồng bào
ta đang còn chìm ngập trong cảnh bần hàn, đang cần đến những con tim
biết yêu thương, biết đồng cảm và chia sẻ. Vậy đồng cảm và chia sẻ
là gì? Nếu muốn nói cho rõ, cho rạch ròi thì rất khó bởi nó xuất phát từ
trái tim của con người. nhưng làm sao để có thể hiểu được từng nhịp đập
của trái tim, bởi thế cho nên mọi cách hiểu về nó chỉ mang tính khái
quát mà thôi. Ở một khía cạnh nào đó có thể hiểu đồng cảm là biết rung
cảm trước những vui buồn của người khác, hiểu và cảm thông những với
những gì đang diễn ra xung quanh cuộc đời họ và luôn đặt mình trong hoàn
cảnh của những người khác để nhìn nhận vấn đề, từ đó thể hiện thái độ
quan tâm của mình. Đồng cảm đi từ con tim đến mách bảo chúng ta hành
động, tạo nên sự chia sẻ, sẻ chia là cùng người khác san sẻ niềm vui,
nỗi buồn, sẵn sàng có mặt khi người khác cần mình, không tỏ thái độ vô
cảm, thờ ơ trước nỗi đau của người khác cũng như không ganh ghét, đố kị,
nhạo báng vinh quang, niềm vui của họ. Đồng cảm và sẻ chia tuy
không cùng chung một "đất nước" nhưng chúng có cùng chung một "biên
giới" đó đã thắp lên những nét chung của hai nét đẹp truyền thống ấy, đó
là đem đến niềm vui cho người khác hay ít nhất là giảm bớt một phần nỗi
buồn đau trong họ, đồng thời làm cho giá trị của bạn trong mắt mọi
người sẽ cao hơn hơn nữa nó càng xiết chặt thêm tình nghĩa đồng bào, làm
cho người gần người hơn. Tự nhiên sinh ra con người bình đẳng
nhưng sự trôi dạt, xô đẩy của dòng đời, của hoàn cảnh còn đôi khi đã
phân hóa, tạo ra những con người với những cảnh đời khác nhau, có kẻ
giàu người nghèo và những con người chân chính luôn muốn lấp đầy, rút
ngắn cái khoảng cách giàu- nghèo ấy bằng tình thương, lòng nhiệt tình.
Và trên thực tế, đã có nhiều nghĩa cử cao đẹp đã được "thực hành" và đem
lại nhiều kết quả không nhỏ. Từ lâu, tinh thần đồng cảm và sẻ chia
đã trở thành một nhu cầu của con người Việt Nam nhân ái, nồng hậu và
ngày nay nó vẫn luôn thường trực trong nếp sống của người Việt. Lúc
trước, dân ta còn trong cảnh thiếu cơm, thiếu gạo thậm chí chết đói vậy
mà họ vẫn còn san sẻ cho nhau từng miếng cơm, hạt muối, "tối lửa tắt đèn
có nhau", sống cùng sống chết cùng chết; ngày nay nét đẹp ấy còn được
bảo tồn và phát huy, nhiều ngôi nhà tình nghĩa được mọc lên, nhiều
trường học dành riêng cho những trẻ em khuyết tật và có hoàn cảnh khó
khăn học tập và phát triển. Xoáy theo vòng quay cua sự phát triển
công nghiệp, môi trường ngày càng bị tàn phá và hủy diệt. Con người còn
lâm vào cảnh khốn cùng không chỉ vì thiếu cái ăn, cái mặc mà còn bị sự
"trả thù" của thiên nhiên, chịu những cơn giận dữ của đất trời. Nước ta,
dù đang bước đi trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
nhưng phần lớn nhân dân ta đang sống nhờ vào việc sản xuất nông nghiệp,
vì vậy mà phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Một đầm cá, một ao tôm
trị giá vài chục triệu, một cơn lũ quét qua đủ khiến cho một ông chủ
thành một con nợ. Ngô lúa, hoa màu đang đến mùa, một đợt hạn hán kéo
dài, một trận dịch bệnh cũng đủ làm cho nhiều gia đình rơi vào cảnh màn
trời chiếu đất. Không dừng ở thế, đôi khi những trận "trả đũa" của thiên
nhiên còn ảnh hưởng đến cả một vùng lớn như vào năm 2006,
khi cơn bão Chanchu tràn bờ đi qua miền Trung đã khiến người dân ở đây
phải khốn đốn, chịu nhiều thiệt hại về người và của nhưng bù lại họ được
người dân trong nước quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ, giúp họ về tiền của,
lương thực, đồng thời giúp họ tìm xác của những nạn nhân hay trong vụ
sập cầu Cần Thơ vào năm 2007
đã khiến cho nhiều gia đình phải điêu đứng trước sự ra đi quá đột ngột
của những người thân họ. Nhưng họ cũng như những người dân miền Trung,
dù đớn đau, chua xót nhưng không đến nỗi phải chịu cảnh cô đơn, lẻ loi
gánh chịu mọi khổ đau một mình mà cạnh họ hàng ngàn con tin của nhân dân
trong cả nước cũng đã cùng cất tiếng khóc thương và ra tay đóng góp,
cứu trợ cho người nhà nạn nhân. Dù tiền và vật phẩm không mang những
người ra đi trở về nhưng nó đã phần nào xoa dịu nỗi đau trong lòng người
còn sống cũng như giúp họ vượt qua được cơn hoạn nạn, khó khăn, ít nhất
là ngay lúc đó khi mà người thân của họ đã ra đi vĩnh viễn. Để thể
hiện tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách của mình, mặt
trận tổ quốc việt nam- một tổ chức chính trị có vai trò tập hợp, tăng
cường khối đoàn kết toàn dân cũng đã đứng ra phát động và thành lập quỹ
"Vì người nghèo"- để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khắn, bức
bách, đời sống cơ cực vượt lên số phận để sống một cuộc đời như những
người bình thường khác, thậm chí đã vực dậy không biết bao nhiêu cảnh
đời đen bạc mà chính họ cũng cảm thấy gần như mọi thứ đã quay lưng lại
với cuộc đời họ. Từ ngày được thiết lập, tài khoản của quỹ ngày càng
nhận được nhiều đóng góp của nhiều cá nhân, tập thể, từ những em bé học
mẫu giáo đến những cụ già đã về hưu, từ những người dân trong nước đến
những người Việt Kiều xa quê hương. Mang thông điệp yêu thương, phong
trào ấy đã trở thành nguồn động lực để người nghèo phấn đấu thoát nghèo,
rũ bỏ cuộc sống cơ hàn, vươn lên xay dựng cuộc sống mới tươi đẹp hơn,
từ đó tạo ra tiềm lực để phát triển đát nước. Ngoài ra, sự đồng cảm
và chia sẻ còn được thể hiện ở sự cưu mang và dạy dỗ các em nhỏ đường
phố, các em có hoàn cảnh khó khắn phải bỏ học để đi làm kiếm tiền. Không
cần phải nói đâu xa, mới đây thôi các em trẻ khuyết tật ở Quảng Ngãi
cũng đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của mọi người khắp nước, đặc
biejt là các doanh nân trong miền nam hay những người con của tinh đi
làm ăn xa. Thực ra mà nói, nếu ta không dang tay ra giúp thì cũng
chẳng ai dám chỉ mặt, gạch tên nhưng từ trái tim củ một con người, nếu
ta không làm thế thì liệu ta có xứng đáng với hai chữ làm người không,
rồi đây lương tâm của họ sẽ ra sao ? Có cắn rứt và khó chịu? Sống trong
tập thể, cộng đồng con người cần con người để nương tựa vào nhau mà sống
và phát triển. Hãy luôn biết lắng nghe và đồng cảm, chỉ như thế ta mới
có được niềm vui và giúp ta sống một cuộc đời có ý nghĩa hơn. Nhiều
người quan niệm chắc gì nững đồng tiền quyên góp, ủng hộ, cứu trợ kia
đến được với những nạn nhân vì thế mà khối người chỉ có đồng cảm mà
không dùng hiện vật bày tỏ, như thế cũng trở nên vô nghĩa vì dẫu sao
tình cũng chỉ là tình, nó chỉ giúp họ củng cố, trấn an được tinh thần mà
thôi còn tiền mới giúp họ vượt qua được khó khăn thực sự. Việc tiền
quyên góp đôi khi không đến được tay người cần là không phải không có
bởi bên cạnh những tấm lòng nhân ái thì cũng có nhiều kẻ miệng nam mô mà
bụng chứa một bồ dao găm, lợi dụng vào việc quyên góp để bỏ túi riêng,
miệng lúc nào cũng hô hào, kêu gọi người này góp sức, người kia góp của
mà mình thì không chịu góp một đồng xu nào, nhưng dù sao đó cũng chỉ là
số ít vì ở xã hội này số người tốt còn nhiều hơn số kẻ xấu nhiều nên
xét đến cùng, đồng cảm và sẻ chia vẫn phải luôn đi đôi với nhau, dù muốn
hay không cũng không thể tách rời, cũng như học phải đi đôi với hành
động, không nên chỉ đồng cảm trên "lí thuyết" suông mà phải "hành động"
để thực hành cái lí thusyết ấy. Đồng cảm và sẻ chia- hai nét đẹp
trong truyền thống của người Việt, nó đã trở thành kim chỉ nam dẫn đường
cho con người đến với nhau. Nó không yêu cầu ở hành động phải đúng
tuổi, hay phải có địa vị cao sang quyền quý mà nó dành cho tất cả mọi
người, không phân biệt già trẻ gái trai cũng như không phân biệt kẻ giàu
người nghèo, bởi đã là con người thì ai chả có tình người, tình thương
đối với đồng loại. Chúng ta, khi còn là một học sinh ngồi trên ghế
nhà trường dù không làm được gì để kiếm ra số tiền lớn nhưng nếu là
người có tâm thì ta vẫn có thể thể hiện tinh thần tương thân tương ái
của mình một cách dễ dàng, ví như mỗi vuổi sáng ta có thể rút bớt một
phần ba số tiền ăn sáng của mình, dành dụm để có thể mua một ít sách vở
tặng cho những bạn có hoàn cảnh khó khăn để có thể giúp họ vượt qua được
một chút vất vả. Đối với ta số tiền ấy có thể không là bao nhưng đối
với người nhận thì đó là một món quà vô cùng lớn, thậm chí là vô giá bởi
nó được tạo lên từ tình thương của người trao. Và quy luật trao và nhận
là thế ấy, trao đi một chút nhưng bù lại ta nhận được cả vạn tình
thương yêu. Nhưng hãy nhớ là mình làm việc đó với tất cả tình thương của
một con người, làm theo sự mách bảo của con tim của một con người chứ
đừng làm theo kiểu bố thí, ban phát lòng thương hại vì nếu như thế thì
còn vô liêm sỉ và xấu xa hơn kẻ thờ ơ, vô cảm trước cảnh đời khốn khổ
của người khác. Nhưng,không phải sự đồng cảm và sẻ chia chỉ dừng lại ở
đó, tiền bạc đôi lúc cũng không giải quyết được vấn đề nhất là kh người
ta có chuyện rắc rối về tình cảm hay tinh thần của họ đang trong trạng
thái buồn khổ. Hãy lắng nghe sau đó mới đồng cảm và cuối cùng là hành
động để sẻ chia. Đừng vì quá nôn nóng làm việc tốt mà làm hại chính
mình. Đừng lúc nào cũng lấy tiền bạc để giải quyết vấn đề vì có khi làm
họ tổn thương và cảm thấy bị xúc phạm. Đôi khi chỉ cần những lời khuyên
nhủ thật lòng giúp họ xua tan đi bao buồn lo, làm nỗi buồn của họ vợi đi
và niềm vui trong lòng mình tăng gấp đôi. Tất cả những nghĩa cử
cao đẹp ấy, xét về mặt vật chất tuy không phải là ít nhưng cũng không
phải là nhiều bởi cuộc đời này còn biết bao cảnh đời lầm than khác, đang
ngày đêm chịu những cảnh dày vò về thiếu thốn tiền bạc, tình cảm, đang
sống len lỏi trong những ngóc ngách của cuộc đời mà ống kính của đài
truyền hình, những nhà nhân đạo chưa rọi soi tới. Nhưng xét về mặt tinh
thần thì giá trị của nó lớn lao vô cùng, đôi khi còn cao hơn cả giá trị
của vật chất. Nó đã tạo động lực cho người nghèo tiến lên, thoát ra khỏi
cảnh sống bần hàn vươn lên để làm lại cuộc đời, hơn nữa nó đã cứu vớt
không biết bao nhiêu mảnh đời bất hạnh của những trẻ em nghèo, cơ nhỡ để
xây dựng cho chúng những "ước mơ xanh" để bước vào một cuộc đời có đầy
đủ ánh sáng hơn, thậm chí nó cũng đã vực dậy không biết bao con người
tội lỗi vì túng quá làm liều. Đồng cảm và sẻ chia chỉ là một trong
những nét đẹp truyền thống của người Việt Nam ta nhưng không có nó cuộc
sống của con người sẽ trở nên nhạc nhẽo, vô vị, con người sẽ trử thành
loài cầm thú và thậm chí có thể cấu xé lẫn nhau. Có nó cuộc sống của ta
không những không có ý nghĩa mà còn phát huy được những truyền thống tốt
đẹp của cha ông, khơi dậy được lòng nhân ái, tình đoàn kết của dân tộc,
góp phần xây dựng một đất nước giàu mạnh mà nơi ấy tình thương nắm
quyền cai trị.
|
|
|
|
giải đáp
|
Giải đáp giúp e với mọi ngươi ơi?
|
|
|
|
Có bài làm chi tiết đây em tham khảo lấy ý nhé!
Kho tàng tri thức của nhân loại vô cùng to lớn, là một vùng đất bí ẩn mà biết bao con người ngày đêm không ngừng chinh phục, khám phá. Và phương tiện hữu dụng nhất cho công cuộc chinh phục ấy là sách. Muốn tiến bọ thì cần phải học, học ở sách, trong trường và ngoài đời. Thật đúng như lời nhận xét của một nhà văn "một quyển sách hay là một người bạn tốt". Nhưng Mạnh Tử, một học trò xuất sắc của Khổng Tử lại không hề nghĩ thế, với ông "Hoàn toàn tin sách, thà chẳng có sách còn hơn". Vậy theo nhà hiền triết ấy, hoàn toàn tin sách là sao? Có hại gì? Ta phải có thái độ như thế nào khi đọc sách. Tất cả tinh hoa của nhân loại dường như đã chứa đựng trong tất cả những cuốn sách và con người chúng ta có thể học hỏi, hiểu biết nhiều điều bổ ích, lí thú qua sách. Câu nói của Mạnh Tử không khỏi khiến người ta phải suy nghĩ, băn khoăn, hoàn toàn tin sách là đọc theo sách, tin theo sách, bắt chước theo sách một cách mù quáng, không biết suy xét phán đoán nhận thức rõ ràng giữa cái đúng, cái sai mà sách đem đến. Thậm chí không ít người cứ xem sách là một tiêu chuẩn, cái gì của sách cũng là đúng, thế là cứ hành động, và buộc mình vào tư tưởng suy nghĩ nhất nhất theo sách. Mọi việc từ lớn đến bé, họ không thể tự quyết định được nếu không có sách. Như thế Mạnh Tử cho rằng hại nhiều hơn lợi. Vậy hoàn toàn tin sách như thế có hại ra sao? Sách có rất nhiều loại, sách văn hóa, sách giải trí, sách giáo khoa, sách khoa học.... Đối với sách nhảm nhí, hoang đường, kiêu dâm, cái bất lợi hiện lên lại quá rõ. Con người, nhất là trẻ em, với bản tính tò mò, hiếu động non nớt, thích tìm hiểu những cái mới lạ của cuộc sống, sẽ bị vấy bẩn tâm hồn nếu tiếp xúc với những loại sách như thế. tin vào chúng thì tình cảm và lí trí sẽ bị đầu độc, sinh ra những hành động nông nổi, điên cuồng, làm biến chất con người, và rồi thì chính họ cũng không kịp nhận ra. Những hành động lố lăng, vô lối mà ta thường đọc hay nghe thấy qua báo, đài, tivi,... phải chăng là lí do ảnh hưởng của những loại sách độc hại đó? Đối với những sách không lành mạnh thì đành rằng thế, nhưng đối với những loại sách đúng đắn trong sạch, hoàn toàn tin sách có hại không? Tuy rằng không thực sự nguy hiểm như những loại sách trên nhưng không phải là không có hại. Trên thực tế, mỗi cuốn sách đều có một nét đặc biệt riêng lôi cuốn người đọc. Ta thường chăm chú những loại tiểu thuyết tâm lí, xã hội.... được các tác giả có ý thức, có tư tưởng tốt đẹp xây dựng. Nhưng nếu tin tưởng một cách mù quáng, tuyệt đối ta sẽ vô tình bắt chước theo các nhân vật trong sách mà hành động phi thực tế, có khi dị lập, không tư tưởng. Những nhân vật sự kiện trong sách dù có đẹp, có hoành tráng, diễm lệ và cuốn hút đến đâu cũng đều có tính cách điển hình, lí tưởng hóa, ít nhiều phóng đại, giả tưởng. Hơn nữa, đời không phải là truyện, là tiểu thuyết. Mỗi vùng, miền, mỗi nơi đều có những phong tục tập quán riêng, vì thế sẽ có những định kiến thay đổi theo thời gian và không gian. Có khi cùng một điều nhưng ở nơi này thì đúng, nơi khác thì sai. Ở thời này thì phải nhưng thời khác lại trái. Thế nên, nếu chứ nhất nhất tin và áp dụng một cách máy móc có khi thành ra lỗi thời, lạc hậu. Có lẽ vì thấu lẽ đó mà Đức Khổng Tử ngày xưa chỉ truyền kiến thức cho một số đệ tử tâm đắc chứ không chịu truyền sách học lại cho người khác. Ngay đến cả sách khoa học phần lớn khách quan, ghi chép lại những ý tưởng của những nhà bác học đại tài, ta cũng phải biết nghi vấn, đặt ra câu hỏi tìm hoặc hiểu, đối chiếu với sự vật để có thể hiểu sâu xa và rõ ràng từng vấn đề để tránh được những sự lầm lỗi tai hại. Ta cứ tin bằng lời mà không chịu tìm hiểu có đúng sự thật hay không thì chẳng khác nào gặp đồ ngon mà cứ nuốt bừa, đã không biết được mùi vị có khi còn bị ảnh hưởng đến sức khỏe. Vì vậy, khi ta đọc sách dù sách có hay đến mấy mà cứ tin mù quáng, xa vời thực tế, lắm khi sẽ trở thành kẻ luôn bị phụ thuộc vào sách vở, chẳng có chính kiến riêng thì thà rằng chả có sách còn hơn. Thế nên, chúng ta những người đọc sách, để có thể lĩnh hội tất cả những kiến thức của nhân loại thì cần phải có những phương pháp đọc sách đúng đắn, chọn lọc kĩ càng, phù hợp với lứa tuổi và trình độ học vấn. Đọc sách thận trọng là đúng, nhưng không phải vì quá thận trọng mà đâm ra nợ sách. Hoàng Đình Kiên đã nói "kẽ sỹ phu ba ngày không xem sách thì soi gương mặt mũi đáng ghét nói chuyện lạt bõ khó nghe". Cũng là vì lẽ đó. Một quyển sách để trên mặt ta là hình ảnh của một cái gì đó cao đẹp nhất. Đấy là tất cả công trình, là thành quả lao động miệt mài của bao người viết, bao khó nhọc của thợ nhà in đêm ngày chăm chút từng chữ. Nhìn sách và được thưởng thức những cái hay của sách là ta đã học được sự cần lao khả kính của con người. Đứng trước một tủ sách hay là một thư viện mới mênh mông là sách, ta nghe được tiếng thì thầm to nhỏ của nghìn đời. Dù bao thế hệ đã trôi qua, sông núi, đất trời và cả con người cũng thay đổi, nhưng sách vẫn còn đó, với những giá trị lâu bền. Như nhà văn Hoàng Đạo đã từng viết : "sách để đấy tự bao giờ,, mười năm, hai mươi năm, rồi nhưng không bao giờ tỏ ý vội vàng bực tức. Ai muốn biết, muốn hiểu thì đem ra mà đọc sách sẽ diễn lại ngay, giảng lại một lần nữa những tư tưởng của tác giả. Ngày tháng qua nhưng sách vẫn còn đây, mười lăm năm sau có người nhớ đến sẽ lại vang giọng thơ Lí Bạch hay của Verlaine, sống lại những mẫu tư tưởng của cha Mare Aulele hay Mạc Tử (con đường sự thật)". Thật là một sự nhẫn nại vô cùng! Người đọc sách phải học được cái nhẫn lại quý báu ấy của sách để tìm tòi, nghiên cứu, có như thế mới hiểu được cái hay cái đẹp trong sách, tiếp thu tối ưu các kiến thức mà ông cha ta đã truyền lại. Lâm Ngữ Đường đã nói: "đọc sách hay và tìm tòi nguồn vui trong sách vở bao giờ cũng được coi là học thức ở đời". Không phải ai cũng hiểu được những giá trị của sách. Lại có những kẻ khinh sách hoàn toàn, với họ, sách là gì? Chỉ là một vật chứa toàn lí thuyết nhàm chán mà thôi. Cách nghĩ như thế là hoàn toàn sai lệch, ắt hẳn rằng những con người ấy sẽ không bao giờ làm nên được việc gì lớn được. Lí thuyết Khổng- Mạnh- ngày nay là điều mà đến ngàn đời con người cũng chưa đạt thấu gì hết. Vì trong ấy ngoài những con chữ ra còn biết bao kinh nghiệm thực tế ở đời. Vậy để có thể tiếp thu hiệu quả những kiến thức có trong sách ta cần phải đọc sách này như thế nào? Có hai cách đọc sách: nghiền ngẫm và ngấu nghiến. Nếu chỉ biết ngấu nghiến thì đọc sách cũng chỉ bằng thừa. Biết nghiền, ngẫm, suy nghĩ cân nhắc cái hay, cái dở, cái phải, cái trái trong sách thì thật đáng khuyến khích; bên cạnh đó, ta còn phải biết cách phát triển cơ sở ở sách. Sách là kinh nghiệm ở những diều đã qua. Nếu biết áp dụng những kinh nghiệm quý giá ấy vào đời sống, vào việc học tập hàng ngày, tạo thêm những kinh nghiệm mới thì cái thú vui của việc đọc sách sẽ ngày càng tăng mà con người cũng thêm phần tiến bộ. Maxim Gorki đã từng nói "sách mở ra cho ta một chân trời mới". Sách là mọt vật quý và rất cần thiết cho sự mở mang trí óc của con người. Vì thế mỗi chúng ta phải biết phân tích, phê phán, đối chiếu thì mới hiểu và lĩnh hội được những giá trị thật sự của sách, không nên quá mức mù quáng vào sách cũng như không được lỗ mãng mà khinh sách. Ta có thể mượn lời của Trung Dung làm châm ngôn cho việc đọc sách: "học cho rành, hỏi cho kĩ, nghĩ cho cẩn thận, phân biệt rõ ràng, làm cho hết sức".
|
|