|
|
giải đáp
|
ĐỀ THI THỬ (Số 01)
|
|
|
|
Câu
1: Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ của dân tộc, một người cha già của
những người con đất nước Việt Nam. Chúng ta không chỉ biết đến người với
một sự nghiệp cách mạng vĩ đại mà bên cạnh đó là một sự nghiệp văn
chương đồ sộ, lớn lao.
Trong sự nghiệp văn chương của Bác, mỗi tác phẩm có những giá trị, ý
nghĩa sâu sắc, và ở đó ta thấy được những quan điểm sáng tác của Bác mà
có lẽ chính Bác đã tự đặt ra cho mình.
"Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em (văn nghệ sĩ) cũng
là những chiến sĩ trên mặt trận ấy" Hồ Chí Minh coi nghệ thuật là một
vũ khí hiện đại phụng sự đắc lực cho sự nghiệp cách mạng, và đối với
những văn nghệ sĩ họ cũng là những người chiến sĩ yêu nước, dùng ngòi
bút của mình để đấu tranh góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước.
Hồ Chí Minh luôn coi trọng tính chân thật và tính dân tộc trong những
tác phẩm nghệ thuật. Tính chân thật bắt nguồn từ đời sống, từ thực tế,
phản ánh rõ nét cuộc sống đời thường, hiện thực cách mạng, biết phê phán
cái xấu, đề cao cái tốt, cái đẹp. Tính dân tộc được thể hiện qua tư
tưởng, truyền thống yêu nước cách mạng, phải biết giữ dìn sự trong sáng
của tiếng Việt, ngôn ngữ gần gũi, có sự hài hòa.
Trước khi đặt bút viết Bác thường trăn trở và suy nghĩ nhiều điều, về
cách viết, nội dung diễn đạt để hướng tới đối tượng tiếp nhận, trả lời
những câu hỏi: Viết cho ai? (đối tượng) Viết để làm gì (mục đích) Viết
cái gì? (nội dung) Viết thế nào? ( hình thức).
=> Quan điểm sáng tác của Bác là một quan điểm tiến bộ, và trở thành
tấm gương cho nhiều văn nghệ sĩ noi theo, học hỏi được nhiều điều, có ý
nghĩa sâu sắc. Phong cách nghệ thuật của Bác. - Phong cách nghệ thuật độc đáo, đa dạng:
+ Văn chính luận của Bác thường ngắn gọn súc tích, lập luận sắc bén,
dẫn chứng xác thực, giàu tri thức văn hóa, giàu tính luận chiến, gắn lí
luận với thực tiễn, Bác sự dụng một cách có hiệu quả các phương thức
diễn đạt thấm đượm tình cảm, giàu hình ảnh, ngôn ngữ hào hùng đanh thép,
trữ tình. Trong đó có tác phẩm: Tuyên Ngôn độc lập, một áng văn chính
luận đặc sắc. + Ở
Truyện và kí ngòi bút của Bác được thể hiện một cách sáng tạo và chủ
động, vừa có sự châm biếm mỉa mai khá sắc sảo vừa có sự hài hước hóm
hĩnh, có nhiều tình huống truyện bất ngờ, giàu ý nghĩa, chất trí tuệ và
tính hiện đại thể hiện một cách rõ nét trong truyện ngắn của Bác. Trong
các tác phẩm ngòi bút với giọng điệu châm biếm của Bác thể hiện rất sâu
sắc trong tác phẩm Vi hành- Châm biếm vua Khải Định. + Về thơ ca " Vần thơ Bác vần thơ thép mà vẫn mênh mông bát ngát tình" Thơ
ca của Bác được thể hiện một cách phong phú và đa dạng, có sự kết hợp
giữa bút pháp cổ điển và hiện đại, thơ giàu tính trữ tình, chất thép. Có
nhiều thể loại với nhiều nội dung ý nghĩa, tuyên truyền vận động, phê
phán, pục vụ có hiệu quả cho nhiệm vụ cách mạng, ngôn ngữ trong thơ Bác,
mộc mạc bình dị, gần gũi, dễ nhớ, dễ thuộc. Một số tác phẩm tiêu biểu
như: Chiều tối, tập thơ Nhật kí trong tù. - Phong cách nghệ thuật của Bác đa dạng độc đáo, nhưng đều có sự thống nhất. +
Cách viết ngắn gọn, súc tích, giản dị, ngôn ngữ giàu hình ảnh, ý nghĩa,
sử dụng linh hoạt các thủ pháp nghệ thuật, gửi gắm những bài học, thông
điệp có giá trị. Nhận xét: - Em làm đủ các ý cơ bản nhưng cách viết thì chưa ổn lắm. Đây là dạng đề tái hiện nên cần rõ ràng, khúc triết từng ý. Chẳng hạn ý quan điểm sáng tác của Bác có 3 nội dung cơ bản nên triển khai rõ ra thành từng đoạn văn. Thường là đưa luận điểm trước rồi lấy dẫn chứng sau. Đừng đưa dẫn chứng: "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em (văn nghệ sĩ) cũng
là những chiến sĩ trên mặt trận ấy" rồi mới phân tích, như thế dễ rời rạc ý. - Cách mở bài: "Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ của dân tộc, một người cha già của
những người con đất nước Việt Nam. Chúng ta không chỉ biết đến người với
một sự nghiệp cách mạng vĩ đại mà bên cạnh đó là một sự nghiệp văn
chương đồ sộ, lớn lao.
Trong sự nghiệp văn chương của Bác, mỗi tác phẩm có những giá trị, ý
nghĩa sâu sắc, và ở đó ta thấy được những quan điểm sáng tác của Bác mà
có lẽ chính Bác đã tự đặt ra cho mình" Không ổn lắm. Câu đầu nên nêu trực tiếp: Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc - người cha già kính yêu của
những người con đất Việt. Người không chỉ có một sự nghiệp cách mạng vĩ đại mà còn có một sự nghiệp văn
chương đồ sộ, lớn lao... (Như thế đỡ rờm rà hơn em ạ). Cần xem lại cả câu: mà
có lẽ chính Bác đã tự đặt ra cho mình.
Câu
2: Khi bạn bước vào một khu vườn, điều đầu tiên mà bạn nhìn thấy đó là
nhưng bông hoa xinh đẹp ngát hương, tỏa ánh sắc dưởi nắng mặt trời, bạn
tiếp tục nhìn khu vườn và òa lên một tiếng khi bạn thấy những chú ong
đang hút mật trên những đài nhụy vàng óng, những chú bươm bướm xinh xinh
bay rập rờn đầy quyến rũ và bạn vẫn cố tiếp tục để nhìn thấy còn gì
trong khu vườn này nữa...ồ những con sâu xấu xí nó đang phá hoại những
lá non mới nảy, những con bọ, và thậm chí còn có những con vật kinh
khủng khác nằm sâu trong khu vườn ấy...! Vậy bạn nghĩ gì? Cái xấu và cái
tốt luôn tồn tại và đi song song với nhau, chúng cùng bổ sung cho nhau
và phát triễn, cuộc sống của chúng ta cũng giống như khu vườn kia, nó
cũng có những cái xấu, những mặt trái của xã hội, nhưng bên cạnh đó ta
vẫn tìm thấy những cái tốt, cái đẹp...Chính vì thế để tồn tại bạn cần
biết tìm cho mình một gải pháp hữu hiệu. Có ý kiến cho rằng: "| Phê phán
thái độ thờ ơ ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết
như ca ngợi lòng vị tha tình đoàn kết" Vậy đó không phải là cách tốt
nhất để ta chung sống giữa cái xấu và cái tốt sao?
Cuộc sống ngày một hiện đại và phát triễn, con người cứ chạy theo
những giá trị vật chất tầm thường, lao vào cuộc sống mưu sinh mà làm tha
hóa đạo đức, họ không còn một chú thời gian nào để ngồi và ngẫm lại
những gì mình đã làm, và xem mình đang sống như thế nào! Chính vì thế mà
nhân cách của con người cũng đang dần mất đi thay vào đó là những phẩm
chất hành động thiếu văn hóa, mất đạo đức. Vậy
ta hiểu thế nào về thái độ thờ ơ ghẻ lạnh? Đó là một thái độ vô cảm,
con người như bị chai sạn cảm xúc, không còn tình thương và lòng nhân
ái, vậy điều đó biểu hiện như thế nào? Một cụ già đang đi trên đường
không may bị vấp ngã, chẳng ai thèm để ý để mà giúp cụ đứng dậy, một em
bé lạc mẹ khóc giữa đường phố, cũng chẳng ai rảnh để mà tìm mẹ cho đứa
trẻ, một phụ nữ khuyết tật, có bề ngoài xấu xí hàng ngày chị vẫn đối
diện với những ánh mắt khinh rẽ, cười nhạo, giễu cợt của những người qua
đường, học coi chị như một trò đùa quái gởn. Đó không phải là những
thái độ thờ ơ ghẻ lạnh sao? Còn nhiều và rất rất nhiều những hành dộng
khác nữa để cho ta thấy được những cái xấu ấy, đã và đang ăn dần, sâu
vào mỗi con người, ở đây tôi chỉ kẻ ra một vài biểu hiện, từng ấy cũng
đủ để chứng minh được con người đang có cách cư xử, và một thái độ sống
như thế nào. Vậy như
thế nào là lòng vị tha, tình đoàn kết? Lòng vị tha đó chính là sự thông
cảm sẻ chia, tình yêu thương con người,tình đoàn kết đó là sự gắn bó gần
gũi, cùng giúp đỡ nhau vượt qua mọi khó khăn,thách thức của cuộc sống,
lòng vị tha và tình đoàn kết thể hiện qua những hành động cư xử cao đẹp
và có văn hóa, trong cuộc sống hàng ngày bạn phải biết sống thế nào cho
phù hợp, sống làm sao để bạn cảm nhận được nó, và sống thật có ý nghĩa,
không vội vàng, mà phải biết đi và dừng lại đúng lúc, bạn sẽ có thời
gian để nhìn thấy một cụ già vấp ngã, bạn dừng lại và đưa bàn tay của
mình nâng đỡ bà dậy, một hành dộng đơn giản nhưng đó là một hành động
cao thượng, bạn sống không phải chỉ riêng cho bản thân mà còn sống vì
mọi người lúc ấy, bạn sẽ cảm nhận được cuộc sống này đáng yêu thế nào,
bạn biết bế đứa trẻ lên tay và sẵn sàng lau những giọt nước mắt lăn trên
đôi má, bạn sẵn sàng tìm mẹ cho đứa trẻ và trao nó tận tay cho người
mẹ. Nếu bạn biết yêu thương, biết cảm thông, biết chia sẽ nỗi đau mất
mát của người khác, đau nỗi đau của chính họ, thì bạn sẽ không bao giờ
cười nhạo, khinh thường ai cả, khi bạn đi qua một người khuyết tật, bạn
phải làm gì? làm việc gì mà người ấy có thể hạnh phúc, có thể ấm áp, học
cảm thấy xũng quanh mình còn có nhiều và rất nhiều những người luôn an
ủi động viên bạn.
Các bạn thấy đấy, không có một cái gì là hoàn hảo cả, đối với bản thân
chúng ta cũng vậy, cũng có những ưu điểm và nhược điểm, cũng có cái xấu
và cái tốt, vì thế mỗi người cần có một cách riêng để hoàn thiện bản
thân mình, để khi nào phần 'người"lớn hơn phần "con".
Nói đến đây chúng ta đã hiểu được phần nào về cái xấu và cái tốt,
ranh giới giữa chúng rất mỏng manh, người xưa đã từng có câu "nhân chi
sơ tánh bổn thiện" chính vì lẽ đó cúng ta phải biết sống làm sao thật
tốt, và giữ dìn lương tâm đạo đức của mình. Vậy tại sao lại nói biết phê
phán cái xấu cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi cái đẹp, có nghĩa
là biết phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan
trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha tình đoàn kết?
Như ta đã nói cái xấu và cái tốt luôn đi đôi và tồn tại với nhau và
không bao giờ có thể tách bỏ một thứ nào được bởi vì đó là quy luật sẵn
có của tự nhiên, vì thế chỉ còn cách là ta chung sống và làm thế nào đó
để làm hạn chế nó. Trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong công việc
nếu ta biết lên tiếng, biết đứng lên đấu tranh, phê phán những hành
động, những việc làm sai trái, những hành vi vi phạm đạo đức thì chính
ta cũng đang tự hoàn thiện bản thân mình, và đang giúp người khác tìm
lại và hoàn thiện bản thân họ, người ta vẫn thường nói " đánh kẻ chạy đi
không ai đánh người chạy lại" Vậy khi bạn biết phê phán họ, sau những
lỗi lầm ấy, người ta biết nhận ra lỗi lầm củ mình và biết quay đầu trở
lại, biết tu chí để trở thành người tốt với những việc làm tốt.
Khi bạn thấy những hành động những cử chỉ, những việc làm... đẹp, bạn
học được nhiều điều từ đó, bạn lên tiếng ủng hộ, và ca ngợi những hành
động ấy, phải chăng bạn cũng đang hoàn thiện bản thân mình? Nói tóm lại
việc bạn phê phán cái xấu và ca ngợi cái đẹp đều có ý nghĩa là hướng đến
cái chân thiện mĩ, đều có ý nghĩa quan trọng và cần thiết.
Với cuộc sống hiện tại, bạn hãy dành cho mình một chút thời gian để
nhìn lại bản thân, Bạn hãy tự đặt ra cho mình những câu hỏi và tụ trả
lời : bạn đang có một cuộc sống như thế nào? bạn sống ra sao? và bạn đã
làm được gì cho chính mình và những người xung quanh? Mỗi chúng ta phải
có lí tưởng sống cao đẹp "hạnh phúc không thể xây dựng trên nỗi đau khổ
của người khác" "sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình" Tố Hữu. Tránh xa
lối sống thực dụng, vô cảm, biết phê phán, lên án những cái xấu, đen
tối, mặt sau của quồng quay cuộc sống. NHẬN XÉT: Bài viết này có cảm xúc, rất hay, không biết em có tham khảo thêm ở đâu không? hi hi. Thầy chỉ lưu ý là phần mở bài hơi dài. Và việc trích câu: "Nhân chi sơ tánh bổn thiện " là không ổn, đây là tiếng địa phương. Chính xác phải là: "Nhân chi sơ tính bản thiện "Từ
xưa đến nay đã có rất nhiều dòng sông đi vào các tác phẩm văn học, mỗi
dòng sông mang một vẻ đẹp riêng đầy ấn tượng ( Sông Đuống- Hoàng Nhuận
cầm, con sông quê hương của Tế hanh, sông Thương, sông Hồng.........) -
Nhắc đến các con sông không thể không kể đến sông Đà trong tác phẩm
Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, Sông Hương trong tác phẩm Ai đã
đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ở hai con sông ta thấy
được giữa chúng có nét tương đồng và sự khác biệt. Thân
bài: - Người lái đò sông đà được trích trong tập sông Đà của Nguyễn
Tuân là một thành quả nghệ thuật đẹp đẽ của tác giả sau một chuyến đi
đầy gian khổ lên rừng núi Tây bắc. - Ở trong tác phẩm ta cảm nhận được một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ trữ tình, với những con người lao động chất phác thật thà. +
Trên thực tế, sông Đà là một con sông lớn, với vẻ đẹp hùng vĩ nhưng
cũng không kém sự thơ mộng, để chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp của nó đã là rất
khó, thế nhưng Nguyễn Tuân đã sử dụng ngòi bút công phu của mình " nhốt
được" con sông Đà nằm im trên từng trang sách. -
Còn đến với sông Hương bên thành phố Huế mộng mơ ta không khỏi thốt lên
tiếng lòng của mình, một vẻ đẹp vừa kín đáo, e lệ, nhưng ấn nấp đằng
sau ấy là một sự mạnh mẽ quyết liệt. -
Tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông là một tùy bút đặc sắc của Hoàng
Phủ Ngọc tường, được sáng tác vào ngày1/4 in trong tập sách cùng tên tại
thành phố Huế. - Ở hai con sông ta
đều thấy một nét chung đó là đều mang hai tính cách, hai vẻ đẹp đối lập
nhau, nhưng lại có sự hòa hợp tạo nên một con sông văn vô cùng cuốn hút
với sự kết hợp giữa vẻ đẹp trữ tình lãng mạn và hoang sơ, hùng vĩ. ** Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng: -
Sông Đà: + Từ trên cao nhìn xuống: sông Đà được ví như "cái dây thừng
ngoằn ngoèo, một mĩ nhân trẻ trung xuân sắc "sông Đà tuôn dài, tuôn dài
như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mấy trời tấy
bắc, bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn màu khói mèo đốt
nương xuân" + Vào mùa xuân sông Đà
với dòng nước trong xanh "dòng xanh ngọc bích" vào mùa thu nó mang một
màu sắc khác có vẻ dữ dằn hơn " lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì
rượu bữa", và cũng chưa bao giờ nhà văn nhìn thấy "sông Đà là đen như
thực dân Pháp đã đè ....mực tây vào" =>
Tác giả đã vẻ nên một dòng sông với vẻ đẹp khó có thể chê vào đâu được,
qua đó cũng là tiếng lòng của tác giả muốn bày tỏ tình yêu của mình đến
con sông, niềm tự hào về vẻ đẹp con sông xứ sở. -
Sau một chuyến dài "ở rừng đi núi": Nhà văn được gặp lại con sông trong
khoảng một thời gian xa cách, gặp lại như mọt người bạn, một "cố nhân",
ở lần này, bức tranh con sông Đà lại được tác giả tô thêm, bổ sung thêm
với những vẻ đẹp khác ""tôi nhìn cái miếng sáng.........một màu nắng
tháng ba Đường thi "yên hoa tam nguyệt há dương châu" bờ sông Đà, bãi
sông Đà chuồn chuồn, bươm bướm trên sông Đà, những vẻ đẹp ấy khiến cho
tác giả không khỏi thốt lên thành lời "Chao ôi.........như nối lại chiêm
bao đứt quãng" - Khi thuyền tôi,
trôi trên sông Đà: + Lần này tác giả nhìn con sông đà ở cự li gần hơn,
có thể gọi là cận cảnh, khi con thuyền được lướt trên dòng sông, một bức
tranh cổ kính, tĩnh lặng, thanh bình, gợi về một thời quá khứ xa xôi "
Cảnh ven sông ở đây lặng tờ.....đến thế mà thôi" "bờ sông hoang dại như
một bờ tiền sử.....cổ tích tuổi xưa" +
Một bức tranh thiên nhiên căng tràn sức sống ở hai bên bờ sông : " cỏ
gianh đồi núi đang ra những nõn búp" "nương ngô nhú lên mấy lá ngô non
đầu mùa".... ** Sông Đà một bức tranh thiên nhiên hoành tráng dữ dội. - Cảnh đá bờ sông Đà "đá dựng vách thành"có chỗ " đá chẹt lòng sông như một cái yết hầu"................... - Những nghềnh thác những cái hút nước: + Ở quãng mặt ghềnh Hát Lóng (dẫn chứng) + quãng tà Mường Vát (dẫn chứng) -
Âm thanh tiếng nước thác; Nhà văn đã nhân hóa con sông biến nó thành
một sinh vật sống với diện mạo tiếng hét ghê rợn (dẫn chứng) - Đá trên sông hiểm ác: "Đá ở đây............nó bày thạch trận trên sông" - Nghệ thuật. -
Ta vừa cảm nhận vẻ đẹp con sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà
của Nguyễn Tuân, vậy ở con sông Hương của HPNT cũng cùng vẻ đẹp ấy nó
thể hiện bộc lộ như thế nào! *Vẻ đẹp mạnh mẽ, hùng vĩ, hoang sơ ở thượng lưu. -
Sông Hương một bản trường ca của rừng già: "Rầm rộ giữa những bóng cây
đại ngàn và mãnh liệt qua những ghềnh thác cuộn xoáy như cơn lốc vào
những đáy vực bí ẩn" + Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự dom trong sáng. * Con sông mạng vẻ đẹp thơ mộng trữ tình. - Sông Hương một cô gái Di- gan phóng khoáng và man dại (dẫn chứng) - Sông Hương người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở (dẫn chứng) * Sông Hương ở ngoại vi thành phố. - Sông Hương người gái đẹp "bừng tĩnh sau một giấc ngủ dài" + + - Sông Hương vẻ đẹp trầm mặc như triết lí như cổ thi. + *Sông Hương giữa lòng thanh phố Huế. - Sông Hương điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế. + + + + * Sông Hương người tài tử đánh đàn lúc đêm khuya + + * sông Hương người tình dịu dàng chung thủy. + + =>
Sông Hương mang một vẻ đẹp trữ tình say đắm, thơ mộng, bằng nghệ thuật
tiêu biểu là nhan hóa tác giả đã miêu tả mọt cách sinh động và độc đáo. -
Phải có một tình yêu sâu sắc với quê hương đất nước, một tình yêu mãnh
liệt với thiên nhiên đất nước, một tình yêu sâu đậm đến thế thì NT và
HPNT mới có được những cảm nhận tinh tế, tỉ mĩ, tổng quát một cách sắc
nét về dòng sông của mình. Qua đó hai tác giả cùng bộc lộ niềm tự hào,
vui sướng của mình về vẻ đẹp của quê hương đất nước. -
Ở trên người đọc đã có những cung bậc cảm xúc, những rung động trong
tâm hồn mình, trước nhưng vẻ đẹp chung của hai dòng sông hiền hòa- mạnh
mẽ. Vậy ở sông Hương và sông Đà có những nét gì khác biệt, tạo nên sự độc đáo, nét riêng cho phong cách của mình? -
Mặc dù ta thấy sông Hương và sông Đà đều có điểm chung là nổi bật giữa
hai tính cách đối lập mà ta đã nói trên nhưng ở cách bộc lộ, phô bày
những vẻ đẹp ấy không giống nhau, mỗi dòng sông có một hình thái
riêng.......... +ở sông Đà ta thấy giữa hai tính cách ấy, tính cách nỗi trội nhất đó là hùng vĩ, hoành tráng, giữ dội. + ở sông Hương vẻ đẹp thơ mộng, lãng mạn lại là chủ đạo + Sông Đà, nằm ở rừng núi Tây Bắc một vẻ đẹp hoang sơ, bình dị của thiên nhiên. + Sông Hương nằm dọc bên thành phố Huế, được đùm bọc, tôn tạo bởi con người. -
Nguyễn Tuân và HPNT tuy có sử dụng một số biện pháp tu từ giống nhau,
nhưng ở mỗi tác giả có một phong cách đặc trưng nghệ thuật riêng. - Kết luận, nêu tổng quát lại vẫn đề. Kết Bài: - Vẻ đẹp của hai dòng sông vẫn tồn tại và mãi là những trang văn đẹp đầy cuốn hút, tạo nên phong cách cho hai nhà văn. - Bồi dưỡng tình yêu đối với non sông đất nước. NHẬN XÉT: Câu này dàn ý cũng ok đấy. Nhưng thầy thấy em chưa nói đến sự khác biệt ở chỗ: HPNT khám phá vẻ đẹp sông hương trong mối quan hệ với các bình diện như văn hóa, lịch sử.... Còn ở Nguyễn Tuân thì điều đó không rõ nét. Và hình như em cũng chưa nhấn mạnh ý cả hai nhà văn đều nhìn nhận con sông như những sinh thể có tâm hồn - một tâm hồn đa dạng, phong phú...(Em xem thầy nx có đúng ko thì bổ sung thêm nhé)
|
|
|
|
giải đáp
|
Bí quyết làm văn nghị luận xã hội
|
|
|
|
Một số kỹ năng cần thiết để làm tốt bài văn nghị luận xã hộiVăn nghị luận xã hội khác với nghị luận văn học ở chỗ nó là những kiến thức thật 100% và rất thực tế với cuộc sống hằng ngày. Vì vậy bạn cần sự tinh tế và nắm bắt thông tin nhanh chóng. Bí quyết cho bạn là hãy chăm chút đọc bào hàng ngày, tốt nhất là lướt web đọc báo mạng để có thể tiếp cận nhanh chóng với những thông tin cực hot làm tài liệu cho riêng mình. Nên ghi chép lại những chi tiết cần thiết để làm dẫn chứng, nên chọn lọc những chi tiết hay để bài văn có được những dẫn chứng thiết thực và bám sát đề. Cách viết văn nghị luận xã hội cần sự ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn phải đầy đủ ý và không được khô khan. Muốn làm được điều đó bạn cần có một dàn bài cụ thể trước khi đặt bút làm bài. Nếu như có những dẫn chứng hay thì nên chen vào giữa bài làm để tránh sự nhàm chán và khô khan cho bài văn. Đừng nên viết quà dài và lan man không sát chủ đề, khi ấy bài văn của bạn rất dễ bị điểm kém. Bên cạnh đó bạn nên tận dụng cách viết sáng tạo, nó sẽ giúp bạn ăn điểm tuyệt đối đấy. Thường thì bạn chỉ có được khỏang từ 2-3 điểm cho một bài nghị luận xã hội trong một đề văn nên cần hết sức lưu ý về thời gian. Nếu như bạn có 90 phút cho một đề văn thì chỉ nên dành 1/3 khỏang thời gian ấy để làm nghĩ lụân xã hội. Một bài nghị luận xã hội thường không đòi hỏi bạn phải viết dài nên teen không cần phải lo lắng về câu chữ, chỉ cần bạn cú ý đến nội dụng và chọn lọc những dẫn chứng thật sắc sảo và thuyết phục, bài viết của bạn sẽ sâu hơn và dễ đi vào lòng người đọc hơn! Cầm đề trên tay bạn đừng vội làm ngay, hãy dùng bút chì gạch dưới những cụm từ khóa để có thể bám sát đề trong lúc làm bài và không bị lan man ý tứ, câu chữ cũng sẽ bớt vụng hơn. Sau khi đã gạch gưới những từ khóa ấy, bạn nên giải nghĩa thật chính xác, muốn có được kỹ năng này thì bạn phải đọc và tìm hiểu từ điển Tiếng Việt. Nếu như bạn giải thích chính xác và hiểu được từ khóa thì bài làm của bạn sẽ đi đúng hướng và chất lượng bài viết sẽ tăng lên đáng kể! Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Tư liệu về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm
|
|
|
|
Nguyễn Bỉnh Khiêm nguyên có tên khai sinh là Nguyễn Văn Đạt, sinh năm Tân Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 22 dưới triều Lê Thánh Tông (1491), ở thời kỳ được coi là thịnh trị nhất của nhà Lê sơ. Ông sinh tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Thân phụ của ông là giám sinh Nguyễn Văn Định, đạo hiệu là Cù Xuyên, nổi tiếng hay chữ nhưng chưa hiển đạt trong đường khoa cử. Thân mẫu của ông là bà Nhữ Thị Thục, con gái út của quan Tiến sĩ Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan triều Lê Thánh Tông, bà là người phụ nữ có bản lĩnh khác thường, học rộng biết nhiều lại giỏi tướng số, nên muốn chọn một người chồng tài giỏi để sinh ra người con có thể làm nên đế nghiệp sau này[5], nhưng kén chọn mãi đến khi luống tuổi bà nghe lời cha mới lấy ông Nguyễn Văn Định (người huyện Vĩnh Lại) là người có tướng sinh quý tử.
Quê ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (nay là thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng). Nội ngoại đôi bên thuộc hai phủ nhưng bên này bên ấy nhìn rõ cây đa đầu làng, chỉ qua con sông Hàn (Tuyết Giang) nối đôi bờ.
Về hành trạng của bà Nhữ Thị Thục, các tài liệu nghiên cứu đến nay vẫn chưa thống nhất về tính xác thực của những giai thoại trong dân gian kể rằng bà chê ông Nguyễn Văn Định không biết cách dạy con nên đã bỏ về nhà cha mẹ đẻ ở làng An Tử Hạ (bởi với biệt tài lý số của mình, bà Nhữ Thị Thục đã tiên đoán nhà Lê sơ 40 năm sau thời thịnh trị của Lê Thánh Tông sẽ đi vào suy tàn nên bà muốn dạy Nguyễn Văn Đạt học cách làm vua để có thể giành được ngôi vị đế vương về sau, điều này trái với ý muốn của ông Nguyễn Văn Định). Nhiều nguồn sử liệu trước đây khẳng định rằng sau khi bỏ về nhà cha mẹ đẻ, bà đã vượt qua lễ giáo phong kiến mà đi bước nữa để rồi sinh ra Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (người làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, trấn Sơn Tây thuộc tỉnh Hà Tây cũ). Nhưng nhiều nghiên cứu hiện nay cho rằng điều này rất khó xảy ra bởi bà Nhữ Thị Thục sinh ra Nguyễn Văn Đạt khi đã luống tuổi (ngoài 20 tuổi) trong khi Phùng Khắc Khoan sinh sau Nguyễn Bỉnh Khiêm (Nguyễn Văn Đạt) tới 37 năm. Một điều nữa là bà Nhữ Thị Thục sau khi qua đời lại được an táng bên nhà cha mẹ đẻ ở làng An Tử Hạ mà không phải tại làng Trung Am bên nhà chồng như quan niệm truyền thống xưa nay.
Nguyễn Bỉnh Khiêm được giáo dục từ nhỏ trong một gia đình nội ngoại đều có học vấn uyên thâm. Hầu hết những nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm đều ghi nhận ảnh hưởng lớn của bên họ ngoại trong việc hình thành nhân cách cũng như tài năng của ông. Trong gia phả của họ Nguyễn (thuộc nhánh hậu duệ người con trai thứ 7 của Nguyễn Bỉnh Khiêm) ở thôn An Tử Hạ còn ghi lại: “Phu nhân hồi An Tử Hạ, ỷ phụ thân giáo dưỡng Đạt nhi tam tuế”, qua đó cho thấy thân mẫu Nhữ Thị Thục và ông ngoại Nhữ Văn Lan có công lớn giáo dưỡng Nguyễn Văn Đạt khi còn nhỏ.
Đến tuổi trưởng thành, nghe tiếng Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều (thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa ngày nay) nổi danh trong giới sĩ phu đương thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cất công vào tận xứ Thanh để tầm sư học đạo. Lương Đắc Bằng từng là một đại thần giữ chức Thượng thư dưới triều Lê sơ nhưng sau khi những kế sách nhằm ổn định triều chính do ông đưa ra không được vua Lê cho thi hành, Lương Đắc Bằng đã cáo quan về quê sống đời dạy học (1509). Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn sáng dạ, thông minh lại chăm chỉ học hành nên chẳng bao lâu đã trở thành học trò xuất sắc nhất của người thầy họ Lương. Bởi vậy mà trước khi qua đời, Bảng nhãn Lương Đắc Bằng đã trao lại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm bộ sách quý về Dịch học (Chu Dịch) là Thái Ất thần kinh đồng thời ủy thác người con trai Lương Hữu Khánh của mình cho Nguyễn Bỉnh Khiêm dạy dỗ.
Lớn lên trong thời đại loạn (giai đoạn triều Lê sơ rơi vào khủng hoảng, suy tàn), không muốn đi lại vết xe cũ của người thầy Lương Đắc Bằng nên từ khi trưởng thành cho đến khi ra ứng thí (1535), suốt hơn 20 năm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bỏ qua tới 9 kỳ đại khoa (trong đó có 6 khoa thi dưới triều Lê sơ). Ngay cả khi nhà Mạc lên thay nhà Lê sơ (1527), xã hội dần đi vào ổn định nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không vội vã ra ứng thí (ông không tham dự 2 khoa thi đầu tiên dưới triều Mạc). Tới năm Đại Chính thứ sáu (1535) đời Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh) thịnh trị vương đạo nhất triều Mạc, ông mới quyết định đi thi và đậu ngay Trạng nguyên. Năm ấy ông đã 45 tuổi. Ngay sau khi đỗ đạt, ông được bổ nhiệm làm Đông Các hiệu thư (chuyên việc soạn thảo, sửa chữa các văn thư của triều đình) rồi sau được cử giữ nhiều chức vụ khác nhau như Tả thị lang bộ Hình, Tả thị lang bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ. Nhưng sự qua đời đột ngột của Mạc Thái Tông vào năm Đại Chính thứ 11 khi mới 41 tuổi (1540) đã kết thúc giai đoạn được coi là thịnh trị nhất dưới triều Mạc đồng thời Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng mất đi một chỗ dựa vững chắc cho việc thực hiện những hoài bão trị quốc của mình. Nhân lúc triều chính nhiễu nhương chia bè kết phái do Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải) còn ít tuổi lên thay vua cha nhưng chưa đủ năng lực điều hành chính sự, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dâng sớ trị tội 18 lộng thần (trong đó có cả con rể của ông là Phạm Dao làm Trấn thủ Sơn Nam) nhưng không được vua chấp thuận. Bởi vậy, năm 1542 ông xin về quê trí sĩ sau 8 năm làm quan tại triều đình.
Sau hai năm về trí sĩ, tới năm Giáp Thìn (1544), vua Mạc lại cho người về phong tước Trình Tuyền Hầu cho ông, rồi sau lại thăng ông lên chức Thượng thư bộ Lại , Thái phó, tước Trình Quốc Công. Do vậy mà dân gian quen gọi ông là Trạng Trình. Một số nhà nghiên cứu tiểu sử Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng nguồn gốc của tên gọi Trình Tuyền (gắn với tước hiệu Trình Tuyền Hầu và Trình Quốc Công của ông) là bắt nguồn từ tên địa danh của làng Trung Am từ trước chứ không phải là bắt nguồn từ họ tên người theo ý hiểu rằng “Nguyễn Bỉnh Khiêm là người hiểu rõ suối nguồn Lý học của họ Trình (tức Trình Di và Trình Hạo) đời Tống bên Trung Quốc”.
Gần hai chục năm từ năm 53 tuổi tới 73 tuổi[6], Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy không ở hẳn kinh đô nhưng vẫn cáng đáng nhiều việc triều chính, lúc bàn quốc sự, lúc theo xa giá nhà vua đi dẹp loạn, vua Mạc tôn kính ông như bậc quân sư. Những việc trọng đại nhà vua thường sai sứ giả về hỏi (trong đó có lời khuyên nổi tiếng đã đi vào sử sách: Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế), có khi lại đón ông lên kinh để bàn việc, xong rồi ông lại trở về làng Trung Am. Ngoài 73 tuổi, ông mới chính thức treo ấn từ quan, về quy ẩn nơi quê nhà. Trạng nguyên, Tô Khê hầu Giáp Hải đương thời cũng là một người bạn vong niên của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đã làm thơ ca ngợi tài đức cũng như công lao của ông đối với triều Mạc, trong đó có những câu như “Lực phù nhật cốc trụ kình thiên” (năng lực phò vua như cột chống đỡ trời) hay “Tứ triều huân nghiệp nhân trung kiệt” (một tay anh kiệt huân nghiệp trải bốn triều vua).
Trong những năm trí sĩ cũng như thời gian quy ẩn tại quê nhà, ông đã cho dựng am Bạch Vân, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ, lập quán Trung Tân, làm cầu Nghinh Phong, Trường Xuân cho dân qua lại thuận tiện và mở trường dạy học cạnh sông Tuyết (còn có tên là sông Hàn). Vì vậy mà về sau các môn sinh tôn ông là “Tuyết Giang phu tử”. Học trò của ông có nhiều người hiển đạt sau này như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Trương Thời Cử, Đinh Thời Trung, Hàn Giang cư sĩ Nguyễn Văn Chính (con trai cả của ông)... Nhiều tài liệu văn học sử cho rằng Nguyễn Dữ (tác giả của Truyền kỳ mạn lục) cũng từng là học trò của ông và được ông phụ chính tác phẩm để Truyền kỳ mạn lục trở thành một áng thiên cổ kỳ bút như Vũ Khâm Lân đã ca ngợi. Tuy nhiên cũng có một số nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Dữ chưa từng là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà chỉ là một người sống cùng thời với ông. Vấn đề này đến nay vẫn chưa có quan điểm thống nhất của giới nghiên cứu văn học cũng như lịch sử.
Ngày 28 tháng 11 năm Ất Dậu, niên hiệu Đoan Thái nguyên niên (1585), ông tạ thế tại quê nhà ở tuổi 95, đây là tuổi thọ hiếm có đương thời. Trước khi qua đời, ông còn dâng sớ lên vua Mạc: “... Thần tính độ số thấy vận nước nhà đã suy, vận nhà Lê đến hồi tái tạo, ý trời đã định, sức người khó theo. Song nhân giả có thể hồi thiên ý, xin nhà vua hết lòng tu nhân phát chính, lấy dân làm gốc, lấy nước làm trọng, trong sửa sang văn trị, ngoài chuyên cần võ công, may ra giữ được cơ nghiệp tổ tiên, thì thần chết cũng được thỏa lòng”. Bấy giờ vua Mạc Mậu Hợp cử Phụ chính đại thần Ứng vương Mạc Đôn Nhượng cùng văn võ bá quan về lễ tang để tỏ sự trọng thị. Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha về dự lễ tang đã nói lên sự trân trọng rất lớn của triều Mạc với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Triều đình lại sai cấp ruộng tự điền trăm mẫu, đồng thời cấp ba nghìn quan tiền để lập đền thờ ông tại quê nhà, đích thân vua đề chữ lên biển gắn trước đền thờ là “Mạc Triều Trạng Nguyên Tể Tướng Từ”.
Theo bản Phả ký (Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký) do Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân soạn năm 1743, Nguyễn Bỉnh Khiêm có cả thảy ba người vợ và 12 người con, trong đó có 7 người con trai. Cũng giống như cha, hầu hết các con trai của Nguyễn Bỉnh Khiêm đều theo phò tá nhà Mạc. Bởi vậy sau khi nhà Mạc bị thất thủ dưới tay nhà Lê-Trịnh (1592), con cháu ông đều phải thay tên đổi họ, li tán thập phương. Một chi họ do người con trai cả của ông là Hàn Giang hầu Nguyễn Văn Chính đứng đầu đã di cư về vùng Trường Yên thuộc đất Hoa Lư, Ninh Bình ngày nay và đổi từ họ Nguyễn sang họ Giang nhằm tránh sự trả thù của nhà Lê-Trịnh. Lúc sinh thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cử người con trai thứ 7 (con trai út) dẫn người cháu đội bát hương sang sinh cơ lập nghiệp ở làng An Tử Hạ, xã Kiến Thiết bên quê ngoại để trông coi phần mộ và thờ phụng ông bà ngoại Nhữ Văn Lan cùng thân mẫu Nhữ Thị Thục rồi về sau tạo thành một chi họ Nguyễn hậu duệ của Trạng Trình trên đất Tiên Lãng ngày nay.
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 14/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
giải đề thi văn một tiết
|
|
|
|
Đây là kết thúc mở. Nam Cao kết thúc truyện ở đây nhưng người đọc có cơ sở sở để nghĩ đến diễn biến tiếp theo của cốt truyện: Sau khi CP chết, có thể một CP con lại ra đời và Thị Nở vì sợ thị phi của người đời mà có thể sẽ lại vứt đứa trẻ đó ở cái lò gạch bỏ hoang. Đứa trẻ đó lớn lên và rồi có thể lại quay trở lại vòng đời của cha đó. Như vậy đây không chỉ là một kết thúc mở mà nó còn có ý nghĩa tô đạm bi kịch của CP và khẳng định sự quẩn quanh bế tắc của những người nông dân. Chí Phèo chết nhưng hiện tượng "Chí Phèo" thì vẫn còn => Tác phẩm gián tiếp đặt ra vấn đề làm thế nào để chấm dứt hiện tượng "Chí Phèo" - hiện tượng những người nông dân lương thiện bị đẩy vào con đường bần cùng, bế tắc, lưu manh, quỹ dữ hóa. Khái quát giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm. CỐT LÕI VẤN ĐỀ LÀ THẾ EM NHÉ!
|
|
|
|
|
|
được thưởng
|
Đăng nhập hàng ngày 11/05/2013
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Ngữ văn 11
|
|
|
|
Đúng là nên phân tích từng bài, sau đó khái quát lại. * Tràng giang: - Cổ điển + Bút pháp: Bút pháp gợi + Ngôn ngữ: Vận dụng sáng tạo những từ ngữ lấy từ thơ cổ: ví dụ “đìu hiu” lấy từ Chinh phụ ngâm, hoạc “đùn” lấy từ thơ Đỗ phủ – Mặt đất mây đùn cửa ải xa, từ “vời” lấy từ Truyện Kiều (Bốn phương mây trắng một màu/ Trông vời cố quốc biết đâu là nhà). Những từ ngữ này gợi nên phong vị cổ điển. + Hình tượng/hình ảnh: Có những hình ảnh thường sử dụng trong thơ cổ: thuyền xuôi mái, bờ xanh tiếp bãi vàng, cánh chim trong bóng chiều. + Ý thơ: Mượn, sáng tạo ý thơ của người xưa. Ví dụ như: “Sóng gợn...”phảng phất ý thơ Đỗ Phủ trong bài Đăng Cao, hai câu cuối phảng phất ý thơ Thôi Hiệu trong bài đăng cao. - Hiện đại: Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như củi một cành khô", "sâu chót vót", dấu hai chấm thần tình. Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì được. *Chiều tối:
Hồ Chí Minh là nhà Cách mạng vĩ đại của dân tộc ta, đồng thời là một
tác gia lớn. Bác để lại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, nổi bật nhất là
tập “Nhật kí trong tù”.Trong số 133 bài thơ của tập nhật kí, “Mộ” là một
bài thơ nhỏ nhắn, xinh xắn, đáng yêu. Đó là bài thơ thứ 31, được sáng
tác vào cuối thu năm 1942, trên con đường từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo, ghi
lại cảnh xóm núi lúc ngày tàn. Đằng sau đó là vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí
Minh. Bài thơ tiêu biểu cho sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại. Điều đó được thể hiện ở một số phương diện: Thi đề, thi liệu, bút pháp, ngôn ngữ, … Trước
tiên là thi đề. Nội dung trữ tình của bài thơ thuộc về một trong những
đề tài khá quen thuộc trong thơ cổ điển phương Đông đó là hoàng hôn và
nỗi niềm cô đơn. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý ở đây là ngay trong thi đề,
Bác đã đưa vào bài thơ những yếu tố hiện đại. Đó là sự chuyển dịch từ
không gian vũ trụ mang tính chất vĩnh viễn, vĩnh hằng đậm màu sắc ước lệ
ở hai câu thơ đầu sang không gian đời thường, mang tính chất sinh hoạt
vừa cụ thể vừa sống động ở hai câu sau, điều mà trong thao tác tư duy
thơ, các nhà thơ trung đại ít khi thể hiện. Chính sự phá
cách trong việc mở rộng biên độ của đề tài đã chi phối việc sử dụng thi
liệu. Đã có một sự sáng tạo mới về thi liệu mà cụ thể là việc sử dụng
hình ảnh thơ. Ngoài những hình ảnh quen thuộc: vân (cô vân), điểu (quyện
diểu), lâm (quy lâm), sơn (sơn thôn)…là những chất liệu mới: thiếu nữ,
ma bao túc (xay ngô), lô (lò than)… Điều này không chỉ cho thấy tính
hiện đại của bài thơ qua sự vận động của thi tứ mà quan trong hơn, còn
cho thấy tính hiên đại của bài thơ qua quan niệm thẫm mĩ. Đối với Hồ Chí
Minh, khung cảnh sinh hoạt sống động kia mới thực sự là nội dung chính
của bức tranh. Hãy chú ý cách tô đậm các đường nét chính và gam màu chủ
đạo của khung cảnh chiều tối nếu ta nhìn bài thơ từ góc nhìn của hội
họa. Hình ảnh thiếu nữ xay ngô và lò than rực hồng kia không ngẫu nhiên
và cũng không chỉ đóng vai trò của một thứ chất liệu thông thường. Nó
toát lên sức quyến rũ của sự sống, nét duyên dáng, trẻ trung của con
người. Đó là vẻ đẹp của cuộc sống mà tác giả Ngục trung nhất kí luôn lưu
tâm và là một thứ lửa sưởi ấm cõi lòng nhân vật trữ tình của bài thơ.
Vì lí tưởng mà Người theo đuổi, đă từng chấp nhận xa Tổ quốc, quê hương
và sẵn lòng chịu đựng vô vàn những thử thách, gian truân khác trên
chặng đường đấu tranh suốt ba mươi năm… Tiếp theo, nét
cổ điển và hiện đại của bài thơ Chiều tối cũng được thể hiện khá nổi bật
trong bút pháp.Ta có thể nhận thấy bút pháp gợi tả, chấm phá theo phong
cách vẽ tranh thủy mặc được tác giả sử dụng một cách hiệu quả. Ngay cả
trong khi sử dụng bút pháp chấm phá theo lối cổ điển, tác giả đã để dấu
ấn người nghệ sĩ hiện đại của mình qua thái độ và cảm xúc riêng (khá
trực tiếp) lên tạo vật. Tiếp cận hệ thống hình ảnh cụ thể của bài thơ,
người đọc có thể nhận ra một cách rõ ràng là tác giả không chỉ muốn dừng
lại trong hình ảnh còn chung chung của điểu (một cánh chim) mà muốn cá
biệt hóa bằng nét vẽ quyện điểu (một cánh chim mỏi mệt); cũng không muốn
đơn giản hóa trong một khái niệm là vân mà cố tình tạo thêm những điểm
nhấn cô vân mạn mạn (đám mây đơn lẻ uể oải, chậm chạp trôi)… Sự chia sẻ
về tình cảm và thái độ ngay trong khi sử dụng bút pháp cổ điển ở hai câu
đầu của bài thơ cho thấy sự hiện diện của cái “Tôi” trữ tình và là một
bằng chứng cho thấy Hồ Chí Minh thuộc kiểu mẫu nhà thơ hiện đại. Điều
này càng là một hiển nhiên khi tác giả chuyển từ bút pháp gợi tả, chấm
phá sang bút pháp miêu tả, thực tả. Cuối cùng, trong sử
dụng ngôn ngữ, màu sắc cổ điển mà hiện đại của bài thơ lại càng rõ với
sự gia tăng và ưu tiên cho động từ và ngôn ngữ thông dụng của bạch thoại
(Bạch thoại tức là ngôn ngữ nói của người Hán; ngôn ngữ viết dựa trên
ngôn ngữ nói ấy; phân biệt với văn ngôn, văn bạch thoại)
Khái quát: - Giống nhau: (đề tài, thi liệu...) - Khác nhau: ( "Chiều tối" là sáng tác của một nhà thơ cách mạng..."Tràng giang" là tâm sự của một nhà thơ mới... *
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Cả nhà ai biết ko?
|
|
|
|
Góp mấy ý kiến trò nhé! - Thế nào là văn học chân chính? Có nhiều câu trả lời khác nhau: + Đứng ở phương diện hình thức nghệ thuật: Có người cho văn học chân chính là những tác phẩm có khám phá, sáng tạo, cách tân tạo nên những hình thức nghệ thuật hoàn mĩ + Đứng ở phương diện nội dung: Có người cho rằng văn học chân chính là văn học vì con người (vị nhân sinh) + Trên thực tế nội dung nghệ thuật và hình thức nghệ thuật có mỗi quan hệ biện chứng, hữu cơ, xuyên thấm vào nhau, không thể tách biệt một cách thô giản. Nói như vậy để thấy rằng: Để đánh giá một tác phẩm văn học có phải là chân chính hay không thì cần phải căn cứ ở cả hai phương diện. Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh, phương diện nội dung có vai trò quyết định. Nội dung chân chính sẽ được biểu đạt qua một hình thức nghệ thuật chân chính. - Thế nào là văn học vì con người? + Phản ánh chân thực đời sống con người + Thể hiện sự đồng cảm, thương xót nổi đau con người + Ca ngợi vẻ đẹp con người + Thấu hiểu những kahts vọng tốt đẹp của con người... .......
|
|
|
|
giải đáp
|
phân tích tác dụng của phép điệp và đối
|
|
|
|
Đoạn 1:
“Biết bao bướm lả ong lơi, Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm. Dập dìu lá gió cành chim, Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh.”
- Phép đối: + Tiểu đối: Trong một câu: ; cuộc say...- trận cười ...; Sớm đưa...- tối tìm... + Đại đối: Đối trong cả đoạn: Hai câu trên đối với hai câu dưới Ý nghĩa: Tạo nên sự đăng đối, cân xứng cho câu thơ - Tách từ: ong bướm lả lơi => bướm lả ong lơi; cành lá gió chim => lá gió cành chim Ý nghĩa: Thể hiện sự ê chề, nhục nhã của TK Đoạn 2:Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường Mặt sao dày gió dạn sương Thân sao bướm chán ong chường bấy thân
Phép đối: + Đối câu 1 - 2; câu 3 - 4 + Đối câu 1 - 2 với câu 3-4 Phép điệp: Điệp cấu trúc: ...sao....sao
|
|
|
|
giải đáp
|
Kinh nghiệm không thể thiếu khi ôn thi
|
|
|
|
Ôn Thi Đại Học Ôn thi đại học là thời gian vất vả nhất đối với các bạn học sinh chuẩn bị "vượt vũ môn", ai cũng muốn có những kết quả tốt nhất nhưng đâu là phương pháp ôn thi đại học hiệu quả?
Phần lớn các bạn học sinh đều chịu áp lực rất lớn cho việc thi đại học với khối lượng kiến thức phải tiếp thu và nắm vững để có thể vượt qua kỳ thi đại học không hề nhỏ. Áp lực thi cử là một “vấn nạn” không chỉ học sinh mà cả các bậc phụ huynh, nhà trường cũng như toàn xã hội hết sức quan tâm, muốn đạt kết quả tốt các bạn phải khắc phục được áp lưc cũng như chuẩn bị tốt về các mặt tâm lý và thể chất.
Sau đây là các kinh nghiệm để các sỹ tử có thể chuẩn bị tốt nhất cho kỳ thi đại học sắp tới cả về mặt tâm lý, sức khỏe, kiến thức:
1. Sức khỏe:
- Ngủ ít nhất 6 tiếng 1 ngày:
Thông thường, chúng ta hay học tập, làm việc một cách tùy nghi và ít khi có kế hoạch quản lý thời gian. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu và thực tế cho thấy không có thời gian biểu hợp lý dễ dẫn đến tình trạng căng thẳng (stress), mất cân bằng trong cuộc sống và luôn có cảm giác không đủ thời gian. Vì vậy, càng đến gần ngày thi, các bạn học sinh phải đưa ra thời gian biểu rõ ràng, sắp xếp lịch học bài, nghỉ ngơi và giải trí phù hợp. Việc cho rằng cả ngày học bài sẽ ôn tập được nhiều kiến thức là sai lầm, vì não bộ của chúng ta cần có thời gian nghỉ ngơi.
-Thực phẩm là người bạn đồng hành tuyệt vời của các “cú đêm”. Hãy nhờ mẹ để trong tủ lạnh thật nhiều trái cây, rau xanh và cá. Bánh mì hay sô-cô-la cũng là những đồ ăn vặt giàu năng lượng để các bạn có sức “cày khuya”.
Thực phẩm
-Chế độ dinh dưỡng hợp lý: Dân gian có câu “có thực mới vực được đạo” và điều này càng đúng hơn với những thí sinh chuẩn bị thi đại học. Để có sức khỏe tốt, thí sinh cần đảm bảo ăn đúng giờ, đủ bữa và đầy đủ dưỡng chất. Những dưỡng chất cần chú ý trong mùa thi là: nhóm Gluco có nhiều trong cơm, bánh mì, bún, gạo, khoai…; nhóm chất béo thiết yếu có trong cá basa, cá thu, cá trích và các loại quả hạt như bí đỏ, hướng dương; nhóm đạm có nhiều trong thịt, cá, trứng,..; nhóm vitamin và khoáng chất có nhiều trong rau xanh, hoa củ quả và nhóm sắt.
-Không bao giờ dùng đến loại thuốc lá, các thuốc kích thích để làm tỉnh táo, nhưng có thể sử dụng cafe hoặc nước trà. Tuy nhiên, bạn cũng không nên lạm dụng chúng thái quá, nhất là không nên thường xuyên sử dụng.
Khong hut thuoc khi on thi dai hoc
- Nên vận động
Vận động không có nghĩa là bạn phải dành 1 tiếng hoặc 45 phút để ra sân vận động hoặc tập thể dục. Bất cứ động tác nào khiến tay chân bạn phải vận động đều có lợi cho sức khoẻ của bạn, thậm chí còn giúp bạn giảm stress để ôn thị đại học hiệu quả.
-Tránh ô nhiễm
Tránh xa những căn phòng có khói thuốc, những khu vực giao thông đông đúc. Tránh tập thể dục gần những khu vực giao thông đông đúc. Bạn có thể tập thể dục trong nhà nếu chất lượng không khí tốt.
2. Tâm lý:
Các bạn phải chuẩn bị tâm lý thoải mái, tự tin cho mình trước kỳ thi đại học. Với những bạn thí sinh lần đầu bước vào kỳ thi quan trọng như đại học thường cảm thấy áp lực, không tự tin khi nghĩ đến tương lai phụ thuộc vào 03 giờ làm bài. Rất nhiều bạn rơi vào tình trạng lo lắng, run rẩy.
Để tránh tình trạng cơ thể rơi vào trạng thái mỏi mệt hoặc căng thẳng quá mức, thí sinh phải có kế hoạch nghỉ ngơi, giải trí hợp lý. Đôi khi cũng cần phá lệ, hội họp bạn bè hay đi chơi cùng gia đình sẽ giúp bạn giải phóng bộ não khỏi sự tù túng. Trong quá trình học, các bài tập thể dục tại chỗ nhẹ nhàng cũng giảm bớt sức ép thi cử đối với tâm lý của bạn. Đại học — bước ngoặt của cuộc đời. Điều đó thật quan trọng nhưng nó cũng chỉ là một kỳ thi, nếu chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng, cố gắng hết mức thì hãy tự tin vào chính mình
3. Kiến thức:
-Chú ý đến những kiến thức cơ bản nhất: Các bạn khi ôn thi đại học không nên chỉ vùi đầu vào các kiến thức cao siêu khi mà kiến thức cơ bản mình chưa thực sự nắm chắc, hãy chú đến quyển sách giáo khoa ngay bên cạnh bạn.
-Chọn ra phương pháp học khiến bạn phát huy tối đa năng lực của mình. Đừng cố tự học nếu bạn vốn lười nhác, thụ động. Trong trường hợp này, lò luyện và các nhóm ôn thi là một lựa chọn thông minh để bạn có động lực tích kiến thức. Ngược lại, nếu sở hữu khả năng tập trung và tự học tuyệt vời thì bạn đừng đua theo phong trào, phung phí thời gian và tiền bạc vào những lớp học thêm chật chội.
-Ôn thi đến đâu chắc đến đó: Phần nào, bài tập nào sức mình làm được thì ôn thật kĩ, để khi đi thi chắc chắn sẽ có điểm. Có ôn như vậy, khi đi thi sẽ giúp “sỹ tử” cảm thấy tự tin và khi thi xong cũng không lo lắng sai phần này hoặc phần kia.
- Học cách tập trung: Gạt bỏ những suy nghĩ lung tung đi bằng cách chỉ nghĩ đến bài cần học và phải ý thức được tầm quan trọng của bài học. Khi bạn biết lo lắng cho bài vở, cho trình độ học của mình, bạn ắt sẽ tập trung học được.
Tìm một chỗ tuyệt đối yên tĩnh. Tránh xa cái ĐTDĐ và cả điện thoại bàn ra. Treo một cái bảng gì đó tựa như “Không làm phiền” hay đại loại như thế. Nếu bạn muốn nghe nhạc, OK thôi, nhưng đừng nghe nếu như nó sẽ làm bạn xao lãng việc học
-Duy trì việc học vào mỗi buổi sáng, chiều và tối đừng quá dày đặc và không nên cắt ngang buổi học đó. Ví dụ buổi sáng học 2 tiếng, buổi chiều học 2 tiếng, buổi tối học 2 tiếng, trong khi học nên tập trung, tất nhiên nên có thời gian nghỉ ngơi giữa buổi học từ 5 - 10 phút.
-Nên chọn và phân bổ thời gian ôn thi hợp lý nhằm giúp quá trình tự ôn thi đạt hiệu quả cao và làm cho trí óc bớt căng thẳng. Nếu bạn thi khối A hãy phân bố thời gian ôn thi cho cả 3 môn toán, lý, hóa cho hợp lý, vì đạt điểm khá 3 môn không khó bằng việc 1 môn đạt điểm giỏi trong khi 2 môn kia lại đạt điểm trung bình.
-Ghi những kiến thức mà bạn hay nhầm lẫn vào 1 mảnh giấy, bỏ vào 1 hộp. Nhớ là tổng hợp hết tất cả các môn học nhé. Mỗi lần đi qua lấy 1 tờ rồi mở ra xem và trả lời. Như vậy sẽ giúp bạn nhớ đều và có thể trả lời khi bất ngờ đối diện với kiến thức.
-Không cần thiết phải học nhóm: Khi học nhóm bạn có thể dễ dàng phát hiện ra một số điều mà bạn đã nhầm lẫn từ lâu. Khi thảo luận sẽ làm người ta nhớ lâu nhưng học nhóm cũng có thể dẫn tới tình trang không tập trung, bạn nên nhìn nhận đánh giá để sao cho có hiệu quả nhất.
-Luyện thi với các cấu trúc dạng để năm trước để biết khả năng của mình đến đâu. Ngoài ra mình cũng ủng hộ các bạn việc thi thử tại các trung tâm uy tín.
-Học những môn khó vào giờ mà bạn thấy mình minh mẫn nhất, và ngược lại. Đa số học sinh đều học những môn khó vào buổi tối, khi họ mệt mỏi sau một ngày dài, và thế là họ càng khó tập trung học hơn. Hãy đi ngược lại thói quen đó.
4. Kinh nghiệm thi trắc nghiệm:
-Khi nhận phiếu trả lời trắc nghiệm phải khai báo đầy đủ thông tin trên phiếu trả lời trắc nghiệm. Để khai báo đầy đủ, bên cạnh sự hướng dẫn của cán bộ coi thi, học sinh phải đọc kỹ từng mục (cụ thể 10 mục), mục nào cần ghi bằng bút mực, mục nào ghi bằng bút chì.
thi trac nghiem
-Làm các câu lí thuyết trước rồi mới làm các câu bài tập, câu dễ làm trước, câu khó làm sau (nhớ coi chừng bỏ sót). Một bài thi trắc nghiệm tuyển sinh ĐH, CĐ có 70 - 100 câu. Thời gian làm bài là 90 phút. Như vậy, thí sinh có khoảng chưa đầy một phút để trả lời một câu hỏi.
-Sắp hết giờ, mà bài vẫn chưa xong, để có cơ hội giành điểm cao nhất, nhất thiết học sinh phải tô các phương án trả lời theo phương châm: Thà tô nhầm còn hơn bỏ sót. Không nên để trống một câu nào.
-Nên mua các loại bút chì đen mềm từ 2B đến 6B ( nhớ gọt sẵn vài cây để dự trữ) để làm bài thi. Không nên gọt đầu bút chì quá nhọn, mà nên dẹt, phẳng để nhanh chóng tô đen các ô trả lời. Ngoài 10 mục cần ghi trên phiếu bằng bút mực và tô các câu trả lời bằng bút chì, bài thi phải viết rõ ràng, tuyệt đối không viết gì thêm hoặc để lại dấu hiệu riêng trên phiếu trả lời trắc nghiệm. Bài thi có dấu riêng sẽ bị phạm vi và không được chấm điểm.
|
|
|
|
giải đáp
|
Ngữ Văn 10
|
|
|
|
Em cứ phân tích theo trật tự tuyến tính, bám vào cốt truyện. - Lúc đầu trao duyên cho Thúy Vân tâm trạng Kiều tuy có đau khổ nhưng nàng đã kìm nén lại để nhờ em nhận lời trao duyên của mình. Kiều vẫn giữ được sự tỉnh tao để thưa, gửi, nhờ cậy em. - Để trao duyên cho em Kiều phải giải bày về hoàn cảnh riêng, lúc đó tâm trạng đau khổ, nuối tiếc bắt đầu bộc lộ. - Đến lúc trao kỉ vật thì tâm trạng đầy mâu thuẫn, giằng xé. Lúc quyết định từ bỏ tình yêu cũng là lúc thấy nhớ, thấy yêu, thấy đau khổ, nuối tiếc nhất. - Sau khi trao duyên xong, Kiều rời vào trạng thái đau đớn, tuyệt vọng, sống mà như đã chết. LOGIC CƠ BẢN CỦA TÂM TRẠNG KIỀU LÀ VẬY. Em dẫn dắt vấn đề và chọn lọc từ ngữ, hình ảnh để phân tích nhé!
|
|
|
|
sửa đổi
|
ĐỀ THI THỬ (Số 01)
|
|
|
|
ĐỀ THI THỬ (Số 01) Câu 1 (2 điểm): Nêu những nét chính về quan điểm sáng tác và phong cách nghệ thuật của tác giả Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.Câu 2 (3 điểm): Anh/chị hãy viết bài văn ngắn (khoảng 600 chữ), bày tỏ suy nghĩ về ý kiến sau: “Phê phán thái độ thờ ơ ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi l ũng vị tha, t ỡnh đoàn kết”.Câu 3 (5 điểm): Cảm nhận của anh/chị về sự tương đồng và nét độc đáo riêng của hình tượng sông Đà và sông Hương trong hai tác phẩm : “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân) và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” (Hoàng Phủ Ngọc Tường).
ĐỀ THI THỬ (Số 01) Câu 1 (2 điểm): Nêu những nét chính về quan điểm sáng tác và phong cách nghệ thuật của tác giả Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.Câu 2 (3 điểm): Anh/chị hãy viết bài văn ngắn (khoảng 600 chữ), bày tỏ suy nghĩ về ý kiến sau: “Phê phán thái độ thờ ơ ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi l òng vị tha, t ình đoàn kết”.Câu 3 (5 điểm): Cảm nhận của anh/chị về sự tương đồng và nét độc đáo riêng của hình tượng sông Đà và sông Hương trong hai tác phẩm : “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân) và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” (Hoàng Phủ Ngọc Tường).
|
|