|
|
giải đáp
|
Giá trị văn học
|
|
|
|
Giá trị giải trí là thứ yếu. Riêng giá trị nhân thức và giá trị thẩm mĩ thì hiện nay chưa có ý kiến thống nhất xem đâu là giá trị cơ bản. Tuy nhiên cũng cần nhận thấy giá trị thẩm mĩ là điểm đặc trưng của văn học khiến nó khác với các lĩnh vực khác như triết học, đạo đức...Giá trị nhận thức của văn học rất lớn nhưng triết học, đạo đức cũng làm được việc đó..(suy nghĩ thêm các bạn nhé)
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
Giá trị văn học
|
|
|
|
Giá trị nhận thức - giá trị giải trí - giá trị thẩm mĩ...cái nào quan trọng hơn?
|
|
|
|
giải đáp
|
các bạn cùng làm nhé!
|
|
|
|
- Bố mẹ tài giỏi nhưng chưa chắc đã dạy giỗ được con cái. - Người thông minh tài giỏi nhưng không làm hết được mọi việc, đôi khi cũng phải nhờ đến người khác. => Nói lên một quy luật trái khoáy của cuộc sống nhưng đồng thời cũng là quy luật có tính tất yếu. Có thể liên hệ dẫn giải với câu: "Bụt chùa nhà không thiêng"
|
|
|
|
giải đáp
|
phân tích bài chí khí anh hùng
|
|
|
|
Mấy ý cơ bản em nhé - Trước hết em phân tích những từ ngữ mà tác giả dùng chỉ Từ Hải + "lòng bốn phương" : chí lập công danh, sự nghiệp của bậc nam nhi.. + "mặt phi thường" : là gương mặt của người xuất chúng, hơn người + "Trượng phu": sắc thái tôn xưng => thể hiện thái độ, trân trọng của tác giả, đồng thời thể hiện tầm vóc, khí phách của TH - Phân tích lời nói của TH với TK + Lời trách"sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình": khẩu khí của người anh hùng, không vì quyến luyến ái ân mà quên sự nghiệp, lí tưởng + Lời hứa: 'bao giờ mười vạn...": tự tin vào tài năng, bản lĩnh của mình - Nhận xét chung về cách miêu tả của Nguyễn Du + Bút pháp ước lệ: "lòng bốn phương", "mặt phi thường"... + Hình tượng con người vũ trụ: "trong vời trời bể mênh mang"... => Bút pháp lí tưởng hóa.
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Văn 11, Cần gấp
|
|
|
|
Lời giải này có yêu cầu trả vỏ sò để xem. Bạn hãy link trên để vào xem chi tiết
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
Chữ người tử tù?
|
|
|
|
Anh/ chị có suy nghĩ gì về hành động quỳ lạy của quản ngục trước Huấn Cao trong tác phẩm?
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
Hàn Mặc Tử - Đây thôn Vĩ Dạ
|
|
|
|
Nêu những ý chính chứng minh "Đây thôn Vĩ Dạ" có sự hòa trộn giữa bút pháp hiện thực và huyền ảo?
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
Tràng giang - Huy Cân
|
|
|
|
Tại sao lại nói Huy Cận là nhà thơ của "cảm thức về không gian"?. Chứng minh nhận định đó qua bài "Tràng giang"
|
|
|
|
giải đáp
|
Giới hạn chương trình ôn thi Tốt nghiệp 12
|
|
|
|
NỘI DUNG ÔN THI TỐT NGHIỆP VĂN (Trọng tâm chương trính Văn 12) 1. Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX 2. Nghị luận về một tư tưởng đạo lí 3. Nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội 4. Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ 5. Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi 6. Nghị luận một ý kiến bàn về văn học 7. Tác giả Hồ Chí Minh 8. Tuyên ngôn Độc lập 9. Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng của nền văn nghệ dân tộc 10. Thông điệp nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003 11. Tây Tiến 12. Việt Bắc 13. Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm) 14. Sóng 15. Đàn ghi ta của Lor – ca 16. Người lái đò sông Đà 17. Quá trình văn học và phong cách văn học 18. Ai đã đặt tên cho dòng sông 19. Ôn tập văn học 20. Vợ chồng A Phủ 21. Vợ nhặt 22. Rừng Xà Nu 23. Những đứa con trong gia đình 24. Chiếc thuyền ngoài xa 25. Thuốc 26. Số phận con người 27. Ông già và biển cả 28. Hồn Trương Ba, da hàng thịt 29. Nhìn về vốn văn hóa dân tộc 30. Giá trị văn học và tiếp nhận văn học 31. Ôn tập văn học
|
|
|
|
giải đáp
|
Kinh nghiệm ôn thi môn tiếng Anh
|
|
|
|
Thí sinh cần loại trừ nhanh chóng hai chọn lựa sai và thông thường còn lại một chọn lựa đúng và một chọn lựa gần đúng, cẩn thận để rút ra đáp án từ hai chọn lựa này.
Với phần ngữ âm, để có đáp án đúng và nhanh, thí sinh không nên đọc thầm mà nên phát âm từ được yêu cầu với mức độ khẽ đủ để tai nhận được trọng âm của từ đặt ở âm tiết nào hay để phân biệt giữa các nguyên âm hay phụ âm với nhau.
Phần từ vựng và cấu trúc câu của đề thi ĐH, CĐ đều là những phần thí sinh đã được luyện tập nhiều ở bậc THPT nên cần làm ở tốc độ dưới một phút một câu để dành thời gian dư cho phần đọc hiểu.
Với loại bài đọc hiểu (reading comprehension), trước hết thí sinh nên đọc nhanh cả bài văn, kể cả đọc lướt qua các câu hỏi phía dưới để nắm ý chính của bài văn và những vấn đề liên quan được hỏi.
Sau đó, thí sinh đọc chậm hơn, dựa vào từ và cấu trúc trong câu để đoán ý nghĩa của từ khó, gạch chân các chi tiết cần lưu ý (các con số biểu thị thời gian, số lượng...) để có quyết định chọn câu trả lời đúng nhất.
Để trả lời loại câu hỏi tìm ý chính của đoạn văn, thông thường thí sinh hãy đọc kỹ câu đầu tiên và câu cuối cùng của đoạn văn.
|
|
|
|
giải đáp
|
Kinh nghiệm làm bài thi môn Địa lý đạt điểm cao
|
|
|
|
Thường thí sinh rất "ngán ngẩm" khi phải ôn thi các môn khối C bởi là môn học thuộc, dài, khó nhớ. Nhằm giúp các em nắm vững kiến thức khi ôn tập để làm bài thi đạt điểm cao, xin đưa ra một số kinh nghiệm dạy và học của một số giáo viên.
Thầy giáo Phạm Văn Chiến, giáo viên Trường THPT năng khiếu tỉnh Thái Nguyên, có nhiều học sinh (HS) đoạt giải quốc gia chia sẻ: Thí sinh thi tốt nghiệp THPT hay thi đại học môn Địa lý muốn làm bài thi trúng, đúng, đạt điểm cao cần phải đọc kỹ đề, lập dàn ý đề cương. Làm bài thi đến đâu điền đề cương chi tiết vào đến đó để tránh bỏ quên và phải làm theo dàn ý thầy giáo, cô giáo đã dạy ở trên lớp. Câu hỏi hỏi gì thì trả lời cái đó, tránh dài dòng, trả lời thừa.
Một lỗi mà thí sinh rất hay mắc phải trong bài thi đó là câu hỏi hỏi cả phần thuận lợi và khó khăn thì thí sinh làm sơ sài phần thuận lợi, quá chú trọng làm phần khó khăn bởi các em dễ làm, dễ liên hệ. Chính vì thế, muốn có điểm cao, các em làm phần thuận lợi mới là chủ yếu, cần nói nhiều, phân tích kỹ. Còn phần khó khăn có nói thì nói ít, không nói nhiều mà cần nói đủ ý.
Thầy giáo Bùi Tiến Sĩ, Trung tâm giáo dục thường xuyên Điện Biên, với 15 năm giảng dạy, đã có HS đạt điểm 9 môn Địa lý tốt nghiệp THPT: Bài thi bao gồm phần lý thuyết và kỹ năng. Vì vậy, với phần lý thuyết thí sinh cần phân bổ thời gian làm bài hợp lý, nên vạch ra sơ lược đề cương các ý chính, nêu được ý lớn trước rồi mới đến ý nhỏ, đi từ khái quát đến chi tiết, cụ thể. Bài làm cần viết rõ ràng, mạch lạc, có thể gạch đầu dòng các ý chi tiết hoặc phân ra các mục nhỏ. Về câu hỏi lý thuyết, nếu là dạng lý giải, thí sinh cần biết vận dụng lý thuyết để lý giải, đặc biệt chú ý tới mối liên hệ nhân quả. Nếu là dạng so sánh, thí sinh cần phân tích sự giống và khác nhau giữa hai hay nhiều hiện tượng địa lý. Nếu là dạng phân tích, chứng minh phải có số liệu thống kê tiêu biểu để làm bài theo yêu cầu. Dạng bài trình bày thí sinh cần tái hiện những kiến thức đã có rồi sắp xếp chúng theo trình tự nhất định, phù hợp với đề thi.
Về phần kỹ năng thông thường gồm hai phần bảng số liệu và vẽ biểu đồ. Việc xử lý số liệu thí sinh cần nắm vững một số công thức tính, có liên hệ bài học để hiểu rõ hơn số liệu và tính toán xử lý theo yêu cầu đề như: Mật độ dân số, bình quân diện tích, sản lượng, năng suất, tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên, cơ học, v.v. Khi phân tích bảng số liệu thống kê thí sinh không được bỏ sót số liệu, cần tìm mối liên hệ giữa chúng. Phân tích số liệu có tầm khái quát cao đến số liệu thành phần, tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình, chú ý những số liệu mang tính đột biến (tăng hoặc giảm). Phần dân số nên tìm thời gian dân số tăng gấp đôi, mối quan hệ giữa số liệu hàng dọc, hàng ngang, giải thích nguyên nhân các diễn biến hoặc mối quan hệ.
Phần vẽ biểu đồ sẽ bao gồm các dạng sau: Biểu đồ tròn: Thường được dùng để thể hiện cơ cấu thành phần của một tổng thể. Vẽ biểu đồ tròn khi bảng số liệu tỷ lệ % cộng lại bằng 100%; bảng số liệu là số tuyệt đối nhưng trong câu hỏi có một trong các chữ: tỷ lệ, tỷ trọng, cơ cấu, kết cấu (phải xử lý bảng số liệu sang số liệu tương đối). Lưu ý: vẽ từ hai vòng tròn trở đi, bán kính các vòng tròn lớn nhỏ khác nhau khi tổng số lớn nhỏ khác nhau; các số liệu thể hiện cơ cấu kinh tế, dân số. Vẽ biểu đồ cột: Đối với biểu đồ hình cột, có thể được sử dụng để biểu hiện động thái phát triển, so sánh tương quan về độ lớn giữa các đại lượng hoặc thể hiện cơ cấu thành phần của một tổng thể. Thường vẽ biểu đồ cột khi số liệu là số tuyệt đối; số liệu tỷ lệ % cộng lại không bằng 100%; số liệu tỷ lệ % cộng lại bằng 100% nhưng đề yêu cầu vẽ biểu đồ cột. Các kiểu biểu đồ cột gồm cột đơn, cột ghép, cột chồng, cột 100%, cột yếu tố này nằm trong yếu tố kia. Lưu ý bề ngang các cột phải bằng nhau. Vẽ đồ thị (đường biểu diễn): Thường được sử dụng để thể hiện tiến trình, động thái phát triển của một đối tượng qua thời gian. Lưu ý: Trục tung thể hiện độ lớn của đại lượng, trục hoành thể hiện thời gian; chia các khoảng cách thời gian đúng tỷ lệ; nếu biểu đồ có nhiều đường biểu diễn, cần chọn tỷ lệ hợp lý để các đường biểu diễn không trùng nhau hoặc sát nhau quá; mỗi đường biểu diễn được thể hiện bằng một ký hiệu riêng, cần giải thích các ký hiệu trên biểu đồ. Vẽ biểu đồ kết hợp: Thường gồm biểu đồ cột kết hợp với đồ thị. Vẽ biểu đồ miền: Được dùng để thể hiện động thái phát triển và cơ cấu của đối tượng. Lưu ý phần này đối với thí sinh là nếu đề thi cho số liệu tuyệt đối thì phải xử lý sang tỷ lệ tương đối.
|
|
|
|
giải đáp
|
Kinh nghiệm ôn thi đại học môn Sử
|
|
|
|
Toàn bộ kiến thức ra thi Sử đều nằm hoàn toàn trong SGK, điều đó không có nghĩa là môn sử dễ dàng. Bởi vì học sử không đơn giản là học thuộc mà phải học hiểu, hiểu chưa đủ mà còn phải biết vận dụng vào các lý luận. Tất nhiên đề thi vận dụng lý luận thường chỉ xuất hiện trong kỳ thi HSG, đề thi ĐH chỉ đòi hỏi thí sinh hiểu và trình bày đầy đủ vấn đề là đạt điểm cao.
kinh-nghiep-thi-mon-lich-su-cua-thu-khoa-khoi-c
Khi học bài: Sử gắn liền với các thời kì và giai đoạn lịch sử nên người học cần tập ghi nhớ theo trục thời gian. Nên chia nhỏ giai đoạn để học dần. Mỗi giai đoạn chia ra thành các đề mục, mỗi đề mục sẽ gồm các bài, mỗi bài có các vấn đề, mỗi vấn đề lại gồm các ý chính, phụ…
Ví dụ với phần lịch sử Việt Nam thì cần chia làm 5 giai đoạn chính: 1919-1930, 1930-1945, 1945-1954, 1954-1975, 1975 đến nay.
Đặc biệt các con số ngày tháng năm rất khó nhớ chính xác nên người học cần linh động sử dụng các mẹo ghi nhớ để nắm lòng các thời điểm, giai đoạn lịch sử.
Khi học cần viết bài ra nháp, vừa học vừa ghi chép những ý chính. Làm như thế sẽ giúp kiến thức bài học được khái quát hoa trong đầu. sau đó tập khả năng tổng hơp các phân, mục bài, bài có liên quan với nhau.
Khi làm bài: Sau khi nhận đề thi không nên vội vã làm bài ngay , thí sinh cần đọc kỹ và hiểu rõ các câu hỏi trong đề. Khi phân tích câu hỏi cần phải xem giới hạn thời gian, nội dung câu hỏi đề cập để tránh tình trạng trả lời thừa hay thiếu.
Đề thi tuyển sinh ĐH môn Sử thường có khoảng 4 câu hỏi. Câu nào có số điểm cao thì có độ khó và độ dài lớn hơn các câu khác, cần dành nhiều thời gian hơn cho dạng câu hỏi này. Ngược lại các câu ít điểm nên dùng ít thời gian để làm hơn. Tránh tình trạng câu thừa ý câu, câu lại thiếu ý. Khi đặt bút làm bài phải theo nguyên tắc: Câu nào thuộc nhất làm trước, sau đó mới làm các câu còn lại.
Biểu điểm của môn Sử chấm điểm theo ý (luận điểm, luận cứ). Hoàn thành tốt 1 câu hỏi là khi bài làm có đầy đủ các ý kết hợp cách hành văn lưu loát. Để tránh thiếu luận điểm, bỏ sót luận cứ các bạn nên viết nháp các luận điểm, trong luận điểm có bao nhiêu luận cứ. Nếu được nên viết theo thứ tự các ý. (thứ tự mốc thời gian, sự kiện có trước viết trước).
|
|
|
|
giải đáp
|
Kinh nghiệm thi Sinh học
|
|
|
|
Với môn Sinh học nên học theo phương pháp "tái hiện kiến thức", phương pháp học này gồm 3 bước:
Bước 1: Trên lớp nghe thầy giáo giảng bài, ghi chép đầy đủ.
Bước 2: Tái hiện lại kiến thức trong thời gian ôn luyện ở nhà (nghe giảng buổi sáng - tái hiện buổi chiều, nghe giảng buổi chiều - tái hiện ngay buổi tối). Với bài tập, che bài giải của thầy cô, đọc đề để giải lại. Với kiến thức giáo khoa, lập dàn ý chi tiết để dễ học.
Bước 3: Một tuần sau, đúng giờ học bộ môn Sinh, lấy bài cũ đọc lại một lần. Luyện tập làm bài môn sinh
1. Với phần lý thuyết môn Sinh, nhìn chung những đề thi các năm gần đây cho rất sát chương trình, không đánh đố. Nhưng điều đó không có nghĩa là học thuộc lòng thì sẽ làm được.
Để làm được buộc các bạn phải hiểu, nhớ. Ví dụ: Câu thuộc lòng trong SGK là: tính bổ sung của ADN (gen). Nhưng đề thi lại cho câu hỏi là: gen có tỉ lệ A+T / G+X = 1, 5 và có 3.109 cặp Nucleotid. Hỏi số Nu từng loại. Vì thế phải hiểu được lý thuyết thì mới làm được câu này.
Để hiểu và nhớ giáo khoa, các bạn phải khái quát - tổng kết về chương trình học của mình, nắm vững các ý chính của từng bài. Điều này sẽ giúp hệ thống hóa được các kiến thức của mình và không thấy mông lung, rối lên vì nhiều kiến thức.
Để hệ thống hóa kiến thức, các bạn có thể làm các bước sau:
+ Nắm vững 14 chương của chương trình giáo khoa lớp 12.
+ Nắm vững số bài trong 1 chương
+ Nắm vững số ý chính trong 1 bài
+ Nắm vững số ý phụ trong mỗi ý chính.
+ Nắm vững những ví dụ chứng minh trong sách giáo khoa.
2. Với phần bài tập
Bài tập cơ sở vật chất di truyền và biến dị: những bài tập này thuộc khoa học chính xác như toán, hóa, lý. Do đó, thí sinh phải nắm được công thức mới giải được. Ví dụ: số Nu môi trường cần cung cấp cho 1 gen có 3000 Nu nhân đôi 3 lần = (23 - 1). 3000
Bài tập qui luật di truyền (bài tập lai) thuộc khoa học thực nghiệm. Các bạn sử dụng lí thuyết đã học để giải thích kết quả một thí nghiệm theo đề bài (biện luận và viết sơ đồ lai). Để biện luận 1 bài tập lai ta tiến hành theo 5 bước:
+ Xác định tính trội, tính lặn
+ Quy ước gen
+ Xác định quy luật di truyền
+ Xác định kiểu gen bố mẹ
+ Viết sơ đồ lai (nếu có hoán vị gen ta tính tần số hoán vị trước khi viết sơ đồ lai).
Sau khi làm xong kiểm tra kiểu hình qua sơ đồ lai đúng với đề bài tập thì ta đã biện luận chính xác. 3. Nội dung chương trình sinh học cần ôn tập:
Gồm 3 phần :
a. Di truyền và biến dị
- Cơ sở vật chất di truyền và biến dị
- Hiện tượng di truyền và biến dị
- Quy luật di truyền và biến dị
- Ứng dụng di truyền và biến dị vào đời sống, sản xuất.
b. Nguồn gốc sự sống và các thuyết tiến hóa.
c. Sinh thái học.
|
|
|
|
giải đáp
|
Kinh nghiệm thi Hóa
|
|
|
|
Hóa học ở chương trình THPT có hai phần chính: Hóa vô cơ và Hóa hữu cơ. Cái khó khi học môn Hóa nằm ở chỗ lớp 11 học một nửa hữu cơ, một nửa vô cơ và lớp 12 học phần còn lại. Do đó khi thầy cô dạy các em chương trình Hóa lớp 12, các em phải xem lại phần liên quan ở lớp 11.
Ví dụ, bài Este ở lớp 12 liên quan đến bài Ancol và bài Axit cacboxylic ở lớp 11; bài Cacbohidrat ở lớp 12 liên quan đến bài Ancol, Andehit ở lớp 11; bài hợp chất chứa Natri (NaOH, Na2CO3...) ở lớp 12 liên quan đến bài phản ứng trao đổi Ion ở lớp 11...
Dù hóa vô cơ hay hữu cơ, phần cốt lõi của môn Hóa học nằm trong hóa tính và điều chế các chất. Sau khi nắm vững các phần này, việc kế tiếp là các em phải hệ thống lại các bài học thì mới có thể vận dụng chúng dễ dàng (giai đoạn này nếu các em không làm được thì yêu cầu sự giúp đỡ của thầy cô).
Đối với phần Hóa học hữu cơ, để dễ nhớ tính chất của các chất, các em phải đi từ cấu tạo của hợp chất hữu cơ đó. Ví dụ, Phenol trong công thức hóa học của nó vừa có vòng benzen, vừa có nhóm OH nên nó sẽ vừa có tính chất giống benzen, vừa có tính chất giống ancol. Và đương nhiên nó có các tính chất đặc trưng vì có ảnh hưởng qua lại của hai nhóm này.
Khi học xong các chất ancol, andehit, axit cacboxylic, este, amin, amino axit, gluxit... các em đặt lại vấn đề như sau: các tác nhân như Na, NaOH, H2, H2O, Br2... có thể tác dụng với những chất hữu cơ nào trong các chất trên. Tìm xem các điểm giống nhau và khác nhau giữa các chất. Khi đã hệ thống được các kiến thức, các em mới bắt đầu làm các bài tập lý thuyết như: viết công thức đồng phân, sơ đồ biến hóa, nhận biết hóa chất và tinh chế hóa chất...
Các em nên làm bài tập theo từng vấn đề để rút kinh nghiệm. Nên nhớ, tuy hiện nay, các em thi đề trắc nghiệm nhưng khởi đầu để ôn tập phải biết cách lập luận của đề tự luận, nếu không các em sẽ không biết bắt đầu từ chỗ nào để đến kết quả.
Ví dụ: "Cho từ từ dung dịch NH3 đến dư vào dung dịch CuCl2 khuấy đều đến khi có dư, ta thấy hiện tượng như sau: a/ Ban đầu thấy xuất hiện kết tủa, dung dịch mất mầu xanh, sau một thời gian kết tủa tan dần tạo dung dịch xanh thẫm; b/ Thấy xuất hiện kết tủa, dung dịch mất mầu xanh; c/ Dung dịch từ từ mất mầu xanh. d/ Dung dịch trong suốt.
Phân tích câu hỏi trên ta thấy kiến thức chuẩn ở phản ứng: 2NH3 + CuCl2 + H2O --> 2NH4Cl + Cu(OH)2. Dung dịch CuCl2 có mầu xanh, Cu(OH)2 là chất rắn mầu xanh. Nên sau phản ứng trên thì dung dịch mất mầu và xuất hiện kết tủa xanh. Cu(OH)2 có khả năng tan trong NH3 nên tác dụng với NH3 theo phản ứng: Cu(OH)2 + 4NH3 --> Cu(NH3)4 (OH)2
Xét đến thí nghiệm đề bài cho: ban đầu CuCl2 dư có Cu(OH)2 không tan trong nước, xuất hiện kết tủa xanh. Sau một thời gian có NH3 dư Cu(NH3)4 (OH)2 tan trong nước: dung dịch mầu xanh thẫm. Do đó đáp án đúng là câu A.
Khi làm bài thi các em thường mắc phải những lỗi sau:
1/ Không thuộc tên gọi các chất hóa học: ví dụ nhầm lẫn giữa “etyl clorua” với “etylen clorua”…
2/ Không nắm vững các khái niệm căn bản: ví dụ nhầm lẫn giữa “mạch hở” và “mạch thẳng”…
3/ Chủ quan khi viết các phương trình phản ứng nhưng lại quên cân bằng phương trình.
4/ Sử dụng máy tính không phải của mình khi tính toán trong các bài toán…
CLB Gia sư thủ khoa chia sẻ với cho các em khi làm bài trắc nghiệm nên làm lần lượt từ trên xuống dưới, câu nào chưa làm được ngay thì đánh dấu lại và chuyển qua câu khác. Sau khi làm đọc đến hết đề sẽ làm lại các câu mình chưa làm được.
Trong quá trình làm nên bấm giờ, nếu gần hết thời gian vẫn còn các câu trống thì hãy dùng phương pháp xác suất để chọn câu trả lời. Chú ý, khi chọn là xác suất các câu đúng ngang nhau, ví dụ như một đề có 50 câu thì xác suất có khoảng 13 câu đáp án A đúng, 13 câu đáp án B đúng, 13 câu đáp án C đúng, 13 câu có đáp án D đúng. Do đó các em cứ làm hết sức có thể, đến khi còn khoảng 5 phút cuối cùng thì dừng lại để thống kê số lượng đáp án đã tích. Chẳng hạn nếu số đáp án D các em chọn quá ít thì những câu còn lại các em cứ tích D, như thế sẽ tối ưu hóa được số điểm đạt được.
|
|