|
|
giải đáp
|
Lớp 6
|
|
|
|
Những câu thơ kết thúc bài “Tre Việt Nam” của nhà thơ Nguyễn Duy nhằm khẳng định một màu xanh vĩnh cửu của tre Việt Nam, sức sống bất diệt của con người Việt Nam, truyền thống cao đẹp của con người Việt Nam. Nhà thơ đã khéo léo thay đổi cách ngắt nhịp, ngắt dòng và điệp ngữ ‘’ mai sau” góp phần gợi cảm xúc về thời gian và không gian như mở ra vô tận tạo bao ý thơ âm vang, bay bổng và đem đến cho người đọc những liên tưởng thật phong phú. Từ “xanh” được nhắc lại 3 lần trong dòng thơ với sự kết hợp khác nhau ( xanh tre/ xanh màu / tre xanh) tạo những nét nghĩa đa dạng, phong phú và khẳng định sự trường tồn của màu sắc, của sức sống dân tộc.
|
|
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
NLXH: Lòng ham muốn?
|
|
|
|
Nhà phật đã dạy: "Càng ham muốn, con người càng phải chịu nhiều nỗi
khổ". Nhưng trên thực tế, có biết bao nhiêu người ham muốn và hầu như ai
ai cũng có lòng ham muốn. Phải chăng con người ta ưa nỗi khổ, thích
khổ? Không. Đúng là con người ta sống trên và trong nỗi khổ mới sinh ra
lòng ham muốn vậy. Khó có một định nghĩa nào rõ ràng về lòng ham
muốn. Người thì nói lòng ham muốn là khi con người mong muốn đạt được
cái gì đó phải thuộc về mình. Nhưng đâu ngờ, có nhiều người muốn gì được
nấy, nhưng có người suốt cả đời chẳng đạt được một cái gì cả. Liệu họ
có phải là người thất bại hoàn toàn không? Và rằng những ai muốn gì được
nấy là người không còn ham muốn? Không biết từ bao giờ con
người ra có lòng ham muốn. Có lẽ từ thuở cha sinh mẹ đẻ cho tới lúc mất
đi, con người ta luôn tràn đầy những ham muốn. Lúc bé thơ thì ham muốn
được chơi đùa, được ăn ngủ. Lớn lên một chút, người ta khao khát có được
một tình yêu thương và một gia đình hạnh phúc. Khi trưởng thành, con
người ta nảy sinh ý nghĩ khẳng định mình bằng danh vọng và sự nghiệp.
Lúc về lại với cái "nhàn" của cổ nhân hay gọi, người ta mong muốn có
được những khoảnh khắc bình yên trong đời. Mỗi tuổi, mỗi mơ ước, mỗi ham
muốn, mỗi hi vọng. Con người ta sống được âu là nhờ vào lòng ham muốn.
Lòng ham muosn nảy sinh như một sự đáp ứng lại môi trường xã hội và làm
thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Thấy người khác có chiếc xe đạp mới toanh thì
tự nhiên ta cảm thấy thích và mong muốn có một chiếc xe như thế. Thấy
người khác có nhà đẹp thì ta thấy lâng lâng và thèm muốn được có nó.
Thấy người khác có danh vọng cao quý, ta đâm ra thích thú và ham muốn
đạt được. Rõ ràng, cái gì càng thiếu thì người ta càng muốn, cái gì chưa
có là người ta ham , và cái gì đã có rồi thì lại ước sở hữu cái khác
nữa. Vì thế cho nên đối với con người mà nói vẫn chưa có khái niệm nào
là dành cho sự đầy đủ cả. Chỉ đơn giản là sống để ham muốn, để nắm trong
tay cái gọi là của mình. Lòng ham muốn gắn liền với nhiều hiện
tượng tâm lí khác nhau. Vì ham muốn, con người ta có thể nảy sinh nhiều
thói xấu và cũng có khi là nhiều đức tính tốt. Xấu có thể là đố kị, ganh
ghét, tốt có thể là chịu khó, kiên nhẫn. Người ta có thể nảy sinh thói
xấu khi muốn mà không đạt được. Lúc đó, họ cảm thấy mình là một kẻ thất
bại hoàn toàn. Họ nghĩ rằng thượng đế bất công hay cuộc đời họ thật là
ngang trái. Ví như Chu Du ngày xưa, luôn ham muốn rằng mình là "thiên hạ
đệ nhất nhân". Ông ta luôn tìm cách chứng tỏ bằng kế sách hãm hại Gia
Cát Lượng, nhưng lần nào ông ta cũng bị thất bại. Khi nhận ra tài trí
của mình không sánh bằng Gia Cát Lượng, Chu Du đã đau khổ ngửa mặt lên
trời mà than rằng :"Trời đã sinh Du, sao còn sinh Lượng". Cấu chuyện
trên đây đã chứng tỏ: vì ham muốn mà đố kị, quá đố kị mà không thể khong
tham muốn, con người ta sẽ chẳng đạt được giá trị gì đích thực trong
đời cả. Còn thói tốt? Có thể điều đó chỉ dành cho những người
biết điều. Ham muốn, mong ước một điều gì đó, còn hơn là chờ đợi thời
cơ. Khi thời cơ đến con người ta sẽ tận dụng mà trổ tài hết mình. Có thể
điều mà ta mong muốn chưa thể đạt được ngay, nhưng một người thông minh
sẽ không bao giờ nóng nảy và vội vàng, họ sẽ tiếp tục chờ đợi và tu
luyện. Thế nào, không ít thì nhiều, lòng ham muốn cũng được đáp ứng,
cũng được thỏa mãn. Lòng ham muốn phải đi liền với hành động.
Biết ham muốn, con người ta phải biết làm việc để mong đạt được thành
quả. Ham muốn mà không hành động thì cái điều ta ham muốn sẽ mãi mãi chỉ
nằm trong ý nghĩ và mãi sẽ là viển vông. Vấn đề cần lắm bắt ở đây là
hành động đang diễn ra nó có ảnh hưởng như thế nào đến mọi người xung
quanh và xã hội sẽ nhìn bạn với con mắt như thế nào. Chỉ ham muốn, con
người ta cả đời chẳng thể đạt được gì và chẳng giành lại cho mình được
cái gì cả. Như vậy lòng ham muốn cũng tuân theo quy luật nhân quả của
cuộc đời. Hiện nay, nói đén lòng ham muốn, chúng ta hoặc là chán
ngấy, hoặc là phát khiếp lên bởi một số người. Có lẽ họ thích sự kì lạ,
dị nhân, bất bình thường hơn là bình thường. Ngày càng nhiều người tỏ ra
ham muốn với những bộ đồ thời thượng, lố lăng, hay những đầu tóc đầy
"gai góc". Họ cho đó là hợp thời, là sành điệu. Nhưng có biết đâu, họ
đang làm cho người khác cảm thấy thương hại, thấy một thoáng người cho
một lớp người non trẻ. Chỉ biết ham muốn và thực hiện nó, không cần thấy
cha mẹ khổ sở ra sao, không cần thấy mọi người suy nghĩ như thế nào.
Thỏa mãn được bản thân mình và tiếp tục đưa ra một mớ những cái gọi là
tiêu chuẩn, bắt mình nhất định phải như thế này, giống người này, giống
người nọ. Nhưng trên thực tế thì đâu phải ai cũng muốn là được đâu. Biết
nói mà không biết làm, biết sĩ mà không chịu khó. Rốt cuộc cả đời cũng
chỉ là một mớ tơ nhện rối rắm mà không có đường gỡ. Để rồi hằng đêm ta
phải khóc thương ai oán cho phận mình đen bạc, tủi khổ. Không được tự
biến mình thành con rối như thế, ít ra con rối nó còn có hàng khối
người xem, người mua. Còn ta thì sao? Một con rối chỉ biết "múa tay múa
chân" mà hoàn toàn không có đến một chút chất lượng. Chúng ta phải tự
biến mình thành một con người thực có ý nghĩa bằng cách phải ham muốn và
thực hiện ham muốn ấy một cách đúng đắn. Không có ai là không
có một ham muốn, không ít thì nhiều, không một thì hai. Vì ta là con
người, nên phải có nhiều ham muốn, càng nhiều ham muốn càng tốt. Chúng
xui ta đến một bến bờ xa hơn, đến với một thế giới rộng mở hơn. Với ước
muốn, con người ta ngày càng hoàn thiện mình hơn, càng ngày càng tốt
hơn. Có thể ước muốn của ta ngày một ngày hai không được thành sự thật.
Xin đừng vội bi quan! chính sự bi quan sẽ chôn vùi biết bao nhiêu ham
muốn của ta, biến thế giới sống muôn màu trước mắt ta thành một địa ngục
tăm tối. Tốt hơn ta hãy biến nó thành một thiên đường. Hãy nhớ rằng
thiên đường hay địa ngục là do bạn, ở con người bạn, bàn tay và trái tim
bạn. Thế giới sống bao la, rộng mở, con người ta có biết bao
nhiêu ham muốn. Có thể nó là một ham muốn kì vĩ, lớn lao nhưng cũng có
thể chỉ là những ham muốn giản dị, bình thường. Dù sao đi nữa, ta hãy
dùng nghị lực để đẩy nó đến bến bờ của hiện thực. Như thế giấc mơ sẽ
không là giấc mơ, ham muốn sẽ không đơn thuần là ham muốn nữa !
|
|
|
|
giải đáp
|
NLXH: Sự thật?
|
|
|
|
Friedrich Enghen (1820−1895)
là một lí thuyết gia chủ nghĩa xã hội Đức. Ông đã cùng người bạn thân
của mình, Marx- một nhà cách mạng vĩ đại của giai cấp vô sản, soạn thảo
bản Tuyên ngôn cộng sản, kim chỉ nam cho những cuộc giải phóng dân tộc ở
các nước thuộc địa trên thế giới. Ông cũng tham gia xuất bản bộ "Tư bản
luận" sau khi Marx qua đời. LÀ một tư tưởng gia có thái độ dứt khoát rõ
ràng, Enghen khẳng định : "Thà phải tìm hiểu sự thật suốt đêm còn hơn
phải nghi ngờ nó suốt đời". "Sự thật" là việc xảy ra, đã hoặc
đang tồn tại. có sự việc, có hiện tượng xảy ra mới có thể suy đoán, đánh
giá. Dù cho nó là sự việc, hiện tượng sai trái hay đúng đắn thì nó vẫn
là sự thật. Để tìm đến sự thật thì chúng ta nhiều khi phải trải qua
"suốt đêm"- một quá trình khổ ải, đầy thử thách, mệt mỏi đến cả tinh
thần lẫn thể xác. "Nghi ngờ" là một trạng thái tâm lí không chắc chắn, có thể xảy ra mà cũng có thể không xảy ra. Không thể biết rõ được. Câu hỏi đặt ra là tại sao enghen lại nói như vậy ?
Chính ông là một nhà tư tưởng- người dẫn lối cho phong trào giải phóng
con người nên những đường lối mà ông đề ra luôn gắn chặt với từng hành
động, việc làm của mình. Và trong bất cứ việc làm gì cũng đòi hỏi sự dứt
khoát, rõ ràng thì mới mong thành công. Cuộc sống xung quanh ta
luôn có sự biến động bởi nó là diễn biến của hành động, của cả một
chuỗi sự việc xảy ra. Muốn biết sự việc nào, phải tìm hiểu "sự thật",
tức là tìm hiểu một cách thấu đáo, ngọn ngành dù cho phải mất nhiều công
sức, còn hơn phải suốt đời cứ thắc mắc về nó, cứ nghi ngờ, không biết
là nó có xảy ra hay không. Hơn nữa trong xã hội ở bất cứ thời đại nào, ở
bất cứ nơi đâu đều có những kẻ sống lấp lửng, có nhiều người hành động
thiếu suy xét và khi không tìm hiểu sự thật sẽ bị dằn vặt suốt đời vì
gây ra những hậu quả không lường trước được. Người có thái độ sống lấp
lửng thường không tìm hiểu sự việc chính xác nên hành động không dứt
khoát, chín chắn. sự việc xảy ra là thật, mà sự thật ấy có thể đúng, có
thể sai. Không biết rõ sự việc xảy ra như thế nào sẽ không có sự chuẩn
xác khi giải quyết công việc và nó sẽ không được giải quyết một cách
triệt để. Cuộc sống hàng ngày diễn ra xung quanh ta có những
sự việc như thế. Chẳng hạn như khi kết nạp Đảng viên, người bí thư phải
tìm hiểu rõ ràng lí lịch của đảng viên ấy. Nếu không biết sự thật có thể
làm ảnh hưởng đến cơ quan, tổ chức của Đảng mà cũng có thể ảnh hưởng
đến đạo đức cá nhân của người có trách nhiệm sau này. Bởi không hiểu rõ
"lí lịch" thì không thể biết được người ấy tốt hay xấu, có đủ tư cách
đạo đức để đứng trong hàng ngũ của Đảng hay không? Trong
chiến tranh, chất đi-ô-xin do Mỹ thả xuống đất nước Việt Nam có biết bao
con người, bao thế hệ phải chiu đựng nỗi đau da cam. Đó là sự thật,
không tìm hiểu sự thật thì ta sẽ cho đó là chuyện của người khác, chuyện
của chính phủ chứ chẳng liên quan gì đến mình khiến cho người ta vô
tình (hay hữu ý) trở thành kẻ thờ ơ, bàng quang với nỗi đau của đồng
loại. Binh tướng đời trần trước khi Trần Quốc Tuấn viết "Hịch
Tướng Sĩ" (khoảng trước cuộc kháng chiến chống Mông- Nguyên lần thứ hai
năm 1285) cũng là một minh chứng. Bài Hịch được công bố vào cuối tháng 9 năm 1284
tại cuộc duyệt binh ở Đông Thăng Long. Quân xâm lược ngày càng hống
hách, ngang ngược. Một khi giặc chiếm được nước ta thì chúng sẽ khiến
cho dân ta rơi vào cảnh lầm than. Ai cũng biết điều đó, nhưng có một số
binh sĩ đã không cố hiểu sự thật ấy nên có người đã dao động cầu hòa:
"nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn...".
Nếu không có "Hịch Tướng Sĩ" thì các binh tướng nhà Trần có nhận ra điều
sai trái của mình và có thể gây thương vong cho dân tộc, cho tổ quốc.
Không chỉ có nhiều người có thái độ sống lấp lửng mà cũng có nhiều kẻ
hành động thiếu suy xét. Đó là những người không tìm hiểu kĩ sự thật từ
nhiều góc độ, nhiều hoàn cảnh khác nhau, chỉ nghe sự mô tả một chiều,
không có sự nhìn nhận một cách thấu đáo, chính xác sẽ dẫn đến hành động
sai trái, phi đạo đức. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân
dân ta không có ít những "tình báo" viên một lòng trung thủy với Tổ
Quốc Việt Nam đã ngụy trang bằng cách làm việc cho ngụy để xâm nhập vào
bộ máy của bọn chúng một cách dễ dàng. Và có nhiều người đã phê phán tố
cáo những "tình báo " đó. Họ hành động thiếu suy xét, không tìm hiểu rõ
mà vội kết tội những người vô tội. Chính hành động sai lầm đó có thể dẫn
đến một sai lầm nghiêm trọng : giết chết những con người vô tội, trung
thành với Tổ Quốc. Tào Tháo đã đi vào lịch sử như một kẻ ác chỉ
vì không tìm hiểu sự thật : trên đường bôn tẩu, ở nhà người mổ heo,
thấy quân Tào đã mệt mỏi rã rời, hai vợ chồng mới bàn cách giết heo để
thiết đãi quân Tào. Lòng tốt của họ đã không được báo đáp mà phải nhận
một cái chết oan uổng vì sự nghi ngờ của Tào Tháo cho rằng người nhà họ
định "hành thích" mình. Đó là một tội ác vì không quyết chí tìm hiểu sự
thật. Không tìm hiểu sự thật sẽ bị dằn vặt suốt đời. Tâm lí,
đạo đức của con người sau những hành vi sai trái thường ân hận, tự giày
vò mình, luôn lo lắng, tâm hồn không được thanh thản. Không tìm hiểu sự
thật mà lại hành xử, nếu đúng thì đó là sự may mắn ngẫu nhiên- nếu sai
sẽ bị ân hận suốt cả đời. Nếu người mổ heo kia đúng là có dã tâm muốn
giết Tào mà Tào Tháo hành động như vậy là đúng, tự cứu chính mình nhưng
sự thật không phải như vậy. Tào Tháo đã gây nên một tội ác mà muôn đời
sau còn nhắc mãi. Marx đã từng nói rằng : "Hoài nghi tất cả".
Điều đó không sai bởi có nghi mới có ngộ. Nghi ngờ để rồi biết sự thật.
Bất chấp thế nào cũng phải tìm hiểu sự thật dù phải trải qua nhiều khó
khăn nếu không chúng ta sẽ phải ôm mối nghi ngờ suốt cả một đời.
Tóm lại, câu nói của Enghen thật khái quát nhưng có giá trị: tìm hiểu
sự thật kĩ càng, sẽ hành xử đúng. Ngày nay, đối với lớp trẻ thì điều đó
vô cùng cần thiết, giúp họ biết hành xử với gia đình, bạn bè và với cả
xã hội.
|
|
|
|
giải đáp
|
Tiền tài và hạnh phúc
|
|
|
|
1. Tiền tài Giá trị của thiên tài : tiền của và tiền bạc Dùng để sử dụng và chi tiêu, phục vụ cho cuộc sống, rất quan trọng và hết sức cần thiết. Mặt
trái của đồng tiền : sai khiến con người làm việc sai trái, đổi trắng
thay đen, biến giả thành thật, hủy hoại nhân cách con người. ⇒ chúng ta cần thừa nhận sức mạnh của đồng tiền.
2. Hạnh phúc Hạnh phúc là trạng thái sung sướng khi hoàn toàn đạt được những điều mình muốn. Hạnh phúc được xây dựng trên những giá trị mang ý nghĩa xã hội và tinh thần chân chính. ⇒Làm thế nào để có được hạnh phúc? Hạnh
phúc không phải là sản phẩm, quà tặng từ bên ngoài mà chỉ đến với những
ai thực sự nỗ lực, những ai có trái tim nhân ái, biết trân trọng và yêu
thương con người.
3. Bình luận về mối quan hệ giữa tiền tài và hạnh phúc Trong
hạnh phúc, tiền tài công danh nhiều khi chỉ là sự hư ảo vì nó không có
hiệu lực để sản sinh ra tình yêu, lòng nhân ái, nhân phẩm và óc sáng
tạo. Nếu coi đồng tiền là mục đích cao nhất thì sẽ không chỉ rơi vào
bi kịch mà còn bị hủy hoại về nhân cách, gia đình tan nát, mọi người
khinh bỉ, xa lánh,.... Nhưng nếu biết sử dụng đồng tiền đúng mục đích thì nó sẽ đem lại nhiều niềm vui và hạnh phúc cho con người. ⇒
Điều quan trọng là phải tạo sự hài hòa giữa đời sống vật chất và tinh
thần, muốn làm được điều ấy đòi hỏi con người không ngừng nỗ lực, phấn
đấu học tập, lao động và rèn luyện đạo đức.
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
Cấu trúc đề thi Đại học môn Ngữ Văn năm 2013 (khối C, D).
|
|
|
|
Cấu trúc đề thi Đại học môn Ngữ Văn năm 2013 (khối C, D).
I- Phần chung cho tất cả thí sinh (5,0 điểm)
Câu 1 (2, 0 điểm): Tái hiện kiến thức về giai đoạn văn học, tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam
- Khái quát văn hoc Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 - Hai đứa trẻ- Thạch Lam - Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân - Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ)- Vũ Trọng Phụng - Chí phèo (trích)- Nam Cao - Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô)- Nguyễn Huy Tưởng - Vội vàng- Xuân Diệu - Đây thôn Vũ Dạ- Hàn Mặc Tử - Tràng Giang –Huy Cận - Chiều tối- Hồ Chủ Tịch - Từ ấy- Tố Hữu - Một thời đại trong thi ca (trích)- Hoài Thanh và Hoài Chân - Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đén hết thế kỷ XX - Tuyên ngôn độc lập và tác giả Hồ Chí Minh - Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc- Phạm Văn Đồng - Việt Bắc (trích) và tác giả Tố Hữu - Đất nước (trích Mặt đường khát vọng)- Nguyễn Khoa Điềm - Sóng –Xuân Quỳnh - Đàn ghi ta của Lor-ca- Thanh Thảo - Người lái đò trên Sông Đà (trích)-Nguyễn Tuân - Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích)- Hoàng Phủ Ngọc Tường - Vợ chồng A Phủ (trích)- Tô Hoài - Vợ nhặt – Kim Lân - Rừng xà nu (trích)- Nguyễn Trung Thành - Những đứa con trong gia đình (trích)- Nguyễn Thi - Chiếc thuyền ngoài xa (trích)- Nguyễn Minh Châu - Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích)- Lưu Quang Vũ
Câu 2 (3,0 điểm): Vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để viết bài nghị luận xã hội ngắn (khoảng 600 từ)
-Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý -Nghị luận về một hiện tượng đời sống
II- Phần riêng (5,0 điểm): Vận dụng khả năng đọc- hiểu và kiến thức văn học để viết bài nghị luận văn học
(Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu 3a hoặc 3b)
Câu 3a: Theo chương trình chuẩn (5,0 điểm)
- Hai đứa trẻ- Thạch Lam - Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân - Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ)- Vũ Trọng Phụng - Chí phèo (trích)- Nam Cao - Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô)- Nguyễn Huy Tưởng - Vội vàng- Xuân Diệu - Đây thôn Vũ Dạ- Hàn Mặc Tử - Tràng Giang –Huy Cận - Chiều tối- Hồ Chí Minh - Từ ấy- Tố Hữu - Một thời đại trong thi ca (trích)- Hoài Thanh và Hoài Chân - Tuyên ngôn độc lập và tác giả Hồ Chí Minh - Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc- Phạm Văn Đồng - Tây Tiến- Quang Dũng - Việt Bắc (trích) và tác giả Tố Hữu - Đất nước (trích Mặt đường khát vọng)- Nguyễn Khoa Điềm - Sóng –Xuân Quỳnh - Đàn ghi ta của Lor- ca-Thanh Thảo - Người lái đò trên Sông Đà (trích)-Nguyễn Tuân - Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích)- Hoàng Phủ Ngọc Tường - Vợ chồng A Phủ (trích)- Tô Hoài - Vợ nhặt – Kim Lân - Rừng xà nu (trích)- Nguyễn Trung Thành - Những đứa con trong gia đình (trích)- Nguyễn Thi - Chiếc thuyền ngoài xa (trích)- Nguyễn Minh Châu - Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích)- Lưu Quang Vũ
Câu 3b: Theo chương trình nâng cao (5,0 điểm)
- Hai đứa trẻ- Thạch Lam - Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân - Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ)- Vũ Trọng Phụng - Chí phèo (trích)- Nam Cao - Đời thừa (trích)- Nam Cao - Nam Cao - Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô)- Nguyễn Huy Tưởng - Vội vàng- Xuân Diệu - Xuân Diệu - Đây thôn Vũ Dạ- Hàn Mặc Tử - Tràng Giang –Huy Cận - Tương tư- Nguyễn Bính - Nhật ký trong tù- Hồ Chí Minh - Chiều tối- Hồ Chí Minh - Lai tân- Hồ Chí Minh - Từ ấy- Tố Hữu - Một thời đại trong thi ca (trích)- Hoài Thanh và Hoài Chân - Tuyên ngôn độc lập và tác giả Hồ Chí Minh - Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh - Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc- Phạm Văn Đồng - Tây Tiến- Quang Dũng - Việt Bắc (trích) và tác giả Tố Hữu - Tố Hữu - Tiếng hát con tàu-Chế Lan Viên - Đất nước (trích Mặt đường khát vọng)- Nguyễn Khoa Điềm - Sóng –Xuân Quỳnh - Đàn ghi ta của Lor-ca - Thanh Thảo - Người lái đò trên Sông Đà (trích)-Nguyễn Tuân - Nguyễn Tuân - Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích)- Hoàng Phủ Ngọc Tường - Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích)- Lưu Quang Vũ - Vợ chồng A Phủ (trích)- Tô Hoài - Vợ nhặt – Kim Lân - Những đứa con trong gia đình (trích)- Nguyễn Thi - Rừng xà nu (trích)- Nguyễn Trung Thành - Một người Hà Nội- Nguyễn Khải - Chiếc thuyền ngoài xa (trích)- Nguyễn Minh Châu
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 ( CÓ ĐÁP ÁN) - Đề số 13
|
|
|
|
MÔN VĂN - ĐỀ SỐ 13
Câu1: (12,5 điểm) Nhà thơ Tố Hữu khi miêu tả căn nhà Bác ở nơi làng Sen ban đầu đã viết : "Ba gian nhà trống không hương khói Một chiếc giường tre chiếu chẳng lành. Một thời gian sau nhà thơ sửa lại : Ba gian nhà trống nồm đưa võng Một chiếc giường tre chiếu mỏng manh." Hãy cho biết sự thay đổi từ ngữ có ảnh hưởng như thế nào đến ý nghĩa của hai câu thơ ? Câu2: (6.điểm) Trình bày suy nghĩ của em về nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. GỢI Ý TRẢ LỜI PHẦN TỰ LUẬN, ĐỀ SỐ 13
Câu 1: (1,5 điểm) Cách thay đổi từ ngữ làm câu thơ hay hơn, gợi dư âm về không khí ấm áp và sự sinh động của cảnh vật như còn phảng phất bàn tay và hơi ấm con người trong đó, không lạnh lẽo hoang tàn như hai câu thơ ban đầu. Câu 2: (6 điểm) a. Mở bài : Giới thiệu chung về Nam Cao và tác phẩm Lão Hạc, nêu nội dung chủ đề là tác phẩm viết về người nông dân, về cái đói và nhân cách cao đẹp của con người với cái nhìn nhân đạo sâu sắc. b. Thân bài : Phân tích các đặc điểm sau của nhân vật : * Lão Hạc điển hình cho cuộc sống nghèo khổ của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. - Cuộc sống cày thuê, cuốc mướn, vợ lão vì làm nhiều, lao lực mà chết. - Lão nghèo không có tiền cưới vợ cho con khiến con lão phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su. - Lão bị ốm đồng thời làng mất nghề ve sợi nên không kiếm được việc làm, sống tạm bợ ăn củ chuối quả sung qua ngày, cuối cùng phải bán con chó vàng là người bạn duy nhất của lão. - Bán chó xong, với những day dứt lương tâm cùng những tính toán của người lương thiện, lúc tuổi già lão đã tìm đến cái chết bằng liều bả chó.Cái chết của lão phản ánh sự cùng quẫn bế tắc của người nông dân trong xã hội đương thời, việc làm, cái đói, miếng ăn đè nặng lên vai người nông dân. * Tấm lòng lương thiện của một người cha thương con và giàu lòng tự trọng. - Lão yêu con với nỗi niềm day dứt của người cha chưa làm tròn bổn phận, chưa lo cưới vợ được cho con nên trong các câu chuyện với ông giáo hay cậu Vàng lão đều nhắc tới con với nỗi nhớ nhung cùng những tính toán cho con khi nó trở về. - Lão bòn vườn, bán chó, gửi tiền và vườn nhờ hàng xóm trông nom cho con rồi ra đi chứ quyết không tiêu của con lấy một hào. Sự hi sinh của lão âm thầm mà cao thượng. - Lão tìm đến cái chết để khẳng định nhân cách cao thượng của mình bởi lão đã từ chối sự giúp đỡ của mọi người, lão sợ sống nữa sẽ không giữ mình mà đi theo gót Binh Tư chăng ? - Cảnh lão âu yếm con chó vàng cùng những cách chăm sóc, tâm sự của lão với nó, cảnh lão khóc như con nít khi bán nó khiến người đọc cảm động và thương cảm ngậm ngùi cho số phận của lão. c. Kết luận : Nam Cao đã gạn đục khơi trong, phát hiện trong những cuộc đời đen tối ấy thứ ánh sáng của lương tri, của tình thương làm người ta thấy tin yêu cuộc đời hơn.
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 ( CÓ ĐÁP ÁN) - Đề số 13
|
|
|
|
MÔN VĂN - ĐỀ SỐ 13
Câu1: (1,5điểm) Có bạn chép hai câu thơ như sau : "Làn thu thuỷ nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu buồn kém xanh." Bạn đã chép sai từ nào ? Việc chép sai như vậy đã ảnh hưởng lớn đến ý nghĩa của đoạn thơ, em hãy giải thích điều ñoù Câu 2: (6điểm) Hình tượng anh bộ đội trong thơ ca thời kì chống Pháp và chống Mĩ vừa mang những phẩm chất chung hết sức đẹp đẽ của người lính Cụ Hồ vừa có những nét cá tính riêng khá độc đáo... Qua hai bài thơ Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, em hãy làm sáng tỏ nội dung vấn đề trên. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI TỰ LUẬN, ĐỀ SỐ 13
Câu 1: (1,5 điểm) Chép sai từ "buồn" - đúng là từ "hờn". Chép sai ảnh hưởng nghĩa của câu như sau : "buồn" là sự chấp nhận còn "hờn" thể hiện sự tức giận có ý thức tiềm tàng sự phản kháng. Dùng "hờn" mới đúng dụng ý của Nguyễn Du về việc miêu tả nhan sắc Kiều thống nhất trong quan niệm hồng nhan bạc phận. Kiều đẹp khiến thiên nhiên hờn ghen để rồi sau này Kiều chịu số phận lênh đênh chìm nổi với mười lăm năm lưu lạc. Câu 2: (6 điểm) Yêu cầu : Biết làm bài văn nghị luận, bố cục rõ ràng, kết cấu hợp lí. Nội dung : 1. Mở bài : Giới thiệu về người lính trong hai bài thơ. 2. Thân bài : Cần làm rõ hai nội dung : - Những phẩm chất chung hết sức đẹp đẽ của người lính Cụ Hồ. - Những nét riêng độc đáo trong tính cách, tâm hồn của người lính. Nội dung1 : - Người lính chiến đấu cho một lí tưởng cao đẹp. - Những con người dũng cảm bất chấp khó khăn, coi thường thiếu thốn, hiểm nguy. - Những con người thắm thiết tình đồng đội. - Những con người lạc quan yêu đời, tâm hồn bay bổng lãng mạn. Nội dung 2 : - Nét chân chất, mộc mạc của người nông dân mặc áo lính (bài thơ Đồng chí). - Nét ngang tàng, trẻ trung của một thế hệ cầm súng mới (Bài thơ về tiểu đội xe không kính). 3. Kết bài : Cảm nghĩ của người viết về hình ảnh người lính.
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 ( CÓ ĐÁP ÁN) - Đề số 12
|
|
|
|
MÔN VĂN - ĐỀ SỐ 12
Câu 1: Tìm điệp ngữ trong đoạn thơ và phân tích tác dụng của điệp ngữ đó.
Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ
Câu2: (6điểm)
Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy.
GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI TỰ LUẬN, ĐỀ SỐ 12
Câu 1: (1,5 điểm)
Điệp ngữ trong đoạn thơ
là từ vì, được sử dụng nhằm thể hiện mục đích chiến đấu của cháu - anh
chiến sĩ trong bài thơ. Những lí do anh đưa ra rất giản dị : vì tiếng
gà, vì bà, vì lòng yêu Tổ quốc. Mỗi từ vì nhằm nhấn mạnh một mục đích
của anh, thể hiện tình yêu thiêng liêng với Tổ quốc bắt nguồn từ tình
cảm chân thực giản dị : tình gia đình với những kỉ niệm mộc mạc đáng yêu
đã hun đúc và là động lực giúp anh thêm sức mạnh vượt qua gian khó,
chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.
Câu 2: (6 điểm)
a. Mở bài : Giới thiệu bài thơ Ánh trăng
ra đời năm 1978, sau khi đất nước thống nhất, người lính trở về với
cuộc sống đời thường. Hình ảnh ánh trăng là biểu tượng của thiên nhiên
đất nước và con người Việt Nam một thuở gian lao anh dũng ; trăng trong
hiện tại nhắc nhở người lính về lối sống ân tình thuỷ chung.
b. Thân bài :
- Hình ảnh thiên nhiên
được gợi lên trong bài thơ mang những nét hồn hậu, đáng yêu qua các hình
ảnh : sông, đồng, bể, rừng… Đó vừa là hình ảnh thực, vừa là hình ảnh
tượng trưng về đất nước, thiên nhiên một thời quá khứ của người lính mà
con người với thiên nhiên "tri kỉ", hoà đồng, gần gũi, thân thiết, gắn
bó.
- Hình tượng ánh trăng
hiện ra là hình tượng trung tâm với nhiều nghĩa ẩn dụ tượng trưng : là
thiên nhiên thơ mộng, hiền hoà, đồng thời là đồng chí đồng đội, gần gũi
sẻ chia, là nhân dân tình nghĩa thuỷ chung, là đất nước gian lao mà anh
dũng…
- Trong hiện tại, ánh
trăng hiện về đẹp đẽ như người bạn nhắc nhở nhà thơ, người lính khi anh
tự thú nhận đã có những giây phút lãng quên bạn và quá khứ. Trăng hiện
về lặng lẽ, bao dung như tấm lòng của nhân dân, đất nước. Sự im lặng gợi
nhiều suy tư, để người lính tự thức tỉnh.
c. Kết bài : Khẳng định
cái hay của bài thơ chính là gợi lên chân dung con người rất thực, con
người với những trăn trở, suy tư, với sự thú nhận của lương tri chớm
lãng quên quá khứ, từ đó nhắc nhở mọi người lối sống ân nghĩa thuỷ chung
với quá khứ.
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 ( CÓ ĐÁP ÁN) - Đề số 11
|
|
|
|
MÔN VĂN - ĐỀ SỐ 11
Câu1. (3,5điểm) Trong bài Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải viết :
"Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa."
Kết thúc bài Viếng lăng Bác, Viễn Phương có viết :
"Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác."
a. Hai bài thơ của hai tác giả viết về đề tài khác nhau nhưng có chung chủ đề. Hãy chỉ ra tư tưởng chung đó. b. Viết 1 đoạn văn khoảng 5 câu phát biểu cảm nghĩ về 1 trong hai đoạn thơ trên.
Câu:2.(4 ñieåm)
Vẻ đẹp trong lối sống, tâm hồn của nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long và nhân vật Phương Định trong Những ngôi sao xa xôi của Leâ Minh Khueâ.
GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI TỰ LUẬN, ĐỀ SỐ 11
Câu 1: (3 điểm)
a. Khác nhau và giống nhau :
- Khác nhau :
+ Thanh Hải viết về đề tài thiên nhiên đất nước và khát vọng hoà nhập dâng hiến cho cuộc đời.
+ Viễn Phương viết về đề
tài lãnh tụ, thể hiện niềm xúc động thiêng liêng, tấm lòng tha thiết
thành kính khi tác giả từ miền Nam vừa được giải phóng ra viếng Bác Hồ.
- Giống nhau :
+ Cả hai đoạn thơ đều
thể hiện ước nguyện chân thành, tha thiết được hoà nhập, cống hiến cho
cuộc đời, cho đất nước, nhân dân... Ước nguyện khiêm nhường, bình dị
muốn được góp phần dù nhỏ bé vào cuộc đời chung.
+ Các nhà thơ đều dùng những hình ảnh đẹp của thiên nhiên là biểu tượng thể hiện ước nguyện của mình.
b. HS tự chọn đoạn thơ để viết nhằm nổi bật thể thơ, giọng điệu thơ và ý tưởng thể hiện trong đoạn thơ.
Đoạn thơ của Thanh Hải
sử dụng thể thơ 5 chữ gần với các điệu dân ca , đặc biệt là dân ca miền
Trung, có âm hưởng nhẹ nhàng tha thiết. Giọng điệu thể hiện đúng tâm
trạng và cảm xúc của tác giả : trầm lắng, hơi trang nghiêm mà tha thiết
khi bộc bạch những tâm niệm của mình. Đoạn thơ thể hiện niềm mong muốn
được sống có ích, cống hiến cho đời một cách tự nhiên như con chim mang
đến tiếng hót. Nét riêng trong những câu thơ của Thanh Hải là đề cập đến
một vấn đề lớn : ý nghĩa của đời sống cá nhân trong quan hệ với cộng
đồng.
Đoạn thơ của Viễn Phương
sử dụng thể thơ 8 chữ, nhịp thơ vừa phải với điệp từ muốn làm, giọng
điệu phù hợp với nội dung tình cảm, cảm xúc. Đó là giọng điệu vừa trang
nghiêm, sâu lắng, vừa thiết tha thể hiện đúng tâm trạng lưu luyến của
nhà thơ khi phải xa Bác. Tâm trạng lưu luyến của nhà thơ muốn mãi ở bên
lăng Bác và chỉ biết gửi tấm lòng mình bằng cách hoá thân hoà nhập vào
những cảnh vật bên lăng : làm con chim cất tiếng hót.
Câu 2: (4,5 điểm)
a. Giới thiệu sơ
lược về đề tài viết về những con người sống, cống hiến cho đất nước
trong văn học. Nêu tên 2 tác giả và 2 tác phẩm cùng những vẻ đẹp của anh
thanh niên và Phương Định. b. Vẻ đẹp của 2 nhân vật trong hai tác phẩm :
* Vẻ đẹp trong cách sống :
+ Nhân vật anh thanh niên : trong Lặng lẽ Sa Pa
- Hoàn cảnh sống và làm
việc : một mình trên núi cao, quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây
núi Sa Pa. Công việc là đo gió, đo mưa đo nắng, tính mây, đo chấn động
mặt đất…
- Anh đã làm việc với
tinh thần trách nhiệm cao, cụ thể, tỉ mỉ, chính xác, đúng giờ ốp thì dù
cho mưa tuyết, giá lạnh thế nào anh cũng trở dậy ra ngoài trời làm việc
đúng giờ quy định.
- Anh đã vượt qua sự cô đơn vắng vẻ quanh năm suốt tháng trên đỉnh núi cao không một bóng người.
- Sự cởi mở chân thành, quý trọng mọi người, khao khát được gặp gỡ, trò chuyện với mọi người.
- Tổ chức sắp xếp cuộc sống của mình một cách ngăn nắp, chủ động : trồng hoa, nuôi gà, tự học...
+ Cô thanh niên xung phong Phương Định :
- Hoàn cảnh sống và
chiến đấu : ở trên cao điểm giữa một vùng trọng điểm trên tuyến đường
Trường Sơn, nơi tập trung nhất bom đạn và sự nguy hiểm, ác liệt. Công
việc đặc biệt nguy hiểm : Chạy trên cao điểm giữa ban ngày, phơi mình
trong vùng máy bay địch bị bắn phá, ước lượng khối lượng đất đá, đếm
bom, phá bom.
- Yêu mến đồng đội, yêu mến và cảm phục tất cả những chiến sĩ mà cô gặp trên tuyến đường Trường Sơn.
- Có những đức tính đáng quý, có tinh thần trách nhiệm với công việc, bình tĩnh, tự tin, dũng cảm...
* Vẻ đẹp tâm hồn :
+ Anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa :
- Anh ý thức về công
việc của mình và lòng yêu nghề khiến anh thấy được công việc thầm lặng
ấy có ích cho cuộc sống, cho mọi người.
- Anh đã có suy nghĩ thật đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống con người.
- Khiêm tốn thành thực cảm thấy công việc và những đóng góp của mình rất nhỏ bé.
- Cảm thấy cuộc sống
không cô đơn buồn tẻ vì có một nguồn vui, đó là niềm vui đọc sách mà lúc
nào anh cũng thấy như có bạn để trò chuyện.
- Là người nhân hậu, chân thành, giản dị.
+ Cô thanh niên Phương Định :
- Có thời học sinh hồn nhiên vô tư, vào chiến trường vẫn giữ được sự hồn nhiên.
- Là cô gái nhạy cảm, mơ mộng, thích hát, tinh tế, quan tâm và tự hào về vẻ đẹp của mình.
- Kín đáo trong tình cảm và tự trọng về bản thân mình.
Các tác giả miêu tả sinh
động, chân thực tâm lí nhân vật làm hiện lên một thế giới tâm hồn phong
phú, trong sáng và đẹp đẽ cao thượng của nhân vật ngay trong hoàn cảnh
chiến đấu đầy hi sinh gian khổ. c. Đánh giá, liên hệ :
- Hai tác phẩm đều khám phá, phát hiện ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam trong lao động và trong chiến đấu.
- Vẻ đẹp của các nhân
vật đều mang màu sắc lí tưởng, họ là hình ảnh của con người Việt Nam
mang vẻ đẹp của thời kì lịch sử gian khổ hào hùng và lãng mạn của dân
tộc. Liên hệ với lối sống, tâm hồn của thanh niên trong giai đoạn hiện
nay.
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 ( CÓ ĐÁP ÁN) - Đề số 10
|
|
|
|
MÔN VĂN - ĐỀ SỐ 10
Câu1: (1.5 ñieåm)
Chép lại ba câu thơ cuối trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu và phân tích ý nghĩa của hình ảnh kết thúc bài thơ. Câu2: (6 điểm)
Với
nhan đề : Môi trường sống của chúng ta, dựa vào những hiểu biết của em
về môi trường, viết một bài văn ngắn trình bày quan điểm của em và cách
cải tạo môi trường sống ngày một tốt đẹp hơn.
GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI TỰ LUẬN, ĐỀ SỐ 10
Câu1: (1,5 điểm) Chép chính xác 3 dòng thơ được 0,5 điểm, nếu sai 2 lỗi về chính tả hoặc từ ngữ trừ 0,25 điểm :
"Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo". (Đồng chí - Chính Hữu)
Phân tích ý nghĩa của hình ảnh "đầu súng trăng treo" được 1 điểm. Học sinh cần làm rõ giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ như sau :
- Cảnh thực của núi rừng trong thời chiến khốc liệt hiện lên qua các hình
ảnh : rừng hoang, sương muối. Người lính vẫn sát cánh cùng đồng đội : đứng cạnh bên nhau, mai phục chờ giặc.
- Trong phút giây giải
lao bên người đồng chí của mình, các anh đã nhận ra vẻ đẹp của vầng
trăng lung linh treo lơ lửng trên đầu súng : Đầu súng trăng treo. Hình
ảnh trăng treo trên đầu súng vừa có ý nghĩa tả thực, vừa có tính biểu
trưng của tình đồng đội và tâm hồn bay bổng lãng mạn của người chiến sĩ.
Phút giây xuất thần ấy làm tâm hồn người lính lạc quan thêm tin tưởng
vào cuộc chiến đấu và mơ ước đến tương lai hoà bình. Chất thép và chất
tình hoà quện trong tâm tưởng đột phá thành hình tượng thơ đầy sáng tạo
của Chính Hữu.
Câu2:(6điểm) Nêu vấn đề và triển khai thành bài văn nghị luận gồm các ý cơ bản sau :
a. Nêu vấn đề nghị luận : Môi trường sống của chúng ta thực tế đang bị ô nhiễm và con người chưa có ý thức bảo vệ.
b. Biểu hiện và phân tích tác hại :
- Ô nhiễm môi trường làm hại đến sự sống.
- Ô nhiễm môi trường làm cảnh quan bị ảnh hưởng.
c. Đánh giá :
- Những việc làm đó là thiếu ý thức bảo vệ môi trường, phá huỷ môi trường sống tốt đẹp.
- Phê phán và cần có cách xử phạt nghiêm khắc.
d. Hướng giải quyết :
- Tuyên truyền để mỗi người tự rèn cho mình ý thức bảo vệ
môi trường.
- Coi đó là vấn đề cấp bách của toàn xã hội.
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 ( CÓ ĐÁP ÁN) - Đề số 9
|
|
|
|
MÔN VĂN - ĐỀ SỐ 9
Câu1: (2,5điểm) Phân tích ý nghĩa của các từ láy trong đoạn thơ :
"Nao nao dòng nước uốn quanh Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang Sè sè nắm đất bên đường, Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh." (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Câu 2: (5 điểm) Nêu suy nghĩ của em về nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa của nhà văn Nguyễn Thành Long.
GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI TỰ LUẬN, ĐỀ SỐ 9
Câu 1: (3,5 điểm)
Học
sinh phát hiện các từ láy nao nao, nho nhỏ, sè sè, rầu rầu và thấy tác
dụng của chúng : vừa chính xác, tinh tế, vừa có tác dụng gợi nhiều cảm
xúc trong người đọc. Các từ láy vừa gợi tả hình ảnh của sự vật vừa thể
hiện tâm trạng con người.
- Từ láy ở hai dòng đầu :
gợi cảnh sắc mùa xuân lúc chiều tà sau buổi hội vẫn mang cái nét thanh
tao trong trẻo của mùa xuân nhưng nhẹ nhàng tĩnh lặng và nhuốm đầy tâm
trạng. Từ láy "nao nao" gợi sự xao xuyến bâng khuâng về một ngày vui xuân đang còn mà sự linh cảm về điều gì đó sắp xảy ra đã xuất hiện.
- Từ láy ở hai câu sau
báo hiệu cảnh sắc thay đổi nhuốm màu u ám thê lương. Các từ gợi tả được
hình ảnh nấm mồ lẻ loi đơn độc lạc lõng giữa ngày lễ tảo mộ thật đáng
tội nghiệp khiến Kiều động lòng và chuẩn bị cho sự xuất hiện của hàng
loạt những hình ảnh của âm khí nặng nề trong những câu thơ tiếp theo.
Câu 2: (4 điểm) Học sinh vận dụng cách làm văn nghị luận về nhân vật văn học để viết bài cảm nghĩ về anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa - là nhân vật điển hình cho tấm gương lao động trí thức trong những năm đất nước còn chiến tranh :
a. Đề tài về tinh thần
yêu nước và ý thức cống hiến của lớp trẻ là một đề tài thú vị và hấp dẫn
của văn học kháng chiến chống Mĩ mà Lặng lẽ Sa Pa là một tác phẩm tiêu biểu.
b. Phân tích những phẩm chất tốt đẹp của anh thanh niên :
- Trẻ tuổi, yêu nghề và
trách nhiệm cao với công việc. Các dẫn chứng tiêu biểu : một mình trên
đỉnh núi cao chịu áp lực của cuộc sống cô độc nhưng anh luôn nhận thấy
mình với công việc là đôi, một giờ sáng đi ốp nhưng anh không bỏ buổi
nào thể hiện ý thức quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ rất cao.
- Cởi mở, chân thành,
nhiệt tình chu đáo với khách và rất lịch sự khiêm tốn (nói chuyện rất
hồn nhiên, hái hoa tặng khách, tặng quà cho họ mang theo ăn đường, khiêm
nhường khi nói về mình mà giới thiệu những tấm gương khác).
- Con người trí thức
luôn tìm cách học hỏi nâng cao trình độ và cải tạo cuộc sống của mình
tốt đẹp hơn : không gian nơi anh ở đẹp đẽ, tủ sách với những trang sách
đang mở, vườn hoa đàn gà... là những sản phẩm tự tay anh làm đã nói lên
điều đó.
c. Hình ảnh anh thanh
niên là bức chân dung điển hình về con người lao động trí thức lặng lẽ
dâng cho đời đáng được ngợi ca, trân trọng.
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 ( CÓ ĐÁP ÁN) - Đề số 8
|
|
|
|
MÔN VĂN - ĐỀ SỐ 8
Câu1: (2,5điểm) Chép lại bốn câu thơ nói lên nỗi nhớ cha mẹ của Thuý Kiều trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích và nhận xét về cách dùng từ ngữ hình ảnh trong đoạn thơ. Câu2: (6điểm) Suy nghĩ về nhân vật Lục Vân Tiên trong đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga.
GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI TỰ LUẬN, ĐỀ SỐ 8
Câu1: (2,5điểm) Yêu cầu :
- Chép chính xác 4 dòng thơ :
"Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ ? Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc tử đã vừa người ôm."
- Nhận xét cách sử dụng
từ ngữ hình ảnh trong đoạn thơ : dùng những điển tích, điển cố sân Lai,
gốc tử để thể hiện nỗi nhớ nhung và sự đau đớn, dằn vặt không làm tròn
chữ hiếu của Kiều. Các hình ảnh đó vừa gợi sự trân trọng của Kiều đối
với cha mẹ vừa thể hiện tấm lòng hiếu thảo của nàng.
Câu2: (6điểm) Nêu được những cảm nghĩ về nhân vật Lục Vân Tiên :
a. Hình ảnh Lục Vân Tiên
được khắc hoạ qua mô típ ở truyện Nôm truyền thống : một chàng trai tài
giỏi, cứu một cô gái thoát khỏi hiểm nghèo, từ ân nghĩa đến tình yêu...
như Thạch Sanh đánh đại bàng, cứu công chúa Quỳnh Nga. Mô típ kết cấu
đó thường biểu hiện niềm mong ước của tác giả và cũng là của nhân dân.
Trong thời buổi nhiễu nhương hỗn loạn này, người ta trông mong ở những
người tài đức, dám ra tay cứu nạn giúp đời.
b. Lục Vân Tiên là nhân
vật lí tưởng. Một chàng trai vừa rời trường học bước vào đời lòng đầy
hăm hở, muốn lập công danh, cũng mong thi thố tài năng cứu người, giúp
đời. Gặp tình huống bất bằng này là một thử thách đầu tiên, cũng là một
cơ hội hành động cho chàng.
c. Hành động đánh cướp
trước hết bộc lộ tính cách anh hùng, tài năng và tấm lòng vị nghĩa của
Vân Tiên. Chàng chỉ có một mình, hai tay không, trong khi bọn cướp đông
người, gươm giáo đầy đủ, thanh thế lẫy lừng : "người đều sợ nó có tài khôn đương".
Vậy mà Vân Tiên vẫn bẻ cây làm gậy xông vào đánh cướp. Hình ảnh Vân
Tiên trong trận đánh được miêu tả thật đẹp - vẻ đẹp của người dũng tướng
theo phong cách văn chương thời xưa, nghĩa là so sánh với những mẫu
hình lí tưởng như dũng tướng Triệu Tử Long mà người Việt Nam, đặc biệt
là người Nam Bộ vốn mê truyện Tam quốc không mấy ai không
thán phục. Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người vị
nghĩa vong thân, cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu,
chiến thắng những thế lực tàn bạo.
d. Thái độ cư xử với
Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp bộc lộ tư cách con người chính trực,
hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài đồng thời cũng rất từ tâm, nhân hậu.
Thấy hai cô con gái còn chưa hết hãi hùng, Vân Tiên động lòng tìm cách
an ủi họ : "ta đã trừ dòng lâu la" và ân cần hỏi han. Khi nghe họ nói muốn được lạy tạ ơn, Vân Tiên vội gạt đi ngay : "Khoan khoan ngồi đó chớ ra". Ở đây có phần câu nệ của lễ giáo phong kiến nhưng chủ yếu là do đức tính khiêm nhường của Vân Tiên : "Làm ơn há dễ trông người trả ơn".
Chàng không muốn nhận cái lạy tạ ơn của hai cô gái, từ chối lời mời về
thăm nhà của Nguyệt Nga để cha nàng đền đáp và ở đoạn sau từ chối nhận
chiếc trâm vàng của nàng, chỉ cùng nhau xướng hoạ một bài thơ rồi thanh
thản ra đi, không hề vương vấn. Dường như đối với Vân Tiên, làm việc
nghĩa là một bổn phận, một lẽ tự nhiên, con người trọng nghĩa khinh tài
ấy không coi đó là công trạng. Đó là cách cư xử mang tinh thần nghĩa
hiệp của các bậc anh hùng hảo hán.
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 ( CÓ ĐÁP ÁN) - Đề số 7
|
|
|
|
MÔN VĂN - ĐỀ SỐ 7
Câu 1: (3 điểm)
Phần cuối của tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương được tác giả xây dựng bằng hàng loạt những chi tiết hư cấu. Hãy phân tích ý nghĩa của các chi tiết đó.
Câu 2. (4,5 điểm)
Phân tích 8 câu thơ cuối của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du).
GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI TỰ LUẬN, ĐỀ SỐ 7
Câu1: (3điểm)
Các
chi tiết hư cấu ở phần cuối truyện : cảnh Vũ Nương gặp Phan Lang dưới
thuỷ cung, cảnh sống dưới Thuỷ cung và những cảnh Vũ Nương hiện về trên
bến sông cùng những lời nói của nàng khi kết thúc câu chuyện. Các chi
tiết đó có tác dụng làm tăng yếu tố li kì và làm hoàn chỉnh nét đẹp của
nhân vật Vũ Nương, dù đã chết nhưng nàng vẫn muốn rửa oan, bảo toàn danh
dự, nhân phẩm cho mình.
- Câu nói cuối cùng của nàng : "Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa”
là lời nói có ý nghĩa tố cáo sâu sắc, hiện thực xã hội đó không có chỗ
cho nàng dung thân và làm cho câu chuyện tăng tính hiện thực ngay trong
yếu tố kì ảo : người chết không thể sống
lại được.
Câu2: (4,5điểm) Tám câu cuối trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh tâm tình xúc động diễn tả tâm trạng buồn lo của Kiều qua nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.
a. Giới thiệu xuất xứ đoạn trích dựa vào những hiểu biết về vị trí của nó trong văn bản và tác phẩm.
b. Phân tích các cung bậc tâm trạng của Kiều trong đoạn thơ :
- Điệp từ "Buồn trông"
mở đầu cho mỗi cảnh vật qua cái nhìn của nàng Kiều : có tác dụng nhấn
mạnh và gợi tả sâu sắc nỗi buồn dâng ngập trong tâm hồn nàng.
- Mỗi biểu hiện của cảnh chiều tà bên bờ biển, từ cánh buồm thấp thoáng, cánh hoa trôi man mác đến "nội cỏ rầu rầu, tiếng sóng ầm ầm"
đều thể hiện tâm trạng và cảnh ngộ của Kiều : sự cô đơn, thân phận trôi
nổi lênh đênh vô định, nỗi buồn tha hương, lòng thương nhớ người yêu,
cha mẹ và cả sự bàng hoàng lo sợ. Đúng là cảnh lầu Ngưng Bích được nhìn
qua tâm trạng Kiều : cảnh từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm
thanh từ tĩnh đến động, nỗi buồn từ man mác lo âu đến kinh sợ. Ngọn giáo
cuốn mặt duềnh và tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi là cảnh tượng hãi hùng,
như báo trước dông bão của số phận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời
Kiều.
c. Khẳng định nỗi buồn
thương của nàng Kiều cũng chính là nỗi buồn thân phận của bao người phụ
nữ tài sắc trong xã hội cũ mà nhà thơ cảm thương đau xót.
|
|