Thạch Lam là một cây bút có khuynh hướng lãng mạn. Khi
những nhà văn khác thì thiên về tầng lớp trên xã hội còn Thạch Lam lại
viết về những con người nhỏ bé, nghèo khổ, sống trong bóng tối. Họ
thường nép mình trong bóng tối của một không gian hẹp : phố huyện tiêu
điều xơ xác hoặc những xóm nghèo ngoại ô Hà Nội,… mà không dám nhìn về
tương lai, mang nặng một mặc cảm trong lòng khi nghĩ về mai sau.Ông lặng
lẽ hướng ngòi bút của mình về phía họ với tấm lòng trắc ẩn chân
thành.Văn Thạch Lam nhẹ nhàng với lối quan sát độc đáo và phân tích tâm
lí tinh tế. Truyện của Thạch Lam không có cốt truyện, ít hành động, ít
sự kiện, nhưng đầy ắp những tâm trạng bâng khuâng. Nó có chiều sâu hun
hút, chiều sâu của cuộc sống, chiều sâu của lòng người và chiều sâu của
mộng mơ, ước vọng. Mỗi câu chuyện là một bài thơ trữ tình đầy xót
thương. “Hai đứa trẻ” là đặc trưng của hồn văn Thạch Lam được trích
trong tập “Nắng trong vườn” là một truyện ngắn rất hay, thắm đẫm tinh
thần nhân đạo. Đây là một minh chứng điển hình cho phong cách nghệ thuật
của Thạch Lam. Trong đó nghệ thuật tương phản được sử dụng như một nghệ
thuật nòng cốt mang đến sự thành công cho tác phẩm.
Truyện
“Hai đứa trẻ” được vẽ lên bởi ba khung cảnh liên hoàn từ lúc chiều tàn
đến nửa đêm. Trong những bức tranh nhạt nhòa và xám xịt ấy là những hình
ảnh về kiếp người đói nghèo sống dật dờ giữa một ao đời tù đọng, phẳng
lặng. Truyện có không gian ở phố huyện nghèo, hai chị em Liên và An
thường ngồi đợi chuyến tàu đêm đi ngang qua phố huyện và cảm nhận những
sự việc đang diễn ra xung quanh mình.
Tuy
truyện chỉ có tình huống như vậy nhưng qua tài năng của Thạch Lam,
những chi tiết ấy thật sống động và gợi rất nhiều cảm xúc trong lòng
người đọc. Thủ pháp tương phản đã góp phần không nhỏ trong thành công
này. Sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối cụ thể là giữa bầu trời và mặt
đất, giữa cái âm thanh buồn bã của phố huyện và âm thanh của đoàn tàu
rầm rộ đi qua, sự tương phản giữa cuộc sống thực tại và quá khứ êm đềm
trong dòng mơ tưởng của Liên, giữa hoàn cảnh cuộc sống và tính cách nhân
vật qua từng trang viết…
Mọi
vật trên trái đất này đều cần đến ánh sáng, nhưng mặt trời thiên nhiên
chỉ ban tặng chúng ta một nửa thời gian có ánh sáng, còn lại phải chìm
ngập trong bóng tối. Có thể thấy xung đột giữa bóng tối và ánh sáng
trong truyện khá mạnh mẽ. Ánh sáng và bóng tối đang giao tranh nhau. Mở
đầu truyện ánh sáng yếu dần, sau đó là bóng tối hiện lên rồi bao trùm
lên tất cả. Chính ánh sáng báo hiệu màn đêm đến. Tác phẩm như một bức
tranh phối hai gam màu tương phản để ánh sáng không làm lu mờ bóng tối
và bóng tỗi cũng không thể che khuất ánh sáng. Không tách ra thành hai
mảng màu riêng biệt, ánh áng và bóng tối đan xen, hoà vào nhau trong bản
điệp khúc buồn man mác trên một phố huyện nghèo cùng làm nổi bật nhau
và từ đó sáng tỏ chủ để toàn tác phẩm.
Khi
miêu tả cảnh trời phố huyện cũng như cảnh đời của những con người nơi
đây, hình ảnh bóng tối bảo trùm cảnh vật và con người mà tác giả dụng
công miêu tả từ nhiều thời điểm, từ hiều góc nhìn, nhiều tâm cảnh khác
nhau. Bón tối như một ám ảnh, như môt sự hăm dọa, như một quái vật đè
nặng lên cảnh vật và con người. Tác giả nhắc đến bóng tói nhiều lần
nhưng lại ở các hình ảnh, từ ngữ khác nhau diễn tả nhiều trạng thái khác
nhau của bóng tối. Để rồi thật hãi hùng, bóng tối đang hoạt động, đâng
thâm nhập, đang len lỏi, luồn lách bám sát vào mọi cảnh vật, mọi con
người âm thầm, lặng lẽ.Nó nhấn cả miền quê vào cái màn đêm đen mênh mông
không đáy. Và bóng tối cũng chính là không gian nghệ thuật cảu tác
phẩm, không gian xã hội của con người.
Cảnh
chiều muộn được tác giả tái hiện là một bức tranh hiện thực, nơi phố
huyện nghèo xơ xác, tiêu điều hiện lên khi ánh hoáng hôn cuối cùng của
một ngày đã nhạt, mặt trơi đã khuất sau rặng tre, nhìn lên chỉ thấy khóm
tre màu den kịt trên nền trời phớt hồng. Cái bóng tối đầu tiên xuất
hiện trong truyện cũng bắt đầu từ hình ảnh dãy tre trước làng đen kịt
ấy. Ngày tàn, dãy tre làng tưởng như đã mất hết sự sống mà khoác lên
mình tấm áo choàng màu đen. Tiếng trống thu không rời rạc, lẻ tẻ và cứ
tắt lịm dần. Âm thanh nhỏ nhất như tiếng muói vo ve, gợi sự ngưng đong.
Nó rơi tõm vào khoảng không gian đang chết lặng. Không có hồi âm, nó chỉ
nhấn mạnh thêm cái buồn tẻ đến rợn người. “Phương tây đỏ rực như lửa
cháy”, và mặt trời “như hòn than sắp tàn” cũng chính là dấu hiệu cho sự
tàn lụi của ánh sáng. Bóng tối bắt đầu chiếm lĩnh theo quy luật thời
gian, tràn lan, đậm đặc và bao trùm lên mọi cảnh vật , xuất hiện trong
đôi mắt “bóng tối ngập dần đầy” của Liên. Và bóng tối ngày càng dày đặc
hơn trong bức tranh phố huyện “tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông,
con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại sẫm đen hơn nữa”, đến
những hòn đá trên đường vào làng cũng “mấp mô thêm vì những hòn đá nhỏ
một bên sáng, một bên tối”. Ánh sáng lúc này leo lét hiện ra thật tội
nghiệp từ nhà bác phở Mĩ, nhà ông Cửu, trong hiệu khách….. cảnh phố
huyện lúc chiều tối như một khúc nhạc buồn mà điệp khúc cứ lặp lại một
cái đơn điệu buồn tẻ.
Trời
nhá nhem tối và rồi dần dần đi vào màn đêm đen đặc. Không gian phố
huyện u tối và buồn thương, bóng tối bao phủ và đeo đẳng những kiếp
người nhỏ bé nơi đây. “Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con
đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẩm đen hơn nữa. Đến cả
tiếng trống cầm canh cũng không xuyên qua được bóng tối dày đặc, nó chỉ
“tung lên một tiếng ngắn khô khan không vang động ra xa, rồi chìm ngay
vào bóng tối”. Nhưng trong gam màu tối đó lại có sự điểm xuyết của vài
“hột sáng, khe sáng, quầng sáng” từ ngọn đèn của chị Tí, từ bác phở
Siêu, từ ngọn đèn của chị em Liên hòa cùng vệt sáng của những con đom
đóm. Dường như ánh sáng biết rằng mình không thể giao tranh với bóng tối
nên nó thu mình lại. Nó chỉ thu lại thôi chứ không thật sự biến
mất.Bằng chứng là vẫn còn ánh sáng đấy chứ: trên bầu trời “hàng ngàn
ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của con đom đóm bay là là
mặt đất” . Những ánh sáng hắt hiu ấy không đủ sức để xua tan bóng tối mà
càng làm cho bóng tối dày đặc hơn. Những nguồn ánh sáng yếu ớt như muốn
bị phai nhòa trong màu đen ấy,đặc biệt là ánh sáng nơi hàng nước của
chị Tí. Ánh sáng nơi phố huyện đến từ những ngọn đèn leo lét, nhỏ nhoi.
Mỗi con người, chỉ ngoài cụ Thi điên và vợ chồng bác Xẩm, mỗi người đều
có một nguồn sáng cho mình cho dù nó quá đơn sơ, không chút hi vọng. Tất
cả đều là những kiếp sống lầm than, cơ cực, tàn tạ. Qua con mắt chị
Liên, tất cả chìm vào trong đêm tối mênh mông, chỉ còn ngọn đèn của chị
Tí, cái bếp lửa của bác Siêu, ngọn đèn hoa kì vặn nhỏ của Liên, ánh sáng
đèn lồng của mấy làm công ở hiệu khách đi đón bà chủ ở tỉnh về,… tức
chỉ mấy đốm sáng tù mù, những đốm lửa nhỏ nhoi ấy không thể xua đi bóng
tối quanh họ, chẳng làm cho phố huyện sáng sủa thêm được mà chỉ càng
khiến cho đêm tối mù mịt dày đặc hơn mà thôi:Bác phở Siêu xuất hiện “một
chấm lửa nhỏ vàng và lơ lửng đi trong đêm tối mất đi lại hiện lên.” Tất
cả phố huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí. Hình ảnh
ngọn đèn nơi hàng nước chị Tí chỉ chiếu một vùng đất nhỏ ấy trở đi, trở
lại bảy lần trong tác phẩm là hình ảnh đầy ám ảnh và có sức gợi nhiều về
những kiếp sống nhỏ nhoi, lay lắt, mù tối trong đêm đen mênh mông của
cuộc đời. Ban ngày chị đi mò cua bắt tép, ban tối lại là vạc kiếm ăn
đêm, chị dọn hàng nước dưới gốc cây bàng…chả kiếm được bao nhiêu nhưng
chiều nào chị cũng dọn hàng từ chập tối cho đến đêm. Mẹ con chị là điển
hình nhất cho cuộc sống leo lét, ngoi ngóp ở phố huyện này. Ngọn đèn leo
lét của chị như một biểu tượng cho hi vọng của những con người cơ cực
nghèo khổ nơi đây .Hiếm có tác phẩm nào trong văn học mô tả bóng tối dày
đặc như hai đứa trẻ của Thạch Lam.
“Con
tàu như đem một chút thế giới khác đi qua,. Một thế giới khác hẳn các
vầng sáng của ngọn đèn chị Tí và ánh lửa bác Siêu.” Ánh sáng của đoàn
tàu là ánh sáng rực rỡ nhất, mạnh mẽ nhất nhưng nó chỉ vụt loé lên,
nhanh như một ngôi sao băng vút qua bầu trời… “các toa đèn sáng
trưng,sang trọng, lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, cửa kính
sáng, những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt”.ánh sáng đó bừng lên
rực rỡ, sáng cả không gian và cả tâm hồn con người giữa màn đêm tối tăm
rồi vụt qua để lại sau nó cái tĩnh lặng và đen tối. Ánh sáng từ con tàu,
và ánh sáng chói loà trong tiềm thức của Liên, rực sáng lên giữa khung
cảnh bóng đêm tĩnh mịch bởi lẽ nó là ánh sáng của ước mơ đã thắp sáng cả
tâm hồn Liên đã bị bóng tối lấp đầy dù chỉ trong giây phút, bởi lẽ nó
là quá khứ, là thực cảnh mà Liên đã từng được sống, từng cảm nhận.Và
trong tâm hồn của Liên cũng có một sự tương phản giữa cuộc sống thực
tại và quá khứ êm đềm. Quá khứ là một niềm vui khi “chị được hưởng những
thức quà ngon, lạ”, được “đi chơi Bờ Hồ uống những cốc nước lạnh xanh
đỏ”, là hạnh phúc, là một cuộc sống ấm êm mà những đứa trẻ xứng đáng
được có. Nhưng không, thực tại của Liên chỉ là cái buồn trong đôi mắt
chị, Liên phải trông cửa hàng giúp mẹ ở một phố huyện nghèo, chịu đựng
cuộc sống buồn tẻ và ảm đạm cứ lặp lại hằng ngày. Sự tương phản như làm
bật lên sự nuối tiếc về những tháng ngày đã qua, về một ký ức đầy ánh
sáng, và đó cũng là niềm mơ ước, khát khao của Liên cho một cuộc sống
tốt đẹp hơn.
Bức
tranh phố huyện mà bóng tối đang dần bước lên ngôi lãnh chúa thì cái
bầu trời bao la và mặt đất cũng có sự đối lập. Mặt đất sau buổi chợ tàn
chỉ còn lại “một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng, lẫn mùi cát bụi”, “rác
rưởi, vỏ bưởi,vỏ thị, lá nhãn, lá mía” và con người cũng ”cúi lom khom,
nhặt nhạnh thanh nứa thanh tre hay bất cứ thứ gì có thể dùng được”.
dường như ẩn chứa đâu đó còn có sự đau khổ của các kiếp người vất vưởng:
cái buồn buồn của Liên, cuộc đời vất vả của chị Tý,của bác phở
Siêu,cuộc sống đáng thương của cụ Thy điên. Còn bầu trời thì khác. Nó đỏ
rực lúc chiều tà, đến đêm thì thăm thẳm, “hàng ngàn ngôi sao ganh nhau
lấp lánh”. Đẹp thật! nhưng con người ở mặt đất chỉ được chiêm ngưỡng chứ
không chạm tới được.ánh sáng lung linh ấy là của riêng nó, nó luôn điềm
nhiên với những ngôi sao lấp lánh ấy. Mặt đất là thực tại, là cái mà
con người nơi đây phải đối mặt hàng ngày, còn ánh sáng bầu trời chỉ là
những ước mơ xa vời của họ.
Trong
suốt thiên truyện bóng tối và ánh sáng tồn tại song song nhau. Bóng tối
thuộc về thiên nhiên, thuộc về cuộc đời và số phận của con người nơi
đây. Tuy nó bao trùm mọi vật, to lớn khổng lồ và đáng sợ nhưng vẫn không
đủ để dập tắt ánh sáng - cái thuộc về con người, thuộc về những khát
khao, mơ ước của tâm hồn họ. Nhỏ nhoi thôi, yếu ớt le lói thôi nhưng
cũng đủ để xuyên tạc bóng tối, đủ để làm bừng sáng tâm hồn con người nơi
phố huyện nhỏ này, đó là những lúc chúng lóe sáng, bừng lên để rồi “xa
xa mãi,khuất sau rặng tre”. Tất cả họ - những kiếp người lầm than nghèo
khổ - đều xuất hiện trong bóng tối, hiện lên trong ánh sáng mờ, sắp lụi
tàn, dập tắt. Tuy sống trong hoàn cảnh khổ cực tuy chịu nhiều khó khăn
nhưng chị Tí, vợ chống bác Xẩm, bác phở Siêu…vẫn không hề bị luỵ ngã. Họ
vẫn khao khát, vẫn mơ ước đến một tương lai tươi sáng. Qua đây, tác giả
sử dụng bút pháp tương phản rất thành công gợi cho độc giả nổi buồn đầy
thương cảm. Ở đây cũng cho ta hiểu được tấm lòng thương cảm sâu xa của
Thạch Lam đối với những kiếp sống tối tăm, mòn mỏi trong bóng tối mờ
mịt, ánh sáng thì chỉ mập mờ, loe lói mà thôi. Qua đó phản ánh toàn bộ
bộ mặt xã hội Việt Nam. Trong bức tranh phố huyện bóng tối và ánh sáng
trộn lẫn vào nhau, đó là một Xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến
thu nhỏ lúc bấy giờ. Câu chuyện như một nỗi day dứt về kiếp người, kiếp
đời. Tác giả đã gióng lên một hồi chuông thức tình bao con người đang
luẩn quẩn trong nghèo đói, lầm than. Việc cần làm ngay bây giờ là thay
đồi xã hội, thức tỉnh những con người sắp gục ngã trong đêm tối.
Bức
tranh phố huyện được ghép nên từ những mảnh ghép của cuộc sống nhưng
cũng thật thiếu sót nếu bỏ qua sự tương phản của âm thanh. Phố huyện
nghèo và âm thanh trong bức tranh đó nghe cũng não nề như vậy. Tiếng
trống thu không “ từng tiếng một vang ra” báo hiệu cho buổi chiều, một
chiều “êm ả như ru” hòa cùng tiếng “ếch nhái kêu vang ngoài đồng ruộng”
và tiếng muỗi vo ve. Một âm thanh gợi cái hồn muôn thuở của làng quê,
nghe sao buồn, đìu hiu và ảm đạm gợi cho người đọc một cảm giác man mác,
bâng khuâng. Đối lập với âm thanh tẻ nhạt đó là tiếng rầm rộ của đoàn
tàu, một hoạt đông cuối cùng của đêm khuya. “hai chị em nghe thấy tiếng
dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi”, “tiếng hành khách ồn ào khe khẽ”, “
tiếng còi đã rít lên và đoàn tàu rầm rộ đi tới”. nhưng âm thanh rầm rộ
ấy cũng chỉ xua đi khoảnh khắc vắng lặng của phố huyện rồi vụt đi mất,
khuất sau rặng tre và phố huyện lại tiếp tục tràn ngập trong bóng tối và
tĩnh lặng.
“Hai
đứa trẻ” như một bài thơ trữ tình đượm buồn về kiếp người cơ cực sống
trong bóng tối. Với việc sử dụng nghệ thuật tương phản đối lập đặc sắc,
Thạch lam đã làm nổi bật lên sự héo mòn của những con người nơi phố
huyện. Người xưa lấy tĩnh tả động, còn Thạch Lam dùng bóng tối để tả ánh
sáng,đây cũng là một trong những nét đặc sắc trong phong cách nghệ
thuật của ông .Qua đó, cũng bộc lộ rõ tinh thần nhân đạo của nhà văn,
thể hiện cái tài, cái tâm của người cầm bút, tạo nên vẻ đẹp nhẹ nhàng,
đầy thi vị cho tác phẩm. Dù trải qua hơn nửa thế kỷ nhưng “hai đứa trẻ”
vẫn vượt qua được lớp bụi của thời gian để trở thành một tác phẩm không
thể thiếu trong nền văn học hiện đại, và cũng để lại thật nhiều dư vị
trong lòng người đọc.
Thạch Lam là một cây bút có khuynh hướng lãng mạn. Khi
những nhà văn khác thì thiên về tầng lớp trên xã hội còn Thạch Lam lại
viết về những con người nhỏ bé, nghèo khổ, sống trong bóng tối. Họ
thường nép mình trong bóng tối của một không gian hẹp : phố huyện tiêu
điều xơ xác hoặc những xóm nghèo ngoại ô Hà Nội,… mà không dám nhìn về
tương lai, mang nặng một mặc cảm trong lòng khi nghĩ về mai sau.Ông lặng
lẽ hướng ngòi bút của mình về phía họ với tấm lòng trắc ẩn chân
thành.Văn Thạch Lam nhẹ nhàng với lối quan sát độc đáo và phân tích tâm
lí tinh tế. Truyện của Thạch Lam không có cốt truyện, ít hành động, ít
sự kiện, nhưng đầy ắp những tâm trạng bâng khuâng. Nó có chiều sâu hun
hút, chiều sâu của cuộc sống, chiều sâu của lòng người và chiều sâu của
mộng mơ, ước vọng. Mỗi câu chuyện là một bài thơ trữ tình đầy xót
thương. “Hai đứa trẻ” là đặc trưng của hồn văn Thạch Lam được trích
trong tập “Nắng trong vườn” là một truyện ngắn rất hay, thắm đẫm tinh
thần nhân đạo. Đây là một minh chứng điển hình cho phong cách nghệ thuật
của Thạch Lam. Trong đó nghệ thuật tương phản được sử dụng như một nghệ
thuật nòng cốt mang đến sự thành công cho tác phẩm.
Truyện
“Hai đứa trẻ” được vẽ lên bởi ba khung cảnh liên hoàn từ lúc chiều tàn
đến nửa đêm. Trong những bức tranh nhạt nhòa và xám xịt ấy là những hình
ảnh về kiếp người đói nghèo sống dật dờ giữa một ao đời tù đọng, phẳng
lặng. Truyện có không gian ở phố huyện nghèo, hai chị em Liên và An
thường ngồi đợi chuyến tàu đêm đi ngang qua phố huyện và cảm nhận những
sự việc đang diễn ra xung quanh mình.
Tuy
truyện chỉ có tình huống như vậy nhưng qua tài năng của Thạch Lam,
những chi tiết ấy thật sống động và gợi rất nhiều cảm xúc trong lòng
người đọc. Thủ pháp tương phản đã góp phần không nhỏ trong thành công
này. Sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối cụ thể là giữa bầu trời và mặt
đất, giữa cái âm thanh buồn bã của phố huyện và âm thanh của đoàn tàu
rầm rộ đi qua, sự tương phản giữa cuộc sống thực tại và quá khứ êm đềm
trong dòng mơ tưởng của Liên, giữa hoàn cảnh cuộc sống và tính cách nhân
vật qua từng trang viết…
Mọi
vật trên trái đất này đều cần đến ánh sáng, nhưng mặt trời thiên nhiên
chỉ ban tặng chúng ta một nửa thời gian có ánh sáng, còn lại phải chìm
ngập trong bóng tối. Có thể thấy xung đột giữa bóng tối và ánh sáng
trong truyện khá mạnh mẽ. Ánh sáng và bóng tối đang giao tranh nhau. Mở
đầu truyện ánh sáng yếu dần, sau đó là bóng tối hiện lên rồi bao trùm
lên tất cả. Chính ánh sáng báo hiệu màn đêm đến. Tác phẩm như một bức
tranh phối hai gam màu tương phản để ánh sáng không làm lu mờ bóng tối
và bóng tỗi cũng không thể che khuất ánh sáng. Không tách ra thành hai
mảng màu riêng biệt, ánh áng và bóng tối đan xen, hoà vào nhau trong bản
điệp khúc buồn man mác trên một phố huyện nghèo cùng làm nổi bật nhau
và từ đó sáng tỏ chủ để toàn tác phẩm.
Khi
miêu tả cảnh trời phố huyện cũng như cảnh đời của những con người nơi
đây, hình ảnh bóng tối bảo trùm cảnh vật và con người mà tác giả dụng
công miêu tả từ nhiều thời điểm, từ hiều góc nhìn, nhiều tâm cảnh khác
nhau. Bón tối như một ám ảnh, như môt sự hăm dọa, như một quái vật đè
nặng lên cảnh vật và con người. Tác giả nhắc đến bóng tói nhiều lần
nhưng lại ở các hình ảnh, từ ngữ khác nhau diễn tả nhiều trạng thái khác
nhau của bóng tối. Để rồi thật hãi hùng, bóng tối đang hoạt động, đâng
thâm nhập, đang len lỏi, luồn lách bám sát vào mọi cảnh vật, mọi con
người âm thầm, lặng lẽ.Nó nhấn cả miền quê vào cái màn đêm đen mênh mông
không đáy. Và bóng tối cũng chính là không gian nghệ thuật cảu tác
phẩm, không gian xã hội của con người.
Cảnh
chiều muộn được tác giả tái hiện là một bức tranh hiện thực, nơi phố
huyện nghèo xơ xác, tiêu điều hiện lên khi ánh hoáng hôn cuối cùng của
một ngày đã nhạt, mặt trơi đã khuất sau rặng tre, nhìn lên chỉ thấy khóm
tre màu den kịt trên nền trời phớt hồng. Cái bóng tối đầu tiên xuất
hiện trong truyện cũng bắt đầu từ hình ảnh dãy tre trước làng đen kịt
ấy. Ngày tàn, dãy tre làng tưởng như đã mất hết sự sống mà khoác lên
mình tấm áo choàng màu đen. Tiếng trống thu không rời rạc, lẻ tẻ và cứ
tắt lịm dần. Âm thanh nhỏ nhất như tiếng muói vo ve, gợi sự ngưng đong.
Nó rơi tõm vào khoảng không gian đang chết lặng. Không có hồi âm, nó chỉ
nhấn mạnh thêm cái buồn tẻ đến rợn người. “Phương tây đỏ rực như lửa
cháy”, và mặt trời “như hòn than sắp tàn” cũng chính là dấu hiệu cho sự
tàn lụi của ánh sáng. Bóng tối bắt đầu chiếm lĩnh theo quy luật thời
gian, tràn lan, đậm đặc và bao trùm lên mọi cảnh vật , xuất hiện trong
đôi mắt “bóng tối ngập dần đầy” của Liên. Và bóng tối ngày càng dày đặc
hơn trong bức tranh phố huyện “tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông,
con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại sẫm đen hơn nữa”, đến
những hòn đá trên đường vào làng cũng “mấp mô thêm vì những hòn đá nhỏ
một bên sáng, một bên tối”. Ánh sáng lúc này leo lét hiện ra thật tội
nghiệp từ nhà bác phở Mĩ, nhà ông Cửu, trong hiệu khách….. cảnh phố
huyện lúc chiều tối như một khúc nhạc buồn mà điệp khúc cứ lặp lại một
cái đơn điệu buồn tẻ.
Trời
nhá nhem tối và rồi dần dần đi vào màn đêm đen đặc. Không gian phố
huyện u tối và buồn thương, bóng tối bao phủ và đeo đẳng những kiếp
người nhỏ bé nơi đây. “Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con
đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẩm đen hơn nữa. Đến cả
tiếng trống cầm canh cũng không xuyên qua được bóng tối dày đặc, nó chỉ
“tung lên một tiếng ngắn khô khan không vang động ra xa, rồi chìm ngay
vào bóng tối”. Nhưng trong gam màu tối đó lại có sự điểm xuyết của vài
“hột sáng, khe sáng, quầng sáng” từ ngọn đèn của chị Tí, từ bác phở
Siêu, từ ngọn đèn của chị em Liên hòa cùng vệt sáng của những con đom
đóm. Dường như ánh sáng biết rằng mình không thể giao tranh với bóng tối
nên nó thu mình lại. Nó chỉ thu lại thôi chứ không thật sự biến
mất.Bằng chứng là vẫn còn ánh sáng đấy chứ: trên bầu trời “hàng ngàn
ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của con đom đóm bay là là
mặt đất” . Những ánh sáng hắt hiu ấy không đủ sức để xua tan bóng tối mà
càng làm cho bóng tối dày đặc hơn. Những nguồn ánh sáng yếu ớt như muốn
bị phai nhòa trong màu đen ấy,đặc biệt là ánh sáng nơi hàng nước của
chị Tí. Ánh sáng nơi phố huyện đến từ những ngọn đèn leo lét, nhỏ nhoi.
Mỗi con người, chỉ ngoài cụ Thi điên và vợ chồng bác Xẩm, mỗi người đều
có một nguồn sáng cho mình cho dù nó quá đơn sơ, không chút hi vọng. Tất
cả đều là những kiếp sống lầm than, cơ cực, tàn tạ. Qua con mắt chị
Liên, tất cả chìm vào trong đêm tối mênh mông, chỉ còn ngọn đèn của chị
Tí, cái bếp lửa của bác Siêu, ngọn đèn hoa kì vặn nhỏ của Liên, ánh sáng
đèn lồng của mấy làm công ở hiệu khách đi đón bà chủ ở tỉnh về,… tức
chỉ mấy đốm sáng tù mù, những đốm lửa nhỏ nhoi ấy không thể xua đi bóng
tối quanh họ, chẳng làm cho phố huyện sáng sủa thêm được mà chỉ càng
khiến cho đêm tối mù mịt dày đặc hơn mà thôi:Bác phở Siêu xuất hiện “một
chấm lửa nhỏ vàng và lơ lửng đi trong đêm tối mất đi lại hiện lên.” Tất
cả phố huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí. Hình ảnh
ngọn đèn nơi hàng nước chị Tí chỉ chiếu một vùng đất nhỏ ấy trở đi, trở
lại bảy lần trong tác phẩm là hình ảnh đầy ám ảnh và có sức gợi nhiều về
những kiếp sống nhỏ nhoi, lay lắt, mù tối trong đêm đen mênh mông của
cuộc đời. Ban ngày chị đi mò cua bắt tép, ban tối lại là vạc kiếm ăn
đêm, chị dọn hàng nước dưới gốc cây bàng…chả kiếm được bao nhiêu nhưng
chiều nào chị cũng dọn hàng từ chập tối cho đến đêm. Mẹ con chị là điển
hình nhất cho cuộc sống leo lét, ngoi ngóp ở phố huyện này. Ngọn đèn leo
lét của chị như một biểu tượng cho hi vọng của những con người cơ cực
nghèo khổ nơi đây .Hiếm có tác phẩm nào trong văn học mô tả bóng tối dày
đặc như hai đứa trẻ của Thạch Lam.
“Con
tàu như đem một chút thế giới khác đi qua,. Một thế giới khác hẳn các
vầng sáng của ngọn đèn chị Tí và ánh lửa bác Siêu.” Ánh sáng của đoàn
tàu là ánh sáng rực rỡ nhất, mạnh mẽ nhất nhưng nó chỉ vụt loé lên,
nhanh như một ngôi sao băng vút qua bầu trời… “các toa đèn sáng
trưng,sang trọng, lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, cửa kính
sáng, những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt”.ánh sáng đó bừng lên
rực rỡ, sáng cả không gian và cả tâm hồn con người giữa màn đêm tối tăm
rồi vụt qua để lại sau nó cái tĩnh lặng và đen tối. Ánh sáng từ con tàu,
và ánh sáng chói loà trong tiềm thức của Liên, rực sáng lên giữa khung
cảnh bóng đêm tĩnh mịch bởi lẽ nó là ánh sáng của ước mơ đã thắp sáng cả
tâm hồn Liên đã bị bóng tối lấp đầy dù chỉ trong giây phút, bởi lẽ nó
là quá khứ, là thực cảnh mà Liên đã từng được sống, từng cảm nhận.Và
trong tâm hồn của Liên cũng có một sự tương phản giữa cuộc sống thực
tại và quá khứ êm đềm. Quá khứ là một niềm vui khi “chị được hưởng những
thức quà ngon, lạ”, được “đi chơi Bờ Hồ uống những cốc nước lạnh xanh
đỏ”, là hạnh phúc, là một cuộc sống ấm êm mà những đứa trẻ xứng đáng
được có. Nhưng không, thực tại của Liên chỉ là cái buồn trong đôi mắt
chị, Liên phải trông cửa hàng giúp mẹ ở một phố huyện nghèo, chịu đựng
cuộc sống buồn tẻ và ảm đạm cứ lặp lại hằng ngày. Sự tương phản như làm
bật lên sự nuối tiếc về những tháng ngày đã qua, về một ký ức đầy ánh
sáng, và đó cũng là niềm mơ ước, khát khao của Liên cho một cuộc sống
tốt đẹp hơn.
Bức
tranh phố huyện mà bóng tối đang dần bước lên ngôi lãnh chúa thì cái
bầu trời bao la và mặt đất cũng có sự đối lập. Mặt đất sau buổi chợ tàn
chỉ còn lại “một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng, lẫn mùi cát bụi”, “rác
rưởi, vỏ bưởi,vỏ thị, lá nhãn, lá mía” và con người cũng ”cúi lom khom,
nhặt nhạnh thanh nứa thanh tre hay bất cứ thứ gì có thể dùng được”.
dường như ẩn chứa đâu đó còn có sự đau khổ của các kiếp người vất vưởng:
cái buồn buồn của Liên, cuộc đời vất vả của chị Tý,của bác phở
Siêu,cuộc sống đáng thương của cụ Thy điên. Còn bầu trời thì khác. Nó đỏ
rực lúc chiều tà, đến đêm thì thăm thẳm, “hàng ngàn ngôi sao ganh nhau
lấp lánh”. Đẹp thật! nhưng con người ở mặt đất chỉ được chiêm ngưỡng chứ
không chạm tới được.ánh sáng lung linh ấy là của riêng nó, nó luôn điềm
nhiên với những ngôi sao lấp lánh ấy. Mặt đất là thực tại, là cái mà
con người nơi đây phải đối mặt hàng ngày, còn ánh sáng bầu trời chỉ là
những ước mơ xa vời của họ.
Trong
suốt thiên truyện bóng tối và ánh sáng tồn tại song song nhau. Bóng tối
thuộc về thiên nhiên, thuộc về cuộc đời và số phận của con người nơi
đây. Tuy nó bao trùm mọi vật, to lớn khổng lồ và đáng sợ nhưng vẫn không
đủ để dập tắt ánh sáng - cái thuộc về con người, thuộc về những khát
khao, mơ ước của tâm hồn họ. Nhỏ nhoi thôi, yếu ớt le lói thôi nhưng
cũng đủ để xuyên tạc bóng tối, đủ để làm bừng sáng tâm hồn con người nơi
phố huyện nhỏ này, đó là những lúc chúng lóe sáng, bừng lên để rồi “xa
xa mãi,khuất sau rặng tre”. Tất cả họ - những kiếp người lầm than nghèo
khổ - đều xuất hiện trong bóng tối, hiện lên trong ánh sáng mờ, sắp lụi
tàn, dập tắt. Tuy sống trong hoàn cảnh khổ cực tuy chịu nhiều khó khăn
nhưng chị Tí, vợ chống bác Xẩm, bác phở Siêu…vẫn không hề bị luỵ ngã. Họ
vẫn khao khát, vẫn mơ ước đến một tương lai tươi sáng. Qua đây, tác giả
sử dụng bút pháp tương phản rất thành công gợi cho độc giả nổi buồn đầy
thương cảm. Ở đây cũng cho ta hiểu được tấm lòng thương cảm sâu xa của
Thạch Lam đối với những kiếp sống tối tăm, mòn mỏi trong bóng tối mờ
mịt, ánh sáng thì chỉ mập mờ, loe lói mà thôi. Qua đó phản ánh toàn bộ
bộ mặt xã hội Việt Nam. Trong bức tranh phố huyện bóng tối và ánh sáng
trộn lẫn vào nhau, đó là một Xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến
thu nhỏ lúc bấy giờ. Câu chuyện như một nỗi day dứt về kiếp người, kiếp
đời. Tác giả đã gióng lên một hồi chuông thức tình bao con người đang
luẩn quẩn trong nghèo đói, lầm than. Việc cần làm ngay bây giờ là thay
đồi xã hội, thức tỉnh những con người sắp gục ngã trong đêm tối.
Bức
tranh phố huyện được ghép nên từ những mảnh ghép của cuộc sống nhưng
cũng thật thiếu sót nếu bỏ qua sự tương phản của âm thanh. Phố huyện
nghèo và âm thanh trong bức tranh đó nghe cũng não nề như vậy. Tiếng
trống thu không “ từng tiếng một vang ra” báo hiệu cho buổi chiều, một
chiều “êm ả như ru” hòa cùng tiếng “ếch nhái kêu vang ngoài đồng ruộng”
và tiếng muỗi vo ve. Một âm thanh gợi cái hồn muôn thuở của làng quê,
nghe sao buồn, đìu hiu và ảm đạm gợi cho người đọc một cảm giác man mác,
bâng khuâng. Đối lập với âm thanh tẻ nhạt đó là tiếng rầm rộ của đoàn
tàu, một hoạt đông cuối cùng của đêm khuya. “hai chị em nghe thấy tiếng
dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi”, “tiếng hành khách ồn ào khe khẽ”, “
tiếng còi đã rít lên và đoàn tàu rầm rộ đi tới”. nhưng âm thanh rầm rộ
ấy cũng chỉ xua đi khoảnh khắc vắng lặng của phố huyện rồi vụt đi mất,
khuất sau rặng tre và phố huyện lại tiếp tục tràn ngập trong bóng tối và
tĩnh lặng.
“Hai
đứa trẻ” như một bài thơ trữ tình đượm buồn về kiếp người cơ cực sống
trong bóng tối. Với việc sử dụng nghệ thuật tương phản đối lập đặc sắc,
Thạch lam đã làm nổi bật lên sự héo mòn của những con người nơi phố
huyện. Người xưa lấy tĩnh tả động, còn Thạch Lam dùng bóng tối để tả ánh
sáng,đây cũng là một trong những nét đặc sắc trong phong cách nghệ
thuật của ông .Qua đó, cũng bộc lộ rõ tinh thần nhân đạo của nhà văn,
thể hiện cái tài, cái tâm của người cầm bút, tạo nên vẻ đẹp nhẹ nhàng,
đầy thi vị cho tác phẩm. Dù trải qua hơn nửa thế kỷ nhưng “hai đứa trẻ”
vẫn vượt qua được lớp bụi của thời gian để trở thành một tác phẩm không
thể thiếu trong nền văn học hiện đại, và cũng để lại thật nhiều dư vị
trong lòng người đọc.CHÚC BẠN HỌC TỐT MÔN VĂN.