|
|
giải đáp
|
cả nhà giúp hộ câu này nha....
|
|
|
|
Ý nghĩa nhan đề câu truyện "Số phận con người" (Tham khảo) - Khẳng định số phận cá nhân nhỏ bé trong cơn bảo táp chiến tranh. Hình ảnh bé Vania cũng như cuộc đời Xôcôlốp được tác giả miêu tả một
cách chân thật cảm động thể hiện nhiệt tình tố cáo thảm họa chiến tranh,
mô tả chiến tranh trong bộ mặt thật của nó. - Câu chuyện chủ yếu nói về số phận của Xôcôlốp. Nhân vật Xôcôlốp là một con người Nga chân chính, tiêu biểu cho khí
phách anh hùng của người lính Xô viết trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ
đại và phải chịu nhiều mất mát đau thương. - Qua nhân vật Xôlôlốp, tác giả đã khám phá chiều sâu tính cách Nga bình dị và nhân ái. - Truyện “Số phận con người” có kết cấu “truyện lồng trong truyện” đã
tô đậm những đau khổ, những phẩm chất cao đẹp của nhân vật Xôcôlốp, khắc
họa đậm nét tính cách và tâm hồn Nga, đem đến cho người đọc nhiều xúc
động thấm thía về số phận con người trong chiến tranh và thời hậu chiến.
|
|
|
|
giải đáp
|
Mọi người phân tích giúp e nhân vật bà cụ Tứ với a?
|
|
|
|
ĐA:
1. Mở bài - Giới thiệu tác giả, tác phẩm - Dẫn dắt vào nhân vật bà cụ Tứ 2. Thân bài a. Giới thiệu khái quát nhân vật
Bà cụ Tứ là người dân ngụ cư, nghèo khổ, góa bụa, ở vậy nuôi con, chịu
nhiều đắng cay, cơ cực. Bà xuất hiện trong bóng chiều hôm chạng vạng tê
tái với hình ảnh "lọng khọng từ ngoài ngõ vào vừa đi vừa lầm bầm tính
toán gì trong miệng". Bà cũng như bao người mẹ Việt Nam khác rất mực yêu
thương con cái. b. Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật * Lúc đầu bà ngạc nhiên
- Thấy Tràng "reo lên như một đứa trẻ", vồn vã khác thường khi thấy mẹ,
tâm trạng bà cụ Tứ cũng trở nên "phấp phỏng": Có cái gì đó bất thường
đang chờ đợi bà. Đầu tiên là tâm trạng ngạc nhiên: Ngạc nhiên đến nỗi bà
phải " đứng sững lại". Bởi căn nhà xưa nay chỉ có bà và Tr nay lại thấy
xuất hiện một người đàn bà xa lạ. Vì thế hàng loạt những câu hỏi luẩn
quẩn trong đầu bà: "Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ?
Người đàn bà nào đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại
chào mình bằng u? Không phải con cái Đục mà. Ai thế nhỉ?". Vì ngạc
nhiên, phân vân nên bước chân của bà lão cũng "lập cập". Khi đã vào
trong nhà, Bà cụ Tứ lại càng ngạc nhiên hơn khi nghe thấy tiếng người
đàn bà xa lạ chào mình bằng u. * Khi hiểu ra bà tủi phận.
- Khi nghe Tràng phân trần, cắt nghĩa: "Nhà tôi nó mới về làm bạn
với tôi đấy u ạ", bà cụ mới hiểu. "Bà lão cúi đầu nín lặng". Một sự im
lặng chất chứa biết bao suy nghĩ. "Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo
khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho
số kiếp đứa con mình". Một nỗi tủi hờn, xót thương trào lên trong lòng
bà cụ Tứ "Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc ăn nên làm
nổi những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này...Còn mình thì...". Đằng
sau lời độc thoại bỏ lửng đó người đọc có thể thấy được nỗi cay đắng của
bà đang dâng lên tột đỉnh và người mẹ nghèo khổ ấy đã khóc " Trong kẽ
mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt...". * Bà
lo lắng: Thương con nên lo lắng cho con: "Biết rằng chúng nó có nuôi nổi
nhau sống qua được cơn đói khát này không". Suy nghĩ này của bà cụ Tứ
chứng tỏ bà đang rất lo lắng cho tương lai của hai con. Cũng chứng tỏ sự
ám ảnh về nạn đói ấy thật khủng khiếp. *Từ tủi phận và lo
lắng bà lão chuyển sang tâm trạng vừa vui mừng vừa thương xót anh con
trai và người vợ nhặt. Vui mừng vì con có hạnh phúc, xót thương vì sự
thật quá phũ phàng. Bà thở dài nhìn người đàn bà đang vân vê tà áo đã
rách bợt nay đã là dâu con của bà. Càng nhìn bà càng thương thị lại
càng thương con mình "Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ người ta
mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ. May ra mà qua được cái
tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó". -
Sau khi khẽ dặng hắng một tiếng, bà lão ôn tồn, "nhẹ nhàng" nói với
nàng dâu: "Ừ thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng
mừng lòng..." . Ngôn ngữ của bà lão nhẹ nhàng, cái nhìn của bà với nàng
dâu đầy cảm thông. Tất cả xuất phát từ tình yêu thương con người của
bà lão. Lời nói ấy làm anh Tràng nhẹ nhõm và cũng đã trả lại danh dự cho
người đàn bà là mang tiếng "theo trai". * Bà lão chợt nhớ
ra cái bổn phận mẹ chồng. Thế là bà lão bắt đầu nói với 2 vợ chồng, bà
dặn dò các con "Nhà ta thì nghèo con ạ! Vợ chồng chúng mày liệu bảo nhau
mà làm ăn". Bà ấp ủ và hướng hai con vào niềm tin tưởng ở tương lai
phía trước với triết lí dân gian gần gũi "Rồi may ra ông giời cho
khá...Biết thế nào hở con, ai giầu ba họ, ai khó ba đời". Điều này chứng
tỏ bà là một bà mẹ chu toàn. Đây chính là niềm lạc quan hy vọng đổi
đời. * Vì thương con bà lại ám ảnh chuyện cũ: "Bà lão thở
nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão , nghĩ đến đứa con gái út,
nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy
nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?". * Song
nổi bật hơn cả vẫn là tấm lòng thương yêu của bà cụ Tứ: Bà lão, nhìn
người đàn bà, lòng đầy xót thương. Và cũng như biết bao bà mẹ nhân từ
khác, bà cụ Tứ những mong con dâu mình hoà thuận. Bà an ủi đôi vợ chống
son "Kể có được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo cũng chẳng
ai người ta chấp nhặt chi lúc này. Cốt làm sao chúng mày hoà thuận là u
mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy, chúng mày lấy nhau lúc này u thương
quá". Bà cụ Tứ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ cháy xuống ròng
ròng. Những giọt nước mắt xót xa, tủi nhục ấy, người vô tâm như Tràng
làm sao có thể hiểu nổi. * Sáng hôm sau: Bà cụ Tứ thật khác
với ngày hôm qua. Người đọc thấy bà "nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày
thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên". Cùng với nàng
đâu, bà cụ xăm xắn thu dọn; quét tước nhà cửa. Người mẹ từng trải và
nhân hậu ấy đã bằng mọi cách nhen nhóm một niềm vui, niềm hi vọng cho
dâu con của mình. Bà cụ nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về
sau này. Bà dặn Tràng nuôi gà để "Chẳng mấy chốc có ngay đàn gà cho mà
xem". Bà cố gắng tạo niềm vui bằng nồi chè cám, nồi chè bà đã dành
dụm chắt chiu để hôm nay mới có dịp đãi con. Tuy không ai nuốt nổi
nhưng chắc chắn rằng không ít người đọc đã chảy nước mắt trước tấm lòng
cao thượng ấy của người mẹ nông dân nghèo khổ. 3. Kết luận
Bà cụ Tứ là hình ảnh điển hình về một người mẹ nghèo khổ nông dân Việt
Nam với phẩm chất cao đẹp: thương con và giầu đức hy sinh, hiểu biết ,
lạc quan. Nhân vật mẹ Tứ thấm đượm tình cảm nhân đạo sâu xa vốn có trong
truyền thống dân tộc. Và là một sáng tạo xuất sắc của KL. Khắc họa hình
tượng nhân vật bà cụ Tứ, KL đã sử dụng một ngòi bút trong sáng, chọn
lọc để miêu tả tỷ mỉ, chân thực tấm lòng vừa trắc ẩn, vừa bao dung của
một người mẹ nông thôn VN.
|
|
|
|
giải đáp
|
Rừng xà nu?
|
|
|
|
Em tham khảo ĐA này:
- Nhan đề Rừng xà nu gắn với hình tượng xà nu. Có thể nói hình tượng
xà nu là mô típ chủ đạo của tác phẩm, đóng vai trò "chủ âm" cho khúc ca
hùng tráng về dân làng Xô Man. - Hình ảnh rừng xà nu tạo nên cái phông nền vời vợi chất thơ hùng tráng đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên. - Hình ảnh rừng xà nu là biểu tượng cho cuộc sống đau thương và
phẩm chất ngoan cường bất khuất của nhân dân làng Xô Man.
|
|
|
|
giải đáp
|
Em muốn hỏi về đề nghị luận xã hội: Sự quan tâm
|
|
|
|
Em tham khảo bài này nhe!
Ngày
nay, xã hội đang trong thời kì hội nhập và phát triển, cuốn theo ấy là
bao sự đổi thay khác trước, từ nhịp sống bộn bề, bon chen cho đến những
truyền thống, đạo lí, làm người cũng bị xoay vần. Trong xã hội ấy, con
người hầu như đã trở nên vô tình với cuộc sống của người khác, để "mạnh
ai nấy lo, phải ai tai nấy". Nhưng cuộc sống vốn không có gì là tuyệt
đối bởi vậy bên cạnh ấy cũng đang có hàng triệu trái tim đã cất lên
tiếng nói yêu thương, đang lắng mình để nhìn quanh, đồng cảm và sẻ chia
với những đồng loại còn khổ đau, bất hạnh của mình, để phát huy những
truyền thống tốt đẹp mà xưa nay cha ông ta vẫn luôn gìn giữ. Một nhà
văn Nga đã từng nói :"Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi
không có tình thương". Đã là con người sống không có tình thương thì
chẳng khác gì thú vật, cũng chẳng khác chi một cái xác không hồn, tồn
tại giữa dòng đời một cách vô nghĩa và sẽ chết dần chết mòn trong cô
đơn, lạnh lẽo. Người đời cũng có câu :"Sống là cho đâu chỉ nhận riêng
mình"- bởi vậy cho và nhận đã trở thành quy luật của cuộc sống, làm
người phải có qua, có lại, tồn tại giữa tập thể, cộng đồng chúng ta
không thể chỉ biết có mình. Cuộc sống ngày nay đã đổi thay so với lúc
trước, nhưng cuộc sống vật chất có thể đổi thay nhưng tình người thì
không thể nào thay đổi được. Từ thuở khai thiên lập địa, khi con
người còn sống trong cảnh phó thác số phận của mình cho thiên nhiên, khi
hai chữ "văn minh" chưa được định thành hình thù rõ nét trong trí óc
của con người thì cha ông ta đã biết đến hai chữ "tình người", đã biết
đến cái "nghĩa vụ" của người đối với người. Sống vị tha dường như trở
thành bản chất của loài người, để từ đó luôn nhắc nhở nhau: "nhiễu điều
phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng", hay "Một
con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ". Vậy thì tại sao chúng ta- những lớp con
cháu đi sau, đã và đang sống trong thời kì mà "văn minh" đang nở rộ, bao
nhiêu thuyết lí đẹp đẽ ra đời- không cố mà phát huy những nét đẹp ấy
của cha ông. Dù đang phát triển nhưng "đất nước ta vẫn còn nghèo,
dân ta còn đói khổ, không bào ta không phải ai cũng có cơm ăn, áo mặc,
ai cũng được học hành", bên cạnh những tòa nhà cao ốc, những ngôi biệt
thự đẹp đẽ với đủ đầy tiện nghi thì những ngôi nhà ổ chuột, lụp xụp với
những tấm áo vá rách, những bữa cơm đạm bạc, với những đứa trẻ nghèo mới
năm, bảy tuổi đã phải nghỉ học để đi làm kiếm miếng ăn, vẫn còn đó đây
tren đường phố hay trên những bãi biển. Cuộc sống của không ít đồng bào
ta đang còn chìm ngập trong cảnh bần hàn, đang cần đến những con tim
biết yêu thương, biết đồng cảm và chia sẻ. Vậy đồng cảm và chia sẻ
là gì? Nếu muốn nói cho rõ, cho rạch ròi thì rất khó bởi nó xuất phát từ
trái tim của con người. nhưng làm sao để có thể hiểu được từng nhịp đập
của trái tim, bởi thế cho nên mọi cách hiểu về nó chỉ mang tính khái
quát mà thôi. Ở một khía cạnh nào đó có thể hiểu đồng cảm là biết rung
cảm trước những vui buồn của người khác, hiểu và cảm thông những với
những gì đang diễn ra xung quanh cuộc đời họ và luôn đặt mình trong hoàn
cảnh của những người khác để nhìn nhận vấn đề, từ đó thể hiện thái độ
quan tâm của mình. Đồng cảm đi từ con tim đến mách bảo chúng ta hành
động, tạo nên sự chia sẻ, sẻ chia là cùng người khác san sẻ niềm vui,
nỗi buồn, sẵn sàng có mặt khi người khác cần mình, không tỏ thái độ vô
cảm, thờ ơ trước nỗi đau của người khác cũng như không ganh ghét, đố kị,
nhạo báng vinh quang, niềm vui của họ. Đồng cảm và sẻ chia tuy
không cùng chung một "đất nước" nhưng chúng có cùng chung một "biên
giới" đó đã thắp lên những nét chung của hai nét đẹp truyền thống ấy, đó
là đem đến niềm vui cho người khác hay ít nhất là giảm bớt một phần nỗi
buồn đau trong họ, đồng thời làm cho giá trị của bạn trong mắt mọi
người sẽ cao hơn hơn nữa nó càng xiết chặt thêm tình nghĩa đồng bào, làm
cho người gần người hơn. Tự nhiên sinh ra con người bình đẳng
nhưng sự trôi dạt, xô đẩy của dòng đời, của hoàn cảnh còn đôi khi đã
phân hóa, tạo ra những con người với những cảnh đời khác nhau, có kẻ
giàu người nghèo và những con người chân chính luôn muốn lấp đầy, rút
ngắn cái khoảng cách giàu- nghèo ấy bằng tình thương, lòng nhiệt tình.
Và trên thực tế, đã có nhiều nghĩa cử cao đẹp đã được "thực hành" và đem
lại nhiều kết quả không nhỏ. Từ lâu, tinh thần đồng cảm và sẻ chia
đã trở thành một nhu cầu của con người Việt Nam nhân ái, nồng hậu và
ngày nay nó vẫn luôn thường trực trong nếp sống của người Việt. Lúc
trước, dân ta còn trong cảnh thiếu cơm, thiếu gạo thậm chí chết đói vậy
mà họ vẫn còn san sẻ cho nhau từng miếng cơm, hạt muối, "tối lửa tắt đèn
có nhau", sống cùng sống chết cùng chết; ngày nay nét đẹp ấy còn được
bảo tồn và phát huy, nhiều ngôi nhà tình nghĩa được mọc lên, nhiều
trường học dành riêng cho những trẻ em khuyết tật và có hoàn cảnh khó
khăn học tập và phát triển. Xoáy theo vòng quay cua sự phát triển
công nghiệp, môi trường ngày càng bị tàn phá và hủy diệt. Con người còn
lâm vào cảnh khốn cùng không chỉ vì thiếu cái ăn, cái mặc mà còn bị sự
"trả thù" của thiên nhiên, chịu những cơn giận dữ của đất trời. Nước ta,
dù đang bước đi trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
nhưng phần lớn nhân dân ta đang sống nhờ vào việc sản xuất nông nghiệp,
vì vậy mà phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Một đầm cá, một ao tôm
trị giá vài chục triệu, một cơn lũ quét qua đủ khiến cho một ông chủ
thành một con nợ. Ngô lúa, hoa màu đang đến mùa, một đợt hạn hán kéo
dài, một trận dịch bệnh cũng đủ làm cho nhiều gia đình rơi vào cảnh màn
trời chiếu đất. Không dừng ở thế, đôi khi những trận "trả đũa" của thiên
nhiên còn ảnh hưởng đến cả một vùng lớn như vào năm 2006,
khi cơn bão Chanchu tràn bờ đi qua miền Trung đã khiến người dân ở đây
phải khốn đốn, chịu nhiều thiệt hại về người và của nhưng bù lại họ được
người dân trong nước quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ, giúp họ về tiền của,
lương thực, đồng thời giúp họ tìm xác của những nạn nhân hay trong vụ
sập cầu Cần Thơ vào năm 2007
đã khiến cho nhiều gia đình phải điêu đứng trước sự ra đi quá đột ngột
của những người thân họ. Nhưng họ cũng như những người dân miền Trung,
dù đớn đau, chua xót nhưng không đến nỗi phải chịu cảnh cô đơn, lẻ loi
gánh chịu mọi khổ đau một mình mà cạnh họ hàng ngàn con tin của nhân dân
trong cả nước cũng đã cùng cất tiếng khóc thương và ra tay đóng góp,
cứu trợ cho người nhà nạn nhân. Dù tiền và vật phẩm không mang những
người ra đi trở về nhưng nó đã phần nào xoa dịu nỗi đau trong lòng người
còn sống cũng như giúp họ vượt qua được cơn hoạn nạn, khó khăn, ít nhất
là ngay lúc đó khi mà người thân của họ đã ra đi vĩnh viễn. Để thể
hiện tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách của mình, mặt
trận tổ quốc việt nam- một tổ chức chính trị có vai trò tập hợp, tăng
cường khối đoàn kết toàn dân cũng đã đứng ra phát động và thành lập quỹ
"Vì người nghèo"- để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khắn, bức
bách, đời sống cơ cực vượt lên số phận để sống một cuộc đời như những
người bình thường khác, thậm chí đã vực dậy không biết bao nhiêu cảnh
đời đen bạc mà chính họ cũng cảm thấy gần như mọi thứ đã quay lưng lại
với cuộc đời họ. Từ ngày được thiết lập, tài khoản của quỹ ngày càng
nhận được nhiều đóng góp của nhiều cá nhân, tập thể, từ những em bé học
mẫu giáo đến những cụ già đã về hưu, từ những người dân trong nước đến
những người Việt Kiều xa quê hương. Mang thông điệp yêu thương, phong
trào ấy đã trở thành nguồn động lực để người nghèo phấn đấu thoát nghèo,
rũ bỏ cuộc sống cơ hàn, vươn lên xay dựng cuộc sống mới tươi đẹp hơn,
từ đó tạo ra tiềm lực để phát triển đát nước. Ngoài ra, sự đồng cảm
và chia sẻ còn được thể hiện ở sự cưu mang và dạy dỗ các em nhỏ đường
phố, các em có hoàn cảnh khó khắn phải bỏ học để đi làm kiếm tiền. Không
cần phải nói đâu xa, mới đây thôi các em trẻ khuyết tật ở Quảng Ngãi
cũng đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của mọi người khắp nước, đặc
biejt là các doanh nân trong miền nam hay những người con của tinh đi
làm ăn xa. Thực ra mà nói, nếu ta không dang tay ra giúp thì cũng
chẳng ai dám chỉ mặt, gạch tên nhưng từ trái tim củ một con người, nếu
ta không làm thế thì liệu ta có xứng đáng với hai chữ làm người không,
rồi đây lương tâm của họ sẽ ra sao ? Có cắn rứt và khó chịu? Sống trong
tập thể, cộng đồng con người cần con người để nương tựa vào nhau mà sống
và phát triển. Hãy luôn biết lắng nghe và đồng cảm, chỉ như thế ta mới
có được niềm vui và giúp ta sống một cuộc đời có ý nghĩa hơn. Nhiều
người quan niệm chắc gì nững đồng tiền quyên góp, ủng hộ, cứu trợ kia
đến được với những nạn nhân vì thế mà khối người chỉ có đồng cảm mà
không dùng hiện vật bày tỏ, như thế cũng trở nên vô nghĩa vì dẫu sao
tình cũng chỉ là tình, nó chỉ giúp họ củng cố, trấn an được tinh thần mà
thôi còn tiền mới giúp họ vượt qua được khó khăn thực sự. Việc tiền
quyên góp đôi khi không đến được tay người cần là không phải không có
bởi bên cạnh những tấm lòng nhân ái thì cũng có nhiều kẻ miệng nam mô mà
bụng chứa một bồ dao găm, lợi dụng vào việc quyên góp để bỏ túi riêng,
miệng lúc nào cũng hô hào, kêu gọi người này góp sức, người kia góp của
mà mình thì không chịu góp một đồng xu nào, nhưng dù sao đó cũng chỉ là
số ít vì ở xã hội này số người tốt còn nhiều hơn số kẻ xấu nhiều nên
xét đến cùng, đồng cảm và sẻ chia vẫn phải luôn đi đôi với nhau, dù muốn
hay không cũng không thể tách rời, cũng như học phải đi đôi với hành
động, không nên chỉ đồng cảm trên "lí thuyết" suông mà phải "hành động"
để thực hành cái lí thusyết ấy. Đồng cảm và sẻ chia- hai nét đẹp
trong truyền thống của người Việt, nó đã trở thành kim chỉ nam dẫn đường
cho con người đến với nhau. Nó không yêu cầu ở hành động phải đúng
tuổi, hay phải có địa vị cao sang quyền quý mà nó dành cho tất cả mọi
người, không phân biệt già trẻ gái trai cũng như không phân biệt kẻ giàu
người nghèo, bởi đã là con người thì ai chả có tình người, tình thương
đối với đồng loại. Chúng ta, khi còn là một học sinh ngồi trên ghế
nhà trường dù không làm được gì để kiếm ra số tiền lớn nhưng nếu là
người có tâm thì ta vẫn có thể thể hiện tinh thần tương thân tương ái
của mình một cách dễ dàng, ví như mỗi vuổi sáng ta có thể rút bớt một
phần ba số tiền ăn sáng của mình, dành dụm để có thể mua một ít sách vở
tặng cho những bạn có hoàn cảnh khó khăn để có thể giúp họ vượt qua được
một chút vất vả. Đối với ta số tiền ấy có thể không là bao nhưng đối
với người nhận thì đó là một món quà vô cùng lớn, thậm chí là vô giá bởi
nó được tạo lên từ tình thương của người trao. Và quy luật trao và nhận
là thế ấy, trao đi một chút nhưng bù lại ta nhận được cả vạn tình
thương yêu. Nhưng hãy nhớ là mình làm việc đó với tất cả tình thương của
một con người, làm theo sự mách bảo của con tim của một con người chứ
đừng làm theo kiểu bố thí, ban phát lòng thương hại vì nếu như thế thì
còn vô liêm sỉ và xấu xa hơn kẻ thờ ơ, vô cảm trước cảnh đời khốn khổ
của người khác. Nhưng,không phải sự đồng cảm và sẻ chia chỉ dừng lại ở
đó, tiền bạc đôi lúc cũng không giải quyết được vấn đề nhất là kh người
ta có chuyện rắc rối về tình cảm hay tinh thần của họ đang trong trạng
thái buồn khổ. Hãy lắng nghe sau đó mới đồng cảm và cuối cùng là hành
động để sẻ chia. Đừng vì quá nôn nóng làm việc tốt mà làm hại chính
mình. Đừng lúc nào cũng lấy tiền bạc để giải quyết vấn đề vì có khi làm
họ tổn thương và cảm thấy bị xúc phạm. Đôi khi chỉ cần những lời khuyên
nhủ thật lòng giúp họ xua tan đi bao buồn lo, làm nỗi buồn của họ vợi đi
và niềm vui trong lòng mình tăng gấp đôi. Tất cả những nghĩa cử
cao đẹp ấy, xét về mặt vật chất tuy không phải là ít nhưng cũng không
phải là nhiều bởi cuộc đời này còn biết bao cảnh đời lầm than khác, đang
ngày đêm chịu những cảnh dày vò về thiếu thốn tiền bạc, tình cảm, đang
sống len lỏi trong những ngóc ngách của cuộc đời mà ống kính của đài
truyền hình, những nhà nhân đạo chưa rọi soi tới. Nhưng xét về mặt tinh
thần thì giá trị của nó lớn lao vô cùng, đôi khi còn cao hơn cả giá trị
của vật chất. Nó đã tạo động lực cho người nghèo tiến lên, thoát ra khỏi
cảnh sống bần hàn vươn lên để làm lại cuộc đời, hơn nữa nó đã cứu vớt
không biết bao nhiêu mảnh đời bất hạnh của những trẻ em nghèo, cơ nhỡ để
xây dựng cho chúng những "ước mơ xanh" để bước vào một cuộc đời có đầy
đủ ánh sáng hơn, thậm chí nó cũng đã vực dậy không biết bao con người
tội lỗi vì túng quá làm liều. Đồng cảm và sẻ chia chỉ là một trong
những nét đẹp truyền thống của người Việt Nam ta nhưng không có nó cuộc
sống của con người sẽ trở nên nhạc nhẽo, vô vị, con người sẽ trử thành
loài cầm thú và thậm chí có thể cấu xé lẫn nhau. Có nó cuộc sống của ta
không những không có ý nghĩa mà còn phát huy được những truyền thống tốt
đẹp của cha ông, khơi dậy được lòng nhân ái, tình đoàn kết của dân tộc,
góp phần xây dựng một đất nước giàu mạnh mà nơi ấy tình thương nắm
quyền cai trị.
|
|
|
|
giải đáp
|
Giải đáp giúp e với mọi ngươi ơi?
|
|
|
|
Có bài làm chi tiết đây em tham khảo lấy ý nhé!
Kho tàng tri thức của nhân loại vô cùng to lớn, là một vùng đất bí ẩn mà biết bao con người ngày đêm không ngừng chinh phục, khám phá. Và phương tiện hữu dụng nhất cho công cuộc chinh phục ấy là sách. Muốn tiến bọ thì cần phải học, học ở sách, trong trường và ngoài đời. Thật đúng như lời nhận xét của một nhà văn "một quyển sách hay là một người bạn tốt". Nhưng Mạnh Tử, một học trò xuất sắc của Khổng Tử lại không hề nghĩ thế, với ông "Hoàn toàn tin sách, thà chẳng có sách còn hơn". Vậy theo nhà hiền triết ấy, hoàn toàn tin sách là sao? Có hại gì? Ta phải có thái độ như thế nào khi đọc sách. Tất cả tinh hoa của nhân loại dường như đã chứa đựng trong tất cả những cuốn sách và con người chúng ta có thể học hỏi, hiểu biết nhiều điều bổ ích, lí thú qua sách. Câu nói của Mạnh Tử không khỏi khiến người ta phải suy nghĩ, băn khoăn, hoàn toàn tin sách là đọc theo sách, tin theo sách, bắt chước theo sách một cách mù quáng, không biết suy xét phán đoán nhận thức rõ ràng giữa cái đúng, cái sai mà sách đem đến. Thậm chí không ít người cứ xem sách là một tiêu chuẩn, cái gì của sách cũng là đúng, thế là cứ hành động, và buộc mình vào tư tưởng suy nghĩ nhất nhất theo sách. Mọi việc từ lớn đến bé, họ không thể tự quyết định được nếu không có sách. Như thế Mạnh Tử cho rằng hại nhiều hơn lợi. Vậy hoàn toàn tin sách như thế có hại ra sao? Sách có rất nhiều loại, sách văn hóa, sách giải trí, sách giáo khoa, sách khoa học.... Đối với sách nhảm nhí, hoang đường, kiêu dâm, cái bất lợi hiện lên lại quá rõ. Con người, nhất là trẻ em, với bản tính tò mò, hiếu động non nớt, thích tìm hiểu những cái mới lạ của cuộc sống, sẽ bị vấy bẩn tâm hồn nếu tiếp xúc với những loại sách như thế. tin vào chúng thì tình cảm và lí trí sẽ bị đầu độc, sinh ra những hành động nông nổi, điên cuồng, làm biến chất con người, và rồi thì chính họ cũng không kịp nhận ra. Những hành động lố lăng, vô lối mà ta thường đọc hay nghe thấy qua báo, đài, tivi,... phải chăng là lí do ảnh hưởng của những loại sách độc hại đó? Đối với những sách không lành mạnh thì đành rằng thế, nhưng đối với những loại sách đúng đắn trong sạch, hoàn toàn tin sách có hại không? Tuy rằng không thực sự nguy hiểm như những loại sách trên nhưng không phải là không có hại. Trên thực tế, mỗi cuốn sách đều có một nét đặc biệt riêng lôi cuốn người đọc. Ta thường chăm chú những loại tiểu thuyết tâm lí, xã hội.... được các tác giả có ý thức, có tư tưởng tốt đẹp xây dựng. Nhưng nếu tin tưởng một cách mù quáng, tuyệt đối ta sẽ vô tình bắt chước theo các nhân vật trong sách mà hành động phi thực tế, có khi dị lập, không tư tưởng. Những nhân vật sự kiện trong sách dù có đẹp, có hoành tráng, diễm lệ và cuốn hút đến đâu cũng đều có tính cách điển hình, lí tưởng hóa, ít nhiều phóng đại, giả tưởng. Hơn nữa, đời không phải là truyện, là tiểu thuyết. Mỗi vùng, miền, mỗi nơi đều có những phong tục tập quán riêng, vì thế sẽ có những định kiến thay đổi theo thời gian và không gian. Có khi cùng một điều nhưng ở nơi này thì đúng, nơi khác thì sai. Ở thời này thì phải nhưng thời khác lại trái. Thế nên, nếu chứ nhất nhất tin và áp dụng một cách máy móc có khi thành ra lỗi thời, lạc hậu. Có lẽ vì thấu lẽ đó mà Đức Khổng Tử ngày xưa chỉ truyền kiến thức cho một số đệ tử tâm đắc chứ không chịu truyền sách học lại cho người khác. Ngay đến cả sách khoa học phần lớn khách quan, ghi chép lại những ý tưởng của những nhà bác học đại tài, ta cũng phải biết nghi vấn, đặt ra câu hỏi tìm hoặc hiểu, đối chiếu với sự vật để có thể hiểu sâu xa và rõ ràng từng vấn đề để tránh được những sự lầm lỗi tai hại. Ta cứ tin bằng lời mà không chịu tìm hiểu có đúng sự thật hay không thì chẳng khác nào gặp đồ ngon mà cứ nuốt bừa, đã không biết được mùi vị có khi còn bị ảnh hưởng đến sức khỏe. Vì vậy, khi ta đọc sách dù sách có hay đến mấy mà cứ tin mù quáng, xa vời thực tế, lắm khi sẽ trở thành kẻ luôn bị phụ thuộc vào sách vở, chẳng có chính kiến riêng thì thà rằng chả có sách còn hơn. Thế nên, chúng ta những người đọc sách, để có thể lĩnh hội tất cả những kiến thức của nhân loại thì cần phải có những phương pháp đọc sách đúng đắn, chọn lọc kĩ càng, phù hợp với lứa tuổi và trình độ học vấn. Đọc sách thận trọng là đúng, nhưng không phải vì quá thận trọng mà đâm ra nợ sách. Hoàng Đình Kiên đã nói "kẽ sỹ phu ba ngày không xem sách thì soi gương mặt mũi đáng ghét nói chuyện lạt bõ khó nghe". Cũng là vì lẽ đó. Một quyển sách để trên mặt ta là hình ảnh của một cái gì đó cao đẹp nhất. Đấy là tất cả công trình, là thành quả lao động miệt mài của bao người viết, bao khó nhọc của thợ nhà in đêm ngày chăm chút từng chữ. Nhìn sách và được thưởng thức những cái hay của sách là ta đã học được sự cần lao khả kính của con người. Đứng trước một tủ sách hay là một thư viện mới mênh mông là sách, ta nghe được tiếng thì thầm to nhỏ của nghìn đời. Dù bao thế hệ đã trôi qua, sông núi, đất trời và cả con người cũng thay đổi, nhưng sách vẫn còn đó, với những giá trị lâu bền. Như nhà văn Hoàng Đạo đã từng viết : "sách để đấy tự bao giờ,, mười năm, hai mươi năm, rồi nhưng không bao giờ tỏ ý vội vàng bực tức. Ai muốn biết, muốn hiểu thì đem ra mà đọc sách sẽ diễn lại ngay, giảng lại một lần nữa những tư tưởng của tác giả. Ngày tháng qua nhưng sách vẫn còn đây, mười lăm năm sau có người nhớ đến sẽ lại vang giọng thơ Lí Bạch hay của Verlaine, sống lại những mẫu tư tưởng của cha Mare Aulele hay Mạc Tử (con đường sự thật)". Thật là một sự nhẫn nại vô cùng! Người đọc sách phải học được cái nhẫn lại quý báu ấy của sách để tìm tòi, nghiên cứu, có như thế mới hiểu được cái hay cái đẹp trong sách, tiếp thu tối ưu các kiến thức mà ông cha ta đã truyền lại. Lâm Ngữ Đường đã nói: "đọc sách hay và tìm tòi nguồn vui trong sách vở bao giờ cũng được coi là học thức ở đời". Không phải ai cũng hiểu được những giá trị của sách. Lại có những kẻ khinh sách hoàn toàn, với họ, sách là gì? Chỉ là một vật chứa toàn lí thuyết nhàm chán mà thôi. Cách nghĩ như thế là hoàn toàn sai lệch, ắt hẳn rằng những con người ấy sẽ không bao giờ làm nên được việc gì lớn được. Lí thuyết Khổng- Mạnh- ngày nay là điều mà đến ngàn đời con người cũng chưa đạt thấu gì hết. Vì trong ấy ngoài những con chữ ra còn biết bao kinh nghiệm thực tế ở đời. Vậy để có thể tiếp thu hiệu quả những kiến thức có trong sách ta cần phải đọc sách này như thế nào? Có hai cách đọc sách: nghiền ngẫm và ngấu nghiến. Nếu chỉ biết ngấu nghiến thì đọc sách cũng chỉ bằng thừa. Biết nghiền, ngẫm, suy nghĩ cân nhắc cái hay, cái dở, cái phải, cái trái trong sách thì thật đáng khuyến khích; bên cạnh đó, ta còn phải biết cách phát triển cơ sở ở sách. Sách là kinh nghiệm ở những diều đã qua. Nếu biết áp dụng những kinh nghiệm quý giá ấy vào đời sống, vào việc học tập hàng ngày, tạo thêm những kinh nghiệm mới thì cái thú vui của việc đọc sách sẽ ngày càng tăng mà con người cũng thêm phần tiến bộ. Maxim Gorki đã từng nói "sách mở ra cho ta một chân trời mới". Sách là mọt vật quý và rất cần thiết cho sự mở mang trí óc của con người. Vì thế mỗi chúng ta phải biết phân tích, phê phán, đối chiếu thì mới hiểu và lĩnh hội được những giá trị thật sự của sách, không nên quá mức mù quáng vào sách cũng như không được lỗ mãng mà khinh sách. Ta có thể mượn lời của Trung Dung làm châm ngôn cho việc đọc sách: "học cho rành, hỏi cho kĩ, nghĩ cho cẩn thận, phân biệt rõ ràng, làm cho hết sức".
|
|
|
|
giải đáp
|
phân tích bài thơ
|
|
|
|
Lời giải này có yêu cầu trả vỏ sò để xem. Bạn hãy link trên để vào xem chi tiết
|
|
|
|
giải đáp
|
Làm giúp em dàn ý bài nghị luận: vô cảm
|
|
|
|
Em tham khảo bài này nhé:
Xã hội đang dần tiến bộ theo từng giây từng phút kéo theo sự bận rộn,
hối hả của nhịp sống con người. Thế nhưng trong nhịp sống tưởng chừng
như bất tận ấy không phải không còn những bất cập. "Một con ngựa đau cả
tàu bỏ cỏ" hay "Thương người như thể thương thân" từ lâu đã trở thành
đạo lí của dân tộc Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và
giữ nước, những truyền thống tốt đẹp ấy luôn được dân ta gìn giữ và phát
huy. Thế nhưng ngày nay, bên cạnh những con người sống tốt, luôn nghĩ
đến người khác còn có những kẻ thờ ơ, lãnh đạm, ích kỉ, chỉ biết nghĩ
đến bản thân. Nói cách khác, họ là những kẻ vô cảm trước hiện thực cuộc
sống, trước cộng đồng. Đi sâu tìm hiểu căn bệnh "vô cảm" này chúng ta sẽ
thấy tác hại ghê gớm của nó và chắc rằng mỗi người sẽ có một suy nghĩ,
một cách làm riêng để chống bệnh "vô cảm". Thế nào là "bệnh vô
cảm"? Dường như tên "căn bệnh" đã hàm chứa cả định nghĩa về chính nó.
"Vô" là không, "cảm" chính là cảm giác, cảm xúc, "vô cảm" là sự thờ ơ,
dửng dưng, không quan tâm đến mọi việc đang diễn ra xung quanh, chỉ biết
nghĩ đến bản thân với những lợi ích, thành quả thỏa mãn lòng ham muốn
ích kỉ. Căn bệnh này quả thật rất khó "chữa trị" và không có loại
"thuốc" nào thực sự công hiệu. Để đẩy lùi được vô cảm là cả một quá
trình dài và tốn khá nhiều công sức. Thực trạng về "bệnh vô
cảm" hiện nay đang diễn ra rất phức tạp. Nó có mặt và chung sống với con
người từ rất lâu. Trước kia, ông ta đã thấy rõ được những tác hại của
nó nên đã tích cực phê phán, lên án những thói xấu chỉ biết vun vén cho
riêng mình: "Đèn nhà ai nhà ấy rạng", "cháy nhà hàng xóm bình chân như
vại". Quả thật không thể nào dung thứ được những hành động ấy. "Vô cảm"
đồng nghĩa với việc vứt bỏ truyền thống dân tộc và cũng chính là vứt bỏ
chính bản thân mình. Hiện nay, cuộc sống vật chất và tinh thần ngày càng
được cải thiện, có quá nhiều cái thu hút, quyến rũ khiến lòng tham
không đáy của con người nổi lên kéo theo sự tích kỉ, nhỏ nhen,lãnh đạm,
thờ ơ..... và cả một trái tim băng giá chỉ biết làm tất cả để thu lợi về
bản thân và gia đình mình, thờ ơ với mọi việc đang diễn ra ở xung
quanh. Trong cuộc sống thực tại của ngày hôm nay, không khó đẻ tìm ra
những con người "vô cảm" ấy. Đối với họ, nhà hàng xóm gặp hoạn nạn, có
con cái hay người thân măc vào tệ nạn xã hội họ cũng bàng quang như
không hay biết, không hỏi han, an ủi một vài lời. Đi đường, gặp người bị
nạn, những kẻ "vô cảm" hoặc bỏ đi chẳng thèm quan tâm sự sống chết của
đồng loại, hoặc dẫu có đến chỗ người bị nạn thì cũng chỉ là để thỏa mãn
sự hiếu kì của mình, giương đôi mắt lãnh đạm nhìn xung quanh, không giúp
đỡ nạn nhân vì sợ phải gánh trách nhiệm. Trước những mảnh đời bất hạnh,
những cảnh khổ đau của những người tàn tật, họ cũng không mảy may xúc
động. Bằng đôi mắt thờ ơ của mình, rẻ rúng những người kém may mắn ấy.
Quả thật đó là những hành động đáng lên án ! Bệnh "vô cảm" có
những tác hại thật ghê gớm, không chỉ làm suy thoái đạo đức của một cá
nhân, hoặc một tập thể mà còn đẩy xã hội, một đất nước đến bờ vực của sự
tụt hậu, thoái vong. "Vô cảm" có thể dẫn đến chết người. Một
bác sĩ nếu "vô cảm" sẽ không có tình thương đối với người bệnh, đánh mất
đi lương tâm của một người thầy thuốc, quên đi phương châm "lương y như
từ mẫu" mà Bác Hồ đã từng răn dạy. Trước một ca cấp cứu, bệnh nhân đang
ở trong tình trạng nguy kịch nhưng vì gia cảnh nghèo, không có tiền để
đóng viện phí hay để "bồi dưỡng" cho bác sĩ thì "vô cảm" khiến người bác
sĩ chậm trễ trong việc cứu chữa bệnh nhân, cuối cùng dẫn đến một cái
chết oan uổng, gây đau khổ cho những nười thân của họ. Càng chua xót
hơn, càng đau đớn hơn nếu người bệnh nhân kia là cha, là mẹ, là người
trụ cột trong gia đình. Họ đã ra đi, để lại những đứa con thơ dại, cha
mẹ già yếu sống trong cảnh cô đơn, không nơi nương tựa. Người
giáo viên được xem như những người cha, người mẹ thứ hai của học sinh.
Nếu "vô cảm" sẽ thiếu tình thương giành cho những đứa con của mình,
thiếu nhiệt tình và trách nhiệm trong việc giảng dạy, truyền lại kiến
thức cho học sinh. Vì "vô cảm", họ sẽ "đào tạo" ra những lớp học sinh
thiếu trình độ, thậm chí cũng "vô cảm" như họ. Như vậy các em có còn gì
là những chủ nhân tương lai của đất nước! Quả là một mối họa lớn cho xã
hội. Đối với nhà nước- cơ quan điều hành mọi hoạt động của đất
nước, một cán bộ "vô cảm" sẽ không nhìn thấy và thấu hiểu được những
hoàn cảnh khốn khó của người dân. Vì thế, người dân sẽ không còn tin vào
chính quyền. Do cuộc sống không được quan tâm, các tệ nạn xã hội sẽ dễ
dàng "len lỏi" vào từng nhà khiến cuộc sống của người dân vốn đã khó
khăn lại càng khó khăn hơn. Chính những người cán bộ "vô cảm", thiếu
trách nhiệm đã gián tiếp đẩy đất nước đế bờ vực của sự suy vong.
"Bệnh vô cảm" đã làm con người giống như một cái máy không lí trí,
không tình cảm. Những người mắc "bệnh vô cảm" chắc chắn sẽ không bao giờ
đạt được thành quả cao trong công việc cũng như trong cuộc sống, đặc
biệt họ sẽ không nhận được tình cảm từ người khác. Thực tế thì
chưa hẳn tôi, bạn, và tất cả mọi người đều "vô cảm", ngược lại số ít
người đó lại rất hòa đồng vui tươi, chấp nhận mọi thử thách mà vẫn nở
một nụ cười tươi rói. Vậy thì tại sao chúng ta lại không thử? Hãy nhón
chân cao hơn và bạn sẽ bay ra khỏi không gian vô cảm ấy chẳng chính sự
tự tin của mình. Làm ngay bây giờ nếu bạn muốn chữa căn bệnh "khó chữa"
ấy. Hiện tại, đất nước ta còn nghèo, nhân dân ta còn cực khổ,
mỗi người chúng ta cần phải ý thức được tác hại và phải tích cực chống
bệnh "vô cảm". sống phải có tình thương, có trách nhiệm với cộng đồng và
đặc biệt là hãy mở lòng đối với cuộc sống. Chúng ta hãy sống gắn bó với
cộng đồng theo truyền thống tốt đẹp của dân tộc "lá lành đùm lá rách",
"thương người như thể thương thân", phải biết yêu thương, kính trọng và
sống hết lòng với mọi người xung quanh. Đó là "liều thuốc" đặc hiệu nhất
để chữa bệnh "vô cảm". như vậy thì đất nước Việt Nam mới ngày càng giàu
đẹp, xã hội mới ngày càng hiện đại, văn minh.
|
|
|
|
giải đáp
|
tôi cần sự góp ý của mọi người...!
|
|
|
|
- Nhan đề "Chiếc thuyền ngoài xa" là một ẩn dụ về mối quan giữa cuộc
đời và nghệ thuật. Đó là chiếc thuyền có thật trong cuộc đời, là không
gian sinh hoạt của gia đình người đàn bà hàng chài. Ở đó, ngoài vợ chồng
họ còn có cả một đàn con. Cuộc sống khó khăn đói kém, nơi ở chật
chội,.. làm con người thay đổi tâm tính. Trước đây, anh là một người
hiền lành, lấy chị - một người đàn bà xấu xí nhưng hết sức chăm lo cho
cuộc sống gia đình; đông con, khó kiếm ăn, cuộc sống túng quẫn là
nguyên nhân làm cho người chồng trở nên cục cằn, thô lỗ và biến vợ
thành đối tượng của những trận đòn. Những cảnh tượng đó, những thân phận
đó nếu nhìn từ xa, ở ngoài xa thì sẽ không thấy được. - Nhưng
cũng chính vì ở ngoài xa nên con thuyền mới đơn độc. Đó là sự đơn độc
của con thuyền nghệ thuật trên đại dương cuộc sống, đơn độc của con
người trong cuộc đời. Chính sự thiếu gần gũi, chia sẻ ấy là nguyên nhân
cuả bế tắc và lầm lạc. Phùng đã chụp được cảnh chiếc thuyền ngoài xa
trong sương sớm- một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích, một chân lí của
sự toàn thiện.. Chiếc thuyền là biểu tượng cho sự toàn mĩ mà chiêm
ngưỡng nó, anh thấy tâm hồn mình trong ngần. Nhưng khi chiếc thuyền đâm
thẳng vào bờ, chứng kiến cảnh đánh vợ của người đàn ông kia, anh đã kinh
ngạc…và vứt chiếc máy ảnh xuống đất. Anh nhận ra rằng, cái đẹp ngoài xa
kia cũng ẩn chứa nhiều oái oăm, ngang trái và nghịch lý. Nếu ko đến gần
thì chẳng bao giờ anh phát hiện ra. Xa và gần, bên ngoài và thẳm sâu…đó
cũng chính là cách nhìn, cách tiếp cận của nghệ thuật chân chính.
|
|
|
|
|
|
giải đáp
|
cho đề bài
|
|
|
|
Lời giải này có yêu cầu trả vỏ sò để xem. Bạn hãy link trên để vào xem chi tiết
|
|
|
|
giải đáp
|
Giúp tớ nha
|
|
|
|
Bài làm tham khảo
Nguyễn Thi là nhà văn quân đội đã hi sinh tại mặt trận Sài Gòn năm 1968. “Truyện và kí” xuất bản năm 1960 là tuyển tập của Nguyễn Thi, trong đó có truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” in trong tuyển tập “Truyện và kí” xuất bản năm 1960 là tác phẩm này tiêu biểu cho tài năng nghệ thuật của Nguyễn Thi. Bên cạnh những nhân vật được xây dựng thành công như má Tư Năng, chú Năm, chị Chiến, còn có nhân vật Việt là một nhân vật tiêu biểu cho thế hệ trẻ miền Nam, gắn bó với gia đình, quê hương, dũng cảm chiến đấu, sẵn sàng hi sinh vì tổ quốc.
Ấn tượng của độc giả về nhân vật Việt sau khi đọc tác phẩm không chỉ là một chiến sĩ kiên cường dũng cảm trên mặt trận mà còn là một chàng thanh niên có tính cách hồn nhiên vô tư như bao chàng trai khác.
Qua hồi ức của Việt khi còn ở nhà Việt là một chàng trai hồn nhiên trong trẻo. Khi chị Chiến doạ “thù cha chưa trả mà bỏ về thì chú chặt đầu” thì “Việt lăn kềnh ra ván cười khì khì”. Khi chị Chiến trao đổi bàn tính sắp xếp chuyện nhà thì Việt vẫn vô tư “chụp một con đom đóm úp vào trong lòng tay”. Hay khi chị Chiến trao đổi việc nhà thì Việt vừa khen thầm chị Chiến “chị nói nghe thniệt gọn” vừa “ngủ quên lúc nào không biết”. Khi ở chiến trường, đã trở thành một chiến sĩ dũng cảm rồi vẫn giữ bên mình cái ná thun bắn chim hồi nhỏ. Bị thương nằm một mình giữa rừng không sợ chết mà chỉ sợ ma và bóng đêm. Khắc hoạ nét tính cách hồn nhiên này của Việt tác giả muốn nhấn mạnh rằng Việt là một chiến sĩ dũng cảm anh hùng nhưng vẫn là một con người của đời thường như bao người trai trẻ khác.
Tuy sống hồn nhiên vô tư nhưng Việt không vô tâm với những người xung quanh. Việt luôn yêu thương cha mẹ chị em trong gia đình và người thân cũng như đồng đội xung quanh. Trong kí ức của Việt luôn in đậm hình ảnh của má. Trong cơn chập chờn tỉnh thức khi bị thương nằm một mình giữa rừng hình ảnh đầu tiên hiện về là hình ảnh người má thân yêu. “Việt tỉnh dậy lần thứ tư trong đầu còn thoáng hình ảnh người mẹ” và “Việt ước gì bây giờ được gặp má”. Khi hai chị em cùng sắp xếp việc nhà cũng là lúc “cả hai chị em cùng nhớ đến má” và lo đưa bàn thờ của má gửi sang nhà chú năm trước khi đi đánh giặc.
Đối với chị Chiến, Việt dành cho chị một tình thương sâu đậm. Việt đã coi chị như người mẹ, vâng lời sắp đặt việc nhà của chị. Tình thương chị Chiến được thể hiện rõ nhất khi hai vhị em khiêng bàn thờ má sang nhà chú năm “nghe tiếng chân chị Việt thấy lòng thương lạ”, “lần đầu tiên Việt muốn thấy lòng mình rõ như thế”.
Đối với những người thân yêu như chú năm, anh Tám và những người đồng đội khác thì Việt vừa yêu thương vừa gắn bó tin cậy. Khi bị thương nằm giữa rừng Việt vừa nghĩ đến má vừa nhớ đến anh Tám “Việt muốn chạy thật nhanh” để gặp lại anh Tám níu chặt lấy anh mà khóc”. Việt hồn nhiên vô tư trong cuộc sống nhưng lại rất giàu lòng yêu thương gắn bó vơói mọi người, đó là một nét tính cách nổi bật ở nhân vật Việt.
Nhà văn Nguyễn Thi tập trung khắc hoạ nét tính cách nổi bật của nhân vật Việt là tính cách của một con người dũng cảm kiên cường.
Khi còn ở nhà “ý nghĩ đi bộ đội luôn thôi thúc Việt” đến nỗi “Việt đi đâu chị Chiến cũng dòm chừng coi Việt có bọc quần áo theo không” vì sợ Việt trốn nhà đi bộ đội. Mặc cho chị Chiến can ngăn Việt vẫn không nhường chị đi bộ đội trước Việt vẫn giành chị để được đi. May nhờ chú năm xin cho cả hai đi bộ đội thì mọi việc mới ổn.
Những ngày ở chiến trường Việt luôn tỏ ra là một chiến sĩ dũng cảm kiên cường trong một trận đánh ác liệt sau khi tiêu diệt được một xe bọc thép đầy Mĩ Việt bị thương nặng kiệt sức nằm giữa rừng vẫn ở trong tư thế chiến đấu “Việt vẫn còn đây nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng ngón cái còn lại sẵn sàng nổ súng”. Không chỉ ở tư thế chiến đấu mà Việt còn kiên cường hơn thế tự lết thân mình về phía mặt trận “Việt đã bò đi được một đoạn cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo chính trận đánh đang gọi Việt đến”.
Việt mang nặng thù nhà nợ nước nên tinh thần chiến đấu luôn thôi thúc Việt và Việt đã chiến đấu đúng nghĩa của một người anh hùng. Việt là hình ảnh của một người thanh niên thời đại mới có khí phách kiên cường bất khuất.
Với kết cấu tác phẩm theo lối đồng hiện, với nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật đa dạng độc đáo và ngôn ngữ đời thường giàu chất nam bộ, nhà văn đã xây dựng được nhân vật Việt một cách sinh động. Nhân vật Việt là mẫu người anh hùng của nhân dân nam bộ thời đánh Mĩ. Họ vừa mang nặng mối thù chung và mối thù riêng đã ra đi chiến đấu đến hơi thở cuối cùng cho sự nghiệp giải phóng đất nước.
|
|
|
|
giải đáp
|
Giúp tớ làm bài này nha
|
|
|
|
Tham khảo bạn nhé! 1. Mở bài
Đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành viết vào năm 1965, rút từ tập “ Trên quê hương anh hùng Điện Ngọc”,
điều đó để lại ấn tượng sâu đậm cho độc giả chúng ta không chỉ là những
nhân vật như cụ Mết, Tnú, Dít, Mai, những con người Tây Nguyên bất
khuất kiên trung thủy chung với Cách mạng, mà còn là hình tượng Cây xà
nu - một hình tượng độc đáo bao trùm toàn bộ tác phẩm. Chính hình tượng
cây xà nu đã tạo nên vẻ đẹp hùng tráng, chất sử thi, lãng mạn cho câu
chuyện về làng Xôman bất khuất kiên cường. Đọc tác phẩm này điều mà
người đọc nhận ra trước tiên là hình tượng cây xà nu đã trở thành một
hình tượng chủ đạo xuyên suốt tác phẩm gắn bó với cuộc sống và mọi sinh
hoạt của dân Xôman. 2. Thân bài
Trong bài viết “Về truyện ngắn " Rừng xà nu”,
tác giả Nguyên Ngọc (bút danh là Nguyễn Trung Thành” đã tâm sự: “Ngay
từ năm 1962, trên đường vào miền Nam công tác, đến tỉnh Thừa Thiên, giáp
Lào, tôi được chứng kiến những rừng xà nu bát ngát xanh tít tận chân
trời. Đấy là những cây họ thông, hùng vĩ và cao thượng, Mai dại và trong
sạch. Mỗi cây cao vút vạm vớ nhựa ưá ra, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn
rỏi”. Những cây xà nu có phẩm chất đặc biệt ấy đã gây ấn tượng mạnh mẽ
và khơi nguồn cảm hứng cho tác giả ba năm sau (1965) tạo dựng lên hình
tượng cây xà nu đặc sắc này. Hình tượng cây xà nu được
tác giả miêu tả từ nhiều góc độ và đưa lại hiệu quả thẩm mỹ đặc biệt.
Trong truyện ngắn này, nhà văn không chỉ mở đầu và kết thúc truyện bằng
hình ảnh rừng xà nu bát ngát đến chân trời, mà đã gần 20 lần nói đến
“Rừng xà nu”. “Cây xà nu”, “nhựa xà nu”, “lửa xà nu”… Chất sử thi của
thiên truyện sẽ không trở thành giọng điệu chính của tác phẩm, nếu thiếu
đi hình tượng cây xà nu được khai thác từ nhiều góc độ, được lặp đi lặp
lại nhiều lần đến như vậy, nhất là “các đồi xà nu – 4 lần”; “Rừng xà nu
– 5 lần”. Thủ pháp điệp trùng khi mô tả cây xà nu đó, vừa làm nền cho
toàn bộ diễn biến của câu chuyện, vừa gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc
về cây xà nu. Nhưng xà nu không chỉ có mặt trong đoạn mở đầu và đoạn
kết, mà nó còn hiện diện trong suốt câu chuyện về Tnú và làng Xôman của
anh. Xà nu gắn bó với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày như đã từ ngàn đời
nay thân thuộc với dân làng: ngọn lửa xà nu nấu ăn trong mỗi bếp, đuốc
xà nu soi sáng đường rừng đêm, lửa xà nu cháy bập bùng trong nhà ưng tập
trung cả dân làng. Khói xà nu đen nhẻm thân hình lũ trẻ; khói xà nu còn
làm tấm bảng đen cho anh Quyết dạy Tnú, Mai học chữ cụ Hồ. Xà nu còn
tham dự vào những sự kiên quan trọng của cuộc sống làng Xôman: ngọn đuốc
xà nu cháy sáng trong tay cụ Mết dẫn cả dân làng đi vào rừng sâu lấy
giáo mác đã giấu kỹ về chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Đêm đêm cả dân làng
thức mài vũ khi dưới ánh đuốc xà nu. Giặc đốt hai bàn tay Tnú bằng giẻ
tẩm nhựa xà nu, lửa xà nu đốt lên lòng căm thù trong lòng người dân
Xôman. Rồi ngọn lửa đuốc xà nu soi sáng rực cả làng cái đêm khởi nghĩa;
soi rõ xác 10 tên lính nằm ngổn ngang quanh đống lửa … Hình tượng cây xà
nu qua ngòi bút Nguyễn Trung Thành đã trở thành một nhân chứng về tội
ác của chiến tranh hủy diệt; là người chứng kiến cho sự giác ngộ, hy
sinh thầm lặng và sự quất khởi của người dân Xôman. - Mở đầu tác phẩm,
tác giả đã vẽ ra trước mắt người đọc một bức tranh toàn cảnh về nỗi đau
thương đội bom đạn giặc Mỹ gây ra. Tác giả đã đặt ngay cây Xà nu vào bối
cảnh khốc liệt của chiến tranh “ Làng nằm trong tầm đại bác của giặc…”.
Cây Xà nu vừa là người chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh, vừa là
đối tượng hủy diệt của bom đạn kẻ thủ “Cả rừng xà nu hàng vạn cây, không
cây nào bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang thân mình, đổ ào như
một cơn bão”. Ở một chỗ khác, tác giả tả kỹ hơn “nơi chỗ vết thương nhựa
ứa ra tràn trề thơm ngào ngạt long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần
bầm lại đen và đặc lại quện thành cục máu lớn”. Hình ảnh đó gợi lên nỗi
đau thương mất mát, lòng căm thù, kết tụ ý chí phản kháng.
Hình tượng Cây xà nu còn là hình ảnh tượng trưng cho cuộc sống và phẩm
chất người dân Xôman nói riêng, Tây Nguyên nói chung: như giàu khát vọng
tự do, giải phóng, phẩm chất anh hùng, sức sống mãnh liệt của các thế
hệ nối tiếp nhau.. Chính vì hình ảnh Cây xà nu mang ý nghĩa tượng trưng,
nên sự miêu tả loài cây này, luôn luôn được tác giả đặt trong sự đối
chiếu với con người, gợi ra những liên tưởng về đời sống và số phận cùng
phẩm chất của họ. Cây xà nu rất ham ánh sáng và khí trời: “nó phóng lên
rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng”. Cũng như Tnú, như dân làng Xôman yêu
tự do, khát khao ánh sáng. Bất chấp sự hủy diệt tàn khốc của bom đạn kẻ
thù, cây xà nu vẫn vươn lên với một sức sống mãnh liệt không gì tiêu
diệt, tàn phá nổi “Bên cạnh một cây Xà nu mới ngã gục, đã có 4, 5 cây
con mọc lên ngọn xanh rờn hình nhọn như mũi tên lao thẳng lên bầu trời”,
cũng như các thế hệ làng Xôman, lớp này kế tiếp lớp khác đứng lên, tiếp
tục cuộc chiến đấu: “Tuốt gươm không chịu xuống quỳ Tuổi xanh chẳng
tiếc sá chi bạc đầu Lớp cha trước, lớp con sau Đã thành đồng chí chung
câu quân hành” (Tố Hữu) Anh Quyết hy sinh thì có Tnú, Mai. Mai ngã xuống
giữa tuổi thanh xuân tràn đầy nhựa sống như Cây xà nu bị chặt đứt ngay
giữa thân mình, thì Dít đã lớn lên, và nhanh chóng đến không ngờ trở
thành Bí thư chi bộ, chính trị viên xã đội. Rồi những bé Heng, thế hệ
tiếp theo của Dít cũng đang lớn lên tiếp bước đàn anh. Chính cụ Mết cũng
đã khẳng định được cái sức sống bất tử ấy như một chân lí giản dị:
“Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta, cây mẹ ngã, cây con mọc
lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”. Nhưng ở rừng xà
nu còn xuất hiện những cây khác vững chãi, không chịu khuất phục trước
giông bão, đạn bom của kẻ thù “ưỡn tấm ngực lớn của mình che chở cho xóm
làng”. Phải chăng đó là hình ảnh cụ Mết - hiện thân của tinh thần quật
khởi, người đã nuôi ngọn lửa khát vọng tự do, gắn bó với Cách mạng? “Có
những Cây xà nu cành lá xum xuê như những con chim đã đủ lông mao, long
vũ, đạn đại bác không gíêt nổi chúng. Những vết thương của chúng chóng
lành như trên một cơ thể của chúng chóng lành như trên một cơ thể cường
tráng”. Tất cả nối tiếp nhau tạo thành một đội ngũ trùng trùng điệp điệp
như rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời. Thủ pháp nghệ thuật so
sánh, đối chiếu như một ẩn dụ trên đây trong khi mô tả Cây xà nu, đã
tạo nên sự chuyển hóa, hòa hợp giữa hình tượng thiên nhiên và con người,
tạo nên một bản hợp xướng đầy chất thơ hào hùng tráng lệ về sức sống
bất diệt và cuộc chiến đấu bất khuất kiên trung của nhân dân Tây Nguyên
giành tự do. 3. Kết luận
Tóm lại,
hình tượng xà nu là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Trung
Thành. Nó được dùng như một ẩn dụ gợi cho người đọc nghĩ đến con người
Tây Nguyên yêu tự do, dồi dào sức sống, bất khuất kiên trung, thủy chung
với Cách mạng. Như thế là hình tượng Cây xà nu đã được tác giả đưa lại
cho biết bao ý nghĩa mới mẻ giàu tính chất thẩm mỹ và ý nghĩa nhân sinh,
trở thành linh hồn tác phẩm.Vì vậy, tác giả đã đặt cho truyện của mình
cái tên thật có ý nghĩa: “Rừng xà nu”. CHÚC BẠN LÀM TỐT
|
|
|
|
|
|
đặt câu hỏi
|
Ai trả lời được.....?
|
|
|
|
Phân biệt hai khái niệm: Nhân vật trữ tình và Nhân vật trong thơ trữ tình?
|
|
|
|
giải đáp
|
Ai biết thì chỉ cho mình nhé hoặc biết trang web nào giống như thế thì chỉ cho mình nhé.
|
|
|
|
Bạn tham khảo bài này và bổ sung thêm nhé!
1.Thuyết minh tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh ra đời và giá trị nội dung, nghệ thuật
"Chinh phụ ngâm" ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVIII với nguyên tác bằng Hán văn của Đặng Trần Côn, liền sau đó được Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn nôm (dịch thành quốc ngữ). Kể từ khi được Đoàn Thị Điểm diễn nnoomtacs phẩm đã nhanh chóng đi vào lòng mọi tầng lớp quần chúng. Trải qua hơn hai thế kỉ rưỡi cho đến nay, Chinh Phụ Ngâm luôn giữ nguyên giá trị của một viên ngọc văn chương sáng ngời, một sản phẩm đáng tự hào của xứ sở vốn "nổi tiếng thi thư"(2) Nguyên tác Chinh Phụ Ngâm bằng Hán văn của Đặng Trần Côn là một tác phẩm văn chương đặc sắc. Không những giới nho sĩ Việt Nam mà cả các bậc văn nhân Trung Hoa, đều yêu thích và khâm phục tác phẩm này. Bằng văn tài xuất sắc, Đặng Trần Côn sử dụng thể thơ tự do như "cổ phong" trong "Nhạc phủ" hoặc thể"từ" mà Khuất Nguyên và Lí Bạch từng sử dụng, để viết nên một tác phẩm trữ tình hiếm có, mô tả tâm sự sâu xa của một thiếu phụ vắng chồng. Văn chương trong Chinh Phụ Ngâm vô cùng diễm lệ, chứa chan tình cảm, uyển chuyển và đầy nhạc điệu. Trong số thi phẩm Hán văn của nền văn học nước ta, hiếm có tác phẩm sánh ngang được với Chinh Phụ Ngâm . Với Chinh Phụ Ngâm bằng quốc ngữ, xưa nay nhiều bậc thức giả uyên bác đã phân tích và đánh giá về nhiều phương diện. Vậy mà ngày nay những khám phá mới mẻ và sâu sắc hơn vẫn tiếp tục ra đời. Điều đó chứng tỏ Chinh Phụ Ngâm súc tích biết chừng nào về giá trị nội dung lẫn giá trị nghệ thuật. 2. Phân tích đoạn thơ (1-8)
Đặng Trần Côn là tác giả sống vào nửa đầu thế kỉ XVIII, tài nghệ văn chương của ông lừng thiên hạ vời nhiều tác phẩm nổi tiếng, một trong số ấy có “ Chinh phụ ngâm”. Tác phẩm “ Chinh phụ ngâm” thuộc thể loại ngâm khúc, có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Đoạn trích “ TCLLCNCP” được trích trong tác phẩm đã thể hiện nỗi nhớ mong người chồng chinh chiến cùng với khát khao hạnh phúc của ngưởi chinh phụ. Đặc biệt qua tám câu thơ đầu của đoạn trích, người đọc dễ dàng cảm nhận được tình cảnh trống vắng và tâm trạng của nhân vật trữ tình. Mở đầu đoạn trích, tác giả đã miêu tả tâm trạng của người chinh phụ, thông qua những hành động: “ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.” Đây là lời than thở triền miên, da diết của người phụ nữ có chồng ra trận. Tác giả đã dùng bút pháp miêu tả nội tâm qua ngoại hình, hành động lặp đi lặp lại không mục đích của người chinh phụ và dáng vẻ buồn rầu, ủ ê không nói lên lời, trong hiên vắng thẫn thờ đợi chồng về. Thời gian đã là chiều tối, không gian là một khoảng hiên vắng lặng cùng với cử chỉ “gieo từng bước” như khắc họa rõ nét cảm giác cô đơn, quạnh vắng của người chinh phụ. Với một khung cảnh như vậy, gợi cho ta sự sum họp, đầm ấm của gia đình, nhưng giờ đây chỉ có mình người phụ nữ lẻ loi, cô độc trong khoảng không trống vắng, không có người chồng bên cạnh. Cảm giác trống trải bủa vây người chinh phụ làm cho nàng gieo từng bước chân một cách mệt mỏi và chậm rãi. Mỗi bước chân như chất chứa nỗi lòng, nỗi ưu tư phiền muộn của người phụ nữ xa chồng, đang mong ngóng từng ngày chồng trở về. Người phụ nữ như quặn thắt trong lòng khi chỉ nghe được tiếng bước chân âm thầm của mình.
“ Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen” Hành động buông rèm rồi cuốn lên nhiều lần đó là hành động lặp đi, lặp lại không có mục đích rõ ràng, thề hiện một tâm trạng tù túng, nóng ruột. Cảm giác vừa nhớ nhung da diết, vừa lo lắng sốt ruột cho sự an nguy của chồng mình đang đi chinh chiến phương xa. Nỗi nhớ cùng với tâm trạng mong ngóng đợi tin của chồng dồn nén ở người chinh phụ, tạo ra một cảm giác cô đơn buồn khổ ở nhân vật trữ tình. Chẳng những thế, càng mong ngóng chờ đợi thì kết quả lại chẳng được gì “ Ngoài rèm thước chẳng mách tin” “ Thước” là loài chim báo tin lành, báo tin người đi xa đã trở về. Thế mà ngay lúc này, con chim Thước lại im bặt, làm cho nỗi nhớ, nỗi khắc khoải mong chờ trong lòng người chinh phụ lại tăng lên gấp bội. Chim thước chẳng mách tin, người chông yêu thương vẫn chưa trở về, nỗi đau đớn âm thầm nhưng quá lớn ấy khiến nàng khao khát có sự đồng cảm. Nhưng trong khung cảnh đau buồn này thì chỉ có ngọn đèn leo lét làm bạn với nàng. “ Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” Tâm trạng quá cô đơn đã làm cho nàng phải thốt lên câu hỏi: Liệu ngọn đèn dầu mờ ảo ấy có thấu chăng nỗi lòng của nàng, có chiếu sáng được đến tâm can đang mong nhớ chồng của nàng, Liệu ngọn đèn có thấu hiểu được sức nặng của nỗi cô đơn, của sự nhung nhớ lại dồn cả lên nàng .Câu hỏi tu từ như là tâm trạng của người chinh phụ, câu hỏi nhưng không có câu trả lời, nhân vật trữ tình hỏi ngọn đèn-một vật vô tri vô giác- nhưng dường như đang muốn được bày tỏ nỗi lòng của mình.Đó chính là lời than thở, hi vọng trong nàng, nỗi khắc khoải đợi chờ đã trở nên day dứt không yên. “ Đèn có biết dường bằng chẳng biết Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”
Điệp ngữ bắc cầu “ Đèn biết chăng - đèn có biết” diễn tả nỗi tù tùng, nỗi buồn dài lê thê của người chinh phụ.Hình ảnh “ đèn” đã được lặp lại hai lần.hân vật trữ tình đã giải tỏa tâm sự với ngọn đèn, nhưng một vật vô tri vô giác như vậy thì làm sao hiều rõ được cảm giác của người chinh phụ. Nhân vật trữ tình lại ôm nỗi cô đơn, buồn bã một mình. Nhìn ngọn đèn leo lét trong màn đêm tĩnh mịch như vậy, lòng người chinh phụ càng thêm quặn thắt. Ngọn đèn là hình ảnh gợi cảm giác sum họp, ấm áp, càng khắc sâu nỗi cô đơn, buồn bã, khắc khoải trong lòng người.
“ Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương”
Kết thúc tám câu thơ là hình ảnh “ hoa đèn”. “ Hoa đèn” là đầu bấc đèn dầu đã cháy như than nhưng được nung đỏ lên trông như hoa. Hình ảnh “ngọn đèn, hoa đèn”, gợi cho ta liên tưởng đến hình ảnh “ đèn không tắt trong bài ca dao
“ Đèn thương nhớ ai Mà đèn không tắt?”
Trong im lặng dằng dặc, dưới ánh đèn đêm thăm thẳm, chinh phụ trẻ chỉ có biết trò chuyện với cái bóng của chính mình, với ngọn đèn, gợi cho ta cảm nhận được nỗi cô đơn khắc khoải và vô vọng của người chinh phụ.
Qua tám câu thơ đầu, người đọc đã cảm nhận được những tâm trạng của người chinh phụ. Khung cảnh quạnh hiu, trống vắng cùng với những động từ miêu tả hành động để thể hiện tâm trạng, điệp ngữ bắc cầu đã khắc họa sự ưu tư, phiền muộn và cô đơn của nhân vật trữ tình khi nhớ về người chồng chinh chiến của mình.
|
|