|
|
giải đáp
|
Quan niệm văn học của Cao Bá Quát
|
|
|
|
Cao Bá Quát là nhà thơ lỗi lạc thời trung đại, chẳng những sáng tác hết sức dồi dào mà quan niệm về văn học cũng có nhiều điều mới mẻ so với thời đại của ông. Trong điều kiện tư liệu còn hạn chế, tập 2 Toàn tập Cao Bá Quát chưa xuất bản, chúng tôi xin đưa ra đôi điều nhận xét sơ bộ. Trước hết là quan niệm của ông về mối quan hệ giữa văn chương và quốc ngữ. Quốc ngữ là tiếng nói của dân tộc, còn văn chương là ngôn từ nghệ thuật, văn học, hai phạm vi khác nhau. Nói về quốc ngữ, quan điểm của Cao Bá Quát thực rõ ràng. Ông viết: “Sống ở đất này, có thể bỏ được tiếng quốc ngữ không? Không bỏ được. Đọc sách quốc ngữ, có thể bỏ được truyện Hoa tiên và Kim Vân Kiều không? Không bỏ được. Ôi, người xưa đã đem tâm chí đúc chuốt thành lời hay ý đẹp, cốt để chắp lòng nối cánh cho văn chương của ta, mà lại coi thường được sao?”(1). Sưu tầm Quốc ngữ không thể bỏ. Quốc ngữ lại được trau chuốt làm nền tảng cho văn chương nước nhà như Hoa tiên, Kim Vân Kiều là điều không thể phủ nhận, không ai phủ nhận. Vậy có thể lấy quốc ngữ làm văn chương được không? Câu trả lời tưởng đã có từ thời Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm rồi, ai ngờ bây giờ lại được đặt ra lại. Quan điểm của Cao Bá Quát hình như còn có chỗ chưa dứt khoát. Một mặt ông thận trọng suy nghĩ: “Than ôi, lấy quốc ngữ làm văn chương thì ta chưa dám, nhưng lấy văn chương mà coi quốc ngữ thì ta có phần tán thành.” Ông chưa dám lấy quốc ngữ làm văn chương, Nhưng mặt khác ông đã thấy quá trình văn Nôm phát triển: “Nước ta từ sau Hàn Thuyên, các tác gia mọc lên như rừng: Ôn Như Hầu làm thơ cổ khuôn mẫu ngang với Thiếu Lăng; Bằng quận công(2) đặt điệu cung từ, giong ruỗi không nhường Hán Nguỵ; đến như văn hay của truyện khúc nay ta đã được thấy Hoa Tiên và Kim Vân Kiều. Như vậy chỉ coi quốc ngữ là quốc ngữ thì hai cuốn truyện này không có cũng được, nhưng nếu phải cần tiến lên, tìm cách làm cho rõ thế nào là văn chương của ta, thì các bạn cùng yêu văn với ta nghĩ sao đây?” thì có vẻ như ông còn lưỡng lự. Thế nghĩa là lấy văn chương mà đánh giá quốc ngữ thì ông có phần tán thành, bởi vì đã có Hoa Tiên và Kim Vân Kiều làm chứng. Nhưng lấy quốc ngữ làm văn chương thì ông vẫn hoài nghi. Vì sao lại chưa dám? Rõ ràng không phải quốc ngữ chưa đủ phẩm chất để làm văn chương. Lí do có lẽ là vì lúc này quốc ngữ chưa có những áng văn xuôi có thể sánh ngang với Hán văn. Xét về mặt này thì sự ngập ngừng của họ Cao có thể hiểu được, bởi vì phải đến đầu thế kỉ XX chúng ta mới có văn xuôi quốc ngữ dưới dạng quốc văn mới. Khi quốc ngữ chỉ mới có văn vần mà chưa có văn xuôi thì nó chưa thể làm được văn chương hoàn bị. Dù sao một sự ngập ngừng đã làm cho ở thế kỉ của Cao Bá Quát, một khẩu hiệu dùng quốc ngữ để sáng tác văn chương là chưa thể đề xuất ra được, phải đợi đến đầu thế kỉ XX. Cũng có thể vì thời nhà Nguyễn quá đề cao chữ Hán, độc tôn nho học. Phải chăng văn chương đây còn có nghĩa là văn bản dùng trong hệ thống nhà nước, trong thi cử, cho nên theo tác giả vẫn nên dùng chữ Hán tốt hơn. Thực tế thơ văn của ông cũng cho thấy, tuy sáng tác chữ Nôm rất hay, nhưng hầu hết sáng tác của Cao Bá Quát, bao gồm hàng nghìn bài đều làm bằng chữ Hán. Ông vẫn coi trọng chữ Hán hơn chữ Nôm. Quan niệm ấy đã hạn chế sáng tác chữ Nôm của ông, một nhà thơ tài hoa, không thể không lấy làm tiếc cho văn học nước nhà. Nhìn chung quan niệm văn chương của Cao Bá Quát về cơ bản là quan niệm văn học nho gia. Trong bài Đọc Kinh Thi ông tâm niệm: “Làm thơ Tang hổ để nghĩ đến người thiện, Hát chương Thấp linh vì nhớ đến người hiền. Ngìn năm sau, ai đã nối được âm điệu, Lòng những muốn trông làm khuôn mẫu”... Nhưng ông là người yêu tự do: “Chiếc nón nghênh ngang lẫn với đời, “Giang ngoại xuân” dạo hát thảnh thơi - Chịu sao nổi mái nhà thấp khúm núm cúi ngửa theo ý người”... Vì thế về nội dung văn học, Cao Bá Quát đã có quan niệm cởi mở. Ông phản đối những kẻ “khinh bạc”, xem Hoa Tiên là “lối văn dâm đãng, khúc hát lẳng lơ”, “thực đáng buồn cười”. Ông coi trọng chữ tình trong văn chương: “Xưa nay nỗi khổ của người ta không gì bằng chữ tình”, trong truyện Hoa Tiên “chữ tình được thể hiện sâu sắc, đến như tan hợp, buồn vui, vị trí cảnh ngộ thực éo le kì lạ, lời nói thì bi tráng, văn viết thì trầm hùng, những cái đó khác nào như bụi bặm, cám bã mà đem hun đúc thành gạch ngói, giúp đỡ các tác giả, khiến cho sau này truyện Kim Vân Kiều có thể xuất hiện”(3). Ở đây không thể không đánh giá cao quan điểm tiến bộ và quan điểm lịch sử của Cao Bá Quát. Điểm nổi bật nhất là Cao Bá Quát phê bình thơ đương thời thiếu cá tính sáng tạo, ý thức tự chủ còn thấp. Trong bài Tựa viết cho tập thơ của Miên Thẩm, ông viết: “Tôi nghĩ, thơ thật khó nói. Quốc công cũng biết rồi. Hiện nay cái học khoa cử in sâu vào người ta đã mấy trăm năm, tiếng vang của phong nhã hầu như đã tắt hẳn. Quốc triều ta trị giáo sáng sủa, các tác gia lại nối gót mà ra đời. Nhưng vì cái thói uỷ mị, yếu ớt còn rơi rớt lại, ít có người tự thoát ra được: người kém thì khổ vì nỗi làm theo mẫu, dễ dãi; người có hào khí thì mắc vào bệnh nuốt sống, bắt tươi. Có những người sức học gọi là dồi dào, hí hửng tự đắc, thì chỉ muốn vơ vét trăm nhà, thâu tóm mọi thể, thành ra mô phỏng quá nhiều mà phong cốt chưa cao, tô điểm có khéo, nhưng tinh thần còn thấp”(4). Trong bài thơ Văn tất kỉ xuất (Văn phải tự mình làm ra), ông càng phê bình gay gắt hơn khuyết điểm ấy và khẳng định mạnh mẽ tinh thần tự sáng tạo. Bài thơ viết: Đâu cần tài chạm khắc - Làm văn tế cá sông - Tu từ lòng thành thật - Màu sắc phải siêu quần - Đạo văn là cặn bả - Ý mới trong điển phần - Lời cũ diệt như cỏ - Tứ lạ vút từng không - Theo mẫu tự bôi bẩn - Tiền cũ chẳng ai cần - Lời thật nên tác giả - Ngòi bút quét nghìn quân - Tự đắc khác đồng đắc - Lời viết theo người khác - Chỉ đáng cúng quỷ thần - Dám gửi trọn ước mong(5). Ông đả kích mạnh mẽ: kẻ đạo văn chỉ là loại cặn bả; kẻ làm theo mẫu chỉ là tự bôi bẩn mình, văn ấy như đồng tiền cũ không ai dùng; lời cũ phải dẫy bỏ đi như cỏ, không đáng tiếc, có thế cái mới lạ mới có dịp được khẳng định; nói theo người khác răm rắp thì chỉ dùng làm đồ cúng. Chẳng phải lời cúng thì muôn người gần như nói giống nhau đó sao? Trong thời trung đại ý thức tác giả chưa cao, làm văn thơ thường hay vay mượn, sao chép, có ý tưởng như Cao Bá Quát thật là một tư tưởng mới mẻ, hiếm có, và cũng chưa có ai lên án tệ sao chép, dạo văn, ít sáng tạo mạnh mẽ như Cao Bá Quát. Ông chủ trương làm văn lòng phải thành thật, nảy sinh tự lòng mình. Tư tưởng này mới nhìn thì không mới, bởi từ xưa trong Kinh Dịch trong quẻ càn đã có câu: “Tu từ lập kì thành”. Nghĩa là lựa chọn từ ngữ biểu cảm phải đứng vững trên sự chân thành, lòng thành thực của người viết. Nhưng Cao Bá Quát đề ra yêu cầu cao hơn: Màu sắc phải siêu quần, tứ lạ vút tầng không. Cái “thành” đó phải dựa vào “tự đắc”có tính cá nhân, phân biệt với “đồng đắc”có tính chất tập thể (tức “cộng cảm”), có nghĩa là mỗi người phải có cái riêng (tức “độc cảm”) không lặp lại với người khác. Tất nhiên tự đắc không loại trừ “đồng đắc”, mà có liện hệ nội tại. Chúng ta bây giờ một thời gian dài hầu như chỉ nhấn mạnh tới “đồng đắc”, vẫn lấy quần chúng làm chuẩn, trong khi Cao Bá Quát chủ trương “siêu quần”, vượt lên đám đông bình quân chủ nghĩa. Ông lại chủ trương nói thật (chân) mới làm nên tác giả, có lẽ cái thật trong văn học là phát hiện riêng, “tự đắc” của mỗi người, không phải là cái thật chung chung, cái “đồng đắc”. Quan niệm văn phải tự mình nhà văn mà ra mới nhìn có nét tương đồng với quan niệm “văn như kì nhân” trong lí luận văn học cổ điển Trung Quốc hay “phong cách ấy là con người” của Buffon thế kỉ XVII nhưng xét ra Cao Bá Quát nói về tính độc sáng trong sáng tác. Văn như kì nhân nhấn mạnh đến văn của người ở lầu son gác tía thì khác với văn của người ở lều tranh cửa sài, văn của người chí ở miếu đường thì khác văn của người chí ở nơi điền dã. Phong cách ấy là con người thì khẳng định văn phong gắn với cách tư duy của mỗi người: người tư duy mạch lạc thì văn sáng sủa, người tư duy rối rắm thì văn tù mù. Còn vấn đề của Cao Bá Quát là văn phải tự mình viết ra, không được sao chép, vay mượn, đồ lại của người khác. Ông chủ trương làm thơ tự nhiên, không đẽo gọt. Trong bài thơ Đúng là mưa giục thơ, ông hình dung trận mưa gợi cho ông từ ý tứ tới nhịp điệu, ngôn ngữ: Đầy trời mưa đúng lúc - Giúp ta có hứng ngâm - Chèo thuyền giục tay bút - Đối khách thơ mới ra - Tinh thần tràn mặt giấy - Tí tách vó ngựa phi - Ngân hà tranh rửa bút - Tầm sét mượn tu từ - Khạc lời nghĩ theo gió - Ngọc nẩy kết ý hay - Rào rào tiếng vang dội - Lời chọn thấm đẫm tình - Chắc sớm tìm li châu - Chỉ sợ nâng chén muộn - Trong mắt chẳng ai hơn - Chỉ mơ màng ông Đỗ(6). Trong khi làm thơ các yếu tố của mưa đều gợi ra các khâu của việc làm thơ, chẳng hạn chèo thuyền gợi tay đưa bút nhẹ, nước chảy gợi tinh thần lai láng, tiếng tí tách gõ song gợi nhịp thơ như ngựa chạy, gió thổi như phóng tưởng, tầm sét ví như chọn lựa lời thơ, mưa thấm ướt ví như lời thấm thía. Nhà thơ để lòng hư không để cho tự nhiên vận hành trong tâm hồn. Bài thơ thể hiện “thi pháp tự nhiên”, nghĩa là thơ học theo phép của tự nhiên. Có lẽ do quan niệm thơ chân thành, tự nhiên, có cá tính sáng tạo, phản đối bắt chước mà Cao Bá Quát có cách lựa chọn hình thức thơ cho mình. Thơ tiếng Việt ông thích thể hát nói, thơ chữ Hán ông thích thơ ca, hành, cổ phong, những thể thơ tự do, ít làm thơ luật. Đây là điểm có khác Nguyễn Du. Thơ chữ Hán Nguyễn Du có 249 bài, trong đó có 22 bài ca hành, cổ phong, bằng 8,8%, trong khi đó thơ chữ Hán của Cao Bá Quát (Toàn tập, tập 1) có 418 bài, trong đó có 77 bài cổ phong, ca hành, tương đương 18,4%, nhiều hơn gấp đôi. Có thể khẳng định rằng, mặc dù quan niệm hoài nghi văn chương chữ Nôm đã hạn chế sáng tác thơ Nôm của nhà thơ, song quan niệm thích tự do, trọng cá tính sáng tạo là nhân tố cơ bản làm nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật của thơ Cao Bá Quát. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài "Sa hành đoản ca"
|
|
|
|
Bài tham khảo:I.Tìm hiểu chung 1.Tác giả.
- CBQ ( 1809? – 1855 ), tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường, Mẫn Hiên, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh ( nay là Long Biên, Hà Nội. - Là một nhà thơ có tài năng và bản lĩnh - Thơ văn ông bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng, có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội VN giai đoạn giữa TK XIX. Thuở thiếu thời, CBQ nổi tiếng là thần đồng, lúc nhỏ học với cha, lớn lên học với các bậc danh nho đương thời. Tương truyền lúc mới trên mười tuổi, CBQ đã làm đủ các thể văn và tỏ ra xuất sắc. Năm 1831, CBQ đỗ cử nhân, nhưng mấy lần vào kinh thi Hội đều bị phạm trường quy nên bị đành hỏng. Năm 1841 ông vào làm việc ở bộ Lễ tại kinh đô Huế. Một lần ông giữ chức sơ khảo trường thi Huế, thấy một bài văn hay nhưng bị phạm huý, nên lấy muội đèn chữa hộ, việc bại lộ ông bị kết án xử chém, sau được xét lại, giam ba năm nhưng rồi được tạm tha, cho đi công cán ở Inđônêxia, lấy công chuộc tội. Năm 1847, ông làm việc ở viện hàn lâm, chuyên sưu tầm, xếp thơ văn cho vua đọc. Năm 1853 – 1854 các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh bị hạn hán , nhân dân đói khổ, lòng người bất mãn với chính quyền phong kiến, ông tổ chức cuộc khởi nghĩa ngay trên đất Mĩ Lương, cuộc khởi nghĩa kéo dài được mấy tháng thì bị triều đình dẹp tan. CBQ hi sinh, triều đình Tự Đức ra lệnh tru di tam tộc bà con nội ngoại của ông, sách vở của ông bị đốt huỷ. 2.Bài thơ a.Hoàn cảnh sáng tác.CBQ thi đỗ cử nhân năm 1831, tại trường thi Hà Nội. Để thi tiến sĩ, cần vào kinh đô Huế. Do vậy, ông đã nhiều lần đi Huế để thi Hội (nhưng đã không đỗ tiến sĩ). Hành trình từ Hà Nội vào Huế qua nhiều tỉnh miền trung như Quảng Bình, Quảng Trị là vùng có nhiều bãi cát trắng mênh mông. Ta thấy hình ảnh những cồn cát miền Trung đã sớm đi vào thơ ca. Miền trung, nhất là Quảng Bình, Quảng Trị, là dãi đất hẹp, có thể bằng mắt thường nhìn thấy một phía là dãy Trường Sơn, một phía là biển đông. Không nghi ngờ gì nữa, hình ảnh bãi cát dài, sóng biển và núi là những hình ảnh có thực đã gợi ý cho tác giả sáng tác bài thơ. - Hình ảnh con đường “cùng đồ” trong bài thơ có nghĩa bế tắc đường đời của một trí thức.Con đường trí thức của nho sĩ thuở xưa không có gì khác hơn là học, thi, làm quan. Một sự kiện nổi bật cho thấy, CBQ bất bình với học thuật, khoa cử nhà Nguyễn. - Một phương diện nữa cũng cần chú ý là người VN nói chung và CBQ nói riêng ở giữa TK XIX đã tiếp xúc với văn hoá phương Tây. Họ không thể không suy nghĩ và so sánh về cái học của phương Đông và Tây. b.Thể loại: Thể ca hànhBài thơ theo cổ thể có phần tự do về kết cấu, vần, nhịp điệu. Bài thơ có tình cảm phóng túng, lời dài mà đa dạng, không bị gò bó thì gọi là ca; nhịp điệu nhanh, gấp khẩn trương, lưu loát mà không bị ngưng trệ thì gọi là hành, bài nào kiêm cả hai đặc điểm thì gọi là ca hành. II. Phân tích 1. Thời đại- Thời đại Cao Bá Quát sống là xã hội không còn minh quân, xã hội chỉ sản sinh ra phường danh lợi an phận, ngủ quên trong vinh hoa phú quý. - “ Sa hành đoản ca” thể hiện tâm trạng bi phẫn của kẻ sĩ trước đường đời bế tắc, mịt mù đồng thời thể hiện sự dằn vặt, thức tỉnh của kẻ sĩ khi nhận ra những khó khăn trên đường công danh. - Thời đại Cao Bá Quát sống là xã hội không còn minh quân, xã hội chỉ sản sinh ra phường danh lợi an phận, ngủ quên trong vinh hoa phú quý. Những người có lí tưởng như Cao Bá Quát khi chưa tìm được con đường mới có ý nghĩa họ rơi vào trạng thái cô đơn bế tắc. - “ Sa hành đoản ca” thể hiện tâm trạng bi phẫn của kẻ sĩ trước đường đời bế tắc, mịt mù đồng thời thể hiện sự dằn vặt, thức tỉnh của kẻ sĩ khi nhận ra những khó khăn trên đường công danh. 2. Hình tượng bãi cát và con người đi trên bãi cát- Bãi cát và con đường dài là biểu tượng cho con đường đi tìm chân lí xa xôi, mịt mù, muốn đến được đích phải đầy nhọc nhằn - Đi trên bãi cát ấy là hình ảnh con người vất vả, nhọc nhằn, cô độc. “Đi một bước lùi một bước, lữ khách…nước mắt rơi” - “ Không học được tiên…giận khôn vơi” Nỗi chán nản của tác giả vì tự mình phải hành hạ thân xác của mình theo đuổi công danh. - “ Xưa nay…tỉnh bao người” sự cám dỗ của cái bả công danh đối với người đời. Tác giả đã nhận thấy rõ tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, của con đường công danh theo lối cũ Nhận định mang tính khái quát về nhưng kẻ ham danh lợi đều phải chạy ngược chạy xuôi nhọc nhằn, được nhà thơ minh hoạ bằng hình ảnh người đời thấy ở đâu có quán rượu ngon đều đổ xô đến, mấy ai tỉnh táo thoát khỏi sự cám dỗ của rượu. Danh lợi cũng là một thứ rượu dễ làm say người. Sáu câu thơ này chuẩn bị cho kết luận của tác giả: cần phải thoát ra khỏi cơn say danh lợi vô nghĩa. - “ Bãi cát dài…làm chi trên bãi cát?” Tâm trạng bế tắc của người đi đường, chưa tìm thấy lối thoát trên đường đời. => Nỗi niềm bi phẫn cực độ “ anh đứng làm chi trên bãi cát?” Gọi nó là đường cùng, nhìn thấy phía trước là đường ghê sợ, tác giả đã thể hiện cái mâu thuẩn chưa thể giải quyết trong tâm trạng của mình. Đi tiếp một cách khó nhọc hay từ bỏ nó? nếu đi mình sẽ tầm thường như phường danh lợi xưa nay, nếu bỏ cuộc, chẳng biết rẽ hướng nào vì “phía Bắc núi Bắc núi muôn trùng, phía Nam núi Nam sóng dào dạt” Mọi ngã đều chắn hướng, dưới chân là bãi cát và con đường ghê sợ, biết làm sao đây? Bài thơ kết lại trong một nỗi niềm bi phẫn cực độ: “Anh đứng làm chi trên bãi cát?” Một sự bỏ cuộc, từ chối vì ông biết trước con đường ấy sẽ dẫn đến ngõ cụt. Sự bỏ cuộc thật đáng trân trọng, cái bế tắc tuyệt vọng nhưng không làm họ nhỏ bé, hèn mọn, từ bỏ cái mịt mù vô nghĩa để tìm lại từ đầu một con đường đi đúng để thực hiện lí tưởng… => Vẻ đẹp của nhân cách, của lí tưởng sống ở một con người ý thức được bản thân mình trong cuộc đời. 3. Nghệ thuật- Thay đổi cách xung hô. (Khi thì “ khách”, khi thì “ta”, khi thì “anh”) nhiều trạng thái tâm trạng, giúp tác giả nói một cách thuyết phục hơn về vấn đời danh lợi trong đời. - “Khách”: tự tách mình thành khách thể để có thể nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan về con đường công danh. Khi xưng “anh”: ông đặt mình trong thế đối thoại với chính mình để tìm lối thoát; “ ta”: là chủ thể trữ tình, vị trí của một người đang vất vả trên đường danh lợi để giãi bày tâm sự của người trong cuộc… - Bài thơ sáng tác theo lối thơ cổ, câu dài, ngắn xen nhau, vần thơ bằng trắc phối nhịp nhàng, tiết tấu phong phú, giọng điệu khi thì bi tráng, khi thì u buồn… Nhiều câu hỏi, câu cảm thán thể hiện nhiều trạng thái tâm trạng… Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Tiểu sử Cao Bá Quát
|
|
|
|
Tư liệu tham khảo:Cao Bá Quát (1809? -1855) tự Chu Thần sinh tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, mất giữa trận tiền Quốc Oai trong cuộc khởi nghĩa chống triều đình thời Tự Đức... Tự Đức tru di ba họ Cao Bá Quát, thu hồi tiêu hủy văn chương ông. Nhưng ông được lòng dân bảo vệ: một rừng truyền thuyết ca ngợi tài thơ, lòng dũng cảm, trí thông minh và tinh thần thương dân yêu nước của ông. Tác phẩm của ông còn được lưu đến nay là 1353 bài thơ, 21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối. Thập tải luân giao cầu cổ kiếm (Mười năm giao thiệp tìm gươm báu) Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Một đời chỉ cúi trước hoa mai)
Đôi câu đối ấy đã thâu tóm khá đầy đủ hoài bão và phẩm chất Cao Bá Quát. Lúc trẻ Cao Bá Quát cũng như trăm nghìn sỹ tử khác mong học giỏi đỗ cao để giúp đời. Trong thơ thấy rõ cái hăng hái thường tình ấy Trên đường công danh đã mấy ai nhàn/ Mũ lọng nhộn nhịp ta cũng đi đây. Nhưng cũng nhận ra ngay trong cơn hăng hái trên đường đi thi ấy cái khí phách khác thường của ông: Sóng biển trào lên như đầu bạc lô nhô Gió giận dữ đánh chìm cả những chiếc thuyền to Chớp giật sấm ran ai nấy đều xanh mắt, Giữa cảnh, con chim hải âu vẫn nhởn nhơ
Sau này trong truyền thuyết về Cao nhiều giai thoại cũng vẽ nên sự bình thản của ông giữa gian lao như hải âu giữa bão: Một chiếc cùm lim chân có đế Ba vòng xích sắt bước thì vương.
Khí phách ấy bắt nguồn từ chất tâm hồn của Cao Bá Quát. Tâm hồn ấy cao rộng. Qua núi Dục Thúy: Ta muốn trèo lên đỉnh núi cao ngất kia/ Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước. Tâm hồn ấy giàu năng lực bên trong, chấp nhận cái khó của đường đời: Bãi cát dài, bãi cát dài! Bước một bước lại như lùi một bước.
Trong tình cảnh oan khốc bị giam cầm, tra tấn chỉ vì tội sửa vào bài thi cho một thí sinh có tài vô ý phạm trường quy, ông tỉnh táo và can đảm coi việc mình làm là việc thiện, mà việc thiện thì ở hoàn cảnh nào cũng nên làm. Ông coi công lý thời ấy như cái máy làm nhục người (Bài thơ tả cái cùm). Ông nhìn thẳng vào chiếc roi da đang quật nhoang nhoáng vào người mình, ông tả nó và tả chính tâm trạng mình, như một cuộc đọ sức. Cái việc tả chính xác với các chi tiết nghiêm lạnh cho thấy ai vững hơn ai: Roi quất nhoang nhoáng bay đi liệng lại như ánh chớp. Lúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở Lúc ngừng như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi (...) Ở nơi góc đài những giọt sương trong cũng vì ta mà bay lên Roi song rủ xuống thôi không hăng như trước nữa Chắp tay đứng, ruột mềm quặn lại như cuốn vào ngón tay được.
Ông nhìn sông dài như lưỡi kiếm dựng giữa trời xanh. Ông hỏi hoa sen ngươi có hồng bằng mặt rượu của ta không? Ông thấy núi như chiếc chén xà cừ của khách say. Khí phách, tài tử như Cao Bá Quát lại là người thắm thiết tình cảm, đặc biệt tình cảm gia đình. Ông có những câu thơ thương vợ thương con tình cảm chân thực, ngôn ngữ mộc mạc, hình như ông không muốn vẻ đẹp của tài thơ làm mờ đi nét thực của cảm xúc. Một số truyền thuyết muốn nhấn mạnh khí phách Cao Bá Quát đã mô tả ông có tính cách ngang tàng khinh bạc, coi nhẹ tình cảm, e không đúng. Cao Bá Quát khí phách nhưng đa cảm, đó là sự phong phú của tâm hồn ông. Thương xót người thân và thương xót mọi người nghèo khổ, bị ức hiếp. Hãy nghe ông mời một người đói cùng ăn Than ôi hãy ngừng lệ Một bữa ta tạm mời Đời người như quán trọ Ung dung nào mấy ai Thong thả đừng nuốt vội No ứ dễ hại người.
Cao Bá Quát đã thấy nguồn gốc nỗi khổ ấy, không dễ nói thẳng ra, nhưng ông đã tìm cách nói: Nghe nói xe Rồng vừa ngự tới Cung vua sẵn đó lại cung vua
Tâm sự nhà nho Cao Bá Quát rối bời: Tâm sự và tóc có chi phải so sánh vắn dài/ Đến lúc đã rối bời thì cùng rối bời như nhau. Rối bời vì ái quốc thì không thể trung quân. Cuối đời, những bài thơ Cao Bá Quát càng nặng trĩu nội tâm. Không chỉ buồn thương, mà có buồn thương cũng không chỉ vì thân danh mình lận đận. Hoài bão của con người một đời chỉ cúi trước hoa mai rộng xa hơn nhiều. Trước cảnh đời ngang trái ấy ông không thể làm tấm bia không chữ, (Thế sự hà kham một tự bi). Ông phải có thái độ, nhưng thái độ ấy không thể nói trong thơ. Ông như cái hạt sen ôm tấm lòng đắng ngắt chỉ mình mình biết (Liên tử hữu tâm tri độc khổ). Đêm xuân đọc sách mà như đối thoại với người xưa (Bùi ngùi xuân này ngồi đối diện với người xưa) mà như giao lưu với vũ trụ (Dưới có người không ngủ/ Trên có vì sao muốn rơi). Trong bài Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường Tín, ý chí hành động của Cao Bá Quát đã rõ, sau khi nhắc đến Chu An, Nguyễn Trãi, ông viết: Khách nam nhi chẳng vì thế thái Đem thân ra đỡ lấy cương thường
Năm 1853 Cao Bá Quát đã trở thành một trong những người lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương. Bối cảnh lịch sử chưa đủ chín để cuộc khởi nghĩa thành công. Nhưng Cao Bá Quát đã trở thành hình tượng sáng chói của lớp nhà thơ hoạt động, từ thơ mà thành chiến sỹ, lấy máu để diễn tả cao nhất cảm xúc của chính mình. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Tư liệu bài "Sa hành đoản ca"
|
|
|
|
Tư liệ tham khảo:1. Chu Thần - Cao Bá Quát, một hiện tượng hiếm quý trong thơ trung đại. Mà, có lẽ cho đến nay, người đời vẫn chưa đánh giá một cách sâu sắc, đích thực.... về ông - nhất là mảng thơ Hán tự. Nếu gọi ra điệu hồn riêng trong thơ chữ Hán của Cao Bá Quát, có thể khái quát trong mấy chữ này chăng: Một hồn thơ phóng khoáng, đôn hậu và cũng đầy kiêu hãnh, sâu sắc! Với "Sa hành đoản ca" (Bài ca ngắn đi trên bãi cát) - thi phẩm đặc sắc, trong chương trình Ngữ văn lớp 11, Cao Bá Quát thực sự đã kết đọng trong lòng độc giả những cảm nhận khó quên về một Người và cũng là một lớp Người: Nhà Nho tài tử! Những kẻ sĩ - nghệ sĩ yêu đến tôn thờ cái đẹp: Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Một đời (ta) chỉ biết cúi đầu trước hoa mai!)
Những kẻ sĩ - nghệ sĩ, chân thành và kiêu hãnh trong cảm hứng trước thiên nhiên mà giãi bày tâm nguyện: Bất kiến ba đào tráng An tri vạn lí tâm (Nếu không thấy được sóng hùng Làm sao biết được tấc lòng muôn phương)
2. Đứng ở góc độ người dạy, muốn thẩm định thi phẩm "Sa hành đoản ca", tôi muốn nhấn tới một điều thiết thực, cơ bản trong giảng dạy. Đó là, giúp học sinh nắm bắt đời và thơ của thi sĩ họ Cao - tất nhiên, từ đó cần chỉ ra nét riêng, điệu riêng của thơ Chu Thần. Đấy chính là tâm thế, bức xúc của một thi nhân trước bao điều bất công, ngang trái; trước bao điều thực giả hỗn độn giữa sa mạc - cuộc đời! Cảm thức được điều đó, mới nhận ra, mới tường minh chất bản ngã, bản lĩnh riêng của nhà thơ họ Cao. Cao Bá Quát đã chọn hình thức biểu hiện của thơ ngũ ngôn - phù hợp với giọng điệu tâm tình, cho riêng những câu thơ đầu: 2.1 Trường sa phục trường sa, Nhất bộ nhất hồi khước. Nhật nhập hành vị dĩ, Khách tử lệ giao lạc. (Bãi cát dài lại bãi cát dài, Đi một bước như lùi một bước. Mặt trời đã lặn, chưa dừng được, Lữ khách trên đường nước mắt rơi)
Những câu thơ đầu của "Sa hành đoản ca" mở ra một hiện trạng, một cảnh ngộ và cũng là sự lên tiếng đầy bức xúc, bức bối của nhân vật trữ tình (Khách tử). Không gian và thời gian từ những câu thơ trên như đe doạ, như dồn lữ khách tới cái bi thương của hoàn cảnh: ngày sắp tàn (thời gian) mà không gian vẫn trải mở dằng dặc, mênh mang cát trắng (trường sa phục trường sa). Thực cảnh "bãi cát dài" ấy đem đến cảm giác thật rùng mình - "Đi một bước như lùi một bước". Hình ảnh "bãi cát dài" vì thế có thể khơi gợi cảm hứng từ hiện thực khách quan, "được hình thành trong những lần Cao Bá Quát đi thi Hội, qua các tỉnh miền Trung đầy cát trắng như Quảng Bình, Quảng Trị" (Sách Ngữ văn lớp 11 - tập I, trang 40). Nhưng, hình ảnh "Trường sa phục trường sa" trong thơ Cao, thực sự bức bách như nỗi ám ảnh tâm tưởng. Thế nên, sự lên tiếng của nhân vật trữ tình mới quá đỗi chân thực và xúc động: "Khách tử lệ giao lạc" (Lữ khách trên đường nước mắt rơi). Từ hình ảnh về con người nhỏ bé, mong manh giữa biển cát - cuộc đời (tất nhiên hình ảnh "trường sa" vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa là một ẩn dụ - tượng trưng), bài thơ của Cao Bá Quát lại mở tiếp ra một cấp độ nữa của cảm xúc và suy tư. 2.2. Cao Bá Quát đã mượn và tựa vào tích xưa - "Ông tiên ngủ kĩ" để gửi gắm sự sáng tạo riêng của mình trong cách nghĩ, cách nhìn vào cuộc đời và con người: Quân bất học tiên gia mĩ thụy ông, Đăng sơn thiệp thuỷ oán hà cùng! (Anh không học được tiên ông có phép ngủ kĩ Cứ trèo non lội nước mãi, bao giờ cho hết ta oán!)
Về hình thức và giọng điệu của hai câu thơ trên, mới đọc, cứ ngỡ như những lời "tiên trách kỉ", "tự trách kỉ". Đọc và ngẫm kĩ, lại hoá ra lời phản ứng quyết liệt của kẻ sĩ - thi nhân giàu bản lĩnh và cá tính. Làm sao có thể học "ông tiên ngủ kĩ " để mà làm ngơ, để mà nhắm mắt, để mà "mũ ni che tai" trước bao cảnh ngổn ngang, chất chồng như cát, như núi, như nước giữa cuộc đời - nhân thế. Cao Bá Quát lên tiếng chối bỏ dạng người an phận (mà thời nào chẳng có!), để rồi chuyển tiếp sang một góc nhìn hiện thực - hiện thực đập vào mắt và chấn động tâm can về đời, về người: Cổ lai danh lợi nhân, Bôn tẩu lộ đồ trung. Phong tiền tửu điếm hữu mĩ tửu, Tỉnh giả thường thiểu tuý giả đồng. (Xưa nay phường danh lợi, Tất tả trên đường đời. Đầu gió hơi men thơm quán rượu, Người say vô số, tỉnh bao người?)
Sắc sảo trong cách nhìn và tỉnh táo trong phán xét, Cao Bá Quát đã thực sự vẽ dựng nên một bức tranh cuộc đời, cũng là bức tranh nhân sinh: - Phần đông con người - tầm thường mang bản chất tham lam, vị kỉ và bon chen. Thế nên, tự cổ chí kim (cổ lai), bọn người ấy mới khốn khổ, mới vội vã, mới xô bồ trên con đường danh lợi: Xưa nay phường danh lợi, Tất tả trên đường đời.
- Cũng chính vì ham, vì mê mải trên con đường danh lợi, mà bọn người thuộc số đông ấy thật dễ bị dẫn dụ, bị cám dỗ, bị mê hoặc bởi bao nhiêu thứ "mĩ tưủ" dậy hương đưa từ đời, từ tửu điếm- nhân sinh: Đầu gió hơi men thơm quán rượu, Người say vô số, tỉnh bao người.
Những câu thơ của thi sĩ họ Cao như chiếu một góc nhìn trong tâm thế vừa thầm lặng cô đơn, lại cũng vừa thầm lặng kiêu hãnh; nỗi cô đơn và niềm kiêu hãnh của một con người không muốn và không thể tan hoà trong đám chúng sinh bon chen cầu danh lợi. Mượn những hình ảnh hiện hữu đơn phương từ những "danh lợi nhân", Cao tiên sinh đã tạo nên thế tương phản, đối lập thầm lặng mà quyết liệt giữa cái tầm thường với cái thanh cao; giữa cái ồn ã sục sôi từ thiên hạ với cái lặng lẽ, cao ngạo từ con người - bản thể của mình. Cao Bá Quátcũng đồng thời nói lên một sự thực mang tính quy luật: người tỉnh trên cõi thế, giữa thời loạn luôn là người gánh chịu nỗi cô đơn. Cô đơn nên mới một mình vất vưởng trên sa mạc mà cũng là hoang mạc - thời đại. người nghệ sĩ - kẻ sĩ chân chính cũng phải biết chấp nhận cô đơn, đau buồn mới tạo cho mình một tư thế khả dĩ đối mặt với đời. 2.3. Khúc ca đường cùng - Khúc ca bi trángTứ thơ của "Sa hành đoản ca" - trong những câu thơ cuối đang thực sự vận động với nội lực đầy day dứt, trăn trở như sắp bùng phát cơn bão tố của lòng người: Trường sa trường sa nại cừ hà? (Bãi cát dài, bãi cát dài biết tính sao đây?)
Một câu thơ, một câu hỏi - tự nó ngân vang lời bi thiết trước hiện trạng như bế tắc, bần cùng khi con người đi đường mà chưa tìm ra đường. Chỉ thấy trước mắt: đường thật nhiều ám ảnh, ghê sợ mà "bước đường bằng phẳng thì mờ mịt"! "Sa hành đoản ca" của Cao Bá Quát, chợt cất lên tiếng thơ, tiếng hát khởi phát từ lòng người, thật lạ: Thính ngã nhất xướng cùng đồ ca (Hãy nghe ta hát khúc "đường cùng")
Cái hay và ấn tượng trong những con chữ của Cao Bá Quát là ở chỗ: tác giả dùng chữ "ca" (hát) chứ không dùng chữ "thuyết" (nói). Thế nên không thể: "Thính ngã nhất xướng cùng đồ thuyết" (hãy nghe ta nói lời đường cùng). Nỗi bi phẫn, u uất trong lòng, làm sao chỉ giải toả bằng lời nói thường tình? Phải cuồng ca, sảng ca - những lời ca dậy lửa, dậy sóng từ con tim đang ngập tràn nỗi đau và niềm kiêu hãnh. Khúc ca bi tráng của Cao Bá Quát đã đến độ cao trào của cảm hứng. Trước cảnh tượng điệp trùng vây bủa của núi, của sóng, của cát... phải biết đi tìm sự giải thoát cho số phận: Bắc sơn chi bắc sơn vạn điệp, Nam sơn chi nam ba vạn cấp. (Phía bắc núi Bắc núi muôn trùng, Phía nam núi Nam sóng muôn đợt) Nhà thơ họ Cao chợt tìm đến mà hạ bút kết lại "Sa hành đoản ca" trong một câu thơ lạ. Và, cũng chính vì lạ mà chợt nâng cao và rộng mở, tầm cảm xúc và suy tư cho toàn bộ thi phẩm; tứ thơ cũng đột ngột dâng trào từ hình thức nghi vấn. Quân hồ vi hồ sa thượng lập? (Anh còn đứng làm chi trên bãi cát)
Bài thơ khép lại bằng câu hỏi với bao nhiêu băn khoăn, u uất. Nhưng, cũng chính từ câu chữ ấy, lại đánh thức sự tung phá và giải thoát cho con người và cảnh ngộ. Với Cao Bá Quát, con đường giải thoát cho số phận mình là tìm đến và tham gia cuộc khởi nghĩa Mĩ Lương (1854) chống lại triều Nguyễn. Từ buồn đau, bế tắc và cô đơn, trước bãi cát mịt mùng nghiệt ngã của cuộc đời - tiên sinh họ Cao tìm đến kiêu hãnh giữa thiên nhiên khoáng đạt vĩnh hằng như tâm sự của ông trong một bài thơ chữ Hán khác - "Quá Dục Thuý Sơn": Thiên địa hữu tư sơn Vạn cổ hữu tư tự Phong cảnh dĩ kì tuyệt Nhi ngã diệc lai thử (Trời đất có núi ấy Muôn thuở có chùa này Phong cảnh đã kì tuyệt Lại thêm ta đến đây) Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Vẻ đẹp nhân cách của Nguyên Công Trứ qua bài thơ
|
|
|
|
Bài tham khảo:Khác với những bài hát nói khác, Nguyễn Công Trứ không mở đầu bằng hai câu chữ Hán mà bằng một câu Hán: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” và một câu Việt: “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Câu thơ chữ Hán có nghĩa là trong vũ trụ này không có việc gì là không phải phận sự của ta. Đây là quan niệm thiêng liêng của nhà Nho mà Nguyễn Công Trứ đã nhận thức sâu sắc và hạnh động nhất quán từ trẻ cho đến già. Vì nhiễm quan điểm chính thống đó mà “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Câu thơ hay tuyệt! Nội lực phải dữ dội lắm mới có cái điệu tự hào như vậy. Tưởng chừng như Nguyễn Công Trứ cười một “ông Hi Văn” nào đó, không ngờ “ông Hi Văn” chính lại là Nguyễn Công Trứ! Con người suốt đời say mê công danh nhưng lại coi cái vòng công danh ấy là một cái “lồng”. Tại sao lại có thái độ khinh bạc ấy? Cũng dễ hiểu, Nguyễn Công Trứ là người có tài đã đem hết tài năng, trí tuệ giúp đời, cứu nước, cứu dân. Nhưng xã hội phong kiến mà ông cúc cung tận tụy lại quá bé nhỏ, thảm hại, ông Hi Văn luôn luôn cảm thấy bị ràng buộc, mất tự do, khác chi một con chim trong lồng! Thành ra những hành động chọc trời khuấy nước, tài thao lược của vị đại tướng để trả “nợ tang bồng” cũng chẳng qua là hành vi bay nhảy của con chim trong lồng. “Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng Lúc bình Tây, cờ đại tướng, Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên”.
Kể như thế cũng đã oanh liệt! Văn võ song toàn ở đỉnh cao. Ấy là tác giả chưa kể đến những công trạng khác mà ông đã sáng tạo và đóng góp cho dân cho nước. Nhưng như thế thì Nguyễn Công Trứ có gì khác với giới quan trường vào luồn ra cúi bấy giờ? Đây, “ông Hi Văn” đây rồi! “Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng”
“Ngất ngưởng” ngay trong những hoạt động chính thống! “Ngất ngưởng” ngay trên đỉnh cao danh vọng! Thật là hiếm thấy. Đấy không phải là bộ dạng, hành vi bên ngoài mà ngất ngưởng đã trở thành bản chất của Nguyễn Công Trứ. Là thái độ sống, cũng là cốt cách, là cá tính của “ông Hi Văn”. Làm quan cho một triều đại suy tàn của chế độ pk, giữa đám quan lại, mua bán tước, bên cạnh những “tiến sĩ giấy” oái oăm thay lại cùng trong một “lồng”, nên Nguyễn Công Trứ “ngất ngưởng” cao ngạo là phải. Xét về mặt nhân cách thì thái độ “ngất ngưởng” là “công trạng” lớn nhất của Nguyễn Công Trứ. Thái độ “ngất ngưởng” xuyên suốt của cuộc đời. Nguyễn Công Trứ, nhưng xét đến cùng thì “ngất ngưởng” giữa triều, “ngất ngưởng” trên đỉnh cao danh vọng là thái độ đáng kính nhất của “ông Hi Văn”. Ngông đã trở thành cốt tủy của Nguyễn Công Trứ. Trong tiểu triều “ngất ngưởng”, cáo quan về “ngất ngưởng”: “Đô môn giải tổ chi niên, Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng Kìa núi nọ phau phau mây trắng Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi. Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì, Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng…”
Năm cởi áo mũ, cáo quan về hưu, không thèm cưỡi ngựa mà cưỡi bò vàng có đeo lục lạc, “ông Hi Văn” thật là “ngất ngưởng”. Chưa hết, ông còn cột mo cau sau đuôi bò, nói với thiên hạ là để che miệng thế gian. Rồi bỗng xuất hiện dãy núi quen thuộc của quê nhà: “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”. Núi Đại Nại trên quê hương của thi nhân đẹp một cách hư ảo. Người anh hùng chọc trời khuấy nước nay trở về lân la nơi cõi Phật. “Tay kiếm cung” ấy chỉ có làm đổ đình đổ chùa chứ sao “mà nên dạng từ bi”! “Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì”
Vào chùa mà dắt theo cả ả đào thì chỉ có Nguyễn Công Trứ, hay nói đúng hơn chỉ có Nguyễn Công Trứ là thành thật. Sự thành thật đã làm cho câu thơ trở nên xôn xao, có lẽ còn ở tài hoa nữa. Từ “đủng đỉnh” hay quá, đây là nhịp đi của các nàng ả đào vào chùa, cái nhịp “đủng đỉnh” của tiếng chuông mõ tịch diệt, chứ không phải là nhịp “tùng”, “cắc” dưới “xóm”. Nhưng không phải “đủng đỉnh” chốc lát trước sân chùa mà ả đào thành ni cô. Thì cũng như Nguyễn Công Trứ vào cửa từ bi mà đâu có diệt được lòng ham muốn. “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”
Trong một xã hội mà cá nhân bị thủ tiêu, cá tính bị vo tròn, Nguyễn Công Trứ lại lồ lộ ra một cá nhân, hồn nhiên một cá tính. Với tinh thần nhân văn “ngất ngưởng”, nhà thơ Nguyễn Công Trứ đã đi trước thời đại hàng thế kỉ! Theo dõi bài ca từ đầu, ta thấy đã diễn ra ba giai điệu “ngất ngưởng”. “Gồm thao lược đã nên ngất ngưởng” là “ông Hi Văn” “ngất ngưởng” ở trong “lồng”. Đây là giai điệu kỳ tuyệt, thể hiện khí phách của Nguyễn Công Trứ. Nói một cách khác đây là chiến thắng oanh liệt của sự tự diệt (khi lên đỉnh cao danh vọng người ta không còn là mình nữa). “Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng” là giai điệu Nguyễn Công Trứ cáo quan về hưu “ngất ngưởng”. “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” là giai điệu tự hào của Nguyễn Công Trứ muốn “ngất ngưởng” thoát tục. Và đây là giai điệu cuối có giá trị tổng kết cuộc đời của một nhà nho trung nghĩa mà không đánh mất mình: “Được mất dương dương người tái thượng, Khen chê phơi phới ngọn đông phong Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng. Không Phật, không tiên, không vướng tục Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú. Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”
Đối với Nguyễn Công Trứ, “được mất dương dương người tái thượng”. Tác giả dùng điển tích “Tái ông thất mã”. Được chưa chắc là may, mất chưa hẳn là rùi. Trong cuộc sống bon chen đó, “được mất” một chút là người ta có thể làm thịt nhau, mà Nguyễn Công Trứ lại có thái độ bất biến trước sự được mất thì phải nói “ông Hi Văn” có bản lĩnh cao cường. Lại còn “khen chê” nữa, “khen chê phơi phới ngọn đông phong”. Khen thì vui “phơi phới” đã đành, chứ sao chê mà cũng “phơi phới ngọn đông phong” nghĩa là cũng vui như ngọn gió xuân? Là vì cái gọi là chuẩn mực chính thống không trùng khít với chuẩn mực của nhà thơ. Thì mới oai phong đại tướng “Nguyễn Công Trứ đó đã bị cách tuột xuống làm lính thú, có hề chi, vẫn “phơi phới ngọn đông phong”. Có thể mất chức đại tướng nhưng miễn còn Nguyễn Công Trứ! Những âm thanh này mới làm bận lòng con người yêu đời, ham sống đó: “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng. Không Phật, không tiên, không vướng tục”
Các giác quan của nhà thơ mở về phía cuộc sống tự do, về phía cái đẹp, về phía hưởng lạc. Thơ, rượu, ca trù, hát ả đào mới là đam mê của Nguyễn Công Trứ. Câu thơ nhịp 2/2 réo rắt thật hay (khi ca/ khi tửu/ khi cắc/ khi tùng) làm sôi động cả khúc ca. Tác giả cũng không quên đánh giá lại công trạng của “ông Hi Văn” với triều đại mà ông phụng sự: “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”
Nguyễn Công Trứ tự liệt vào hàng danh tướng, công thần đời Hán, đời Tống của Trung Quốc như Trái (Trái Tuân), Nhạc (Nhạc Phi), Hàn (Hàn Kì), Phú (Phú Bật). Ông tự hào như vậy là chính đáng, vì lý tưởng anh hùng của ông cũng không ngoài lí tưởng trung quân ái quốc của đạo Nho và ông đã sống thủy chung trọn đạo vua tôi. Kể ra tìm một bậc danh sĩ văn võ song toàn như Nguyễn Công Trứ trong thời đại nào cũng hiếm, nhưng không phải là không có. Chứ còn “ông ngất ngưởng” thì tìm đâu ra? “Trong triều ai ngất ngưởng như ông?”
Đây cũng là giai điệu cuối cùng của “Bài ca ngất ngưởng”. Tác giả đã chọn giai điệu “ngất ngưởng” đích đáng để kết thúc bài ca. “Ngất ngưởng” ngay trong triều, “ngất ngưởng” trên đỉnh núi cao danh vọng, đó là nhân cách, là khí phách của Nguyễn Công Trứ. Nếu được chọn một tác phẩm tiêu biểu cho toàn bộ trước tác của Nguyễn Công Trứ thì đó là “Bài ca ngất ngưởng”. Con người, tài năng, khí phách, tinh hoa của Nguyễn Công Trứ thể hiện sinh động trong tác phẩm trác tuyệt này. Thể hát nói đã thành thơ, thơ hay, vừa triết lí, vừa trữ tình, vừa trào lộng. Có một Nguyễn Công Trứ ngoài “lồng” cười một “ông Hi Văn” trong “lồng”, có một Nguyễn Công Trứ ngoại đạo cười một “ông Hi Văn” trong chung. Bốn giai điệu “ngất ngưởng” đã ghi lại cả cuộc đời hoạt động phong phú của một danh sĩ tài tình, trung nghĩa mà không đánh mất mình. Trong một xã hội mà cá nhân không được coi trọng, cá tính bị thủ tiêu thì thái độ “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ chẳng những là khí phách của ông mà còn là một giá trị nhân văn vượt thời đại. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Ý nghĩa nhan đề "Những đứa con trong gia đình"
|
|
|
|
Một vài ý tham khảo: - Nhan đề truyện "Những đứa con trong gia đình" nhằm nhấn mạnh đến nội dung phản ánh trong truyện, đó là truyền thống yêu nước của một gia đình người dân Nam và rộng hơn là hình ảnh cả miền Nam thời kì chống Mĩ. - Trong gia đình ấy, cứ thế hệ sau tiếp nối thế hệ đi trước, lập nên những chiến công ngày một hiển hách. Truyền thống gia đình tuy đau thương nhưng đầy anh dũng và tự hào. - Thế hệ hiện tại của gia đình chính là những đứa con: Chiến và Việt. Cả hai thành viên này tuy còn nhỏ những đã thấm nhuần truyền thống gia đình, sớm ý thức được trách nhiệm với gia đình, đất nước và dũng cảm gánh vác trách nhiệm đó. Đây là một thế hệ trẻ, đầy sức chiến đấu và lòng nhiệt huyết. - Nhan đề câu chuyện còn nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa tình yêu gia đình và tình yêu quê hương đất nước.
|
|
|
|
giải đáp
|
Thầy cô cho em hỏi về Tuyên ngôn độc lập? (em cảm ơn a!)
|
|
|
|
Gợi ý:
1. Bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử trọng đại
và phức tạp. Mục đích của áng văn không chỉ là tuyên bố quyền độc lập
của người Việt Nam trước toàn dân tộc và nhân dân thế giới, mà còn nhằm
hướng tới các nước Đồng minh để bác bỏ luận điệu xảo trá của thực dân
Pháp đang lăm le tái chiếm Việt Nam. 2. Vì vậy, mở đầu áng văn, tác giả trích dẫn hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của thế giwois: Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1791). Việc trích dẫn trên nhằm:
- Tạo được một cơ sở pháp lí vững chắc cho bản tuyên ngôn để khẳng định
quyền dân tộc là "một lẽ phải không ai chối cãi được". - Dùng chiến thuật "gậy ông đập lưng ông" để ràng buộc các nước Đồng minh.
- Thể hiện thái độ trân trọng kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, đề
cao truyền thống bình đẳng, nhân đạo, tư tưởng dân chủ tiến bộ của nhân
dân hai nước Mĩ và Pháp lúc bấy giờ, tranh thủ được sự ủng hộ của nhân
dân thế giới. - Đặt cả ba bản tuyên ngôn ngang bằng nhau, bộc lộ sâu sắc niềm tự hào dân tộc
|
|
|
|
giải đáp
|
nghị luận: Tình bạn là viên ngọc quí (nhờ cả nhà giúp với a!
|
|
|
|
Bài tham khảo đây e!
Các Mác, người cha dẫn dắt, soi đường cho lí tưởng cách mạng vô sản
trên thế giới, từng nhận định về một khía cạnh rất cao đẹp trong cuộc
sống rằng :" Tình bạn chân chính là viên ngọc quý." Trong cuộc sống,
nhiều người cũng đang sở hữu những viên ngọc như thế. Nhưng để viên ngọc
ấy mãi sáng đẹp thì con người thật sự phải biết cách và hết sức cẩn
thận. Tình bạn là quý giá và nó cũng cần được nuôi dưỡng, chăm sóc bởi
những chủ nhân của mình.
Tình bạn là sự kết thân hoàn toàn tự nguyện dựa trên sự hiểu biết về
tính tình, tình cảm, sở thích của nhau trong quá trình học tập, công
tác, sinh hoạt, vui chơi,.... không phân biệt tuổi tác, giới tình, địa
vị xã hội,... Hai đứa bé ngồi cùng bàn học ở lớp là bạn bè, các đồng
nghiệp trong công ty chính là những người bạn tốt, những người ta tình
cờ quen bên đường cũng có thể trở thành bạn,... Bạn bè có ở mọi nơi, mọi
thời khắc và dưới mọi hình thức. Đó là một trong những tình cảm đáng
quý, đáng trân trọng của nhân loại.
Cuộc sống có biết bao sắc màu tươi đẹp, màu lục đem đến sự tươi
vui, đầy sức sống, vàng thì hạnh phúc, ấm áp, xanh lam thì yên ả, thanh
bình;.... Còn tình bạn là sự hòa hợp của gắn bó, thân thiết, mang gam
màu của cầu vồng. Nhưng cũng có lúc nó mang dáng hình của những viên
ngọc giản dị, màu sắc thanh đạm. Tình bạn không chỉ đẹp để tô điểm cho
đời, nó còn tồn tại giữa cuộc đời như một nguồn sống, một chỗ dựa, một
động lực tinh thần cho con người. Tình bạn đem đến một tiếng nói tri âm
của lòng mình, một chỗ dựa thân tình vững chắc, một bàn tay giúp đỡ sẻ
chia trong cuộc sống : "Tình bạn là niềm vui tăng lên gấp đôi và nỗi
buồn giảm đi một nửa" (Ba Cơn). Đặc biệt, cuộc sống sẽ có ý nghĩa biết
bao khi có một người bạn hiểu mình, sẻ chia niềm vui, nỗi buồn cùng mình
trong nhịp sống hối hả. Cuộc sống có không ít người nghĩ sẽ không cần
đến bạn, sẽ luôn tự vượt qua mọi khó khăn, đau khổ, nhưng rồi cũng đến
lúc phải khát khao có một người ngời bên cạnh để được sẻ chia những tấm
sự thầm kín, lí trí nhiều khi không thể cưỡng lại được tình cảm. Bạn là
người vừa thân tình vừa đáng kính trọng. Giữa con người hình thành nên
một hình tượng tinh thần vừa ấm áp, gần gũi, vừa thiêng liêng, đáng
kính. "Tình bạn chân
chính là viên ngọc quý", trên đường tìm kiếm và sở hữu viên ngọc ấy, mỗi
chúng ta đã trở thành người lữ khách tốn nhiều công sức. Và khi đã có
được, thì việc lau chùi, gìn giữ lại càng trở nên quan trọng và mang lại
nhiều thử thách. Để làm được điều đó không gì hiệu hữu bằng "chiếc
rương" tấm lòng với những "chiếc khăn" của sự chân thành, thẳng thắn,
biết thứ tha và biết vượt lên lòng tự ái.
Tình bạn vốn là một tình cảm tự nhiên và tự nguyện. Tính chất của
nó trên phương diện mức độ tình cảm cũng tương tự như tình anh em ruột
thịt, tình cảm gia đình... Vì thế, sự tồn tại và phát triển của nó trước
tiên gắn chặt với sự chân thành. Chân thành trong tình bạn là thật lòng
trong ứng xử, nghĩ suy cùng một niềm chia sẻ, gắn bó sâu sắc với bạn;
tình bạn chân thành được xây dựng không vì một lí do vật chất, vụ lợi,
chỉ cần hiểu nhau mà trở thành tri âm, có thể lắng nghe lòng bạn qua
tiếng đàn như Bá Nha- Tử Kì. Để duy trì được tình cảm, cũng giống như
bao tình cảm khác của con người, bạn bè cần sưởi ấm cho nhau bằng sự
quan tâm chia sẻ. Một ánh mắt lo lắng khi bạn mất đi niềm tin, một lời
an ủi khi bạn buồn khổ, một khoảng lặng lắng nghe tâm sự khi bạn cần
giải bày và một bàn tay giúp đỡ lúc bạn khó khăn,.... Đơn giản mà sâu
sắc, đã tô đậm tình cảm kết nối hai con người với nhau.
Một người bạn tốt không phải là người dễ dàng bỏ qua mọi lỗi
lầm của chúng ta. Người bạn tốt còn là một người thân nghiêm khắc chỉ rõ
lỗi lầm, sai trái của ta. Sự thẳng thắn cũng là liều vitamin cần thiết
mỗi ngày cho tình bạn : "chân thành và thẳng thắn là điều cần thiết để
xây dựng và củng cố quan hệ bạn bè của thanh niên" (Lê Nin). Khi đã trở
thành bạn bè, chúng ta quan tâm đến cuộc sống, nhân cách của nhau, vì
thế ta không thể dửng dưng trước sự sai trái của bạn bởi khi đó chính sự
thỏa hiệp sẽ mang đến những hậu quả nghiêm trọng hơn sau này cho bạn
bè. Và ngược lại, người khen ta chưa chắc là bạn ta, người phê bình ta
chưa chắc là kẻ thù của ta. Thế nên trong giờ kiểm tra ta không nên ủng
hộ hành vi gian lận của đứa bạn trong lớp, trước hành vi tham ô của bạn
đồng nghiệp ta phải kịp thời ngăn chặn, ta hãy luôn sẵn sàng phản đối
với những trò nghịch ngợm của đứa bạn thân trong xóm,... Qua thử thách
của những lầm lạc và thẳng thắng, nghiêm khắc, bạn bè lại càng hiểu
nhau, thông cảm cho nhau. Điều đó đã thể hiện qua đôi bạn chí tình chí
nghĩa Lưu Bình- Dương Lễ. Lưu Bình không lo ăn học, mãi vui chơi nên thi
rớt. Khi gặp lại người bạn thân Dương Lễ nay đã vinh quy bái tổ, thì
lại nhận được sự nghiêm khắc, thẳng thừng của bạn mà hổ thẹn quyết trí
học tập. Nói đến tình
bạn, hẳn chúng ta không thể quên câu chuyện "cát và đá". Câu chuyện cho
ta một bài học sâu sắc về sự tha thứ trong tình bạn. Trong câu chuyện
người bạn đã khắc những lỗi lầm của bạn trên cát để nó có thể phai đi
nhờ gió, cát và thời gian. Vậy tình bạn cũng cần đến sự khoan dung, rộng
lượng. Cuộc đời ai không từng mắc phải lỗi lầm, bạn bè cũng vậy, nhưng
nếu khi người đó thật sự biết nhận lỗi, biết sửa sai thì chúng ta cũn
phải biết bỏ qua những lỗi lầm của bạn. Khi đứa bạn thân tỏ ý giảng hòa
khi mắc lỗi thì một nụ cười sẽ xoa dịu tất cả, làm sao ta có thể từ chối
việc kèm kẹp cho kẻ vẫn hay copy trong lớp khi học đã quyết tâm sửa
chữa,... Sự chấp nhặt, cố chấp chỉ khiến ta dễ dàng mất đi bạn bè còn
lòng khoan dung không chỉ xoa dịu vết rạn nứt trong tình cảm mà còn xoa
đi niềm ân hận, nuối tiếc sau này. Bạn bè cũng như gia đình, tại sao
chúng ta không cho những người thân của mình cơ hội để sửa chữa lỗi lầm
và cho cả chúng cơ hội để giữ gìn tình bạn.
Huy-gô đã từng nhận định rằng : "tự ái là thuốc độc giết chêt
tình bạn". Xây dựng một tình bạn, chsung ta vun trồng một chậu hoa thơm
ngát. Lòng tự ái mà chúng ta vun bón vào ấy sẽ khiên cho tình bạn không
thể nở hoa mà trở nên héo úa. Lòng tự ái bắt nguồn từ tâm lí tự ti, mặc
cảm về bản thân trước bạn bè. Chơi với bạn, ta nhút nhát, lạnh nhạt vì
không giỏi, không xinh, không tài bằng bạn. Lòng tự ái cũng xuất phát từ
sự kiêu căng, cố chấp, không biết nhận lỗi. Trước sự thẳng thắn, thành
thật của bạn lại cảm thấy như bị xúc phạm, không được bạn bè ủng hộ. Có
lúc ngấm ngầm, âm ỉ và có lúc nổi lên, sôi sục, sự tự ái đã đầu độc tình
cảm thân thiết, gắn bó với bạn bè. Và nguy cơ sụp đổ là không tránh
khỏi. Chính vì thế, khi đã kết giao với người khác, chúng ta cần vượt
lên chính bản thân mình, luôn cố gắng hòa đồng cùng bạn bè. Đó tuy là
một thử thách gian nan nhưng với một người bạn thật sự, không có gì có
thể cản trở chúng ta. Vẻ
đẹp của ngiên ngọc tình bạn sẽ "sưởi ấm" tâm hồn của mỗi con người,
nâng đỡ chúng ta trên những bậc thang cuộc đời lắm tiếng cười nhưng cũng
đầy nước mắt này nếu mỗi chúng ta biết tự tạo cho mình một "chiếc
rương" để cất giữ tình bạn. "Chiếc rương" không nạm ngọc quý, kim cương
mà làm bằng sự chân thành, thẳng thắn, khoan dung, biết vượt qua lòng tự
ái. "Chiếc rương" không chỉ cất giữ một tình cảm cao đẹp mà còn giúp ta
chiến thắng bản thân, trưởng thành hơn trong cuộc sống vốn đã có quá
nhiều thách thức trong đời sống tình cảm.
"Tình bạn chân chính là viên ngọc quý". Để giữ gìn nó con người
cần luôn cố gắng rèn luyện tấm lòng chân thành, thẳng thắn, khoan dung
và vượt qua tự ái. Mỗi tình bạn chúng ta gìn giữ được sẽ trở thành một
bản nhạc tuyệt vời trong cuộc hòa âm bởi những tình cảm cao đẹp của nhân
loại.
|
|
|
|
giải đáp
|
So sánh bài "Tự tình" và "Thương vợ"
|
|
|
|
Tham khảo bài này e nhe. Chúc em làm bài tôt Hình
ảnh đầu tiên của người phụ nữ Việt Nam được thể hiện qua hai bài thơ đó
là hình tương người phụ nữ Việt Nam chịu nhiều đau khổ, vất vả trong
cuộc sống. Đó là hình ảnh bà Tú vất vả, gian truân kiếm sống, tất bật
ngược xuôi “Quanh năm buôn bán ở mom sông”. Câu thơ đã nói lên một hoàn
cảnh làm ăn vất vả, lam lũ của bà. Ở đây, bà Tú làm việc vất vả suốt cả
năm, không kể mưa nắng trên mom sông- cái doi đất nhô ra đầy nguy hiểm.
Thấm thía nỗi vất vả, gian truân của vợ, Tú Xương đã mượn hình ảnh con
cò trong ca dao để nói về bà Tú. Có điều hình ảnh con cà trong ca dao
đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương con tội nghiệp hơn.
Con cò trong thơ không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian
mà còn là rợn ngợp của thời gian. Hình ảnh thân cò như một sự sáng tạo: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng”Đưa
từ lặn lội lên đầu câu, thay con cò bằng thân cò cũng làm tăng thêm nỗi
vất vả, gian truân của bà Tú, càng khơi dậy cả nỗi đau thân phận sâu
sắc, thấm thía hơn:“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
Câu
thơ gợi nên một sự chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người
buôn bán nhỏ, sự cạnh tranh đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu
lời qua tiếng lại. Buổi đò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi
quãng vắng mà đó còn là sự chen lấn, xô đẩy chứa đầy bất trắc, nguy
hiểm. Những câu thơ đã làm nổi rõ lên những vất vả, cực nhọc mà bà Tú và
người phụ nữ Việt Nam xưa phải chịu đựng, trải qua.Còn với bài thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương thì đó là sự khổ đau vì không làm chủ được số phận của mình:“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non.”
Mở
đầu là một âm thanh vang vọng, đầy hối hả: Trống canh dồn. Nhưng dù
mãnh liệt đến mấy, tiếng trống cũng chỉ là âm thanh duy nhát trong đêm
vắng, nếu không có nó thì đem khuya sẽ trở nên vô cùng vắng lặng. Cái
động đã đươc sử dụng để tôn lên cái tĩnh, cái cô độc, trống trải của đêm
khuya. Nửa đêm là thời gian sum họp của vợ chồng, là thời điểm hạnh
phúc lứa đôi, ấy vậy mà lại có người phụ nữ tĩnh dậy vào đúng thời khắc
thiêng liêng ấy, hay vì cả đêm người phụ nữ đã không ngủ được vì thiếu
vắng một điều gì đó, vì tâm trạng đang mang nặng một nỗi đau? Tiếng
trống canh âm vang từ xa vọng lại như đang thúc giục thời gian qua mau,
gọi đến một điều đáng sợ đôí với một người đàn bà vẫn còn thân đơn gối
chiếc: đó là tuổi già. Tuổi già càng đến gần nghĩa là hi vọng càng tuột
xa, mọi mong mỏi, khát khao càng trở nên vô vọng. Tiếng trống dồn dập cứ
xoáy sâu vào tâm con người phụ nữ, nó âm vang trong tâm tưởng, âm vang
trong suy nghĩ không tài nào dứt được. Dồn dập, hối hả, tiếng trống
không chỉ bao trùm lên không gian mà còn lên cả thời gian nữa, và tự
hỏi: đây có thật là tiếng trống hiện hữu trong thực tại hay phải chăng
đó là tiếng trống cất lên từ tiếng lòng thổn thức của tác giả, tiếng
trống ám ảnh về một bi kịch đang ngày càng đến gần hơn với bà:“Trơ cái hồng nhan với nước non” Khi
thời gian cứ lướt qua càng lúc càng dồn dập thì cũng là lúc “hồng nhan”
ngày một trơ ra với đời. “Hồng nhan” chính là nhan sắc, gương mặt xinh
đẹp của người phụ nữ. Đó là điều mà bất cứ người phụ nữ nào cũng hết sức
tự hào, coi trọng, nâng niu. Nhưng từ “cái” gắn liền với “hồng nhan”
như một hòn đá kéo nặng cả câu thơ xuống. “Hồng nhan” để làm gì khi nữa
đêm phải tĩnh giấc trong cái trống trãi, lặng lẽo đến đắng cay? “Hồng
nhan” để làm gì khi nó đâu phải là vĩnh cữu mà sẽ nhanh chóng vỡ tan
theo từng nhịp trống dồn. Câu thơ như lời đay nghiến, mỉa mai chính bản
thân mình, đáng thương cho những người phụ nữ đương thời bị đè nén, áp
bức với những thủ tục phong kiến đến mức xơ xác, héo mòn cả một phận
hồng nhan. Đó còn là nỗi đau vì cô quạnh, thiếu vắng hạnh phúc lứa đôi,
không người yêu thương, thông cảm.“Chén rượi hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
Hai
câu thơ vẽ nên một khung cảnh rất thật và cũng chứa chan bao nỗi niềm
tác giả. Một người phụ nữ mà phải ngồi uống rượu một mình, cô đơn với
đêm khuya, với vầng trăng lạnh. Câu thơ là ngoại cảnh mà cũng là tâm
cảnh, tạo nên sự đồng nhất giữa trăng với người. Khi muốn quên sầu là
lúc người ta ở trong tâm trạng cay đắng nhất, khi xung quanh không có ai
để có thể chia sẽ nỗi niềm và ta chỉ còn biết quên đi nỗi niềm trong
men rượu, một mình. Nhưng liệu chén rươu có thể làm quen đi bảo nỗi cô
đơn, tủi nhục trong lòng hay Hồ Xuân Hương uống rượu mà như uống đi bao
giọt sầu mà người uống chẳng đổ đi được khi mà có thể lặng lẽ, âm thầm
nuốt vào cổ họng, để đau khổ cũng chẳng mất đi đâu mà trở lại chính
trong tâm trí mình. Ở đây cảnh tình Xuân Hương được thể hiện chứa đựng
bi kịch. Tuổi xuân đã trôi qua mà nhân duyên không được trọn vẹn.Trăng
vốn là biểu tượng của hạnh phúc, là hình ảnh đại diện cho ước mơ và hi
vọng. Nhưng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương lại xót xa đến mức “khuyết chưa
tròn”- một hạnh phúc không hề trọn vẹn, một cuộc đời còn dang dở, éo le
với những trắc trở trong tình duyên. Hạnh phúc của bà chỉ như vầng trăng
khuyết mà bà không thể biết trước ngày mai trăng sẽ khuyết tiếp hay
tròn. Ánh trăng sáng mà lạnh lẽo vô cùng khi ẩn hiện trong đó một nỗi cô
đơn, trống vắng. Và bóng xế đi kèm với trăng lại gợi nên một nỗi niềm
trong lòng tác giả: nỗi lo sợ trước tuổi xuân đang mất đi. Trăng đã xế
mà vẫn khuyết chưa tròn, giống như tuổi xuân của Xuân Hương đang mất đi
mà tình duyên chuă được trọn vẹn. Hình ảnh mặt trăng là hình ảnh ẩn dụ
vô cùng độc đáo và đặc sắc, miêu tả chính xác và vô cùng sinh động ngoại
cảnh mà cũng bộ lộ được tâm cảnh, những suy nghĩ, tâm tư đang hiện hữu
trong bà.Nhưng dù có vất vả, đau xót, chán chường đến mức nào,
thì người phụ nữ Việt Nam xưa vẫn là những con người có những phẩm chất
đẹp đẽ, không chỉ ở vẻ bề ngoài mà còn là ở tình yêu thương , lòng nhân
hậu, một lòng, một dạ vì chồng, vì con:“Nuôi đủ năm con với một chồng”
Câu
thơ là gánh nặng gia đình đặt lên vai bà Tú, vất vả quanh năm chẳng nề
hà như vậy là để nuôi cả nhà. Đông con, nuôi lũ con đông ấy đã đành, bà
còn phải nuôi chồng. Năm con với một chồng là sáu người. Một phải gánh
sáu, thế là nặng, phải gánh và gánh được, thế là đảm đang. Nhưng nuôi đủ
vẫn hiểu là vừa đủ, vừa đủ nuôi, không thiếu nhưng cũng chẳng thừa. Vất
vả quanh năm đến vậy mà cũng chỉ vừa đủ nuôi chồng, nuôi con, vậy mới
thật là vất vả, đã gắng hết sức rồi. Vậy mới thật là đảm, nặng đến thế
mà cũng gánh xong, khó thế mà cũng chu toàn. Câu thơ thể hiện sự vất vả,
gian lao đức tính chịu thương, chịu khó, hết lòng vì chồng, vì con của
bà Tú nói riêng và của người phụ nữ Việt Nam nói chung.Còn với
Tự Tình II, dù đớn đau đến mức nào thì trong sâu thẳm trái tim bà, dù
yếu ớt đến đâu cũng loé lên ánh lửa khát khao, hi vọng, không chịu khuất
phục mà muốn vùng lên đấu tranh thay đổi cuộc sống của mình:“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”
Một
hình tượng thiên nhiên dữ dội, đầy cựa động như tính cách buớng bỉnh,
không chịu khuất phục điều gì của chính tác giả vậy. Ở đây, Hồ Xuân
Hương, sự buồn tủi bao giờ cũng gợi nên những phản ứng tích cực, bà
không buông xuôi, đầu hàng mà luôn cố gắng tìm cách thay đổi vận mệnh,
cho dù những cố gắng đó mới chỉ dừng lại trong suy nghĩ. Hai câu thơ
tưởng như chỉ miêu tả cảnh vật xung quanh, nhưng chính những đặc điểm
cuả cảnh vật đó đã được dùng để bộc lộ tâm trạng của con người. Hàng
loạt những động từ mạnh đầy sắc thái biểu cảm như xiên, đâm được đảo lên
đầu câu. Những sinh vật bé nhỏ, hèn mọn, còn hèn mọn hơn cả “nội cỏ hoa
hèn” như đám rêu kia mà cũng không chịu mềm yếu. Nó phải mọc xiên, mà
là “xiên ngang mặt đất”. Đá đã rắn chắc lại phải rắn chắc hơn, nó phải
“đâm toạc chân mây”. Biện pháp nghệ thuật đảo ngữ trong hai câu dã làm
nổi bật sự phẫn uất của thân phận đất đá, cỏ cây mà cũng là sự phẫn uất
của tâm trạng. Chỉ những cảnh vật bình thường không có gì đặc biệt như
rêu và đá, nhưng qua cách nhìn đấy bất mãn, ấm ức của tác giả, chúng trở
nên vô cùng sống động. Cự động, nổi loạn, phá phách, muốn đập tan những
gì gò bó đẻ dược tự do vùng vẫy giữa đất trời, thiên nhiên hoà hợp với
con người, đặc điểm thiên nhiên cũng chính là nỗi niềm nhân vật. Và ta
cũng thấy được tâm trạng của Hồ Xuân Hương phẫn uất trước những tục lệ
phong kiến, cũng như những số phận hẩm hiu đang tàn nhẫn ra tay bóp chết
hạnh phúc của bà; những uất hận ấy bị đè nén, gò ép trong lòng bà đến
mức không chịu nổi chỉ chực vỡ oà ra, bà khao khát muốn đập tung tất cả,
muốn đập đổ mọi thứ, muốn tự do biết nhường nào. Nhưng dù sao, bà cũng
chỉ là một người phụ nữ phong kiến, một thân phận nữ nhi cô độc, dù phá
phách, dù nổi loạn đến đâu thì cũng chỉ trong giới hạn ngôn từ. Bà không
thể làm gì hơn được nữa.............. Mặc dù vậy, ta phải công nhận đay
là một cách suy nghĩ vô cùng mới mẻ, một tư tưởng đi trứoc thời đại,
một tính cách hoàn toàn khác biệt so với người phụ nữ lúc bấy giờ. Đó là
một bản lĩnh, một cá tính Xuân Hương đáng trân trọng:“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con” Ngán
là chán ngán, là ngán ngẩm. Hồ Xuân Hương ngán lắm rồi nỗi đời éo le,
bạc bẽo. Xuân đi rồi xuân lại, tạo hoá chơi một vòng luẩn quẩn. Từ xuân
mang hai nghĩa, vừa là mùa xuân, vừa là tuổi xuân. Mùa xuân đi rồi, mùa
xuân trở lại với thiên nhiên, với muôn nghìn hoa cỏ, lá cây, nhưng với
con người tuổi xuân qua là không bao giờ trở lại. Hai từ “lại” trong cụm
từ “xuân đi xuân lại lại” mang hai ý nghĩa khác nhau. Từ lại thứ nhất
nghĩa là thêm lần nữa, từ lại thứ hai nghĩa là trở lại. Sự trở lại của
mùa xuân lại đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân. Nghệ thuật tăng tiến
làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn: Mảnh tình-san sẻ-tí con con. Mảnh
tình đã bé lại còn san sẻ ra thành ít ỏi, chỉ còn tí con con nên càng
xót xa, tội nghiệp. Câu thơ được viết ra có thể là tâm trạng của người
mang thân đi làm lẽ. Đau xót biết mấy, khi mảnh tình là một thứ được
chia năm xẻ bảy, nhận dược duy nhất một mảnh tí con con. Hạnh phúc của
bà chẳng những không trọn vẹn mà còn nhỏ bé, ít ỏi đến mức độ tội
nghiệp. Tình duyên như thế có để làm gì, chỉ càng thêm tủi nhục, đắng
cay. Cách dùng từ giản đơn mà vẫn vô cùng độc đáo đã cực tả nỗi niềm của
tác giả. Hồ Xuân Hương ngang tàng, thách thức đầy nổi loạn trên là thế,
nhưng cuối cùng tất cả vẫn chỉ chìm vào vô vọng trong sự bất lực tột
cùng và chán chường, mệt mỏi. Những cố gắng vùng vẫy của bà chỉ là vô
ích, bởi phận của bà vốn đã là một bi kịch và mãi mãi chỉ là bi kịch mà
thôi. Có lẽ trong giờ phút ấy, bà đã muốn buông xuôi, muốn bỏ mặc cho
tất cả số phận đưa đẩy, bà đã mất hết hi vọng............ “Giọt nước mắt
em..........âm thầm buông rơi, đêm sầu đơn côi...........trong tim em
ôm trọn một nỗi sàu bơ vơ................đành khóc vậy
thôi............... Liệu Hồ Xuân Hương có thể vượt qua tất cả để trở lại
là một người phụ nữ yêu đời mạnh mẽ, không sợ gì cả như ngày nào? Đó
vẫn là câu hỏi còn dở dang của người phụ nữ đem thân đi làm lẽ, phận
người mà hạnh phúc không bao giờ trọn vẹn mà chỉ nhỏ nhoi như mảnh gương
vỡ......... Câu thơ diễn đat sâu sắc đỉnh điểm, bi kịch của Hồ Xuân
Hương và cũng là của người phụ nữ thời bấy giờ.Đó là những hiện
thân cho những khổ đau của con người trong xã hội xưa, đồng thời là kết
tinh của những đức tính tốt đẹp của ngưòi phụ nữ Việt Nam qua hàng thế
kỉ. Trong cả hai bài thơ là hình tượng người phụ nữ Việt Nam chịu nhiều
đau đớn, tủi cực dưới chế độ phong kiến nhưng ở họ toát lên sự đấu tranh
mạnh mẽ, vượt lên số phận để làn tốt bổn phận của một người phụ nữ
trong gia đình, một người phụ nữ dám vượt lên trên đớn đau để tìm hạnh
phúc mà mình hằng khao khát.
|
|
|
|
giải đáp
|
Giúp đề nghị luận với các bạn ơi?
|
|
|
|
Dàn Ý 1. Mở bài Nêu vai trò to lớn của khoa học trong đời sống con người. Giới thiệu câu nói: "Khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự tàn lụi của tâm hồn".
2. Thân bài a. Giải thích và khẳng định vấn đề - Khẳng định khoa học phải đi liền với lương tâm -
Định nghĩa "khoa học": Ở thế kỉ XVI, khoa học được định nghĩa là tri
thức thuộc mọi lĩnh vực, nhất là trong văn chương và triết học. Ngày nay
khoa học là hệ thống tri thức về thế giới khách quan của con người nhằm
khám phá các định luật, giải thích các hiện tượng và là cơ sở của những
sáng chế kĩ thuật. - Nêu hai hướng phát triển của khoa học: có lương
tâm và không có lương tâm. Đi đến kết luận "lương tâm là nền tảng vững
chắc của khoa học", "khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự tàn lụi
của tâm hồn".
b. Phân tích vấn đề - Để đánh giá bản chất của khoa học cần xem xét mục đích, lương tâm của người tạo ra nó và người sử dụng nó. -
Những biểu hiện của khoa học không có lương tâm: việc bóc lột sức lao
động của công nhân, nhật hứng chịu liên tiếp hai quả bom nguyên tử khổng
lồ do Mĩ ném xuống, chất độc màu da cam ở Việt Nam... và hậu quả của
nó. - Khoa hojcL tài và tâm. Soi chiếu vào con người: tài và đức.
Khoa học không có lương tâm cũng như người có tài mà không có đức. Tóm
lại đều cần phải có lương tâm soi sáng để không lầm đường lạc lối.
c. Kết luận vấn đề - Lợi ích của khoa học có lương tâm và tác hại của khoa học không có lương tâm. - Khẳng định khoa học gắn với lương tâm giúp con người đạt được cuộc sống tốt đẹp về cả vật chất lẫn tinh thần.
3. Kết bài - Ghi nhận sự phát triển của khoa học. - Đánh giá tình hình hiện tại: chỉ tiến về trí mà không tiến về tâm. -
Đặt ra nhiệm vụ khắc phục sự mất quân bình trên để khoa học có lương
tâm luôn chiếm giữ một vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của
loài người.
|
|
|
|
giải đáp
|
Giúp tớ đề "Rừng xà nu" với?
|
|
|
|
Gợi ý:
-
Đây là những dòng tả cảnh hiếm có, được làm nên bởi một ngòi bút biết
dùng con chữ để hòa hợp các sắc màu, chạm khắc thành hình khối, tạo nên
mùi hương, tạo nên ánh sáng và sức nóng,…Tác giả đã viết nhiều câu văn
đẹp lạ lùng, có sức gây ấn tượng thật khó quên trong lòng người đọc; ví
dụ như: “Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long
lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng
cục máu lớn”, hay “Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh
nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng
lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng”. -
Những câu văn như thế không chỉ góp phần đem lạo cho tác phẩm một thứ
hương vị kì thú của Tây Nguyên, mà còn có khả năng làm cho chúng ta được
cùng với tác giả thấy ngây ngất khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên
nhiên đất nước.
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích tấn bi kịch Vũ Như Tô?
|
|
|
|
Gợi ý tham khảo:
“Vũ Như Tô” là vở kịch lịch sử có qui mô hoành tráng xuất sắc của
Nguyễn Huy Tưởng và của nền kịch nói Việt Nam hiện đại. Tác phẩm được
sáng tác vào năm 1941, dựa trên một sự kiện lịch sử xảy ra ở kinh thành
Thăng Long vào thời hậu Lê. Tác phẩm gồm 5 hồi. Đoạn trích “Vĩnh biệt
Cửu Trùng Đài” là hồi 5, hồi cuối của vở kịch. Trong đoạn trích được
học, gây ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng người đọc là nhân vật Vũ Như
Tô cùng bi kịch của người nghệ sĩ thiên tài. Hành động, sự kiện chính của hồi này có thể tóm tắt như sau:
Lợi dụng tình hình rối ren và mâu thuẫn giữa nhân dân, thợ xây đài với
Vũ Như Tô và bạo chúa Lê Tương Dực, Trịnh Duy Sản cầm đầu một phe cánh
đối nghịch trong triều đình đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ thuyền làm
phản. Biết tin có binh biến, bạo loạn trong phủ chúa, nguy hiểm đến
tính mạng Vũ Như Tô, Đan Thiềm hết lời khuyên và giục chàng đi trốn.
Nhưng Vũ khăng khăng không nghe vì tự tin mình “quang minh chính đại”,
“không làm gì nên tội” và hi vọng ở chủ tướng An Hòa Hầu. Tình hình
càng lúc càng nguy kịch. Lê Tương Dực bị giết; đại thần, hoàng hậu, cung
nữ của y cũng vạ lây; Đan Thiềm bị bắt, .… Kinh thành điên đảo.
Khi quân khởi loạn đốt Cửu trùng đài thành tro, Vũ Như Tô mới tỉnh ngộ.
Chàng trơ trọi, đau đớn vĩnh việt cửu trùng đài rồi bình thản ra pháp
trường. Theo từ điển văn học, bi kịch là mâu thuẫn giữa khát
vọng, hoài bão, lí tưởng của cá nhân với thực tại. Thực tại chưa đủ điều
kiện cho cá nhân thực hiện khát vọng, lý tưởng của mình nên rơi vào
thất bại, thậm chí dẫn đến cái chết thảm thương. Hiểu theo nghĩa thông
thường là nỗi đau khổ vò xé dai dẳng không có cách nào giải thoát.
Trong Vĩnh biệt cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô là người nghệ sĩ thiên tài có
lý tưởng cao đẹp nhưng lâm vào cảnh ngộ không giải quyết được một cách
đúng đắn vấn đề sáng tạo nghệ thuật cho ai và để làm gì nghĩa là không
giải quyết được mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật và đời sống cuối
cùng rơi vào bi kịch đau đớn. Vũ Như Tô là một nhân vật có
thật đã từng được Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép rất tỉ mỉ: "Trước
đây, Vũ Như Tô một người thợ ở Cẩm Giàng, xếp những thanh nứa làm thành
kiểu mẫu cung điện lớn trăm nóc, dâng lên nhà vua; nhà vua bằng lòng
phong cho Như Tô làm đô đốc đứng trông nom việc dựng hơn trăm nóc cung
điện lớn có gác, lại khởi công làm Cửu trùng đài. "(Khâm Định Việt Sử
Thông Giám Cương Mục Chính Biên, quyển 26). Tuy nhiên Cửu Trùng Đài đã
làm "Dân chúng đau khổ, binh lính mệt nhọc. Quân năm phủ đắp thành chưa
xong được, đến đây lại có lệnh bắt các nha môn ở trong ngoài kinh thành
phải làm, tập hợp nhau lấy hồ, khiêng đất. Vua hàng ngày bất thần ngự
chơi các nơi, chỗ nào vừa ý thì thưởng cho bài vàng, bài bạc. Có chỗ đã
làm xong lại phải làm lại, sửa đổi xây đắp lại, hết năm này qua năm
khác, liên miên không dứt. Quân lính đắp thành mắc chứng dịch lệ đến một
phần mười."(Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục, Quyển XV, Kỷ Nhà
Lê, Tương Dực Đế). Sau đó, Trịnh Duy Sản phản nghịch, dẫy binh, Vũ Như
Tô bị thợ thuyền giết chết, xác quăng ngoài chợ, bị mọi người khinh khi
nhổ nước bọt. Tuy nhiên, bi kịch đó của họ Vũ là sự oan khuất bởi ông
chỉ là người thừa lệnh của vua làm Cửu Trùng Đài vì thế nhân dân lầm
tưởng ông chỉ biết phụng sự cho hôn quân bạo chúa. Năm 1941, Nguyễn Huy
Tưởng đã minh oan cho họ Vũ bằng vở kịch năm hồi này. Trong
vở kịch Vũ Như Tô hiện lên là một kiến trúc sư thiên tài, là hiện thân
của niềm khao khát say mê sáng tạo cái đẹp, “là người ngàn năm dễ có
một....có thể sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây lâu
đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ…chỉ vẩy
bút là chim hoa đã hiện trên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa
công”. Qua vài lời của tác giả ta thấy Vũ Như Tô là một nghệ sĩ lớn mang
trong mình nhân cách cao đẹp, một nghệ sĩ có hoài bão lớn lao, có lý
tưởng nghệ thuật cao cả. Khát vọng nghệ thuật của ông lớn lao hơn bao
giờ hết, ông muốn xây dựng một toà lâu đài vĩ đại “bền như trăng sao” để
cho “dân ta nghìn thu còn hãnh diện” . Đó là một công trình kiến trúc
vĩ đại, tuyệt mĩ, tô điểm cho non sông đất nước: “để ta xây một Cửu
Trùng Đài, dựng một kì công muôn thuở, vài năm nữa Cửu Trùng Đài hoàn
thành, cao cả huy hoàng, giữa cõi trần lao lực có một cảnh Bồng Lai....
Đời ta không quý bằng Cửu Trùng Đài”. Tâm Hồn của Vũ dành hết cho Cửu
trùng đài. Cửu Trùng Đài – như cái tên của nó – là một công
trình kiến trúc mà tầm vóc không thể chỉ tính đếm bằng lượng gỗ cây, đá
khối, cho dù đó là những con số nghe qua cũng đã đủ kinh hoàng (“hai
trăm vạn cây gỗ chất đống cao như núi, toàn những gỗ quý vô ngần”,“hai
mươi vạn phiến đá lớn, bốn mươi vạn phiến đá nhỏ, từ Chân Lạp tải ra”).
Tầm vóc của nó, phải hình dung bằng chính tầm vóc ý tưởng, khát vọng đầy
ngạo nghễ của người sẽ tạo ra nó: một công trình độc nhất vô nhị, vượt
xa tất cả những kỳ quan ở Trung Quốc, Ấn Độ, Chiêm Thành,… và những công
trình mà người đời từng biết đến, từng truyền tụng. Lại là một kỳ quan
bền vững, bất diệt. Xây công trình, họ Vũ không thèm “tranh tinh xảo”
với người, chỉ “tranh tinh xảo với Hóa công”! Đó là hiện thân của cái
Đẹp, không phải cái Đẹp nói chung mà là cái Đẹp “siêu đẳng”.
Tuy nhiên, Đài Cửu Trùng lại là hiện thân cho cái Đẹp xa hoa. Xây nên kỳ
quan ấy, tất nhiên cực kỳ tốn kém, một sự tốn kém không chỉ tính bằng
tiền của ngân khố quốc gia, mà còn phải tính bằng cả mồ hôi, nước mắt và
máu nữa. Mà Đài chỉ xây cho kẻ ăn chơi sa đọa là vua dâm Lê Tương Dực.
Còn nhớ đời Tây Chu bên Trung Hoa, U vương vì Bao Tự mà bắt dân xây Giao
Đài để ăn chơi hưởng lạc, khiến cho lòng dân trong nước oán hận rồi
cuối cùng đời Tây Chu cũng diệt vong. Cái mầm mống bi kịch của Vũ Như Tô
ở đây là ước mơ khát vọng to lớn như vậy nhưng bản thân thì không thực
hiện được vì không có tài chính. Còn phụng sự cho hôn quân bạo chúa Lê
Tương Dực thì ông không bao giờ hợp tác. Nhưng rồi, Đan Thiềm xuất hiện:
sắc đẹp, lời ngon tiếng ngọt và sự tôn kính của Đan Thiềm đã làm cho Vũ
xiêu lòng và bằng lòng xây Cửu Đài. Cái oái oăm là ở đó, và mầm mống
bi kịch của Vũ Như Tô cũng là ở đó. Theo đó, ý nghĩa biểu
tượng thâm trầm của Cửu Trùng Đài được xác lập trên nhiều mối quan hệ.
Với Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài hiện thân cho “mộng lớn”. Với Đan Thiềm,
Cửu Trùng Đài hiện thân cho niềm kiêu hãnh nước nhà. Với Lê Tương Dực,
Cửu Trùng Đài là quyền lực và ăn chơi. Với dân chúng, Cửu Trùng Đài là
món nợ mồ hôi, xương máu,… từ đó bi kịch đã đến với Vũ Như Tô.
Vì quá đam mê thi thố tài năng Vũ Như Tô nào có hiểu được sâu xa, trên
thực tế, Cửu Trùng Đài đã xây dựng bằng mồ hôi xương máu của nhân dân
và nếu được hoàn thành thì nó cũng chỉ là nơi ăn chơi xa xỉ, sa đoạ của
vua chúa, giống như công trình kiến trúc “Vạn Niên” của triều đình
Nguyễn sau này : “Vạn niên là vạn niên nào? Thành xây xương lính, hào
đào máu dân”. Như vậy, Vũ Như Tô đã sai lầm khi lợi dụng quyền lực của
bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật của mình. Chỉ đứng trên lập
trường nghệ sĩ thuần tuý nên đã vô hình chung, trở thành kẻ đối nghịch
với nhân dân, gây đau khổ cho nhân dân. Để xây dựng Cửu đài, triều đình
đã ra lệnh tăng sưu thuế, bắt thêm thợ giỏi, tróc nã, hành hạ những
người chống đối. Dân căm phẫn vua làm cho dân cùng nước kiệt; thợ oán Vũ
vì nhiều người chết vì tai nạn, vì ông cho chém những kẻ bỏ trốn. Vì
thế cho nên nhân dân căm giận bạo chúa, đồng thời cũng oán trách, nguyền
rủa, thậm chí là oán hận kiến trúc sư đầy tài năng Vũ Như Tô và cuối
cùng đã giết chết cả tên hôn quan bạo chúa Lê Tương Dực lẫn Vũ Như Tô,
đốt cháy cả Cửu Trùng Đài. Mâu thuẫn đỉnh điểm được giải
quyết bằng vũ lực. Trịnh Duy Sản cầm đầu bọn phản nghịch đã náo loạn
kinh thành. Chúng tìm Lê Tương Dực và giết chết tên hôn quân ấy. Chúng
đốt phá Cửu trùng đài, chúng tìm Vũ Như Tô để rửa hận. Nhưng Vũ đúng là
một nhân vật bi kịch. Ông không thể nào trả lời câu hỏi “xây dựng Cửu
Trùng Đài là đúng hay sai, là có công hay có tội?. Thật đau đớn thay, bi
kịch thay cho đến khi cuộc nổi loạn nổ ra, Đan Thiềm mặt cắt không còn
hột máu, hốt hoảng đến báo cho Vũ Như Tô, nếu không chạy trốn thì ông sẽ
bị giết, nhưng Vũ Như Tô vẫn không chịu đi và vẫn day dứt một câu hỏi:
“Tôi có tội gì? Tôi làm gì nên tội? Làm gì phải trốn?”. Thậm chí Vũ Như
Tô còn khẳng định “ Bà không nên lo cho tôi. Tôi không trốn đâu. Người
quân tử không bao giờ sợ chết. Mà vạn nhất có chết, thì cũng để cho mọi
người biết rằng công việc mình làm chính đại quang minh. Tôi sống với
Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài. Tôi không thể xa Cửu Trùng
Đài một bước. Hồn tôi để cả đây!”. Khi được Đan Thiềm giục giã chạy trốn
bởi nguy hiểm cận kề, Vũ Như Tô còn “Ngây thơ” : “Họ tìm tôi nhưng có
lý gì họ giết tôi. Tôi có gây oán gây thù gì với ai”. Câu nói thể hiện
sự bảo thủ và có phần mê muội. Ngay cả khi bị bắt Vũ vẫn không tin là sự
thật, vẫn vĩnh biệt Đan Thiềm “đời ta chưa tận, mệnh ta chưa cùng. Ta
sẽ xây một đài vĩ đại để tạ lòng tri kỷ”. Khi bị quân sĩ vả vào miệng
Vũ vẫn không ngừng nói về Cửu đài: “…vài năm nữa, Đài cửu trùng sẽ hoàn
thành, cao cả, huy hoàng giữa cõi trần lao lực, có một cảnh Bồng Lai”.
Đến chết vẫn hi vọng sẽ thuyết phục được An Hoà Hầu, một kẻ cầm đầu một
phe nổi loạn, song sự thực đã diễn ra một cách phũ phàng tàn nhẫn, không
như ảo tưởng của Vũ Như Tô. An Hoà Hầu đã cho quân đốt phá kinh thành,
đốt phá cả Cửu trùng đài. Cửu Trùng đài tan thành tro bụi.
Tất cả chỉ là ảo vọng. Đan Thiềm và Vũ bị bắt, Cửu Trùng Đài bị thiêu
huỷ thì Vũ mới bừng tỉnh, ngửa mặt lên trời mà cất lên tiếng than ai oán
tuỵệt vọng “Đốt thực rồi! Ôi đảng ác! Trời ơi! Phú cho ta cái tài để
làm gì. Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài! Thôi thế là hết!
Dẫn ta đến pháp trường”. Trong tiếng kêu than ấy, tiếng “Đan Thiềm, mộng
lớn Cửu Trùng Đài” dồn dập vang lên hoà nhập vào nhau thành khúc ca bi
tráng, ai oán, đầy tiếc thương. Đó chính là âm hưởng chủ đạo của đoạn
trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”. Vậy là cuối cùng Vũ Như Tô cũng đã phải
trả giá cho chính hành động của mình. Cái chết của người nghệ sĩ vừa
đáng thương lại vừa đáng giận. Là một nghệ sĩ đầy tài năng và
giàu sáng tạo, Vũ Như Tô muốn khẳng định tài năng của mình, muốn tô
điểm cho đất nước, muốn làm đẹp cho đời, nhưng khát vọng nghệ thuật và
đam mê sáng tạo của ông đã đặt lầm nơi lạc chốn, lạc điệu với thời thế,
xa rời thực tế, nên đã phải trả giá bằng chính sinh mệnh của bản thân và
của cả công trình thấm đẫm mồ hôi tâm não của mình. Người đọc, người
xem thương người nghệ sĩ có tài có tâm, đam mê nghệ thuật, khao khát
sáng tạo, sẵn sàng hi sinh tất cả cho cái đẹp nhưng xa rời thực tế, mà
phải trả giá đắt bằng cả sinh mệnh và cả công trình nghệ thuật đầy tâm
huyết sáng tạo cuả mình Đoạn trích nói riêng và vở kịch nói
chung đã để lại giá trị nhân văn sâu sắc rằng: “Không có cái đẹp tách
rời cái chân cái thiện. Tác phẩm nghệ thuật không thể chỉ mang cái đẹp
thuần tuý, nó phải có mục đích chân chính là phục vụ nhân dân, phục vụ
cuộc đời. “Văn chương không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời,
cuộc đời là nơi xuất phát và là nơi đi tới của văn chương”. Người nghệ
sĩ phải có hoài bão lớn, có khát vọng sáng tạo những công trình vĩ đại
cho muôn đời, nhưng cũng biết xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa khát vọng
đó với điều kiện thực tế cuộc sống với đòi hỏi của muôn dân”. Một vấn đề
đặt ra nữa là “Xã hội phải biết tạo điều kiện sáng tạo cho các tài
năng, vun đắp tài năng, quý trọng nâng niu những giá trị nghệ thuật đích
thực”. Qua tấn bi kịch của người nghệ sĩ thiên tài Vũ Như Tô,
Nguyễn Huy Tưởng gợi những suy nghĩ sâu sắc về mối quan hệ giữa người
nghệ sĩ với hoạt động sáng tạo nghệ thuật và thực tế đời sống nhân dân.
Vì vậy vấn đề tác giả đặt ra ngày ấy, giờ đây bước sang thiên niên kỉ
mới, nó vẫn còn nguyên giá trị.
|
|
|
|
giải đáp
|
Cho em hoir Gias trị hiện thực của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh a?
|
|
|
|
Đáp án tham khảo:
|
Bài tham khảo:
Lê
Hữu Trác xuất thân trong một gia đình quí tộc, giỏi binh thư,võ nghệ.
Làm quan dưới thời chúa Trịnh được một thời gian,ông nhận thấy xã hội
thối nát,cương thường lỏng lẻo, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất
(1746), ông liền viện cớ cáo quan về nuôi mẹ già. Từ đó ông chuyên
nghiên cứu y học vừa chữa bệnh cứu đời, vừa soạn sách và mở trường dạy
học truyền bá y đức, y lí,y thuật.
Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh
Hưng 43(1782),Lê Hữu Trác nhận được lệnh chúa triệu về kinh xem mạch, kê
đơn chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán.Sau đó một thời gian thì chữa bệnh
cho chúa Trịnh Sâm. Những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong nhiều
chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long đã thôi thúc ông cầm bút. Năm 1783
ông viết xong tập “Thượng kinh kí sự” bằng chữ Hán. Tập kí sự này là
một tác phẩm văn học đích thực, đặc sắc giá, có giá trị sử liệu cao .
Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” trong sách Ngữ văn 11-Nâng cao,tập
1(Nxb.Giáo dục,H,2007) thể hiện được đầy đủ những nét độc độc đáo trong
bút pháp kí sự của Lê Hữu Trác.
Như ta biết: kí là là tên gọi
chung cho một nhóm thể loại có tính giao thoa giữa báo chí với văn học.
Kí viết về cuộc đời thực tại,viết về người thật,việc thật. Người viết kí
miêu tả thực tại theo tinh thần của sử học. Mẫu hình tác giả kí gần gũi
với nhà sử học. Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành và
không bao giờ quên miêu tả khung cảnh. Kí bao gồm nhiều thể văn như :
bút ký, phóng sự, du kí, hồi kí,nhật kí, …Trong số đó kí sự thiên về ghi
chép chi tiết, tỉ mỉ sự việc- câu chuyện có thật. Tất nhiên đan xen vào
mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện nhận xét chân thực,tinh tường của
nhà văn trước sự việc.
Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” vẽ lại
một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý của chúa Trịnh. Lê
Hữu Trác sử dụng người trần thuật ngôi thứ nhất,trực tiếp tiếp cận cung
cách sinh hoạt xa hoa của chúa Trịnh. Nhà văn quan sát tỉ mỉ, ghi chép
trung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo.
Mở đầu đoạn
trích là một sự kiện cụ thể, chân thực. Tính chất kí trong bút pháp của
Lê Hữu Trác thể hiện rõ ở cách ghi tỉ mỉ sự việc, thời gian .Nhà văn kết
hợp biện pháp kể khách quan với nghệ thuật gợi không khí nhằm làm nổi
bật hành động khẩn trương,gấp gáp của nhân vật: “ Mồng một tháng 2. Sáng
tinh mơ, tôi nghe tiếng gõ cửa rất gấp. Tôi chạy ra mở cửa . Thì ra một
người đầy tớ quan Chánh đường….” . ở đây “trong việc có người”, người
gắn chặt với cảnh,với môi trường hoạt động cụ thể. Câu văn của Lê Hữu
Trác ngắn gọn, giàu thông tin, được viết ra một cách nhẹ nhàng, tự
nhiên,không một chi tiết thừa .Lời văn giản dị, chắc mà bay bổng, vừa
“truyền cảm” vừa truyền nhận thức .Người đọc có thể hình dung được rất
rõ một cảnh huống đặc biệt đang xảy ra.
Lần theo mạch tự sự,
người đọc có cảm giác hồi hộp lo âu rồi bất ngờ nhận ra một con người
gần gũi, quen thuộc như cảm nhận của nhân vật “ Tôi” trong tác phẩm này.
Trước mắt ta : hình ảnh nhân vật tôi đã dừng bước với tâm trạng ngạc
nhiên, thoáng một chút thất vọng. Nhịp kể đột ngột chậm lại để ghi
người, ghi việc rõ nét hơn, đầy đủ hơn. Hai chữ “thì ra” vừa tạo ấn
tượng về sự khám phá, vừa gọi ra được người thật,việc thật .
Nhân
vật “tôi” không hiện ra qua hình dáng cụ thể. Trước hết anh ta xuất
hiện qua giọng nói, qua cảm nhận về âm thanh, và rõ hơn ở hành động.
Nhân vật “tôi”” xuất hiện với tư cách một người trong cuộc, trực tiếp
tham gia vào sự việc được miêu tả trần thuật. Vì thế ngay từ đầu truyện
người đọc đãcó cảm giác đây không phải câu chuyện hư cấu, mà chính là
bức tranh cuộc sống đang hiện hữu .
Khi kể việc, tả người Lê Hữu
Trác không vay mượn những khuôn mẫu, chất liệu có sẵn,tác giả hướng tới
khai thác chất liệu đời thường, đời tư. Chẳng hạn lời đối thoại của nhân
vật người đầy tớ được thể hiện một cách tự nhiên, đúng với vị thế chức
phận của hắn: “có thánh chỉ triệu cụ vào. Quan truyền mệnh hiện đang ở
nhà cụ lớn con,con vâng mệnh chạy đến đây báo tin…”.
Lê Hữu Trác
coi trọng việc kể lại có ngọn ngành. Nhà văn ưa sắp xếp sự việc cho đầy
đủ mạch lạc có đầu có cuối, nên dường như cứ một đoạn hay một câu nói về
hành động của tên đầy tớ lại tiếp đoạn tự thuật về hành động, cảm nhận
của Lê Hữu Trác. “Nghe tiếng gõ cửa…..tôi chạy ra…” , “người đầy tớ
nói…..tôi bèn” , “tên đầy tớ chạy…tôi bị xóc một mẻ,khổ không nói hết”.
Mạch văn chặt chẽ nhờ sự thể hiện thành công cái lô gíc nhân quả của sự
kiện, hành động .Ban đầu ta tưởng như nhân vật “tôi” chủ động, nhưng
càng đọc càng thấy nhân vật “tôi” bị cuốn vào hết sự việc này đến sự
việc khác.
Mở đầu đoạn trích cấu trúc câu văn ngắn gọn. Mỗi câu
văn tương ứng với một tâm tình, một sự việc, hành động. Người đọc vừa
đồng cảm với nỗi vất vả và hành động bất đắc dĩ của nhân vật tôi vừa
đồng tình với Lê Hữu Trác ở thái độ mỉa mai châm biếm sự lộng quyền
,tiếm lễ của chúa Trịnh Sâm lúc bấy giờ.
Quang cảnh và cung cách
sinh hoạt trong phủ chúa được ghi lại khá tỉ mỉ qua con mắt quan sát của
một thầy thuốc lần đầu tiên bước chân vào thế giới mới lạ. Không gian
nghệ thuật của tác phẩm ngày càng được mở rộng hơn theo bước chân, và
cách nhìn của nhân vật xưng “tôi” .Bức tranh toàn cảnh về phủ chúa Trịnh
không chỉ có bề rộng mà còn có chiều sâu, với một sức gợi mạnh mẽ.
Theo
nhân vật “tôi” quanh cảnh ở phủ chúa cực kì xa hoa, tráng lệ- không ở
đâu sánh bằng: Khi vào phủ phải qua nhiều lần cửa với những hành lang
quanh co nối tiếp nhau,ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác. Khuôn viên phủ
chúa rộng, có trạm dừng chân được kiến trúc thật kiểu cách, với cảnh trí
thiên nhiên kì lạ. Trong vườn, chim kêu ríu rít,danh hoa đua thắm,gió
đưa thoang thoảng mùi hương. Bên trong là những Đại đường, gác tía với
kiệu son, võng điều. Đồ dùng của chúa được son son thiếp vàng, đồ dùng
tiếp khách ăn uống cũng đều là mâm vàng, chén bạc, của ngon vật lạ…. Đến
nội cung của thế tử phải trải qua 6 lần trướng gấm. Nơi ở của thế tử
rất sang trọng,có sập thếp vàng, ghế rồng bày nệm ấm ,xung quanh lấp
lánh, hương hoa ngào ngạt…
Lê Hữu Trác khéo kết hợp tả tập trung
với điểm xuyết, chọn lọc được những chi tiết đắt, nói lên quyền uy tối
thượng cùng nếp sống hưởng thụ cực kì xa xỉ của gia đình chúa Trịnh Sâm.
Giọng kể khách quan, trang nghiêm, đan xen với thái độ ngạc nhiên và
hàm ý phê phán kín đáo chúa Trịnh .Nhà văn khéo kết hợp giữa văn xuôi và
thơ ca. Bài thơ vịnh cảnh, tả việc của Lê Hữu Trác ý tứ sâu xa, lời thơ
hóm hỉnh ,ẩn giấu một nụ cười châm biếm, mỉa mai.
Lời nhận xét
trong văn phẩm khá đa dạng: Trước tiên Lê Hữu Trác đánh giá khái quát vẻ
đẹp. Tiếp theo nhận xét về cảnh giàu sang. Tiếp nữa nêu ấn tượng về
cách bày trí, kiến trúc kiểu cách. Nhà văn dừng lại bình giá tỉ mỉ,sắc
sảo các đồ dùng xa hoa từ nhà Đại đường đến Gác tía. Lời đánh giá nào
của lê Hữu Trác cũng đích đáng,tinh tế và có chừng mực. Nói tác phẩm
giàu chất trữ tình vì thế.
Tác giả quan sát các công trình kiến
trúc, cảnh trí thiên nhiên qua hình khối, dáng vẻ kích cỡ, tả khuôn viên
chủ yếu qua những ấn tượng về hương thơm âm thanh, kể về mức độ xuất
hiện của thị vệ, quân sĩ để nhấn mạnh vẻ trang nghiêm của nơi đây. Lê
Hữu Trác đặc biệt ưa tả đường đi, lối vào phủ chúa. Ta có cảm tưởng đằng
sau mỗi cánh cửa là một bức tranh .Đoạn trích gồm nhiều bức tranh với
những mảnh màu tối sáng, nhạt đậm khác nhau, nối liền nhau .
Qua
mấy lần cửa đầu tiên, trước mắt tác giả giống như một cảnh tiên huyền
ảo, cây cối um tùm, hương hoa thơ mộng. Đi tiếp, cảnh giàu sang của phủ
chúa được bày ra chân thật,đầy đủ hơn. Càng đi sâu vào trong, Lê Hữu
Trác càng có dịp quan sát không gian nội thất, không gian cao rộng của
lầu gác với các đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, nhất là được biết cái
phong vị của nhà đại gia.
“Vào phủ chúa Trịnh” trở thành một quá
trình tiếp cận sự thật đời sống xa hoa vương giả hơn là thăm bệnh,chữa
bệnh. Thăm bệnh, chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán tưởng chỉ như một cái
cớ, một dịp may giúp người viết kí hoàn thiện bức tranh về cuộc sống
thâm nghiêm, giàu sang đầy uy quyền.
Lê Hữu Trác tổ chức điểm
nhìn trần thuật linh hoạt. Có đoạn sự việc được kể theo quan sát của
nhân vật xưng tôi. Có đoạn nhà văn để cho nhân vật quan truyền chỉ miêu
tả,giới thiệu. Người đọc có cảm tưởng không chỉ có Lê Hữu Trác dẫn ta
vào phủ chúa để tự do quan sát ngắm nhìn mà cả những kẻ hầu cận chúa
cũng đưa ta thâm nhập, khám phá sự thật ở “Đông cung”. Những đoạn nhân
vật tôi độc thoại toát lên cái nhìn sắc sảo và sự cảm nhận tinh tế.
Những đoạn kể tả, cho thấy nhân vật tôi bao quát được một không gian
rộng lớn, nắm bắt được thần thái, bản chất của sự vật hiện tượng. Trong
tư cách một người thầy thuốc quê mùa, nhân vật tôi luôn tỏ ra là một
người hoà nhã kính nhường, ham học hỏi y thuật của đồng nghiệp . Sự đối
lập về vị thế so với các vị lương y của sáu cung hai viện,không khiến
nhân vật tôi trở nên nhỏ bé, trái lại càng tôn cao hơn nhân cách và tài
năng của nhân vật này . Vẻ đông đúc của lương y nơi triều đình tự phơi
bày hết sự thực ở phú chúa đang tồn tại một hệ thống quan lại bất tài,
ăn bám .
Các nhà nho xưa ít khi nói về mình. Nhưng trong đoạn
trích này,tác giả đã không ngần ngại để cái “Tôi”đóng một vai trò quan
trọng. “Vào phủ chúa Trịnh” thể hiện trực tiếp cái tôi cá nhân người cầm
bút. Qua đoạn trích ta thấy tác giả Lê Hữu Trác là một thầy thuốc giàu
kinh nghiệm. Bên cạnh tài năng ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và
đức độ. Lê Hữu Trác xem nghề thuốc vô cùng thiêng liêng cao quí,người
làm thuốc phải nối tiếp lòng trung của cha ông mình,phải luôn giữ đức
cho trong, giữ lòng cho sạch . Lê Hữu Trác yêu thích tự do, nếp sống
thanh đạm. Vượt lên trên những danh lợi tầm thường ông trở về hành đạo
cứu đời với quan niệm : “Thiện tâm cốt ở cứu người. Sơ tâm nào có mưu
cầu chi đâu/ Biết vui, nghèo cũng hơn giàu/ Làm ơn nào phải mong cầu trả
ơn”.
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Vợ nhặt?
|
|
|
|
Tham khảo:
|
Gợi ý tham khảo:
1. Mở bài - Giới thiệu nhà văn Kim Lân - Giới thiệu tác phẩm Vợ nhặt: + Xuất xứ. + Nội dung chính. + Giá trị nhân đạo sâu sắc tạo nên nét hấp dẫn cho tác phẩm.
2.Thân bài 1. Giải thích khái niệm nhân đạo
- Cảm hứng nhân đạo là cảm hứng truyền thống của văn học và con người
Việt Nam. Cốt lõi của tinh thần nhân đạo là tình yêu thương con người.
Nó biểu hiện ra ở thái độ cảm thông, chia sẻ với mọi nỗi khổ đau, bất
hạnh của con người, là sự trân trọng, là niềm tin ở những phẩm chất tốt
đẹp của con người. Nó còn thể hiện ở thái độ đồng tình và khao khát phấn
đấu cho con người để sống sung sướng, tự do trong hoàn cảnh xã hội có
đấu tranh giai cấp. Lòng nhân đạo còn thể hiện ở tinh thần hướng tới
tương lai, chỉ ra được con đường giải thoát cho người lao động. -
Trong tác phẩm “Vợ nhặt” tác giả lấy bối cảnh là nạn đói 1945 – một hoàn
cảnh xã hội điển hình nên càng thấm thía hơn tinh thần nhân đạo. 2. Sự thể hiện giá trị nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt”
a). Lòng nhân đạo thể hiện trước hiện ở thái độ cảm thông của mình với
nỗi khổ đau bất hạnh của con người trong xã hội cũ. - Không
hiểu về người nông dân, không có một thái độ trân trọng có lẽ KL không
thể tái hiện được bức tranh về hoàn cảnh bi đát khốn cùng của người
nông dân trong nạn đói thê thảm 1945 chân thực đến thế. - Bức tranh chung của ngày đói thật thảm thương: hình ảnh, âm thanh, mùi vị.
- Không chỉ dừng lại ở đó KL còn giúp ta hiểu hơn nỗi bế tắc, khổ đau
của từng gia đình, từng số phận, trong ngày đói thân phận chị vợ nhặt Gia cảnh nhà T: một căn nhà dúm dó, đêm tân hôn, bữa ăn… (phân tích).
- Khai thác tình huống T nhặt được vợ nếu ở cây bút bình thường rất dễ
trở thành hài hước và nhân vật chắc chắn không khỏi dị dạng, méo mó.
Nhưng điều đó đã không xảy ra với ngòi bút Kim Lân. Trong những trang
viết của ông có chút rất riêng của nhà văn xứ Kinh Bắc nhưng đằng sau
những chi tiết đó vẫn là một tấm chân tình nồng hậu. - Ta có
thể cảm nhận được nỗi xót thương, sự cảm thông của nhà văn đối với con
người bị hoàn cảnh đẩy vào sự khốn cùng, bèo bọt trong từng trang văn
của KL. Có được sự cảm thông ấy bởi KL cũng đã từng sống cuộc sống của
người lao động đầy cơ cực như nhà văn nói: “ăn cháo cám thì tôi và bạn
tôi đã từng ăn”. b) Không chỉ dừng lại ở sự cảm thông chiều sâu
của tinh thần nhân đạo còn ở chỗ nhà văn đã phát hiện, trân trọng những
phẩm chất tốt đẹp của người lao động, luôn tin tưởng ở bản chất lương
thiện của người lao động: con người dù bị đẩy đến đường cùng vẫn giữ
được bản chất lương thiện. - Vẻ đẹp tâm hồn: + Tràng cho người đàn bà ăn. + Mẹ T, bà cụ Tứ, chấp nhận người con dâu. + Dân xóm ngụ cư. - Bản chất lương thiện: phân tích hình ảnh chị vợ nhặt sau khi về nhà chồng.
Qua đây thể hiện cái nhìn đầy niềm tin của KL ở bản chất lương thiện
của con người: con người…Phát hiện ra điều đó, ngòi bút KL có tính nhân
đạo sâu sắc. c) Điều đặc biệt KL còn thấy được bản chất sống
khỏe khoắn trong tâm hồn người lao động: dù bị cái đói, cái chết dồn
đuổi đến bước đường cùng, họ vẫn khao khát sống, khao khát hạnh phúc - Tràng. - Bà cụ Tứ. - Dân xóm ngụ cư.
d) KL đã thấy được tương lai của họ. Là nhà văn CM, KL không dừng lại ở
những hiện thực u ám, chi tiết kết thúc tác phẩm là một chi tiết giàu ý
nghĩa của thiên truyện. - Trong bữa cơm đón nàng dâu mới dù
chỉ có (…) nhưng câu chuyện của người vợ nhặt lại nói đến những đoàn
người đi cướp kho thóc của Nhật…Trong óc T hiện ra hình ảnh của lá cờ đỏ
sao vàng…Chi tiết này đã hé mở cho chúng ta thấy con đường giải thoát
của người lao động: con đường đến với cách mạng. Chỉ ra con đường giải
thoát cho người lao động tác phẩm của KL có giá trị nhân đạo sâu sắc. 3. Kết bài - Khẳng định giá trị nhân đạo – sức hấp dẫn, chiều sâu tư tưởng của tác phẩm. - Có được giá trị nhân đạo này bởi KL có sự gắn bó ân tình sâu nặng với người nông dân.
|
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích vẻ đẹp nhân vật Huấn Cao?
|
|
|
|
Tham khảo e nhé: Các ý chính: 1. Giới thiệu vài nét về tác phẩm và nhân vật. - Chữ người tử tù là truyện ngắn rút từ tập Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân (1940).
- Đây là truyện ngắn có nội dung tư tưởng sâu sắc và có nhiều thành
công về các phương diện nghệ thuật. Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của
tác phẩm bộc lộ tập trung trong hình tượng nhân vật Huấn Cao. 2. Vẻ đẹp của Huấn Cao trước hết là vẻ đẹp của con người nghệ sĩ tài hoa.
- Huấn Cao có tài viết chữ. Chữ Huấn Cao viết là chữ Hán, loại văn tự
giàu tính tạo hình. Các nhà nho thuở xưa viết chữ để bộc lộ cái tâm, cái
chí. Viết chữ thành một môn nghệ thuật được gọi là thư pháp. Có người
viết chữ, thì có người chơi chữ. Người ta treo chữ đẹp ở những nơi trang
trọng trong nhà, xem đó như một thú chơi tao nhã. - Huấn Cao là
nghệ sĩ trong nghệ thuật thư pháp. "Tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp"
của ông nổi tiếng khắp một vùng tỉnh Sơn. Ngay cả viên quản ngục của một
huyện nhỏ vô danh cũng biết "chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm (...).
Có được chữ ông Huấn Cao mà treo trong nhà là có một báu vật trên đời".
Cho nên, "sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia treo ở
nhà riêng mình một câu đối do tay ông Huấn Cao viết". Để có được chữ
ông Huấn Cao, viên quản ngục không những phải dụng công, phải nhẫn nhục,
mà còn phải dũng cảm. Bởi vì, biệt đãi Huấn Cao, một kẻ tử tù, là việc
làm nguy hiểm, có khi phải trả bằng tính mạng của mình. 3. Huấn Cao là người có "thiên lương" trong sáng, cao đẹp.
- Trong truyện "Chữ người tử tù", khái niệm "thiên lương" được Nguyễn
Tuân sử dụng với nhiều ý nghĩa khác nhau. Với quản ngục và thơ lại, thì
"thiên lương" là tấm lòng yêu quý cái tài, cái đẹp rất chân thành của
họ. Với Huấn Cao, thì "thiên lương" lại là ý thức của ông trong việc sử
dụng cái tài của mình. - Huấn Cao có tài viết chữ, nhưng không
phải ai ông cũng cho chữ. Ông không bao giờ ép mình cho chữ vì vàng
ngọc, hay quyền thế. Ông chỉ trân trọng những ai biết yêu quý cái đẹp,
cái tài. Cho nên, suốt đời, Huấn Cao chỉ viết hai bộ tứ bình và một bức
trung đường cho ba người bạn thân. Ông tỏ thái độ khinh bạc vì tưởng
quản ngục có âm mưu đen tối gì, khi thấy viên quan ấy biệt đãi mình. Rồi
ông "cảm cái lòng biệt nhỡn liên tài" của quản ngục và thơ lại, khi
biết họ thành tâm xin chữ. Ông quyết không phụ tấm lòng của họ, nên mới
diễn ra cảnh cho chữ trong tù, được tác giả gọi là "một cảnh tượng xưa
nay chưa từng có". 4. Sự thống nhất của cái tài, cái tâm và khí phách anh hùng ở hình tượng Huấn Cao.
- Trong cảnh cho chữ ở cuối tác phẩm, Nguyễn Tuân đã để cho vẻ đẹp của
cái tâm, của "thiên lương" chiếu rọi, làm cho vẻ đẹp của cái tài, cái
khí phách anh hùng bừng sáng, tạo nên nhân cách chói lọi của Huấn Cao.
Sự thống nhất của cái tài, cái tâm và khí phách anh hùng là lí tưởng
thẩm mĩ của Nguyễn Tuân đặt nhân vật truyện dưới ánh sáng của lí tưởng
ấy để các hình tượng của nhà tù, quản ngục và thơ lại là hai điểm sáng,
bên cạnh cái vầng sáng rực rỡ Huấn Cao. Cũng chính là lí tưởng thẩm mĩ
ấy đã chi phối mạch vận động của truyện, tạo thành cuộc đổi ngôi kỳ
diệu: kẻ tử tù trở thành người làm chủ tình huống, ban phát cái đẹp, cái
cao cả cho viên quản ngục, người xin chữ. 5. Nghệ thuật xây dựng nhân vật Huấn Cao.
- Để làm nổi bật vẻ đẹp của Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật vào
một tình huống truyện độc đáo: cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao với quan coi
ngục, nhưng cũng là cuộc hội ngộ của những kẻ "liên tài tri kỉ".
- Miêu tả Huấn Cao, để làm nổi bật sự chiến thắng của cái tài, cái đẹp,
cái tâm và khí phách ngang tàng, Nguyễn Tuân triệt để sử dụng sức mạnh
của nguyên tắc tương phản, đối lập của bút pháp lãng mạn: đối lập giữa
ánh sáng và bóng tối, giữa cái đẹp, cái cao cả với phàm tục, dơ bẩn. Có
sự tương phản ở những chi tiết tạo hình được sử dụng để miêu tả không
khí của cảnh cho chữ (bóng tối phòng giam, ánh sáng đỏ rực của bó đuốc,
tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ...). Có sự đối lập tương phản giữa
việc cho chữ (công việc tạo ra cái đẹp "nói lên hoài bão tung hoành của
một đời con người") với hoàn cảnh cho chữ (nơi hôi hám, bẩn thỉu, nơi
giam cầm cùm trói tự do). Có sự đối lập ở phong thái của người cho chữ
(đường hoàng) với tư thế của kẻ nhận chữ (khúm núm)... - Ngôn
ngữ miêu tả nhân vật của Nguyễn Tuân giàu chất tạo hình. Ông sử dụng
nhiều từ Hán Việt, lời ăn tiếng nói mang khẩu khí của người xưa làm tăng
thêm vẻ đẹp của một "thời vang bóng" ở hình tượng Huấn Cao. 6. Kết luận.
- Nhân vật Huấn Cao thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Đó là
biểu tượng cho sự chiến thắng của cái tài, cái đẹp, cái tâm trước cái
phàm tục, dơ bẩn, của khí phách ngang tàng đối với thói quen nô lệ. Đây
là lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn, là ý nghĩa tư tưởng của hình tượng.
- Hình tượng Huấn Cao được xây dựng trên cơ sở nguyên mẫu: Cao Bá Quát,
một nhà nho có tài văn thơ, viết chữ đẹp nổi tiếng một thời và cũng là
người tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Mĩ Lương chống lại triều đình
nhà Nguyễn trong thế kỉ XIX. Xây dựng nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân bộc
lộ tình cảm yêu nước và tinh thần dân tộc thầm kín của mình.
|
|