|
|
giải đáp
|
Hình tượng người nghĩa sĩ
|
|
|
|
Bài tham khảo:Trên bầu trời văn chương Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu như một ngôi sao sáng, càng nhìn càng sáng. Văn chương của ông sáng ngời đạo lý dân tộc và tư tưởng yêu nước. Ông đã đễ lại cho hậu thế những tác phẩm bất hủ như: Lục Vân Tiên, Ngư tiều y thuật vấn đáp, nhiều bài thơ, bài văn tế…Nổi tiếng và gây xúc động nhất là Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Ở bài văn này, lần đầu tiên, hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ được coi như “ một phát hiện mới thơ dành cho họ vị trí chưa từng có trong tác phẩm., họ trở thành nhân vật chính – anh hùng thời đại. Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Đình Chiểu dùng một bài văn tế theo thể luật, gọi đúng là thể phú Đường luật ( phú cận thể) một thể loại dùng trong tang ma phúng điếu với nội dung chủ yếu là ca ngợi công đức người được tế… để nói về những người nghĩa sĩ. Có lẽ, nhân vật nghĩa sĩ hy sinh vì nước có tầm vóc lớn lao, đáng kính phục…thích hợp với một hình thức diễn đạt như vậy? Khoan hãy bàn đến vấn đề này. Ta cần xem xét một cách toàn diện về nhân vật mà Nguyễn Đình Chiễu đã dựng nên trong tác phẩm. Ở phần mở đầu, Nguyễn Đình Chiểu đã nói về thời cuộc, khái quát về cuộc đời nhân vật. Trong câu mở đầu Súng giặc đất rền – lòng dân trời tỏ… Lời và ý đối nhau một cách hoàn chỉnh, diễn đạt hai nội dung của thời đại rất cụ thể, giặc xâm lược, có vũ khí hiện đại – dân ta chống xâm lược, chỉ bằng lòng yêu nước. Người nghĩa sĩ trong bài văn buộc phải tỏ lòng yêu nước của mình trong bối cảnh như thế. Câu văn như báo trước sự hy sinh của nhân vật là tất yếu. Cho nên “ mười lăm công vỡ ruộng”, ít ai biết đến họ. Thế mà chỉ “ một trận nghĩa đánh Tây – tuy là mất”, là chết – danh tiếng họ đã “ vang như mõ”. Từ những con người bình thường sống sau lũy tre, rặng dừa, mái nhà… họ vụt trở thành anh hùng, vì nghĩa lớn mà hy sinh. Và họ trở thành đối tượng của sự chú ý, trở thành nhân vật để nhà văn ca ngợi. Lời ca ngợi họ, bắt đầu từ cuộc sống lao động lặng thầm, cực khổ đến một đời chiến đấu anh dũng, vẻ vang. Cuộc sống lao động vất vả trong cuộc đời họ được nhà văn thâu tóm trong hai câu thích thực khá trọn vẹn Côi cút làm ăn – toan lo nghèo khó. Hai nét bản chất ấy được triển khai làm rõ hơn ở những chi tiết giản dị, cụ thể, mộc mạc nhưng tiêu biểu, chọn lọc. "Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung: chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ. Việc cuốc, việc cày,việc bừa, việc cấy…tay vốn làm quen: tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ..mắt chưa từng ngó”. Ở đây có hai loại chi tiết: những cái họ biết, họ quen ( ở làng bộ, cây cuốc, bừa) và những cái họ chưa từng quen, chưa từng ngó ( cung, ngựa, trường nhung, khiên, mác, cờ..) Với hai loại chi tiết đối lập này, có thể kết luận rằng: họ chỉ là những nông dân nghèo khổ, cần cù, gắn bó với những làng quê thanh bình, chưa hề biết việc binh đao. Cho nên, khi giặc Pháp kéo tới với tàu sắt, tàu đồng, họ đã phải trải qua tâm trạng lo âu, phấp phỏng. Họ “ trông tin quan như trời hạn trông mưa”. Và họ đã thất vọng vì đã “ hơn mươi tháng”, triều đình vẫn không thực hiện trách nhiệm cứu dân, cứu nước vốn là nghĩa vụ của vua, quan. Họ đã bị bỏ rơi!. Sống trong một vùng giặc chiếm đóng mùi tinh chiến vấy vá đã ba năm, họ căm, ghét“ thói mọi” một cách cảm tính, tự nhiên như nhà nông ghét cỏ. Nỗi căm ghét ngày một lớn lên trước sự nghênh ngang khiêu khích của những” bong bong che trắng lốp”, những “ ống khói chạy đen sì” trông đến nhức mắt. Họ đã muốn “ tới ăn gan”, muốn “ ra cắn cổ”, giết và xóa sạch chúng đi. Bị triều đình bỏ rơi trong vùng đất giặc chiếm đóng, họ đã ý thức được vao trò của cá nhân và ý thức được trách nhiệm đối với nền độc lập của Tổ quốc. Tổ quốc ( một mối xa thư đồ sộ) và chân lý độc lập đã được khẳng định ( hai vầng nhật nguyệt chói lòa), không thể bị xâm phạm như một chốn không người. Họ “ há để ai chém rắn đuổi hươu”. Họ “ đâu dung lũ treo dê bán chó”. Triều đình không đánh giặc thì họ phải nhận lấy trách nhiệm thiêng liêng này. Việc đầu binh trở thành việc tự nguyện hoàn toàn. “ Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này ra sức đoạn kình” Chẳng them trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”
Những từ” xin ra sức, dốc ra tay” diễn tả thật sinh động và chính xác ý thức tự nguyện của họ. Thời cuộc vá hoàn cảnh sống cụ thể, nỗi nhức nhối về cái nhục mất nước, ý thức về dân tộc và đất nước đã biến những người nông dân hiền lành thành những người chiến đấu vì đại nghĩa. Họ đã trở thành người nghĩa binh tự nguyện gánh vác việc đánh giặc cứu nước. Trở thành “ quân chiêu mộ”, họ vẫn là “ dân ấp, dân lân”, chưa hề được “ tập rèn võ nghệ”, không hề biết đến binh thư. Họ chỉ có một tấm lòng “ mến nghĩa”, vì đại nghĩa - trang bị thay cho những điều cơ bản của việc binh đao! Cuộc đời nghèo khó của họ thế nào thì họ xuất hiện trên chiến trường như vậy. Họ chỉ có “ một manh áo vải, trong tay cầm một ngọn tầm vông” , hay “ rơm con cúi, lưỡi dao phay”… Đó không phải là vũ khí mà những vật dụng thường ngày trong sinh hoạt và lao động. So sánh với những đạn nhỏ,đạn to, tàu sắt tàu đồng của quân thù, ta không khỏi kinh ngạc và ngậm ngùi bởi cuộc chiến không cân sức. Lòng dân trời tỏ là ở chỗ này chăng? Với những câu văn đối nhau bị ngắn vụn tơi tả, với hàng loạt động từ nhanh và mạnh, với những chi tiết dồn dập… Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa được khoảnh khắc hào hùng của người chiến sĩ trên chiến trận. Chi nhọc quan quản giống trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không, nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho lũ mã ta ma ní kinh hồn, bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt, tàu đồng sung nổ. Hai câu văn tế vừa khắc họa dũng khí, sự can đảm đến liều lĩnh của người nghĩa sĩ khiến quân thù khiếp sợ, vừa diễn tả cách đâm ngang, chém ngược, của những người nông dân chưa thạo chiến trận. Và tất yếu, tuy tỏ được lòng mình nhưng họ đã hy sinh! Ngậm ngùi thay, cảnh mẹ già ngồi khóc trẻ, vợ yếu chạy tìm chồng…khiến ta đau xót và thấu hiểu sâu sắc hơn sự hy sinh của họ vì đại nghĩa lớn đến chừng nào? Tóm lại, hình ảnh người chiến sĩ phần lớn được thể hiện ở phần thích thực của bài văn tế. Ở phần này, cuộc đời của nhân vật đã được kể lại khá rõ như đã nói ở trên. Tuy nhiên, ở những phần khác của bài văn, qua lời than tiếc ( ai điếu) và lời vĩnh biệt ( ai vãn) của tác giả…hình bóng họ vẫn thấp thoáng ẩn hiện trong lòng người, trong lòng non song đất nước. Họ ra đi nhưng họ còn để lại sau mình mẹ già, vợ yếu ( gánh nặng gia đình), để lại Bến Nghé, Đồng Nai còn bốn phía mây đen ( trách nhiệm đối với đất nước). Tuy vậy, họ vẫn là những con người sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen…Họ đã trở thành nhân vật bất tử. Qua những điều vừa phân tích nêu trên, có thể nói trong văn chương Việt Nam, lần đầu tiên nhân vật người nông dân vì nghĩa được khắc họa sâu đậm và toàn diện. Trước Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Trãi đã nói tới dân: dân đen, con đỏ, kẻ cấy cày, nhân dân bốn cõi… nhưng hình bong của họ là bong dáng chung, chưa cụ thể nhưng là người dân ấp, dân lân vì nghĩa này. Qua những người lính cứ ba xuất đinh thì họ chọn lấy một người ở Nghệ An do Quang Trung tuyển, cũng được xếp vào trung quân trong hàng ngũ chỉnh tề của cuộc hành quân chỉ huy chặt chẽ: tiền, hậu, tả, hữu…( Hoàng Lê nhất thống chí – Ngô Gia Văn Phái).Nhưng trong tác phẩm này, người nghĩa binh lại chưa quen cùng ngựa, đánh giặc chỉ bằng dao phay, rơm con cúi… Vai trò của dân trong các tác phẩm tiến bộ trước đó là cùng giai cấp phong kiến lám ra lịch sử. Ở đây, người nông dân đơn phương đánh giặc, hy sinh vì nước khi họ bị triều đình bỏ rơi. Họ góp vào trang sử dân tộc những trang máu lửa của sự tạm thời thất bại trước một kẻ thù mạnh hơn mình gấp bội. Họ như tro than ủ mồi lửa yêu nước cho các thế hệ sau…Quả vậy, sau này, trong văn chương Đỗ Chiểu và văn chương của nhiều tác giả khác, hình ảnh người sĩ phu, trí thức, nông dân chống Pháp, lại một lần nữa tỏa sang trong các bài. Văn tế Trương Định, Điếu Phan Tòng, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh, Hịch đánh Tây… Bằng một bài văn tế điển hình, đạt tới trình độ nghệ thuật cao. Nguyễn Đình Chiểu đã hết lòng ca ngợi người nghĩa sĩ hy sinh vì nước trong những ngày đầu chống Pháp. Tình cảm mà ông dành cho họ nói lên lòng yêu nước, quan điểm chống Pháp mà ông đã theo đuổi đến trọn đời. Nhân vật và cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu đã trở thành tấm gương sang vì nước quên mình cho các thế hệ sau noi theo. Nhân vật và chính ông thật xứng đáng với nhận xét là “ những ngôi sao càng nhìn càng sáng” ( Phạm Văn Đồng). Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích hình ảnh người nghĩa sĩ trong bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Trên bầu trời văn chương Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu như ngôi sao sáng càng nhìn càng sáng. Văn chương ông sáng ngời đạo lí ở đời và lấp lánh ánh sáng của tư tưởng yêu nước. Ông đã để lại cho hậu thế những tác phẩm bất hủ như: "Lục Vân Tiên", "Ngư tiều vấn đáp y thuật", nhiều bài thơ, bài văn tế… Nổi tiếng và gây xúc động nhất là "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc". ở bài văn này, lần đầu tiên, hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ được coi như "một phát hiện mới, nhà thơ dành cho họ vị trí chưa từng có trong văn chương"; họ trở thành nhân vật chính - anh hùng của thời đại. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Đình Chiểu sáng tác bài văn tế theo thể phú Đường luật (phú cận thể), một thể loại dùng trong tang ma phúng điếu với nội dung chủ yếu là ngợi ca công đức những người nông dân nghĩa sĩ đánh Pháp cuối thể kỉ XIX. Có lẽ, nhân vật người nghĩa sĩ hi sinh vì nước có tầm cỡ lớn lao, đáng kính phục… thích hợp với một hình thức diễn đạt tiếc thương và trang trọng như vậy? ở phần lung khởi (phần mở đầu). Nguyễn Đình Chiểu đã nói về thời cuộc, khái quát về cuộc đời nhân vật. Trong câu mở đầu "Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ" đối nhau một cách hoàn chỉnh, diễn tả hai nội dung của thời đại rất cụ thể: giặc xâm lược, có vũ khí hiện đại, dân ta chống xâm lược, chỉ bằng lòng yêu nước. Người nghĩa sĩ đã thể hiện lòng yêu nước và căm thù giặc trong bối cảnh như thế. Câu văn như báo trước số phận éo le, báo trước sự hi sinh của nhân vật là tất yếu. Cho nên "Mười năm công vỡ ruộng", ít ai biết đến họ. thế mà chỉ "một trận nghĩa đánh Tây" - "tuy là mất", là chết - danh tiếng họ đã "vang như mõ". Từ những con người bình thường sống sau luỹ tre, rặng dừa, mái lá…, họ vụt trở thành nổi tiếng, vì nghĩa lớn mà hi sinh. Và họ đã trở thành những anh hùng nghĩa sĩ của thời đại đau thương và anh dũng. Lời ca ngợi họ, bắt đầu từ một cuộc sống lao động lặng thầm, cực khổ đến một cuộc đời chiến đấu anh dũng, vẻ vang. Cuộc sống lao động vất vả trong đời họ, được nhà văn thâu tóm trong hai câu thích thực mở đầu khá trọn vẹn: "Côi cút làm ăn - Toan lo nghèo khó". Hai nét bản chất ấy được triển khai làm rõ hơn ở những chi tiết giản dị, cụ thể, mộc mạc nhưng tiêu biểu, chọn lọc: Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cơ mắt chưa từng ngó.
ở đây có hai chi tiết: những cái họ biết, họ quen và những cái họ chưa quen, chưng từng ngó. Với hai loại chi tiết này, có thể kết luận rằng: họ chỉ là những người nông dân nghèo khổ, cần cù, gắn bó với làng quê thanh bình, chưa hề biết việc đao binh, chiến trận. Cho nên, khi giặc Pháp kéo tới với "tàu chiếc, tàu đồng", họ đã phải trải qua một tâm trạng lo âu, phấp phỏng. Họ "trông tin quan như trời hạn trông mưa". Và họ đã thất vọng vì đã "hơn mươi tháng", triều đình vẫn không thực hiện trách nhiệm cứu dân cứu nước vốn là trách nhiệm của vua, quan. Họ đã bị bỏ rơi! Sống trong vùng đất giặc chiếm đóng "mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm", họ căm ghét "thói mọi" một cách cảm tính, tự nhiên "như nhà nông ghét cỏ". Nỗi căm ghét ngày một lớn lên trước sự nghênh ngang khiêu khích của những "bòng bong che trắng lốp", những "ống khói chạy đen xì" trông đến nhức mắt. Họ đã muốn "tới ăn gan", muốn "ra cắn cổ", giết và xóa sạch lũ giặc Lang Sa. Bị triều đình bỏ rơi trong vùng đất giặc chiếm đóng, họ đã ý thức được vai trò của cá nhân mình và ý thức được trách nhiệm đối với nền độc lập của Tổ quốc. Tổ quốc (một mối xa thư đồ sộ) và chân lí độc lập đã được khẳng định (hai vầng nhật nguyệt chói lòa) không thể bị xâm phạm như một chốn không người. Họ "há để ai chém rắn đuổi hươu". Họ "đâu dung lũ treo dê bán chó". Triều đình không đánh giặc thì họ phải nhận lấy nghĩa vụ thiêng liêng này. Ra trận đánh giặc đối với họ là việc tự nguyện hoàn toàn. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;
Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.
Những từ "xin ra sức", "dốc ra tay" diễn tả thật sinh động và chính xác ý thức tự nguyện của họ. Thời cuộc và hoàn cảnh sống cụ thể, nỗi nhức nhối và tủi nhục mất nước, ý thức về dân tộc và đất nước đã biến những người nông dân hiền lành thành những nghĩa quân chiến đấu vì đại nghĩa. Họ đã trở thành người nghĩa sĩ tự nguyện gánh vác việc đánh giặc, cứu nước, cứu nhà. Trở thành "quân chiêu mộ", họ vẫn là "dân ấp dân lân" chưa hề "tập rèn" "võ luyện", không hề biết đến "binh thư". Họ chỉ có một tấm lòng "mến nghĩa", vì đại nghĩa - trang bị thay cho những điều cơ bản của việc binh đao! Cuộc đời nghèo khó của họ thế nào thì họ xuất hiện trên chiến trường như vậy. Họ chỉ có "một manh áo vải", "trong tay cầm một ngọn tầm vông", hay "rơm con cúi", "lưỡi dao phay"… Đó không phải là vũ khí mà là những vật dụng thường ngày dùng trong sinh hoạt và lao động. So sánh với những "đạn nhỏ đạn to", "tàu thiếc tàu đồng" của quân thù, ta không khỏi kinh ngạc và ngậm ngùi bởi một cuộc chiến không cân sức. "Lòng dân trời tỏ" là ở chỗ này chăng? Với những câu văn gối hạc bị ngắt thành ba vế, với hàng loạt động từ nhanh và mạnh, với những chi tiết dồn dập…, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa được khoảnh khắc hào hùng của người nghĩa sĩ trong chiến trận: Chi nhọc quan quản giống trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới,
coi giặc cũng như không;
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào
liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.
Hai câu văn tế vừa khắc họa dũng khí, sự can đảm đến liều mình của người nghĩa sĩ khiến quân thù phải khiếp sợ, vừa diễn tả cách đánh "đâm ngang", "chém ngược" của những người nông dân chưa thạo chiến trận. Và tất yếu, tuy tỏ được lòng mình nhưng họ đã hi sinh! Ngậm ngùi thay! Cảnh: "Mẹ già ngồi khóc trẻ", "vợ yếu chạy tìm chồng"… khiến ta đau xót và thấu hiểu sâu sắc hơn sự hi sinh của họ vì đại nghĩa lớn đến chừng nào? Tóm lại, hình ảnh người nghĩa sĩ đã được Nguyễn Đình Chiểu khắc họa trong bài văn tế là hình ảnh những người nông dân hiền lành, chất phác, nghèo khổ: vì đại nghĩa mà trở thành nghĩa binh; chiến đấu dũng cảm, quên mình, hy sinh vì nước. Hình ảnh người nghĩa sĩ phần lớn được thể hiện ở phần thích thực của bài văn tế. ở phần này, cuộc đời của nhân vật đã được kể lại khá rõ như đã nói ở trên. Tuy nhiên, ở những phần khác của bài văn, qua lời than tiếc (ai điếu) và lời vĩnh biệt (ai vãn) của tác giả… hình bóng họ vẫn thấp thoáng ẩn hiẹn trong lòng người, trong lòng non sông đất nước. Họ ra đi nhưng còn để lại "mẹ già", "vợ yếu", để lại "Bến Nghé", "Đồng Nai" còn "bốn phía mây đen". Tuy vậy, họ vẫn là những con người "sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc", "danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen"… Họ đã trở thành những anh hùng bất tử! Có thể nói trong văn chương Việt Nam, lần đầu tiên nhân vật người nông dân vị nghĩa được khắc họa sâu đậm và toàn diện. Trước Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Trãi đã nói tới "dân": "dân đen", "con đỏ", "kẻ cấy cày", "nhân dân bốn cõi"… nhưng bóng đáng của họ là bóng dáng chung, chưa cụ thể như là những người "dân ấp dân lân" vị nghĩa này. Nghĩa sĩ Cần Giuộc là những người nông dân Nam Bộ trong thế kỉ XIX "chưa quen cung ngựa", đánh giặc bằng "dao phay", "rơm con cúi", nhưng đã "chém rớt đầu quan hai nọ"… Hình ảnh những sĩ phu, trí thức, nông dân chống Pháp còn được khắc hoạ trong nhiều tác phẩm của Đồ Chiểu như: Văn tế Trương Định, Điếu Phan Tòng, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh, Hịch đánh Tây… Qua "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", Nguyễn Đình Chiểu đã nhiệt liệt ca ngợi người nghĩa sĩ hi sinh vì nước trong những ngày đầu chống Pháp. Tình cảm mà ông dành cho họ nói lên lòng yêu nước, quan điểm chống Pháp mà ông thực hiện đến trọn đời. Tên tuổi, cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu mãi mãi là tấm gương sáng vì nước quên mình cho các thế hệ sau noi theo. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Trong văn học, phải đến thế kỉ XIX khi Nguyễn Đình Chiểu - một nhà nho yêu nước dùng con mắt yêu thương và kính phục để viết nên “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” thì hình ảnh người nông dân mới thực sự xuất hiện. Đó là hình tượng đẹp, rất đỗi chân thực và đầy chất bi tráng, vừa hào hùng, vừa đau thương trong cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do của đất nước. Những người nông dân ấy, họ sinh ra đâu phải để làm chàng Gióng Phù Đổng, Lê Lợi, Quang Trung… Họ chỉ là những con người quanh năm khoác trên mình màu áo nâu của đất, bình dị và lam lũ. Nhưng họ xuất hiện trong khung cảnh bão táp của thời đại: Hỡi ôi! Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ
Họ đâu đã quen nghi tiếng súng. Âm thanh ấy đã phá tan cuộc sống bình lặng của họ. Một cuộc sống từ sáng đến tối bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, một cuộc sống chật vật với những lo toan nghèo khó. Cái nghèo đã làm họ thật nhỏ bé suốt ngày “cui cút làm ăn”.. Chỉ một câu văn, cụ Đồ Chiểu đã vẽ nên vòng đời luẩn quẩn không lối thoát của người dân Việt, người “dân ấp dân lân” Nam Bộ, bắt đầu với cui cút, vật lộn làm ăn để cuối cùng vẫn kết thúc trong nghèo khó. Đằng sau luỹ tre làng ấy, họ biết sao được những “cung ngựa”, “trường nhung”.. trong cái nhìn của họ chỉ có “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Đến việc cuốc, việc cày, bừa, khiên đã quá quen thuộc thì giờ tập khiên, tập súng.. thật lạ lẫm. Những tưởng họ mãi cam chịu như thế. Nhưng không, khi quân xâm lược đã xâm chiếm đất nước, chúng đang giày xéo lên từng mảnh ruống, từng đám đất quê hương ruột thịt của họ. Giờ đây, trong những “lo toan” không chỉ có đói nghèo mà còn là những thấp thỏm, lo âu: “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa…” Thấy “mùi tinh chiên vấy vá” không thể chống mắt đứng nhìn, không thể ngồi yên mà đợi. Triều đình đã “bỏ rơi” họ, nhưng làm sao ngăn được tình yêu đất nước nồng nàn ở họ. Bọn xâm lăng kia đã cướp đi những gì máu thịt của họ, chúng phá vỡ giấc bình yêu nơi thôn quê, làm sao không căm cho được. Nỗi uất hận đển tột cùng ấy đã biến những con người nhỏ bé tầm thường thành chàng Gióng khổng lồ trong cổ tích. Khi Tổ quốc lầm than, họ không ngần ngại chung vai góp sức. Lòng yêu nước đã biến thành lòng căm thù giặc đến sôi sục: “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan. Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắng đuổi hươu Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó”
Lòng yêu Tổ quốc tha thiết xuất phát từ trái tim đã khiên họ trở nên đẹp đẽ, lấp lánh… Dòng máu Lạc Hồng cuộn chảy trong người cùng với cơn giận của lòng yêu nước mạnh hơn yếu hèn, mạnh hơn cái chết. Khát vọng đánh giặc, khát vọng chiến đấu, khát vọng bảo vệ mảnh đất quê hương đã thôi thúc họ, mặc việc “đợi tập rèn”, “ban võ nghệ”, “bày bố binh thư”, không màng tới trên mình chỉ có “một manh áo vải”. Các chàng Gióng của thế kỉ XIX đã đến, “đạp rào lướt tới”, coi giặc cũng như không. Hỡi ôi, “một manh áo vải”, “một ngọn tầm vông”, chỉ có “lưỡi dao phay”, “rơm con cúi”, liệu có thể thắng được “tàu chiến tàu đồng”,” đạn nhỏ đạn to”. Đó là bi kịch của nghĩa sĩ Cần Giuộc hay chăng là tấn bi kịch của thời kì nghiệt ngã ấy. Họ là nông dân nhưng lại làm kinh ngạc cả chiến trường. Phải chăng cũng vì lẽ đó mà bản hùng ca đã cất lên trong tiếng nấc lòng. Có thể trận mạc đã vĩnh viễn cướp đi cuộc sống của họ, nhưng tinh thần xả thân vì nghĩa đã bù đắp cho sự thiếu hụt về lực lường, chênh lệch với kẻ thù “Chi nhọc quan quản Gióng trống kì trống giục…. súng nổ”
Hình tượng của người nghĩa sĩ áo vải được khắc nổi trên cảnh u ám khói bom ấy: những âm thanh vang động (hè trước, ó sau…) những động tác quyết liệt (đốt, chém…). Những người nghĩa sĩ áo vải đã trở thành đấng anh hùng của một thời kì đáng nhớ. Trong tư thế quật cường ấy , lấp lánh chân dung của những con người gánh trên vai vận mệnh của non sông. Họ biết rằng mình chỉ là vô danh trong dân tộc anh hùng nhưng điều cao cả nhất họ để lại là triết lí sống phù hợp đến muôn đời: “Thà thác mà đặng câu định khái, về theo tổ phụ cũng vinh, hơn còn mà c chịu chữ đầu Tây ở với man di rất khổ” Tinh thần ấy, ý chí ấy vẫn chói lòa trong mỗi người dân Cần Giuộc. Sống để chịu nô lệ, tay sai của Tây thì thà một lần chiến đấu hết mình mà đem vinh quang cho dân tộc. “Ôi thôi thôi!”
Một tiếng khóc đầy ai oán, tiếng khóc đến quặn lòng, tiếng khóc để tiễn biệt những người con Cần Giuộc mãi mãi nằm lại trên mảnh đất quê hương. Họ ngã xuống nới chiến trường khói lửa. Vẫn còn đó nghiệp nước chưa thành, thấp thoáng nơi đây bóng mẹ già với ngọn đèn le lói trong đêm “Đau đơn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều! Vợ yếu chạy tìm chống, cơn bóng xế dật dờ trứơc ngõ” Người tử sĩ đã về chốn thiên cổ để lại giữa trần gian mẹ già, vợ yếu, con thơ… Mai đây họ sẽ ra sao khi cái nghèo vẫn còn đeo đuổi, khi mà nợ nước trả chưa xong.. “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo thương vì hai chữ thiên dân, cây hương nghĩa sĩ thắp đèn thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ” Nguyễn Đình Chiểu đã bằng tấm lòng đồng cảm để nhìn thấy, nghe thấy và dựng nên một tượng đài hoành tráng mà mộc mạc, yêu thương. Xuyên suốt trong nền văn học nước nhà hình ảnh người nông dân đã được đề cập khá nhiều lần. Nhưng trước Đồ Chiều thì chưa một ai công khai vẽ lên và ngợi ca hình ảnh người anh hùng “chẳng qua là dân ấp dân lân mến nghĩa làm quân chiêu mộ”. Hơn thế nữa, việc thổi vào văn chương chất dân gian đã khiến “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của cụ trở thành áng văn vừa hào hùng, bi tráng mà cũng rất gần gũi, giản dị. Cụ Đồ Chiểu chỉ là nhà thơ mù - “người hát rong của nhân dân”. Nhưng hình ảnh người nông dân khởi nghĩa trong bài văn tế đã cho ta cái nhìn về cả một thời đại. Tự hào thay những con người nhỏ bé nhưng vẫn hiên ngang trước thế lực bạo tàn. Tự hào thay những người dân, người lính, nghĩa sĩ vô danh trùng trùng điệp điệp ngã xuống để bảo vệ sự toàn vẹn cho non sống. Họ là bức tượng đài bất tử, lưu mãi tới muôn đời. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc"
|
|
|
|
Bài tham khảo:A. TÁC GIẢI. CUỘC ĐỜI- Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), sinh tại quê mẹ ở tỉnh Gia Định xưa trong một gia đình nhà nho. - 1843, đỗ tú tài. - 1846, ông ra Huế chuẩn bị thi tiếp thì hay tin mẹ mất "bỏ thi, về quê" bị mù. - Về Gia Định mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và làm thơ. - Giặc Pháp dụ dỗ, mua chuộc nhưng ông vẫn giữ trọn tấm lòng thủy chung son sắt với đất nước và nhân dân. II. SỰ NGHIỆP THƠ - VĂN1. Những tác phẩm chính- Trước khi thực dân Pháp xâm lược: "Truyện Lục Vân Tiên", "Dương Từ – Hà Mậu " truyền bá đạo lí làm người. - Sau khi thực dân Pháp xâm lược: "Chạy giặc", "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", "Văn tế Trương Định…" yêu nước chống Pháp. 2. Nội dung thơ văn- Lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa: với những con người sống nhân hậu, thủy chung, biết giữ gìn nhân cách ngay thẳng, cao cả, dám đấu tranh và có đủ sức mạnh để chiến thắng những thế lực bạo tàn, cứu nhân độ thế. - Lòng yêu nước, thương dân: khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí cứu nước của nhân dân ta; biểu dương những anh hùng nghĩa sĩ đã chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc. 3. Nghệ thuật thơ văn- Thơ văn đậm đà sắc thái Nam Bộ. - Thơ văn trữ tình đạo đức có đóng góp quan trọng trong nền văn học Việt Nam. - Lối thơ mang màu sắc diễn xướng trong văn học dân gian. B. TÁC PHẨMI. Tìm hiểu chung
1. Hoàn cảnh sáng tác (Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An. Trận Cần Giuộc là một trận đánh lớn của quân ta diễn ra đêm 14/ 12/ 1861, hơn 20 nghĩa quân đã hi sinh anh dũng). Theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu viết bài văn tế này đọc trong lễ truy điệu các nghĩa sĩ. Bài văn là tiếng khóc từ đáy lòng của tác giả và là tiếng khóc lớn của nhân dân trước sự hi sinh của những người anh hùng. 2. Vị trí Bài văn tế nằm trong giai đoạn thứ 2 thuộc bộ phận văn thơ yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu. Là tác phẩm có giá trị đặc biệt và độc đáo trong văn học dân tộc. Lần đầu tiên trong lịch sử văn học tác giả đã dựng một tượng đài nghệ thuật về hình ảnh những người nông dân chống thực dân Pháp tương xứng với phẩm chất vốn có của họ ở ngoài đời. 3. Thể loại và bố cục - Văn tế là một thể văn dùng để tế người chết (đôi khi cũng để tế người sống) - Nội dung : kể về tính tình công đức của người mất và tỏ lòng kính trọng thương tiếc của mình. - Bố cục: 4 phần. + Lung khởi: khái quát bối cảnh của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân. + Thích thực: Hồi tưởng lại hình ảnh và công đức người nông dân - nghĩa sĩ. + Ai vãn: Bày tỏ lòng thương tiếc, sự cảm phục của tác giả đối với người nghĩa sĩ. + Khốc tận (Kết): Ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ. II. Đọc hiểu văn bản1. Giới thiệu khái quát về thời cuộc và nhân vật người nông dân nghĩa sĩ - Với hình thức ngắn gọn, câu văn đã dựng nên khung cảnh bão táp của thời đại: + “Súng giặc đất rền“ → giặc xâm lược bằng vũ khí tối tân + “Lòng dân trời tỏ” → ta đánh giặc bằng tấm lòng yêu quê hương đất nước. - Nghệ thuật đối lập nhằm thể hiện khung cảnh bão táp của thời đại, những biến cố chính trị lớn lao. Tuy thất bại những người nghĩa sĩ hi sinh nhưng tiếng thơm còn lưu truyền mãi. 2. Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộca. Nguồn gốc xuất thân- Từ nông dân nghèo cần cù lao động “cui cút làm ăn “ - Nghệ thuật tương phản “chưa quen ó chỉ biết, vốn quen <=> chưa biết. => Tác giả nhấn mạnh việc quen và chưa quen của người nông dân để tạo ra sự đối lập về tầm vóc của người anh hùng. b. Lòng yêu nước nồng nàn- Khi thực dân Pháp xâm lược người nông dân cảm thấy lo sợ → trông chờ → ghét → căm thù → đứng lên chống lại. → Diễn biến tâm trạng người nông dân. c. Tinh thần chiến đấu hi sinh của người nông dân- Quân trang, quân bi rất thô sơ chỉ có: một manh áo vải, ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, rơm con cúi đã đi vào lịch sử. - Lập được những chiến công ấy: “đốt xong nhà dạy đạo“ “chém rớt đầu quan hai nọ” - Tác giả sử dụng những động từ chỉ hành động mạnh mẽ với mật độ cao nhịp độ khẩn trương sôi nổi: “đạp rào, lướt, xông vào” đặc biệt là những động từ chỉ hành động dứt khoát “đốt xong, chém rớt đầu” Sử dụng các động từ chéo “đâm ngang, chém ngược” → làm tăng thêm sự quyết liệt của trận đánh. => Nguyễn Đình Chiểu đã tạt một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân nghĩa sĩ đánh giặc cứu nước. 3. Ai vãn: sự tiếc thương và cảm phục của tác giả trươc sự hi sinh của người nghĩa sĩ- Hình ảnh gia đình tang tóc, cô đơn, chia lìa, gợi không khí đau thương, buồn bã sau cuộc chiến. - Tiếng khóc giọt lệ xót thương đau đớn của tác giả, gia đình thân quyến người anh hùng, nhân dân Nam Bộ, nhân dân cả nước khóc thương những người ra đi, khóc thương cho thân phận những người nô lệ. => Tiếng khóc lớn, tiếng khóc mang tầm vóc lịch sử - Bút pháp trữ tình thắm thiết. - Giọng điệu đa thanh giàu cung bậc tạo nên những câu văn thật vật vã, đớn đau. - Nhịp câu trầm lắng, gợi không khí lạnh lẽo, hiu hắt sau cái chết của nghĩa quân. 4. Phần kết : ca ngợi linh hồn bất tử của người nghĩa sĩ- Tác giả đề cao quan niệm : Chết vinh còn hơn sống nhục. Nêu cao tinh thần chiến đấu, xả thân vì nghĩa lớn của nghĩa quân. Họ ra trận không cần công danh bổng lộc mà chỉ vì một điều rất giản đơn là yêu nước. - Đây là cái tang chung của mọi người, của cả thời đại, là khúc bi tráng về người anh hùng thất thế. => khẳng định sự bất tử của những người nghĩa sĩ. 5. Nghệ thuật- Chất trữ tình. - Thủ pháp tương phản và cấu trúc của thể văn biền ngẫu. - Ngô ngữ vừa trân trọng vừa dân dã, mang đậm sắc thái Nam Bộ. III. Tổng kết- Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người nghĩa sĩ nông dân. - Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, người nông dân có một vị trí trung tâm và hiện ra với tất cả vẻ đẹp của họ. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Người đàn bà hàng chài
|
|
|
|
Dàn ý tham khảo:
Dàn ý: 1. MB - Giới thiệu tác giả Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” - Hình ảnh người đàn bà hàng chài thể hiện cái nhìn khám phá của nhà văn về về con người và cuốc sống 2. TB a. Là người đàn bà có một cuộc đời, một số phận bất hạnh - Xuất hiện trong khung cảnh buổi sáng ở vùng biên, người đàn bà bước ra từ chiếc thuyền sau một đêm lao động cực nhọc. Ngoại hình được khắc họa với những nét lam lũ, mệt mỏi. - Với những gì Phùng được chứng kiến và câu chuyện chị ta kể ở tòa án huyện cho thấy cuộc đời người đàn bà này có nhiều bất hạnh đắng cay: Kém nhan sắc, cuộc sống cơ cực, đông con và gánh nặng mưu sinh khiến chị trở thành nạn nhân của nạn bạo hành gia đình. Cuộc đời của người đàn bà ấy có thể còn là câu chuyện của nhiều cuộc đời, nhiều số phận nhỏ bé, khuất lấp giữa cuộc sống đời thường. b. Một người phụ nữ biết nhẫn nhịn, vị tha, giàu đức hi sinh, sâu sắc lẽ đời - Mặc du bị chồng đánh đập, hành hạ, nhưng chị ta vẫn lặng lẽ cam chịu một mình, không chậy trống, không kêu la, cũng không chấp nhận li hôn bởi sự thấu trải của một đời người, chị biết cần phải có một người đàn ông để gánh vác gia đình dù ngươi đan ông đó có cục cằn, thô lỗ. Sự nhẫn nhịn, hi sinh của chị là vì con cái, vì sự tồn tại của gia đình. Bị chồng thường xuyên đánh đập nhưng chị không lên án hay oán hận những hành động vũ phu đó, bởi chị hiểu và cảm thông với chồng. Chị thương con, luôn lo lắng cho con. Sợ thằng Phác và cha nó xảy ra xung đột, chị phải gửi nó lên rừng ở với ông ngoại. Niềm vui và hạnh phúc đời thường của chị là được nhìn thấy đàn con được ăn no. Như vậy đằng sau vẻ ù lì, tăm tối nhẫn nhục, người đàn bà hàng chài còn là con người từng trải, sâu sắc, hiểu đời. Câu chuyện của chị khiến Phùng và Đẩu hiểu ra nhiều điều. c. Đây là nhân vật gửi gắm những phát hiện, khám phá của nhà văn về đời sống. - Qua nhân vật này Nguyễn Minh Châu cũng thể hiện một khuynh hướng mới: quan tâm đến những vấn đề cá nhân, những số phận nhỏ bé, khuất lấp giữa đời thương. - Nhân vật này còn thể hiện cái nhìn khám phá của nhà văn: Không thể nhìn cuộc đời và con người một cách giản đơn mà phải là cái nhìn khám phá, đa diện, nhiều chiều mới thấy những bất ngờ, những uẩn khúc,, khuất lấp ở bên trong... 3. KB Khẳng định vai tro của nhân vật trong tác phẩm (thể hiện chủ đề, tư tưởng), từ đó thấy được tấm lòng của nhà văn với con người và cuộc sống.
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích "Lẽ ghét thương"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Hai câu mở đầu: “ Quán rắng: Ghét việc tầm phào, Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.”
Là cách khái quát đến cao độ thái độ tình cảm của ông Quán mà cũng là của quần chúng nhân dân trước những điều xấu xa ở đời “ ghét việc tầm phào”.” Việc tầm phào” là những việc vớ vẩn, bậy bạ, vô nghĩa. Đặc biệt là ông ghét với tinh thần không chút khoan nhượng, ghét tới mực độ mãnh liệt nhất, triệt để nhất “ Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm”. Chỉ trong hai dòng thơ lục bát, từ ghét xuất hiện tới bốn lần. Cùng với cách dùng điệp từ vừa nói, nhà thơ lại dùng lối diễn đạt bồi thấn tăng cấp nhằm thể hiện rõ nét mức độ tột cùng thái độ căm ghét của ông Quán. Tiếp đó là tám câu thơ triển khai một cách cụ thể ý khái quát đã nêu ở hai câu đầu. Nhà thơi chỉ rõ ông Quán ghét những người nào và vì ai mà ghét những người đó. Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm, Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang. Ghét đời U, Lệ đa đoan, Khiến dân luốn chịu lầm than muôn phần. Ghét đời Ngũ bá phân vân, Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn. Ghét đời thúc quý phân băng, Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân.
Mỗi cặp lục bát là một trích truyện dẫn từ thời xa xưa, đời nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chân bên Trung Quốc. Phải hiểu dụng ý sâu sắc của nhà thơ khi dùng những điển cố, điển tích ở đây là ý tại ngôn ngoại ( ý ở ngoài lời). Đó là cách nói thông thường của các nhà thơ cổ điển. Phải hiểu là cụ Đồ đang nói chuyện về con người và cuộc đời lúc đó. Nhà thơ nhắc đi nhắc lại một điệp khúc dân, các tích truyện đều xoay quanh một chữ dân: …Để dân đến nỗi sa hầm, sẩy hang. …Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần … Làm dân nhọc nhằn …Lằng nhằng rối dân.
Đúng là “ tiêu chuẩn ghét” ở đây đều nhất loạt xuất phát từ quyền lợi của nhân dân. Tất cả đểu vì dân mà ghét, ghét những kẻ làm hại dân, nhũng nhiễu dân. Mượn điển tích xưa, cụ Đồ Chiểu nói chuyện đương thời. Thời Thiệu Trị, Tự Đức ( các vua nhà Nguyễn), trị vì, triều đình chuyên chế tàn bạo, vua chúa ăn chơi xa xỉ, đổ tiền rừng bạc biển vào việc xây dựng lăng tẩm đền đài, quan lại tham nhũng, loạn lạc liên mien, cảnh tượng đúng như bài vè “ Là cái thời Tự Đức” khắc họa “ Trời ảm đạm u sầu. Cảnh hoang tàn đói rét. Dân nghèo cùng kiệt”. Mười bốn câu thơ tiếp theo nêu rõ những việc, những người mà ông Quán thương: Thương là thương đức thánh nhân, Khi nơi Tống, Vệ lúc Trần, lúc Khuông, Thương thầy Nhan Tử dở dang, Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh. Thương ông Gia Cát tài lành, Gặp cơn Hán mạt đã đành phui pha. Thương thầy Đồng Tử cao xa, Chí thời có chí, ngôi mà không ngôi. Thương người Nguyên Lượng ngùi ngùi, Lỡ bề giúp nước lại lui về cày. Thương ông Hàn Dũ chẳng may, Sớm dâng lời biểu, tối đày đi xa. Thương thầy Liêm, Lạc đã ra, Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân.
Đây cũng đều là những người xưa, những người có tài năng đức hạnh lớn, dốc long phò vua giúp nước mà không toại chí nguyện vì thời thế không thuận lợi và nhất là vì hiền thần không gặp được minh quân. Mỗi người một cảnh ngộ, nhưng đều là những số phận long đong bất đắc chí ( Khổng Tử thì lận đận, Nhan Uyên chết yểu, Gia Cát không gặp thời. Đổng Trọng Thư bế tắc, Đào Tiềm không chịu được nhục phải từ quan, Hàn Dũ can vua bị tội) Cách lựa chọn chi tiết điển hình, cách diễn đạt biến hóa sinh động của nhà thơ đã gây được ấn tượng đối với người đọc. Nói Lẽ ghét thương ở đây tuy là nói thương ghét qua sử sách: “ Xem qua kinh xử mấy lần, Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương”, nhưng ngẫm kỹ ra ít nhiều đều phù hợp với hiện thực đất nước và nỗi long của cụ Đồ trước thời thế bấy giờ. Về mặt nghệ thuật, bao trùm cả đoạn thơ là lối dùng điệp từ: từ ghét, từ thương đều được lặp lại tới tám lần mà không hề gây nhàm chán, trái lại cứ tăng tiến dần theo mỗi câu thơ tưởng như cả tam huyết của tác giả sôi trào nơi đầu ngọn bút. Rõ rang ở đây không phải là chuyện đạo lý, kinh sử khô khan thuần túy. Đoạn thơ thấm đượm sắc thái trữ tình đầy cảm xúc với ngôn ngữ bình dị thông thường, với bút pháp ước lệ nhưng nhờ sự chân thành nên vẫn thật có hồn. Nguồn cảm xúc tràn đầy, sôi nổi trong tâm hồn nhà thơ, đã làm nên giọng thơ, nhịp điệu thơ riêng, dồn dập mãnh liệt một cách tâm huyết chắc nịch, có sức chinh phục lòng người. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Cái đẹp trong thơ Nguyễn Đình Chiểu
|
|
|
|
Tư liệu tham khảo:Năm nay chúng ta kỷ niệm 172 năm ngày sinh của Nguyễn Đình Chiểu với tất cà sự ngưỡng mộ và tấm lòng tôn kính tài năng đặc đã và sự cống hiển to lớn của nhà thơ cho sự phát triển nền văn hóa nước nhà trong suốt mấy thập kỷ kể từ giữa thế kỷ XIX Nguyễn Đình Chiểu có được sự ngưỡng mộ và tôn kính ấy của bao nhiêu thế hệ kể cả thể hệ ngày nay và thế hệ đã qua là do di sản thơ văn của ông để lại cho đời sau và những giá trị tinh thần tỏa ra từ những áng thơ văn đó. Chính những giá trị cao đẹp ấy là kết quả của cả một cuộc đời lao động trí óc nghiêm túc, say mê, tràn đầy nghi lực và không biết mỏi của Nguyễn Đình Chiểu. Không có một cuộc đời lao động như vậy, thì không thể nói gì đến những thành công trên địa hạt văn học và tư tưởng. Nhưng một trong những bí quyết tạo nên những thành công của Nguyễn Đình Chiểu, một nguồn gốc chủ yếu của những giá trị cao đẹp trong di sản thơ văn của ông, chính là lòng thương dân vô hạn và sự gắn bó suốt đời với nhân dân của Nguyễn Đình Chiểu, nhất là quan điểm và lập trường của nhân dân khi ông xem xét và giải quyết mọi vấn đề. Nhân dân đã đùm bọc, cưu mang giúp đỡ ông lúc hoạn nạn, đồng thời đã tạo ra những điều kiện và môi trường thích hợp cho tài nàng và trí tuệ của ông nảy nở. Đối với ông, nhân dân lao động như một bà mẹ thần kỳ, chẳng những đem lại cho ông một cuộc sống mãnh liệt, hữu ích và đầy ý nghĩa, mà cỏn chắp cho ông đôi cánh đủ sức bay tới những đỉnh cao của trí thức và nghệ thuật. Đó là một sự thật hiển nhiên mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua mấy biểu hiện sau đây trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu: I.Từ truyện thơ Lục Vân TiênTrong truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên cả một xã hội trong đó những nhân vật chính diện tiêu biểu là Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga đã tượng trưng cho tài năng, trí tuệ, nhân phẩm của con người. Đó là những con người học rộng, tài cao. Tuy mỗi người mỗi vẻ, mỗi nét mặt khác nhau, nhưng họ đều là những người "cương trực", "khẳng khái", "vị tha" và “trọng nghĩa hiệp". Họ sẵn sàng cứu giúp người khác không sợ khó khăn nguy hiểm và nêu cao cái nghĩa khí “giữa đường gặp sự bất bình chẳng tha". Họ kiên trì đứng về lẽ phải mà suy nghĩ và hành động. Những đặc tính cao đẹp đó cững chính là những đức tính cơ bản của con người Việt Nam nói chung và của nhân dân Nam Bộ nói riêng. Những đặc tính đó đã hình thành và củng cố trên trường kỳ lịch sử nhất là trong quá trình dân tộc ta khai phá và mở mang mảnh đất miền Nam của Tổ quốc, cho nên nó đặc biệt thể hiện rõ nét ở nhân dân Nam Bộ. Những đặc tính đó không những đã được phản ánh trong văn học dân gian mà còn được khẳng định trong sử sách. Ở những nhân vật chính diện của truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả phẩm chất đẹp đẽ của con người biểu hiện trong các mối quan hệ cha con, vợ chồng, bè bạn, thầy trò... Họ đã ăn ở, giao tiếp và đối xử với nhau thật là trọn tình vẹn nghĩa, thủy chung. Tinh nghĩa và lòng thủy chung đó chính là tình cảm đạo đức hồn nhiên trong sáng và lành mạnh vốn nảy sinh từ trong cuộc sống giản dị của nhân dân lao động. Hơn nữa trong cuộc đời thực, quần chúng lao động còn có một cách nhìn lạc quan ở tương lai, một niềm tin vào sự thắng lợi của lẽ phải, của tài năng và nhân phẩm con người. Lẽ dĩ nhiên dưới chế độ phong kiến, quân chúng lao động không tránh khỏi những giới hạn của lịch sử, cho nên cái nhìn lạc quan và niềm tin của họ thường gần với quan niệm ác giả ác báo, thiện giả thiện báo. Do bị áp bức và bóc lột, họ rất mong muốn được giải phóng, mong muốn mọi người ở hiền gặp lành và chính nghĩa nhất định sẽ thắng, đồng thời những kẻ bạc ác cuối cùng phải đền tội. Tiến trình phát triển của sự việc và của những tình tiết trong truyện Lục Vân Tiên đã diễn ra theo đúng như cái nhìn lạc quan và niềm tin như vậy của quần chúng. Hai nhân vật chính là Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga gặp bao nhiêu tai nạn và trắc trở trên đường đời, nhưng cuối cùng họ đã vượt qua tất cả để đi đến hạnh phúc. Tóm lại, nhân dân lao động được phản ánh trong truyện Lục Vân Tiên với tất cả đặc tính và phẩm chất, sức mạnh và niềm tin của họ. Đó chính là một thành công tuyệt mỹ trong lịch sử văn học nước ta. Bởi vì trước Nguyễn Đình Chiểu, ở nước ta chưa có một nhà văn nhà thơ nào, kể từ đại thi hào Nguyễn Du cho đến các tác giả của những truyện nôm bình dân và truyện nôm bác học, lại miêu tả được sâu sắc, đa dạng tính cách của quần chúng nhân dân như truyện thơ Lục Vân Tiên. Nếu trước Nguyễn Đình Chiểu, hình ảnh và tính cách của quần chúng lao động mới xuất hiện một cách lẻ loi thưa thớt, thì với tác phẩm Lục Vân Tiên quần chúng lao động được miêu tả một cách tập trung trên nhiều khía cạnh. Những đặc tính và phẩm chất của họ không chỉ biểu hiện ở một hoặc hai nhân vật mà ở một loạt các nhân vật như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Minh, Vương Tử Trực, ông Ngư, ông Triều, ông Quán, Tiểu đồng... Điều đó chứng tỏ rằng, nhân dân lao động kể cả những người trí thức gắn bó với họ đã từ cuộc đời thực bước vào truyện thơ của Nguyễn Đình Chiểu như một lực lượng xã hội đông đảo, hùng hậu. Chính lực lượng xã hội này đã báo trước tinh thần kháng chiến anh dũng của nhân dân miền Nam khi thực dân Pháp đặt chân tới. Nhìn thấy sức mạnh của lực lượng xã hội này, đó chính là một cống hiến vô cùng quý giá của Nguyễn Đình Chiểu vào kho tàng văn hóa của dân tộc. Với một nội dung có tính nhân dân sâu sắc như vậy, với một hình thức giản dị phù hợp với nếp suy nghĩ của quần chúng và với một ngôn ngữ trong sáng được nâng cao từ tiếng nói thân thuộc hàng ngày của họ, truyện Lục Vân Tiên đã được đông đảo quần chúng say mê ưa thích. Họ vô cùng sung sướng và xúc động khi tìm thấy ở trong truyện những hình ảnh, những tính cách giống vởi bản thân mình. Do đó mà các nhân vật trong truyện sống mải trong tâm trí của đông đảo nhân dân qua bao nhiêu thế hệ. Giá tri tuyệt vời của truyện Lục Vân Tiên chính là ở chỗ đó. Sở dĩ truyện Lục Vân Tiên có những giá trị tuyệt vời ấy và Nguyễn Đình Chiểu thành công khi viết tác phẩm này, là vì ông có một sự hiểu biết sâu rộng và nhiều mặt về đời sống của nhân dân nhất là đời sống của người nông dân miền Đồng Nai, Gia Định. Ông không những thấy rõ nét mặt, dáng điệu, cử chỉ, hành vi của họ mà còn hiểu được tâm tư, nguyện vọng thầm kín của họ, hơn nữa có một lối nhìn và giải quyết vấn đề bắt nguồn từ tâm lý và niềm tin của họ. Nhưng không phải là ngẫu nhiên mà Nguyễn Đình Chiểu lại có được vốn hiểu biết về nhân dân cũng như có một trái tim và lập trường đồng diệu với nhân dân như thế. Chính cuộc sống của ông đã đưa lại cho ông tất cả những thứ qúy giá ấy. Đó là một cuộc sống của nhân dân. Cuộc sống của Nguyễn Đình Chiểu bắt đầu từ một gia đình nhà nho nghèo mà cha mẹ của ông có nhiều liên hệ và gắn bó thân thiết với nhân dân. Qua sự giáo dục của người cha ngay thẳng và nhất là của người mẹ dịu hiền, ông đã trực tiếp nhận được dòng sữa tinh thần của nhân dân để mở mang đần trí óc của mình từ những ngày thơ bé. Khi tật đui mù và bao nhiêu tai họa liên tiếp đến với ông, thì trong hoàn cảnh éo le và đau xót này, nhân dân lao động như một bà mẹ hiền nâng ông dậy và dang rộng cánh tay ra đón nhận người con bất hạnh của mình. Từ đây cả cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu, từ việc ăn ở cho đến việc lấy vợ sinh con, từ công việc làm thuốc, dạy học cho đến việc sáng tác thơ ca, đều điều hành trong sự giúp đỡ, cứu mang, đùm bọc và trìu mến của nhân dân. Nghề dạy học và bốc thuốc giúp ông sinh sống nhưng cũng lại tăng thêm sự giao tiếp của ông với các từng lớp người trong xã hội. Nhờ đó mà tri thức của ông được nhân lên gấp bội và ông có đầy đủ những vốn liếng cần thiết để sáng tạo nên những hình tượng bất hủ trong truyện Lục Vân Tiên. II. Nguồn gốc của sự nhận thức về cuộc kháng chiến cứu nước và vai trò của nhân dân trong cuộc kháng chiến đó.Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Nguyễn Đình Chiểu bước vào cuộc kháng chiến cứu nước, cũng với cách nhìn nhận sự việc lành mạnh và dứt khoát như ông đã thể hiện trong truyện thơ Lục Vân Tiên. Trong những giờ phút thứ thách này của lịch sử, nhận thức và lập trường của ông đã đứng vững, phát triển và vươn tới đỉnh cao của thời đại. Trước hết sự nhìn nhận của ông về cuộc kháng chiến cứu nước thấm đượm một chủ nghĩa yêu nước thiết tha sôi nổi. Đó là chủ nghĩa yêu nước được xây dựng trên nền tảng của lòng thương dân vô hạn, một lòng thương dân đã hình thành trong suốt cuộc đời gần gũi và gắn bó của ông với nhân dân. Đây không phải là lòng thương dân của những người trí thức qúy tộc có thiện ý nghiêng mình xuống thông cảm với quần chúng nghèo khổ ở phía dưới, mà thực sự là lòng thương dân của một người trí thức cùng cảnh ngộ, cùng lập trường và quan điểm với nhân dân. Càng thương dân, Nguyễn Đình Chiểu càng yêu nước da diết, càng đau xót khi giặc Pháp dày xéo lên mảnh đất quê hương, tàn phá xóm làng và gây ra bao cảnh đau thương tang tóc cho nhân dân: Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây Một bàn cờ thế phút sa tay Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy Mất ổ bày chim dáo dát bay Bến Nghé cửa tiền tan bọt nước Đồng Nai tranh ngói nhuộm mầu mây
Ở Nguyễn Đình Chiểu lòng yêu nước thương dân luôn luôn gắn liền với lòng căm thù địch sâu sắc và thái độ kiên quyết đánh giặc. Là người trí thức thông cảm với mọi nỗi đau khổ của nhân dân trong chiến tranh, Nguyễn Đình Chiểu càng thấy rô những tội ác "trời không dung đất không tha" của bọn thực dân Pháp. Có thể nói, ngay từ khi chúng đặt bàn chán xâm lược lên miền Nam của đất nước ta, thì những hành động khủng bố dã man, cướp bóc trắng trợn, đầu độc thâm hiểm của chúng đã bị Nguyễn Đình Chiểu lên án một cách nghiêm khắc, quyết liệt. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một kẻ thù mới mẻ của dân tộc ta bị tố cáo với những bằng chứng xác thực. Chỉ riêng điểm đó cững đủ chứng tỏ nhận thức của Nguyễn Đình Chiểu vượt xa các sĩ phu đương thời, nhất là các sĩ phu nắm quyền trong triều Nguyễn. Đối với ông, không thể có một sự chung sống yên ổn hoặc một sự nghị hòa vô nguyên tắc nào giữa bọn giặc nước và nhân dân ta đang lâm vào cảnh nước mất nhà tan. Ông nhấn mạnh rằng: Trời Đông mà gió Tây qua Hai hơi ấm mát chẳng hòa đau dân.
Đứng trước mối mâu thuẫn gay gắt ấy, thái độ của Nguyễn Đình Chiểu là kiên quyết đứng về phía nhân dân, đứng trên lập trường bảo vệ độc lập của tổ quốc để chống lại bọn thực dân xâm lược. Theo ông, việc nhân dân cầm vũ khí chống giặc để bảo vệ quê hương, làng xóm là một điều tất nhiên hợp với đạo lý. Bởi vì trước mắt người dân mất nước chỉ còn một con đường sống là nắm chắc "cây thương phá Lỗ" và "giáo tre ngàn dặm đánh Tây". Là người biểu dương đường lối võ trang chiến đấu ấy, Nguyễn Đình Chiểu đã tán thành chủ trương nghịch mệnh triều đình và đi với nhân dân để chống giặc của Trương Định. Ông nhận thấy rằng, trong cuộc kháng chiến này, lòng dân, ý chí chiến đấu cho độc lập dân tộc của nhân dân là tiếng gọi thiêng liêng nhất đối với người chiến sĩ ngoài mặt trận kể cả những thủ lĩnh của họ. Đó là lập trường đúng đắn của Nguyễn Đình Chiểu về cuộc kháng chiến cứu nước. Lập trường ấy của ông không hề dao động, mặc dù trong chiến đấu có thể gặp nhiều tổn thất, thậm chí phải hy sinh cả tính mệnh. Nguyễn Đình Chiểu tin tưởng một cách sâu sắc rằng sự nghiệp kháng chiến cứu nước của dân tộc ta là một sự nghiệp “chí nhân đại nghĩa" hoàn toàn phù hợp với lẽ phải và lương tầm của con người, cho nên cuối cùng sẽ giành được thắng lợi. Vì thế ông khao khát trông đợi ngày giải phóng nhân dân khỏi nanh vuốt của quân thù như "hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió Đông". Và ngay trong những ngày đen tối nhất của lịch sử, khi mà quân thù đã chiếm cứ nhiều vùng đất đai của tổ quốc, ông vẫn còn thiết tha hy vọng: "Ngày nào trời đất an ngôi cũ Mừng thấy non sông bắt gió Tây
Niềm tin và hy vọng của Nguyễn Đình Chiểu ở đây tuy chưa phản ánh được quy luật khách quan của cuộc chiến tranh chống đế quốc nhằm bảo vệ độc lập dân tộc của nước ta hồi cuối thế kỷ XIX, nhưng rõ ràng đó là niềm chân thành và lành mạnh của quần chúng. Nó có tác dụng cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân ta lúc đương thời. Nhưng điểm thành công nhất trong sự nhận thức của Nguyễn Đình Chiểu chính là ở chỗ ông đá nhìn thấy sức mạnh của nhân dân trong cuộc kháng chiến cứu nước. Ông đã giành những áng thơ văn hùng hồn sôi nổi và chói lọi nhất để nói về những chiến sĩ vốn là những người nghèo khổ lam lũ xuất thân từ "dân ấp dân lân". Ông diễn tả và ngợi ca một cách đầy nhiệt tình tinh thần anh dũng và tư thế lẫm liệt của họ trên chiến trường. Dưới con mắt của ông, những nông dân nghèo khổ ấy không phải chỉ là những người đáng yêu, những người ủng hộ và tham gia kháng chiến, mà còn là động lực chủ yếu của công cuộc cứu nước và là những chiến sĩ kiên cường nhất trong chiến đấu. Có thể nói, quan điểm nhân dân, nhất là quan điểm về vai trò của nhân dân trong chiến tranh cứu nước ở Nguyễn Đình Chiểu đã đạt tới một đỉnh cao. Bởi vì các thế hệ trước và đương thời nhiều lắm cũng mới chỉ nhận thấy nhân dân là lực lượng hậu thuẫn và là một thành phần tham gia vào cuộc chiến tranh đó. Tóm lại, sự nhìn nhận của Nguyễn Đình Chiểu về cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc ta hồi cuối thế kỷ XIX, tuy không tránh khỏi những hạn chế của lịch sử, nhưng đó là một sự nhìn nhận tiến bộ. Nó đã thực cự góp phần thúc đẩy và nâng cao sự nhận thức của người đương thời về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp cứu nước. Sự nhìn nhận đó của Nguyễn Đình Chiểu cững là sự tiếp tục và phát triển thêm một bước những nhận thức của ông đã thể hiện trong tác phẩm Lục Vân Tiên về những quan hệ xã hội và nhân cách của con người, cũng như về sức mạnh và phẩm chất cao đẹp của nhân dân. Nhưng khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, với quan điểm lập trường nhân dân và với lòng yêu nước thương dân vô hạn, ông đã nêu lên được những kiến giải tích cực về ý nghĩa và mục tiêu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhất là ông cũng thấy rõ vai trò quan trọng và khí phách anh hùng của nhân dân trong cơn thử thách ác liệt của chiến tranh. Chỉnh trong cơn thử thách này của lịch sử, quan điểm và lập trường nhân dân của Nguyễn Đình Chiểu được củng cố. Ông càng gắn bó với nhân dân, càng chung vai sát cánh với nhân dân trong cuộc chiến đấu chống Pháp. Ông đã cùng nhân dân chạy giặc cùng nhân dân kháng chiến. Ông không những chống giặc bằng ngòi bút mà còn liên lạc với đốc binh Là, với Trương Định và tham gia vào những hoạt động trong chiến đấu của nhân dân. Nỗi thống khổ của nhân dân trong cơn binh lửa, cũng như bước tiến quân và tiếng kèn xung trận của nghĩa quân luôn luôn vang động trong trái tim và khối óc của Nguyễn Đình Chiểu. Cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân đã đem vào trong tư tưởng của ông có khi thế mạnh mẽ, cái sức sống quật cường của một dân tộc trong lúc hiểm nghèo. Như vậy là do gắn mình với cuộc chiến đấu của nhân dân và kiên định lập trường nhân dân mà Nguyễn Đình Chiểu đã tự xác định cho mình một thái độ đúng đắn, một tình cảm trong sắng, một nhận thức tương đối chính xác về cuộc đấu tranh chống xâm lược ở nước ta lúc đương thời. III. Quan điểm và lập trường vận dụng các khái niệm của Nho giáo.Nguyễn Đình Chiểu xuất thân từ một gia đình nhà Nho và được đào tạo dưới môi trường Nho học. Ông lại sống dưới chế độ phong kiến triều Nguyẫn, một triều đại tôn sùng Nho giáo đến tột mức. Trong tình hình ấy, Nguyễn Đình Chiểu không thể tránh khỏi sự ràng buộc của hệ tư tưởng Nho giáo, càng không thể không vận dụng các khái niệm của Nho giáo để diễn đạt tư tưởng của mình. Nhưng điều đáng lưu ý là ông đã đưa một nội dung đầy tính nhân dân và dân tộc vào trong các khái niệm của Nho giáo. Vì thế mà ở ông những khái niệm đó mất dần những yếu tố tiêu cực và hấp thụ được thêm nhiều yếu tố tích cực có ích cho nhân dân trong cuộc sống lao động và chiến đấu bào vệ tổ quốc. Đối với Nguyễn Đình Chiểu, khái niệm nhân nghĩa biểu thị một lòng thương người mênh mông sâu thẳm như đại dương. Mà lòng thương người của Nguyễn Đình Chiểu trước hết là thương dân, nhất là dân nghèo khổ, là thương những người dân lương thiện mà lại bất hạnh và bị chà đạp. Đến những người ăn mày là những người cùng cực nhất của xã hội không ở ngoài lòng nhân ái của ông: Đứa ăn mày cũng trời sinh Bệnh còn cứu đặng thuốc dành cho không
Nguyễn Đình Chiểu còn đặc biệt dành một tình thương sâu sắc cho những người có tài đức, có khi tiết trong sạch nhưng lại không được triều đình trọng dụng, hoặc bị oan uổng hay gặp tai nạn. Đó là trường hợp của các nhân vật lịch sử như Nguyên Lượng, Nhan Uyên, Hàn Dũ... hoặc những nhân vật mà ông sáng tạo ra trong truyện thơ của mình như Vân Tiên, Nguyệt Nga, Kỳ Nhân Sư... Còn khái niệm "nghĩa" của nho giáo khi được Nguyễn Đình Chiểu vận dụng lại càng có những thay đổi lớn về mặt nội dung, càng thể hiện những giá trị đạo đức đầy sức sống trong quan hệ phong phú giữa nhân dân lao động. Các nhân vật chính diện của Nguyễn Đình Chiểu từ Nguyệt Nga, Vân Tiên đến Hớn Minh, Tiểu đồng... đều là những con người hành động vì nghĩa một cách tự giác và đầy nhiệt tình. Nhìn một cách tổng quát, khái niệm nhân nghĩa do Nguyễn Đình Chiểu vận dụng vì gắn liền với những yêu cầu của nhân dân và của thời đại, cho nên nó đặc biệt được ông nhấn mạnh trên hai ý nghĩa cơ bản: một là nhân nghĩa phải biểu hiện thành việc làm điều thiện nhằm cứu giúp người khác ra khỏi khó khăn, hoặc bảo vệ hạnh phúc của người khác trong cơn nguy biến. Hai là nhân nghĩa phải góp phần duy trì sự hòa thuận êm đẹp trong gia đình và bảo vệ cuộc sống yên vui trong độc lập và tự do của đất nước, trước hết là bảo vệ tổ quốc khi có giặc ngoại xâm. Cho nên: Mến nghĩa bao đành làm phản nước Có nhân nào nỡ phụ tình nhà
Ngoài khái niệm nhân nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu còn đề cập đến nhiều khái niệm khác của Nho giáo như “trung hiếu”, “tiết hạnh”. Ông quan niệm rằng đạo trung quân là cần thiết cho mọi người. Nhưng ông đòi hỏi một ông vua được mọi người tôn thờ phải là ông vua hiền tài thương dân yêu nước. Ông vua ấy phải tượng trưng cho hạnh phúc của nhân dân và nền độc lập tự chủ của đất nước. Ở Nguyễn Đình Chiểu, khái niệm trung thường gắn với khái niệm hiếu. Nhưng qua sự vận dụng của ông, khái niệm hiếu của Nho giáo cũng do ông nhắc và trở nên gần gũi với nhân dân hơn. Hiếu ở ông là lòng biết ơn, tốn kính cha mẹ, là trách nhiệm trông nom săn sóc cha mẹ với tất cả tình cảm sâu nặng của người con. Sự vận dụng mấy khái niệm Nho giáo trên đây ở Nguyễn Đình Chiểu cũng đủ chứng minh rằng, ngay khi Nho giáo đã lỗi thời, một người trí thức đứng trên quan điểm và lập trường nhân dân vẫn có khả năng đưa vào những khái niệm của Nho giáo những giá trị cao đẹp vốn nảy sinh trong cuộc sống của đông đảo quần chúng lao động. Ngày nay, đọc lại những tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, chúng ta hết sức trân trọng những thành công mà ông đã đạt được nhưng cũng cảm thấy một cách thấm thía rằng, chính những thành cũng đó, chính những giá trị cao đẹp trong thơ văn của ông có liên hệ mật thiết với quan điểm lập trường nhân dân và lòng yêu nước thương dân vô hạn của ông, nhất là có liên hệ cuộc đời gắn bó với nhân dân của ông. Mối liên hệ đó là một bài học vô cùng quý giá về sự thành công của người trí thức, mọt bài học đến bây giờ vẫn còn nóng hổi và có ý nghĩa thời sự. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Soạn bài "Lẽ ghét thương"
|
|
|
|
Bài tham khảo:A. Khái quát chung 1.Vị trí đoạn trích.Nằm ở phần đầu của truyện, từ câu 473 đến câu 504 trong tổng số 2082 câu, kể lại cuộc đối thoại giữa ông Quán và 4 chàng nho sinh khi họ cùng uống rượu, làm thơ trong quán của ông Quán, trước lúc vào phòng thi. Lục Vân Tiên và Vương Tử Trực trên đường đến trường thi thì gặp Trịnh Hâm và Bùi Kiệm cũng đi thi.Tại cửa hàng của ông Quán đã diễn ra một cuộc thi tài thơ. Trịnh Hâm và Bùi Kiệm thua, nên rất tức tối, nghi Vân Tiên, Tử Trực lấy cắp thơ cổ. Chúng bị ông Quán chê cười, Trịnh Hâm bực bội buông lời xấc xược, lập tức ông Quán đáp lời ngay. Lời ông cương trực, thẳng thắn, bộc lộ thái độ thương ghét phân minh. 2.Ông QuánLà nhân vật phụ trong truyện, mang dáng dấp của một nhà nho đi ở ẩn. tính cách nóng nảy, bộc trực, ghét kẻ tiểu nhân ích kỉ, nhỏ nhen, giàu lòng yêu thương những con người bất hạnh. Ông Quán cùng với nhân vật ông Ngư, ông Tiều trong tác phẩm là những người lao động nghèo khổ, nhưng họ thực chất là những nho sĩ ở ẩn giữa cuộc đời đen bạc. Tính tình bộc trực thẳng thắn, yêu ghét phân minh. 3.Bố cục đoạn trích: 3 phần- 6 câu đầu: lời đối đáp giữa ông Quán với Tử Trực, Vân Tiên. - Từ câu 7 đến câu 16: Lẽ ghét - Từ câu 17 đến câu 30: lẽ thương. B. Đọc - hiểu1. Lẽ ghét của ông Quán.- Đối tượng ghét: + Việc tầm phào ( vu vơ ) + Đời Kiệt, Trụ: mê dâm, hoang dâm vô độ + Đời U, Lệ: đa đoan, lắm chuyện rắc rối. + Đời Ngũ bá, thúc quý: lộn xộn, chia lìa, đổ nát, chiến tranh liên miên. Vua Trụ lấy rượu chứa thành ao, lấy thịt treo thành rừng rồi cho bọn con trai, con gái thả sức ăn chơi, dâm dật, xem đó là thú vui) U Vương say đắm Bao Tự, để mua vui cho người đẹp có thể sai người xé mỗi ngày hàng trăm tấn lụa – vì Bao Tự thích nghe tiếng lụa xé. → Chính sự suy tàn, vua chúa say đắm tửu sắc, không chăm lo đến đời sống của dân. - Lí do ghét: + Kiệt, Trụ mê dâm, “Để dân đến nổi sa hầm sẩy hang” + U, Lệ đa đoan,“Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần” + Ngũ bá phân vân, “Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn” + Thúc quý phân băng, “Sớm đầu tối đánh lằng nhằn rối dân” Phê phán các triều đại suy tàn, cũng có thể xuất phát từ những lập trường khác nhau, hoặc là để bảo vệ trật tự xhpk, vua ra vua, tôi ra tôi, bảo vệ quyền lợi của gcpk, hoặc vì trách nhiệm của một tôi trung,…với NĐC thì không hẳn như vậy. Ở đoạn thơ này, mỗi cặp câu lục bát là mỗi tiếng “dân” được nhắc đến, tất cả những lời kết tội đều xoay quanh một ý: ở các thời đại đó, chỉ có dân là phải gánh chịu mọi tai ách, khổ sở trăm chiều… → Chỉ có dân là phải gánh chịu mọi tai ách, khổ sở trăm chiều. Tác giả đã đứng về phía nhân dân mà phẩm bình lịch sử. - Cường độ ghét: + Điệp từ ghét : 10 câu thơ nói về ghét thì có đến 8 từ “ghét”. Đặc biệt 2 câu “Quán rằng…tận tâm” có đến 4 từ + tăng cấp để diễn tả các màu sắc, mùi vị và độ sâu tăng dần của cái ghét. Từ cái ghét có vị cay, sang cái ghét có vị đắng, đến cái ghét có độ sâu của lòng người “ghét cay…tận tâm” + Cách dùng đại từ xưng hô.Khi nói tới 4 tên vua tàn ác trong lịch sử , nhà thơ không sử dụng đại từ xưng gọi mà chỉ nhắc tên một cách suồng sã: Kiệt, Trụ, U, Lệ. → ghét trở thành căm thù, lời nguyền đanh sắc, quyết liệt→ tính nhân dân sâu sắc của NĐC. Với nghệ thuật điệp từ + tăng cấp + cách gọi tên, cái ghét của ông Quán ăn tận trong sâu thẳm của lòng người, trở thành nỗi căm thù, lời nguyền đanh sắc, quyết liệt. “Ghét cay…tận tâm”→ tính nhân dân sâu sắc của NĐC. 2.Lẽ thương.Nếu như đoạn trên tác giả cho nhân vật nói lòng căm thù bọn người hại dân để nói lòng thương dân, thì ở đoạn này tác giả cho nhân vật trực tiếp bộc lộ lòng thương yêu đối với những người có tài cao chí cả, muốn cứu đời giúp dân mà gặp phải những rủi ro bất hạnh, nên nguyện vọng của họ không thực hiện được. - Đối tượng Thương: + Thương Khổng Tử lận đận gian lao trong việc truyền đạo Nho. + Thương Nhan Tử chết sớm dở dang. + Thương Gia Cát Lượng có tài mưu lược lớn giúp Lưu Bị mà sự nghiệp không thành. + Thương Đổng Trọng Thư có tài đức hơn người mà bị dồn vào thế bí. + Thương Nguyên Lượng (Đào Tiềm) khí tiết thanh cao mà lui về ở ẩn. + Thương Hàn Dũ có tài văn chương chỉ vì dâng biểu can vua mà bị đi đày… → Họ là những người có tài, đức và có chí muốn hành đạo giúp đời, giúp dân, nhưng đều không đạt sở nguyện. Bấy nhiêu con người ấy ít nhiều đều có những nét đồng cảnh với NĐC. Là một nhà nho, ông cũng từng nuôi chí hành đạo giúp đời, lập nên sự nghiệp công danh, nhưng cuộc đời dồn cho nhà thơ quá nhiều bất hạnh, thời buổi nhố nhăng, nên không thể đạt nguyện.Bởi thế, lẽ thương ở đây chính là niềm cảm thông sâu sắc tận đáy lòng nhà thơ Đồ Chiểu. Chuyện sách vở mà cũng là chuyện cuộc đời, NĐC đã vì cuộc đời, vì sự an bình của nhân dân mà thương, mà tiếc cho những người hiền tài không gặp thời vận để đến nỗi phải “đành phôi pha”. - Cường độ thương: Thương yêu tha thiết, đầy tính chất bác ái và nhân bản ( thể hiện qua việc dùng điệp từ “thương” 9 từ trong đoạn còn lại) => Niềm cảm thông sâu sắc tận đáy lòng nhà thơ Đồ Chiểu. => Vậy, lẽ ghét thương của NĐC xuất phát từ tình cảm yêu thương nhân dân, mong muốn nhân dân được sống yên bình, hạnh phúc, những người tài đức có điều kiện thực hiện chí nguyện bình sinh. 3. Nghệ thuậtĐoạn thơ mang tính chất triết lí đạo đức, nhưng không hề khô khan, cứng nhắc mà dạt dào cảm xúc. Cảm xúc đó xuất phát từ cõi tâm trong sáng, cao cả của nhà thơ. Lời lẽ có khi mộc mạc đến thô sơ, đi thẳng vào trái tim người đọc, người nghe. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Đọc - hiểu "Lẽ ghét thương"
|
|
|
|
Bài tham khảo: 1. Vị trí đoạn trích Nằm ở phần đầu của truyện, từ câu 473 đến câu 504 trong tổng số 2082 câu, kể lại cuộc đối thoại giữa ông Quán và 4 chàng nho sinh khi họ cùng uống rượu, làm thơ trong quán của ông Quán, trước lúc vào phòng thi. Lục Vân Tiên và Vương Tử Trực trên đường đến trường thi thì gặp Trịnh Hâm và Bùi Kiệm cũng đi thi. Tại cửa hàng của ông Quán đã diễn ra một cuộc thi tài thơ. Trịnh Hâm và Bùi Kiệm thua, nên rất tức tối, nghi Vân Tiên, Tử Trực lấy cắp thơ cổ. Chúng bị ông Quán chê cười, Trịnh Hâm bực bội buông lời xấc xược, lập tức ông Quán đáp lời ngay. Lời ông cương trực, thẳng thắn, bộc lộ thái độ thương ghét phân minh. 2. Văn bảnQuán rằng: "Kinh sử(1) đã từng, Coi rồi lại khiến lòng hằng(2) xót xa. Hỏi thời ta phải nói ra, Vì chưng hay ghét cũng là hay thương" Tiên rằng: "Trong đục chưa tường, Chẳng hay thương ghét, ghét thương lẽ nào?" Quán rằng: "Ghét việc tầm phào(3), Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tới tâm. Ghét đời Kiệt, Trụ(4) mê dâm, Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang. Ghét đời U, Lệ đa đoan(5), Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần. Ghét đời Ngũ bá phân vân(6), Chuộng bể dối trá làm dân nhọc nhằn. Ghét đời thúc quí phân băng(7), Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân. Thương là thương đức thánh nhân(8), Khi nơi Tống, Vệ lúc Trần, lúc Khuông(9). Thương thầy Nhan Tử(10) dở dang. Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh. Thương ông Gia Cát(11) tài lành, Gặp cơn Hán mạt(12) đã đành phui pha(13). Thương thầy Đồng tử(14) cao xa, Chí thời có chí, ngôi mà không ngôi. Thương người Nguyên Lượng(15) ngùi ngùi, Lỡ bề giúp nước lại lui về cày. Thương ông Hàn Dũ(16) chẳng may, Sớm dâng lời biểu, tối đày đi xa. Thương thầy Liêm, Lạc(17) đã ra, Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân(18). Xem qua kinh sử mấy lần, Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương".
3. Chú thích(1) Kinh sử: Chỉ chung các loại kinh truyện và sách sử học thời xưa phải học để đi thi. (2) Hằng: thường (3) Tầm phào: vu vơ, hão huyền, không có ya nghĩa gì. (4) Kiệt, Trụ: vua Kiệt nhà Hạ, vua Trụ nhà Thương – hai ông vua bạo ngược, vô đạo trong lịch sử Trung Quốc. (5) U, Lệ:U Vương và Lệ Vương – hai ông vua khét tiếng tàn bạo, hoang dâm đời nhà Chu. Đa đoan: nhiều mối, lăm chuyện rắc rối. (6) Ngũ bá: cuối đời nhà Chu, nǎm vua chư hầu kế tiếp nhau nổi lên làm chủ một thời, nhân dân phải lầm than điêu đứng. Phân vân: lộn xộn bối rối như cảnh loạn. (7) Thúc quý: đời suy loạn sắp bị diệt vong. Phân bǎng: chia lìa. (8) Đầu: đầu hàng. (9)Thánh nhân: chỉ Khổng Tử, người nước Lỗ, tên Khâu, tự Trọng Ni, ông tổ của Nho Giáo, nền tẳng tinh thần của xã hội phong kiến xưa. (10) Tống, Vệ, Trần, Khuông: Tên các nước chư hầu và các miền đất thời Xuân thu mà KT đã tới để truyền đạo. (11) Nhan Tử: Nhan hồi, tự Tử Uyên, người nước Lỗ, học trò đức hạnh nhất của Khổng Tử, rất hiếu học nhưng chết sớm. (12) Gia Cát: tức Gia Cát Lượng, tự Khổng Minh, sống ở thời Tam quốc, làm quân sư cho Lưu Bị, mong khôi phục cơ ngơi nhà Hán nhưng không gặp thời vận. Cho đến lúc ông mất (54 tuổi) chí nguyện vẫn chưa thành. (13) Hán mạt: cuối đời nhà Hán, lúc xảy ra cục diện Tam quốc: N-T-N phân tranh. (14) Phui pha: uổng phí. (15) Đổng Tử: tức Đổng Trọng Thư, danh nho đời Hán. (16) Nguyên Lượng: tức Đào Tiềm đời Tấn, tính tình cao thượng, không cầu danh lợi, giỏi thơ văn. (17) Hàn Dũ: đời Đường, tinh thông lục kinh, bách gia chư tử, đỗ tiến sĩ làm quan ở triều. Vua mê tín đạo Phật, rước xương Phật vào cung, ông dâng sớ cực lực ngăn cản. Vì thế ông bị đổi ra làm quan ở đất Triều Châu. (18) Liêm, Lạc: chỉ Chu Đôn Di ở Liêm Khê và hai anh em họ Trình ở Lạc Dương. Cả ba đều là những nhà triết học đời Tống, có ra làm quan nhưng không được đắc dụng, lại trở về dạy học. (19) Giáo dân: dạy dân. 4. Bố cục- 6 câu đầu: lời đối đáp giữa ông Quán với Tử Trực, Vân Tiên. - Từ câu 7 đến câu 16: Lẽ ghét - Từ câu 17 đến câu 30: lẽ thương. 5. Ông quánLà nhân vật phụ trong truyện, mang dáng dấp của một nhà nho đi ở ẩn. tính cách nóng nảy, bộc trực, ghét kẻ tiểu nhân ích kỉ, nhỏ nhen, giàu lòng yêu thương những con người bất hạnh. Ông Quán cùng với nhân vật ông Ngư, ông Tiều trong tác phẩm là những người lao động nghèo khổ, nhưng họ thực chất là những nho sĩ ở ẩn giữa cuộc đời đen bạc. Tính tình bộc trực thẳng thắn, yêu ghét phân minh. 6. Phân tích a. Lẽ ghét
- Đối tượng: + Việc tầm phào ( vu vơ ) + Đời Kiệt, Trụ: mê dâm, hoang dâm vô độ + Đời U, Lệ: đa đoan, lắm chuyện rắc rối. + Đời Ngũ bá, thúc quý: lộn xộn, chia lìa, đổ nát, chiến tranh liên miên. Vua Trụ lấy rượu chứa thành ao, lấy thịt treo thành rừng rồi cho bọn con trai, con gái thả sức ăn chơi, dâm dật, xem đó là thú vui). U Vương say đắm Bao Tự, để mua vui cho người đẹp có thể sai người xé mỗi ngày hàng trăm tấn lụa – vì Bao Tự thích nghe tiếng lụa xé. → Chính sự suy tàn, vua chúa say đắm tửu sắc, không chăm lo đến đời sống của dân. - Lí do: + Kiệt, Trụ mê dâm, “Để dân đến nổi sa hầm sẩy hang” + U, Lệ đa đoan, “Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần” + Ngũ bá phân vân, “Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn” + Thúc quý phân băng, “Sớm đầu tối đánh lằng nhằn rối dân” . Phê phán các triều đại suy tàn, cũng có thể xuất phát từ những lập trường khác nhau, hoặc là để bảo vệ trật tự xã hội phong kiến, vua ra vua, tôi ra tôi, bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến, hoặc vì trách nhiệm của một tôi trung,…với NĐC thì không hẳn như vậy. Ở đoạn thơ này, mỗi cặp câu lục bát là mỗi tiếng “dân” được nhắc đến, tất cả những lời kết tội đều xoay quanh một ý: ở các thời đại đó, chỉ có dân là phải gánh chịu mọi tai ách, khổ sở trăm chiều… → Chỉ có dân là phải gánh chịu mọi tai ách, khổ sở trăm chiều. Tác giả đã đứng về phía nhân dân mà phẩm bình lịch sử. - Cường độ: + Điệp từ ghét : 10 câu thơ nói về ghét thì có đến 8 từ “ghét”. Đặc biệt 2 câu “Quán rằng…tận tâm” có đến 4 từ + tăng cấp để diễn tả các màu sắc, mùi vị và độ sâu tăng dần của cái ghét. Từ cái ghét có vị cay, sang cái ghét có vị đắng, đến cái ghét có độ sâu của lòng người “ghét cay…tận tâm” + Cách dùng đại từ xưng hô.Khi nói tới 4 tên vua tàn ác trong lịch sử , nhà thơ không sử dụng đại từ xưng gọi mà chỉ nhắc tên một cách suồng sã: Kiệt, Trụ, U, Lệ. → ghét trở thành căm thù, lời nguyền đanh sắc, quyết liệt→ tính nhân dân sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu. Với nghệ thuật điệp từ + tăng cấp + cách gọi tên, cái ghét của ông Quán ăn tận trong sâu thẳm của lòng người, trở thành nỗi căm thù, lời nguyền đanh sắc, quyết liệt. “Ghét cay…tận tâm” → tính nhân dân sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu. b. Lẽ thươngNếu như đoạn trên tác giả cho nhân vật nói lòng căm thù bọn người hại dân để nói lòng thương dân, thì ở đoạn này tác giả cho nhân vật trực tiếp bộc lộ lòng thương yêu đối với những người có tài cao chí cả, muốn cứu đời giúp dân mà gặp phải những rủi ro bất hạnh, nên nguyện vọng của họ không thực hiện được. - Đối tượng: + Thương Khổng Tử lận đận gian lao trong việc truyền đạo Nho. + Thương Nhan Tử chết sớm dở dang. + Thương Gia Cát Lượng có tài mưu lược lớn giúp Lưu Bị mà sự nghiệp không thành. + Thương Đổng Trọng Thư có tài đức hơn người mà bị dồn vào thế bí. + Thương Nguyên Lượng (Đào Tiềm) khí tiết thanh cao mà lui về ở ẩn. + Thương Hàn Dũ có tài văn chương chỉ vì dâng biểu can vua mà bị đi đày… → Họ là những người có tài, đức và có chí muốn hành đạo giúp đời, giúp dân, nhưng đều không đạt sở nguyện. Bấy nhiêu con người ấy ít nhiều đều có những nét đồng cảnh với Nguyễn Đình Chiểu. Là một nhà nho, ông cũng từng nuôi chí hành đạo giúp đời, lập nên sự nghiệp công danh, nhưng cuộc đời dồn cho nhà thơ quá nhiều bất hạnh, thời buổi nhố nhăng, nên không thể đạt nguyện.Bởi thế, lẽ thương ở đây chính là niềm cảm thông sâu sắc tận đáy lòng nhà thơ Đồ Chiểu. Chuyện sách vở mà cũng là chuyện cuộc đời, Nguyễn Đình Chiểu đã vì cuộc đời, vì sự an bình của nhân dân mà thương, mà tiếc cho những người hiền tài không gặp thời vận để đến nỗi phải “đành phôi pha”. - Cường độ: Thương yêu tha thiết, đầy tính chất bác ái và nhân bản ( thể hiện qua việc dùng điệp từ “thương” 9 từ trong đoạn còn lại) => Niềm cảm thông sâu sắc tận đáy lòng nhà thơ Đồ Chiểu. => Vậy, lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu xuất phát từ tình cảm yêu thương nhân dân, mong muốn nhân dân được sống yên bình, hạnh phúc, những người tài đức có điều kiện thực hiện chí nguyện bình sinh. 7. Nghệ thuật- Sử dụng điệp từ “ ghét, thương ” : Tăng sức mạnh của việc thể hiện cảm xúc. Tình cảm mãnh liệt và sâu sắc của con người tác giả. Thể hiện sự ngay thẳng, phân minh rạch ròi. - Đoạn thơ mang tính chất triết lí đạo đức, nhưng không hề khô khan, cứng nhắc mà dạt dào cảm xúc. Cảm xúc đó xuất phát từ cõi tâm trong sáng, cao cả của nhà thơ. Lời lẽ có khi mộc mạc đến thô sơ, đi thẳng vào trái tim người đọc, người nghe. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Phân tích "Lẽ ghét thương"
|
|
|
|
Bài tham khảo:Lẽ ghét thương là những lời thơ tâm huyết về nỗi ghét tình thương nhân bản của Nguyễn Đình Chiểu. Và trong tình huống này, nhân vật ông Quán trở thành cái loa phát ngôn cho chính tác giả. Những tình cảm yêu, ghét rạch ròi của ông Quán nói ra ngay sau khi chúng biến cảnh Lục Vân Tiên, Vương Tử Trực, Bùi Kiệm và Trịnh Hâm cùng thi tài xướng hoạ tại quán ăn của mình. Đoạn trích có 26 câu thơ thì có tới 16 câu thơ nói về tình thương. Như vậy số câu thơ về tình thương yêu con người đã quá nửa. Bản thân Nguyễn Đình Chiểu cũng đã từng nói Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương. Quả thực khi suy ngẫm kĩ những câu thơ này, ta sẽ thấy gốc rễ, nguyên nhân sâu xa của nỗi ghét chính là tình thương dân sâu sắc. Tình thương chính là điểm tựa, là động lực tinh thần để nhà thơ lên tiếng phê phán những bọn xấu xa, những kẻ độc ác. Sở dĩ ông Quán ghét cay ghét đắng những chuyện tầm phào, những cái đa đoan, những cái dối trá, những trò mê dâm là vì chúng làm rối dân, làm dân luống chịu lầm than muôn phần. Mỗi lần nhắc đến một đối tượng đáng ghét, đáng lên án ấy sẽ là một lần tác giả thêm một câu bình luận về tội ác của chúng gây cho dân lành: Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hoang Ghét đời U, Lệ đa đoan Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần…
Và trong 10 câu thơ nói về lẽ ghét thì có tới bốn câu thơ nói về cung bậc, mức độ khác nhau trong nỗi khổ mà dân lành phải gánh chịu: - Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hoang. - Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần. - Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn. - Sớm đầu tối đánh lằng nhằng dối dân.
Nếu như những câu thơ nói về lẽ ghét thương thể hiện nỗi kinh bỉ, tức giận thì đến những câu thơ này giọng thơ đột ngột chậm thể hiện sự thông cảm, chia sẻ của nhà thơ đối với nhân dân. Để giãi bày những lời tâm huyết về nỗi ghét này được sâu đậm, Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng nghệ thuật điệp từ. Chỉ có 10 câu thơ đầu tác giả đã sử dụng tới 8 từ ghét. Riêng câu thơthứ hai đã có tới 3 từ: Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm. Cay , đắng là những từ dùng để chỉ mùi vị, ở đây cay, đắng không phải dùng như một sự lạ hoá ngôn từ, mà nó dùng để diễn tả độ sâu tăng dần của cái ghét. Sự kết hợp của các điệp từ ghét với sự tăng cấp về mức độ, nhà thơ đã hé mở cho độc giả biết cái ghét, đối tượng bị ông Quán ghét không chỉ thuộc phạm vi một thời đại nào mà nó có trong mọi thời đại. Vì thế nỗi ghét ở đây là đổi gam, đổi chất, không chỉ dừng ở thái độ bên ngoài, mà nó đã ăn sâu vào máu, vào huyết quản, ghét vào tận tâm của ông. Cái gọi là ghé của ông Quán thực chất là lòng chăm thù. Ông căm thù tất cả những bọn làm ảnh hưởng, làm tổn hại đến cuộc sống hạnh phúc của nhân dân. Điều này thể hiện tính nhân dân sâu sắc của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. Đối lập với nỗi ghét, lòng căm thù là tình thương. Ông Quán đã tự bạch về tình thương của mình trong mười sáu câu thơ. Chỉ mười sáu câu thơ nhưng nó làm hiển hiện cả cõi lòng của một con người, thể hiện một cách sâu sắc sự cảm thông, xót xa của ông Quán đối với những bậc hiền nhân quân tử, kiểu mẫu của đạo Nho, muốn hành đạo giúp vua, cứu dân nhưng không thành. Người được nhắc đến đầu tiên trong đoạn thơ nói về tình thương là Khổng Tử - người đã gặp rất nhiều gian lao vất vả khi truyền đạo: Thương là thương đức thánh nhân Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuông.
Ông thương đến cả người chết yểu mà công danh chưa đạt: Thương thầy Nhan Tử dở dang Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh
Ông lại thương cả những người không gặp vận may, những ông quan thanh liêm không gặp thời… Thương ông Gia Cát tài lành Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha… …Thương thầy Liêm, Lạc đã xa Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân.
Nếu như ở mười câu đầu Nguyễn Đình Chiểu để cho nhân vật nói lên lòng căm thù bọn người hại dân để nói lên lòng thương dân, thì ở đoạn sau tác giả lại cho nhân vật bộc lộ trực tiếp lòng thương đối với những người có tài cao chí lớn, muốn phò vua giúp đời mà gặp phải bất hạnh nên nguyện vọng cứu dân không thực hiện được. Và để thể hiện tình cảm thương yêu đầy tình nhân bản đó, nhà thơ đã điệp đi điệp lại từ thương tới chín lần. Nó không chỉ thể hiện được tình thương yêu tha thiết ông dành cho từng đối tượng cụ thể mà còn bộc lộ một tình cảm, tình thương bao la rộng lớn dành cho số phận cay đắng của con người trước những quy luật khắc nghiệp của tạo hoá và xã hội. Trích đoạn Lẽ ghét thương tuy không dài nhưng được tác giả tổ chức sắp xếp khá chặt chẽ, mạch lạc. Sự kết hợp giữa việc sử dụng điệp từ ghét, thương với nghệ thuật bố cục chặt chẽ không chỉ tạo được sự rõ ràng trong ý thơ mà còn tạo cho đoạn thơ có giọng điệu vừa trang nghiêm vừa thống thiết - một nét đặc trưng của điệu thơ trữ tình Nguyễn Đình Chiểu. Như vậy thông qua nhân vật ông Quán, Nguyễn Đình Chiểu đã gửi gắm những lời tâm huyết về nỗi ghét thương. Nó không chỉ thể hiện một tâm hồn giàu tình yêu thương mà còn thể hiện một tinh thần nhân bản sâu sắc. Sưu tầm
|
|
|
|
giải đáp
|
Người trong bao.
|
|
|
|
Thầy viết hơi dài, em tham khảo và chỉnh sửa nhé! Chúc em làm bài tốt!
Sê – Khốp là nhà văn Nga – bậc thầy về truyện ngắn của thế giới. Hầu hết những tác phẩm của ông đều thâm trầm, kín đáo, ý tứ sâu sắc, chủ đề tư tưởng thường được gửi gắm vào hình tượng nhân vật. Trong truyện ngắn “Người trong bao”, qua việc khắc họa chân dung nhân vật Bê – li – cốp, nhà văn muốn khắc họa chủ đề người trí thức Nga với lối sống “mê – si – an” ở Nga – lối sống tầm thường, hủ lậu, hèn nhát, cá nhân, ích kỉ, máy móc và giáo điều, đê tiện và dung tục, lối sống “trong bao”. Bê-li-cốp xuất hiện qua lời kể như là một điển hình cho loại người trong bao, loại người luôn tự tìm cho mình một cách thức bao gói để tự co mình lại vì sợ cuộc sống đang diến ra ồn ã xung quanh. Y sợ và “ghê tởm” hiện tại cho nên hướng về quá khứ, “luôn ngợi ca những gì không có thật”. Nghề nghiệp của y là dạy tiếng Hi Lạp cổ, thứ tiếng này cũng là một hình thức bao gói, giúp y ẩn sâu hơn vào quá khứ mà trách đi cái hiện thực đang diễn ra. Chạy trốn hiện tại cũng có nghĩa là từ chối tương lai, từ chối cái sẽ đến hoặc sẽ phải đến. Tìm về quá khứ, kể cả quá khứ không có thật, chính là sự vô trách nhiệm với bản thân, với cuộc đời. Chui vào bao, tự tìm cho mình những cái bao để che chở đã trở thành lối sống của Bê-li-cốp, trở thành “thói quen kì cục” của nhân vật này. Lối sống đó trở thành nỗi ám ảnh triền miên đối với mọi người, vì chẳng ai biết là y muốn gì, cần gì và lại càng không biết phải nói với y thế nào. Lối sống đó đã đâu độc tâm hồn con người, đầu độc cuộc sống. Nó gây ảnh hưởng nặng nề, lâu dài, dai dẳng trong xã hội Nga nhưng năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế Kỉ XX. “Người trong bao” là câu chuyện ở xã hội Nga cách đây mấy thập kỉ nhưng nó không hề xa lạ với độc giả Việt Nam và đặc biệt nó vẫn còn mang tính thời sự. Kiểu người như Bê – li – cốp và có nét giống với Bê – li – cốp không thiếu gì trong xã hội chúng ta ngày nay. Đó chính là những người sống chỉ biết răm rắp phục tùng, rập khuôn, cứng nhắc mà không hề biết phân biệt đúng sai, thật giả. Đó là những người sống khép kín, cá nhân ích kỷ, chỉ biết đến lợi ích của mình, bàng quan vô cảm đối với cuộc sống chung quanh... Phải chăng do mặt trái của cơ chế thị trường và sự suy thoái về đạo đức xã hội, đề cao quá mức những giá trị vật chất đã biến họ thành những người như vậy. Trách nhiệm của chúng ta là phải đấu tranh loại bỏ những thái độ, hành vi sống xấu xa, lạc hậu ấy, để xây dựng một xã hội Việt Nam ngày một tốt đẹp hơn.
|
|
|
|
giải đáp
|
NLXH: "Quan niệm sống" (Cam ơn cả nhà!)
|
|
|
|
Tham khảo em nhé! Dàn Ý 1. Mở bài - Có rất nhiều quan niệm sống, mà nó đều có ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi người. -> Biết có một quan niệm sống đúng đắn. -
Quan niệm sống tốt là sự hài hòa, cân bằng giữa tiền bạc, danh vọng với
các mối quan hệ và giá trị con người. Sống hết mình, làm việc hết mình.
2. Thân bài - Đối với quan niệm có tiền ắt có hạnh phúc : + Đúng là nó mang lại niềm vui, sự thoải mái, tạo ra lợi thế. + Nhưng nếu chỉ vì tiền không thì sẽ làm mất đi giá trị con người và ý nghĩa cuộc sống. (Dẫn chứng hai câu chuyện về một người chỉ sống vì tiền và một người sống có tình cảm mà không phụ thuộc quá nhiều vào tiền). - Đối với quan niệm danh vọng là sướng. +
Điều đó cũng không sai nhưng chỉ mãi đuổi theo danh vọng mà quên đi
nhiều thứ ý nghĩa trong cuộc sống thì họ đánh mất đi những gì quan trọng
nhất mà khi đánh mất rồi mới nhận ra thì quá muộn. - Một quan niệm sống nữa, đó là sống đơn giản. + Định nghĩa về sống đơn giản. Sống hài hòa với thiên nhiên, với tình cảm con người. Nhưng đặc trưng của lối sống này là "nhàn nhã" tạo nên sự "lười biếng" không thích hợp trong xu hướng hiện nay. -
Ý nghĩa cuộc sống không phụ thuộc vào thời gian sống mà phụ thuộc vào
chất lượng sống và giá trị xã hội mà trong đó con người lao động tự
giác, sáng tạo và tự do, cống hiến cho xã hội và hưởng thụ sản phẩm do
mình làm ra. -> Cho nên sống, làm việc hết mình, cống hiến hết mình.
3. Kết luận -
Quan niệm sống của mỗi người khác nhau nhưng hãy biết lựa chọn cách
sống cho chính mình để tự phát triển bản thân, xã hội đi lên theo con
đường tốt đẹp hơn.
|
|
|
|
giải đáp
|
Giúp mình so sánh: "Ai đã đặt tên cho dòng sông" và "Người lái đò sông Đà"
|
|
|
|
Tham khaỏ và bổ sung em nhé!
Gợi ý:
a.Giống nhau: - Cùng viết tùy bút về một dòng sông. - Huy động nhiều vốn kiến thức địa lí, lịch sử, văn hóa,.. - Thể hiện rõ rệt “cái tôi” tài hoa, độc đáo. b. Khác nhau: * Nguyễn Tuân với sông Đà - Khai thác hai mặt hung bạo và trữ tình của dòng sông. - Qua dòng sông, ca ngợi con người lao động, chất vàng mười của vùng Tây Bắc. - Sử dụng các kiến thức của điện ảnh, hội họa, quân sự, thủy điện, .. * Hoàng Phủ Ngọc Tường với sông Hương - Khai thác các vẻ đẹp khác nhau của dòng sông. - Ca ngơi dòng sông, ca ngơi Huế, ca ngợi quê hương đất nước. - Khai thác chiều sâu lịch sử và văn hóa.
|
|
|
|
|
|