Phương thức tồn tại của tác phẩm văn học

Trương Đăng Dung

Nghiên cứu văn học là để hiểu văn học, đối tượng cụ thể là tác phẩm văn học. Cơ sở và xuất phát điểm của khoa học văn học là sự đối thoại với các văn bản văn học thông qua hoạt động đọc và hiểu chúng. Lí luận văn học hiện đại ý thức rất rõ về sự phức tạp mang tính chất triết học của vấn đề này ([1]). Lí luận văn học có mặt khi chúng ta tìm cách hiểu văn học và nhận ra rằng tác phẩm văn học ẩn chứa những thông điệp mang nhiều nghĩa khác nhau, luôn biến động và không thể khoanh vùng; khi chúng ta muốn đối thoại với nó nhưng có cái gì đó thường xuyên tạo ra khoảng cách và sự hiểu lầm, không cho ta ý nghĩa chung mong đợi. Bởi vì luôn luôn có cái gì đó thay đổi trong phương thức tồn tại của tác phẩm văn học liên quan đến người đọc, chính sự thay đổi này là nguồn gốc của những tranh luận về phương thức chiếm lĩnh thẩm mĩ tác phẩm văn học, về nghĩa và ý nghĩa của tác phẩm văn học. Các tác phẩm văn học mới luôn luôn đòi hỏi những hình thức lí giải mới; trước tác động và ảnh hưởng của những tác phẩm này, không chỉ chúng mà cả những tác phẩm khác trong quá khứ cũng có thể đọc lại một cách khác trước. Không có tác phẩm văn học nào tồn tại khép kín, với một vẻ mặt duy nhất dành cho tất cả mọi người đến với nó. Tác phẩm văn học cũng “không phải là tượng đài kỉ niệm thể hiện tính chất phi thời gian trong hình thức độc thoại của nó” (H.R. Jauss). Nhưng mỗi cách lí giải tác phẩm đều phản ánh những yếu tố chủ quan trong việc đọc và hiểu tác phẩm. Hoạt động đọc của chủ thể tiếp nhận là hoạt động của ý thức chủ quan hướng tới khách thể là văn bản văn học. Không phải ngẫu nhiên Hiện tượng học đã tạo ra những đột biến quan trọng trong cách lí giải vấn đề tác phẩm văn học của Chú giải học và Mĩ học tiếp nhận. Vậy những quan điểm nào của Hiện tượng học đã có tác động sâu xa đến tư duy lí luận văn học thế kỉ XX? Các nhà lí luận văn học hiện đại đã vận dụng thành công như thế nào những quan điểm của Hiện tượng học trong việc nghiên cứu phương thức tồn tại của tác phẩm văn học? Cơ sở nào để mĩ học tiếp nhận, như một biến thể của chú giải học triết học, khẳng định vai trò quan trọng của nó trước mĩ học sáng tạo truyền thống?

Đó là những vấn đề chúng tôi muốn đề cập đến trong bài viết này.

I

Giữa các trào lưu triết học nổi lên đầu thế kỉ XX thì ảnh hưởng của Hiện tượng học lan rộng đến tận ngày nay, nhất là trên lĩnh vực nghiên cứu lí luận văn học. Việc vận dụng Hiện tượng học vào lĩnh vực nghiên cứu văn học được thực hiện đầu tiên ở phương Tây, trong các trường phái phân tích tác phẩm khác nhau như trường phái Giải thích ở Thụy sĩ, Đức; trường phái Phê bình mới ở Anh, Mỹ… Cần phải nói ngay rằng trên lĩnh vực lí luận văn học thì chỉ có Roman Ingarden (Balan) là người vận dụng Hiện tượng học một cách triệt để và hiệu quả nhất với công trình Tác phẩm văn học (1931)([2]) mà chúng tôi đã có dịp dịch và giới thiệu, nhưng trong bài viết này mới có điều kiện nghiên cứu sâu hơn.

Vẫn là những vấn đề cơ bản của triết học, nhưng Hiện tượng học bắt đầu bằng bản thể học, nó loại trừ thế giới như là khách thể tự thân, để nhấn mạnh sự sinh thành của cái thế giới có giá trị siêu nghiệm thông qua hoạt động ý thức chủ quan có tác dụng tạo lập. Theo Edmund Husserl([3]), chúng ta không thể tin vào sự tồn tại độc lập của các sự vật, chúng ta chỉ có thể biết được rằng đối tượng, khách thể của nhận thức, không tồn tại ngoài ý thức của chủ thể đang hướng vào nó. Tiêu chuẩn của chân lí là những cảm thụ mang tính cá nhân của chủ thể. Các khách thể chỉ có được thông qua ý thức như là những sự vật có ý hướng. Mọi ý thức đều là ý thức về một cái gì đó: nếu tôi suy nghĩ thì tôi biết rằng ý nghĩ của tôi “hướng tới” một đối tượng nào đó. Hoạt động tư duy và đối tượng của nhận thức gặp nhau trong mối quan hệ bên trong và tuỳ thuộc lẫn nhau. Đối tượng được tạo ra do trực giác hướng vào nó. Như vậy, khái niệm trung tâm của Hiện tượng học là tính chủ ý của ý thức nhằm vào khách thể, không có khách thể nếu không có chủ thể! Thế giới chỉ tồn tại thông qua tôi mà tôi thì tồn tại trong nó. Ý thức không thụ động mà luôn chủ động tạo lập và ý hướng thế giới. Nếu tôi muốn thâu tóm một cái gì đó thì trước hết phải bỏ qua, cho vào ngoặc đơn, tất cả những gì vượt quá kinh nghiệm của mình: Tức là tôi cần phải qui giản cái thế giới bên ngoài cho phù hợp với nội dung của ý thức. Tất cả những gì không thuộc về ý thức một cách nghiêm túc đều bị gạt bỏ; tất cả mọi dữ kiện đều cần phải đối xử như là “hiện tượng” trong những giới hạn của hoạt động ý thức. Hoạt động này gọi là sự qui giản hiện tượng mà Husserl luôn nhấn mạnh. Nói một cách khái quát, nếu chúng ta muốn nắm bắt một hiện tượng thì chúng ta cần phải nắm bắt cái mà trong hiện tượng đó là bản chất và bất biến! Phải trở về với chính sự vật và tìm lại ý nghĩa của bản thể trong sự phong phú về chân lí của nó([4]). Hiện tượng học phát hiện ra cái bản thể đích thực của “vật tồn tại” là bản thể được tạo lập trong tính chủ quan siêu nghiệm. Thế giới không phải là sự tồn tại của những hiện thực vật chất tự thân mà là những đối tượng có chủ định của ý thức con người. Giữa con người và thế giới tự nhiên không phải được kết nối bằng các mối liên hệ nhân quả mà bằng các quan hệ hiện tượng học. Các sự vật chỉ tồn tại đối với tôi khi tôi tri giác chúng. Sự chủ ý của ý thức không chỉ là hoạt động mang lại ý nghĩa, thậm chí không chỉ tạo ý nghĩa cho hiện tượng mà thực ra nó còn tổ chức và tạo lập hiện tượng. Xét về phương diện nhận thức luận, quan điểm Hiện tượng học của Husserl là quan điểm liên kết sự chủ thể hoá con người và sự khách thể hoá thế giới. Nghĩa là Husserl không phủ nhận tính khách quan của thế giới, nhưng lại quan niệm thế giới này là tập hợp của những sự vật rơi vãi hỗn loạn mà ý nghĩa của chúng chỉ có được thông qua hoạt động ý thức của con người. Tức là không phải các sự vật chủ động tác động vào ý thức, mà ngược lại, ý thức chủ động tạo ra mối quan hệ năng động giữa nó và sự vật. Như vậy, hình ảnh của các sự vật hình thành thông qua hoạt động ý thức của tôi, còn sự thống nhất của chúng tuỳ thuộc vào sự thống nhất của hình ảnh thế giới của tôi. Theo Hiện tượng học, nhận thức là sản phẩm của chủ thể tồn tại và hoạt động trong hiện thực độc lập, không thể tách biệt bản chất và hiện tượng. Hiện tượng không phải là bộ phận mang tính chất kết cấu bên trong mà là tổng số những hiểu biết của tôi liên quan đến sự vật. Lúc này, hiện tượng là cơ sở của nhận thức. Hiện tượng phụ thuộc vào việc tôi tiếp cận sự vật bằng những công cụ như thế nào, tôi có quan hệ và sử dụng quan hệ đó ra sao đối với sự vật. Điều này khẳng định rằng mặc dù có liên quan và là hình ảnh của sự vật, nhưng hiện tượng là cái được xác định thông qua tôi. Hiện tượng mang tính chủ quan mạnh mẽ.

Cần nói thêm là Husserl không chỉ bác bỏ chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa tâm lí, chủ nghĩa thực chứng của khoa học tự nhiên mà còn tự cho là mình đã cắt đứt với chủ nghĩa duy tâm cổ điển của Kant([5]). Hiện tượng học (nhất là trong các bài giảng và công trình sau này của Husserl)([6]), hi vọng với luận đề cho rằng bản chất đích thực của các sự vật có trong nhận thức thuần tuý, sẽ vượt lên chủ nghĩa hoài nghi. Hiện tượng học vừa muốn chứng tỏ khả năng nhận thức thế giới, vừa tạo lập vị thế trung tâm của chủ thể con người. Nếu chúng ta nhớ lại từ cuối thế kỉ XIX, lịch sử châu Âu tỏ ra nghi ngờ quan điểm cho rằng con người làm chủ số phận của nó và nó có thể duy trì được vị trí của mình như là tâm điểm sáng tạo của thế giới thì chúng ta mới thấy hết cái nhìn đầy tự tin của Hiện tượng học về con người, về vai trò tích cực của con người trong quá trình nhận thức.

Trước khi nghiên cứu ảnh hưởng của Hiện tượng học đối với khoa học văn học (mà cụ thể là phê bình văn học và nhất là lí luận văn học với đối tượng là tác phẩm văn học) chúng tôi muốn tìm hiểu những quan điểm triết học này đã tác động như thế nào đối với sáng tác văn học. Có thể nói rằng thực ra ảnh hưởng trực tiếp của Hiện tượng học đối với các nhà văn là không nổi bật như ở lĩnh vực triết học. Tuy vậy, sự xuất hiện của quan điểm mang tính chất hiện tượng học (về hiện thực) trong văn học thế kỉ XX là điều không thể không nói đến. Và người chúng tôi muốn nói đến là Franz Kafka. Ở các sáng tác của Kafka chúng ta không phải khó khăn lắm mới thấy được những yếu tố liên quan đến các quan điểm Hiện tượng học. Nếu hiện tượng học loại bỏ tâm lí thực chứng thì Franz Kafka cũng không quan tâm đến yếu tố tâm lí của nhân vật. Nhà văn mô tả các sự kiện, tình huống, quá trình của nhân vật mà không rõ lí do, xuất xứ; hiện thực và ảo ảnh lẫn lộn như thể không có sự khác biệt giữa thế giới hiện thực và sự phản ánh nó trong ý thức. Nhân vật của Kafka đi từ thế giới hiện thực đến thế giới giấc mơ như thể giữa hai thế giới đó không có gì cách biệt. Trong các tác phẩm của Franz Kafka, thế giới không tồn tại độc lập, tự nó, mà tồn tại như là những nội dung ý thức của các cá thể, những nội dung ý thức có chủ ý. Trong một bài nghiên cứu về thế giới nghệ thuật của Franz Kafka([7]) chúng tôi đã viết rằng nhà văn này không nghi ngờ sự tồn tại của cái hiện thực độc lập với ý thức, nhưng ông không cho đó là hiện thực thuần nhất. Những gì mà ông quan hệ trong cái thế giới hiện diện đều có hình thù hai mặt. Chúng vừa là chúng lại vừa là cái gì khác đầy bí ẩn và không thể nắm bắt. Mọi đồ vật như cái cặp, chiếc áo vắt trên ghế, hay cái răng duy nhất còn lại trong miệng gã xà ích, trong sự bất biến, chúng độc lập với chính mình, mang thêm ý nghĩa biểu tượng và nói lên một chân lí nào đó trong hình thức huyền thoại. Trong con mắt của Kafka, mọi hiện tượng đơn lẻ đều nói về cái bản chất chung, phổ quát nào đó. Ông mang lại sự tồn tại có cảm xúc cho cái mà bản chất nó là trừu tượng([8]). Trường hợp Kafka chỉ là một trong những ví dụ tiêu biểu về các nhà văn chịu ảnh hưởng của Hiện tượng học. Thực ra trường phái triết học này có ảnh hưởng đến nhiều văn nghệ sĩ ở các loại hình nghệ thuật khác nhau, không chỉ vào những năm đầu thế kỉ XX mà cho tới tận ngày nay([9]). Nhưng đó có thể sẽ là đề tài cho một bài viết khác, khuôn khổ của bài viết này không cho phép chúng tôi đi sâu.

Trong lĩnh vực phê bình văn học, phương pháp hiện tượng học được vận dụng nhiều trong các năm từ 1940-1950 ở Thụy Sĩ. Trước đó, Hiện tượng học cũng ảnh hưởng phần nào đến trường phái hình thức Nga. Xuất phát từ quan điểm của Husserl cho rằng cần phải loại bỏ cái đối tượng hiện thực để chú ý tới hoạt động tri giác, phê bình văn học cũng loại bỏ môi trường của sự sáng tạo và tiếp nhận văn học, các mối quan hệ của tác giả. Phê bình hiện tượng học lấy sự đọc văn bản hoàn toàn tách biệt với mọi tác động bên ngoài làm mục đích. Văn bản qui giản thành ý thức thuần tuý của tác giả, và để có thể nhận biết được cái ý thức này, nhà phê bình văn học không được dựa vào bất cứ điều gì anh ta biết về tác giả, mà chỉ cần chú ý đến những đặc điểm của ý thức tác giả xuất hiện trong tác phẩm. Những đặc điểm của ý thức tác giả thể hiện ở đâu? Thể hiện ở phương thức mà nhà văn đã trải nghiệm cái thế giới của mình qua việc sử dụng các đề tài và xây dựng các hình tượng trong tác phẩm. Thế giới của tác phẩm là cái hiện thực đã được nhà văn, như là chủ thể, trải nghiệm, tri giác và tổ chức. Mối quan hệ giữa nhà văn và tác phẩm là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể theo tinh thần của Hiện tượng học, nhà phê bình hiện tượng học bằng lòng với thế giới của tác phẩm văn học trong quan hệ với nhà văn, cho đó là khách thể và bỏ qua thế giới hiện thực bên ngoài. Phê bình hiện tượng học chỉ khai thác cái thế giới của tác phẩm, né tránh sự phân tích giá trị nhằm phục vụ những mục đích thực dụng của thế giới ngoài tác phẩm theo một hệ qui chiếu nào đó. Phê bình hiện tượng học chỉ tiếp nhận văn bản, thông qua việc đọc văn bản để chỉ ra cái bản chất của ý thức, của hoạt động ý thức nhà văn trước đối tượng có ý hướng là thế giới của tác phẩm. Có thể nói đặc điểm này của phê bình hiện tượng học là hậu quả và kết quả của việc vận dụng quan điểm hiện tượng học, một học thuyết không chỉ “cho vào ngoặc” cái hiện thực “ở ngoài” ý thức, mà cả hiện thực bên trong ý thức là hiện thực tâm lí, để tiếp cận cái ý thức “thuần tuý” (tiên nghiệm) hướng tới những hiện tượng thuần tuý chứa đựng bản chất. Khi khám phá thế giới của tác phẩm, phê bình hiện tượng học phải vô tư, phải rũ bỏ mọi định kiến của chính nó, và trả lại một cách chính xác cái mà nó bắt gặp trong tác phẩm. Ví dụ nếu phê bình một bài thơ tình của Xuân Diệu thì không phải là để nói lên những phán xét giá trị (chẳng hạn như lãng mạn tích cực hay lãng mạn tiêu cực) liên quan đến cái nhìn thế giới tình yêu cụ thể, mà là để cho thấy Xuân Diệu đã sống cái thế giới đó ra sao và sự trải nghiệm đó như thế nào đối với nhà thơ.

Với việc loại bỏ những yếu tố hiện thực, Hiện tượng học từ bỏ lịch sử, xã hội học, tâm lí học như là những công cụ giải thích các nguyên nhân. Hiện tượng học không nghiên cứu các đối tượng theo nguyên lí nhân quả, vì chúng không phải là những đối tượng của thế giới hiện thực, mà chúng là những hiện tượng. Nói cách khác, việc tiếp cận đối tượng theo Hiện tượng học là cách tự giải thích bản thân. Trên cơ sở triết học đó, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học theo Hiện tượng học không cảm thấy cần thiết phải hỏi sự vật là tại sao như vậy. Hiện tượng học cố gắng nắm bắt cấu trúc thực chất của ý thức, cùng với nó là các hiện tượng thực chất. Hiện tượng học không quan niệm một cách đơn giản tôi nhận thấy gì khi tôi thoáng thấy một bông hoa đẹp, mà chỉ xem xét cái bản chất phổ quát của hoạt động nhận biết những bông hoa đẹp nói chung. Khi nói ý thức, là ý thức về một cái gì đó ở chính nó và đòi hỏi một cái gì khác với bản thân nó, đó là đối tượng mà ý thức hướng tới. Như vậy, sự vật chỉ tồn tại khi có hoạt động của ý thức hướng tới nó, tức là bản thể thật sự của vật tồn tại là bản thể được tạo lập trong tính chủ quan tiên nghiệm. Khi ý thức nắm bắt một sự việc nào đó, hay nói như Husserl về tính chủ ý của ý thức, khi ý thức tạo ra sự việc nào đó thì lúc đó trong ý thức cái sự việc nhất định đó đã có nhiều tầng bậc. Vì thế trong việc mô tả sự sáng tạo tiên nghiệm nào đó của ý thức, cần phân biệt các cấp độ và tầng bậc khác nhau của sự vật được sáng tạo.

*

Các nhà lí luận văn học hiện đại đã vận dụng như thế nào những quan điểm trên đây của Hiện tượng học trong việc nghiên cứu phương thức tồn tại của tác phẩm văn học? Đây là vấn đề trọng tâm mà bài viết này đề cập, từ cái nhìn hiện tượng học, chú giải học và mĩ học tiếp nhận đến cái nhìn riêng của chúng tôi.

Cùng có chung một xuất phát điểm, nhưng không phải ai cũng vận dụng giống nhau những thành tựu của một học thuyết nào đó. Xuất phát từ Hiện tượng học của Husserl, nhưng Martin Heidegger đã phát triển lí thuyết này theo hướng hiện sinh, với các yếu tố phi lí, bất khả tri; còn cách Jean Paul Satre vận dụng những quan điểm Hiện tượng học vào chủ nghĩa hiện sinh ở Pháp lại khác Heidegger. Trong lí luận văn học, tầm ảnh hưởng của Martin Heidegger lớn hơn nhiều so với tầm ảnh hưởng của Jean Paul Satre. Trong một số bài viết trước đây([10]) chúng tôi đã có dịp nói về một công trình lí luận văn học nổi tiếng mà từ khi ra đời đến nay đã thu hút mạnh mẽ sự chú ý của các nhà nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học trên thế giới, đó là công trình Tác phẩm văn học (1931) của Roman Ingarden, nhà triết học hiện tượng học và nhà lí luận văn học Balan. Ý nghĩa thực tiễn của công trình lí luận nghiên cứu về tác phẩm văn học này chỉ sau này mới rõ. Bản thân Roman Ingarden khi viết tác phẩm này chỉ cốt để làm sáng tỏ một số vấn đề triết học liên quan đến Edmund Husserl. Là học trò xuất sắc của Husserl, nhưng Ingarden đã không mở rộng chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm, ông vẫn duy trì quan điểm về phương thức tồn tại hiện thực và lí tưởng của tác phẩm văn học. Theo cách phân tích đối tượng của Hiện tượng học, R. Ingarden cũng cho rằng tác phẩm văn học là vật có chủ ý. Nguồn gốc sự tồn tại của nó có trong các hoạt động của ý thức sáng tạo nơi tác giả, còn cơ sở của sự tồn tại chất thể thì ở trong văn bản. Nhưng những hoạt động ý thức của nhà văn không thuộc về tác phẩm mà chỉ là cơ sở tồn tại của tác phẩm mà thôi. Roman Ingarden đã nhìn nhận tác phẩm văn học như là khách thể mang tính chủ ý. Và như một khách thể mang tính chủ ý thì đời sống của tác phẩm văn học cũng phụ thuộc vào những hoạt động cụ thể hoá (đọc) có chủ ý của người đọc hướng tới nó. Một mặt, tồn tại một văn bản văn học như là sản phẩm sơ lược với những chỗ trống và những sự việc chưa xác định, giống như một bộ xương. Mặt khác, thông qua sự cụ thể hoá (đọc) như là hoạt động của ý thức hướng về nó mà bộ xương được đắp thêm da thịt, và tác phẩm hình thành. Tính chất của sự cụ thể hoá này phụ thuộc vào trình độ người đọc, và bản thân tác phẩm cũng hiện ra đúng với diện mạo của nó nếu gặp được sự cụ thể hoá lí tưởng. Sự cụ thể hoá này mỗi người mỗi vẻ, không ai giống ai. Như vậy, tác phẩm văn học là vật hai lần có ý thức ([11]).

Roman Ingarden đã dành nhiều trang phân tích sự cụ thể hoá văn bản văn học của người đọc như là hoạt động có chủ ý của ý thức hướng tới đối tượng, theo cách nói của Hiện tượng học. Ông lưu ý đến sự khác biệt về mặt bản thể giữa tác phẩm và sự cụ thể hoá: Không phải sự cụ thể hoá, mà tác phẩm mới là đối tượng được các hoạt động tiếp nhận hướng tới! Sự khác biệt này khó nhận ra, nhưng nó tồn tại. Khi đọc, văn bản có thể được cụ thể hoá khác với điều mà tác phẩm chỉ ra, nó làm phong phú hoặc phương hại đến các giá trị của tác phẩm. Các nghĩa của từ và nghĩa của câu có những sắc thái không thể dịch được. Trên cơ sở những kỉ niệm, khả năng tưởng tượng, người đọc có thể lấp đầy những chỗ trống của các sự việc được mô tả một cách thành công hoặc thất bại. Những biểu hiện của các sự việc được cụ thể hoá một cách khác nhau qua từng người đọc có thể làm mất đi sự đồng nhất của tác phẩm với chính nó. Nếu không phân biệt tác phẩm và sự cụ thể hoá thì sức hấp dẫn của tác phẩm cũng bị triệt tiêu. Thực mà hư, hư mà thực, đặc điểm này làm nên sự hấp dẫn của tác phẩm văn học. Có điều đó là nhờ các đối tượng được mô tả như là thật, nhưng trong thực tế chúng là những sự vật có ý hướng. Tác phẩm sẽ đánh mất giá trị thẩm mĩ nếu người ta đọc nó với ý thức rằng nó hoàn toàn chỉ là hư cấu.

Đời sống của tác phẩm cũng diễn ra trong sự cụ thể hoá. Nhưng Ingarden không hiểu chữ đời sống ở đây có nghĩa là tác phẩm ra đời, đạt tới giai đoạn đỉnh cao rồi rơi vào quên lãng vĩnh viễn, ông hiểu là nó phải có mặt, và sự hiện hữu của nó là nhờ những hoạt động của ý thức chủ quan, những hoạt động này cũng có thể làm cho thay đổi. Chỉ có sự cụ thể hoá là biết tự thay đổi, tức là sự thay đổi chỉ xuất hiện trong từng sự cụ thể hoá. Những sự cụ thể hoá không phải là những bộ phận của nhau, nhưng đều cùng thuộc về tác phẩm. Chúng chỉ có ảnh hưởng lẫn nhau, có vai trò đối với nhau, nếu một người tiếp nhận biết được sự cụ thể hoá trước đó và anh ta thực hiện sự cụ thể hoá mới bằng việc ghi nhận những gì đã xẩy ra ở sự cụ thể hoá trước một cách có ý thức. Chẳng hạn khi anh ta đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du nhiều lần và ở mỗi lần đọc mới anh ta lại chú ý đến những lần đọc trước, hoặc những lần đọc trước tự tác động tiếp tục… Các thời kì văn hoá đều nhậy cảm với những giá trị thẩm mĩ khác nhau, chúng tạo nên hàng loạt sự cụ thể hoá vượt xa tác phẩm, nhất là nếu có sự chuyển tiếp sự cụ thể hoá bằng các hoạt động phê bình, phân tích, giải thích, biểu diễn sân khấu. Như vậy là có những sự cụ thể hoá hoặc các nhóm cụ thể hoá trở thành truyền thống, hình thành một bầu không khí văn chương được những mối liên hệ chức năng gắn kết với toàn bộ bầu không khí văn hoá của thời đại([12]). Điều này chỉ thay đổi khi có những thay đổi của môi trường văn hoá hoặc sự ra đời của những tác phẩm lớn cùng với lời giải thích mới. Tác phẩm văn học phụ thuộc vào đó mà tàn lụi hoặc tái sinh. Theo Ingarden, mọi tác phẩm văn học đều trải qua giai đoạn người ta mới bắt đầu hiểu, tiếp theo đó là thời kì có nhiều sự cụ thể hoá, sau đó là thời kì có ít sự cụ thể hoá. Nhưng bản thân tác phẩm cũng có thể thay đổi. Ingarden cho rằng sự thay đổi này có hai loại: Sự thay đổi của một tầng bậc nào đó (ví dụ tầng bậc nghĩa) do áp đặt và sự thay đổi gắn liền với những sự cụ thể hoá. Tác phẩm văn học cũng có thể “chết” đi do ngôn ngữ của nó là ngôn ngữ chết, đánh mất những phẩm chất biểu thị, người ta phải vận dụng tri thức lịch sử để phục chế chúng, làm cho tác phẩm sống lại. Tức là tác phẩm có thể thay đổi mà không đánh mất sự đồng nhất của nó. Điều này chứng minh luận đề của Ingarden cho rằng tác phẩm văn học không phải là vật lí tưởng mà là vật có ý hướng.

Có một công trình lí luận văn học được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây, đó là cuốn Lí luận văn học của R. Wellek và A. Warren([13]). Điều thú vị là có thể nhận thấy ảnh hưởng của Roman Ingarden đối với các tác giả này. Cuốn sách của họ chia làm hai phần chính: phần viết về các phương pháp nội quan và ngoại quan của khoa học văn học và phần viết về phương thức tồn tại của tác phẩm văn học, chuẩn bị cho việc trao đổi về phương pháp nội quan. Ở đây khái niệm nội quan có nguồn gốc từ lí thuyết của Ingarden. Cái mà Ingarden xem là thuộc về tác phẩm thì phần lớn phương pháp ngoại quan lại không xem nó liên quan đến tác phẩm văn học. Nhưng R. Wellek cũng đã giải thích khái niệm tác phẩm đồng nhất với chính nó, từ các quan điểm của trường phái ngôn ngữ học Praha. Ông xem tác phẩm là cấu trúc của các chuẩn mực, mặc dù Ingarden không đồng ý như vậy. Tuy nhiên trong ý kiến này của R.Wellek cũng cho thấy sự liên quan “kín đáo” với quan niệm của R. Ingarden. Bởi vì R.Wellek không hiểu cái chuẩn mực này như là chuẩn mực cổ điển, chuẩn mực đạo đức, mà đó là những chuẩn mực ẩn chứa trong tác phẩm. R.Wellek đã ví tác phẩm với Langue (ngôn ngữ) của Saussure, cái hệ thống cần phải phân biệt với Parole (lời nói), với hoạt động nói của cá nhân. Langue là hệ thống của các chuẩn mực mà trong Parole (lời nói) chúng không bao giờ được thực hiện hoàn toàn, nhưng chúng bảo đảm sự đồng nhất của những hiện tượng nói. R. Ingarden cũng đã lưu ý sự âm vang của lời nói và sự cụ thể hoá lời nói đều cho thấy mối quan hệ tương tự như mối quan hệ giữa âm vị và âm phát ra trong ngôn ngữ học. R. Wellek đã lấy ví dụ này để minh hoạ cho mối quan hệ giữa chuẩn mực và việc hiện thực hoá chuẩn mực: Giống như một âm, chẳng hạn âm h, không thể có hai sự phát âm như nhau, thế nhưng vẫn luôn tồn tại âm h đồng nhất với chính nó. Cũng như vậy, tác phẩm văn học không có hai sự cụ thể hoá (đọc) như nhau, nhưng lại có nhiều người cụ thể hoá nó cùng một lúc. R. Wellek chia sẻ với quan điểm của Ingarden rằng tác phẩm văn học có những sự cụ thể hoá tương ứng và không tương ứng, đúng và sai, những sự cụ thể hoá này so sánh với nhau và “so sánh” với tác phẩm văn học đều có thể xếp hạng về sự đúng đắn. Roman Ingarden đã viết: “Chúng tôi đã nhận định từ trước rằng do tác phẩm văn học có những hoạt động chủ quan, vì vậy chỉ có thể làm thay đổi hoặc huỷ diệt nó bằng những hoạt động chủ quan tương tự… Trong những trường hợp này (ví dụ người ta cắt bỏ hoặc viết thêm một số câu khi tái bản – T.Đ.D) người ta làm thay đổi tác phẩm một cách có ý thức và chủ ý. Nhưng tác phẩm văn học có thể thay đổi một cách không chủ ý. Khi người ta đón nhận tác phẩm một cách đơn giản qua sự cụ thể hoá nào đó, thì sự thay đổi như thế có thể xẩy ra, nếu người đọc – như vẫn thường xẩy ra – không ý thức được cho bản thân những khả năng của sự cụ thể hoá đó cũng như sự khác biệt thật sự (và cần thiết) của nó so với tác phẩm, và cuối cùng là không biết phân biệt sự cụ thể hoá và tác phẩm văn học. Vì thế người đọc tuyệt đối hoá sự cụ thể hoá đó, đồng nhất nó với tác phẩm và ngây thơ để ý tới tác phẩm được nghĩ ra này một cách có chủ ý. Lúc này người đọc cho rằng những gì liên quan đến nội dung của sự cụ thể hoá đều là của tác phẩm… Tức là người đọc không làm sáng tỏ tác phẩm trước mọi sự hoen ố có thể bằng sự tiếp nhận thận trọng, phê phán, mà anh ta cưỡng ép và làm thay đổi nó”([14]).

Bản thân R. Ingarden không theo mô hình ngôn ngữ học, ông dựa vào những nguyên lí triết học chung đã có ảnh hưởng lớn đối với sự hình thành ngôn ngữ học hiện đại. Như vậy, có thể hiểu rằng ông đã không thừa nhận tính hiệu lực của mô hình ngôn ngữ. Trong các công trình sau này, ông đã cương quyết phản đối chủ nghĩa ngôn ngữ chỉ thấy trong tác phẩm văn học những đặc điểm ngôn ngữ, muốn biến thi pháp thành bộ phận của ngôn ngữ. Ở điểm này R. Wellek cũng chia sẻ quan điểm với R. Ingarden. Năm 1960, R. Wellek đã lên tiếng phản đối chủ nghĩa cấu trúc và thi pháp ngôn ngữ- kí hiệu học trong một cuộc Hội nghị quan trọng. Cái mà ông đối lập ở đây là truyền thống cổ điển châu Âu của chú giải học mà trong phần viết về những vấn đề lịch sử văn học R. Wellek đề cập đến.

Chúng tôi trở lại với công trình Tác phẩm văn học của Roman Ingarden để phân tích thêm về những đóng góp và cả những giới hạn của tác phẩm này cho Hiện tượng học nói chung và lí luận văn học nói riêng. Cùng với việc chỉ ra sự khác biệt giữa tác phẩm và những sự cụ thể hoá mà chúng tôi đã phân tích ở trên, Ingarden còn cho thấy sự phân tầng của cấu trúc tác phẩm văn học. Có thể nói tác giả đã vận dụng nguyên lí cấu trúc một cách nhất quán và có hệ thống trong việc nghiên cứu tác phẩm văn học. Mặc dù R. Ingarden đã mổ xẻ cấu trúc tác phẩm văn học là để chứng thực những quan điểm triết học của mình, nhưng với việc tháo rời và mô tả về mặt hiện tượng học các tầng bậc khác nhau (mà lại gắn bó với nhau) của cấu trúc tác phẩm, ông đã xác lập cái mô hình lí giải tác phẩm văn học về mặt hiện tượng học, đồng thời xác định phương thức tồn tại khác nhau của các tầng bậc cấu trúc tác phẩm nhằm trình bày tác phẩm như là sự hoà đồng phức điệu của các yếu tố cấu trúc dị biệt(*). Trước khi mô tả một cách tỉ mỉ các tầng bậc của tác phẩm văn học, Ingarden tìm cách trả lời cho câu hỏi: Cái gì thuộc về tác phẩm văn học và cái gì không, thuộc về nó? Tức là cái gì tạo ra cái đối tượng mà ý thức của người đọc hay nhà nghiên cứu hướng tới? Phù hợp với tinh thần Hiện tượng học, Ingarden muốn có cái nhìn bản chất hướng đến tác phẩm nhưng nó phải độc lập với những quan điểm được hình thành và có ảnh hưởng về mặt lịch sử, có trong thực tế. Đó là những quan điểm tâm lí học, xem tác phẩm văn học là ấn tượng của tác giả và của người đọc. Ingarden bác bỏ ngay từ đầu quan điểm cho rằng đối tượng thẩm mĩ là khách thể lí tưởng, ông khẳng định tác phẩm văn học là vật có ý hướng. Cách nhìn tác phẩm văn học của Ingarden hoàn toàn loại bỏ phương thức tiếp cận tác phẩm văn học của phê bình ấn tượng. Theo Ingarden, ấn tượng của nhà thơ hay ấn tượng của hiện thực đều không có trong thơ: Phương thức tồn tại của thơ là cấu trúc câu, cấu trúc tiếng, cấu trúc nghĩa (!). Cũng dễ hiểu là tại sao phê bình xã hội học hay phê bình ấn tượng đều khó chịu trước cách nhìn cực đoan này của Ingarden, nhưng nếu cho nó vào trong hệ thống triết học của Ingarden, người ta sẽ phản ứng điềm đạm hơn.

Bây giờ chúng ta tìm hiểu xem R. Ingarden quan niệm cái gì không thuộc về tác phẩm văn học, trước khi cùng Ingarden khám phá cái cấu trúc tầng bậc của tác phẩm văn học.

1. Trước hết cần loại bỏ tác giả với số phận, cùng những ấn tượng và trạng thái tâm lí của anh ta. Những ấn tượng mà trong khi sáng tác nhà văn có được không phải là những bộ phận của một tác phẩm đã xong xuôi, cho dù mối quan hệ giữa cá tính, đời sống tâm lí của tác giả và tác phẩm là mật thiết và tác phẩm phải phụ thuộc vào tính cách, tài năng, thế giới tư tưởng của nhà văn như thế nào đi nữa. Tác giả và tác phẩm là hai khách thể khác biệt, vì thế cần phải tách biệt tác giả ra khỏi tác phẩm. Không thể và không được phép làm lẫn lộn cái bản thể của tác phẩm với tâm lí của quá trình sáng tạo nghệ thuật.

2. Không thuộc về tác phẩm bất kì ấn tượng, trạng thái tâm hồn nào của người đọc. Những tình cảm, ý tưởng, ấn tượng mà tác phẩm khơi dậy đều không nói lên điều gì cả về bản thân tác phẩm. Không nên rút ra kết luận từ những tình cảm nhất thời, hay những quá trình tâm lí được khơi dậy trong bạn đọc để đánh giá giá trị của tác phẩm.

3. Cần phải đưa ra khỏi tác phẩm văn học tầm ảnh hưởng của các khách thể có khả năng làm mẫu cho các khách thể xuất hiện trong tác phẩm văn học. (Tuy vậy, bằng việc phân tích tầng bậc các khách thể được mô tả trong cấu trúc tác phẩm, Ingarden đã trả lời cho vấn đề này).

Chúng ta có thể thấy rằng việc các nhà nghiên cứu theo quan điểm Hiện tượng học loại bỏ những yếu tố tâm lí và ấn tượng tác giả ra khỏi tác phẩm văn học là để tránh cách làm của các nhà thực chứng, xã hội học và tâm lí học, đồng thời để đối lập với cách làm của Dilthey, với lối phê bình ấn tượng chủ nghĩa. Nhưng rõ ràng, việc loại bỏ này cũng “cho vào ngoặc” tất cả những yếu tố hiện thực” có từ tác phẩm. Và với việc loại bỏ mối quan hệ nhà văn – tác phẩm – bạn đọc, người ta cũng tách biệt tác phẩm ra khỏi những yếu tố hiện thực bao quanh tác phẩm: như hoàn cảnh xã hội- lịch sử, các tác động văn hoá; sự xuất thân của nhà văn v.v… nghĩa là đưa tác phẩm ra khỏi quá trình biện chứng của hiện thực, trong mọi sự liên hệ; tách nó ra khỏi tầm ảnh hưởng của hiện thực. Với cách làm này, Ingarden và các nhà Hiện tượng học muốn hiểu và lí giải tác phẩm văn học từ chính nó bằng những công cụ “nội quan”.

Vậy cái cấu trúc tầng bậc của tác phẩm văn học mà Roman Ingarden quan niệm là gì? Đó là bốn tầng bậc sau đây:

1- Tầng bậc kí hiệu ngôn ngữ

2- Tầng bậc đơn vị nghĩa

3- Tầng bậc các khách thể được mô tả

4- Tầng bậc mô thức hoá.

Trong sự phân chia các tầng bậc trên đây của R. Ingarden, điều đáng lưu ý là tác giả đã phân tích kĩ vai trò và tầm quan trọng của Tầng bậc các khách thể được mô tả mà thực chất là tầng bậc nội dung của tác phẩm văn học. Đây là tầng bậc đập vào mắt người đọc đầu tiên, vì nó mà người ta có thể quên các tầng bậc khác. Phần lớn các công trình nghiên cứu văn học mácxít chỉ quan tâm đến tầng bậc này trong tác phẩm, vì chúng liên quan đến những đối tượng hiện thực tồn tại độc lập và giống chúng, tức là chúng mang tính hiện thực. Ingarden cho rằng tính hiện thực này không thể đồng nhất hoàn toàn với tính hiện thực của các đối tượng có thật, tồn tại ở ngoài đời. Với các khách thể được tái hiện này, chúng ta có được diện mạo bên ngoài của hiện thực mà không cần phải xem nó như thật! Nhưng nhìn nhận như thế nào thì với các khách thể được mô tả, hiện thực cũng đã xâm nhập vào tác phẩm, vì thế trong mối quan hệ với hiện thực này của cấu trúc tầng bậc, Ingarden mới giải thích kĩ như vậy. Trong cái cấu trúc khép kín như Ingarden quan niệm về tác phẩm văn học, sự phản ánh phải có vấn đề, bởi vì các yếu tố bên ngoài không thể vào được. Cho nên Ingarden phải nhấn mạnh tính ý hướng của các khách thể theo quan điểm Hiện tượng học. Tuy nhiên, với sự phân tích mối quan hệ giữa tính hiện thực của các khách thể có trong tác phẩm và hiện thực khách quan, Ingarden đã vượt lên Hiện tượng học của Husserl, bởi vì ông không chỉ thừa nhận sự tồn tại của hiện thực khách quan để rồi loại bỏ nó như Husserl, mà còn thừa nhận có sự điều chỉnh cái hiện thực khách quan đó. Điều này đã là quá nhiều so với sự “cho phép” của Hiện tượng học chính thống! Sự xuất hiện các khách thể được mô tả, theo Ingarden, hầu như được các tầng bậc khác chuẩn bị và “giúp đỡ”. Các đơn vị nghĩa thực hiện một trong những chức năng quan trọng của chúng là chuyển tiếp các khách thể được mô tả, còn các cảnh tượng được mô thức hoá thì làm cho các khách thể trở nên rõ hơn. Ingarden cho rằng các khách thể được mô tả (các yếu tố nội dung) không tồn tại trong tác phẩm vì bản thân chúng, mà nhờ chúng những phẩm chất siêu hình xuất hiện, đó chính là những phẩm chất thẩm mĩ. Những phẩm chất thẩm mĩ này cùng với tư tưởng đã làm nên sự hoàn thiện của tác phẩm văn học. Tư tưởng được xây dựng trên các khách thể được mô tả, nhưng chỉ ở cấp độ đầu tiên; ở cấp độ cuối cùng thì tư tưởng xuất hiện trong mối liên kết bản chất của những tình huống đời sống được mô tả và các phẩm chất thẩm mĩ có ở đó. Theo Ingarden, không thể nắm bắt được tư tưởng bên trong tác phẩm, bởi vì tư tưởng lọt vào tác phẩm “từ ngoài”, nó được điều khiển và tạo ra từ bên ngoài, còn bên trong tác phẩm nó được hình thành từ các phẩm chất thẩm mĩ ([15]). Chính vì vậy không thể nắm bắt được tư tưởng từ bên trong, xét về mặt khái niệm.

Không phải ngẫu nhiên R. Ingarden chọn tác phẩm văn học làm đối tượng nghiên cứu để soi sáng một số vấn đề của Hiện tượng học. Do tính ý hướng không thể nghi ngờ của nó, tác phẩm văn học rất thích hợp cho việc đó. Cái mô hình mà Ingarden nói về tác phẩm văn học, xét về mặt Hiện tượng học, là phù hợp, nhưng nếu xét từ góc độ khác thì vẫn còn những điểm bất cập. Chẳng hạn ông không cho thấy sự khác biệt giữa nhà phê bình và bạn đọc bình thường, cũng không nói tới tình thế lịch sử cụ thể ở từng người đọc. Nói chung, trong phân tích cấu trúc, điểm yếu của phương pháp thường xuất phát từ chỗ nó không xem xét “mối liên hệ” giữa các cấu trúc, các tầng bậc và sự gắn kết của cấu trúc lớn với tổng thể. Hiện tượng học chỉ nghiên cứu tác phẩm văn học, như là khách thể tự thân, sản phẩm của ý thức, đã hoàn thành độc lập với những điều kiện ra đời của nó. Tuy nhiên, những phân tích có hệ thống và có phương pháp của Roman Ingarden đã mang tới cho lí luận văn học hiện đại những suy nghĩ mới. Riêng việc đặt vấn đề phương thức tồn tại của tác phẩm văn học qua sự cụ thể hoá của người đọc đã cho thấy sự tồn tại của tác phẩm không đơn giản là cái văn bản được viết ra mà còn phụ thuộc vào việc người ta tiếp nhận nó như thế nào. Việc vận dụng hiện tượng học trong nghiên cứu lí luận văn học đã lưu ý chúng ta đến mối liên kết của các yếu tố có trong văn bản văn học trước tác động của ý thức người đọc hướng tới nó. Cũng chính trên cơ sở nghiên cứu tác phẩm văn học theo Hiện tượng học, nhiều biến thể mới của Hiện tượng học xuất hiện như Chú giải học, Mĩ học tiếp nhận… Những gì mà Martin Heidegger và các đồng nghiệp của ông đã làm sau này trong Chú giải học và Mĩ học tiếp nhận là những đóng góp mới vượt lên hệ thống Hiện tượng học của Husserl trong lĩnh vực nghiên cứu lí luận tác phẩm văn học với những vấn đề cụ thể liên quan đến sự đọc và hiểu, đến nghĩa và ý nghĩa của văn bản văn học…

Thẻ

× 11

Lượt xem

595
Chat chit và chém gió
  • theoofman1093: q 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: u 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: v 5/8/2020 9:25:25 PM
  • theoofman1093: ư 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: y 5/8/2020 9:25:27 PM
  • theoofman1093: z 5/8/2020 9:25:29 PM
  • theoofman1093: tui bây ngu như pò 5/8/2020 9:25:38 PM
  • theoofman1093: è 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: sd 5/8/2020 9:47:51 PM
  • theoofman1093: f 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: sg 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: h 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: s 5/8/2020 9:47:52 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: sdg 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:53 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:54 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:55 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:56 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:57 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:58 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:47:59 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:00 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:01 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: ggg 5/8/2020 9:48:02 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:03 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: g 5/8/2020 9:48:04 PM
  • theoofman1093: gg 5/8/2020 9:48:05 PM
  • theoofman1093: gd 5/8/2020 9:48:06 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:07 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:08 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: d 5/8/2020 9:48:09 PM
  • theoofman1093: đ 5/8/2020 9:48:10 PM
  • theoofman1093: dfgfg 5/8/2020 9:48:11 PM
  • vingoc: hi mn 11/13/2020 9:28:11 PM
  • vingoc: em mới vào ạ 11/13/2020 9:28:24 PM
  • vingoc: ở đây có ai lớp 7 ko ạ? 11/13/2020 9:29:13 PM
  • duolingo: 9 3/28/2021 11:19:10 AM
  • huongmaixm01: văn lớp 9 7/2/2021 11:26:56 AM
  • minhmama357: hi 8/13/2021 4:22:39 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • minhmama357: 3 8/13/2021 4:22:50 PM
  • vipof95962: me may beo vai 11/20/2022 11:53:17 AM
  • vipof95962: wanna watch hentai 11/20/2022 11:53:47 AM
  • vipof95962: laughing 11/20/2022 11:53:49 AM
  • vipof95962: sex is good for you 11/20/2022 11:53:56 AM
  • kkkkkkkk: free fire 11/27/2022 3:22:24 PM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Đỗ Quang Chính
  • nguyenphuc423
  • Xusint
  • babylove_yourfriend_1996
  • watashitipho
  • thienthan_forever123
  • dangkhuong83
  • matanh_31121994
  • hatxihoiolala2000
  • thienhaxanh9898
  • quangtung237
  • vi_meo_2000
  • quybalamcam
  • milk_cake98
  • Phạm Anh Tuấn
  • ductoan933
  • nhile123456
  • tieuanngan
  • hoathuytien287_yt
  • hoanghuy321974
  • heocon97_cute
  • woodknight22
  • phmtho68
  • tuanhieu1997
  • trinhminhduc1998
  • nguyenducthien0197
  • babyhe0vip
  • nguyentranganh26
  • Dân Nguyễn
  • giapvancanhlls
  • Love_Chishikitori
  • sweetmilk1412
  • truongtram841
  • buiphuongok
  • judy
  • parkji99999
  • tranthiquyngoc96
  • thanhhai.dh.91
  • ckipcoi25
  • pupupun96
  • chjpchjp_xink_kut3
  • taolan96
  • sanghd099
  • phuongthanh320
  • trunghieu767
  • traitimbagza
  • lamtranghi
  • huongduong2603
  • ngondoisank
  • phuongsmile319
  • pelinh_ngocnghech_kute
  • thuylinhldb.1997
  • janiafwfg
  • huyhieu10.11.1999
  • quynhpro12351
  • pethanh01101999
  • mikako303
  • Thiên Trần
  • thuydung27689
  • oanhkaly.a9.
  • phuonganhuh
  • Vũ Lệ Quyên
  • kudo_ran19
  • phamnhung0007
  • Confusion
  • vuhoainam1412
  • Yêu Tatoo
  • oanhsu
  • Thanhtuyen
  • Duy
  • Lê Giang
  • nhan7385
  • Trần Lan Trang
  • kwonleaderkid1412
  • Đức Vỹ
  • Mình rất yêu Toán
  • Linh Lê Thùy
  • tuanhuong
  • trantrinh8a1
  • nthuthao1010
  • ngaandely
  • nguyennhung9904
  • duolingo
  • duolingo