1.
Cảnh thu trong thơ Trung đại Việt Nam
Có thể nói, Cảnh
thu là một trong những hình ảnh thiên nhiên nổi bật của bức tranh bốn mùa:
Xuân, Hạ, Thu, Đông trong thơ trung đại Việt Nam. Thiên nhiên mùa thu vừa là
nguồn cảm hứng, vừa là nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm của thi nhân, theo lẽ “tức
cảnh sinh tình”, “tả cảnh ngụ tình”. Cảnh thu trong thơ trung đại có khi được
miêu tả qua một số câu thơ trong bài tứ tuyệt, bát cú Đường luật… hoặc ở rải
rác trong truyện thơ Nôm, nhưng cũng có khi cả bài thơ hướng về một đề tài “vịnh
thu” (tả cảnh mùa thu) hoàn chỉnh… Nói về đề tài “vịnh thu” trong thơ trung đại
Việt Nam cũng có nghĩa là tìm hiểu quá trình phát triển của nó qua nhiều thế kỷ,
nhất là từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đến Nguyễn Du, và đặc biệt là Nguyễn
Khuyến. Bởi vì, ban đầu các nhà thơ Việt Nam “vịnh thu” cũng giống như tả cảnh
mùa xuân, mùa hạ, mùa đông- thường thiên về sử dụng những hình ảnh có sẵn trong
nguồn thơ Đường (Trung Quốc) và mang tính ước lệ, tượng trưng. Nhưng qua một thời
gian dài, đề tài này đã đạt đến độ chín, vừa dễ hiểu, trong sáng, vừa gần gũi với
thực tế thiên nhiên mùa thu Việt Nam. 1. Đề tài “vịnh thu” trong thơ trung đại
Việt Nam trước thế kỷ XIX Trong mối quan hệ ảnh hưởng của văn học trung đại
Trung Quốc đối với văn học trung đại nước ta, thì thơ “vịnh thu” Việt Nam cũng
có sự ảnh hưởng và học hỏi thơ Đường - một trong những đỉnh cao của thơ ca nhân
loại - cũng là điều tất nhiên. Cảnh thu có trong thơ Trung Quốc, được thể hiện
qua hình ảnh: lá đỏ, rừng phong, tuyết đưa hơi lạnh, chày đập vải, cây ngô đồng...
đã “du nhập” vào thơ thu Việt Nam, ở cả chữ Hán và chữ Nôm. Bắt nguồn cảm hứng
từ một đêm thu đất nước, trong bài “Thu dạ dữ Hoàng giang Nguyễn Nhược thuỷ đồng
phú” (Đêm thu cùng ngâm với Hoàng giang Nguyễn Nhược-thuỷ), Nguyễn Trãi viết: Hồng
diệp đôi đình trúc ủng môn, Mãn giai minh nguyệt quá hoàng hôn. Cửu tiêu thanh
lộ tam canh thấp, Tứ bích hàn cùng triệt dạ huyên. Thiên lại ngữ thu kinh thảo
mộc, Ngọc thằng đê Hán chuyển càn khôn... (Lá đỏ chồng ở sân, trúc ôm lấy cửa,
Đầy thềm trăng sáng quá lúc chạng vạng rồi. Móc trong chín tầng mây thấm ướt ba
canh, Dế lạnh ở bốn vách kêu ran suốt đêm. Tiếng sáo trời báo tin thu khiến cây
cỏ kinh động, Sao Ngọc thằng xuống thấp ở Ngân hà, càn khôn chuyển vần...)(1).
Lá đỏ (hồng diệp) trong câu thơ trên là lá cây phong, thường có ở Trung Quốc,
vào giữa tiết thu nên ngả dần thành mầu đỏ tía. Còn trúc ôm lấy cửa, đầy thềm
trăng sáng, khí thu lạnh nên “móc… thấm ướt ba canh” là những nét hiện thực thường
thấy vào dịp cuối thu ở vùng rừng núi miền Bắc nước ta. Tiếng dế kêu, tiếng sáo
trời, càn khôn chuyển vần là những âm thanh mùa thu có phần yên ả hơn, sau những
tháng xáo động mạnh mẽ của sấm sét, mây mưa mùa hè. Và những âm thanh ấy được gợi
lên từ cảm quan tinh tế, hàm chứa nhiều ý nghĩa nhân sinh của một nhà thơ lớn.
Chất liệu tạo nên cảnh thu ở đây phần lớn vẫn được lấy từ cảnh vật và thời tiết
Việt Nam, nhưng ngay ở câu đầu, chữ đầu của bài thơ vẫn mang tính ước lệ, tượng
trưng, vay mượn cảnh thu trong thơ Trung Quốc.
Vẫn chưa thoát
khỏi công thức, ước lệ, tượng trưng, trong bài Thôn xá thu châm (Tiếng châm mùa
thu ở thôn xóm) của Nguyễn Trãi, hình ảnh chính vẫn là hòn đá (châm) để đập vải
và giặt, với tiếng chày nện thình thình và nỗi buồn biệt ly của người chinh phụ
có chồng ngoài quan ải xa xôi. Là vùng thôn dã đang độ thu về mà cảnh thiên
nhiên mùa thu chỉ được biết qua vài nét chung chung như khắp sông đâu đấy… Và
người chinh phụ oán vì nỗi biệt ly tình, chẳng rõ ở thời nào, nơi nào? Bài này
chỉ có 4 câu, được dịch thành thơ như sau: Khắp sông đâu đấy nện thình thình, Đất
khách trăng khuya bỗng giật mình. Quan ải mịt mù chinh phụ oán, Tiếng thu thảy
gửi biệt ly tình. Đến Hồng Đức quốc âm thi tập gồm 328 bài thơ Nôm, ra đời cuối
thế kỷ XV, khi văn học dân tộc được viết bằng chữ Nôm đã phát triển khá mạnh,
thế mà thơ tả cảnh thu (trong mục Thiên địa môn) cũng chưa thực sự gắn với sắc
màu cụ thể của thiên nhiên Việt Nam, vẫn còn chung chung, mơ hồ như là tả cảnh
vật ở đâu đó. Chẳng hạn như bài thơ sau đây: Lác đác ngô đồng mấy lá bay, Tin
thu hiu hắt lọt hơi may. Ngàn kia cách nước so le địch, Mái nọ bên đường đủng đỉnh
chày. Lau chổng bãi Nam ngàn dặm rợp, Nhạn về ải Bắc mấy hàng bay. Quí Ưng, Tống
Ngọc dường bao nữa, Khi ấy nhiều người cám cảnh thay. Là người Việt Nam, làm
thơ tả cảnh thu tại quê hương mình, được viết bằng tiếng dân tộc mình thì không
ít những hình ảnh cụ thể mang mầu sắc Việt Nam có thể dùng, thế mà cứ phải lặp
lại những “mô típ” người nước ngoài và nhiều người trong nước đã viết, đến sáo
mòn như lá ngô đồng, đủng đỉnh chày, nhạn về ải Bắc, Quý Ưng, Tống Ngọc từ đời
nào bên Trung Quốc! Phải chăng trong một thời gian dài, cách dạy và học theo lối
giáo điều, khuôn sáo của nhà trường phong kiến đã hạn chế sự linh hoạt, sáng tạo
của các nhà thơ trung đại, xuất thân từ các nhà nho? Nhà thơ - nhà phê bình văn
học Xuân Diệu có lời khen bài Mùa thu của Ngô Chi Lan, một nữ sĩ dưới thời Lê
Thánh Tông là “một bước tiến của thơ”, “lời văn ở đây đã trong sáng, liền, thoải
mái, không vất vả, không gợn, và có nhạc điệu”, đồng thời ông cũng chỉ ra hạn
chế có tính cố hữu của các nhà thơ ở giai đoạn này: “Còn thì vẫn các yếu tố ước
lệ: Gió vàng, bóng nhạn, giếng ngọc, rừng phong”(2). Bài thơ Nôm có nhan đề Mùa
thu thể hiện rõ chủ ý của Ngô Chi Lan là dành trọn cho việc tả cảnh thu, đã được
Xuân Diệu nhận xét ở trên, gồm bốn câu: Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ, Lẻ tẻ
bên trời bóng nhạn thưa. Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm, Rừng phong lá rụng
tiếng như mưa. (Hồng Đức quốc âm thi tập) Những thế kỷ XVI-XVIII tiếp theo, các
nhà thơ trung đại Việt Nam tuy ít sử dụng những hình ảnh mang tính công thức, ước
lệ khi tả cảnh thu, nhưng vẫn còn hạn chế ở sự thiếu sáng tạo hình ảnh và chưa
thể hiện rõ nét riêng, độc đáo trong mỗi nhà thơ. Bài thơ Thu tứ của Nguyễn Bỉnh
Khiêm có hình ảnh mây, nhạn, trăng: Vân biên nhạn quá hồn vô số,
Thiên thượng
nguyệt minh ứng hữu kỳ. (Tầng mây đàn nhạn bay qua, Trời quang, trăng sáng như
là hẹn nhau). (Ý thu - bản dịch của Hoàng Việt thi văn tuyển) Trong Chinh phụ
ngâm, khi nói về sự lạnh lẽo, cô đơn của người vợ có chồng đi chinh chiến, nhất
là ở những đêm thu, tác giả viết: Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc, Một hàng
tiêu gió thốc ngoài hiên. Bài thơ Thu dạ I của Nguyễn Du cũng có sao sáng, tiếng
dế kêu não nề trong đêm lạnh: Phiền tinh lịch lịch lộ như ngân, Đông bích hàn
trùng bi cánh tân. (Sao vàng lấp lánh ánh sương dầy, Dế khóc tường đông giọng đắng
cay). (Quách Tấn dịch) Trong Ngẫu hứng I, Nguyễn Du cũng tả trăng sáng và gió lạnh
mùa thu: Minh nguyệt mãn thiên hà cố cố, Tây phong xuy ngã chính thê thê.
(Trăng sáng trời cao vằng vặc thế, Gió tây ta quá lạnh lùng thôi) (Đào Duy Anh
dịch ) Trước Nguyễn Du, nhưng sau Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều viết: Trải
vách quế gió vàng hiu hắt, Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng. (Cung oán ngâm khúc)
Đến Thu dạ II,
Nguyễn Du vẫn không có gì mới: Vạn lý thu thanh thôi lạc diệp, Nhất thiên hàn sắc
tảo phù vân. (Muôn dặm tiếng thu dồn lá rụng, Đầy trời sắc lạnh quét mây bay)
(Quách Tấn dịch) Điểm lại một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của thơ trung đại
Việt Nam viết về mùa thu, chúng ta thấy rõ những hạn chế trong bút pháp miêu tả,
ở cả thơ chữ Hán và chữ Nôm là thiên về sách vở, ước lệ, tượng trưng, chung
chung, thiếu tính hiện thực, sinh động, cụ thể và chưa có được nét riêng biệt,
độc đáo ở mỗi nhà thơ. Nhưng đến Nguyễn Khuyến (1835-1909), với ba bài thơ thu
nổi tiếng, thì những ưu điểm trong bút pháp miêu tả của ông sáng rỡ lên như một
dấu son tươi mới. Theo Bùi Văn Nguyên, đó là “thành công tốt đẹp của quá trình
dân tộc hoá nội dung mùa thu cho thật là thu Việt Nam..., và dân tộc hoá hình
thức lời thơ, câu thơ cho thật là Nôm, là Việt Nam”(3)... của Tam nguyên Yên Đổ.
2. Nguyễn Khuyến với chùm thơ Thu
điếu, Thu vịnh, Thu ẩm Nguyễn Khuyến, bằng tài năng của mình, đã đưa thơ Việt
Nam phát triển lên một bước mới, đặc biệt là đến gần với hiện thực, cụ thể và
sinh động hơn trong bút pháp miêu tả. Thiên nhiên làng quê trong thơ Yên Đổ đến
với độc giả bằng tất cả vẻ đẹp giản dị, thanh sơ mà vẫn có được những nét hấp dẫn
riêng của nó. Trong số rất nhiều bài thơ tả cảnh thiên nhiên của Nguyễn Khuyến,
có ba bài thơ đã luôn toả ra thứ ánh sáng êm dịu và trong trẻo, làm say đắm
lòng người. Thiên nhiên bao la của những ngày thu muộn, có ao nước trong veo
lóng lánh bóng trăng, có đom đóm “lập loè ngõ tối” đã tạo nên ba bức tranh đặc
sắc về cảnh thu Việt Nam ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong cuốn Văn học Việt Nam
(Nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX), Nguyễn Lộc nhận định: ''Nói về thiên
nhiên, trong văn học cổ có rất nhiều, tả cái đẹp của thiên nhiên mùa thu trong
văn học cổ rất hay. Nhưng trước Nguyễn Khuyến, chưa bao giờ có một thiên nhiên
nào đậm đà phong vị của đất nước quê hương đến thế''(4). Xuân Diệu cũng đã từng
nhận xét: ''Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm,
mà trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu điếu,
Thu ẩm, Thu vịnh''. Ba bài thơ này được nhân dân ghi nhớ và truyền tụng bởi mùa
thu của miền Bắc nước ta được miêu tả rất sinh động, sát thực, chứ không phải
mùa thu mượn ở nơi khác. Tiêu biểu cho thu Việt Nam phải nói đến Thu điếu. Đọc
bài thơ, chúng ta có thể tưởng tượng ra trước mắt một bức tranh thuỷ mặc, có bối
cảnh xa, gần thật sống động. Khung cảnh thu được gói vào trong một không gian hẹp,
chiếc ao thu be bé, xinh xắn, chiếc thuyền câu cũng bé tẻo teo. Nguyễn Khuyến
dường như hoá thân thành một nhà quay phim tài ba bậc nhất: Tầm nhìn của ông
như chiếc máy quay, lúc phóng lên cao, khi vụt xuống thấp, bao quát cả không
gian mùa thu. Làn nước trong veo làm nổi bật chiếc thuyền câu nhỏ nhắn. Cả
khung cảnh ấy làm phông duy nhất cho một chiếc lá thu vàng rơi trước gió. Chữ
vèo gợi tả dáng thanh mảnh của chiếc lá thu bay. Tuy nhỏ bé nhưng dường như nó
có sức thu cả đất trời vào mình. Khí thu làm cho ao thu lạnh, nhưng cái lạnh lẽo
ấy không đáng để người ta sợ hãi và chạy trốn. Trái lại, nó khơi nguồn hứng khởi
cho con người ngắm cảnh thu, yêu thu hơn. Bài thơ xinh xắn đã mở ra trước mắt
chúng ta cảnh vật thiên nhiên nơi làng quê: Đây là từng gợn lăn tăn của dòng nước
xanh biếc; kia là chiếc lá vàng khẽ rơi làm duyên cùng làn gió nhẹ; ngước mắt
lên nhìn là bầu trời xanh ngắt, rộng lớn, không hề vẩn tạp, cao vời vợi, sâu
thăm thẳm trong không gian đa chiều. Ngõ trúc là một hình ảnh rất đặc trưng cho
cảnh làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Yêu thay dáng trúc thẳng thắn với tán lá
xanh biếc như bầu trời thu kia. Đâu dễ có được hình ảnh thơ thuần Việt tuyệt đối
ấy nếu không có một tình yêu quê hương đằm thắm thiết tha đến vô cùng, cộng với
ngòi bút tả thực tài hoa của tác giả! Quan sát, miêu tả cảnh thu có chiều sâu,
từ gần đến xa, từ xa đến gần trong Thu điếu thật là sinh động và tinh tế! Các từ
láy lạnh lẽo, tẻo teo, lơ lửng vừa gợi cảm, gợi hình, rất xác thực, sinh động
và gần gũi. Ngồi trên chiếc thuyền bé tẻo teo ấy, nhà thơ cũng trở nên bé nhỏ,
cô đơn trong khoảng không gian giữa mặt nước và bầu trời. Trước thời cuộc đảo
điên, vận nước đen tối, một ông quan thanh liêm đã về vườn liệu có thể làm gì
cho dân cho nước? Chưa thể “đắp tai, cài trốc”, “ngoảnh mặt làm ngơ” vì còn
chút lo đời, nhà thơ muốn gửi gắm tâm sự của mình vào cảnh thu để bớt đi nỗi buồn
vì bất lực. Song, thiên nhiên làng quê mộc mạc, thân thiết ấy lại càng làm cho
ông cảm thấy day dứt về trách nhiệm của bản thân. Khát vọng phục vụ quê hương
không thành cũng giống như việc câu cá không được, ông chưa đủ kiên nhẫn để ngồi
chờ, vì không còn cách nào khác để giải toả niềm u uẩn của mình. Nỗi trống vắng
không cùng khiến nhà thơ nghe được
tiếng cá đớp mồi thật nhỏ - âm thanh duy nhất trong khung cảnh thu tĩnh lặng.
Nhờ có âm thanh ấy, cảnh thu sống động hơn và đủ để đánh thức thi sĩ trở về với
thực tại, sau những suy ngẫm mơ màng. Có thể nói, sự xuất hiện bất ngờ của một
âm thanh trong khung cảnh tĩnh lặng ấy, là nét sắc sảo và tinh tế trong nghệ
thuật tả cảnh của nhà thơ. Nếu tiếng chó nhỏ bên ao cắn tiếng người (Đến chơi
nhà bác Đặng - Nguyễn Khuyến) làm cho buổi trưa hè ở làng quê trở nên có sức sống
hơn, thì ở đây cá đâu đớp động dưới chân bèo (Thu điếu) lại chứa đựng một âm
thanh đa nghĩa, vừa cô đơn, vừa bất lực... Cũng trong mạch cảm xúc ấy, Nguyễn
Khuyến đã đưa cái thần của cảnh thu Việt Nam vào bài Thu vịnh. Cái thanh thoát
nhẹ nhõm, cái cao vời vợi của không gian được gói gọn trong bầu trời thu xanh
ngắt kia. Điểm nhấn trên nền trời ấy là cần trúc - Một sự tạo hình trong không
gian thật cụ thể. Cây trúc còn non trông yếu ớt, mong manh, khi có làn gió thu
hiu hiu thổi nhẹ, giống như chiếc cần câu nghiêng bóng xuống mặt ao, đu đưa trước
gió. Đường nét cong cong của thân cây, mầu xanh biếc của lá cây như điểm xuyết
cho bầu trời thu thêm trong sáng, gợi bao nỗi niềm cho người ngắm cảnh. Cần
trúc là nét đặc tả hồn thu Việt Nam và trong mối liên hệ hoà hợp với trời thu,
ao thu đã tạo nên hình ảnh đặc trưng cho mùa thu đất Việt. Chùm hoa xuất hiện
trong Thu vịnh đưa hương thơm ngạt ngào từ quá khứ bay đến hiện tại bằng trí tưởng
tượng của chính nhà thơ. Tiếng ngỗng vọng tưởng kêu vang trong bầu trời như bứt
tâm hồn nhà thơ về với thực tại. Âm thanh ấy vang xa sao mà xa lạ thế, bởi đó
đâu phải ngỗng quê hương. Nỗi đau của người dân mất nước càng thấm thía hơn
trong đêm thu vắng vẻ. Ở hai câu cuối, Nguyễn Khuyến bộc lộ lòng mình, ông thấy
thẹn thùng với Đào Tiềm - thi sĩ nổi tiếng ở Trung Quốc đã sớm từ quan về ở ẩn
trước cuộc đời ô trọc. Ông tiếc rằng mình không từ bỏ quan trường sớm như Đào
Uyên Minh xưa kia. Cái thẹn trong lời kết ở Thu vịnh càng khiến nhân cách của
Nguyễn Khuyến thêm sáng đẹp. Đứng trước thiên nhiên kỳ diệu ấy, tâm hồn con người
như được “soi” bằng thứ ánh sáng tinh khiết để nhân cách được bộc lộ dễ dàng
hơn. Qua cảnh vật mùa thu, Nguyễn Khuyến đến với chúng ta thật hơn, gần gũi hơn
nhiều. Đến với Thu ẩm, chúng ta cũng không thấy những hình ảnh ước lệ, tượng
trưng, văn hoa, sang trọng như "rèm châu, lầu ngọc, chén vàng" mà
thay vào đó là sự bình dân, thanh sơ và giản dị, với Năm gian nhà cỏ thấp le te
- Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè. Hình ảnh ngôi nhà, vừa là tả thực, vừa khái quát
tầm vóc của một làng quê vùng đồng chiêm trũng. Từ láy le te đã khắc hoạ hình
dáng của ngôi nhà cỏ trong không gian, nó là nơi thu hút, hội tụ sự ấm áp, dung
dị của đời sống nông thôn đất Việt. Đối lập với những "lầu son, gác
tía", "lồng ngọc, rèm châu" xa lạ, ngôi nhà cỏ như đang nâng đỡ
trên mình một giá trị văn hoá đáng quý. Yêu quê hương, yêu đất nước, yêu cảnh
thu, yêu con người, Nguyễn Khuyến với hình ảnh thơ mộc mạc ấy đã đặt mốc cho
quá trình phát triển nội dung thơ dân tộc. Quả thực, hình ảnh ngôi nhà cỏ đã
đem đến cái nhìn khác hẳn so với câu thơ ước lệ về sự phù hoa: Bên hoa triệu ngọc
ngồi ngơ ngẩn - Dưới nguyệt rèm châu đứng thẩn thơ (Thu ngâm - Nữ sĩ Ni Tần).
Dù sao, năm gian nhà cỏ ấy mới là thực của ta, đẹp với những gì giản dị, mộc mạc
mà ta có. Nhiều ý kiến khẳng định rằng, cảnh thu trong Thu vịnh không chỉ được
miêu tả về một thời điểm nhất định, mà là trong nhiều thời điểm, có tính khái
quát về mùa thu Việt Nam. Hình ảnh đóm lập loè trong đêm sâu, ngõ tối được hiện
lên thật dung dị và gần gũi với thôn quê thời thực dân nửa phong kiến cuối thế
kỷ XIX. Cuộc sống hiện đại ngày nay ít thấy xuất hiện loài đom đóm. Nhưng bắt gặp
hình ảnh con đom đóm nhỏ bé trong thơ Nguyễn Khuyến, mỗi chúng ta lại thấy tràn
ngập tâm hồn thứ ánh sáng của đồng nội. Tuy yếu ớt, nhưng nó có thể làm sáng
tâm hồn con người hơn là thứ ánh sáng rực rỡ của đèn lồng - một hình ảnh mượn của
thơ Trung Quốc. Ánh sáng đom đóm đẹp hơn, lung linh hơn nhiều lần khi được Nguyễn
Khuyến nâng niu và trân trọng. Hình ảnh thơ ở đây không có "lời vàng, ý ngọc"
nhưng lại đem đến sức rung động mãnh liệt cho con người. Đâu phải ngẫu nhiên,
quần chúng nhân dân lại yêu thích và thuộc ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến,
như chúng ta đã biết. Hình ảnh mầu khói nhạt, bóng trăng loe gợi lên vẻ đẹp huyền
ảo của đêm thu đất Việt. Trong cuộc sống dung dị đời thường, với con mắt tinh tế,
Nguyễn Khuyến đã thu vào góc nhìn của mình cảnh tượng mĩ lệ của thiên nhiên:
Ánh trăng trên trời giao hoà với mặt nước dưới đất, khiến trời thu, đất thu hoà
nhập vào một. Hơn ai hết, Nguyễn Khuyến hiểu rằng sống thực với thiên nhiên, để
tâm đến nó thì thiên nhiên cũng đâu nỡ phụ người. Dù thanh sơ, nhưng cảnh thu
Việt Nam vẫn có những nét hấp dẫn riêng của nó. Và cảnh thu ấy lại gợi lên những
nỗi niềm sâu kín của nhà thơ: Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt - Mắt lão không vầy
cũng đỏ hoe (Thu ẩm)... Phải chăng do uống rượu nhiều nên mắt nhà thơ bị đỏ?
Không! Nguyễn Khuyến đã nói: Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy cơ mà! Đúng là
cụ Tam nguyên đã khóc! Nỗi thương nước, thương dân luôn thường trực, nhưng chưa
làm được gì trong thời buổi ấy, vì bất lực, đó là nỗi lòng của Nguyễn Khuyến.
Và từ nguồn mạch sâu kín ấy, nước mắt nhà thơ đã trào ra trong một lần uống rượu,
trước cảnh thu. Quá trình hàng trăm năm gọt giũa, phát triển, đề tài "vịnh
thu" đã thành công khi bắt gặp ngòi bút tài hoa của Nguyễn Khuyến vào giai
đoạn nửa cuối thế kỷ XIX. Giá trị của Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm đã chứng minh
điều đó. Trước khi kết thúc bài viết này, xin nhắc lại nhận định của Xuân Diệu
về những tuyệt tác của cụ Tam nguyên Yên Đổ trong tiến trình thơ trung đại Việt
Nam, về đề tài tả cảnh thu: "Ba bài thời thu của Nguyễn Khuyến, nhìn gộp lại,
là thành công tốt đẹp của quá trình dân tộc hoá nội dung mùa thu cho thật là
thu Việt Nam, trên đất nước ta, và dân tộc hoá hình thức lời thơ, câu thơ cho
thật là nôm; mà ở đây, dân tộc hoá cũng thống nhất với quần chúng hoá”(5)
(Sưu tầm)