Tham khảo bài này em nhé!
1. Khổ 1
* Tô đậm thêm phong vị cổ điển của bài Tràng giang. Bên cạnh vẻ đẹp cổ điển là nét hiện đại cua thơ mới (thể hiện ở câu cuối). Cảnh buồn vì được cảm nhận qua tâm trạng buồn.
- Phong vị cổ điển và vẻ đẹp hiện đại.
+ Câu thơ đầu phảng phất phong vị cổ điển vì nói gợi nhớ đến câu ca dao xưa:
Sóng bao nhiêu gợn dạ sầu bấy nhiều
Bên cạnh đó nó còn phảng phất ý thơ của người xưa:
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ
Bất tận trường giang cổn cổn lai
(Đăng cao – Đỗ Phủ)
(Rào rào lá trút rừng cây thẳm
Cuồn cuộn sông về sóng nước tuôn)
- Đây không phải là sự bắt chước một cách mô phạm mà là sự thẩm thấu của hồn thơ. Như chúng ta đã biết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Huy Cận đã say mê những câu thơ Đường và âm hưởng thơ Đường đã ảnh hưởng đến hồn thơ HC một cách tự nhiên. Nếu câu thơ của Đỗ Phủ đối xứng trong sự đối chọi, thì đối xứng trong thơ HC là đối xứng của sự tương đồng. Cả hai nhà thơ đều sự dụng từ láy. Trong thơ ĐP thì là từ “tiêu tiêu” và thơ HC “điệp điệp”. Tuy nhiên từ láy ĐP dùng ở giữa câu thơ, còn HC dùng cuối câu thơ, tạo nên dư âm.
- Câu 2 cũng gợi nên sự cổ điển, vì h/a con thuyền xuôi mái nước song song gợi lên vẻ đẹp nhẹ nhàng, tỉnh lặng, như một nét vẻ trong bức tranh thủy mặc.
- Hai câu đầu bản thân cảnh không buồn, nhưng chính cái buồn của lòng người đã lan tỏ sang cảnh vật. Điều đó được thể hiện qua hệ thống từ ngữ: “buồn điệp điệp”. Từ láy “điệp điệp” vừa gợi hình lại vừa gợi cảm. Hai từ gợi lên h/a những làn sau nhấp nhô liên tiếp trên dòng sông và nỗi buồn của tác giả cũng như đang lan tỏ trên sóng nước. HC từng tâm sự: “Nhìn dòng sông lớn gợn những lớp sóng, tôi cảm thấy nỗi buồn của mình cũng đang trải ra như lớp sóng”.
Về hình ảnh: trong câu thơ: “Sóng gợn...” dường như có hai con sóng, sóng nước và sóng lòng. “Sóng gợn tràng giang” là sóng nước, còn sóng “buồn điệp điệp” là sóng lòng. Hai con sóng hòa quyện vào nhau. Nhạc sóng và nhạc lòng cùng vỗ vào nhau tạo thành một dòng sông sóng nước và một dòng tâm trạng vỗ vào nhau chảy suốt cả bài.
Hình ảnh thơ còn gợi lên sự mênh mông, vắng lặng. Những con thuyền lười biếng xuôi theo dòng nước, không còn nghe tiếng sóng vỗ mái chèo.
Hình ảnh thơ còn gợi lên sự chia lìa: “thuyền về” – “nước lại”
Hình ảnh còn gợi lên sự nhỏ bé chơ vơ, thông qua chi tiết: “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Đây là một câu thơ hay, giàu ý nghĩa.
Nếu ba câu trên mang phong vị cổ điển thì câu cuối mang vẻ đẹp hiện đại vì nếu như thô xưa khi miêu tả thiên nhiên thường chọn những hình ảnh tao nhã, mĩ lệ còn ở đây tác giả lại đưa một chi tiết hết sức chân thực, thô ráp của đời sống.
Ở đây tác giả sử dụng thành công biện pháp đối lập giữa “củi một cành/ khô” – “mấy dòng”, gợi sự nhỏ bé chơ vơ và khiến ta liên tưởng đến sự đối lập giữa những sô phận nhỏ bé với dòng đời xuôi ngược.
Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng nghệ thuật đảo ngữ, tăng tiến “củi – một – cành – khô – lạc – mấy dòng”. Một câu thơ 7 chữ vỡ ra thành 6 mảnh cô đơn.
Việc dùng từ của tác giả cũng đáng chú ý. Tại sao dùng “củi” mà không dùng “cây”, dùng “một” mà không dùng ‘vài”, dùng “cành” mà không dùng “thân”, tại sao dùng “khô” mà không dùng “tươi”? Dùng “củi” để nói lên trạng thái khô héo sự cô đơn, dùng “một” để tô đấm sự đơn chiếc, dùng “cành” để nói lên sự nhỏ bé, dùng “khô” để khẳng định sự khô héo.
Tại sao lại dùng một cành củi khô mà không dùng cánh bèo trôi dạt? Vì néo dùng h/a cánh bèo thì chỉ diễn tả được cái trôi dạt nhỏ bé mà không diễn tả được sự khô héo, đau thương.
=> Tâm trạng cô đơn của HC đã tìm được h/a tương đồng để thể hiện.
2. Khổ 2
* So với khổ 1 cảnh có thêm đất, thêm người nhưng không vì thế mà hết buồn, hết cô đơn, thậm chí nó còn buồn hơn vì sự tàn tạ, vắn vẻ, mênh mông, rợn ngợp.
Cảnh thêm đất thêm người nhưng càng buồn hơn thể hiện rõ trong hai câu thơ đầu.
- Giữa mênh mông sông nước có thêm cồn cát. Cồn cát đã nhỏ lại còn lơ thơ. Hai từ “lơ thơ” có thể được hiểu theo hai nghĩa về cảnh.
+ Thứ nhất là cồn cat nhiều nhưng nhỏ nên lơ thơ.Thứ hai trên cồn cát ấy cây cỏ lơ thơ. Dù hiểu theo cách nào thì hai chữ lơ thơ cũng gợi sự thưa thớt vắng vẻ. Trên cồn cát ấy có gió nhưng đó là ngọn gió đìu hiu. Hai chữ đìu hiu gợi lên tâm trạng con người. Hai chữ này HC đã lấy từ Chinh phụ ngâm nói về cảnh chiến trường thê lương, ẩm đạm:
“Non Kì....treo
Gió Phì...mấy gò”
=> Cảnh ở đây không chỉ buồn mà còn gợi sự thê lương.
- Cảnh sông nước có thêm người: “Đâu tiếng làng xa..”
+ Chữ “đâu” có thể hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất là đâu có/ làm gì có tiếng chợ chiều. Thứ hai đâu đó có tiếng chợ chiều từ làng xa vẳng lại, đây là nghệ thuật lấy động tả tỉnh, âm thanh nhỏ như thế mà còn nghe thấy chứng tỏ không gian rất im lặng.
+ Không gian đã thế, thời gian lại “vãn chợ chiều”. Nỗi buồn chợ chiều cộng hưởng với nỗi buồn của chợ tàn lại buồn hơn (liên hệ Hai đứa trẻ, Bên kia sông đuống)
=>Cảnh có thêm đất thêm người mà lại buồn hơn.
- Hai câu cuối, cảnh còn gợi nên sự mênh mông, rợn ngợp, thể hiện nỗi sầu vũ trụ của thơ HC:
Nắng xuống trời lên sâu...
Sông dài trời rộng .....
+ Không gian được mở ra theo nhiều chiều, có nắng xuống, trời lên ở phía trên và “sông dài, trời rộng” ở phía dưới. Tác giả đã kiến tạo một không gian ba chiều thông qua cách dùng từ độc đáo: “sâu chót vót”. “Chót vót” chỉ dùng để chỉ độ cao ở đây tác giả lại kết hợp với từ sâu. Cảm giác sâu chót vót là có thật vì khi tác giả nhìn dòng sông thấy bầu trời dưới đáy sông sâu. Từ cách viết này không gian được mở rộng đến hai lần: vừa có chiều cao của chót vót, có cả chiều sâu của bầu trời dưới đáy sông sâu. Nó khiến cho chúng ta càng có cảm giác rợ ngợp và con người trở nên nhỏ bé.
+ “Nắng xuống/ trời lên” tương ứng với “sông dài/trời rộng”. Dài và rộng vốn là tính từ bị động từ hóa mang tính chất của đông từ vì nó bị chi phối bởi hai động từ lên/xuống ở câu trên. Và khi hai tính từ dài/rộng mang t/c của động từ thì ta có cảm nhận sông đã dài lại càng dài thêm, trời đã rộng càng rộng thêm, vì vậy không gian càng được mở rộng.
- Câu thơ cuối còn độc đáo ở cách ngắt nhịp: “Sông dài, trời rộng/bến cô liu”. Tạo nên sự tương phản giữa cái rộng lớn với cái cô đơn, nhỏ bé. Bên cạnh đó câu thơ còn nhắc lại ý thơ của câu thơ đề từ: Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài. Đúng như XD đã nhận xét: “HC quá cảm nghe cái mênh mông, thì giọng thơ của người cũng lây cái sầu của vũ trụ. Linh hồn của HC cũng là linh hồn của trời đất.”
Khổ 3: Cảnh có màu sắc tươi tắn hơn nhưng càng buồn hơn.Cảnh mông mông vắng lặng, được thể hiện qua nghệ thuật phủ định kép: “không cầu”/ “không cầu”.
- Cảnh có màu sắc tươi tắn hơn nhưng không vui hơn mà lại càng buồn hơn:
Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Có sự xuất hiện màu xanh của cánh bèo trên mặt nước, màu xanh, bãi vàng của ngô lúa bên sông.
Tuy nhiên hình ảnh những cánh bèo “hàng nối hàng” gợi sự đông đúc mà không hề đông vui. Xưa nay thơ văn thường dùng cánh bèo để làm biểu tượng cho những thân phận nhỏ bé, trôi nỗi. Qua cảm nhận của HC cánh bèo cũng trở thành biểu tượng cho những thân phận bé nhỏ, lạc loài không biết đi đâu về đâu.
Bên cạnh đó biện pháp đảo ngữ đưa hai từ “lặng lẽ” lên đầu câu không chỉ có tác dụng nhấn mạnh trạng thái của sự vật mà còn khiến người đọc hình dung ra các sự vật ở đây dường như không có sự quan hệ nào dù ở rất gần nhau.
- Sang câu thơ thứ 3 sự mênh mông vắng lặng của cảnh còn tiếp tục được tô đậm qua hai lần phủ định: “không đò” ...“không cầu”. Xưa hình ảnh cây cầu, con đò trên dòng sông thường tạo cảm giác gần gũi, thân thuộc vì nó xóa đi không gian xa cách, xóa đi những khoảng trời li biệt, tạo nên tình cảm quê hương do dòng sông tạo ra. Vậy mà trong bài thơ Tràng giang, chỉ có một dòng sông mênh mông sóng nước, không một cây cầu, không một con đò trôi trên sông, dòng sông không gợi nên hình ảnh con người, không gợi nên sự giao lưu gần gũi, chỉ có một không gian vắng lặng và cô đơn. Nếu như trong bài thơ “Đây mùa thu tới” XD viết:
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò.
Ta đã cảm thấy buồn vì những chuyến đò vắng khách thì ở bài Trang giang ta càng có cảm giác buồn hơn vì còn không thấy bóng dáng của một con đò.
Như vậy ở khổ thơ này ta thêm một cảm nhận sự mênh mông vắng lặng của không gian qua nghệ thuật hai lần phủ định và qua cảnh ấy ta cảm nhận sâu sắc hơn nỗi buồn của HC trong bài Trang giang.
Khổ cuối:
Khổ này đã kết tinh nội dung và nghệ thuật của bài thơ. Về nội dung khổ thơ này đã nỗi sầu vũ trụ cả nỗi buồn nhớ quê hương của tác giả. Về nghệ thuật, khổ thơ này thể hiện thành công nghệ thuật đối lập tương phản, kết hợp giữa màu sắc cổ điển và hiện đại.
- Hai câu đầu: Cảnh vừa mang vẻ đẹp cổ điển đồng thời cũng phảng phất màu sắc hiện đại. Màu sắc cổ điển được thể hiện ở hình ảnh cánh chim trong hoàng hôn:
Lớp lớp..
Chim nghiêng cánh nhỏ
Khi miêu tả hình ảnh cánh chim trong trời chiều là tác giả đã sử dụng bút pháp ước lệ của thơ xưa. Nó gợi nhớ đến câu ca dao:
Chim bay về núi tối rồi
Hay
Chim hôm thoi thót về rừng
Đóa trà mi đã ngậm trăng nữa vành
(Truyện Kiều)
Tuy nhiên hình ảnh cánh chim trong hoàng hôn lại mang tâm trạng của nhà thơ mới. Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng thành công biện pháp đối lập giữa một bên là h/a những lớp mấy đùn núi bạc hùng vĩ đối lập với một cánh chim nghiêng trong trời chiều bé nhỏ. Hình ản thơ khiến chúng ta liên tương tới câu thơ của nhà thơ Vương Bột đời Đường.
“Lạc hà dữ cô lộ tề phi,
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc”
(Ráng chiều với cánh cò cô độc đang bay
Làn nước thu với bầu trời mênh mông một màu)
Cánh chim không chỉ trĩu nặng nắng chiều mà dường như còn chở đầy tâm trạng của tác giả. Bản thân tác giả từng tâm sự: “Cánh chim bay liệng tuy gợi sự ấm cúng cho cảnh vật, nhưng nhỏ bé quá và nỗi buồn đến đây càng da diết trong thương nhớ”. Và nỗi buồn càng thể hiện rõ hơn trong hai câu cuối
- Hai câu cuối: Vừa mang phong vị cổ điển vừa trực tiếp nói lên tâm trạng buồn nhớ quê hương.
Đọc hai câu thơ cuối ta nhớ tới ý thơ của nhà thơ Thôi Hiệu:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)
Hai câu thơ này được coi là những câu thơ hay nhất nói về nỗi buồn của những người con xa xứ. Láy lại ý thơ của người xưa, HC dường như neo cái nỗi buồn của lòng mình vào câu thơ xưa, khiến nỗi buồn của tác giả thêm chiều sâu, và đậm màu cổ điển.
Tuy nhiên HC không rập khuôn hoàn toàn ý thơ của Thôi Hiệu. Nếu như nỗi nhà nhà của nhà thơ xưa được đánh thức bởi ngoại cảnh thì đối với HC nỗi nhớ quê hương bắt nguồn từ chính trong tâm khảm. Đọc câu thơ của HC ta có cảm giác nhà thơ mới buồn nhớ quê hương hơn nhà thơ xưa. Điều đó có thể được lí giải bởi xưa kia Thôi Hiệu nhớ quê khi phải xa quê còn ở đây HC nhớ quê ngay khi ở chính trên quê hương, đất nước mình. Đó chính là nỗi nhớ của một người dân mất nước.
Hai câu cuối còn thành công ở phương diện sử dụng từ ngữ, chữ “vời” khiến ta liên tưởng đến câu thơ trong Truyện Kiều:
Bốn phương mây trắng một màu
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà
Bên cạnh đó hai chữ “dợn dợn”, không chỉ gợi cảm giác mà còn gợi hình ảnh những làn sóng nhấp nhô liên tiếp. Ta có cảm nước sóng nước và sóng lòng đang hòa quyện vào nhau, cùng vỗ vào nỗi lòng nhớ quê hương của tác giả. Chữ “dợn dợ” kết hợp với cụm từ “vời con nước” khiến cho nỗi nhớ trở nên mênh mang.
Một điểm đặc sắc ở câu thơ cuối là tác giả đã sử dụng biện pháp phủ định để khẳng định. “Không khói hoàng hôn” là phủ định, còn “cũng nhớ nhà” là khẳng định. Qua biện pháp này nỗi nhớ quê hương càng được nhấn mạnh, sâu sắc hơn.
KL: Khổ thơ đã kết tinh được cả nội dung cảm xúc và nghệ thuật của bài Tràng giang