Thời
thơ mới chữ tôi xuất hiện trên thi đàn như một hiện tượng lạ “nó như
lạc loài giữa đất khách” bởi nó mang quan niệm chưa từng thấy ở xứ này
“quan niệm cá nhân”. Bởi vậy khi chữ tôi xuất hiện “với cái nghĩa tuyệt
đối của nó” thì nó làm cho người ta khó chịu.
b. Sau khi tổng kết
về cái tôi cá nhân được bày tỏ trong thơ mới, Hoài Thanh đã đi đến một
nhận định khi cái tôi đã quen với mọi người thì nó thật “đáng thương” và
“tội nghiệp”.
Ngày trước một số thi nhân như Lý Bạch, Nguyễn
Công Trứ tuy dùng chữ tôi ẩn mình trong chữ ta nhưng cái tôi đó vẫn thể
hiện một “khí phách ngang tàng” cái khinh cảnh cơ hàn đói khổ. Như
Nguyễn Công Trứ đã từng viết
“Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch
Người quân tử ăn chẳng cầu no
Đêm năm canh an giấc ngáy khò khò
Đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ”
Trong khi đó cái tôi của các nhà thơ mới có gì đó yếu đuối rên rỉ như Xuân Diệu đã viết
“Nỗi đời cơ cực giơ nanh vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ”
Tuy
nhiên Hoài Thanh cũng đã có một cái nhìn đúng về sự đáng thương tội
nghiệp này của cái tôi thời thơ mới đó là do hoàn cảnh xã hội gây ra.
Nnõi yếu đuối đáng thương tội nghiệp của cái tôi thời thơ mới không phải
là do các nhà thơ tạo ra mà đó là do hoàn cảnh sống chung, đó là “cái
thảm hại cho hết thảy chúng ta”.
Cái tôi trong thơ nới không
do hoàn cảnh xã hội mà trở nên thảm hại mà còn cao hơn thế là rơi vào bi
kịch không có niềm tin vào cuộc đời.
Hoài Thanh đã lí giải một
cách hình ảnh về tấn bi kịch này “đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ
tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu ta lại càng thấy
lạnh”. Tác giả đã lấy ví dụ về Thế Lữ về Lưu Trọng Lư về Hàn Mặc Tử về
Chế Lan Viên về Xuân Diệu về Huy Cận, họ cố đi tìm một lối sống một
nguồn sáng nhưng tất cả đều rơi về một điểm chung đó là cái buồn như Huy
Cận. Cái lí do để cái tôi cá nhân rơi vào bi kịch đó là cái tôi thiếu “
một lòng tin đầy đủ”.
Tuy cái tôi rơi vào bi kịch nhưng may
thay chưa phải là mất tuyệt đối niềm tin mà họ còn vớ được cái phao niềm
tin đó là têng Việt là truyền thống dân tộc. Hoài Tha nh đã nói rõ điều
này rằng “bi kịch ấy họ gửi cả vào tiếng Việt . Họ dồn tình yêu quê
hương trong tình yêu tiếng Việt”. Do đó “trong thất vọng sẽ nở niềm hi
vọng”.
Đặc biệt họ tin vào câu nói của ông chủ báo Nam Phong “
Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn”. Họ đã nhìn ra
được một điều mang tính chân lí đó là tiếng Việt cũng là tinh thần nòi
giống chỉ biến thiên chớ không bị tiêu diệt. Do đó họ viết thơ tiếng
Việt tức là họ vẫn trường tồn cùng dân tộc. Như vậy cái tôi cá nhân
trong thất vọng đã nảy mầm hi vọng, đã tìm về dĩ vãng để vin vào những
gì bất diệt để bảo đảm cho ngày mai”.