a. Khổ 1: Nhưng hoài niệm của tác giả về thôn
Vĩ và niềm khao khát, đắm say muốn được trở về thôn Vĩ.
Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
- Câu 1:
Đọc câu thơ đầu ta cảm thấy phảng phất một chút tình riêng của thi
sĩ. Về mặt từ ngữ đây là một câu hỏi. Nhưng ẩn sâu trong đó không
chỉ là lời hỏi han, mà còn là lời mời mọc, hờn trách.
Vậy chủ
thể trữ tình là ai? Đó phải chăng chính là nỗi niêm tâm trạng của
HMT. Tác giả tự phân thân để chất vấn chính mình. Lời mời mọc hiện
ra bên ngoài nhưng chính là sự khao khát, đắm say thôi thúc từ bên
trong.
Về mặt
từ ngữ tác giả không dùng từ “Thăm” mà dùng chữ “chơi” vì chữ thăm
có chút gì xa lạ, khách sáo, chữ chơi gần gũi, tự nhiên.
Câu thơ
với hình thức một câu hỏi giúp cho tác giả vào bài rất tự nhiên.
- Câu
2,3,4: Ba câu tiếp theo là hoài niệm về cảnh và người thôn Vĩ.
+ Ở câu 2
và 3 cảnh thôn Vĩ vừa mang nét đẹp chung (nhiều vùng quê có hàng cau
và những hàng rào tre trúc) vừa mang vẻ đẹp riêng của Vĩ Dạ.
Trước hết ta thấy cảnh hàng cau
trong nắng sớm. Ở đây không phải là vẻ đẹp riêng của hàng cau, của
riêng nắng mà là hài hòa giữa hàng cau và nắng sớm trong buổi bình
minh. Câu thơ khiến ta có cảm giác HMT đang trở về Vĩ Dạ thực sự và
ấn tượng đâu tiên mà nhà văn nhìn thấy hàng cau trong nắng sớm.
Tại sao cây cau trong nắng sớm lại
là hình ảnh đầu tiên xuất hiện trong cảm nhận HMT phải chăng ở miệt
vườn thôn Vĩ cây cau bao giờ cũng là loài cây cao vượt lên tất cả
những cây khác, cao hơn cả những mái nhà cổ kính. Nó là thữ cây đón
ánh nắng đầu tiên của buổi sớm. Ánh nắng đó chiếu vào những tàu
lá đã được rửa sạch bởi sương đêm, chính vì vậy mà đó là sự ánh
sáng long lanh, tinh khiết. Ánh sáng đó gợi lên vẻ đẹp riêng của thôn
Vĩ và cũng là cách cảm nhận rất riêng của HMT.
Về mặt từ ngữ, điệp từ “nắng”
giúp cho chúng ta cảm nhận được nhiều điều. Trước hết chúng ta nhận
ra một đặc điểm đó là miền Trung nói chung và Vĩ Dạ rất nhiều
nắng, việc điệp lại từ “nắng” khiến ta hình dung ra bước đi của nắng
và có cảm giác nắng dâng đầy dần.
Ít nhất
HMT đã hơn một lần nói đến nắng trong thơ:
Trong làn nắng ửng khói mơ tan
...
Dọc bờ sông trắng nắng chang
chang
(Mùa xuân chín)
Nếu như
ở hai câu thơ này tác giả thiên về tả thì ở bài “Đây thôn Vĩ Dạ”,
tác giả thiên về gợi.
Bên cạnh đó Vĩ Dạ còn
mang vẻ đẹp riêng của những miệt vườn “mướt xanh như ngọc”. Xưa kia
kiến trúc Huế rất chú trọng kiểu kiến trúc “nhà vườn”. Khu vườn có
mục đích tôn lên vẻ đẹp của ngôi nhà nên nó luôn được chăm sóc chu
đáo.
Chính XD từng ví “mỗi ngôi nhà vườn Huế là một cấu trục
chặt chẽ, xinh xắn, giống như một bài thơ tứ tuyệt.”
Câu thơ sử dụng từ “mướt
quá” là từ cực tả, “mướt” gợi vẻ đẹp non tơ, mượt mà, đầy sức
sống. Bên cạn đó nó còn giúp ta hình dung ra xông chăm sóc của chủ
nhân ngôi vườn. Từ “mướt” nghe khiếm tốn vừa sống động, gợi hình hơn
từ “xanh”, gợi âm hưởng của tiếng reo, sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp
cảu vườn thôn Vĩ.
Phép so sánh “xanh như
ngọc”, khiến ta có cảm giác màu sanh khu vườn rạng rỡ, mát dịu không
chói lõ. Màu xánh đó không chỉ đón nhận ánh sáng từ bên ngoài mà
dường như còn có ánh sáng từ bên trong tỏ sáng, vừa xanh, vừa lấp
lánh.
Hoài
Thanh từng nhận xét: “Thơ HMT có
những câu thơ đẹp một cách lạ lùng, đọc lên như rưới vào lòng một
nguồn sáng láng”. Nhận xét này dường như để nói về câu thơ mà
chúng ta vừa phân tích.
- Câu thơ cuối: Hòa trong
cảnh ấy là hình ảnh con người xứ Huế. Trong vẻ đẹp thần dịêu của
vườn thôn Vĩ bổng xuất hiện hình ảnh con người. Con người không chỉ
hài hòa với cảnh mà còn tôn lên vẻ đẹp của cảnh.
Hình ảnh “mặt chữ điền”
là vẻ đẹp đầy đặn, vuông vức, trông quan niệm người xưa là vẻ đẹp
trung thực, phúc hậu của con người.
“Mặt em vuông tựa chữ điền
Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài”
(Ca dao)
Khuôn mặt đó không xuất hiện một cách trực tiếp mà nhẹ
nhàng, kín đáo, thấp thoáng sau những lá trúc thanh mảnh vì vậy với
có chi tiết “lá trúc che ngang”. Đây là cách cảm nhận phù hợp với
tính cách con người xứ Huế. Sự xuất hiện của hình ảnh con người
trong khổ thơ này càng tô đậm dòng hoài niệm của tác giả.
b. Khổ 2: Hoài niệm
về cảnh sông nước. Đặc biệt là cảnh sông nước đêm trăng và tâm
trạng hoài vọng và phấp phỏng âu lo.
- Cảnh sông nước đêm trăng:
Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Nếu xem đây là cảnh sông nước xứ sông Hương, xứ Huế, thôn Vĩ
cũng được Tuy nhiên không nên hiểu đơn thuần, gò bó quá.
Đặc điểm của cảnh ở đây là sự nhè nhàng, êm dịu, vừa hiện
thực vừa huyền ảo. Gió thì thổi nhẹ, mây trôi chậm, dòng nước lừng
lờ và hoa bắp chỉ khẽ lay. Đó phải chăng là đặc điểm riêng của thiên
nhiên xứ Huế.
Bên cạnh đó cảnh ở đây đượm buồn vì
dường như tất cả đều đang trôi chảy, đều đang xa dần. Biện pháp nhân
hóa qua hai chữ “buồn thiu” biến dòng sông thành một sinh thể có hồn,
dòng sông chở nặng nỗi lòng HMT.
Câu trúc câu thơ đầu: “Gió
theo lối gió/ mây đường mây” đã ngắt câu thơ làm đôi. Người ta vẫn thường hay nói “gió thổi mây bay”, vậy mà trong thơ
HMT gió mây lại chia lìa. Xét về logic khách quan đời sống thì hình
ảnh thơ tưởng chừng vô lí, nhưng xét theo logic tam trạng thì nó hoàn
toàn hợp lí bởi vì gió, mây ở đây được cảm nhận qua tâm trạng đầy chia li cách biệt của HMT.
Tâm trạng buồn còn được thể hiện qua từ “lay” ở câu thơ thứ
hai bởi chính nó đã đánh thức nỗi buồn trong ca dao xưa.
Ai về giồng Dứa qua truông
Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em
Điểm nhấn của khổ thơ
lại chính là cảnh sông trăng ở hai câu thơ sau. Có thể nói cả hai câu
thơ đầy ắp trăng. Một hình ảnh vừa hiện thực vừa huyền ảo. Chất
hiện thực và huyền ảo thể hiện qua hai chi tiết “thuyền trăng” và “sông
trăng. “Thuyền trăng” có thể
được cảm nhận theo nhiều cách khác nhau. Đó có thể là con thuyền
chứa đầy ánh trăng, cũng có thể hiểu là con thuyền như một mảnh
trăng hay mảnh trăng như con thuyền.
Đáng chú ý hơn là hình
ảnh “sông trăng”. Ở đây “sông trăng” vừa có thể hiểu là
dòng sông chứa đầy ánh trăng, nhưng cũng có thể hiểu là ánh trăng
đang tuôn chảy thành dòng sông trăng.
Chín HMT từng cảm nhận trăng đầy siêu thực: “Có những nàng trăng mang áo trăng ra giặt ở bến sông trăng”.
Có thể nói ở đây hình ảnh thơ đã đạt đến mức hòa quyện giữa hiện
thực và huyền ảo, không phân biệt. Nhưng dù siêu thực đến đâu thì khổ
thơ cũng vẫn đưa chúng ta về với
hình ảnh dòng sông hương chảy qua Vĩ Dạ một đêm trăng hết sức thơ
mộng.
Từ cảnh sông nước đêm
trăng ta chợt nhận ra một tâm trạng đầy hoài vọng và phấp phỏng âu
lo. Hai câu thơ sau về mặt hình thức thoáng nghe tưởng chừng phi lí.
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay
Đọc
câu thứ nhất ta thấy có trăng nhưng đến câu tiếp theo thì lại chẳng
thấy trăng đâu.
Tuy nhiên nếu cảm nhận từ khía
cạnh tâm trạng chủ thể trữ tình thì không có gì phi lí. Trăng ở đây
không chỉ là thiên nhiên khách thể mà còn là một sinh thể có hồn,
một tri âm tri kỉ của HMT. Trong hoàn cảnh phải sống cô đơn với căn
bệnh hiểm nghèo, HMT khảo khát được giao cảm, sẻ chia, trăng lúc này
trở thành đối tượng mà nhà thơ mong đợi, khát khao. Hiểu như vậy ta
mới lí giải được chữ “kịp” ở câu hai. Chữ “kip” cho ta thấy tâm trạng
phấp phỏng, âu lo của HMT. Trong tình trạng đang phải từng giờ, từng
phút chia lìa sự sống, nếu thuyền không chở trăng về kịp tối nay thì
biết đâu thi sĩ phải ra đi trong sự cô đơn, tuyệt vọng.
Có thể thấy khổ thơ hai cũng
là khổ thơ đặc sắc xét về cả phương diện bức tranh thiên nhiên hay
bức tranh tâm trạng.
c. Khổ 3. Hoài
niệm về người thôn Vĩ và nỗi niềm mơ tưởng, hoài nghi
-
Hình ảnh người thôn Vĩ qua hoài niệm vừa hiện thực vừa huyền ảo,
vừa gần gũi vừa xa vời. Tại sao lại nói vừa hiện thực, vừa huyền
ảo. Màu “trắng” của chiếc áo la
màu thực nhưng nói “trắng quá”
thì màu trắng đó đã cảm nhận qua tâm tưởng nên đã thành huyền ảo.
Còn
tại sao lại vừa gần gũi vừa xa vời?
Gần gũi vì đó là người đã từng quen, là nơi đã từng đến. Tuy
nhiên lại hết sức xa vời, sự xa vời đó được thể hiện qua từ “mơ” và điệp từ “khách đường xa”. Đã là mơ lại còn “mơ” về “khách đường xa”. Đã “khách” lại
còn là “khách đường xa”. Hình
ảnh này khiến cho khách càng xa vời, khuất lấp. Sự xa vời đó không
chỉ do khoảng cách thời gian,
khoảng cách không gian mà chủ yếu là do khoảng cách tâm hồn.
Đó chính là một tìn yêu đơn phương, không lời thổ lộ, không lời ước
hẹn. Qua cảm nhận về người thôn Vĩ ta cảm nhận được nỗi niềm tâm
trạng của nhà thơ.
Nỗi
niềm đó được khắc họa rõ nét hơn ở hai câu cuối:
Ở đây sương
khói mờ nhân ảnh
Ai biết
tình ai có đậm đà?
Hình
ảnh “sương khói mờ nhân ảnh” đầy
hư ảo. “Sương khói” hư ảo, “mờ” hư ảo và “nhân ảnh” cũng hư
ảo. “Nhân ảnh” là sự cảm nhận qua tâm trạng.
Tác
giả sử dụng nhiều từ phiếm chỉ “ở
đây”, “ai”. Ở đây không biết
là ở đâu? Ở thôn Vĩ khi nhìn vào tấm bưu ảnh hay ở nơi HT đang điều
trị bệnh? Ai là người thôn Vĩ hay chính bản thân tác giả? HMT đang
hỏi người hay hỏi mình? Dù là hỏi ai đi nữa thì tâm trạng âu lo của
tác giả vẫn lộ rõ.
Qua
câu những câu thơ này ta HMT không chỉ nói được nỗi lòng riên của mình
mà còn nói lên nỗi niềm của tất cả những lứa đôi xa cách. Bên cạnh
đó chúng ta còn cảm nhận được nỗi niềm gắn bó của tác giả với
cuộc đời và niềm khao khát một tình yêu thủy chung, trong sáng.
Bài
thơ kết lại bằng câu hỏi. Hỏi không phải để vấn đáp mà để giải
bày. Ý nghĩa nhân văn của bài thơ toát lên ở đó.